Để tiếp tục góp phần giải quyết vấn đề đặt ra, khắc phục tình trạng khan hiếm cà chua lúc giáp vụ, phần nào giúp người sản xuất có bộ giống phong phú để lựa chọn, góp phần tăng bộ giống
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I
-
Trương Văn Nghiệp
Đánh giá tính thích ứng một số tổ hợp lai cà chua ở vụ Thu - Đông, Xuân - Hè
tại Gia Lâm - Hà Nội
Trang 2Lời cam đoan Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn dã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều
được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn Tác giả luận văn
Trương Văn Nghiệp Trương Văn Nghiệp
Trang 3Lời cảm ơn Lời cảm ơn
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể thể, cá nhân
Tôi xin chân thành cảm ơn:
PGS TS Nguyễn Hồng Minh- Phó bộ môn di truyền giống, Trường Đại học Nông nghiệp I, thầy đã hết lòng giứp đỡ, chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này Tập thể Viện nghiên cứu rau quả, bộ môn nghiên cứu rau cây gia vị đã tạo điều kiện giúp đỡ tôI trong quá trình là việc học tập và thực hiện đề tài
Các thầy cô giáo Khoa Sau Đại học, Khoa Nông học, bộ môn Di truyền và chọn giống - Trường Đại học Nông nghiệp I, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện giúp tôi nghiên cứu học tập và hoàn thành luận văn này
Một lần nữa tôI xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các tập thể và cá nhân đã dành cho tôi
Tác giả
Tác giả
Trương Văn Nghiệp Trương Văn Nghiệp
Trang 4Mục lục
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục các biểu vi
Danh mục các hình ix
2.1 Nguồn gốc, phân loại, đặc điểm và giá trị của cây cà chua 5 2.1.1 Vài nét về nguồn gốc, phân loại cây cà chua 5 2.1.2 Đặc điểm thực vật học cơ bản của cây cà chua 8 2.1.3 Giá trị của cây cà chua trong dinh d−ỡng và sản xuất nông nghiệp 8 2.2 yêu cầu của cây cà chua với điều kiện ngoại cảnh 10
2.3 Tình hình nghiên cứu tạo giống chịu nhiệt, và sản xuất cà chua trên thế
2.3.1 Tình hình nghiên cứu cà chua chịu nhiệt trên trế giới 17
Trang 52.3.2 Tình hình sản xuất cà chua trên thế gới 22 2.4 Vấn đề tạo giống cà chua chất lượng tốt và chống chịu bệnh héo xanh vi
2.4.1 Tình hình nghiên cứu giống cà chua chống chịu héo xanh vi khuẩn và
2.4.2 Vấn đề tạo giống cà chua chất lượng tốt trên thế giới 26 2.5 Tình hình nghiên cứu và sản xuất cà chua ở Việt Nam 29 2.5.1 Tình hình nghiên cứu cà chua ở Việt nam 29 2.5.2 Tình hình sản xuất cà chua ở Việt Nam 35
3 Vật liệu - nội dung – Phương pháp nghiên cứu 38
3.5.1 Môt số giai đoạn sinh trưởng của cây 39 3.5.2 Một số chỉ tiêu về cấu chúc cây, hình thái đặc điểm nở hoa 39
3.5.4 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 40 3.5.5 Một số chỉ tiêu phân tích chất lượng quả 41 3.5.6 Tình hình nhiễm một sâu bệnh hại chính 41
Trang 64.1 Đặc điểm nông học và khả năng sinh trưởng phát triển của các tổ hợp lai
4.1.1 Các giai đoạn sinh trưởng chủ yếu của các tổ hợp lai cà chua ở các thời
4.1.2 Một số đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các tổ hợp lai cà chua ở
4.1.3 Cấu chúc chùm hoa và đặc điểm nở hoa của các tổ hợp lai 54 4 2 Tình hình nhiễm một số sâu bệnh hại chính của các tổ hợp lai cà chua
4.3 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai cà chua
4.3.1 các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai cà chua trong vụ thu
4.3.2 Khối lượng trung bình quả và năng suất của các tổ hợp lai cà chua ở các
4.4 Đặc điểm hình thái và chất lượng quả của các tổ hợp lai cà chua ở các thời
4.4.1 Đặc điểm hình thái và cấu trúc quả của các tổ hợp lai 78 4.4.2 Hàm lượng chất khô hoà tan (độ Brix) và khẩu vị của các tổ hợp lai ở các
4.4 Phân tích tương quan các chỉ tiêu chọn giống về yếu tố cấu thành năng
Trang 7Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
Trang 8Danh mục các bảng biểu
Bảng 2.1 Sản suất và sử dụng cà chua trên thế giới (từ 1997 – 2002) 23 Bảng 2.2 Diện tích năng suất và sản lượng cà chua của Việt Nam những năm
gần đây (1996 – 2001) 36 Bảng 3.1 Thời kỳ bón phân 43 Bảng 4.1 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các tổ hợp lai cà chua
vụ thu đông 2005 45 Bảng 4 2 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các tổ hợp lai cà chua
vụ xuân hè 2006 46 Bảng 4.3 Một số đặc điểm về hình thái và cấu trúc cây của các tổ hợp lai cà
chua trong vụ thu đông 2005 51 Bảng 4.4 Một số đặc điểm về hình thái và cấu trúc cây của các tổ hợp lai cà
chua trong vụ xuân hè 2006 53 Bảng 4.5 Một số đặc điểm về hình thái hoa, chùm hoa và nở hoa của các tổ
hợp lai cà chua trong vụ thu - đông 2005 55 Bảng 4.6 Một số đặc điểm về hình thái hoa, chùm hoa và nở hoa của các tổ
hợp lai cà chua trong vụ xuân - hè 2006 56 Bảng 4.7 tình hình nhiễm bệnh virus và héo xanh vi khuẩn của các tổ hợp lai
cà chua ở vụ thu - đông và xuân hè (%) 59 Bảng 4.8 Tình hình nhiễm một số loại sâu bệnh hại chủ yếu của các tổ hợp lai
cà chua trong vụ thu đông 2005 và xuân hè 2006 61 Bảng 4.9 Các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai trong vụ thu đông
2005 và xuân hè 2006 64 Bảng 4.10 Khối lượng trung bình quả và năng suất cá thể của các tổ hợp lai
trong vụ thu - đông 2005 71
Trang 9Bảng 4.11 Khối lượng trung bình quả và năng suất cá thể của các tổ hợp lai
trong vụ xuân - hè 2006 72 Bảng 4.12 Năng suất thực thu trên ô và năng suất qui ra ha của các tổ hợp lai
cà chua trong vụ thu đông 2005 và xuân hè 2006 74 Bảng 4.13 Một số đặc điểm hình thái và cấu trúc quả của các tổ hợp lai cà
chua trong thu đông 2005 79 Bảng 4.14 Một số đặc điểm hình thái và cấu trúc quả của các tổ hợp lai cà
chua trong vụ xuân - hè 2006 80 Bảng 4.15 Hàm lượng chất khô hào tan độ (Brix), khẩu vị ăn tươi và độ chắc
của quả của các tổ hợp lai cà chua vụu thu đông 2005 và vụ xuân hè 2006 84 Bảng 4.16 Phân tích tương quan một số chỉ tiêu chọn giống về các yếu tố cấu
thành năng suất và chất lượng quả 86
Trang 10Danh mục biểu đồ, hình ảnh
Biểu đồ 4.1 So sánh năng suất nhóm sinh trưởng vô hạn 76 Biểu đồ 4.2 So sánh năng suất sinh trưởng hữu hạn 76 Biểu đồ 4.3 So sánh giữa 2 dạng sinh trưởng 77
ảnh 1: Ruộng thí nghiệm các tổ hợp lai
ảnh 2: Thử nghiệm tổ hợp lai mới
ảnh 3, 4: Tổ hợp lai FM 29
ảnh 5, 6: Tổ hợp lai 002
ảnh 7: Giống cà chua lai HT7
ảnh 8: Tổ hợp lai số 9
Trang 111 Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Cây cà chua (Lycopesicum eculentum Mill) là cây có giá trị dinh dưỡng, giá trị kinh tế cao, ủược nhiều nước xếp vào loại cây chiếm vị trí hàng ủầu trong ngành sản xuất rau Cà chua ủược sử dụng ăn tươi, nấu chín làm salat ðặc biệt, cà chua chế biến dạng bột, cà chua cô ủặc, nước uống cà chua… Cà chua tươi và các sản phẩm chế biến là các mặt hàng có giá trị, mang lại hiệu quả kinh tế và giá trị dinh dưỡng cao
Với tầm quan trọng và tính đa dạng như vậy mà cà chua được trồng phổ biến rộng dti trên thế giới, diện tích, năng suất của cà chua không ngừng tăng Trong vòng 5 năm (1996 – 2001) diện tích cà chua toàn thế giới tăng từ 3,17 triệu ha lên 3,6 triệu ha năng suất từ 24 tấn/ha lên 28 tấn/ha và sản lượng cũng tăng mạnh từ 88,2 triệu tấn lên 98, 62 triệu tấn [38]
ở Việt Nam mặc dù năng suất tăng chậm trong vòng 5 năm trở lại đây song diện tích tăng nhanh năm 1999 đạt 13,51 ngàn ha năm 2001 tăng lên 17,83 ngàn ha, nhờ đó mà sản lượng cà chua năm 2001 tăng 173% so với năm
1999 [16]
