1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc mọc tự nhiên ở khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn

117 728 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 3,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó đã có ảnh hưởng xấu đến tính đa dạng sinh học trong khu bảo tồn nói chung và nguồn tài nguyên cây thuốc nói riêng mà hiện tại vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về nguồ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

- -

NGUYỄN TUYẾT MAI

NGHIÊN CỨU NGUỒN TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC MỌC TỰ NHIÊN Ở KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH NAM XUÂN LẠC

HUYỆN CHỢ ĐỒN – TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

- -

NGUYỄN TUYẾT MAI

NGHIÊN CỨU NGUỒN TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC MỌC TỰ NHIÊN Ở KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH NAM XUÂN LẠC

HUYỆN CHỢ ĐỒN – TỈNH BẮC KẠN

Chuyên ngành: Thực vật học

Mã số: 60 42 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN VĂN TẬP

Hà Nội – Năm 2014

Trang 4

ii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Các Vườn quốc gia và Khu Bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam

Bảng 1.2 Tình hình dân số xã Xuân Lạc và xã Bản Thi

Bảng 1.3 Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Xuân Lạc

Bảng 3.1 Sự phân bố trong các bậc taxon của các loài cây thuốc ở khu Bảo tồn Loài

và sinh cảnh Nam Xuân Lạc

Hình 3.1 Sự phân bố trong các bậc taxon của các loài cây thuốc ở khu Bảo tồn Loài

và sinh cảnh Nam Xuân Lạc

Bảng 3.2 Sự phân bố các taxon của các cây thuốc thuộc ngành Ngọc lan

Hình 3.2 Sự phân bố các taxon của các cây thuốc thuộc ngành Ngọc lan

Bảng 3.3 Một số họ có nhiều loài cây thuốc nhất

Bảng 3.4 Dạng thân của các loài cây thuốc tại khu Bảo tồn Loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc

Hình 3.4 Dạng thân của các loài cây thuốc tại khu Bảo tồn Loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc

Trang 5

BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Natural Resourcse

Trang 6

iv

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Tình hình nghiên cứu về cây thuốc và bảo tồn cây thuốc trên thế giới 3

1.1.1 Tình hình nghiên cứu chung về cây thuốc 3

1.1.2 Nghiên cứu bảo tồn cây thuốc 4

1.2 Tình hình nghiên cứu về cây thuốc và bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam 7

1.2.1 Khái quát về thực trạng và giá trị nguồn tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam 7

1.2.2 Nghiên cứu bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam 11

1.3 Vài nét về điều kiện tự nhiên và xã hội khu vực nghiên cứu 14

1.3.1 Điều kiện tự nhiên 14

1.3.2 Tình hình tài nguyên thực vật 16

1.3.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 17

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG - MỤC TIÊU - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA ĐIỂM ĐIỀU TRA NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.2 Mục tiêu nghiên cứu 21

2.3 Nội dung nghiên cứu 21

2.4 Phương pháp điều tra nghiên cứu 22

2.5 Điạ điểm điều tra nghiên cứu: 23

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 26

3.1 Tổng số loài và sự đa dạng của nguồn tài nguyên cây thuốc ở khu Bảo tồn 26

3.1.1 Tổng số loài cây thuốc và sự đa dạng trong các bậc taxon 26

3.1.2 Sự phong phú về dạng sống 30

3.1.3 Sự đa dạng về bộ phận được sử dụng và giá trị chữa bệnh 31

3.2 Những cây thuốc tiềm năng ở khu Bảo tồn 35

Trang 7

3.2.1 Số loài cây thuốc nằm trong danh sách đang được khai thác thu mua: 35

3.2.2 Một số loài có giá trị sử dụng cao, gặp tương đối phổ biến ở khu Bảo tồn 38

3.3 Những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ở Việt Nam đã phát hiện thấy ở khu BT.L & SC Nam Xuân Lạc 43

3.3.1 Số loài cây thuốc thuộc diện bảo tồn ở Việt Nam hiện có tại khu Bảo tồn 43

3.3.2 Hiện trạng của các cây thuốc thuộc diện bảo tồn tại khu Bảo tồn 46

3.4 Tình hình quản lý cây thuốc ở khu BT L.&SC Nam Xuân Lạc 61

3.4.1 Một số loài cây thuốc vẫn bị khai thác: 61

3.4.2 Công tác quản lý cây thuốc gặp nhiều khó khăn: 61

3.5 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển tiềm năng cây thuốc ở khu BT.L & SC Nam Xuân Lạc 62

3.5.1 Về công tác quản lý 62

3.5.2 Thực hiện khai thác cây thuốc ở vùng đệm theo các tiêu chí GACP của WHO, 2003 63

3.5.3 Phát triển trồng thêm cây thuốc ở vùng đệm 63

3.5.4 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền làm nâng cao nhận thức cho người dân 64

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 8

xứ từ thực vật trên toàn thế giới mỗi năm đạt tới 16 tỷ Euro [53]

Nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, nước ta có nguồn tài nguyên thực vật đa dạng và phong phú Tuy nhiên, do hậu quả nặng nề của chiến tranh và ý thức của cộng đồng trong việc khai thác các nguồn tài nguyên trong đó có cây thuốc của nước ta chưa cao, đã dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng và đẩy một số loài vào nguy cơ tuyệt chủng Đứng trước thực trạng đó, nhiều hội nghị đã được tổ chức nhằm mục đích bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc Rất nhiều biện pháp đã được nêu ra trong đó, quan trọng nhất là phải tiến hành bảo tồn nguyên vị tại các Vường quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên

Khu Bảo tồn Loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc thuộc huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn được UBND tỉnh Bắc Kạn phê duyệt tại Quyết định số 342/QĐ-UB ngày 17/3/2004 với tổng diện tích tự nhiên là 1.788 ha nằm trên địa phận hai xã Xuân Lạc và Bản Thi, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn [36]

Là hành lang quan trọng nối liền Vườn quốc gia Ba Bể và Khu Bảo tồn thiên nhiên Nà Hang, nhiệm vụ của Khu Bảo tồn Loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc là bảo tồn sinh cảnh sống cho hai loài linh trưởng là Voọc đen má trắng và Voọc mũi hếch, đồng thời bảo vệ các loài động thực vật quý hiếm khác trong đó có các loài cây thuốc Trong những năm qua, mặc dù đã được bảo vệ nghiêm ngặt, nhưng các hoạt động khai thác cây thuốc trái phép vẫn diễn ra Điều đó đã có ảnh hưởng xấu đến tính đa dạng sinh học trong khu bảo tồn nói chung và nguồn tài nguyên cây thuốc nói riêng mà hiện tại vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về nguồn tài nguyên cây thuốc tại đây

Trang 9

Xuất phát từ những thực tế trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu nguồn

tài nguyên cây thuốc mọc tự nhiên ở Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn” làm luận văn Thạc sĩ Sinh học, chuyên ngành

Thực vật học

Trang 10

3

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Tình hình nghiên cứu về cây thuốc và bảo tồn cây thuốc trên thế giới

1.1.1 Tình hình nghiên cứu chung về cây thuốc

Từ cổ xưa, con người đã biết sử các loài thảo mộc để làm thuốc phòng và chữa bệnh Cách đây 3000 – 5000 năm, ở các nước có nền Y học cổ truyền lâu đời như Trung Quốc, Ấn Độ hay từ thời La Mã cổ đại,… đã có những bằng chứng về sự sử dụng cây thuốc [45] Cùng với sự phát triển và tiến hóa của xã hội loài người, những kiến thức và kinh nghiệm dùng cây thuốc của nhân loại đã trở nên vô cùng phong phú và đa dạng Số lượng các loại cây cỏ được dùng làm thuốc ngày càng được ghi nhận nhiều hơn

Ngày nay, trên thế giới ước lượng có khoảng 250.000 - 300.000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao, trong đó có khoảng 35.000 - 70.000 loài thực vật được

sử dụng vào mục đích làm thuốc chữa bệnh ở khắp nơi trên thế giới Theo thống kê

sơ bộ, Trung Quốc có trên 10.000 loài, Ấn Độ có khoảng 7.500 loài, Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài, Nepal có hơn 700 loài, Sri Lanka có khoảng 550 - 700 loài [45] Báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ghi nhận khoảng 3,5 đến 4 tỷ người trên thế giới ít nhiều đã được chăm sóc sức khỏe bởi y học cổ truyền Phần lớn trong số đó phụ thuộc vào nguồn dược thảo hoặc các chất chiết suất từ dược thảo [45]

Bên cạnh phương thức sử dụng cây thuốc theo y học cổ truyền, ngày nay nhờ

sự phát triển của khoa học kỹ thuật, người ta đi sâu nghiên cứu các hợp chất hóa học có trong cây cỏ có tác dụng chữa bệnh Hiện biết đã có trên 100 hợp chất hóa học tự nhiên được chiết từ 90 loài thực vật bậc cao để làm thuốc, hoặc từ đó tổng hợp nên những loại thuốc mới có hiệu lực chữa bệnh cao [45]

Cây thuốc không chỉ có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thuốc chữa bệnh, mà còn là nguồn tài nguyên có giá trị kinh tế cao Thị trường thảo dược thế giới vào năm 1999 đã đạt trị giá 19,4 tỷ USD, trong đó cao nhất là châu Âu (6,7 tỷ USD), tiếp theo là châu Á (5,1 tỷ USD), Bắc Mỹ (4,0 tỷ USD), Nhật Bản (2,2 tỷ

