1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ là nữ ở huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây

128 347 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 518,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Danh mục các bảng Bảng 2.1: Tiêu chuẩn phân loại doanh nghiệp ở một số nước trên thế giới Bảng 2.2: Tiêu chí phân loại các DNVVN ở Việt Nam Bảng 2.3: Đóng góp vào thu nhập quốc dân và tạ

Trang 1

lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2004

Người cam đoan

Đặng Thị Kim Hoa

Trang 2

Lời cảm ơn

Sau thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tác giả đã hoàn thành luận văn thạc sỹ kinh

tế nông nghiệp với đề tài “Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ là nữ ở Đan Phượng, Hà Tây”

Tác giả xin trân trọng tỏ lòng biết ơn đối với tất cả các thầy cô giáo và đặc biệt là các thày cô giáo khoa Kinh tế & PTNT trường Đại học Nông nghiệp I đã tận tình dạy bảo, giúp

đỡ và định hướng cho tác giả trong quá trình học tập, công tác và nghiên cứu khoa học

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo: TS Đỗ Văn Viện người đã

định hướng, chỉ bảo và dìu dắt tác giả trong quá trình học tập, công tác và nghiên cứu đề tài

Tác giả xin tỏ lòng biết ơn đối với tất cả các tập thể, các cá nhân, các đồng nghiệp, bạn bè

và những người thân đã chỉ bảo, giúp đỡ, động viên, khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập

và nghiên cứu khoa học

Hà Nội, ngày tháng năm 2004

Người cảm ơn

Đặng Thị Kim Hoa

Trang 3

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

1.2.1 Mục tiêu cụ thể

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

2 C sở lý luận và thực tiễn về phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

2.1 C sở lý luận cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp

2.1.1.2 Khái niệm về phát triển

2.1.1.3 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ

2.1.1.4 Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ

2.1.1.5 Quanđiểm về phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

2.1.2 Vị trí, vai trò, của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế quốc dân

2.1.2.1 Vị trí của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế quốc dân 2.1.2.2 Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế quốc dân 2.1.3 Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ với các chủ thể kinh tế khác

2.1.3.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ với các doanh nghiệp lớn

2.1.3.2 Doanh nghiệp vừa và nhỏ với Nhà nước

2.1.3.3 Các xu hướng chủ yếu tác động đến doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 4

2.2 Một số vấn đề về giới và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế – xã hội của phụ nữ

2.2.1 Một số vấn đề về giới nói chung

2.2.2 Kh năng tham gia vào các hoạt động kinh tế của phụ nữ

2.2.2.1 Vị trí của phụ nữ trong xã hội

2.2.2.2 Khả năng tham gia vào các hoạt động kinh tế của phụ nữ

2.3 Tình hình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

2.3.1 Tình hình phát triển và vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay

2.3.1.1 Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với nền kinh tế Việt Nam 2.3.1.2 Đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam

2.3.2 Những khó khăn, thuận lợi, cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp vừa

và nhỏ trong sự phát triển tổng thể nền kinh tế

2.3.2.1 Điểm mạnh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

2.3.2.2 Những hạn chế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

2.3.2.3 Tình hình phát triển của các doanh nghiệp ở Việt nam

2.3.3 Kinh nghiệm về phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của một số nước trên thế giới

2.3.3.1 Đối với các nước đang phát triển

2.3.3.2 Đối với các nước tư bản phát triển

2.3.4 Hệ thống thể chế chính sách trợ giúp, khuyến khích, phát triển doanh

nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

2.3.4.1 Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới

2.3.4.2 Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong thời gian qua

3 Đặc điểm địa bàn và phưng pháp nghiên cứu

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình

3.1.2 Tình hình kinh tế xã hội của huyện trong những năm gần đây

Trang 5

3.1.2.1 Đặc điểm về đất đai

3.1.2.2 Đặc điểm dân số lao động

3.1.2.3 Tình hình về cơ sở hạ tầng của huyện trong những năm qua

3.1.3 Tình hình của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn huyện trong

những năm gần đây

3.1.4 Kết quả các hoạt động kinh tế xã hội của huyện trong những năm gần đây

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phưng pháp nghiên cứu chung

3.2.2 Phưng pháp nghiên cứu cụ thể

3.2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu sử dụng trong nghiên cứu đề tài

4 kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1 Phân tích thực trạng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ là nữ trên địa bàn huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây

4.1.1 Phân tích tình hình cơ bản của các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ là nữ ở

4.1.1.3 Đặc điểm của các doanh nghiệp

4.1.2 Phân tích tình hình sản xuất kinh doanh kinh doanh của các doanh nghiệp có chủ hộ là nữ trên địa bàn tỉnh Hà Tây

4.1.2.1 Các hoạt động sản xuất kinh doanh hiện tại

4.1.2.2 Thị trường hiện tại và thị trường tiềm năng

Trang 6

4.1.3 Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ hộ là nữ ở Đan Ph−ợng

4.1.3.1 Kết quả sản xuất kinh doanh

4.1.3.2 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

4.2 Những thuận lợi và khó khăn của các DNVVN có chủ là nữ ở Đan ph−ợng 4.2.1 Những thuận lợi

4.4.2 Kinh tế, văn hoá, xã hội

4.4.3 Trình độ chủ doanh nghiệp và năng lực quản lý

Trang 7

Danh mục các bảng

Bảng 2.1: Tiêu chuẩn phân loại doanh nghiệp ở một số nước trên thế giới

Bảng 2.2: Tiêu chí phân loại các DNVVN ở Việt Nam

Bảng 2.3: Đóng góp vào thu nhập quốc dân và tạo việc làm của các DNVVN ở một

số nước trên thế giới

Bảng 3.1: Tình hình đất đai, dân số, lao động của huyện trong những năm qua

Bảng 3.2: Tình hình biến động số lượng các DNVVN của hyện trong những năm gần

đây

Bảng 3.3: Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện trong những năm gần đây

Bảng 4.1: Số lượng các doanh nghiệp nữ ở huyện Đan Phượng năm 2003

Bảng 4.2: Một số đặc điểm cơ bản của các doanh nghiệp nữ

Bảng 4.3: Vốn của các doanh nghiệp có chủ là nữ phân theo loại hình doanh nghiệp Bảng 4.4: Vốn của các doanh nghiệp có chủ là nữ phân theo ngành nghề sản xuất Bảng 4.5: Tiếp cận nguồn vốn của các DNVVN có chủ là nữ trong kinh doanh

Bảng 4.6: Lao động của DNVVN có chủ là nữ phân theo ngành sản xuất

Bảng 4.7: Lao động của các DNVVN có chủ là nữ phân theo loại hình doanh nghiệp Bảng 4.8: Một số loại máy móc chủ yếu được sử dụng trong sản xuất của các

DNVVN có chủ là nữ ở Đan Phượng

Bảng 4.9: Thị trường một số sản phẩm của các DNVVN có chủ là nữ ở Đan Phượng Bảng 4.10: Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DNVVN có chủ là nữ phân theo loại hình doanh nghiệp

Bảng 4.11: Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DNVVN có chủ là nữ phân theo ngành nghề

Bảng 4.12: Sự khác nhau về kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh theo yếu tố giới của các doanh nghiệp phân theo loại hình doanh nghiệp

Bảng 4.13: Sự khác nhau về kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp theo yếu tố giới phân theo ngành sản xuất

Bảng 4.14: Những khó khăn và thuận lợi của DNVVN có chủ là nữ ở Đan Phượng Bảng 4.15: Sự khác nhau về tuổi và trình độ giữa nam và nữ chủ DNVVN

Trang 8

Bảng 4.16: Sự khác nhau về sử dụng thời gian cho các công việc của nam và nữ chủ DNVVN trong một ngày

Bảng 4.17: Sự khác nhau về giới trong việc tham gia các hoạt động của các nam và nữ chủ DNVVN

Bảng 4.18: Ma trận SWOT trong các DNVVN có chủ là nữ ở Đan Ph−ợng

Trang 9

Danh môc viÕt t¾t

APTA Khu vùc mËu dÞch tù do ASEAN

Trang 10

1 Đặt vấn đề

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

ở nước ta trong những năm gần đây, KTTBTN và kinh tế hộ gia đình (hay còn gọi là kinh tế ngoài quốc doanh) đã phát triển rất mạnh mẽ trong tất cả các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Năm 2001, giá trị tổng sản phẩm của khu vực kinh tế này đóng góp cho nền kinh tế quốc dân là 24% GDP, chiếm 31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp hàng năm [7] [20] Nguyên tháng 1 năm 2004 thì giá trị đóng góp của khu vực kinh tế này đến giá trị sản xuất hàng công nghiệp là 8.772 tỷ đồng, trong lĩnh vực công nghiệp giá trị này có thấp hơn so với các khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (11.513 tỷ và 11.163 tỷ) nhưng đây

là con số không phải là khiêm tốn [52]

Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, sự năng động của kinh tế hộ gia

đình kết hợp với sự hỗ trợ tạo điều kiện của Nhà nước, hàng loạt các doanh nghiệp đã

ra đời và phát triển đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của các DNVVN Hiện nay đã

có gần 100.000 cơ sở đăng ký tham gia sản xuất kinh doanh Cứ theo đà phát triển này trong tương lai sẽ có hàng triệu cơ sở đăng ký tham gia Tính cho đến thời điểm luật doanh nghiệp có hiệu lực (1/1/2000) số lượng doanh nghiệp mới là khoảng 14.000 gấp 2,5 lần so với năm 99 và năm 2001 là 21.040 doanh nghiệp [35]

Có đến 99% các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế này [11] DNVVN là loại hình doanh nghiệp rất thích hợp với chiến lược phát triển kinh tế của các nước

đang phát triển Nó mang lại nhiều lợi ích quốc gia mà các loại hình doanh nghiệp khác không có được Nó thu hút được nhân công và tạo việc làm lớn nhất hiện nay

mà đặc biệt là có sự tham gia của nữ chủ hộ, nữ chủ doanh nghiệp [35] Điều này cho thấy bản thân các doanh nghiệp này có thể giải quyết được các vấn đề kinh tế xã hội

mà các doanh nghiệp lớn và Nhà nước rất khó giải quyết cũng như không thể giải quyết được Ví dụ như vấn đề tăng trưởng kinh tế ở khu vực nông thôn, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người dân nông thôn từ đó giải quyết được hàng loạt các vấn đề xã hội như thất nghiệp, di dân ra thành phố, các tệ nạn xã hội khác cũng theo

đó mà giảm đi

Trang 11

Đồng thời, nó cũng cho thấy rằng sự phát triển này của các DNVVN đã giải quyết được một số vấn đề về kinh tế và xã hội mà các chính sách trực tiếp của nhà nước đã không phát huy được hoặc phát huy không hiệu quả

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển do phát triển tự phát nên hiện nay các DNVVN đang gặp rất nhiều vấn đề khó khăn Các vấn đề chủ yếu liên quan đến doanh nghiệp đó là: vốn, lao động, năng lực quản lý, cơ chế chính sách của Nhà nước

mà chúng tôi có thể gọi là ba nhóm chính đó là từ phía nhà nước bao gồm cơ chế chính sách tạo ra để các DNVVN có thể tiếp cận với vốn và thị trường, thứ hai là từ bản thân các DNVVN như năng lực quản lý và việc tạo quan hệ làm ăn trên thị trường