Miền nam, cà chua được trồng chủ yếu ở Đà lạt Vùng đồng bằng sông Hồng, cà chua được trồng chủ yếu trong vụ đông, đây là thời điểm có điều kiện khí hậu thuận lợi cho sản xuất cà chua Phần lớn khối lượng cà chua được thu hoạch tập chung vào các tháng từ tháng 12 đến hết tháng 2 năm sau Do
đó dẫn đến tình trạng có lúc dư thừa cà chua trên thị trường, giá thành thấp mà
đầu tư cho sản xuất cà chua lại cao, lên không kích thích được người sản xuất Trong khi nhiều thời điểm khác trong năm lại khan hiếm cà chua tươi, giá
Trang 12thành rất cao ở Miềm bắc nước ta vụ thu - đông và xuân - hè là hai thời vụ có
điều kiện ngoại cảnh không phù hợp cho sản xuất cà chua Để khắc phục tình trạng này nhiều nghiên cứu trong nước đt tập trung đi sâu và nghiên cứu chọn tạo giống cà chua thích hợp cho gieo trồng trái vụ Kết quả đt nghiên cứu chọn tạo thành công có một bộ giống thích hợp cho trồng trái vụ, đáp ứng phần nào cho nhu cầu của sản xuất như MV1, SB2, SB3, các giống mới hiện nay có HT7, HT21, XH5, CXH1, Perfect 89, VL2910, P375,… Nhờ vậy mà
vụ cà chua thu - đông và xuân - hè đt mở rộng ra nhiều vùng trong nhưng năm gần đây Tuy sản lượng cà chua thu - đông và xuân - hè chua lớn nhưng đt góp phần tích cực trong vấn đề giả vụ, nhằm khắc phục hiện tượng giáp hạt
Đồng thời góp phần mở rộng diện tích, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tạo công
ăn việc làm cho lao động nông thôn, tăng thu nhập và hiệu quả kinh tế Khó khăn lớn nhất của lớn nhất của người sản xuất, để trồng cà chua trái vụ hiện nay là phải tìm được giống chịu nhiệt tốt, chống chịu với bệnh héo xanh vi khuẩn và virus
Vụ cà chua thu - đông thường cho thu hoạch từ cuối tháng 10 đến tháng
12 với những nhóm giống sinh trưởng vô hạn có thể cho thu hoạch kéo dài đến
đầu năm sau Vụ cà chua xuân - hè cho thu hoạch vào cuối tháng 4 đầu tháng
5 đến tháng 6 ở hai vụ cà chua trên đều chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố nhiệt
độ, ẩm độ, mưa bto, sâu, bệnh phát triển mạnh, nhất là bệnh héo xanh vi khuẩn
và virus, làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cà chua là rất lớn Nhưng kéo lại người sản xuất khi có sản phẩm bán với giá thành thành cao đem lại thu nhập gấp 2 - 3 lần trồng lúa và đây cũng là vụ sản xuất có rủi ro cao
Cây cà chua là cây dễ trồng, dễ thích ứng trong cơ cấu mùa vụ tuy nhiên sản xuất cà chua hiện còn một số khó khăn: năng suất còn thấp, chủng
Trang 13loại giống còn đơn điệu, nhất là bộ giống cho vụ đông - xuân, vụ thu - đông và xuân - hè thì có rất ít, hầu hết phải nhập nội giống là chính
Để tiếp tục góp phần giải quyết vấn đề đặt ra, khắc phục tình trạng khan hiếm cà chua lúc giáp vụ, phần nào giúp người sản xuất có bộ giống phong phú
để lựa chọn, góp phần tăng bộ giống cà chua có khả năng thích ứng rộng trồng
được nhiều vụ trong năm ưu tiên tiên giống có khả năng chịu nhiệt độ cao và chống chịu với bệnh héo xanh vi khuẩn và virus Trên cơ sở một số tổ hợp lai của
bộ môn Nghiên cứu Rau - gia vị, Viện Nghiên cứu Rau - quả và Trung tâm Nghiên cứu và phát triển giống rau chất lượng cao, Trường Đại học Nông nghiệp
I chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tính thích ứng một số tổ hợp lai cà chua ở vụ thu - đông, xuân – hè tại Gia Lâm – Hà Nội”
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu xác định được một số tổ hợp lai cà chua có khả năng sinh trưởng phát triển tốt, chống chịu một số sâu bệnh hại chính, có khả năng chịu nhiệt và cho năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp thị hiếu người tiêu dùng Để góp phần làm phong phú thêm bộ giống cà cà chua vụ thu đông
và xuân hè đang còn rất hạn chế
1.2.2 Yêu cầu
Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của các tổ hợp lai cà chua ở vụ thu đông và xuân hè
Đánh giá khả năng chống chịu một số loại sâu bệnh hại chủ yếu trên
đồng ruộng của các tổ hợp lai
Đánh giá một số chỉ tiêu về đặc điểm của quả và một số chỉ tiêu về chất lượng tiêu dùng của các tổ hợp lai cà chua ở hai thời vụ trồng
Trang 141.3 ý nghĩa khoa học của đề tài
Từ kết quả nghiên cứu đạt được của đề tài, đưa ra một số tổ hợp lai cà chua triển vọng phù hợp với điều kiện sinh thái vùng nghiên cứu làm phong phú thêm bộ giống cà chua đang còn hạn chế
Xác định được tổ hợp lai có triển vọng có khả năng trồng rải vụ góp phần cải thiện tình trạng khan hiếm cà chua lúc giáp vụ
1.4 ý nghĩa phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu một số đặc điểm nông học, đánh giá tính thích ứng thông qua các chỉ tiêu về sinh trưởng phát triển, chống chịu khả năng cho năng suất và đặc điểm cấu trúc, hình thái và phẩm chất quả với mục
đích phục vụ nhu cầu cà chua cho ăn tươi lúc giáp vụ
Trang 152 tổng quan tài liệu
2.1 Nguồn gốc, phân loại, đặc điểm và giá trị của cây cà chua
2.1.1 Vài nét về nguồn gốc, phân loại cây cà chua
Nhiều tài liệu nghiên cứu cho rằng trung tâm, khởi nguên của cà chua (Lycopersicon esculentum Mill) là bờ biển Tây Nam Mỹ nằm giữa dty núi Andes và biển Từ xích đạo đến 300S, trải dài từ Ecuador đến Pêru Theo tài liệu nghiên cứu của De Candole (1884) [35], Jenkin (1948) [48] thì cà chua trồng hiện nay có nguồn gốc từ Pêru, Ecuado và Bolovia ở các vùng núi trung
và Nam Mỹ, người ta tìm thấy rất nhiều dạng cà chua dại và cà chua trồng
Việc thuần háo cà chua trồng đầu tiên xuất hiện ở Mêhico Nhiều bằng chứng khảo cổ học, thực vật học, ngôn ngữ học và lịch sử đt thừa nhận Mêhico là trung tâm thuần hoá cà chua trồng ở Mêhico người ta tìm thấy sự
đa dạng về di truyền của cà chua là lớn nhất Các chứng cứ lịch sử chỉ ra rằng
cà chua được Cortez mang đến Châu Âu vào năm 1523, ngay sau khi chinh phục thành phố Mêhicô Tuy nhiên đến năm 1554, Andrea Mattioli - nhà dựơc liệu học người Italia mới đưa ra những chứng cứ xác đáng về sự tồn tại của cây cà chua trên thế giới Ông đt đưa ra tên chung nhất là “Pomid’oro” nghĩa
là “qủa táo vàng” Sau đó được chuyển vào tiếng ý với tên “Tomato” Còn ở pháp người ta gọi là “quả táo tình yêu" (Pommed’amour – love apple)
Cà chua được mang đến châu Âu từ thế kỷ 16 Tài liệu nghiên cứu của nhà thực vật học người ý Pier Andrea Mattiali cho thấy rằng những gốc cà chua đầu tiên đưa vào châu Âu xuất xứ từ Mêhico [42] ở thế kỷ 17 cà chua
được trồng rộng rti khắp lục địa Châu Âu, nhưng chỉ được xem như cây cảnh trong vườn và được quan niệm sai lầm là loại quả độc Mti đến thế kỷ 18, cà
Trang 16chua mới được chấp nhận là cây thực phẩm ở Châu Âu, đầu tiên là ở ý và Tây Ban Nha Từ châu Âu, cà chua được đem trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới
ở Bắc Mỹ, lần đầu tiên người ta nói đến cà chua là vào năm 1710 nhưng mới đầu chua được chấp nhận rộng rti do quan niệm rằng cà chua độc hại tới năm 1830 cà chua mới được coi là cây thực phẩm cần thiết như ngày nay (Heiser 1969)[42]
ở Châu á cà chua được đưa đến đầu tiên là Philippin, Java và Malaysia
từ châu Âu và qua các thực dân Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha vào thế kỷ
17, sau đó mới phổ biến đến các vùng khác của Châu á
Mặc dù lịch sử trồng trọt cà chua có từ rất lâu đời nhưng đến tận nửa
đầu thế kỷ 20 cà chua mới trở thành cây trồng phổ biến trên thế giới Cà chua
được phổ biến rộng là nhờ số lượng các giống mới được tăng nhanh, ví dụ năm
1863 có 23 giống mới đt được tìm ra, hai thập kỷ sau số giống mới tăng tới vài trăm (Morrison 1938)[57]