Trang 11

USD) [42] Đã có những ước tính tổng giá trị buôn bán cây thuốc (dược liệu) và các chế phẩm thuốc có xuất xứ từ thực vật trên toàn thế giới mỗi năm đạt tới 16 tỷ Euro [53] Tại Trung Quốc, có khoảng 1.000 loài cây thuốc thường xuyên được sử dụng, với tổng giá trị là 11 tỷ Nhân dân tệ (1992), sản phẩm cây thuốc của Trung Quốc ở mức 1,6 triệu tấn trong năm 1996, với tổng giá trị (không tính xuất khẩu) về thành phẩm khoảng 3,7 tỷ USD [42] Tại Nhật Bản, có đến 41,7% dân sử dụng thuốc cổ truyền trong các hoạt động chữa bệnh, với tổng chi tiêu cho y học cổ truyền là 150 triệu USD (1983) [45] Tại Ấn Độ, có 400 loài trong số 7.500 loài cây thuốc thường xuyên được sử dụng tại các xưởng sản xuất thuốc nhỏ [45] Doanh số bán thuốc cây

cỏ ở các nước Tây Âu năm 1989 là 2,2 tỷ USD so với tổng doanh số buôn bán dược phẩm là 65 tỷ USD [45] Ở Mỹ mỗi năm lợi nhuận thu được từ cây thuốc khoảng 1,5 tỷ USD [52]

1.1.2 Nghiên cứu bảo tồn cây thuốc

Là một nguồn tài nguyên phong phú lại mang lại giá trị sử dụng cao nên từ lâu, các loài cây thuốc đã được đầu tư nghiên cứu và khai thác Tuy nhiên, hầu hết các loài cây thuốc được khai thác từ tự nhiên nên với việc khai thác quá mức của con người đã dẫn đến sự báo động về hiện tượng thu hẹp đáng kể đa dạng sinh học nói chung và cây thuốc nói riêng

Tổng số loài cây thuốc được trồng là rất ít, như ở Trung Quốc - quốc gia có diện tích trồng cây thuốc lớn nhất, cũng chỉ có 100 – 250 loài được trồng Ở Châu

Âu, chỉ 130 – 140 trong số hơn 1000 loài được mua bán có nguồn gốc từ trồng trọt

Có rất nhiều nơi trên thế giới, hầu như không có bất kỳ canh tác cây thuốc nào trên quy mô lớn [42] Chính vì vậy, IUCN cảnh báo có tới 30.000 loài thực vật bị đe dọa, trong đó có nhiều loài cây thuốc [45] Alan Hamilton, thành viên của Quỹ Thế giới Bảo vệ Thiên nhiên (WWF), thống kê có tới 4.000 - 10.000 loài cây cỏ dùng làm thuốc có nguy cơ bị tuyệt chủng [53]

Theo UNDP, ước tính có khoảng 316 loài cây thuốc ở Ấn Độ đang bị đe dọa tuyệt chủng, gây nguy hiểm cho cuộc sống và chăm sóc sức khỏe [42]

Trang 12

5

Theo He Shan An và Cheng Zhong Ming thì ở Trung Quốc, một số loài

Dioscorea spp vốn mọc tự nhiên ở nhiều nơi, vào những năm 50 có thể khai thác

300.000 tấn, đến nay đã bị giảm sút nhiều do khai thác quá mức, thậm chí phải trồng [45]

Ngoài mục đích làm thuốc, một số loại cây thuốc đôi khi bị khai thác quá mức

để phục vụ cho mục đích khác hơn là chữa bệnh như trường hợp của cây Acacia

Senegal (trị viêm phế quản), Pterocarpus angolensis (trị nấm) đã bị thu thập vì mục

đích thương mại hơn là sử dụng [42]

Hamilton cũng cho rằng những mối đe dọa đối với các loài cây thuốc cũng tương tự như những mối đe dọa đến đa dạng thực vật nói chung Trong đó, mất sinh cảnh, suy thoái môi trường sống và khai thác quá mức là những mối đe dọa nghiêm trọng nhất [42]

Thảm thực vật trên thế giới đang bị thay đổi và bị phá hủy ở mức báo động Rừng ẩm nhiệt đới, nơi sống của một nửa số loài thực vật trên thế giới, đang trong tình trạng nguy hiểm, giảm khoảng 16,8 triệu ha/năm theo UNEP/FAO [46] Cùng với việc khai thác, việc mất sinh cảnh đã đặt nhiều cây thuốc vào nguy cơ xói mòn

di truyền nghiêm trọng và thậm chí tuyệt chủng [46]

Nhận ra rằng cây thuốc là rất cần thiết trong việc chăm sóc sức khỏe ban đầu,

cả trong tự điều trị và trong các dịch vụ y tế quốc gia nhưng lại đang phải đối mặt với những hậu quả của sự mất mát của đa dạng thực vật trên thế giới; tại Chiang Mai, Thái Lan 26/3/1988, các thành viên của Hội nghị Quốc tế về Bảo tồn cây thuốc đã kêu gọi tất cả mọi người cam kết “Cứu thực vật để bảo vệ cuộc sống” [46] Trước thực trạng suy giảm nghiêm trọng của nguồn tài nguyên cây thuốc, rất nhiều hội nghị được mở ra, nhiều biện pháp được đề cập nhằm mục đích bảo tồn và phát triển tài nguyên sinh vật nói chung và thực vật làm thuốc nói riêng Trong đó các loài sinh vật có nguy cơ bị đe dọa trên toàn thế giới được IUCN tập hợp lại trong Sách đỏ nhằm khuyến cáo và đinh hướng cho công tác bảo tồn [45] Từ đó, mỗi quốc gia có thể xây dựng Sách đỏ của mình để cảnh báo mức độ đe dọa của một loài sinh vật nào đó

Trang 13

Khi đề cập đến vấn đề cây thuốc đang bị đe dọa, O Akerel cho rằng: vấn đề bảo tồn cây thuốc ở các quốc gia chính là sự nhận biết và bảo tồn giá trị sử dụng chúng trong Y học dân tộc Còn theo Hamann (1991), không có cách nào khác là phải nắm vững về phân bố và tình hình hiện trạng của chúng để thiết lập các khu bảo tồn nguyên vị và bảo tồn chuyển vị [45]

Phương tiện tốt nhất của bảo tồn là để đảm bảo rằng các quần thể của các loài thực vật và động vật tiếp tục phát triển và tiến hóa trong tự nhiên - trong môi trường sống tự nhiên của chúng Như vậy bảo tồn tại chỗ cây thuốc phải được thực hiện song song với bảo tồn thiên nhiên [46]

Phương pháp bảo tồn nguyên vị được thực hiện tại các Vườn quốc gia, hoặc khu bảo tồn thiên nhiên mà ở đó các loài cây thuốc được giữ gìn nguyên vẹn là lâu dài ngay trong các hệ sinh thái tự nhiên vốn có của chúng Bảo tồn chuyển vị là bảo toàn các bộ phận hợp thành của ĐDSH bên ngoài môi trường sống tự nhiên của chúng (Công ước ĐDSH, 1992) Nói cách khác, đó là sự duy trì các cơ thể và các

bộ phận sống của sinh vật bên ngoài môi trường sống vốn có của chúng trong những điều kiện, phương tiện như Vườn sinh vật, Ngân hàng hạt, Ngân hàng gen in-vitro hoặc Ngân hàng gen đồng ruộng [45, 47, 48]

Biện pháp bảo tồn lý tưởng nhất các loài được bảo tồn và phát triển trong quần thể tự nhiên Tuy nhiên, các loài cũng cần được bảo tồn chuyển vị (tức là bên ngoài môi trường sống của chúng) Hai biện pháp này nên được thực hiện đồng thời để đảm bảo kết quả được tốt nhất Loài được bảo tồn chuyển vị vẫn có thể bị xói mòn

di truyền và phụ thuộc vào chăm sóc liên tục của con người Vì vậy, bảo tồn chuyển

vị không thể thay thế, mà cần phải bổ sung với bảo tồn nguyên vị [42, 43]

Theo IUCN (2008), tính đến năm 2004, trên thế giới có hơn 100.000 khu bảo tồn thiên nhiên (trong đó có cả các Vường quốc gia), chiếm 11,7% diện tích đất liền toàn thế giới Vườn quốc gia chiếm số lượng và diện tích lớn nhất, tiếp đến là các khu bảo tồn loài và sinh cảnh [51] Trong đó có 152 vườn của 33 quốc gia là chuyên trồng cây thuốc (có tên là vườn cây thuốc) hoặc có trồng cây thuốc cùng với các loại cây kinh tế khác như ở Liên Xô (cũ) có 31 vườn, Nhật Bản: 26 vườn (có 10

Trang 14

7

vườn cây thuốc); Hoa Kỳ: 13 vườn (2 vườn cây thuốc); Ba Lan: 10 vườn (trong đó

có tới 5 vườn chủ yếu là cây thuốc); Trung Quốc: trong số 5 vườn thực vật Quốc gia, có 2 vườn cây thuốc nổi tiếng thế giới [45] Năm 1986, ở Sri – Lanka, một hình thức bảo tồn cây thuốc mới được thực hiện dưới sự hỗ trợ của WHO, UNDP, WWF, Bộ Y tế Sri – Lanka đã thiết lập một vườn ươm trồng những loại cây thuốc thiết yếu để điều trị cho người bệnh [45]

Ngoài phương thức bảo tồn chuyển vị ở Vườn thực vật, người ta đã bắt đầu tiến hành bảo tồn cây thuốc bằng cách bảo tồn hạt tại "Seed Bank" hoặc các hình thức

"In-vitro conservation" khác [45, 47, 48]