Hà Tây là một tỉnh có rất nhiều ngành nghề truyền thống Sự phát triển của ngành nghề truyền thống cũng là một trong những yếu tố chính cho phát triển các DNVVN ở đây Những khó khăn mà các DNVVN đang gặp phải cũng giống như tình trạng chung của các DNVVN Việt Nam hiện nay Với vị trí hết sức quan trọng của DNVVN đối với nền kinh tế nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng thì phát triển các DNVVN là một chiến lược đúng đắn phát huy được sức mạnh tiềm ẩn và sẵn có của Hà Tây

Cùng với sự tiến bộ xã hội nhất là sự bình đẳng về giới kết hợp với chủ trương phát triển kinh tế của Nhà nước ta, phụ nữ tham gia phát triển kinh tế gia đình và các công tác xã hội khác ngày càng nhiều Họ tham gia cả trong lĩnh vực chính quyền và cả trong lĩnh vực kinh doanh ở cả hai lĩnh vực họ đã phát huy được lợi thế của mình khắc phục được nhược điểm của nam giới, đó là sự cần mẫn, mềm dẻo trong công việc, sự kiên trì nhẫn nại và linh hoạt…

Qua nghiên cứu tình hình thực tế ở địa phương số lượng DNVVN có chủ là nữ khá phổ biến Quá trình sản xuất kinh doanh của các DNVVN này cũng rất đa dạng

và rất phát triển Họ đã phát huy được những lợi thế làm chủ của mình, nhưng do vừa

có nghĩa vụ làm mẹ vừa làm chủ nên số DNVVN có chủ doanh nghiệp là nữ ngoài những khó khăn chung ra họ còn gặp rất nhiều vấn đề khác như: thời gian tiếp xúc công việc, trình độ học vấn Thực trạng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ là nữ hiện nay như thế nào? xu hướng phát triển của họ ra sao, họ có những ưu

Trang 12

thế, những cơ hội những thách thức nào đặt ra đối với họ trong quá trình phát triển hiện nay? Giải pháp nào có thể giúp những doanh nghiệp này tháo gỡ những khó khăn và phát huy được những lợi thế của mình Phân tích từ tình hình và trả lời

những câu hỏi trên đây trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng và một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ là nữ ở huyện

Đan Phượng tỉnh Hà Tây”

Đề tài nghiên cứu của chúng tôi nhằm trả lời một số câu hỏi chủ yếu sau:

1 Phát triển các DNVVN có chủ là nữ dựa trên cơ sở nào?

2 Tình hình phát triển các DNVVN trên địa bàn nghiên cứu hiện nay ra sao?

3 Từ thực trạng đó phát hiện được gì? những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự phát triển của nó?

4 Những giải pháp nào được đặt ra cho sự phát triển của các DNVVN đó trong thời gian tới?

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển

các DNVVN có chủ là nữ

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Thứ nhất: góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về DNVVN nói

chung và DNVVN ở nước ta nói riêng

Thứ hai: đánh giá thực trạng phát triển các DNVVN có chủ là nữ ở tỉnh Hà Tây

trong những năm gần đây

Thứ ba: phát hiện những nhân tố ảnh hưởng, làm hạn chế đến sự phát triển của

các DNVVN có chủ hộ là nữ

Thứ tư: định hướng và đưa ra một số giải pháp chủ yếu phát triển các DNVVN

có chủ hộ là nữ ở địa bàn nghiên cứu trong những năm tới

Từ những mục tiêu trên chúng tôi đưa ra cây mục tiêu cho đề tài nghiên cứu

Trang 13

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các mối quan hệ kinh tế xã hội trong phát triển DNVVN có chủ là nữ

Thời gian: đề tài được nghiên cứu với những số liệu thu thập được trong thời gian 2 năm gần đây nhất

Tìm hiểu được thực trạng và đề xuất một

số giải pháp phát triển các DNVVN có chủ là nữ ở Đan phượng, Hà Tây

địa bàn

Những nhân tố

ảnh hưởng đến sự phát triển các DNVVN có chủ

là nữ trên địa bàn

Định hướng và đưa ra một số giải pháp chủ yếu phát triển các DNVVN có chủ là nữ

ở huyện Đan Phượng

Trang 14

2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển doanh nghiệp

vừa và nhỏ

2.1 Cơ sở lý luận cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp

Có rất nhiều khái niệm về doanh nghiệp Các nhà nghiên cứu, các tác giả dưới những góc nhìn khác nhau các mục tiêu nghiên cứu khác nhau mà có sử dụng các khái niệm về doanh nghiệp khác nhau Từ điển bách khoa Việt Nam coi: “Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh của những chủ sở hữu (Nhà nước, tập thể, tư nhân) về một hay nhiều ngành” Khái niệm về doanh nghiệp này không phải là hoàn toàn tuyệt đối, nhưng nó là nền tảng cho tất cả các khái niệm khác Luật doanh nghiệp Việt Nam ngày 2/1/1991 đã dưa ra khái niệm về doanh nghiệp như sau: “Doanh nghiệp là đơn

vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh Các doanh nghiệp có thể là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty Trách nhiệm hữu hạn hay là các công ty cổ phần” [27] Đây là khái niệm quan trọng để các doanh nghiệp có thể xác định mình có phải là doanh nghiệp hay không, nó đơn giản và rộng hơn khái niệm trong từ điển bách khoa vì nó phục vụ thực tiễn cho việc xác định doanh nghiệp, giúp chúng ta quản lý các doanh nghiệp thuận tiện hơn

Ngoài ra còn một số khái niệm khác về doanh nghiệp như Vũ Huy Từ cho rằng: doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh hàng hoá dịch vụ theo nhu cầu thị trường và xã hội để đạt lợi nhuận tối đa và đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất [50]

Tuy nhiên, dù là khái niệm doanh nghiệp nào thì chúng ta cũng có thể thấy rằng, doanh nghiệp là 1 đơn vị sản xuất kinh doanh, nó có thể vì lợi nhuận hoặc không vì lợi nhuận, vì lợi nhuận là các doanh đơn vị hoạt động sản xuất kinh doanh với mục đích lợi nhuận, còn không vì lợi nhuận là các đơn vị hoạt động công ích

Trang 15

2.1.1.2 Khái niệm về phát triển

Cũng giống như nhiều khái niệm khác, khái niệm phát triển được rất nhiều nhà khoa học nhà nghiên cứu nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Dựa vào mục đích nghiên cứu và dựa vào lĩnh vực nghiên cứu người ta đưa ra những khái niệm về phát triển khác nhau Trong nghiên cứu này để có sự thống nhất trong toàn bộ quá trình nghiên cứu của mình chúng tôi sử dụng khái niệm phát triển của tổ chức lương thực thế giới: phát triển là một quá trình thay đổi Sự thay đổi này bao gồm cả về số lượng

và chất lượng trong đó có sự phân phối công bằng [59]

2.1.1.3 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trước khi chưa có theo Nghị định 90/2001NĐ-CP, ngày 23/11/2001 của Chính phủ thì phân loại doanh nghiệp vừa nhỏ đã gây ra rất nhiều tranh cãi Do mỗi giai

đoạn kinh tế, mỗi chính sách của chính phủ ở các thời điểm khác nhau mà Chính phủ

đã đề ra những tiêu chí phân loại DNVVN khác nhau phù hợp với thực tế nhằm mục

đích thực hiện các chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp này Văn bản số KTN ngày 20 /6/1998 là: tạm thời qui định, thống nhất tiêu chí doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là những doanh nghiệp có:

681/CP Vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng Việt Nam

- Lao động trung bình hàng năm dưới 200 người

Nội dung văn bản này chỉ mới bước đầu dùng làm cơ sở tạm thời xác định làm qui mô của DNVVN để tránh sự tranh cãi về các tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ [7], [10], [45], [53]

Một định nghĩa khác linh hoạt và mềm dẻo hơn về DNVVN được sử dụng trong nghiên cứu đó là: doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp có vốn sản xuất dưới 5 tỷ đồng và số lao động dưới 300 người; trong thương mại dịch vụ là những doanh nghiệp có vốn sản xuất dưới 3 tỷ

đồng và số số lao động dưới 200 người, trong đó doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng

và số lao động dưới 50 người (trong công nghiệp) và dưới 30 người (trong thương mại dịch vụ) là doanh nghiệp nhỏ [7] [11] Như vậy định nghĩa này qui định rõ hơn cụ thể hơn đối với từng ngành và đối với từng loại hình doanh nghiệp Tuy nhiên, để thống nhất và tránh sự bàn cãi về các tiêu chí phân loại cũng như áp dụng các chính sách

Trang 16

nhằm xúc tiến việc hỗ trợ các DNVVN thì theo Nghị định 90/2001NĐ-CP, ngày 23/11/2001 của Chính phủ qui định DNVVN "là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập

đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành có vốn đăng ký không quá 10 tỷ

đồng và số lao động không quá 300 người" [11], [30], [45], [47], [48], [52] Nghị

định này ra đời không những qui định về tiêu chí phân loại DNVVN mà còn đề ra hàng loạt chính sách nhằm hỗ trợ phát triển các DNVVN Từ đó giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể hơn, thống nhất hơn về DNVVN cũng như việc việc đánh giá đúng tầm quan trọng cũng như vai trò to lớn của các DNVVN trong quá trình phát triển nền kinh tế đất nước

Ngoài ra còn một số khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ mà chúng ta có thể tham khảo Nguyễn Đình Hương cho rằng: “Doanh nghiệp vừa và nhỏ là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo các tiêu thức vốn, lao

động, doanh thu, giá trị gia tăng, trong thời kỳ, theo qui định của từng quốc gia” [20]

Đây là khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung cho tất cả các nước trong đó

ông cũng đưa ra khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam như sau: “Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt nam là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân, không phân biệt thành phần kinh tế, có quy mô về vốn hoặc lao động thoải mãn các quy định của chính phủ đối với từng ngành nghề tương ứng với từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế” [7] Qua các khái niệm trên chúng ta có thể rút ra một điều rằng, doanh nghiệp vừa và nhỏ trước hết nó là các doanh nghiệp trong đó có các chỉ tiêu định lượng để xác định nó đó là tổng số vốn, số lao động và doanh thu Như vậy,

ở mỗi nước khác nhau, các nền kinh tế khác nhau, các vùng lãnh thổ khác nhau hay các thời điểm khác nhau thì một doanh nghiệp có thể được coi là nhỏ và vừa hay là doanh nghiệp lớn rất khác nhau

2.1.1.4 Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ

Việc đưa ra khái niệm chuẩn xác về doanh nghiệp vừa và nhỏ có ý nghĩa lớn

đối với việc nghiên cứu và hỗ trợ cho các doanh nghiệp Để phân loại các doanh nghiệp vừa và nhỏ người ta có thể dùng một số chỉ tiêu định tính như: Trình độ chuyên môn hoá, số đầu mối quản lý, mức độ phức tạp của quản lý hay các chỉ tiêu

Trang 17

định lượng như: vốn, doanh thu, lao động Tuy nhiên, việc sử dụng các chỉ tiêu định

tính là rất phức tạp vì khó xác định, đặc biệt là đối với các nước kém và đang phát

triển Đa số các nước dùng chỉ tiêu định lượng Việc phân loại các doanh nghiệp vừa

và nhỏ này phụ thuộc rất nhiều vào: Trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước, tính

chất ngành nghề, vùng lãnh thổ, tính chất lịch sử và phụ thuộc và mục đích phân loại

các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước có nền kinh tế phát triển thì:

• Tiêu chuẩn DNVVN của Ngân hàng thế giới và Công ty tài chính quốc tế

DNVVN được chia theo như sau:

+ Doanh nghiệp nhỏ có không quá 50 lao động tổng giá trị tài sản không quá 300.000

USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 3.000.000 USD

+ Doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có không quá 300 lao động tổng giá trị tài sản

không quá 15.000.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 15.000.000

USD

• Tiêu chuẩn DNVVN của một số nước trên thế giới: Các nước khác nhau,

có đặc điểm về kinh tế xã hội khác nhau do đó họ sử dụng các tiêu chí để phân loại

doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng khác nhau Có những nước chỉ sử dụng tiêu chí về lao

động, có những nước chỉ sử dụng tiêu chí là vốn, nhưng có những nước lại sử dụng

đồng thời cả hai tiêu chí là vốn và lao động, trong khi có những nước lại sử dụng tiêu

chí doanh thu vv và vv Dưới đây là bảng tham khảo một số các nước sử dụng các tiêu

chí khác nhau để phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ

Bảng 2.1: Tiêu chuẩn phân loại doanh nghiệp ở một số nước trên thế giới

Nước Loại doanh nghiệp Số lao

động

Tổng số vốn hoặc giá trị TS

DNV&N trong bán buôn DNV&N trong bán lẻ

Trang 18

Hàn Quốc DNV&N trong CN

DNV&N trong DV

<100

<50 Thái Lan DNV&N trong đó công

singapore Indonêsia DNV&N trong đó: DN

DNVVN nhỏ

<200

<50

<2,5 triệu đô la Malaysia

<0,5 triệu đô la Malaysia

Nguồn: phát triển DNVVN kinh nghiệm nước ngoài và phát triển doanh nghiệp vừa

và nhỏ ở Việt nam (trang 6-9) dẫn từ : hồ sơ các doanh nghiệp của APEC, 1998; [5]

Định nghĩa DNVVN của các nước đang chuyển đổi, UN-ECE, 1999

Tổng quan các DNVVN của OEDC, OEDC, 2000

• Tiêu chí DNVVN của Việt Nam: cũng giống như nhiều nước trên thế giới Việt nam cũng sử dụng các tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ là chỉ tiêu

định lượng như vốn sản xuất và lao động thường xuyên vì: căn cứ vào điều kiện thực tiễn ở Việt nam các tiêu chí này rất phù hợp vì nó có tính phổ dụng, tính khả thi và tính chuẩn xác Tuy nhiên, nó có một số nhược điểm như mới chỉ thể hiện được quy mô đầu vào mà chưa phản ánh được kết quả tổng hợp thông qua kết quả kinh doanh

Do đặc điểm kinh tế xã hội Việt Nam cũng như tình hình thực tế phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay tiêu chuẩn làm tiêu chí phân biệt DNVVN riêng đối với Việt nam, theo Nghị định 90/2001NĐ-CP, ngày 23/11/2001 của Chính phủ thì DNVVN là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng và số lao động không quá 300 người" [30] Trong đó người ta phân loại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam như sau:

Trang 19

Bảng 2.2: Tiêu chí phân loại các DNVVN ở Việt Nam

Công nghiệp Thương mại và dịch vụ Chỉ tiêu

DN nhỏ và vừa

Trong đó

DN nhỏ

DN nhỏ và vừa

Trong đó

DN nhỏ

Vốn sản xuất (VND) Dưới 5 tỷ Dưới 1 tỷ Dưới 2 tỷ Dưới 1 tỷ

LĐ thường xuyên (người) Dưới 300 Dưới 50 Dưới 200 Dưới 30

định các DNVVN

Do tính đa dạng và phức tạp của nó nên đối tượng nghiên cứu của chúng tôi dựa trên nghị định 90 của chính phủ về chính sách trợ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong đó xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ bao gồm Các doanh nghiệp hoạt

động theo luật doanh nghiệp, các doanh nghiệp hoạt động theo luật HTX, và các hộ gia đình các hoạt động theo nghị định 02 năm 2000 của chính phủ

Trên cơ sở khái niệm và tiêu chuẩn xác định các doanh nghiệp vừa và nhỏ chúng tôi đưa ra khái niệm về các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ là nữ bao gồm các cơ sở sản xuất kinh doanh có vốn dưới 10 tỷ đồng và có số lao động dưới 300, hoạt

động theo Luật doanh nghiệp, hoạt động theo luật HTX và các hộ gia đình hoạt động theo nghị định 02 của chính phủ năm 2000, trong đó người chủ đăng ký kinh doanh hoặc trực tiếp điều hành quản lý doanh nghiệp là phụ nữ

2.1.1.5 Quan điểm về phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

Điều kiện phát triển DNVVN

+ Điều kiện cần

Trang 20

Đảng và nhà nước đã có chủ truơng phát triển khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển, xoá bỏ mọi kỳ thị đối với thành phần kinh tế này Chủ trương đó được đưa

ra từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ sáu và được tiếp tục bổ sung trong các Nghị quyết của Đảng trong các khoá tiếp theo Năm 2000, Luật doanh nghiệp có hiệu lực thi hành, thành phần kinh tế này được đảm bảo bằng một hệ thống chính sách cởi mở

được khẳng định bằng các điều khoản của pháp luật đã tạo điều kiện để các nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn đầu tư

Đảng và nhà nước ta cũng đề ra hàng loạt chủ trương và các chính sách đã tạo

điều kiện sản xuất kinh doanh thuận lợi đối với các thành phần kinh tế, từng bước xoá

bỏ hình thức độc quyền của các doanh nghiệp lớn, cũng mở ra cơ hội cho các nhà đầu tư tư nhân một sân chơi bình đẳng

Điều kiện đủ để phát triển DNVVN

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự phát triển kinh tế thị trường đã thúc đẩy

đông đảo lực lượng trong các tầng lớp nhân dân năng động, đam mê làm giàu làm giàu cho bản thân họ, cho gia đình họ, cho quê hương họ, tạo động lực cho những nhà

đầu tư tìm kiến cơ hội đầu tư tìm kiếm cơ hội lập nghiệp

Nhiều người dân do có tích luỹ từ trước được một số vốn ban đầu , gồm vốn của

họ tự làm ra, từ con em nước ngoài gửi về hoạc từ bà con anh em họ tộc à từ nguồn vốn vay khác với mức độ ít nhiều khác nhau để lập nghiệp kinh doanh Bởi vì DNVVN là sản phẩm của nền kinh tế nhiều thành phần cạnh tranh bình đẳng trong cơ chế thị trường kết hợp với tính năng động khát vọng làm giàu của đông đảo bộ phận nông dân Việt Nam [14]

Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển DNVVN

- Trình độ phát triển kinh tế xã hội

- Chính sách và cơ chế quản lí

- Đội ngũ chủ doanh nghiệp

- Sự phát triển và khả năng ứng dụng tiến bộ công nghệ

- Tình hình thị trường

- Các yếu tố nội bộ doanh nghiệp như đầu vào, vốn, lao động…

Trang 21

2.1.2 Vị trí, vai trò, của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế quốc dân

2.1.2.1 Vị trí của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế quốc dân

DNVVN có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân mỗi nước, kể cả những nước có trình độ phát triển cao Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt như hiện nay, các nước đều chú ý hỗ trợ các DNVVN nhằm huy động tối đa nguồn lực và hỗ trợ cho công nghiệp lớn, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm Xét cả về lý luận và thực tế cho thấy: DNVVN có vị trí khá lớn ở nhiều nước trên thế giới trong đó

có bao gồm cả các nước công nghiệp phát triển Vị trí của các DNVVN đã được khẳng định qua các điểm chủ yếu sau [14]:

- Về số lượng các DNVVN chiếm ưu thế tuyệt đối, ví dụ số DNVVN chiếm tới hơn 99% tổng số DNVVN ở Nhật bản và Đức [13] Các nước Tây âu là 99%, Mỹ và lãnh thổ Đài loan là 98%, Singapore 90%, Thái lan, Malaysia, Indonesia 95 - 98% [7] Qua các con số này cho chúng ta thấy DNVVN có vị trí rất lớn trong nền kinh tế của các nước, nó cũng là một trong những tấm “phong vũ biểu” của nền kinh tế các nước

- DNVVN có mặt trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực và tồn tại như một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế mỗi nước, nó có mối quan hệ hữu cơ đối với các doanh nghiệp lớn và tồn tại tất yếu như một bộ phận cấu thành của nền kinh tế mỗi nước Nó có tác dụng bổ sung và thúc đẩy doanh nghiệp lớn và nền kinh tế phát triển

- Sự phát triển các DNVVN gắn liền với quá trình phát triển của nền kinh tế đất nước

2.1.2.2 Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế quốc dân

Từ vị trí quan trọng trên của các DNVVN mà nó có một vai trò rất lớn đối với

sự phát triển kinh tế và xã hội của mỗi nước Trên khắp thế giới, người ta đã thừa nhận vai trò to lớn của các DNVVN như vậy và tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh

tế mỗi nước thì vai trò của nó cũng được thể hiện khác nhau

Đối với các nước công nghiệp phát triển cao như Đức, Nhật Bản, Mỹ Mặc dù

có nhiều công ty lớn them chí là các công ty xuyên quốc gia nhưng DNVVN vẫn giữ

một vị trí rất quan trọng ở Nhật Bản, người ta coi DNVVN là một nguồn lực đảm

Trang 22

bảo cho sức sống nền kinh tế, là bộ phận hợp thành của cơ cấu qui mô nhiều tầng của các DNVVN

Đối với các nước đang phát triển và chậm phát triển thì ngoài vai trò là một bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân tạo công ăn việc làm, góp phần tăng trưởng kinh tế, DNVVN còn có vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tiến hành công nghiệp hoá đất nước, xoá đói giảm nghèo, giải quyết những vấn đề xã hội

Đối với các nước châu á như Hàn Quốc, Thái Lan, Philipines, Indonesia, DNVVN còn có vai trò tích cực trong việc chống đỡ các tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ góp phần đáng kể vào sự ổn định kinh tế – xã hội và từng bước khôi phục nền kinh tế

Vai trò của DNVVN được thể hiện bằng các chỉ tiêu cụ thể [7]:

Một là: Các DNVVN đóng góp đáng kể vào sự phát triển và ổn định kinh tế

của mỗi nước Phát triển DNVVN đã làm cho tốc độ tăng trưởng nền kinh tế tăng lên,

đặc biệt đối với những nước mà có trình độ phát triển kinh tế còn thấp như Việt Nam thì giá trị gia tăng hoặc GDP do các DNVVN tạo ra hàng năm chiếm tỷ trọng khá

lớn, đảm bảo thực hiện những chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế ở Hàn quốc, giá trị gia tăng mà các DNVVN tạo ra hàng năm là 21%, Singapore 26,6%, Malaysia là 36,4% và Nhật bản là 38,8% Điều này cho thấy, sự đóng góp giá trị gia tăng của các DNVVN là rất lớn không thua kém gì các DNVVN lớn và các thành phần kinh tế khác

Hai là: cung cấp cho xã hội một khối lượng hàng hoá đáng kể

Thứ ba là thu hút lao động, tạo ra nhiều việc làm với chi phí đầu tư thấp, giảm thất nghiệp Đây là vai trò giải quyết vấn đề xã hội có tính chất mấu chốt của các DNVVN Tỷ trọng thu hút lao động của các DNVVN ở một số nước có thể tham khảo theo bảng dưới đây:

Tỷ trọng thu hút lao động và tạo ra giá trị gia tăng của các DNVVN ở một số nước và vùng lãnh thổ Châu á

Bảng 2.3: Đóng góp vào thu nhập quốc dân và tạo việc làm của các DNVVN ở

một số nước trên thế giới

Nước Tỷ trọng lao động thu hút (%) Giá trị gia tăng tạo ra (%)

Trang 23

Nguồn: kỷ yếu khoa học, dự án chính sách hỗ trợ phát triển DNVVN ở Việt Nam,

Học viện chính chị quốc gia, Hà nội, 1996

Giải pháp phát triển DNVVN, Nguyễn Đình Hương [20]

Nhìn chung từ số liệu thống kê trên có thể thấy các DNVVN chiếm từ 81-98%

số doanh nghiệp, thu hút khoảng 30 - 60% lao động và tạo ra khoảng 20% - 40% giá trị gia tăng trong nền kinh tế các nước này [7]

Bốn là tạo nguồn thu nhập ổn định, thường xuyên cho dân cư, góp phần giảm bớt chênh lệch về thu nhập giữa các bộ phận dân cư, tạo ra sự phát triển tương đối

đồng đều giã các vùng của đất nước và cải thiện mỗi quan hệ giữa các khu vực kinh

tế khác nhau Khả năng sản xuất phân tán, sử dụng lao động tại chỗ vừa tạo việc làm vừa tạo nguồn thu nhập ổn định cho dân cư trong các vùng góp phần quan trọng trong việc giảm bớt khoảng cách thu nhập và mức sống giữa các vùng trong cả nước

Năm là khai thác, phát huy các nguồn lực và tiềm năng tại chỗ của các địa phương, các nguồn tài chính của dân cư trong vùng

Sáu là hình thành phát triển đội ngũ nhà kinh doanh năng động Cùng với việc phát triển các DNVVN là sự xuất hiện ngày càng nhiều hơn các nhà kinh doanh sáng lập Đây là lực lượng rất cần thiết để góp phần thúc đẩy sản xuất – kinh doanh ở Việt Nam phát triển đội ngũ các nhà kinh doanh ở nước ta còn rất khiêm tốn cả về số lượng và chất lượng do ảnh hưởng của cơ chế cũ để lại Trong những năm đổi mới đã xuất hiện nhiều gương mặt trẻ, điển hình, năng động trong quản lý các DNVVN

Bảy là tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển có hiệu quả hơn Sự tham gia của rất nhiều các DNVVN vào sản xuất kinh doanh làm cho số lượng và chủng loại sản phẩm sản xuất tăng lên rất nhanh Kết quả là làm tăng tính chất cạnh tranh trên thị trường, tạo ra sức ép lớn, bắt buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên phải đổi mới Những yếu tố đó có tác động lớn làm cho nền kinh tế năng động, hiệu quả hơn

Trang 24

2.1.3 Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ với các chủ thể kinh tế khác

Mối quan hệ giữa DNVVN với DN lớn, của các DNVVN với nhà nước là mối quan hệ tất yếu và nhiều chiều Chúng nằm trong một hệ thống thể chế kinh tế, chịu tác động của các qui luật kinh tế thị trường nói chung Các mối quan hệ này có thể tạo ra những cơ hội tốt cho sự phát triển của doanh nghiệp nhưng cũng đồng thời tạo ra những thách thức cho doanh nghiệp Mối quan hệ này mang tính qui luật

2.1.3.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ với các doanh nghiệp lớn

Đối với các doanh nghiệp lớn, mối quan hệ ấy của các DNVVN là:

Thứ nhất: các doanh nghiệp lớn vừa giúp đỡ vừa hướng dẫn sử dụng, vừa kiềm chế, chèn ép thậm chí thủ tiêu DNVVN còn DNVVN thì vừa tranh thủ sự giúp đỡ hợp tác, vừa thủ thế, giành giật đối với doanh nghiệp lớn Động cơ ở đây chính là lợi nhuận, cuộc đấu tranh để sinh tồn và phát triển về lợi nhuận trong kinh tế thị trường Mối quan hệ này rất phức tạp và đa dạng

- Tuỳ ở chỗ DNVVN là doanh nghiệp độc lập hay là doanh nghiệp con, nằm trong

tổ chức của một doanh nghiệp lớn

- Tuỳ ở chỗ DNVVN thuộc ngành sản xuất, ngành kinh doanh, ngành dịch vụ nào

- Tuỳ ở mục tiêu chiến lược phương pháp và tài năng xoay sở của doanh nghiệp lớn cũng như của DNVVN Cụ thể hơn cả hai bên giống nhau, hoặc mỗi bên khác nhau trong sự lựa chọn, và có khả năng đến đâu để thực hiện sự lựa chọn ấy: giành giật hay là cộng tác, hay là pha trộn cả hai

- Tuỳ ở chính sách nhà nước hay là dư luận xã hội tại từng nước, dẫn đến chỗ thị trường được hướng dẫn đúng hay sai, bị bóp méo nhiều hay ít mặt tích cực được nhiều hay ít, mặt tích cực được phát huy và mặt tiêu cực được khắc phục thế nào Như vậy, về quan hệ giữa DNVVN với doanh nghiệp lớn, trên cơ sở một số không nhiều các nét chung dễ nhận thấy, cần phải phân tích cụ thể đối với từng thời kỳ, từng quốc gia, từng ngành, từng vùng, từng doanh nghiệp

Tuy nhiên, rõ ràng là vì mục đích kinh doanh là lợi nhuận thì cả nhỏ và lớn các doanh nghiệp này rất cần đến nhau, một mối quan hệ biện chứng không tách rời Và

Trang 25

thủ tiêu các DNVVN là các doanh nghiệp lớn thủ tiêu chính mình Ngược lại có phát triển đến thế nào thì các DNVVN cũng không thoát khỏi các doanh nghiệp lớn Vấn

đề là phụ thuộc đến đâu Phần trăm cho việc hợp tác, cạnh tranh, giành giật là bao nhiêu thì hợp lý Đó mới là bài toán cho cả hai loại hình doanh nghiệp này

2.1.3.2 Doanh nghiệp vừa và nhỏ với Nhà nước

Trong thuyết kinh tế học về mô hình kinh tế hỗn hợp của Suamelson có khẳng

định: phát triển kinh tế mà không có sự tham gia của chính phủ thì như định vỗ tay bằng một bàn tay Điều đó có nghĩa là bàn tay hữu hình luôn luôn hiện hữu trong bất

cứ thời kỳ nào, trong bất cứ nền kinh tế nào Đối với toàn bộ khu vực DNVVN, nhà nước là người khởi xướng, người khuyến khích, người giúp đỡ, người bảo vệ, người cứu trợ (khi khó khăn), người điều tiết thoả đáng (khi cần thiết)

Hầu hết các nhà nước chẳng những đối xử với DNVVN bình đẳng như với doanh nghiệp lớn mà còn dành ưu đãi rõ rệt cho DNVVN, với nhận thức đúng đắn rằng sự bất bình đẳng có lợi cho DNVVN là dân chủ là con đường và biện pháp tốt để thực hiện bình đẳng xã hội Việc đối xử với các DNVVN thường thể hiện trong luật với các nội dung như:

1 Tạo dễ dàng việc khởi nghiệp và việc hành nghề của DNVVN

2 Cho vay vốn tạo điều kiện thuận lợi, lãi suất thấp, với thời hạn dài, với sự giúp

đỡ khi gặp khó khăn trong việc trả nợ

3 Cho hưởng nhiều ưu đãi về thuế

4 Chuyển giao và giúp làm chủ công nghệ và quản lý tiên tiến

5 Giúp đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực, từ giám đốc đến kỹ thuật viên, nhân viên quản lý, kế toán và công nhân lành nghề

6 Cho thấy công việc sản xuất, kinh doanh, cho đảm nhận từng dự án hoặc bộ phận dự án kinh tế (của nhà nước); cho hạn ngạch hoặc tỷ phần trong việc cung ứng hàng hoá hoặc dịch vụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu

7 Tiếp cận thị trường, cung cấp thông tin kịp thời và chuẩn xác về thị trường, cho tham gia nhiều hình thức thiết lập và phát triển quan hệ với các đối tác trong và ngoài nước

Trang 26

8 Đặc biệt chăm sóc và giúp đỡ: Các DNVVN có nhiều triển vọng; Các doanh nghiệp bị thiệt thòi hoặc gặp nhiều khó khăn; Các DNVVN do phụ nữ làm chủ; Các DNVVN trong một số vùng và ngành ưu tiên

9 Hoạch định thông qua và thực hiện những chiến lược trung hạn và dài hạn, những chương trình quốc gia từng năm hoặc vài năm về phát triển các DNVVN

10 Theo dõi tình hình, thường thì làm thống kê riêng về DNVVN, kiểm điểm việc thực hiện các luật lệ, chiến lược và chương trình nói trên, phát hiện và xử lý kịp thời các vấn đề nảy sinh để phát triển DNVVN

11 Lập cơ quan nhà nước chuyên trách về DNVVN, có nơi là cơ quan cấp bộ hoặc chính là một bộ trong chính phủ

12 Giúp thành lập và hoạt động có hiệu quả của các hiệp hội DNVVN Dành cho các hiệp hội ấy cơ hội và vị trí đích đáng trong các hội đồng, Uỷ ban, các hội nghị quan trọng của nhà nước để hoạch định chính sách kinh tế quốc gia

Nói chung mối quan hệ giữa nhà nước và DNVVN là một mối quan hệ vừa có những điểm riêng, vừa có những điểm chung Tất nhiên, ở các nước khác nhau thì mức độ quan hệ của nhà nước với khu vực DNVVN này là khác nhau Và khẳng định mối quan hệ này vẫn dựa trên mức độ khuyến khích, ưu đãi, giúp đỡ nhiều hay ít, cao hay thấp đối với DNVVN

2.1.3.3 Các xu hướng chủ yếu tác động đến doanh nghiệp vừa và nhỏ

Cùng với sự hội nhập và mở cửa của nền kinh tế nước ta, hội chứng về hội nhập cũng như sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin và khoa học về quản lý một cách mạnh mẽ tác động rất lớn đến sự phát triển của các DNVVN Những tác động này có thể là các tác động tích cực, có thể là các tác động tiêu cực Việc nhìn nhận đánh giá các tác động giúp chúng ta nhìn tổng thể hơn về sự phát triển các DNVVN Các tác động chủ yếu đối với các DNVVN hiện nay là:

Thứ nhất: sức ép mởi rộng phạm vi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,

đòi hỏi giám đốc, các chủ hộ kinh doanh, sản xuất hàng hoá phải có năng lực quản lý rộng lớn hơn và hiện đại hơn, kể cả các kỹ năng có tính chất quốc tế Sự mở rộng phạm vi hoạt động và tăng tốc độ hoạt động là yêu cầu tất yếu, tạo ra sức ép lớn đối với mọi doanh nghiệp, không loại trừ DNVVN kể cả các hộ sản xuất kinh doanh dưới

Trang 27

góc độ gia đình Công nghệ tin học đang tác động đến công ty, các hãng kinh doanh

và các hộ gia đình sản xuất kinh doanh Do đó, sức ép từ thành tựu khoa học trên là rất nhanh chóng, buộc các doanh nghiệp phải vận động, tìm ra những hướng mới cho doanh nghiệp của mình, có như vậy mới giúp các họ đứng vững trên thị trường