Lyberty Hede Bailey (Đại học nông nghiệp Michigan) đt khởi đầu cho chương trình thử nghiệm vào năm 1886 về phân loại các giống cà chua Sau
đó nhiều nhà khoa học cũng đi sâu vào phân loại cà chua (Morrison 1938)[57]
Cà chua thuộc họ cà Solanaceae, chi Lycopersicon Chi này gồm rất nhiều loài, đều có nguồn gốc Nam Mỹ Theo Muller (1940) và Luckwill(1943), các loài được phân thành hai chi phụ:
Chi phụ Eriopersicon: Được đặc trưng bởi màu quả xanh trắng với sắc
tố Anthocyanin thường có sọc tía, khi quả chín không bao giờ đỏ, luôn có màu xanh, có lông, hạt nhỏ, chùm hoa có lá bao, gồm 5 loài hoang dại là: L.pissisi (Luckwill 1943), L peruvianum, L hirsutum, L glandulosum và L cheesmanii (Muller 1940)
Trang 17Chi phụ Eulycopersicon: Đặc trưng bởi quả ăn được, quả màu đỏ hoặc vàng khi chín, hạt to, chùm hoa không có lá bao, là cây trồng hàng năm Gồm có hai loài:
- L Pimpinellifolium: (là dạng bán hoang dại) quả nhỏ, màu đỏ thân yếu
cà chua khác nhau với trọng lượng quả từ 50 đến 100 (gam) Đa số các giống
cà chua trồng hiện nay là thuộc biến chủng này Cây có khối lượng lớn và thường được cắt tỉa
* L esculentum var cerasifome (cà chua anh đào) : lá mỏng và nhỏ, chùm hoa dài là phổ biến, hai ngăn, quả hình cầy hay bình thường mày đỏ hoặc vàng, đường kính khoảng 2 cm Có 10 quả/ chùm
* L esculentum var.grandifolium (cà chua lá láng hay cà chua lá khoai tây): lá phẳng và rộng, lá chét hình lá khoai tây và không quá 5 lá chét/1lá Có
ít hoặc không có lá chét nhỏ, ít lá
* L esculentum var.validum (cà chua đứng): Cây mập, thân đứng, có nhiều lông tơ, thẳng chắc chắn, không cần chống đỡ Lá xanh thẫm, trung bình, cuống ngắn mép lá cong
Các loài dại tuy không có ý nghĩa trong sản xuất, song lại có ý nghĩa lớn trong các chương trình cải tiến giống vì tính đa dạng di truyền của chúng Nhiều giống mới được chọn tạo trên cơ sở nguồn gen chịu mặn từ L.cheesmanii, gen chịu úng từ L.esculentum var.cerasiforme, gen chống chịu sâu bệnh từ L.hirsutum…(Kuo 1998)[52]
Trang 182.1.2 Đặc điểm thực vật học cơ bản của cây cà chua
Cà chua trồng là cây hàng năm, thân bụi, phân nhánh mạnh, có lớp lông dày bao phủ, trên thân có nhiều đốt và có khả năng ra rễ bất định Chiều cao
và số nhánh rất khác nhau phụ thuộc vào giống và điều kiện trồng trọt
Rễ cà chua thuộc hệ rễ chùm, trong điều kiện đồng ruộng, rễ cà chua có thể phát triển rộng tới 1,3 m và sâu tới 1 m (Thomas, 1989) Với khối lượng rễ lớn như vậy, cà chua được xếp vào nhóm cây chịu hạn
Lá cà chua đa số thuộc dạng lá kép, các lá chét có răng cưa, có nhiều dạng khác nhau : Dạng chân chim, dạng lá khoai tây, dạng lá ớt tuỳ thuộc vào giống mà lá cà chua có màu sắc và kích thước khác nhau
Hoa cà chua được mọc thành chùm Có ba dạng chùm hoa: Dạng đơn giản, dạng trung gian và dạng phức tạp Số lượng hoa/chùm, số chùm hoa/cây rất khác nhau ở các giống Số chùm hoa/ cây dao động từ 4- 20, số hoa/chùm dao động từ 2 - 26 hoa Hoa đơn tính dưới bầu, đài hoa màu vàng, số đài và cánh hoa tương ứng nhau từ 5 đến 9 Hoa lưỡng tính, nhị đực liên kết nhau thành bao hình nón, bao quanh nhuỵ cái
Quả cà chua thuộc loại quả mọng, có 2; 3 đến nhiều ngăn hạt Hình dạng
và màu sắc quả phụ thuọc vào từng giống Ngoài ra, màu sắc quả chín còn phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ, phụ thuộc vào hàm lượng Caroten và Lycopen ở nhiệt độ 300C trở lên, sự tổng hợp lycopen bị ức chế, trong khi đó sự tổng hợp B caroten không mẫn cảm với tác động của nhiệt độ, vì thế ở mùa nóng cà chua
có màu quả chín vàng hoặc đỏ vàng Trọng lượng quả cà chua dao động rất lớn
từ 3 - 200g thậm chí 500g phụ thuộc vào giống [1], [14]
2.1.3 Giá trị của cây cà chua trong dinh dưỡng và sản xuất nông nghiệp
Trong thực phẩp cà chua là nguồn cung cấp vitamin A và C rất quan trọng Cà chua là loại rau ăn quả được sử dụng ở nhiều phương thức khác nhau, có thể làm salát chế biến các món ăn là quả tươi ở món cháng miệng,
Trang 19nước giải khát Bên cạnh đó, sản phẩm cà chua chế biến cung rất đa dạng như
cà chua cô đặc (bột nhto), cà chua đóng hộp nguyên quả, nước quả, nước sốt nấm, tương cà chua vv… Trong qủa cà chua chín có nhiều dinh dưỡng như:
đường, vitamin A, vitamin C, và các chất khoáng quan trọng Ca, Fe, P, K, Mg vv… Theo E.D War D.C Tigche LAAR (1989), thành phần hoá học trong quả cà chua chín gồm có: Nước 94 - 95%, Chất khô 5 - 6 % trong đó: 55%
đường fructozơ, glucozơ, sucrozơ 21% chất khô hoà tan trong rượu: protein, xenlulozơ, pectin, polisacarit 12% axit hữu cơ: xitric, malic, galacturonic, pirolidoncacboxilic 7% chất vô cơ 5% các chất khác carotenoit, ascorbic axit, chất rễ bay hơi, amino axit…
Theo Võ Văn Chi (1997) trong quả cà chua còn chúa nhiều amino axit (trừ triptophan) Giá trị dinh dưỡng của cà chua là rất phong phú Vì vậy, mỗi ngày mỗi người sử dụng 100 - 200 gam sẽ thoả mtn nhu cầu về các vitamin cần thiết và các chất khoáng chủ yếu Tác giả Võ Văn Chi (1997) và Lê Đức Thuần (1997) quả cà chua có vị ngọt và mát, có tác dụng tạo năng lượng, tiếp chất khoáng, tăng sức sống, làm cân bằng tế bào, giải nhiệt, chống hoại huyết,
có tác dụng bổ huyết, kháng khuẩn, chống độc, kiềm hoá máu có dư axit, lợi tiểu, hoà tan urê, thải urê, điều hoà bài tiết, giúp tiêu hoá dễ các loại bột và tinh bột Nước sắc lá còn có tacvs dụng giảm huyết áp, lá cũng có tính chất giải độc sưng tấy, nhuận tràng kích thích sự tiết dịch của dạ dày và lọc máu, khử trùng đường ruột, có tác dụng trong bệnh loét lưỡi, miệng Nước ép cà chua kích thích gan, giữ dạ dày và ruột trong điều kiện tốt Cà chua là gảm nguy cơ bệnh tim mạch Một nghiên cứu mới đây của Mỹ cho thấy, lycopen, thành phần tạo lên màu đỏ của quả cà chua, giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, Ngoài ra lycopen, chất chống ôxi hoá tự nhiên liên quan tới vitamin A,
đt được chứng minh là có thể ngăn ngừa bện ung thư tiện liệt tuyến, các chất ngăn ngừa các gốc tự do gây ung thư Các nhà ngiên cứu cho biết cà chua càng đỏ thì càng chứa nhiều lycopen
Trang 20Nhu cầu về cà chua trong nước hiện rất cao (năm 1998) bình quân cà chua sản xuất trên đầu người ở Việt Nam là 2,9kg/năm trong khi trên thế giới
là 15kg/người/năm
Cà chua là loại cây trồng cho sản phẩm vừa để ăn tươi, vừa để nấu nướng và là nguyên liệu cho chế biến công nghiệp với các sản phẩm đa dạng
mà thị trường thế giới có nhu cầu cao
Sản xuất cà chua cho hiệu quả kinh tế cao so với các cây trồng khác, khả năng mở rộng diện tích còn lớn vì nó là cây vụ đông xen giữa hai vụ lúa, không ảnh hưởng tới an ninh lương thực ở các tỉnh phía bắc Theo báo cáo của cục NN tháng 5 năm 2005 các tỉnh đồng bằng sông Hồng trồng cà chua cho thu nhập từ 1 triệu đến 2 triệu, trồng cà chua xuân hè bằng các giống chịu nóng thu hoạch từ 4 - 5 triệu đồng, như vậy trồng cà chua cho thu nhập từ 120
- 140 triệu đồng/ha gieo trồng Hơn nữa, hiện nay các nhà máy chế biến đt
được xây dựng cần vùng nguyên liệu khoảng 1500 - 2000 ha chuyên canh trồng cà chua ở đồng bằng sông Hồng mỗi năm
Theo các tác giả Ware G.W và Mc Collum(1997), bình quân thu nhập trên 1 ha ở Mỹ như sau: Cà chua : 4.610 USD, lúa mỳ: 174 USD, lúa nước 1.027 USD và các loại rau khác trung bình 2.537 USD Theo số liệu điều tra của phòng kinh tế thị trường (Viện nghiên cứu Rau quả), sản suất cà chua ở
đồng bằng sông Hồng cho thu nhập bình quân 42,0- 68,4 triệu đồng/ha/vụ với mức lti thuần 15-26 triệu đồng/ha cao gấp nhiều lần so với trồng lúa Tuy vậy,