Hiện nay, do hoạt động sản xuất công nghiệp của các nhà máy ngày càng tăng cùng với việc thiếu ý thức bảo vệ môi trường của con người khiến cho môi trường ngày càng ô nhiễm dẫn rất nhiều loại bệnh tật và dịch bệnh như: ung thư, AIDS, các đại dịch cúm H5N1, H1N1 Người ta nhận thấy rằng sức khỏe của hàng trăm triệu người trên địa cầu có thể gặp nguy hiểm do những loại cây dùng làm thuốc đang bị khai thác quá mức Sara Oldfield, tổng thư ký của Tổ chức bảo tồn các vườn bách thảo quốc tế đã nhận xét:"Sự biến mất của các cây thuốc là một thảm họa thực sự" Tuy nhiên, để tiến hành bảo tồn có hiệu quả thì vấn đề triển khai các nghiên cứu nhằm hoàn thiện các dẫn liệu khoa học của các loài cần bảo tồn là hết sức quan trọng Bên cạnh đó phải tạo ra những động lực để người dân bảo vệ chúng Mặc dù trên thế giới có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và kinh nghiệm sử dụng dược liệu làm thuốc có từ xa xưa, nhưng hiện tại hệ thống bảo tồn, gìn giữ, xây dựng và phát triển nguồn gen và giống cây thuốc mới phát hiện được khoảng 50.000 loài cây thuốc Trong số đó, đa số các cây thuốc quý hiếm lại đang có nguy cơ tuyệt chủng Như vậy công tác nghiên cứu và bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc là một việc làm cần thiết hơn bao giờ hết, nó không chỉ ở riêng một quốc gia mà phải tiến hành trên toàn thế giới

1.2 Tình hình nghiên cứu về cây thuốc và bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam

1.2.1 Khái quát về thực trạng và giá trị nguồn tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, khu vực Đông Nam

Trang 15

Á Việt Nam có đường biên giới trên đất liền dài 4.550 km tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, với Lào và Căm-pu-chia ở phía Tây, phía Đông giáp biển Đông

đến 8027’ Bắc, dài 1.650 km theo hướng bắc nam, phần rộng nhất trên đất liền khoảng 500 km; nơi hẹp nhất gần 50 km [51]

Đất nước Việt Nam có địa hình đa dạng với hai vùng đồng bằng châu thổ lớn là Sông Hồng ở phía Bắc và Sông Cửu Long ở phía Nam; có hai dãy núi lớn là Hoàng Liên Sơn và Trường Sơn với nhiều vùng có độ cao trên 2.000 m và các cao nguyên nhỏ như Đồng Văn, Mộc Châu, Sơn La, Di Linh, … Việt Nam nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, nhiệt độ trung bình năm khác nhau giữa miền Bắc và miền Nam, lượng mưa trung bình lớn nhưng phân bố không đều trong năm [51] Các yếu tố địa hình và khí hậu đa dạng như vậy dẫn đến Việt Nam có thảm thực vật phong phú với nguồn tài nguyên thực vật đa dạng ước tính có khoảng 12.000 loài cây cỏ khác nhau và có người còn dự đoán có thể lên tới 13.000 đến 15.000 loài nếu được nghiên cứu đầy đủ [51]

Việt Nam là ngôi nhà chung của 54 dân tộc, thuộc 3 họ ngôn ngữ và 8 nhóm khác nhau, trong đó có nhiều dân tộc có quan hệ gần gũi với các quốc gia trong khu vực Để tồn tại đến ngày nay, các thế hệ đi trước của mỗi cộng đồng đã phải trả giá bằng cuộc sống và sức khỏe để tích lũy tri thức kinh nghiệm sử dụng cây thuốc ngày nay Mỗi dân tộc lại có tập quán, niềm tin, vì vậy tri thức kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc là rất đa dạng

Từ xa xưa, trước khi có sự xâm nhập vào Việt Nam của Trung y (thời kỳ Bắc thuộc: 197 trước công nguyên – 938 sau công nguyên) và Tây y (thời kỳ Pháp thuộc: 1884 – 1945), thì người Việt cổ trước đây và cộng đồng các dân tộc thiểu số

ở Việt Nam đã có nền y học dân gian, gia truyền bản địa phát triển rất phong phú và

đa dạng, rất nhiều loài cây thuốc đã được sử dụng để chữa bệnh [52] Thời các Vua Hùng (12879 - 257 trước công nguyên), cha ông ta đã biết uống nước vối, ăn gừng giúp tiêu hóa, nhai trầu để bảo vệ răng, Đời Thục An Dương Vương, lương y Thôi

Vỹ đã biết châm cứu để chữa bệnh Đời nhà Lý, người dân đã trồng thuốc Nam ở

Trang 16

9

làng Đại Yên (Hà Nội), Nghĩa Trai (Hải Hưng) Đời nhà Trần đã thành lập Thái Y viện và tổ chức đi tìm cây thuốc ở núi Yên Tử (Quảng Ninh) và xây dựng vườn cây thuốc gọi là “Dược sơn” ở Chí Linh – Hải Dương [51]

Chính bởi vai trò rất quan trọng mà ngay từ thời xưa, chúng ta đã có rất nhiều tài liệu ghi chép lại đặc điểm của cây thuốc cũng như công dụng của chúng trọng đó phải kể tới cuốn "Nam Dược thần hiệu" của danh y Tuệ Tĩnh đã mô tả được 496 loài cây làm thuốc [27] Năm 1772, Hải Thượng Lãn Ông cho xuất bản bộ sách

"Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh" gồm 66 quyển về y lý và cây thuốc [27]

Trong thời kỳ 1884 - 1945, thực dân Pháp đô hộ nước ta khiến Y học cổ truyền không được chú ý đúng mức Tuy nhiên có một số nhà thực vật học, dược học người Pháp nghiên cứu nhưng với mục đích chính là để khai thác tài nguyên Trong

đó phải kể đến một số nhà dược học nổi tiếng như Crévost, Pételot, đã xuất bản

bộ "Catalogue des produits de L’ indochine" (1928-1935), trong đó tập V (Prodiuits medicinaux, 1928) đã mô tả 368 cây thuốc là các loài thực vật có hoa [50]

Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc năm 1954, nhận thức được vai trò và tiềm năng của cây thuốc trong công tác chăm sóc sức khỏe, chữa trị bệnh tật và phát triển kinh tế, bảo vệ bản sắc văn hóa các dân tộc Ngay từ ngày hòa bình lập lại, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác điều tra, nghiên cứu nguồn cây thuốc ở Việt Nam nhằm mục đích phục vụ sức khỏe cho nhân dân Ngoài ra nhà nước cũng quan tâm đầu tư cho việc sưu tầm các nguồn tài liệu về thuốc Nam, tổ chức điều tra, phân loại, tìm hiểu dược tính, thành phần hóa học, lập bản đồ dược liệu trong cả nước Đồng thời cũng phát triển việc nghiên cứu, sản xuất các loại thuốc từ nguồn cây cỏ trong thiên nhiên Người có công lớn trong lĩnh vực này là GS.TS Đỗ Tất Lợi, một người đã dày công nghiên cứu và xuất bản nhiều tài liệu liên quan đến các bài thuốc của các dân tộc Từ năm 1962-1965, Đỗ Tất Lợi lại cho xuất bản bộ sách

"Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" gồm 6 tập Đến năm 1969 tái bản thành 2 tập, trong đó giới thiệu trên 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, động vật và khoáng vật Ông đã kiên trì nghiên cứu, bổ sung về cây thuốc liên tục trong các

Trang 17

công trình của ông Lần tái bản thứ 7 (1995) số cây thuốc của ông nghiên cứu đã lên tới 792 loài [16]

Đề cập tới cây thuốc trong hệ thực vật Việt Nam, Võ Văn Chi là người từ lâu

có rất nhiều tâm huyết nghiên cứu Năm 1976, trong luận án phó tiến sĩ khoa học của mình, ông đã thống kê có 1.360 loài cây thuốc, thuộc 192 họ trong ngành thực vật hạt kín ở miền Bắc [9] Đến năm 1989, trong báo cáo tham gia Hội thảo quốc gia về cây thuốc lần thứ II tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, Võ Văn Chi đã giới thiệu một danh sách các cây thuốc Việt Nam trong đó có 2.280 loài cây thuốc bậc cao có mạch, thuộc 254 họ, trong 8 ngành Có thể nói, công bố này đã giới thiệu một số lượng cây thuốc lớn nhất tính tới thời điểm đó [10]

Nhắc đến các công trình nghiên cứu về cây thuốc ở nước ta thì không thể không nhắc đến bộ sách “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” do nhiều đồng tác giả xuất bản năm 2004 Đây là bộ sách chứa đựng một khối lượng lớn dữ liệu khoa học toàn diện về dược liệu, đặc biệt là cây thuốc, được tập hợp từ những kết quả nghiên cứu của các đồng tác giả, đồng thời cũng được tham khảo đúc kết từ nhiều tạp chí khoa học có uy tín trong nước và trên thế giới Đặc biệt, bộ sách cung cấp những thông tin khoa học rất phong phú và cập nhật cho đến những năm gần đây nhất về thành phần hóa học, tác dụng dược lý thực nghiệm và dược lý lâm sàng của cây thuốc [8]

Theo kết quả điều tra gần đây nhất của Viện Dược liệu – Bộ Y tế, tính đến năm

2005, đã phát hiện có 3.948 loài thực vật và nấm lớn được dùng làm thuốc, thuộc

307 họ của 9 ngành và nhóm thực vật khác nhau Trong đó có 52 loài Tảo biển, 22 loài Nấm, 4 loài Rêu và 3.870 loài Thực vật bậc cao có mạch [31] Điều này cho thấy rằng nguồn tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam vô cùng đa dạng, phong phú và

dự đoán có thể lên tới 6.000 cây thuốc nếu được nghiên cứu đầy đủ trong tương lai [31]

Nguồn tài nguyên cây thuốc phong phú về thành phần loài và có trữ lượng lớn Vài chục năm trở về đây, ngoài việc người dân tự thu hái để chữa bệnh, cây thuốc còn được khai thác trên quy mô lớn để làm nguyên liệu sản xuất dược phẩm Nhu