Thứ 2: hội nhập quốc tế buộc các doanh nghiệp phải nâng cao sức cạnh tranh

để đủ sức đứng vững trên thương trường Năng lực của các nhà quản lý doanh nghiệp

là một trong những nhân tố quan trọng có ảnh hưởng quyết định đế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Doanh nhân ngày nay cần có những năng lực tổng hợp và mức độ cao, trong đó cần đặc biệt chú ý đến kiến thức và kỹ năng kinh doanh quốc

tế

Thứ ba: trào lưu sát nhập, liên kết các tập đoàn và siêu tập đoàn tạo ra sức ép rất lớn cho mọi doanh nghiệp trong cuộc cạnh tranh Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chịu sức ép cạnh tranh lớn, thậm chí sự cạnh tranh không cân sức với các đối thủ quá hùng mạnh Vì vậy, đối với nước ta hiện nay mà nói thì các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh cần phải có các nhà quản trị doanh nghiệp tài giỏi để lãnh đạo và

điều hành doanh nghiệp, nhất là khi các doanh nghiệp có xu hướng mở rộng sản xuất kinh doanh

Thứ tư: sự cộng hưởng những tác động của môi trường kinh doanh đang làm biến đổi doanh nhân từ mô hình hoạt động theo kinh nghiệm sang mô hình hoạt động chính quy, bài bản và có tính chiến lược Kiểu kinh doanh ngắn hạn của các nhà kinh doanh nhỏ đã hỗ trợ cho mô hình kinh doanh dài hạn trọng uy tín với các quan điểm bền vững Đối với các doanh nghiệp khi tham gia quốc tế điều này càng quan trọng

và được nhấn mạnh hơn

Nước ta vẫn là một nước nông nghiệp, sản xuất hàng hoá nhỏ, đang phấn đấu xây dựng một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, trong đó có nền công nghiệp sản xuất hàng hoá lớn, phát triển bền vững, có sức cạnh tranh cao trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn tất yếu phải dựa vào sự phát triển của những vùng sản xuất hàng hoá tập trung, chuyên canh, dựa vào những

hộ nông dân sản xuất có qui mô kinh doanh ngày càng lớn ở mức độ hợp lý để sử dụng công nghệ cao, công nghệ mới, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, đủ

Trang 28

sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Số hộ nông nghiệp, người làm nông nghiệp ngày càng giảm đi mà không tìm được việc làm thì quá trình CNH-HĐH trong nông nghiệp nông thôn, nông dân mất đất lại mất việc làm, lâm vào hoàn cảnh bần cùng Một xu hướng dịch chuyển khác là số lao động khác là tập trung vào các đô thị lớn để tìm việc làm, làm nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế xã hội Việc phát triển các DNVVN tạo việc làm ở nông thôn là một chiến lược và hướng đi đúng đắn, nó đem lại lợi ích kép cho xã hội, góp phần giải quyết hài hoà các mâu thuẫn giữa vấn đề kinh tế và xã hội nông thôn, thực hiện mục tiêu kinh tế chiến lược của đất nước

2.2 Một số vấn đề về giới và khả năng tham gia các hoạt động kinh

tế - x∙ hội của phụ nữ

2.2.1 Một số vấn đề về giới nói chung

• Giới và phát triển một số luận điểm chính

+ Khái niệm về giới: giới ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người, nhưng nghiên cứu về giới thì mới chỉ bắt đầu vài thập kỷ gần đây Có rất nhiều người đã nhầm giới và giới tính Thực tế không phải như vậy, giới tính chỉ là một phần trong giới hay nói cách khác giới có ý nghĩa rộng hơn Giới được người ta khái niệm như sau: “Giới là một phạm trù chỉ mối quan hệ giữa nam giới và phụ nữ Nói đến mối quan hệ giới là nói đến cách thức phân định xã hội giữa nam giới và phụ nữ liên quan đến hàng loạt vấn đề thuộc thể chế và xã hội chứ không phải mối quan

hệ cá biệt giữa một nam giới hay một phụ nữ nào” [61] Tổ chức Liên minh hợp tác quốc tế nghiên cứu về giới thì cho rằng: “Giới được hiểu như như là một phạm trù mang tính xã hội xác định bằng bởi sự khác nhau về giới tính về mặt sinh học Nó là một cấu trúc văn hoá và tư tưởng và được tái sinh trong phạm vi thực tiễn, với nghĩa này nó tác động lên những kết quả của thực tiễn, nó ảnh hưởng đến sự phân bố nguồn tài nguyên, sự giàu có, việc làm, việc ra quyết định, và quyền lực chính trị, nó ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ trong cuộc sống gia đình cũng như là cuộc sống cộng

đồng Mặc dù đa dạng về văn hoá và thời gian nhưng mối liên hệ giới thông qua sự không tương xứng về quyền lực có tính truyền thống của thế giới giữa nam giới và phụ nữ như là một đặc điểm phổ biến Vì thế giới là một tiêu chí phân bậc xã hội và

Trang 29

trong ý nghĩa này nó giống như những tiêu chí phân loại khác như dòng giống, loài, dân tộc, tuổi và giới tính Nó giúp chúng ta hiểu cấu trúc xã hội của việc xác định rõ giới và cấu trúc không công bằng về quyền lực, cái mà nó ẩn dưới cái vỏ bọc của giới tính” [61]

Do vậy giới mang tính xã hội, giới không tự nhiên mà có Trong quan điểm về giới thì các hành vi, vai trò, vị thế được dạy dỗ về mặt xã hội và được coi là thuộc về trẻ em gái và trẻ em trai Vì thế nhìn chung phụ nữ và trẻ em giá thường bất lợi hơn nam giới và trẻ em trai Giới đa dạng tuỳ theo sự khác nhau của xã hội Dưới hình thức xã hội này thì giới biểu hiện khác và dưới xã hội kia thì giới biểu hiện khác Tuy nhiên giới có thể thay đổi, phụ nữ có thể làm thủ tướng và nam giới có thể nấu bếp hoặc làm việc nhà rất tốt Điều này khác hẳn với chức năng về giới tính của phụ nữ

và nam giới

• Bình đẳng giới: trong xã hội phát triển, con Người đang tiến dần và phấn đấu

đến bình đẳng giới Tuy nhiên bình đẳng giới không đơn giản là số lượng phụ nữ và nam giới, hay số trẻ em gái và số trẻ em trai tham gia vào các hoạt động là như nhau

Mà bình đẳng giới có nghĩa là nam giới và phụ nữ được công nhận và hưởng các vị thế ngang nhau trong xã hội Bình đẳng giới không có nghĩa là nam giới và phụ nữ giống nhau mà là sự tương đồng và khác biệt giữa nam và nữ được công nhận giá trị như nhau [61]

Bình đẳng giới có nghĩa là nam và nữ có thể trải nghiệm những điều kiện bình đẳng

để phát huy đầy đủ các tiềm năng của họ, có cơ hội để tham gia đóng góp và hưởng lợi bình đẳng từ công cuộc phát triển quốc gia trong lĩnh vực kinh tế chính trị, văn hoá, xã hội [38]

Như vậy, phụ nữ có thể tham gia tất cả các hoạt động xã hội giống như nam giới, họ có thể làm và làm tốt Tuy nhiên, họ phải được tạo điều kiện, tức là phải đạt

được sự công bằng về giới, nghĩa là không phải có thể làm bất cứ cái gì nam giới có thể mà phải được làm những cái mà họ có khả năng, phải được tạo ra những điều kiện

để tiếp nhận các cơ hội Đối với việc quản lý và tham gia vào làm kinh tế trong lĩnh vực các DNVVN thì phụ nữ rất phù hợp, có khả năng và có khả năng làm rất tốt Thực tế hiện nay, số lượng DNVVN do phụ nữ quản lý đã có rất nhiều Tuy nhiên,

Trang 30

cũng như hình ảnh con vịt và con cò đứng nhìn con cá trong bình thủy tinh, cơ hội nhìn thấy con cá là như nhau nhưng để bắt được nó thì cái mỏ cao của con cò sẽ thuận tiện hơn nhiều Cái chính ở đây là con người, các định chế xã hội tạo ra điều kiện để con cò có thể có cơ hội Đó là việc chọn cái bình có cái cổ cao để con cò có thể dễ dàng tiếp cận hơn con vịt Do đó, nam giới có điều kiện để tiếp cận cơ hội dễ hơn phụ nữ trong điều kiện xã hội nước ta hiện nay

• Xu thế của giới

Thiết lập một mối quan hệ về giới là quá trình tiếp cận trong mối quan hệ giữa Nam giới và phụ nữ của bất kỳ một hành động có kế hoạch nào, bao gồm trong luật pháp, các chính sách và các chương trình, ở tất cả các ngành và các cấp Nó là một chiến lược cho việc tạo ra mối quan tâm của cả phụ nữ và nam giới và kinh nghiệm một phần không thể thiếu trong kế hoạch, sự thực hiện, sự giám sát và đánh giá của các chính sách, các chương trình trong toàn bộ các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội vì thế mà lợi ích mang lại phụ nữ và nam giới là công bằng và sự không công bằng là không tồn tại mãi mãi Mục tiêu cuối cùng là đạt được sự bình đẳng về giới [61]

Việc thúc đẩy phát triển kinh tế là dựa trên việc sử dụng đầy đủ nguồn lực con người Công bằng về giới rất tốt cho công việc và vì thế mang thêm giá trị cho những thành viên của công đồng, sự khác nhau về giá trị đối với lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội [61]

Tuy nhiên, những chính sách hay các chiến lược mà rất nhạy cảm đối với giới thì ở đó không có sự đảm bảo nào mà sự thay đổi cách cư xử cá nhân tối thiểu, thuộc cách tổ chức sẽ sẵn sàng cả Mặc dù, trong thực tế các chính sách, luật pháp và những qui định thông thường không có sự phân biệt đối xử và vì thế mà tưởng rằng tạo ra cơ hội công bằng nhưng vẫn có một rào cản vô hình nào đó đối với phụ nữ trong việc ra quyết định hoặc là không được xã hội chấp nhận Điều này có thể thấy rất rõ trong vấn đề bình đẳng giới ở nước ta Nhà nước và chính phủ có những chính sách, những văn bản luật qui định về bình đẳng giới ở Việt Nam, rằng phụ nữ có quyền bình đẳng như nam giới, phụ nữ có thể tham gia tất cả các hoạt động có thể, phụ nữ có quyền học hành, có quyền làm việc nhưng trong thực tế thì không hẳn là như vậy, cấp đất cho một doanh nghiệp có chủ là nữ nhưng người đứng tên là nam giới rõ ràng có một

Trang 31

rào cản vô hình nào đó không chỉ là trong chính sách mà từ chính trong lòng xã hội, trong lòng vấn đề về giới Trong thực tế để đạt được bình đẳng giới không phải quá khó nhưng cũng không phải là dễ dàng gì

2.2.2 Khả năng tham gia vào các hoạt động kinh tế của phụ nữ

2.2.2.1 Vị trí của phụ nữ trong x∙ hội

- Tỷ lệ nữ và lao động nữ trong xã hội

Theo số liệu của ngân hàng châu á (ADB): lực lượng lao động nữ trong toàn bộ

lực lượng lao động của nền kinh tế châu á chiếm tương đối lớn Từ nguồn lao động này đã đem lại nguồn thu đáng kể cho các nền kinh tế Đặc biệt là ở Việt Nam năm