cà chua là cây thu hút nhiều lao động Một ha cà chua cần 1.100 - 1.200 công, trong khi lúa chỉ cần 230-250 công ở Đài Loan, 1 ha cà chua cần 2.180 giờ công lao động cho cà chua chế biến và 8.020 giờ cho cà chua ăn tươi
2.2 yêu cầu của cây cà chua với điều kiện ngoại cảnh
Trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển, cà chua chịu tác động của nhiều yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, không khí, dinh
Trang 21dưỡng, đất đai, vi sinh vật… trong đó nhiệt độ được coi là yếu tố quan trọng nhất, ảnh hưởng nhất đến sinh trưởng, phát triển của cà chua, đặc biệt cà chua trồng trái vụ
2.2.1 Yêu cầu về nhiệt độ
Nhiệt độ là điều kiện cần thiết cho hoạt động chức năng của tế bào và quá trình đồng hoá của cây cà chua Tốc độ của nhiều quá trình sinh lý của cây cà chua phụ thuộc vào nhiệt độ và có thể biểu hiện bằng những biến đổi hình thái tiếp theo Các quá trình sinh trưởng sinh dưỡng, sinh trưởng sinh thực bị biến đổi mạnh dưới tác dụng của nhiệt độ (có thể tác động riêng rẽ hoặc liên kết với các yếu tố môi trường khác như ánh sáng, dinh dưỡng, khoáng, độ ẩm… (Tiwari, Choudhury 1993)[79]
Khí hậu nóng ẩm ở vùng nhiệt đới là điều kiện không thuận lợi cho trồng cà chua Nhiệt độ cao và mưa nhiều là hai yếu tố chính làm hạn chế sản xuất cà chua nhiều nước nhiệt đới Nhiệt độ cao làm giảm nghiêm trọng quá trình đậu quả ở hầu hết các giống cà chua, nhất là các giống quả to (Kuo và
cs 1998) [52] Nhiệt độ thích hợp tạo điều kiện cho tỉ lệ nẩy mầm của hạt cao Tuy nhiên phản ứng với nhiệt độ khác còn tuỳ thuộc vào giống và chất lượng hạt giống Theo Tiwari, Choudhhury [79], nhiệt độ tối ưu cho nảy mầm là 24 -
250C Nhiều giống nảy mầm nhanh ở nhiệt độ 28 - 320C Nghiên cứu của Harrington (1945)[41] cho thấy giới hạn nhiệt độ tối ưu cho nảy mầm là 15 -
300C, nhiệt độ tối thiểu là 100C và tối đa là 350C Nhiệt độ quá cao sẽ làm hạt mọc chậm, dễ mất sức sống, mầm bị dị dạng Nhiệt độ đất trên 390C làm giảm
sự lan rộng của hệ thống rễ, nhiệt độ trên 440C gây hại đến sinh trưởng của rễ
và ngăn cản hấp thu nước và dinh dưỡng
Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng sinh dưỡng của cà chua là 15 - 300C, tối ưu là 21 - 240C, nhiệt độ thấp hơn lại có lợi cho sự ra hoa (Lorenz, Maynard 1988)[53] Sinh trưởng sinh dưỡng tối ưu ở nhiệt độ trung bình ngày
Trang 22(18 – 24)0C, tuy nhiên nhiệt độ đêm quá lạnh và nhiệt độ ngày quá nóng rất dễ gây hại cho cây Sinh trưởng của cây ngừng ở nhiệt độ tối đa là 350C và thấp nhất là 120C ở nhiệt độ 100C trong thời gian dài sẽ làm chết cây (Swiader và
Đặc biệt, nhiệt độ còn ảnh hưởng đáng kể đến sự ra hoa, đậu quả, năng suất và chất lượng của cà chua Trong thời kì phân hoá mầm hoa Nhiệt độ không khí ảnh hưởng đến vị trí của chùm hoa đầu tiên Nhiệt độ không khí và nhiệt độ đất ảnh hưởng đến số lượng hoa/chùm nhiệt độ không khí trên 30o C ban ngày và 25o C ban đêm là tăng số đốt dưới chùm hoa đầu (trên 12 đốt) Nhiệt độ không khí lớn hơn 30 0C ngày 25 0 C đêm và nhiệt độ trên 210 C làm giảm số hoa trên/ chùm (Kuo và cs 1998) [52]
Nghiên cứu của Calvent (1957) [31], Hurd và Cooper (1967) [47] cho thấy lá dưới chùm hoa thứ nhất giảm ở nhiệt độ thấp thơn, cụ thể: ở 10o C là 6 -
7 lá, 15o C là 8 lá và 27o C là 14 lá Nhiệt độ càng cao, số hoa/chùm càng giảm Nghiên cứu của Calvert (1957) cho thấy phân hoá mầm hoa ở nhiệt độ 13o C cho số hoa nhiều hơn ở nhiệt độ 18 0 C là 8 hoa/ chùm ở 14 0 C có số hoa/chùm lớn hơn ở 20 0 C (Tiwari, Choudhury 1993) [79] ở 16 0C số hoa nhiều hơn ở 13
0 C là 8 hoa
Nhiệt độ trên 300 C (ngày) và trên 24 0C (đêm) có xu hướng làm giảm kích cỡ hoa, trọng lượng notn, bao phấn và số ngăn hạt Nhiệt độ cao cũng làm giảm số lượng hạt phấn và sức sống hạt của phấn, của notn (Kuo và cs 1998) [52]
Trang 23Sự nẩy mầm của hạt phấn là phụ thuộc vào nhiệt độ Hạt phấn nẩy mầm
ở nhiệt độ 250 C mất 1 giờ, ở 100 C mất 5 giờ và ở 50 C mất 20 giờ ở ngoài giới hạn nhiệt độ từ 50 C – 370 C thì phần trăm nẩy mầm của hạt phấn giảm Tốc độ sinh trưởng của ống phấn tăng ở giới hạn nhiệt độ 100 C – 350 C (Ho.C.L Hewitt 1986) [43]
Mức độ đậu quả ở phạm vi nhiệt độ 180 C – 200 C Đậu quả kém khi nhiệt
độ ngày tối đa trên 38 0C trong 5 - 9 ngày trước khi nở hoa hoặc sau khi nở hoa 1-3 ngày và khi nhiệt độ đêm lớn hơn 25 0 C – 27 0 C vài ngày trước hoặc sau khi nở hoa (Kuo và cs 1998) [52]
Nhiệt độ thấp có lợi cho sự phát triển của quả ở nhiệt độ 18,30 C, kích thước cỡ quả giảm so với ở nhiệt độ thấp hơn đối vớ tất cả các giống nghiên cứu (Tiwari, Choudhury 1993) [79] Nhiệt độ trên 350 C ngăn cản sự phát triển của quả và giảm kích cỡ quả rõ rệt (Kuo và cs 1998) [52]
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất đối với sự hình thành màu sắc của quả vì quá trình sinh tổng hợp carotenoid rất mẫn cảm với nhiệt Phạm vi nhiệt độ thích hợp để phân huỷ chlorophyll là 15o C - 40o C, để hình thành lycopen là 120
C – 300 C và hình thành carotene là 11oC - 38oC như vậy nhiệt độ tối ưu để hình thành màu sắc tốt nhất là 180 C – 240 C Quả có màu vàng khi nhiệt độ lớn hơn
400 C thì quả giữ nguyên màu xanh vì cơ chế phá huỷ chlorophyll không hoạt
động mà carotene và lycopen lại không được hình thành, nhiệt độ cao làm quả nhanh mềm và nhiệt độ không khí lớn hơn 320 C gây ra chín không đều (Kuo và
cs 1998) [52]
Nhiệt độ và độ ẩm cao còn là nguyên nhân tạo điều kiện thuận lợi cho một
số bệnh phát triển Theo Walker và Foter (1946), bệnh héo rũ Fusarium phát triển mạnh ở nhiệt độ đất 28 0C, bệnh đốm nâu (Cladosporiumfulvum Cooke) phát sinh ở điều kiện nhiệt độ 25 – 30 0C và độ ẩm không khí 85 - 90%[14], bệnh sương mai do nấm Phytophythoro infestans phát sinh phát triển vào thời điểm
Trang 24nhiệt độ thấp dưới 220 C, bệnh héo xanh vi khuẩn (Ralstonia solanacearum) phát sinh phát triển ở nhiệt độ trên 200 C [14]
2.2.2 Yêu cầu về ánh sáng
Cà chua thuộc cây ưa ánh sáng, cây con trong vườn ươm nếu đủ ánh sáng (5000 lux) sẽ cho chất lượng tốt, cứng cây, bộ lá to, khoẻ, sớm được trồng Ngoài ra ánh sáng tốt, cường độ quang hợp tăng, cây ra hoa đậu quả sớm hơn, chất lượng sản phẩm cao hơn Theo Kuddrijavcev(1964), Binchy và Morgan (1970) cường độ ánh sáng ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây cà chua Điểm bto hoà ánh sáng của cây cà chua là 70.000 lux (Là cây trồng cần nhiều ánh sáng chỉ sau cây dưa hấu) [9] Cường độ ánh sáng thấp làm chậm quá trình sinh trưởng và cản trở quá trình ra hoa Cường độ ánh sáng thấp làm vươn dài vòi nhuỵ và tạo nên những hạt phấn không có sức sống, thụ tinh kém (Johnson và Hell1953) ánh sáng đầy đủ thì việc thụ tinh thuận lợi, dẫn đến sự phát triển bình thường của quả, quả đồng đều, năng suất tăng Khi cà chua bị che bóng, năng suất thường giảm và quả bị dị hình (Man
và Hallyaner, 1968) Trong điều kiện thiếu ánh sáng, năng suất cà chua thường giảm Do vậy việc trồng thưa làm tăng hiệu quả sử dụng ánh sáng kết hợp với ánh sáng bổ sung sẽ làm tăng tỷ lệ đậu quả, tăng số quả trên cây, tăng trọng lượng quả và làm tăng năng suất Nhiều nghiên cứu đt chỉ ra rằng, cà chua không phản ứng với độ dài ngày, quang chu kỳ trong thời kỳ đậu quả có thể dao động từ 7-19 giờ Tuy nhiên một số nghiên cứu khác cho rằng ánh sáng ngày dài và hàm lượng nitrat ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ đậu quả Nếu chiếu sáng 7 giờ và tăng lượng đạm thì làm cho tỷ lệ đậu quả giảm trong khi đó chiếu sáng ngày dài làm tăng số quả/cây Nhưng trong điều kiện ngày ngắn nếu không bón đạm thì chỉ cho quả ít, còn trong điều kiện ngày dài mà không bón