Trang 18

11

cầu dược liệu cho khối công nghiệp dược khoảng 20.000 tấn và cho xuất khẩu là 10.000 tấn hàng năm Năm 1998, Tổng công ty Dược Việt Nam xuất khẩu được 13 triệu USD trong đó dược liệu, tinh dầu và các hoạt chất từ cây thuốc chiếm 74% Tiềm năng cung cấp dược liệu có thể đạt 500 – 800 tỷ đồng [31]

Tuy nhiên trên thực tế do khai thác bừa bãi, không hợp lý, nhiều loài cây thuốc trước đây có trữ lượng lớn như Ngũ gia bì các loại, Thiên niên kiện, Cẩu tích, Vàng đắng, … nhưng do tiếp tục bị thu hái theo kiểu tận thu làm mất khả năng tái sinh tự

nhiên dẫn đến cạn kiệt nhanh chóng Một số loài như Vàng đắng (Coscinium

fenestratum), Hoàng đằng (Fibraurea spp.) Ba kích (Morinda quinquesecta), … đã

trở nên rất hiếm hoặc không còn khả năng khai thác lớn [31]

1.2.2 Nghiên cứu bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam

Là một quốc gia đông dân, lại chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh cùng với chính sách khai thác tài nguyên chưa hợp lý và ý thức của người dân chưa tốt dẫn đến việc thu hẹp đáng kể diện tích rừng mà kèm theo đó là sự cạn kiệt tài nguyên rừng Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, diện tích rừng tự nhiên của nước ta đã giảm từ 14,3 triệu ha (độ che phủ 43%) xuống còn 13,2 triệu ha (độ che phủ 39,1%)

từ năm 1945 đến năm 2009 trong đó có những lúc đã giảm xuống 9,3 triệu ha vào năm 1995 Mất rừng cũng đồng nghĩa với mất đi mọi nguồn tại nguyên của rừng trong đó có cây thuốc Vì vậy, với mục đích bảo vệ rừng, Nhà nước ta đã sớm có những quy định về việc bảo vệ rừng như: Pháp lệnh bảo vệ rừng (1972), Luật Bảo

vệ và phát triển rừng (2004), ….[33]

Nhận thức được vai trò và tiềm năng của cây thuốc trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng, Nhà nước Việt Nam đã tích cực tham gia và phê chuẩn các công ước quốc tế như: Công ước Đa dạng sinh học (1992), Kế hoạch hành động đa dạng sinh học (1994) và ban hành nhiều luật và chính sách có gắn liền với chăm sóc sức khỏe, phát triển ngành Dược và bảo tồn cây thuốc

Nguyễn Tập trong tạp chí Lâm nghiệp số tháng 7/1984 và Tạp chí hoạt động khoa học, kỹ thuật, số tháng 11/1990 đã nêu lên ba vấn đề chủ yếu dẫn đến sự suy thoái nguồn tài nguyên cây thuốc ở nước ta: Khai thác quá mức, không chú ý bảo vệ

Trang 19

tái sinh tự nhiên; do nạn phá rừng làm nương rẫy, hồ thủy điện đã hủy hoại hàng loạt quần thể rừng, trong đó có nhiều vùng cây thuốc mọc tập trung và do các nguyên nhân khác, như tu bổ rừng, khai thác rừng, trồng rừng mới, làm thay đổi hệ sinh thái tự nhiên vốn có của cây thuốc [19]

Do lợi nhuận trước mắt, nhiều loài cây thuốc bị khai thác ồ ạt không chú ý bảo

vệ tái sinh, thêm vào đó là nạn phá rừng làm nương rẫy đã làm cho các loài cây thuốc bị sa sút về trữ lượng nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng

Theo Nguyễn Tập (1996), tất cả các vùng núi trước khi tập trung nhiều cây thuốc, nay đã bị thu hẹp hoặc mất hẳn Tình trạng suy giảm này, càng trở nên gay gắt đối với những cây thuốc quý vốn hiếm gặp ở Việt Nam Chúng bị tìm kiếm ráo

riết đến mức kiệt quệ như Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidus Seem.), Sâm ngọc linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.), Tam thất hoang (Panax stipuleanatus H.T Tsai et K.M.feng), Hoàng tinh vòng (Polygonatum kingianum Collett et Hemsl.), Hoàng liên (Coptis spp.) hầu hết đã và đang đang lâm vào tình trạng bị đe dọa

tuyệt chủng [21]

Bên cạnh đó là nhiều nghiên cứu của một số tác giả khác về việc bảo tồn những loài thực vật quý hiếm và có nguy cơ bị tiêu diệt ở nước ta như Nguyễn Tiến Bân [2, 3]; Phan Kế Lộc, Nguyễn Văn Yên [15],

Với nỗ lực bảo tồn các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng, ngay từ những năm đầu thập kỷ 70 của thế kỷ trước, IUCN đã thu thập được nhiều thông tin của hơn 30.000 loài thực vật trên thế giới [31] Căn cứ vào các thông tin này, IUCN đã 3 lần đưa ra những tiêu chuẩn để đánh giá về tình trạng bị đe dọa đối với mỗi loài [47, 48] Dựa trên cơ sở các loài thực vật bị đe dọa ở Việt Nam, năm 1996, Sách đỏ Việt Nam – Phần II – Về Thực vật đã được biên soạn, trong đó có 365 loài thực vật, thuộc 265 chi, 123 họ, 9 ngành [3] trong đó có các loài làm thuốc Đến năm 2007, Sách đỏ Việt Nam, phần II – Thực vật lại được bổ sung và tái bản, trong đó có đề cập tới

448 loài [3] Đây cũng chính là cơ sở để định hướng cho kế hoạch bảo tồn

Căn cứ vào kết quả điều tra tiềm năng và hiện trạng cây thuốc ở Việt Nam, các thông tin đã được công bố và các tiêu chí trong khung phân hạng của IUCN,

Trang 20

13

Nguyễn Tập đã 3 lần xây dựng và công bố “Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam” vào các năm 1996, 2001, 2006 [22]; trong đó “Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam” công

bố năm 2006 bao gồm 144 loài cây thuốc được phân hạng cụ thể ở các mức độ:

- Đang cực kỳ nguy cấp (CR): 18 loài (Sâm vũ diệp, Sâm Ngọc Linh, Tam thất hoang, Hoàng liên, Hoàng liên bắc, Hoàng liên ô rô lá dày, …)

- Đang bị nguy cấp (EN): 57 loài (các loài Hoàng tinh, Bảy lá một hoa, Tế tân, Thổ hoàng liên, …)

- Sắp bị nguy cấp (VU): 69 loài (một số loài Ba gạc, Bình vôi, Thiên niên kiện hiếm, …)

Việc xây dựng được “Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam” là kết quả trước tiên của công tác bảo tồn và là cơ sở khoa học đầy thuyết phục trong định hướng phương thức bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam [24]

Bảo tồn cây thuốc nói riêng ở nước ta được tiến hành đồng thời dưới hai hình thức là Bảo tồn nguyên vị (In situ) và Bảo tồn chuyển vị (Ex situ), kết hợp với trồng thêm những loài cây thuốc đang có nhu cầu cao

Cũng theo những nghiên cứu của một tập thể các nhà khoa học, việc bảo tồn nguyên vị các cây thuốc đã được tiến hành điều tra nghiên cứu và bảo tồn tại 11 Vườn quốc gia (VQG) và 2 Khu bảo tồn thiên nhiên (Khu BTTN) [31, 41], cụ thể như sau:

Bảng 1.1 Các Vườn quốc gia và Khu Bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam

TT Tên VQG/Khu BTTN Thời gian

thực hiện

Số loài cây thuốc được phát hiện

Số loài cây thuốc

có tên trong DLĐCTVN

Nguồn

Bảo tồn và phát triển nguồn gen và giống cây thuốc

Trang 21

11 VQG Xuân Sơn 2008 665 22

ĐDSH và Bảo tồn nguồn gen sinh vật tại VQG Xuân Sơn – Phú Thọ

12 Khu BTTN Nà Hang 2002 81 14 Bảo tồn và phát

triển nguồn gen và giống cây thuốc

Song song với quá trình bảo tồn nguyên vị trên, Viện Dược liệu cũng đã tiến hành thu thập và bảo tồn chuyển vị cây con và hạt giống của 70 loài cây thuốc bị đe dọa ở Việt Nam trong đó đáng chú ý có một số loài thuộc diện đặc biệt quý hiếm ở Việt Nam, có nguy cơ tuyệt chủng cao như 3 loài sâm mọc tự nhiên, 3 loài Hoàng liên gai, 3 loài Hoàng liên ô rô, 3 loài Tế tân, 4 loài Ba gạc, 2 loài Hoàng tinh, … Kết hợp với quá trình bảo tồn, nhiều loài cây thuốc cũng đã được đi sâu nghiên cứu đưa vào trồng thêm tại chỗ để khai thác như Ngũ gia bì gai, Ngũ gia bì hương, Ba kích, Sì to,…[31]

Trong những kết quả điều tra nghiên cứu trên, điều quan trọng nhất là bước đầu

đã ghi nhận được vị trí phân bố và từng loài có tên trong Danh lục Đỏ cây thuốc ở từng Vườn quốc gia và Khu BTTN, từ đó là cơ sở để xây dựng các biện pháp bảo tồn thích hợp cho từng loài cây thuốc

Từ những công trình nghiên cứu về cây thuốc ở trên cho thấy, đề tài luận văn của chúng tôi cũng tiến hành theo định hướng này tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

1.3 Vài nét về điều kiện tự nhiên và xã hội khu vực nghiên cứu

1.3.1 Điều kiện tự nhiên [29]

Khu bảo tồn Loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc được thành lập theo quyết định

số 342/QĐ-UB ngày 17/3/2004 của UBND tỉnh Bắc Kạn, với diện tích 1.788 ha,

Trang 22

15

diện tích vùng đệm 7.508 ha Diện tích rừng tự nhiên chiếm trên 92% tổng diện tích khu bảo tồn, diện tích rừng ở đây chủ yếu nằm trên núi đá Khu Bảo tồn Loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc nằm trên địa phận 4 thôn Nà Dạ và Bản Khang thuộc xã Xuân Lạc; thôn Khuổi Kẹn, Kéo Nàng và thôn Phia Khao của xã Bản Thi, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn [36, 37]