1995 số lượng lao động nữ lên đến 50,2% trong khi năm 1970 là 47,7% (ngân hàng thế giới) Tỉ lệ nữ tham gia vào lực lượng lao động tăng, chủ yếu là do sự huy động và tham gia của những phụ nữ trẻ vào những việc làm công ăn lương chính chức ở các ngành công nghiệp chế tạo có tỷ trọng lao động cao và định hướng xuất khẩu, đặc biệt như ngành điện tử, may mặc và giày dép Như vậy rõ ràng phụ nữ có khả năng tham gia rất lớn vào phát triển kinh tế Sự đóng góp này nhiều đến đâu thì còn phụ thuộc nhiều vào chính sách về giới của mỗi nước

- Vai trò kép của phụ nữ trong gia đình: đây là một vai trò đặc biệt của phụ nữ

mà tạo hoá tạo ra cho phụ nữ Tuy nhiên việc thực hiện hai vai trò của người phụ nữ

là không hề mâu thuẫn nhau mà còn tạo động lực cho sự phát triển Theo tác giả Susana M Sỏnchez thì việc phụ nữ có gia đình không hề có ảnh hưởng đến công việc làm kinh tế Việc họ có gia đình và con cái còn là động lực thúc đẩy cho việc tự kinh doanh [59] Hay nói cách khác đó có phải là lí do mà chủ doanh nghiệp có quyết định khởi nghiệp hay không, (động lực thúc đẩy cho việc quyết định có kinh doanh độc lập hay không) Ví dụ như khi có gia đình thì việc chăm sóc con cái cần một thời gian nhất định và họ không thể đi làm thuê cho các cơ quan Nhà nước cũng như là các công ty khác theo thời gian cố định

- Lực lượng quan trọng tạo ra của cải vật chất và xây dựng văn hoá nông thôn

Phụ nữ có thể tham gia tất cả các lĩnh vực từ quản lí, ra quyết định và hoạt động trực tiếp Sơ

đồ sau thể hiện khả năng và quyền tham gia các hoạt động của phụ nữ [58]

Trang 32

Sơ đồ 2.1 Các lĩnh vực mà phụ nữ có khả năng và có quyền tham gia

Như vậy, phụ nữ có một vai trò rất quan trọng trong phát triển Qua sơ đồ trên chúng

ta thấy: phụ nữ có thể tham gia các hoạt động trong cộng đồng, lãnh đạo cộng đồng; phụ nữ tham gia sản xuất và tái sản xuất; quản lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên; tham gia vào các hoạt động xã hội

Công nghệ

Hội nông dânCác nguồn

tài nguyên

Tín dụng Thị trường

Công cụ

QL đào tạo

Lao động Phụ nữ

Phạm vi hoạt động Khuyến nông

Các TC từ thiện

Sản xuất

Đào tạo kỹ thuật

Trang 33

2.2.2.2 Khả năng tham gia vào các hoạt động kinh tế của phụ nữ

Các ngành nghề mà phụ nữ có khả năng tham gia: phụ nữ có thể tham gia tất cả các ngành trong xã hội Trong sản xuất nông nghiệp một ngành truyền thống thì phụ nữ có thể tham gia cả trong trồng trọt và chăn nuôi Trong trồng trọt các công đoạn

mà phụ nữ tham gia cùng với nam giới là như nhau: đó là phụ nữ tham gia làm đất, trồng cấy, làm cỏ, bón phân, chăm sóc, thu hoạch thậm chí phụ nữ làm chủ yếu là trong các khâu gieo trồng và sau thu hoạch, do bàn tay khéo léo và tính kiên trì, chịu khó của mình Trong khi đó ngành chăn nuôi thì phụ nữ tham gia chiếm đa số Thậm chí tỉ lệ phụ nữ tham gia ngành chăn nuôi đến hơn 80% [1]

Phụ nữ có thể tham gia sản xuất các ngành nghề phi nông nghiệp như: Các ngành bảo quản nông sản sau thu hoạch chế biến nông lâm sản, chế biến lương thực (làm mì miến, bún khô, bánh đa nem, làm nha đường ) Đặc biệt với đôi bàn tay khéo léo phụ nữ có thể làm các nghề truyền thống như sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, mây tre đan, các nghề mới như thêu ren, may mặc, dệt thảm, các hàng dân dụng, đồ sành sứ Đặc thù của các ngành này rất phù hợp với lao động nữ, nhằm đảm bảo cho phụ nữ thực hiện được vai trò kép của mình đó là làm tại nhà, tại địa phương theo nhóm nhỏ hay hộ gia đình

Ngoài ra phụ nữ còn có thể tham gia vào các ngành dịch vụ: dịch vụ nông nghiệp nông thôn như cung cấp phân bón thuốc trừ sâu, cung cấp các loại giống Các ngành dịch vụ phục vụ các gia đinh như chăm sóc người già, trẻ em, ốm đau làm công việc nội trợ gia đình, các dịch vụ văn hoá, y tế ở nông thôn như các trạm y tế, các cửa hàng thuốc, dịch vụ chữa bệnh tại nhà, dạy trẻ em học Đó là các ngành dịch

vụ rất phù hợp với phụ nữ, phụ nữ thể làm và thể hiện được bằng chính khả năng của mình Theo giáo sư Lê Thi, trong nghiên cứu của tác giả năm 1998: trong cả nước ở nông thôn số chủ doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đỉnh tỷ lệ nam chiếm 86%, nữ 12%; kinh tế hộ gia đình nam chiếm 84,6%, nữ chiếm 15,4% [36] Tuy nhiên, con số này

được đánh giá trên cơ sở chủ hộ đăng ký kinh doanh, trong thực tế chồng đăng ký nhưng vợ làm quản lý, quán xuyến mọi việc trong gia đình cũng như việc kinh doanh Qua điều tra sơ bộ tỉ lệ phụ nữ tham gia vào công việc kinh doanh cho thấy, tỉ lệ nữ

đứng tham gia đăng ký kinh doanh chiếm 20% nhưng thực tế số chị em thực làm, cai

Trang 34

quản công việc kinh doanh xấp xỉ gần 50% Điều này cho thấy, phụ nữ có thể tham gia rất nhiều ngành, lĩnh vực nhưng họ đang chưa được xã hội công nhận một cách chính thức, do còn hạn chế về các định kiến xã hội và các quan niệm về giới của xã hội

- Sự thích hợp của phụ nữ do đặc tính về giới đối trong các DNVVN

Hầu hết các DNVVN đều trưởng thành từ mô hình kinh tế hộ Các hộ gia đình

từ việc làm ăn khá giả thường phát triển thành các công ty tư nhân hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn Thêm vào đó việc kinh doanh này thường là các ngành nghề truyền thống hoặc những gia đình kinh doanh đã có thâm niên từ lâu Phụ nữ rất thích hợp với những công việc kinh doanh nhỏ có tính chất truyền thống này, đặc biệt là những ngành nghề kinh doanh đòi hỏi tính kiên trì, chịu khó Sự mềm mỏng nhưng lại rất tháo vát của phụ nữ đã tạo nên một sự thích hợp về giới trong khả năng kinh doanh ở phạm vi nhỏ mà bắt đầu là từ cái gọi là “nghề” của gia đình Tuy nhiên, công việc kinh doanh hiện nay của các doanh nghiệp nhỏ này thì phụ nữ quán xuyến trong những công việc như: Tiền nong, quản lý lao động hay nhận các đầu vào, sự tham gia của người chồng có thể trong một số lĩnh vực như tìm đầu ra, hay đi thương lượng với khách hàng Nhưng tất cả các chiến lược và phương án kinh doanh đều được dựa trên cơ sở cùng bàn bạc

2.2.2.3 Những khó khăn và thuận lợi của phụ nữ khi tham gia vào các hoạt động phát triển kinh tế x∙ hội

Thuận lợi

- Có khả năng nhìn nhận và đánh giá các vấn đề xã hội Cũng giống như nam giới, việc nhìn nhận đánh giá các vấn đề về tự nhiên và xã hội Tuy nhiên, họ có thể nhìn dưới góc độ khác do ảnh hưởng của đặc tính giới Nhưng mức độ đánh gia đạt đến là ngang bằng với nam giới

- Phát huy được đặc tính về giới: phụ nữ thường rất nhạy cảm, linh hoạt nhưng mềm dẻo, chắc chăn, kiên trì, tỷ mỉ chịu khó, nhẫn nại Có thể làm một lúc nhiều việc, thích hợp với một số công việc, ngành nghề trong xã hội

- Có thể kết hợp được sản xuất nông nghiệp với kinh doanh nghành nghề

- Nhanh nhạy trong tiếp cận với kinh tế thị trường

Khó khăn

Trang 35

- Vấn đề liên quan đến vai trò kép của phụ nữ: phụ nữ có hai vai trò cùng phải làm một lúc đó là vai trò làm mẹ và vai trò làm một người công dân bình thường Với vai trò làm mẹ, phụ nữ phải sinh đẻ và nuôi dạy con cái Đây được coi như là vai trò tối quan trọng của phụ nữ Do vậy, thời gian dành cho việc nhà và chăm sóc con cái chiếm rất nhiều do đó thời gian làm việc của phụ nữ thường nhiều hơn nam giới Vì thế mà thời gian nghỉ ngơi và giải trí, cũng như dành cho công việc học tập và nắm bắt thông tin là ít đi Từ đó dẫn đến các cơ hội cho phụ nữ có thể tham gia các hoạt

động xã hội và cộng đồng cũng như đảm nhận các vị trí quản lý lãnh đạo thường ít Nếu phụ nữ muốn tham gia các hoạt động kinh tế khác thì thời gian làm phải tăng lên rất nhiều lần so với công việc bình thường, điều này đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến công việc của phụ nữ khi tham gia các hoạt động kinh tế xã hội khác

- Trình độ học vấn

ở các nước trên thế giới, vấn đề giới được chính phủ và xã hội quan tâm từ rất lâu, vì vậy mặc dù có những nước ra đời sau nhưng họ đã đạt được những thành công về vấn đề giới nhất định Do đó trình độ học vấn và kỹ năng kinh doanh của các nữ chủ doanh nghiệp nước ngoài hiện nay chênh lệch so với Việt Nam rất nhiều

- Đối với các nữ chủ doanh nghiệp Việt Nam thì học vấn của họ rất thấp Nếu họ

đạt đến một trình độ nhất định thì thường công tác trong các lĩnh vực thuộc cơ quan nhà nước Và bởi vì người Việt Nam thường quan niệm rằng buôn phường bán bè là những người không có công ăn việc làm một cách chính thống mới đi buôn do đó một thực tế hiện nay, mặc dù rất cần thiết nhưng ngành kinh doanh ở Việt Nam không phải là ngành được coi trọng Hơn nữa, do định chế xã hội Việt Nam nên ở độ tuổi các chủ doanh nghiệp hiện nay việc đi học mới dừng nhiều nhất ở lớp 7 (hệ đào tạo cũ) Trình độ chuyên môn phụ nữ nói chung so với nam giới còn nhiều hạn chế: trên thế giới hiện nay nói chung và ở Việt Nam nói riêng thì tình hình học tập và tiếp thu kiến thức mới của phụ nữ đã có hướng mở ra nhưng chưa nó còn có cái gì rất mới

mẻ Tư tưởng “học nhiều cũng chẳng để làm gì” vẫn đè nặng trong xã hội đặc biệt là

các nước châu á Ngay cả ở những nước dường như là phát triển nhất như Anh Pháp,

Mỹ thì số lượng phụ nữ được học hành đầy đủ và có thể tiếp cận với những khoa học

kỹ thuật, khoa học quản lý mới là bao giờ cũng ít hơn nam giới

Trang 36

Việt Nam hiện nay, so với nam thì số lượng phụ nữ được đi học, có bằng cấp,

có trình độ còn rất khiêm tốn Theo giáo sư Lê Thi: phụ nữ ở độ tuổi lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật là 6%, có trình độ đại học là 2% còn nam giới thì tỷ lệ này là 10% và 4% Do tư tưởng trọng nam khinh nữ hiện nay thì tỉ lệ em gái không