đạm thì cây không ra hoa và không đậu quả
Trang 25Chất lượng ánh sáng có tác dụng rõ rệt tới các giai đoạn sinh trưởng của cây cà chua (Wassink và Stoluijk 1956) ánh sáng đỏ làm tăng tốc độ sinh trưởng của lá và ngăn chặn sự phát triển của chồi bên ánh sáng màu lục làm tăng chất lượng chất khô mạnh nhất
Thành phần hoá học của quả cà chua chịu tác động lớn của chất lượng
ánh sáng, thời gian chiếu sáng và cường độ ánh sáng Theo Hammer và cộng
sự (1942), Brow(1955) và Ventner(1977) cà chua trồng trong điều kiện đủ ánh sáng đạt hàm lượng axít ascobic trong quả nhiều hơn trồng nơi thiếu ánh sáng 2.2.3 Yêu cầu về ẩm độ
Cà chua có yêu cầu về nước ở các giai đoạn sinh trưởng rất khác nhau,
xu hướng ban đầu cần ít về sau cần nhiều Lúc cây ra hoa là thời kỳ cần nhiều nước nhất Nếu ở thời kỳ này độ ẩm không đáp ứng, việc hình thành chùm hoa
và tỷ lệ đậu quả giảm
Một số nghiên cứu cho thấy, giữa năng suất cà chua và lượng nước thoát hơi trên lớp đất mặt sâu 1cm có mối quan hệ chặt Một nghiên cứu của Mỹ cho thấy, một giống cà chua đạt năng suất 220 tấn/ha thì hiệu quả sử dụng nước là 3,1 tấn/cm/ha lượng nước thoát hơi ở Tunisia, Van Otegen et al (1982) (Dẫn theo Claude J.P, 1988), khi nghiên cứu tác động của nước đối với cà chua đt kết luận để đạt năng suất 113 tấn/ha thì hiệu quả sử dụng nước tối đa là 2,95 tấn/cm/ha Nghiên cứu trong điều kiện California, Claude cho rằng để tạo 1 kg quả cà chua cần 32,3 kg nước
Nhiều tài liệu cho thấyđộ ẩm đất thích hợp cho cà chua là 60 - 65% (Barehyi,1971) và độ ẩm không khí là 70 - 80% Khi đất quá khô hay quá ẩm
đều ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển và năng suất của cà chua Biểu hiện của thiếu nước hay thừa nước đều làm cho cây bị héo Khi ruộng bị ngập nước, trong đất thiếu ôxy, thừa khí cacbonic làm cho rễ cà chua bị ngộ độc dẫn đến cây héo Khi thiếu nước quả cà chua chậm lớn thường xảy ra hiện
Trang 26tượng thối đáy quả, quả dễ bị rám do canxi bị giữ chặt ở các bộ phận già không vận chuyển đến các bộ phận non Nếu đậu quả mưa nhiều làm nứt quả hoặc kìm htm sự phát triển của quả và giảm chất lượng quả Điều kiện nóng
ẩm cũng rễ tạo điều kiện cho nhiều mầm biệnh phát triển và gây hại Các bệnh quan trọng như bệnh virus, héo vi khuẩn (Pseudomonas solanacearum), đốm
vi khuẩn (Xanthomonas vesicarota), mốc lá (Pseudocerspora guligena và cladosporium fulvum), tàn lụi sớm (nấm Alternaria solani) và tuyến trùng Sâu gây hại chủ yếu là đục quả và rệp, thường gây hại trong những tháng khô 2.2.4 Yêu cầu về dinh dưỡng khoáng
Theo More (1978), để có 1 tấn cà chua cần 2,9 kg N, 0,4 kg P, 4kg K và 0,45 kg Mg Theo Becseev, để tạo 1 tấn quả cà chua cần 3,8kg N; 0,6kg P2O5 và 7,9 kg kali, Theo Geraldson (1957), (Theo Kiều Thị Thư trích dẫn 1998) [25], để
đạt năng suất 50 tấn/ha cần bón 320 kg N, 60 kg P2O5 và 440 kg K2O L.H Aung (1979) khuyến cáo để cà chua đạt năng suất 40 tấn/ha cần bón 150 kg N, 30 kg
P2O5 và 160 kg K2O Theo Kuo và cộng sự (1998) [52] thì đối với cà chua vô hạn nên bón với mức 180kg N, 80 kg P2O5 và 180 kg K2O còn với cà chua hữu hạn thì lượng tương ứng là 120: 80 và 150 Theo nghiên cứu của Trần Khắc Thi và cộng
sự (1999) thì trong điều kiện Việt Nam lượng phân bón cho 1 ha cà chua là 25 tấn phân chuồng, 150kgN 90 kg P2O5 và 150 kg K2O
Cũng như các cây trồng khác cà chua cần ít nhất 20 nguyên tố dinh dưỡng cho quá trình sinh trưởng phát triển bình thường của nó Trong các nguyên tố đa lượng cà chua cần nhiều Kali hơn cả, sau đó là đạm và lân
Trang 272.3 Tình hình nghiên cứu tạo giống chịu nhiệt, và sản xuất cà chua trên thế giới
2.3.1 Tình hình nghiên cứu cà chua chịu nhiệt trên trế giới
Cây cà chua đem lại hiệu quả kinh tế cao cho sản xuất và xuất khẩu của nhiều quốc gia Chính vì vậy, vào những năm 1960 - 1970, đt có những công trình nghiên cứu trật tự các gen trên bộ nhiễm sắc thể cà chua (Cook, 1968; Zhuchenco, 1973), thời gian sau, việc ứng dụng những thành tựu công nghệ sinh học hiện đại trong chọn tạo giống đt được sử dụng, như nuôi cấy bao phấn để tạo các dòng thuần, chuyển nạp gen có năng suất cao, chất lượng tốt
và chống chịu sâu bệnh hại,… và tới nay, công nghệ sản xuất hạt giống lai F1
đt trở thành ngành công nghiệp đem lại nguồn lợi nhuận khổng lồ, đt cung cấp giống cho hơn 80% diện tích trồng cà chua trên toàn thế giới
Nhiều công trình nghiên cứu ở Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Rau Châu á (AVRDC) cho thấy những giống cà chua được chọn tạo trong điều kiện ôn đới không phù hợp cho trồng trong thời vụ nóng ẩm Những quả đậu
được trong trường hợp này cũng kém chất lượng Như mầu đỏ nhạt, nứt sâu, vị nhạt hay chua (Kuo và cs 1998)[52]
Như vậy, để đảm bảo sản xuất cà chua thành công ở những vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thì cần thiết phải có bộ giống mới và những biện pháp
kỹ thuật cải tiến riêng cho những vùng sản xuất này Việc phát triển các công trình Nghiên này được coi là cách tiếp cận hai mặt để làm cho cây thích nghi với điều kiện nhiệt đới nóng ẩm và đạt hiệu quả
Tính chịu nhiệt (hay khả năng đậu quả ở nhiệt độ trung bình điển hình của khí hậu nhiệt đới) là đặc tính cần thiết đầu tiên mà các giống mới phải có
để cho năng suất cao ở các vùng nhiệt đới
Trang 28Nhiều nghiên cứu chọn tạo giống trên thế giới đt tập trung vào lĩnh vực này Trên cơ sở nguồn di truyền cảu các loài dại và bán hoang dại, các nhà chọn tạo giống đt sử dụng làm nguồn gen chịu nhiệt và bằng nhiều phương pháp: lai tạo, chọn lọc giao tử dưới nền nhiệt độ cao bất lợi, chọn lọc hợp tử (phôi non)… đt tạo ra các giống chịu nhiệt có phổ thích ứng rộng, trồng được
ở nhiều thời vụ trong năm
ở Ai Cập, từ năm 1978 đt tiến hành nghiên cứu, đánh giá các nguồn chịu nhiệt về khả năng đậu quả ở nhiệt độ cao, trong đó sử dụng 4.050 mẫu giống thuộc chi Lycopersicon Kết quả cho thấy dưới 1% (38/4.050) mẫu giống của tập đoàn giống thế giới có nguồn gốc từ 15 nước và đều thuộc loài Lycopersicon esculentum Điển hình là các giống Porter, Saladette, Gamad, Hotset và BL 6807 (Metwally 1996) [56]
Bộ môn nghiên cứu Rau (EICA - Ai Cập) đt tiến hành 4 thử nghiệm ở ngoài đồng nhằm thử khả năng đậu quả của một số giống cà chua dưới nhiệt
độ cao trong vụ hè các năm 1980 và 1981 Kết quả đt cho thấy, các giống Peto 81, UC 82, Punjab Churara và Peto 86 là những giống tốt trong 105 giống
được đánh giá về khả năng đậu quả và tạo năng suất dưới điều kiện nhiệt độ cao Những giống này được thay thế các giống chịu nhiệt trồng phổ biến trước
đó như Cal Ace VF và VF145-B-7879 Ngoài khả năng đậu quả ở nhiệt độ cao, các giống này còn có chất lượng quả tốt, quả chắc Các giống 78W37-5-
1, S-78-296-2 và Saladette cũng được lựa chọn là nguồn di truyền tốt nhất về khả năng đậu quả ở nhiệt độ cao (Metwally 1996) [56]
Để nghiên cứu về các giống cà chua chịu nhiệt trong thời vụ nóng ẩm của vùng Martinique (miền Tây ấn nước Pháp), Denoyes.B và Rhino.B [36] đt tiến hành trồng thí nghiệm 18 giống cà chua (địa phương và nhập nội) vào hai
vụ hè thu 1986 và 1987 Quá trình đậu quả của các giống diễn ra vào thời