Khu Bảo tồn ở cách trung tâm thị trấn Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn 35 km, tiếp giáp:

- Phía Bắc giáp thôn Bản Eng, Bản Tưn xã Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

- Phía Tây giáp xã Thanh Tương và xã Vĩnh Yên, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

- Phía Đông giáp thôn Nà Áng xã Đồng Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

- Phía Nam giáp thôn Phia Khao và thôn Khuổi Kẹn xã Bản Thi, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

 Khí hậu thủy văn

Khí hậu

Khu bảo tồn nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa

- Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau

- Nhiệt độ trung bình hàng năm là 20,10C; nhiệt độ trung bình cao nhất 26,70C vào tháng 7, nhiệt độ trung bình thấp nhất là 13,50C vào tháng 1

- Lượng mưa năm, tập trung vào tháng 6, 7 lên tới 340 mm, trung bình là 153 mm/năm phân bố không đều giữa các tháng trong năm

Sương muối mùa đông thường xuất hiện 1 đến 2 đợt, mỗi đợt từ 1 đến 3 ngày nhưng mức độ không cao, ít gây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống Thuỷ văn

Trong khu vực có một con suối chính bắt nguồn từ xã Vĩnh Yên huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang chảy theo hướng Tây-Bắc, qua các thôn Nà Dạ, Bản Eng, Bản Tưn, Bản Ó và Tà Han của xã Xuân Lạc rồi đổ ra Hồ Ba Bể với chiều dài suối dài khoảng 9km, thường có nước quanh năm nhưng về mùa đông thì mực nước thấp

Trang 23

hơn Ngoài ra còn nhiều khe suối nhỏ bắt nguồn từ các đỉnh núi cao đổ xuống suối

Tà Han Do hiện tượng Cáxtơ nên một số khe suối có đoạn chảy ngầm trong lòng đất, có đoạn chảy nổi trên mắt đất

 Địa chất - Thổ nhưỡng

- Địa chất: Nền địa chất của Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc có nguồn gốc trầm tích nằm trong quy luật tạo sơn của vùng Đông Bắc Việt Nam Với các sản phẩm trầm tích chủ yếu là bội kết và cát kết cùng với đá vôi màu đen và màu xám sáng khó phong hóa Khu vực này tiếp giáp với khu khai thác quặng ở xã Bản Thi (chủ yếu là chì kẽm)

- Thổ nhưỡng: Trong khu vực gồm có hai loại đất chính :

+ Nhóm đất dốc tụ: nằm ở các thung lũng hình thành do quá trình bồi đắp phù

sa, đất tốt, tầng dày

+ Nhóm đất trên núi đá vôi: đất tốt, màu đen, tầng mỏng

1.3.2 Tình hình tài nguyên thực vật [18]

 Các kiểu thảm thực vật

Các kiểu thảm thực vật ở độ cao trên 700m

- Rừng kín thường xanh mưa mùa á nhiệt đới

- Rừng kín thường xanh trên núi đá vôi

- Rừng hỗn giao cây lá rộng lá kim

- Thảm cây bụi lùn trên đỉnh núi

Các kiểu thảm thực vật ở độ cao dưới 700m

- Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở đất thấp

- Rừng kín thường xanh trên núi đá vôi

- Rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác

- Rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy

- Thảm cây bụi có hay không có cây gỗ

 Thực vật rừng

Theo Báo cáo hợp phần thực vật của Chi cục Kiểm lâm Bắc Kạn tháng 6 năm

2010, kết quả điều tra thành phần thực vật đã ghi nhận được 515 loài thực vật bậc

Trang 24

17

cao có mạch thuộc 348 chi, 115 họ và 4 ngành như sau:

- Ngành Thông đất: 2 họ, 3 chi, 7 loài

- Ngành Dương xỉ: 6 họ, 7 chi, 13 loài

- Ngành Thông: 2 họ, 2 chi, 2 loài

- Ngành Ngọc lan: 104 họ, 336 chi, 496 loài, trong đó:

+ Lớp 2 lá mầm: 87 họ, 258 chi 363 loài

+ Lớp 1 lá mầm: 17 họ 78 chi 133 loài

Trong đó có 30 loài quí hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam

1.3.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Theo báo cáo về tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh năm 2012 và nhiệm vụ trọng tâm năm 2013 của xã Xuân Lạc và xã Bản Thi [38, 39]

 Dân số, lao động và dân tộc

Tình hình dân số vùng khu bảo tồn: Khu bảo tồn nằm trên địa bàn của xã Xuân Lạc, với tổng số 628 hộ, 3.247 khẩu, phần lớn là đồng bào Dao và Tày

Bảng 1.2 Tình hình dân số xã Xuân Lạc và xã Bản Thi

 Điều kiện sinh kế và đời sống

Trang 25

Bảng 1.3 Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Xuân Lạc

Diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ quá nhỏ so với tổng diện tích Trong đó

ngô, lúa nương, sắn…

Ruộng nước được phân bố nơi thấp gần khu dân cư, ven suối và một số diện tích nhỏ ruộng bậc thang Năng suất lúa thấp do kỹ thuật canh tác chưa cao phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, giống chưa được cải thiện Lúa nương được canh tác trên các sườn đồi, núi thấp Do đất dốc và hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên năng suất không cao và bấp bênh Diện tích lúa nương thường không ổn định do sự du canh qua nhiều vùng khác nhau quanh các điểm dân cư Các loại rau màu thường như Ngô, Sắn… được trồng trên nơi đất cao, bằng phẳng nhưng không có điều kiện khai hoang ruộng nước Do diện tích ruộng nước chỉ hơn

1 sào/người, chủ yếu là 1 vụ, người dân phải làm nương rẫy để bổ sung nguồn lương thực Diện tích đất nương rẫy hiện nay tuy không cao nhưng nếu luân chuyển hàng năm thì diện tích rừng bị chuyển đổi sẽ tăng nhanh đáng kể

Trang 26

19

- Chăn nuôi

Chăn nuôi trong khu vực chưa phát triển và chưa được trú trọng đầu tư Thành phần đàn gia súc tương đối đơn giản, chủ yếu là Trâu, Bò, Ngựa, Lợn, Gà Ngựa là vật nuôi quan trọng đối với người dân vùng cao, trong khi chưa có đường giao thông thì ngựa còn là phương tiện vận chuyển hữu hiệu Công tác thú y chưa phát triển, các thôn bản chưa có cán bộ thú y hoặc cán bộ chưa qua trường lớp chính quy

Có một số hộ đã xây dựng ao nuôi cá, tuy nhiên số hộ chăn nuôi cá không nhiều, đa

số chỉ là các ao tạm thời, chưa có kỹ thuật chăn nuôi cá tốt Điều kiện tự nhiên ở địa phương rất thuận lợi cho phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm

- Lâm nghiệp

Trong khu vực không có hoạt động sản xuất lâm nghiệp của các Lâm trường khai thác gỗ của nhân dân mà chủ yếu là thu hái lâm sản tự phát Trước đây lâm sản chính do người dân khai thác từ rừng chủ yếu là gỗ, các loài động vật để phục vụ làm nhà và làm nguồn thực phẩm, đôi khi trở thành hàng hoá Từ khi thành lập Khu bảo tồn, thực hiện giao đất giao rừng (một số thôn), lực lượng Kiểm lâm đã cắm bản cùng người dân tham gia bảo vệ rừng thì hiện tượng khai thác gỗ và săn bắn thú rừng bừa bãi không còn xảy ra thường xuyên, công khai như trước Hiện nay, người dân chủ yếu thu hái nguồn lâm sản ngoài gỗ phục vụ nhu cầu tại chỗ

 Cơ sở hạ tầng

- Giao thông

Xã Xuân Lạc đã có đường giao thông đến trung tâm xã, từ trung tâm xã đi các thôn đều bằng đường đất Tuy nhiên do đường đất, độ dốc cao, nền địa chất kém bền vững nên hiện tượng sạt lở, thậm chí trượt núi gây tắc đường không có khả năng khắc phục ngay Hiện nay để đi một số thôn trong xã phải đi bộ Việc giao lưu văn hoá, hàng hoá gặp nhiều khó khăn, không muốn nói là cách biệt với bên ngoài

Xã đã chú trọng xây dựng đường liên thôn, xã, nhưng đường hẹp, dốc, lầy lội vào mùa mưa đi lại rất khó khăn

- Thuỷ lợi

Trên các khu vực canh tác nông nghiệp điều kiện nguồn nước không khó khăn,

Trang 27

nhưng do chưa được đầu tư nên hệ thống thuỷ lợi chưa phát triển Người dân địa phương thường đắp các phai đập nhỏ làm hệ thống tự chảy phục vụ sản xuất và sinh hoạt Các công trình tự tạo này chỉ tồn tại được trong mùa khô, đến mùa mưa chúng

bị nước cuốn trôi và rất cần đầu tư cho hệ thống thủy lợi để tăng năng suất cây trồng, tăng vụ trên diện tích đã có, đảm bảo an ninh lương thực, góp phần cho người dân tham gia vào công cuộc bảo tồn đa dạng sinh học

- Y tế, giáo dục

Xã có trạm y tế và cán bộ y tế, nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân dân địa phương và cần tăng cường cán bộ y tế tuyến xã để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân Các dịch bệnh lớn không xảy ra do làm tốt công tác phòng bệnh

Trong xã có trường tiểu học và trung học cơ sở, nhưng điều kiện cơ sở vật chất và giáo viên còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của con em nhân dân trong

xã Đa số trường học tại các thôn bản là nhà tạm, bàn ghế không đảm bảo Số trẻ em trong độ tuổi đi học phổ thông trung học được đến trường rất thấp