được đến trường và bỏ học chiếm 70% tổng số các em nghỉ học [36] Điều này đã

ảnh hưởng không nhỏ đến sự nhìn nhận và tiếp thu những vấn đề khoa học và kỹ thuật mới của phụ nữ và áp dụng nó vào trong đời sống hiện đại Do vậy hiệu quả và năng suất lao động của phụ nữ thấp, làm việc trong tình trạng hết sức vất vả Theo số liệu thống kê của Việt Nam thì tỉ lệ lao động nữ không qua đào tạo là 90,06% so với 85,73% là của nam giới, chỉ có 0,63% công nhân kỹ thuật có bằng trong khi đó nam

là 3,64% [51] Không có học vấn thì quản lý trong gia đình và các vấn đề khác của cuộc sống đã rất phức tạp chứ chưa nói đến kinh doanh một lĩnh vực hết sức phức tạp,

đòi hỏi sự hiểu biết và trình độ cao

Khả năng tiếp cận với các vấn đề như vốn, khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, kỹ năng quản trị kinh doanh Chính xuất phát điểm từ vấn đề học vấn không đảm bảo nên mặc dù có những lợi thế tự nhiên về giơí nhưng phụ nữ trong kinh doanh vẫn

bị ảnh hưởng bởi khả năng tiếp cận các nguồn vốn, khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, kỹ năng quản trị kinh doanh Trong khi đó đây là những yếu tố cần thiết quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp Tất cả những gì họ có được là dokinh nghiệm, sự mò mẫm lâu ngày và như thế để đi đến đích họ phải mất rất nhiều thời gian, phải trả những cái giá rất đắt, phải hy sinh rất nhiều thứ trong đó đôi khi là cả hạnh phúc gia đình, cái mà là nguồn sống chính của phụ nữ Vấn đề là hiện nay ta không bắt họ đi lại từ đầu mà ta tiếp sức cho họ như thế nào, đây mới là vấn đề đặt ra cho tất cả các “nhà”, để giúp họ đứng vững, thành đạt và đóng góp ngày càng nhiều cho chính bản thân họ, cho đất nước

2.2.3 Những yếu tố về giới ảnh hưởng đến quá trình hoạt động kinh doanh của các nữ chủ doanh nghiệp

Thời gian tiếp xúc với công việc Do phải thực hiện vai trò kép của mình nên thời gian của phụ nữ ngoài tham gia vào công việc kinh doanh, các nữ chủ doanh nghiệp còn phải làm công việc gia đình như chăm sóc con cái, nội trợ và tham gia các

Trang 37

hoạt động xã hội khác như hội hè, họp hành Thời gian tiếp xúc công việc kinh doanh của phụ nữ vì vậy mà ít hơn so với nam chủ doanh nghiệp Vai trò làm mẹ và làm vợ thường được đặt lên hàng đầu, do đó họ coi kinh doanh chỉ là công việc phụ Nếu việc kinh doanh đặt lên hàng đầu và dành nhiều thời gian cho nó thì hôn nhân của họ thường hay đi đến đổ vỡ Và đó là điều mà họ không hề muốn Có rất nhiều doanh nhân nữ, có mơ ước kinh doanh, có tố chất kinh doanh nhưng họ đành phải gác lại để dành thời gian cho gia đình

Khả năng tiếp cận thông tin và thị trường: do trình độ, công việc chính trong kinh doanh, ví dụ như công việc quản lý, ra các quyết định kinh doanh, điều hành các hoạt động khác của doanh nghiệp, các nữ chủ doanh nghiệp thường ít được nắm bắt thông tin hơn so với các nam chủ doanh nghiệp, về bản thân họ, họ cho công việc trước mắt là chính việc dành thời gian cho đọc báo nghe đài là rất ít (lấy số liệu về số người đọc báo nghe đài là phụ nữ) Đó là các phương tiện thông tin đại chúng thông thường, còn đối với các nguồn thông tin như internet hay các kênh truyền thông hiện

đại khác thì việc tiếp xúc với nó lại càng khó khăn hơn Đối với các nam chủ doanh nghiệp điều này còn khó thực hiện chứ chưa nói gì đến nữ Trong khi đó thông tin là một vấn đề hết sức quan trọng trong kinh doanh hiện nay, không nắm bắt được thông tin kịp thời sẽ có những quyết định kinh doanh sai lầm, không phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp cũng như của xã hội trong thời điểm hiện tại

Việc tiếp cận với thị trường cũng hạn chế hơn so với nam chủ doanh nghiệp

Do đặc tính về giới phụ nữ dù có rất năng động nhưng cũng vẫn e dè hơn nam giới Hơn nữa, dù đã được cởi bỏ nhưng tư tưởng trọng nam khinh nữ cũng vẫn còn tồn tại ngầm trong xã hội Người ta thống kê rằng khi tham gia một hoạt động kinh doanh, khả năng đạt được sự thành công trong các cuộc ký hợp đồng hay đấu thầu, phụ nữ tham gia có khả năng thất bại nhiều hơn Đối với nam giới, một chai rượu và một đĩa nhậu cũng có khả năng đạt đến sự thành công trong khi ở phụ nữ rõ ràng điều này rất ít xảy ra Việc mở rộng thị trường lại phụ thuộc rất nhiều vào tính năng động của người chủ doanh nghiệp

Giao tiếp xã hội: giao tiếp xã hội là một trong những kỹ năng quan trọng trong kinh doanh Giao tiếp ở đây không phải là giao tiếp một chiều mà là giao tiếp đa

Trang 38

chiều Sự tiếp nhận các thông tin, phản hồi thông tin và xử lý thông tin là một quá trình liên tục Theo các nhà khoa học thì nó diễn ra ở tất cả mọi người, không kể nam, nữ Tuy nhiên, môi trường xã hội cũng như tất cả các yếu tố xung quanh có ảnh hưởng đặc biệt đến các quá trình này và phụ nữ cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố

đó Nếu họ có một môi trường tốt, họ cũng sẽ có được kỹ năng giao tiếp tốt

2.2.4 Đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ là nữ ở Việt Nam hiện nay

Trong quát rình đổi mới quản lí kinh tế theo cơ chế thị trường và khuyến khích phát triển, các doanh nghiệp, công ty tư nhân đã xuất hiện nhiều nữ giám đốc quản lí giỏi, những bà chủ của các doanh nghiệp làm ăn cón hiệu quả Các nữ chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực kinh tế tư nhân ở nông thôn chiếm khoảng 25% (1996) Cũng giống như các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ là nam, các doanh nghiệp vừa

và nhỏ có chủ là nữ mang đầy đủ những đặc trưng chung của các doanh nghiệp vừa

và nhỏ Tuy nhiên, bên cạnh đó thì các DNVVN có chủ là nữ còn có một số đặc điểm riêng do sự khác nhau về giới của người chủ doanh nghiệp qui định:

Ngành nghề mà các DNVVN có chủ là nữ tập trung chủ yếu là những ngành nghề mà phụ nữ quan tâm, xuất phát từ nghề của người phụ nữ như: dệt may, chế biến nông sản, kinh doanh dịch vụ., thủ công mĩ nghệ, thêu ren

Loại hình doanh nghiệp mà những người chủ doanh nghiệp thường quan tâm nhất đó là các doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình và đặc biệt chủ yếu tồn tại dưới dạng loại hình hộ kinh doanh

2.3 Tình hình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

2.3.1 Tình hình phát triển và vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay

2.3.1.1 Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với nền kinh tế Việt Nam

Đối với nền kinh tế Việt Nam thì vị trí, vai trò của DNVVN lại càng quan trọng, do những đặc điểm, tình hình và bối cảnh phát triển kinh tế nước ta qui định

Trang 39

Là một nước có trình độ kinh tế thấp kém so với các nước trong khu vực và trên thế giới, chúng ta đang ở thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Cơ sở vật chất

kỹ thuật thấp kém, trình độ tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý còn nhiều hạn chế Yếu kém cơ bản vẫn là năng suất lao động thấp Đất bình quân đầu người thấp khoảng 0,1 ha/người [20]

Khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn cũng như chênh lệch giữa các vùng Bắc, Trung, Nam bộ rất lớn và có xu thế ngày càng tăng dưới sự phát triển của kinh tế thị trường trong những năm gần đây Quá trình đô thị hoá nông thôn chậm, tỷ lệ đô thị hoá thấp chỉ khoảng 20% so với các nước khiển cho quá trình tạo việc làm, chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ diễn ra rất chậm Thực hiện công cuộc đổi mới từ những năm 1990 trở lại đây làm cho nền kinh tế nước ta phát triển nhanh và tương đối ổn định, đẩy lùi lạm phát, tăng xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới ngày càng mở rộng và phát triển Đến năm 2006 tỷ lệ thuế nhập khẩu chỉ còn 0-5% do chúng ta gia nhập APTA, không còn bảo hộ, cạnh tranh gay gắt đó là thách thức lớn đối với DNVVN Việt Nam Do đó, vị trí và vai trò của các DNVVN Việt nam ngày càng to lớn và quan trọng hơn bao giờ hết

Toàn bộ khu vực DNVVN nước ta tạo ra khoảng 31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp hàng năm, khoảng 24% GDP trong toàn quốc [20] Nếu căn cứ vào tốc

độ tăng trưởng GDP của các DNVVN như hiện nay có thể thấy rằng tốc độ tăng trưởng, tiềm năng phát triển để đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra trong giai đoạn tới phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của các DNVVN chứ không phải chỉ phụ thuộc vào các công trình, dự án lớn

DNVVN thu hút rất nhiều lao động ở Việt Nam Hàng năm, nước ta có khoảng

1 triệu người đến tuổi lao động Phần lớn các DNVVN thuộc khu vực ngoài quốc doanh Khu vực này giải quyết khá lớn lực lượng lao động này, chiếm tới 42,7% chủ doanh nghiệp ngoài quốc doanh là lao động từ khu vực nhà nước chuyển sang trong quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước Qua các nghiên cứu cho thấy DNVVN giải qyết khoảng 26% lao động cả nước lớn hơn 2,5 lần so với các doanh nghiệp nhà

Trang 40

nước về số lao động Theo ước tính có khoảng 7,8 triệu lao động được thu hút vào làm việc trong các DNVVN

Vị trí vai trò của DNVVN càng tăng lên khi chi phí trung bình tạo ra một chỗ làm việc trong các DNVVN ở Việt Nam vào khoảng 740.000 đồng chỉ bằng 3% trong các doanh nghiệp lớn (5-10 triệu đồng) [40] Hơn nữa nguồn vốn huy động trong dân cư, trong điều kiện thiếu vốn thì đây là giải pháp rất quan trọng phát huy nội lực Các DNVVN hoạt động nhờ vay vốn ngân hàng rất nhỏ Nguồn vốn huy

động chủ yếu từ những người thân quen, họ hàng ở đây, DNVVN là người tiếp xúc trực tiếp với người cho vay, huy động vốn từ khu vực tư nhân nhanh và hiệu quả hơn, giảm bớt được các khâu trung gian, đem lại lợi ích trực tiếp cho chính họ và cho cả những người có vốn cho vay

2.3.1.2 Đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam

Do tình hình kinh tế Việt Nam có những đặc điểm riêng nên các DNVVN ở Việt Nam cũng có những đặc điểm riêng của nó, bắt đầu từ việc qui định về phân loại

và xác định các DNVVN Từ qui định của thủ tướng chính phủ trong Công văn 681/CP-KTN ngày 20 tháng 6 năm 1998 đến Nghị định 90/2001NĐ-CP, ngày 23/11/2001 của Chính phủ về việc nhận diện các DNVVN lại càng làm cho các DNVVN có những nét khác so với DNVVN ở các nước khác

Thứ nhất: DNVVN không có giới hạn dưới hay nói cách khác là không được qui định rõ Trong điều kiện đặc thù của Việt Nam, số hộ gia đình đăng ký kinh doanh rất nhiều Những hộ kinh doanh nhỏ này liệu có thuộc các DNVVN không? Nếu không coi họ là DNVVN thì rất khó khăn trong việc thực hiện các chính sách ưu tiên phát triển đối với họ Nguồn lực sẽ bị dàn trải nếu coi họ là các DNVVN dẫn đến việc hỗ trợ bị phân tán, không hiệu quả, chưa giải quyết được các vấn đề đối với các DNVVN hiện nay

Thứ 2: DNVVN Việt Nam thường gắn với công nghệ lạc hậu, thủ công Đây là một nét rất đặc trưng của các DNVVN ở Việt nam so với các nước khác và so với công nghiệp lớn Đối với các nước công nghiệp phát triển, công nghệ của các DNVVN mà họ sử dụng là rất hiện đại Chúng chỉ khác nhau về qui mô đầu tư mà không phải khác nhau về năng lực và khả năng sản xuất Đó chính là do công nghệ

Ngày đăng: 02/11/2015, 14:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Lân (1996), Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị tr−ờng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị tr−ờng
Tác giả: Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Lân
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1996
2. Vũ Quốc Bình (2003), “Vài nét phác thảo về mô hình doanh nghiệp nông thôn”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 6/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét phác thảo về mô hình doanh nghiệp nông thôn”, "Tạp chí Kinh tế và Dự báo
Tác giả: Vũ Quốc Bình
Năm: 2003
3. Các văn bản qui phạm pháp luật về doanh nghiệp vừa và nhỏ (2002), NXB Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản qui phạm pháp luật về doanh nghiệp vừa và nh
Tác giả: Các văn bản qui phạm pháp luật về doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2002
4. Chương trình phát triển kinh tế dự án Mê kông (1999), Chuyên đề nghiên cứu kinh tế t− nhân số 1, 3, 5, 7, 8, tháng 1, tháng 3, tháng 5, tháng 7, tháng 9/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ch−ơng trình phát triển kinh tế dự án Mê kông
Tác giả: Chương trình phát triển kinh tế dự án Mê kông
Năm: 1999
5. Nguyễn Tung Cơ (2003), H−ớng dẫn thực hành Kế toán và phân tích tài chính DNVVN, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: H−ớng dẫn thực hành Kế toán và phân tích tài chính DNVVN
Tác giả: Nguyễn Tung Cơ
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
6. Nguyễn Cúc - Hồ Văn Vĩnh (1997), Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt nam
Tác giả: Nguyễn Cúc - Hồ Văn Vĩnh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
7. Nguyễn Cúc (2000), Đổi mới cơ chế chính sách hỗ trợ DNVVN ở Việt Nam đến năm 2005, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cơ chế chính sách hỗ trợ DNVVN ở Việt Nam "đến năm 2005
Tác giả: Nguyễn Cúc
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2000
8. Võ Văn Đức, Trần Kim Chung (2002), “Những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế t− nhân”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 64, Tháng 10 năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế t− nhân”, "Tạp chí Kinh tế và Phát triển
Tác giả: Võ Văn Đức, Trần Kim Chung
Năm: 2002
9. Châu Giang (2003), “Teckcombank - bạn đồng hành của các DNVVN”, Tạp chí Thị tr−ờng tài chính, số 18, tháng 9/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Teckcombank - bạn đồng hành của các DNVVN”, "Tạp chí Thị tr−ờng tài chính
Tác giả: Châu Giang
Năm: 2003
10. Ngô Văn Giang (2004), “Một số đề xuất nhằm thúc đẩy sự phát triển các doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 308, tháng 1/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đề xuất nhằm thúc đẩy sự phát triển các doanh nghiệp Việt Nam”, "Tạp chí Nghiên cứu kinh tế
Tác giả: Ngô Văn Giang
Năm: 2004
11. Phạm Thị Thu Hằng (2002), Tạo việc làm tốt bằng chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo việc làm tốt bằng chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tác giả: Phạm Thị Thu Hằng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2002
12. Nguyễn Văn Hiệp (2003), “Bảo lãnh tín dụng DNVVN trở ngại cần giải quyết”, Tạp chí Thị tr−ờng tài chính tiền tệ, Tháng 12 /2003, trang 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo lãnh tín dụng DNVVN trở ngại cần giải quyết”, "Tạp chí Thị tr−ờng tài chính tiền tệ
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 2003
13. Hoàng Minh Hoà (2004), Vai trò phụ nữ trong sản xuất, chế biến, lưu thông và tiêu thụ l−ơng thực, http://www.Smenet.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò phụ nữ trong sản xuất, chế biến, l−u thông và tiêu thụ l−ơng thực
Tác giả: Hoàng Minh Hoà
Năm: 2004
14. Lê Thế Hoàng (2003), Nghiên cứu chính sách và giải pháp phát triển DNVVN trong bảo quản chế biến và tiêu thụ một số nông sản, Báo cáo khoa học, tháng 12/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chính sách và giải pháp phát triển DNVVN trong bảo quản chế biến và tiêu thụ một số nông sản
Tác giả: Lê Thế Hoàng
Năm: 2003
15. Mai Thế Hởn – Hoàng Ngọc Hoà - Vũ Văn Phúc (2003), Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Mai Thế Hởn – Hoàng Ngọc Hoà - Vũ Văn Phúc
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2003
16. Trần Hùng - Tr−ơng Thu Hà (2003), “Ma trận S.W.O.T và khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 77, tháng 11/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2003)," “Ma trận S.W.O.T và khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam”, "Tạp chí Kinh tế và Phát triển
Tác giả: Trần Hùng - Tr−ơng Thu Hà
Năm: 2003
17. Nguyễn Ngọc Huyền (2001), “Về việc hình thành các khu công nghiệp vừa và nhỏ”, Tạp chí kinh tế và Phát triển, số 52 tháng 12/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc hình thành các khu công nghiệp vừa và nhỏ”, "Tạp chí kinh tế và Phát triển
Tác giả: Nguyễn Ngọc Huyền
Năm: 2001
18. Ngô Thị Ngọc Huyền, “Lợi ích và những thách thức khi Việt nam gia nhập WTO”, Tạp chí Phát triển kinh tế, Tháng 12/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợi ích và những thách thức khi Việt nam gia nhập WTO”, "Tạp chí Phát triển kinh tế
19. Nguyễn Hải Hữu (2001), Cơ chế quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế ở Việt nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế ở Việt nam
Tác giả: Nguyễn Hải Hữu
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
59. Analysis of the situation of Invisible rural woman, http://www.fao.gender/role/rural woman.htlm Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tiêu chuẩn phân loại doanh nghiệp ở một số n−ớc trên thế giới - Thực trạng và một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ là nữ ở huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây
Bảng 2.1 Tiêu chuẩn phân loại doanh nghiệp ở một số n−ớc trên thế giới (Trang 17)
Sơ đồ 2.1 Các lĩnh vực mà phụ nữ có khả năng và có quyền tham gia - Thực trạng và một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ là nữ ở huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây
Sơ đồ 2.1 Các lĩnh vực mà phụ nữ có khả năng và có quyền tham gia (Trang 32)
Bảng 3.1: Tình hình đất đai, dân số, lao động của huyện trong những năm qua - Thực trạng và một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ là nữ ở huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây
Bảng 3.1 Tình hình đất đai, dân số, lao động của huyện trong những năm qua (Trang 51)
Bảng 3.3: Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện trong những năm gần đây - Thực trạng và một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ là nữ ở huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây
Bảng 3.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện trong những năm gần đây (Trang 59)
Bảng 4.2: Một số đặc điểm cơ bản của các doanh nghiệp nữ. - Thực trạng và một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ là nữ ở huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây
Bảng 4.2 Một số đặc điểm cơ bản của các doanh nghiệp nữ (Trang 67)
Bảng 4.4: Vốn của doanh nghiệp có chủ là nữ phân theo ngành nghề - Thực trạng và một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ là nữ ở huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây
Bảng 4.4 Vốn của doanh nghiệp có chủ là nữ phân theo ngành nghề (Trang 70)
Bảng 4.5: Tiếp cận nguồn vốn của các DNVVN có chủ là nữ - Thực trạng và một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ là nữ ở huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây
Bảng 4.5 Tiếp cận nguồn vốn của các DNVVN có chủ là nữ (Trang 73)
Bảng 4.6: Lao động của DNVVN có chủ là nữ phân theo ngành sản xuất - Thực trạng và một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ là nữ ở huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây
Bảng 4.6 Lao động của DNVVN có chủ là nữ phân theo ngành sản xuất (Trang 74)
Bảng 4.7: Lao động của các DNVVN có chủ là nữ theo loại hình DN - Thực trạng và một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ là nữ ở huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây
Bảng 4.7 Lao động của các DNVVN có chủ là nữ theo loại hình DN (Trang 76)
Sơ đồ 4.1: Kênh thị trường của sản phẩm ngành chế biến nông sản - Thực trạng và một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ là nữ ở huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây
Sơ đồ 4.1 Kênh thị trường của sản phẩm ngành chế biến nông sản (Trang 81)
Sơ đồ 4.2: Kênh thị trường của sản phẩm gỗ xây dựng, đồ gỗ dân dụng - Thực trạng và một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ là nữ ở huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây
Sơ đồ 4.2 Kênh thị trường của sản phẩm gỗ xây dựng, đồ gỗ dân dụng (Trang 82)
Sơ đồ 4.3: Kênh thị trường sản phẩm ngành cơ khí - Thực trạng và một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ là nữ ở huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây
Sơ đồ 4.3 Kênh thị trường sản phẩm ngành cơ khí (Trang 82)
Bảng 4.2: Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DNVVN có chủ là nữ ở Đan ph−ợng - Thực trạng và một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ là nữ ở huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây
Bảng 4.2 Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DNVVN có chủ là nữ ở Đan ph−ợng (Trang 88)
Bảng 4.9: Những khó khăn và thuận lợi của DNVVN có chủ là nữ ở - Thực trạng và một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ là nữ ở huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây
Bảng 4.9 Những khó khăn và thuận lợi của DNVVN có chủ là nữ ở (Trang 93)
Bảng 4.10: Ma trận SWOT thể hiện điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và - Thực trạng và một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ là nữ ở huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây
Bảng 4.10 Ma trận SWOT thể hiện điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và (Trang 101)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w