điểm có nhiệt độ và độ ẩm khắc nghiệt (độ ẩm 90% và nhiệt độ ngày (31 – 32)0C, nhiệt độ đêm (26 - 270C) Tác giả đt đi đến kết luận Trong nhóm
Trang 29giống có tỉ lệ đậu quả cao (61 - 100%) thì giống lai F1 Tulona (Pháp) và F1Capitan (Mỹ), cho năng suất cá thể cao (2,9kg và 3,1 kg) Một số giống thuộc nhóm có tỉ lệ đậu quả thấp (dưới 60%) như Xinna (Pháp), Miexnin (Pháp), F1Nema1200 (Mỹ) cũng cho năng suất các thể cao (tương ứng là 2,6 kg, 2,5 kg
và 3,1 kg) Điều này cho thấy khả năng đậu quả không phải là tiêu chuẩn duy nhất để lựa chọn giống chụi nhiệt với năng suất cao Đặc tính phát triển của quả cũng như khả năng chống chịu bệnh chủ yếu, đặc biệt là bệnh xoăn lá do viruts (Tomato yellow leafcurl), bệnh héo vi khuẩn (Pseudomonas solanacearum), bệnh sương mai (Phytopthora infestans) cũng cần được phối hợp vào chương trình lai tạo giống
Các chương trình chọn tạo giống của Trung tâm Nghiên cứu phát triển Rau Châu á (AVRDC), đặc biệt các chương trình phát triển các dòng tự phối hữu hạn và vô hạn có khả năng đậu quả ở giới hạn nhiệt độ cực đại 32 0C -
340C đt đưa ra nhiều giống lai có triển vọng đựơc phát triển rộng ở một số nước như CLN 1621L, CLN 2001C, CL 5915 - 204DH, CL134,…vv (Morris 1998)
Nghiên cứu của Ale Mazkoor (1999) [27] về khả năng đậu quả và cho năng suất của các giống cà chua đt chọn lọc được 2 giống chịu nhiệt có năng suất và năng suất thương phẩm cao là Tobol và Chefp.s
Viện nghiên cứu Nông nghiệp ấn độ (IARI) ở New Delhi đt tiến hành nghiên cứu chọn tạo các giống chịu nhiệt, từ năm 1975 nhờ đó đt có một số giống chịu nhiệt được công nhận là giống quốc gia như Puas Ruby và Sel-120 Pusa Ruby có đặc điểm sinh trưởng vô hạn, khoẻ, tán rộng, phân nhánh ít, quả dạng tròn dẹt, khối lượng quả từ nhỏ đến trung bình, chín đỏ thắm, có 25 - 30 quả/cây năng suất 25 tấn/ha, chín sớm 60 - 65 ngày thích hợp vụ thu và vụ xuân hè Giống Sel - 120 có đặc điểm sinh trưởng bán hữu hạn, tán rộng, lá xanh thẫm, quả tròn dẹt, cỡ quả trung bình đến to, mềm, đỏ đều, ít hạt, chịu
Trang 30nhiệt và tuyến trùng, thích hợp cho sản xuất vụ hè (Singh, Checma 1989) [66] Công ty ấn Độ - Mỹ ở Bangalore cũng đt chọn tạo và đưa ra thị trường nhiều giống cà chua lai có giá trị Trong đó, có giống Rupali là giống chịu nhiệt, quả tròn dẹt, có màu đỏ tươi được trồng rộng rti ở nhiều vùng sản xuất của ấn Độ (Tiwari, Choudbury 1993) [80]
Trong nhiều năm, chương trình chọn tạo giống cây trồng ở Trường Đại học Nông nghiệp Philipin đt tập trung vào phát triển những giống cây trồng
có khả năng chống bệnh và đậu quả ở nhiệt độ coa Kết quả đt tạo ra một số giống như Marikit, Maigaya và Marilag vừa chống héo vi khuẩn và có khả năng đậu quả ở nhiệt độ cao, Công ty giống tư nhân East West cũng đưa ra hai giống lai (F1) có triển vọng cho trồng trái vụ là Panag - ulan và Bonanza (Soriano và cs 1989) [69]
ở Thái Lan, trong chương trình hợp tác với ARVDC đt đưa ra sản xuất hai giống cà chua chịu nhiệt có triển vọng được chọn tạo ra là SVDRC4 (Trường Đại học Khon Khan) và L22 (Trường Đại học Chiang Mai) hai giống
cà chua này được trồng phổ biến rộng rti ở nhiều vùng của Thái Lan (Nikompun Lumyong 1989) [59]
Nghiên cứu thử nghiệm giống cà chua ăn tươi (table tomato) của Tu jianzhong (1992) [79] tiến hành ở Trường Đại học Kasetsart - Thái Lan với 17 giống cà chua Kết quả cho thấy hai giống FMTT33 và MFTT277 (giống của ARVDC) cho năng suất (81 tấn/ha) , quả to (134 - 166 gan/quả), có khả năng chịu nhiệt thích hợp cho sản xuất ở vùng nhiệt đới
ở Mỹ, biên cạnh các giống được chọn tạo ra hàng năm, các giống cũ (xuất xứ từ nâu đời) lại được tái xuất hiện vừa được dùng trong sản xuất và còn được sử dụng làm vật liệu di truyền trong lai tạo Trong đó, một số giống thích phợp ở vụ nóng như: Costoluto, Genovese, Super Italian Páte, Oxheart, Blach Krim… (Watson 1996) [84]
Trang 31Takii, một trong những Công ty giống hàng đầu của Nhật Bản, gần đây
đt giới thiệu 5 giống cà chua lai chịu nhiệt kết hợp với chống chịu bệnh có thể trồng ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới là Master No2, Grandeur, Tropic boy, T126, Chellenger Các giống lai này đều có cùng đặc điểm là sinh trưởng mạnh, quả tròn, đỏ tươi, quả to (130 - 350 gam/quả) và đặc biệt là có khả năng chịu nóng tốt, chống chịu nhiều loại bệnh [62]
Một số giống lai F1 của Công ty S & G Seeds (Hà Lan) mới đưa ra thích hợp trồng ở vùng nhiệt đới như Rambo (GC775), Victoria (GC787), Jackal (Eg438), Michkey (S902) đều có đặc điểm chống chịu tốt với bện, và đậu quả tốt dưới điều kiện nhiệt độ cao, có tiềm năng năng suất khá [63]
Công ty Giống rau quả Pháp - Technisem cung đt nghiên cứu và chọn tạo và đưa ra thị trường nhiều giống cà chua lai F1 có khả năng đậu của ở nhiệt
độ cao, chống chịu sâu bệnh và cho năng xuất và chất lượng tốt Những giống
được giới thiệu cho vùng có khí hậu nhiệt đới như Rio Grande, Tropimech VF 1-2, Cerise, Xina, Carioca và các giống lai F1 như Camina, Fantas….vv
Cũng theo Dr.Sundar (2001), những dòng giống cà chua chế biến và con lai được chọn tạo cho vùng nhiệt đới, gieo trồng trong điều kiện thích hợp
đạt năng suất từ 70 - 131tấn/ha Đó là các giống CLN 400 (1 - 11) Tuy nhiên,
độ Brix chưa thực sự cao (3,7 - 3,9) Điều này không lấy làm ngạc nhiên vì năng suất cà chua và độ Brix là tương quan nghịch (Kozumi 1998)
Theo Dr Sundar (2001), những dòng cà chua chịu được virus xoăn lá và phục vụ chế biến tốt là TLB11, TLB130 và TLB182 có năng suất rất cao Đặc biệt giống PT4755 đạt năng suất 147,6 tấn/ha, có thời gian sinh trưởng ngắn, thuận lợi cho tăng vụ
Theo Dr G.Kuo (2001) [52], giống cà chua ăn tươi mini - mầu đỏ, trồng trong vụ xuân và hè thu đạt vụ xuân đạt 42,1 - 45,8 tấn/ha độ Brix cũng
đạt 6,48 -6,83 Vụ hè thu năng suất 17,7 - 21 tấn/ha độ Brix cũng đạt 5,25 -
Trang 325,85 Đó là các giống CHT1126, CHT1127 và CHT 1120 Các giống CHT 1190, CHT 1200 và CHT1201, vừa có độ Brix trên 6,25 và có hàm lượng Betacarotene, Lycopene khá cao, điều này rất có ý nghĩa trong dinh dưỡng con người
Nhiệt độ tăng thường dẫn đến khả năng sinh trưởng, phát triển của quả tăng (E.g Pearce et all, 1993) Tuy nhiên, nếu nhiệt độ tăng quá cao sẽ dẫn
đến khối lượng quả giảm Tỷ lệ sinh trưởng phát triển của quả tăng và giảm nhiều khi ở nhiệt độ >25oC Cường độ ánh sáng không ảnh hưởng lớn đến khối lượng quả hoặc tỷ lệ sinh trưởng phát triển của quả không thay đổi, hay nói cách khác cường độ ánh sáng không trực tiếp ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của quả
2.3.2 Tình hình sản xuất cà chua trên thế gới
Do giá trị sử dụng và khả năng thích ứng, cà chua được trồng khắp nơi trên thế giới Thế kỷ XIX, cà chua vẫn được trồng như một loài cây cảnh nhờ màu sắc quả Ngày nay, người ta biết rõ ancaloit ở trong cà chua là tomatin, một chất ít độc kể cả khi hàm lượng rất cao Bởi vậy, sản xuất cà chua trên thế giới không ngừng tăng Theo FAO 2004, năm 1990 diện tích cà chua mới chỉ
đạt 2.868.443 ha và tăng nhanh đến năm 2002 đạt 3.745.229 ha và sản lượng
từ 76.022.112 tấn tăng lên 100.259.364 tấn Trong khi đó, năm 2003 diện tích trồng rau thế giới ủạt 43.650.000 ha Trong ủó diện tích cà chua xấp xỉ 3,6 triệu ha sản lượng 98,62 triệu tấn giảm 2,4% so với năm cao nhất (1999) nhưng vẫn cao hơn những năm khác Trong khối lượng cà chua này, Châu Á chiếm 44%, Châu Âu 22%, Châu Mỹ 12%, các khu vực khác 7% Bình quân tính theo đầu người trên thế giới 16kg cà chua/người/năm Những nước có mức tiêu thụ cao là Thổ Nhĩ Kỳ 170kg; Italia 77,8kg; Tây Ban Nha 55,3 kg và