Trên đây là những thông tin khái quát về điều kiện tự nhiên và xã hội ở Khu BT.L & SC Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn Riêng về thực vật rừng

ở khu Bảo tồn, đáng lưu ý nhất là công trình điều tra nghiên cứu của Lê Đồng Tấn

và Đồng nghiệp (2010) Trong đó, các tác giả đã thống kê và định danh được các loài thực vật rừng đã biết, cùng với kết quả mô tả các kiểu thảm thực vật rừng chủ yếu ở đây Về khía cạnh bảo tồn, các tác giả cũng đã chỉ ra có 30 loài thực vật ở khu Bảo tồn có tên trong Sách Đỏ Việt Nam [18] Song cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào đi sâu điều tra về cây thuốc cũng như tập trung vào lĩnh vực bảo tồn nhóm tài nguyên này ở Khu BT.L & SC Nam Xuân Lạc

Trang 28

21

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG - MỤC TIÊU - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP

VÀ ĐỊA ĐIỂM ĐIỀU TRA NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Là các loài Nấm lớn và thực vật bậc cao có mạch mọc tự nhiên, có công dụng làm thuốc (đã biết hoặc mới thu thập được từ kinh nghiệm sử dụng của người dân địa phương) ở khu BT.L & SC Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

2.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung: Qua điều tra điều tra, cơ bản nắm được về tiềm năng và hiện

trạng nguồn cây thuốc thiên nhiên ở khu BT.L & SC Nam Xuân Lạc, làm cơ sở khoa học góp phần bảo tồn nguồn gen thực vật hiện có ở đây

Mục tiêu cụ thể:

- Xây dựng được “Danh lục cây thuốc ở khu BT.L & SC Nam Xuân Lạc”, qua

đó nắm được sự đa dạng về thành phần loài, về dạng sống, về giá trị sử dụng cũng như các loài tiềm năng trong nguồn tài nguyên cây thuốc ở khu Bảo tồn

- Xác định được Danh sách những loài cây thuốc nằm trong diện bảo tồn ở Việt Nam, đã phát hiện thấy và hiện trạng của chúng ở khu Bảo tồn

- Trên cơ sở của các kết quả điều tra, đề xuất một số giải pháp quản lý và bảo tồn nguồn cây thuốc ở đây, nhất là những loài đang bị đe dọa

2.3 Nội dung nghiên cứu

Để thực hiện được các mục tiêu trên, nội dung nghiên cứu bao gồm:

(1) Điều tra, thu thập các loài cây thuốc mọc tự nhiên hiện có, xây dựng “Danh

lục cây thuốc ở Khu BT.L & SC Nam Xuân Lạc” Danh lục được xây dựng theo thứ

tự các nhóm thực vật và theo vần ABC … tên khoa học của họ và loài Mỗi loài có: tên khoa học, tên Việt Nam thông dụng, tên gọi theo tiếng Tày ở địa phương (nếu có), dạng sống, công dụng làm thuốc và bộ phận dùng

Trang 29

(2) Căn cứ vào các thông tin trong Danh lục để phân tích về: Sự đa dạng trong các bậc Ngành, Họ, Chi và Loài; sự đa dạng về dạng sống cũng như về bộ phận dùng và công dụng làm thuốc

(3) Xác định danh sách một số loài cây thuốc tiềm năng, trong đó có đề cập một

số kết quả điều tra, quan sát về sự phân bố và hiện trạng có bị khai thác hay không (4) Xác định danh sách những loài cây thuốc nằm trong diện cần bảo tồn ở Việt Nam đã phát hiện thấy tại khu Bảo tồn, kèm theo thông tin về điểm phân bố (tọa độ địa lý), hiện trạng của từng loài có được bảo vệ hay bị xâm hại hay không

(5) Đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường quản lý bảo tồn tài nguyên cây thuốc ở khu Bảo tồn, nhất là những loài bị đe dọa đã phát hiện Đồng thời cũng đề xuất cả khả năng trồng thêm một số cây thuốc vốn có ở vùng đệm, tạo thêm thu nhập cho người dân địa phương

2.4 Phương pháp điều tra nghiên cứu

(1) Điều tra thu thập cây thuốc trên thực địa theo “Quy trình điều tra dược

liệu” của Bộ Y tế, 1973 [6] và “Phương pháp điều tra nghiên cứu cây thuốc” của

Nguyễn Tập, 2006 [23] Trong đó:

- Việc điều tra được tiến hành theo các tuyến định sẵn, đi qua các loại hình rừng chủ yếu của khu Bảo tồn, nhằm quan sát, thống kê được hết các cây thuốc hiện có trên các tuyến

- Điều tra phỏng vấn các Thầy lang địa phương (cùng đi điều tra) theo các thông tin được chuẩn bị trước theo mẫu kẻ sẵn, thu mẫu để xác định tên khoa học và chụp ảnh

- Các thông tin về cây thuốc thu thập và quan sát được, bao gồm: tên cây, dạng sống, bộ phận dùng, công dụng; tọa độ địa lý nơi phát hiện và tình trạng của cây

được ghi vào phiếu kẻ sẵn (Phiếu Điều tra cây thuốc - Mẫu ở phần Phụ lục)

(2) Xác định tên khoa học cây thuốc: Theo phương pháp phân tích so sánh các

đặc điểm hình thái, đối chiếu với các khóa phân loại chi và loài trong các bộ Thực vật chí Việt Nam, Thực vật chí nước ngoài (Thực vật chí Trung Quốc, Thực vật chí Thái Lan) và các tài liệu về thực vật và cây thuốc hiện có [40]

Trang 30

23

(3) Làm tiêu bản thực vật - cây thuốc: Theo các phương pháp làm tiêu bản thực

vật hiện hành, bao gồm các bước: Lấy mẫu có đủ hoa hoặc quả, hoặc có một trong 2

bộ phận này; xử lý tại thực địa bằng cồn loãng (40 - 50%) Khi đem về phòng thí

với 5% HgCl; ép và sấy khô lần 2; khâu trên giấy croquis và dán nhãn [23]

(4) Xây dựng các loại Danh lục cây thuốc:

- Danh lục cây thuốc xây dựng theo vần ABC … họ thực vật và theo chi và loài Trong đó, thông tin về mỗi loài gồm có: Tên cây thuốc Việt Nam thông dụng, tên gọi theo tiếng Tày ở địa phương nghiên cứu, tên khoa học, dạng sống (G - cây gỗ, B

- cây bụi và cây bụi trườn, L - dây leo cỏ và dây leo gỗ, T - cây thân cỏ), bộ phận dùng, công dụng làm thuốc [23]

- Danh lục các cây thuốc tiềm năng: Căn cứ vào “Danh mục thuốc thiết yếu Việt

Nam lần thứ V” của Bộ Y tế [30] và “Danh mục 40 dược liệu có tiềm năng khai thác và phát triển thị trường” của Bộ Y tế [32]

- Danh lục các cây thuốc quí hiếm cần bảo tồn ở Việt Nam đã phát hiện thấy tại

khu Bảo tồn: Căn cứ vào “Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam”, 2006 [22]; “Sách Đỏ

Việt Nam, phần II – Thực vật”, 2007 [3] và “Danh sách những loài thực vật nguy cấp quí hiếm” trong Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Thủ tướng chính phủ, ngày

30 tháng 3 năm 2006 [35]

(5).Ghi nhận điểm phân bố: Ứng dụng hệ thống định vị toàn cầu (GPS) để xác

định tọa độ địa lý, độ cao so với mặt biển (Alt.) tại các điểm có các cá thể hay tiểu

quần thể của những loài cây thuốc thuộc diện quí hiếm đã phát hiện tại khu Bảo tồn

2.5 Điạ điểm điều tra nghiên cứu:

(1) Địa điểm điều tra nghiên cứu: Khu BT.L & SC Nam Xuân Lạc, huyện Chợ

Đồn, tỉnh Bắc Kạn; thuộc các xã Xuân Lạc, Bản Thi và Đồng Lạc

Trang 31

- Tuyến 3: Đồi Lùng Mướu (Mớh), Còi Trang (Vùng đệm)

- Tuyến 4: Khu Khau Muồng, Khe Búp Nì, Rừng Thưa Tèo (Vùng đệm)

- Tuyến 5: Vùng Then Lài, Khe Nà Chăm, Khe Lùng Húng (Vùng đệm)

- Tuyến 6: Vùng rừng Khuổi Poòng, từ thôn Khuổi Kẹn lên gần tới mốc giới 47 (phân khu bảo vệ nghiêm ngặt)

- Tuyến 11: Khu vực Lũng Lỳ (phân khu bảo vệ nghiêm ngặt)

- Tuyến 12: Khu vực Lũng Tre (phân khu bảo vệ nghiêm ngặt)

Trong tổng số 12 tuyến khảo sát, có 7 tuyến nằm trong phân khu bảo vệ nghiêm

ngặt và 5 tuyến ở vùng đệm của khu Bảo tồn Các tuyến nghiên cứu này đều đi qua

các kiểu rừng kín thường xanh (thứ sinh) trên núi đất, núi đá vôi (vùng đệm) và

rừng kín thường xanh (thứ sinh hoặc còn tương đối nguyên sinh) trên núi đá vôi (vùng bảo vệ nghiêm ngặt)

Bản đồ các tuyến điều tra

Trang 32

25

CHÚ THÍCH

Trang 33

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1 Tổng số loài và sự đa dạng của nguồn tài nguyên cây thuốc ở khu Bảo tồn