Mỹ 45kg/người/năm
Trang 33Bảng 2.1 Sản suất và sử dụng cà chua trên thế giới (từ 1997 – 2002) Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
Nguồn : w.w.w.FAO.org (stat database 1998, 1999, 2000, 2001, 2002, 2003)
Tại Châu Phi và Châu á do điều kiện kinh tế thấp, cà chua sau sản xuất chất lượng còn chưa cao, năng suất bình quân 20,2 - 23,3 tấn/ha, được tiêu thụ tại chỗ là chính Tại Châu á theo thống kê là khu vực trồng nhiều cà chua nhất (1,19 - 1,22 triệu ha) và cũng là nơi có sản lượng cao nhất ( 26,7 - 28,5 triệu tấn) Trong đó, Trung Quốc và ấn Độ là nước trồng cà chua nhiều nhất, Trung Quốc có 344,000 ha cà chua đứng thứ 3 sau khoai tây, bắp cải, ấn Độ có
3200 ha cà chua đứng thứ 3 sau dưa hấu và măng tre ( Lin, Lai 1988) Tuy nhiên, Nhật Bản và Đài Loan là hai nước đứng đầu về năng suất, Nhật Bản năng suất bình quân là 52,4 tấn/ha (Naricawa 1988), Đài Loan năng suất bình quân là 40 tấn/ha có nơi đạt đến 100 - 150 tấn/ha (Lin và cs 1988)
Tại khu vực Bắc Mỹ và Châu Âu năng suất cà chua trung bình đạt được
39 - 43,6 tấn/ha, một số điển hình năng suất như Hà Lan 37,5 tấn/ ha Tại những vùng này cà chua được trồng trong nhiệt độ thấp, nhiều diện tích được trồng trong điều kiện nhân tạo
Theo Gin Hoell (1983), tính đến năm 1980 sản lượng cà chua trên thế giới là 50,1 triệu tấn Trong đó, Châu Âu chiếm 29,1% ; Châu á 23,6 % ; Bắc Trung Mỹ chiếm 18,3 % ; Châu Phi chiếm 10,2 % ; Nam Mỹ chiếm 5,9 %; và các nước khác là 12,9 %
Trang 342.4 Vấn đề tạo giống cà chua chất lượng tốt và chống chịu bệnh héo xanh vi khuẩn và virus trên thế giới
2.4.1 Tình hình nghiên cứu giống cà chua chống chịu héo xanh vi khuẩn
và virus trên thế giới
Theo Trần Văn Lài (2005), cây cà chua, thế giới đang sử dụng ưu thế lai
F1, ưu tiên dạng vô hạn, tiếp đến bán hữu hạn và hữu hạn Chọn giống cà chua năng suất cao, phục vụ ăn tươi và chế biến Chú ý, chống chịu virus xoăn lá và bệnh héo xanh vi khuẩn
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa các giống thuộc chi Lycopersicon và các dòng hoang dại với bệnh xoăn lá cà chua 1201 dòng giống cà chua thuộc chi Lycopersicon được đánh giá thử nghiệm với bệnh xoăn lá virus ở cả 2 điều kiện trên đồng ruộng và trong phòng thí nghiệm trong mùa hè từ 1986- 1989 Hai dòng thuộc loài L.hirsutum là PI390658 và PI390659 và 2 dòng thuộc loài L.peruvianum là PI127830 và PI127831 kháng với bệnh xoăn lá cà chua Những dòng này không thể hiện triệu trứng xoăn lá cả trên đồng ruộng và cả sau khi lây nhiễm bằng bọ phấn trắng Trưởng thành của bọ phấn trắng chết trong khoảng 3 ngày sau khi thả trên những dòng kháng trên trong khi chúng sống đợc đến 25 ngày trên những dòng mẫn cảm Quan sát trên đồng ruộng người ta thấy có từ 0 - 4 hoặc 5 - 25 con bọ phấn trắng trưởng thành trên những dòng kháng và dòng mẫn cảm
Trung tâm Nghiên cứu Rau mầu Châu á đt có nhiều kết quả chọn tạo giống cà chua Theo Dr Sundar (2001) Những giống cà chua cho vùng nhiệt
đới đt đạt năng suất 101 - 118 tấn/ha, vừa chịu được virus xoăn lá và héo xanh
vi khuẩn Đó là giống CLN 2443 DC-B-7 (1-9)
Nghiên cứu ảnh hưởng của việc che phủ luống, hun khói và sử dụng phân bón hữu cơ đến việc phòng trừ bệnh virut khảm lá cà chua (CMV) và bệnh Corky root cho thấy ở vụ trồng sớm cả việc hun khói và che phủ luống
Trang 35đều làm tăng năng suất và làm giảm số lượng quả bị hại đồng thời làm giảm
sự lây nhiễm của vius CMV ngoài ra việc che phủ luống còn làm giảm các triệu trứng của bệnh Corky root
Mười lăm giống cà chua cho chế biến được nghiên cứu đánh giá trong
vụ xuân 1994 ở Trường Đại học Kasetsart - Thái lan (Chu jinping 1994) [32] Kết quả là hai giống của ARVDC là PT4225 và PT3027 cho năng suất cao nhất (53 tấn/ha), chất lượng quả tốt chống nứt quả và chống virus trong điều kiện nhiệt độ cao của vùng nhiệt đới
ở indonesia, để phát triển sản xuất cà chua ở những vùng đất thấp, nhiều nghiên cứu đt tập trung vào vấn đề giống chịu nhiệt và chống chịu héo
vi khuẩn (Pseudomonas solanacearum) Nghiên cứu đánh giá tiến hành trên các dòng cà chua nhập nội có khả năng chịu nhiệt và chống héo xanh vi khuẩn các con lai giữa các dòng, giống nhập nội và các giống địa phương Trong quá trình nghiên cứu các vật liệu phục vụ mục tiêu trên cho thấy các dòng được nhập nội từ AVADC và các dòng, giống của trường Đại học bang Louisiana, Lembang đựơc đánh giá là tốt nhất Trong đó các dòng, giống được công nhận
là Berlian và Mutiara (Permadi 1989) [61]
Viện Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Malaisia (MARDI) đt hợp tác với AVADC và Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Nhiệt đới (TARC) ở Nhật bản để xúc tiến chương trình cải tiến giống cà chua có triển vọng Kết quả đt đưa ra được sáu dòng cà chua được đánh giá chịu nhiệt và chịu héo vi khuẩn (Pseudomonas solanacearum) là TM1, TM2, TM3, TM5, TM6, và TM10 (Melor 1986) [55]
ở Bungari, các nhà chọn giống đt sử dụng các dạng cà chua dại thuộc các biến chủng Var.racemigerum có hàm lượng chất khô cao Var elongatum
có hàm lượng đường cao, quả hình trụ và Var.pimpinellifolium chống bệnh mốc sương (phytophthora infestans) và bệnh héo xanh vi khuẩn
Trang 36(Pseudomonas) để lai tạo với cà chua trồng Kết quả thu được dòng số 10 có hàm lượng chất khô và hàm lượng đường cao, quả hình trụ chống bệnh mốc sương và vi khuẩn Nhờ thành tựu này mà sản phẩm “ cà chua trắng” của Bungari nổi tiếng thế giới [3]
2.4.2 Vấn đề tạo giống cà chua chất lượng tốt trên thế giới
Trong chương trình cải tiến giống cây trồng hiệu quả đòi hỏi phải có mục đích cụ thể và một chiến lược tạo giống đúng đắn để đạt được mục tiêu
đề ra Trong đó, việc cải tiến về năng suất và chất lượng luôn đặt lên hàng đầu
và chung cho tất cả các chương tình chọn giống
Cà chua là loại rau quả cao cấp Chính vì vậy mà chất lượng quả luôn
được các nhà chọn giống quan tâm trong các chương trình cải tiến giống nhằm
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường với những dạng quả có hàm lượng dinh dưỡng cao (Chất khô, đường, B-Caroten, Vitamin C ) bên cạnh đó còn phải có mẫu mt phù hợp thị hiếu (Hình dạng, màu sắc, hương vị ) Tuy nhiên, các đặc tính này cần được phối hợp với các đặc tính nông sinh học khác như chín sớm, có khả năng thích ứng rộng, có khả năng chống chịu sâu bệnh
Những nghiên cứu về bảng phân loại hương vị (taste panel) thực hiện ở trường Đại học tổng hợp Califorinia (Mỹ) đt cho thấy hàm lượng đường tự do, hàm lượng axit hữu cơ và tỷ lệ đường/axit là những yếu tố quyết định loại hương vị Tuy nhiên, dựa vào màu sắc, hình thái, và kết cấu quả cũng giúp nhận biết được chất lượng cảm quan của quả Trong quá tình nghiên cứu các nhà khoa học đt kết luận hương vị của quả có màu da cam kém hơn quả màu
đỏ (Tigchelaar 1986) [78]
Để cải tiến chất lượng quả Các nhà chọn giống đt sử dụng các loài cà chua hoang dại làm nguồn vật liệu khởi đầu quý cho lai tạo Như loài L.Peruvianum có hàm lượng vitamin C cao Hay loài L.Pimpinellifolium có hàm lượng đường, vitamin C, B – Caroten cao Theo kết quả phân tích hoá