3.1.1 Tổng số loài cây thuốc và sự đa dạng trong các bậc taxon

Tổng hợp kết quả các đợt điều tra thực địa và nghiên cứu giá định các tiêu bản thu thập đã thống kê được ở khu BT.L & SC Nam Xuân Lạc, tỉnh Bắc Kạn có 458 loài cây thuốc, thuộc 345 chi, 132 họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch và Nấm lớn Tính đa dạng về thành phần loài cây thuốc không chỉ thể hiện ở số lượng các taxon mà còn thể hiện ở sự phân bố của các taxon trong các ngành khác nhau Kết quả này được thể hiện trong Bảng 3.1 và Hình 3.1

Bảng 3.1 Sự phân bố trong các bậc taxon của các loài cây thuốc ở khu BT.L&SC NXL

Trang 34

Hình 3.1 Sự phân bố trong các bậc taxon của các loài cây thuốc

ở khu BT.L&SC.NXL

Như vậy, xét về sự phong phú giữa các ngành trên đây cho thấy ngành Ngọc lan được coi là phong phú và đa dạng nhất do có tới 433 loài (chiếm 94,54% tổng số loài cây thuốc), ngay cả số chi và số họ cũng chiếm phần lớn (94,20% số chi và 87,35% số họ) Tiếp đến là ngành Dương xỉ với 17 loài (chiếm 3,70% tổng số loài),

14 chi (chiếm 4,06%) và 12 họ (chiếm 9,09%) Ngành Thông đất và Nấm đều chiếm tỉ lệ bằng nhau với 3 loài (chiếm 0,66%), thuộc 2 chi (chiếm 0,58%) và 2 họ (chiếm 1,52%) Chiếm tỉ lệ ít nhất về số lượng các loài chính là ngành Thông, chỉ

có 2 loài thuộc 2 chi và 2 họ (chiếm 0,44% tổng số loài)

Mức độ phong phú không chỉ chênh lệch ở mức độ ngành mà ngay bản thân trong ngành Ngọc lan, sự phong phú của 2 lớp Ngọc lan và lớp Hành cũng có sự chênh lệch khá rõ, điều này được thể hiện trong Bảng 3.2 và Hình 3.2

Bảng 3.2 Sự phân bố các taxon của các cây thuốc thuộc ngành Ngọc lan

Lớp Ngọc lan

Trang 35

Hình 3.2 Sự phân bố các taxon của các cây thuốc thuộc ngành Ngọc lan

Như vậy, Bảng 3.2 cho thấy sự phân bố các taxon trong ngành Ngọc lan là rất chênh lệch giữa hai lớp, trong đó chiếm ưu thế hơn hẳn đó là lớp Ngọc lan với 353 loài thuộc 269 chi và 94 họ, đều chiếm tỉ lệ rất cao ở các bậc taxon (81,57% tổng số loài , 82,52% tổng số chi, 82,61% tổng số họ của ngành Ngọc lan) trong khi lớp Hành chỉ có 80 loài thuộc 57 chi, 20 họ (chiếm 18,43% số loài, 17,48% số chi và 17,39% số họ của ngành)

Mặc dù giữa hai lớp của ngành Ngọc lan có sự chênh lệch về mức độ phong phú nhưng ở cả hai lớp đều có những họ đa dạng cả về thành phần chi và loài Sau đây liệt kê 10 họ có từ 9 đến 24 cây thuốc

Bảng 3.3 Một số họ có nhiều loài cây thuốc nhất

Trang 36

conyzoides L.), Hy thiêm (Siegesbeckia orientalis L.), Ngải cứu dại (Artemisia vulgaris var.indica (Willd.) DC.) hiện nằm trong danh sách các cây thuốc đang được thu mua Họ Cà phê (Rubiaceae) đứng thứ 3, cũng có 1 đại diện hiện đang

được thu mua là Câu đằng Các họ còn lại là Đậu (Fabaceae), Lan (Orchidaceae), Ráy (Arceae), Dâu tằm (Moraceae), Cỏ roi ngựa (Verbenaceae), Cam (Rutaceae), Gừng (Zingiberaceae) Tuy chỉ có 10 họ (chiếm 7,6% số họ) nhưng đã có tới 101

chi với 145 loài, chiếm 29,3% tổng số chi và 31,7% tổng số loài cây thuốc thu thập được ở khu bảo tồn

Trong các loài đã thống kê được ở Khu bảo tồn, có nhiều loài hiện nằm trong diện đạng được khai thác thu mua trong đó có những loài gặp tương đối phổ biến Song cũng có không ít loài thuộc diện cần được bảo tồn Sự đa dạng của các loài cây thuốc ở Khu bảo tồn được thể hiện trong bảng danh lục tổng hợp (Phụ lục 1) Tóm lại, với 458 loài cây thuốc, thuộc 345 chi, 132 họ, 4 ngành và 1 nhóm thực vật đã được ghi nhận ở Khu bảo tồn cho thấy tài nguyên cây thuốc tại khu BT.L &

SC Nam Xuân Lạc là tương đối phong phú và đa dạng về thành phần chủng loại Bên cạnh đó, chúng còn rất phong phú về cả dạng sống và bộ phận sử dụng cũng như giá trị chữa bệnh Điều này sẽ được thể hiện cụ thể hơn ở các phần tiếp theo

Trang 37

3.1.2 Sự phong phú về dạng sống

Dạng sống của thực vật là biểu hiện bên ngoài của sự thích nghi giữa cơ thể

thực vật với môi trường sống vì vậy nó liên quan chặt chẽ với các nhân tố sinh thái của mỗi vùng, phản ánh bản chất sinh thái của mỗi hệ thực vật Qua điều tra nghiên cứu các cây thuốc ở khu BT.L & SC Nam Xuân Lạc cho thấy dạng sống của cây thuốc ở đây tương đối phong phú, đặc biệt là nhóm cây thân bụi và thân thảo Điều này được thể hiện trong Bảng 3.4

Bảng 3.4 Dạng thân của các loài cây thuốc tại Khu BT.L & SC Nam Xuân Lạc

Hình 3.4 Dạng thân của các loài cây thuốc tại Khu BT.L&SC NXL

Kết quả trên cho thấy nhóm cây thân thảo là nhóm phong phú nhất với 166 loài,

Trang 38

31

họ Nam mộc hương (Aristolochiaceae), họ Lan (Orchidaceae), họ Lúa (Poaceae)

và họ Gừng (Zingiberaceae) Tiếp đến là nhóm cây thân bụi có tới 125 loài, chiếm 28,74% tổng số loài, trong đó phải kể đến các đại diện thuộc họ Na (Annonaceae),

họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Cam (Rutaceae)

Nhóm cây dây leo bao gồm dây leo thân thảo và thân gỗ đứng thứ 3 với 81 loài,

chiếm 18,62% tổng số loài tập trung ở một số họ như họ Thiên lý (Asclepiadaceae),

họ Tiết dê (Menispermaceae) hay họ Nho (Vitaceae) Nhóm các loài cây thuốc thân

gỗ tương đối ít, chỉ chiếm 13,33% số loài, gặp rải rác ở một số đại diện thuộc họ

Long não (Lauraceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) và họ Dâu tằm (Moraceae)

Chiếm tỉ lệ thấp nhất trong các dạng thân đó là thân cột, chỉ có 5 loài, đều là các đại

diện thuộc họ Cau (Arecaceae), chiếm 1,15% số loài đã thu thập được

Từ kết quả trên có thể thấy rằng có sự chênh lệch tương đối lớn về các dạng thân, trong đó riêng cây thân thảo và thân bụi đã chiếm đến hơn 60% tổng số loài, các cây thân gỗ, thân leo và đặc biệt là cây thân cột chiếm tỉ lệ ít hơn hẳn Điều này chứng tỏ rằng tuy có sự đa dạng về dạng sống của các cây thuốc ở Khu bảo tồn nhưng chủ yếu vẫn là cây thân cỏ và cây thân bụi

3.1.3 Sự đa dạng về bộ phận được sử dụng và giá trị chữa bệnh

 Sự đa dạng về bộ phận được sử dụng

Nghiên cứu các bộ phận sử dụng của cây giúp cho việc sử dụng có hiệu quả nguồn nguyên liệu và định hướng được những phân tích về thành phần hóa học cũng như khả năng dược tính của nó, đồng thời cũng tránh được nguy hiểm có thể xảy ra Để thấy rõ tính đa dạng về tần số sử dụng các bộ phận khác nhau để làm thuốc, cụ thể ở Bảng 3.5

Theo kết quả ở Bảng 3.5, bộ phận lá được sử dụng nhiều nhất với 25,44% so với tổng số loài Bộ phận này được sử dụng nhiều nhất cũng dễ hiểu vì lá là bộ phận

dễ thu hái, mà không ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng và phát triển của cây

và sử dụng được theo nhiều cách khác nhau (có thể nhai, nuốt, đắp, đun nước, …)

Trang 39

có dạng sống là thân leo, thân cỏ, chỉ một số ít là cây bụi và cây gỗ Thân cũng thường được băm nhỏ, phơi khô để bớt mùi hăng của cây tươi và thuận tiện trong bảo quản, sau đó mới được sử dụng nhưng chủ yếu là để sắc uống Các bộ phận còn lại đều chiếm tỉ lệ thấp như củ, hạt, vỏ (gồm cả vỏ rễ và thân), quả, hoa, nhựa, quả thể nấm và lông chỉ chiếm 25,93% tổng số loài, trong khi chỉ 4 bộ phận lá, rễ, thân

đã chiếm tới 75,07%

Trang 40

33

Như vậy, trong việc sử dụng các bộ phận của cây làm thuốc, có những bộ phận

có tần số sử dụng cao, cũng có những bộ phận ít sử dụng đến Trong đó lá và rễ là hai bộ phận chiếm ưu thế hơn cả về mặt số lượng và tần số sử dụng Điều này là phù hợp với thực tế vì các bộ phận như hoa, quả, hạt chỉ xuất hiện ở những thời điểm nhất định trong đời sống của cây, lại khó thu hái, bảo quản đặc biệt là đối với hoa quả rừng