Trang 37sinh của nhiều tác giả cho thấy, hàm lượng đường và vitamin C của các dạng bán hoang dại rất cao Nhiều mẫu trong nhóm bán hoang dại đạt 114 mg%, trong khi đó các giống cà chua trồng hàm lượng vitamin C giao động từ 12 -
36 mg% (dùng phương pháp lai trở lại người ta đt thu được các dòng có hàm lượng vitamin C đạt tới 32 - 66 mg% (Tigchelaar 1986) [78]
Michalik và cs (1986) ở Balan đt đánh giá chất lượng một số dòng, giống cà chua Kết quả cho thấy Pulawski Pizemyslowy và dòng PH1703 cho hàm lượng chất khô cao (5,1%) tiếp đến là Pizemyslowy, IW (5,0%) Grand
có hàm lượng đường trong quả cao nhất 2,71%) Tỷ lệ đường/axit tốt nhất (7/8) ở các giống 01355 và VF 92-12
Prima là giống cà chua vừa cho chế biến, vừa cho tiêu thụ quả tươi của Hungary có hàm lượng chất khô cao, chất lượng tốt, chín tập trung và cho năng suất thương phẩm cao [80]
Các giống cà chua lai của Công ty Giống lai ấn - Mỹ ở Bangalore, ấn
Độ như Naveen, IA HS-88-2, Karnatak, Jajani và Vaishali có năng suất cao chất lượng tốt, quả tròn to trung bình, màu sắc đẹp, thích hợp cho ăn tươi và chế biến (Tiwari, Choudhury 1993) [79]
Nhiều nghiên cứu thử nghiệm giống cà chua đt được tiến hành ở ARVDC - TOP, Trường Đại học Kasetsart, Phân Viện Kamphaeng saen, Thái Lan Trong đó, nhiều mẫu giống được đánh giá có chất lượng tốt kết hợp với
đặc tính chịu nóng và chống bệnh Các giống lai cà chua anh đào CHT 104, CHT 92 và CHT 105 có năng suất cao chống chịu bệnh tốt màu sắc đẹp, hương vị ngon, quả chắc (Wangdi 1992) [83] Các giống PT 4225, PT3027, PT4156, PT4446, vừa cho năng suất cao, có chất lượng tốt, hàm lượng chất khô cao, màu sắc đỏ đều, quả chắc và chống bệnh nứt quả (Chu Jinping 1994)[32] Giống FMTT 3 cho năng suất (66,75) tấn/ha, chất lượng quả tốt, hàm lượng chất hoà tan cao (5,38o Brix), quả chắc, tỷ lệ quả nứt thấp (5,79%)
Trang 38(Kang Gaoqiang 1994) [50]
Trường Đại học Nông nghiệp Punjab ở Ludhiana, ấn Độ, năm 1981 đt chọn tạo ra giống Punjab Chuhuhara có năng suất cao (75 tấn /ha) với chất lượng quả tốt, quả to trung bình, chắc, không hạt, ít chua, thịt quả dày, khi chín đỏ đều, đặc biệt quả có khả năng bảo quản dài trong điều kiện màu hè Năm 1983, Viện Nghiên cứu Nông nghiệp ấn Độ ở New Delhi chọn tạo ra giống Pusa Gaurav cũng mang đặc tính tương tự với giống Punjab Chuhuhara, thích hợp cho cả ăn tươi lẫn chế biến, vận chuyển và bảo quản dài
Việc kết hợp các giống cà chua có tỷ lệ thích hợp giữa vỏ quả và dịch quả trong ngăn hạt là một trong những chỉ tiêu và mục đích giống chọn giống cà chua chất lượng Vì dịch quả là nguồn axit quan trọng (De Bruyn
1971 [34]; Stevens 1979 [71]) Hơn nữa, dịch quả ở ngăn hạt nhiều sẽ giúp cảm nhận hương vị tốt hơn Khi nghiên cứu về các giống có biến dị kiểu gen
về hương vị, (Stevens 1979) [71] đt xác định là tỷ lệ dịch quả cao thường kết hợp với hàm lượng axít cao và chất lượng hương vị tốt Stevens cho rằng việc tăng hàm lượng axít và đường trong thành phần quả là rất cần thiết đối với chất lượng hương vị ở các giống cà chua mới được chọn tạo cho tiêu dùng tươi Tuy nhiên, tỷ lệ dịch quả cao thường gây ảnh hưởng đến vận chuyển, bảo quản và thu hoạch… vì vậy, các nhà chọn giống phải chú ý đến tỷ lệ thích hợp giữa dịch quả và độ chắc của quả (eskin 1989) [37]
Cơ quan CSIRO và Sở Nông nghiệp New South Wales (úc) đt nhập các dòng cà chua có hàm lượng đường cao Đánh giá sơ bộ các vật liệu này cho thấy mặc dù kiểu gen có thể tác động của môi trường, song đặc điểm di truyền
về chất hoà tan tổng số cao vẫn đảm bảo việc tạo giống có chất lượng quả tốt (McGrath 1989) [54]
Trang 392.5 Tình hình nghiên cứu và sản xuất cà chua ở Việt Nam 2.5.1 Tình hình nghiên cứu cà chua ở Việt nam
ở nước ta, lịch sử trồng cà chua trên 100 năm nay [1],[4] Để đáp ứng cho nhu cầu của sản xuất mà công tác nghiên cứu chọn tạo giống cà chua đt
được tiến hành từ rất sớm Ngoài những giống địa phương, chúng ta đt nhập nội trao đổi giống từ khắp nơi trên thế giới, tạo nguồn vật liệu khởi đầu phong phú và đa dạng cho công tác chọn tạo giống Theo Mai Phương Anh và cs (1996) [1], hiện nay các cơ sở nghiên cứu của trong cả nước có hàng ngàn mẫu giống cà chua khác nhau có nguồn gốc ở hầu hết các nước trên thế giới, gồm các nguồn hoang dại, bán hoang dại và trồng trọt
Nhiều nghiên cứu về cà chua của nước ta đt tập trung vào nghiên cứu chọn tạo giống cà chua thích ứng với vụ thu - đông và xuân - hè Đây là phương hướng cấp thiết nhằm mở rộng thời vụ sản xuất cà chua nhằm tăng sản lượng và khéo dài thời gian cung cấp đáp ứng cho nhu cầu thiết yếu của người têu dùng
Với mục đích chọn giống cà chua thích hợp cho vụ xuân - hè ở vùng
Đồng bằng sông Hồng Từ năm 1973 - 1984, Tạ Thu Cúc đt tiến hành nghiên cứu trên tập đoàn gồm 100 mẫu giống cà chua nhập nội trồng trong vụ xuân -
hè, Gia Lâm, Hà Nội [5] Kết quả cho thấy loài dại L.racemigerum có khả năng chống chịu bện tốt nhất và đạt phẩm chất cao nhất Đây là nguồn di truyền quý cho chọn giống chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh tốt Các giống Pháp số 7, BCA5, Cuba cũng chống chịu sâu bệnh tốt và cho năng suất cao nhất là các giống BCA5, Nhật số 2, BCA1, Ruko3, BCA3 Và các giống pháp
số 7, Rutgers, Saintpierre, Nhật số 2 và Ogorta và Triumph có phẩm chất tốt
Trung tâm giống cây trồng Việt Xô trong giai đoạn từ 1983 đến 1992
đt tiến hành nghiên cứu giống cà chua nhập nội Số lượng mẫu giống được nghiên cứu qua các năm rất lớn như vụ đông - xuân 1983 nghiên cứu 106 mẫu
Trang 40giống, vụ đông - xuân 1988 - 1989 gồm 60 mẫu giống và vụ đông - xuân 1989
- 1990 là 200 mẫu giống Kết quả đt chọn tạo được một số mẫu giống ưu
điểm chín sớm năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu bệnh như các mẫu giống Raketa, Salut, Bogdannovskii (Trần Đình Long và CTV 1992) [11]
Cũng trong giai đoạn này (từ 1986 - 1990), Viện Cây Lương thực và Cây thực phẩm đt phối hợp với các cơ quan nghiên cứu khác nhau như Viện khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Viện Di truyền nông nghiệp, Viện khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam… Đt triển khai nghiên cứu đề tài chọn tạo giống rau Trong đó, chọn tạo giống cà chua đt đạt được một số kết quả tốt, như giống cà chua số 7 được chọn lọc từ nguồn của Hungari đt được công nhận giống quốc gia Giống có đặc điểm trọng lượng quả trung bình 80 -
100 gam, chín đỏ, cây sinh trưởng mạnh thích hợp trồng ở vụ xuân - hè (Chu Thị Ngọc Viên, Vũ Tuyên Hoàng 1997) [26]
Giai đoạn 1991 - 1995, chương trình nghiên cứu đề tài KN- 01-12 của
Bộ Nông nghiệp Thực phẩm “nghiên cứu chọn tạo một số giống rau chủ yếu
và biện pháp kỹ thuật thâm canh” đt được triển khai và thực hiện trên quy mô sâu rộng cùng vớ sự tham gia của nhiều cơ quan nghiên cứu Trong đó, cây cà chua là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các đơn vị tham gia đề tài, với số lượng mẫu giống được thu thập, nhập nội và nghiên cứu qua các năm (1991 - 1995) là lớn nhất Mục tiêu chon tạo giống cà chua được đặt ra với hai hướng chính là:
Chọn giống cà chua chịu nóng trồng trong vụ thu - đông và xuân - hè ở các tỉnh phía Bắc và mở rộng diện tích ở các tỉnh phía Nam
Chọn giống cà chua có năng suất cao, thích hợp cho các dạng chế biến công nghiệp và dạng cà chua quả rất nhỏ sử dụng ăn tươi
Để tạo nguồn vật liệu khởi đầu, ngoài khối lượng lớn mẫu giống nhập nội
và giống địa phương thu thập được, nguồn vật liệu khởi đầu còn được tạo bằng