 Sự đa dạng về giá trị chữa bệnh

Từ kinh nghiệm y học cổ truyền cho thấy từ một cây có tác dụng chữa được nhiều loại bệnh và ngược lại có những bệnh phải kết hợp dùng nhiều loại cây mới

có hiệu quả tốt Căn cứ vào tài liệu của Đỗ Tất Lợi, Võ Văn Chi và thực tế các loại bệnh, chúng tôi tạm thời chia các cây thuốc để chữa các bệnh như trong Bảng 3.6

Bảng 3.6 Sự phong phú về giá trị chữa bệnh của cây thuốc ở

Khu BT.L & SC Nam Xuân Lạc

1

Bệnh về tiêu hóa (nôn mửa, rối loạn tiêu

hóa, ỉa chảy, kiết lỵ, viêm nhiễm khuẩn

đường tiêu hóa, đau dạ dày, đại tràng, …)

2

Bệnh về gan, thận (viêm gan, thận, tiết

niệu, tiêu viêm, thanh nhiệt, giải độc, nhuận

gan, lợi tiểu, chữa các bệnh dị ứng, …)

3

Bệnh về xương khớp (Phong tê thấp, đau

lưng, đau nhức xương khớp, viêm dây thần

kinh tọa, …)

4

Cầm máu, chữa vết thương phần mềm

(Sưng tấy, rắn cắn, vết thương phần mềm,

…)

Ngày đăng: 02/11/2015, 11:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tiến Bân (1995), “Họ Mộc hương (Aristolochiaceae Juss.) ở Việt Nam”, Tạp chí Sinh học, 4(17), tr. 31 – 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Họ Mộc hương (Aristolochiaceae Juss.) ở Việt Nam”, "Tạp chí Sinh học
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Năm: 1995
2. Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) và các Đồng tác giả khác (2001, 2003 và 2005), Danh lục các loài thực vật Việt Nam – Tập I; II và III, NXB. Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thực vật Việt Nam – Tập I; II và III
Nhà XB: NXB. Nông Nghiệp
3. Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) và nhiều Đồng tác giả (2007), Sách đỏ Việt Nam, Phần II – Thực vật, NXB. Khoa học và Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách đỏ Việt Nam, Phần II – Thực vật
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) và nhiều Đồng tác giả
Nhà XB: NXB. Khoa học và Công nghệ
Năm: 2007
4. Bùi Thị Bằng, Nguyễn Chiều, Ngô Văn Trại, Vũ Thúy Huyên (1986), “Khảo sát hàm lượng L. tetrahydro palmatin trong củ bình vôi mọc hoang ở Việt Nam”, Công trình nghiên cứu khoa học Viện Dược liệu (1972 – 1986), tr. 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát hàm lượng L. tetrahydro palmatin trong củ bình vôi mọc hoang ở Việt Nam”, "Công trình nghiên cứu khoa học Viện Dược liệu (1972 – 1986)
Tác giả: Bùi Thị Bằng, Nguyễn Chiều, Ngô Văn Trại, Vũ Thúy Huyên
Năm: 1986
5. Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương, Nguyễn Tập, Lưu Minh Xư (1973), “Những cây thuốc thuộc họ Mộc hương (Aristolochiaceae) phát hiện ở Bắc Việt Nam”, Tạp chí Dược học, 6, tr 10 – 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cây thuốc thuộc họ Mộc hương ("Aristolochiaceae") phát hiện ở Bắc Việt Nam”, "Tạp chí Dược học
Tác giả: Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương, Nguyễn Tập, Lưu Minh Xư
Năm: 1973
6. Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương (1980), Sổ tay cây thuốc Việt Nam, NXB. Y học, Hà Nội (in lần thứ 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương
Nhà XB: NXB. Y học
Năm: 1980
7. Đỗ Huy Bích (1995), Thuốc từ cây cỏ và động vật, NXB. Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc từ cây cỏ và động vật
Tác giả: Đỗ Huy Bích
Nhà XB: NXB. Y học
Năm: 1995
8. Đỗ Huy Bích và các Đồng tác giả khác (2004 và 2012), Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I; II và III, NXB. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I; II và III
Nhà XB: NXB. Khoa học và Kỹ thuật
9. Võ Văn Chi (1976), Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Sinh học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Sinh họ
Tác giả: Võ Văn Chi
Năm: 1976
10. Võ Văn Chi (1989), “Số lượng cây thuốc Việt Nam”, Báo cáo khoa học tại Hội thảo quốc gia về Nghiên cứu cây thuốc, Bộ Y tế, Hà Nội, tr. 31 – 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Số lượng cây thuốc Việt Nam”, Báo cáo khoa học tại Hội thảo quốc gia về Nghiên cứu cây thuốc, Bộ Y tế, Hà Nội
Tác giả: Võ Văn Chi
Năm: 1989
11. Võ Văn Chi (2011 và 2012), Từ điển cây thuốc Việt Nam – Tập I và II, NXB. Y học, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển cây thuốc Việt Nam – Tập I và II
Nhà XB: NXB. Y học
12. Lê Trần Đức (1997), Cây thuốc Việt Nam: Trồng hái, chế biến, trị bệnh ban đầu, NXB. Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc Việt Nam: Trồng hái, chế biến, trị bệnh ban đầu
Tác giả: Lê Trần Đức
Nhà XB: NXB. Nông Nghiệp
Năm: 1997
13. Phạm Hoàng Hộ (1999 và 2000), Cây cỏ Việt Nam – Tập I và Tập II, NXB. Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam – Tập I và Tập II
Nhà XB: NXB. Trẻ
14. Triệu Văn Hùng (chủ biên) và nhiều đồng tác giả (2007), Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam, Dự án hỗ trợ chuyên ngành Lâm sản ngoài gỗ xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam
Tác giả: Triệu Văn Hùng (chủ biên) và nhiều đồng tác giả
Năm: 2007
15. Phan Kế Lộc, Nguyễn Văn Yên (1983), “Những loài hiếm thuộc dưới lớp Hoàng liên (Ranunculidae)”, Viện sinh vật – Viện Khoa học Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những loài hiếm thuộc dưới lớp Hoàng liên (Ranunculidae)”
Tác giả: Phan Kế Lộc, Nguyễn Văn Yên
Năm: 1983
16. Đỗ Tất Lợi (1995), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB. Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội (xuất bản lần thứ 9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
Tác giả: Đỗ Tất Lợi
Nhà XB: NXB. Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1995
17. Nguyễn Hoàng Nghĩa (1995), “Chiến lược bảo tồn nguồn gen các loại cây rừng ở Việt Nam”, Tài nguyên di truyền thực vật ở Việt Nam, tr. 61 – 69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược bảo tồn nguồn gen các loại cây rừng ở Việt Nam”, "Tài nguyên di truyền thực vật ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hoàng Nghĩa
Năm: 1995
19. Nguyễn Tập (1984), “Điều tra khoanh vùng bảo vệ các loài thực vật và động vật làm thuốc”, Tạp chí Lâm nghiệp, 3, tr. 58 – 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra khoanh vùng bảo vệ các loài thực vật và động vật làm thuốc”, "Tạp chí Lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Tập
Năm: 1984
20. Nguyễn Tập (1990), “Bảo vệ nguồn cây thuốc thiên nhiên”, Tạp chí Hoạt động Khoa học, 11, tr. 23 – 24, tr. 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ nguồn cây thuốc thiên nhiên”, "Tạp chí Hoạt động Khoa học
Tác giả: Nguyễn Tập
Năm: 1990
21. Nguyễn Tập (1996), Luận án Phó tiến sĩ, Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án Phó tiến sĩ
Tác giả: Nguyễn Tập
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Tình hình dân số xã Xuân Lạc và xã Bản Thi - Nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc mọc tự nhiên ở khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn  tỉnh Bắc Kạn
Bảng 1.2. Tình hình dân số xã Xuân Lạc và xã Bản Thi (Trang 24)
Bảng 1.3. Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Xuân Lạc - Nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc mọc tự nhiên ở khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn  tỉnh Bắc Kạn
Bảng 1.3. Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Xuân Lạc (Trang 25)
Bảng 3.1. Sự phân bố trong các bậc taxon của các loài cây thuốc ở khu BT.L&SC NXL - Nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc mọc tự nhiên ở khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn  tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.1. Sự phân bố trong các bậc taxon của các loài cây thuốc ở khu BT.L&SC NXL (Trang 33)
Hình 3.1. Sự phân bố trong các bậc taxon của các loài cây thuốc - Nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc mọc tự nhiên ở khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn  tỉnh Bắc Kạn
Hình 3.1. Sự phân bố trong các bậc taxon của các loài cây thuốc (Trang 34)
Bảng 3.3. Một số họ có nhiều loài cây thuốc nhất - Nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc mọc tự nhiên ở khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn  tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.3. Một số họ có nhiều loài cây thuốc nhất (Trang 35)
Bảng 3.4. Dạng thân của các loài cây thuốc tại Khu BT.L & SC Nam Xuân Lạc - Nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc mọc tự nhiên ở khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn  tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.4. Dạng thân của các loài cây thuốc tại Khu BT.L & SC Nam Xuân Lạc (Trang 37)
Bảng 3.5. Tần số sử dụng các bộ phận làm thuốc - Nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc mọc tự nhiên ở khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn  tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.5. Tần số sử dụng các bộ phận làm thuốc (Trang 39)
Bảng 3.6. Sự phong phú về giá trị chữa bệnh của cây thuốc ở - Nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc mọc tự nhiên ở khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn  tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.6. Sự phong phú về giá trị chữa bệnh của cây thuốc ở (Trang 40)
Bảng 3.8. Danh sách  cây thuốc thuộc diện bảo tồn ở Việt Nam hiện có tại Khu BT - Nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc mọc tự nhiên ở khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn  tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.8. Danh sách cây thuốc thuộc diện bảo tồn ở Việt Nam hiện có tại Khu BT (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm