Thành phần các loài sâu hại trên hoa loa kèn chủ yếu là một số loài chính: rệp muội, câu cấu xanh, nhện, sâu xanh, sâu khoang…tác hại của chúng làm giảm phẩm chất, năng suất hoa, chi phí
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I
-
nguyễn mạnh hà
Thành phần sâu, nhện hại hoa Loa kèn, đặc điểm sinh học, sinh thái của rệp muội Pleotrichophorus chrysanthemi Theobald
và biện pháp phòng chống chúng tại ngoại thành
và biện pháp phòng chống chúng tại ngoại thành Hà Nội Hà Nội Hà Nội
vụ đông xuân năm 2005
vụ đông xuân năm 2005 2006 2006
Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật Mã số: 60.62.10
Người hướng dẫn khoa học: PGs.tS Nguyễn thị kim oanh
Hà Nội - 2006
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và ch−a hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã đ−ợc cảm ơn Các thông tin, tài liệu trong luận văn này đã đ−ợc ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Mạnh Hà Nguyễn Mạnh Hà
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- PGS.TS Nguyễn Thị Kim Oanh đã hướng dẫn tận tình, chỉ bảo cặn
kẽ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này
- Tập thể các thầy giáo, cô giáo Khoa Nông học, Khoa Sau đại học,
đặc biệt các thầy cô trong Bộ môn Côn trùng, Trường Đại học Nông nghiệp
I, Hà Nội, đã trực tiếp đóng góp nhiều ý kiến quý báu về chuyên môn cho tôi hoàn thành luận văn
- Cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã động viên giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Tác giả luận văn
Nguyễn Mạnh Hà
Trang 4Mục lục
2.1 Khái quát tình hình sản xuất hoa vùng Hà Nội và phụ cận 14 2.2 Những nghiên cứu trong nước và ngoài nước về sâu, rệp muội
3 Địa điểm, thời gian, đối tượng, vật liệu và phương pháp
4.1 Thành phần sâu, nhện hại hoa loa kèn vùng Hà Nội vụ đông
4.2 Thành phần thiên địch của rệp muội hại hoa loa kèn trong vụ
Trang 54.3 Thời gian phát dục, vòng đời, sức sinh sản, nhịp điệu sinh sản,
kích thước của rệp xanh đen (P chrysanthemi Theobald) ở các
4.3.1 Kích thước của rệp xanh đen khi nuôi ở các điều kiện khác nhau 57 4.3.2 Thời gian phát dục và vòng đời của rệp xanh đen
4.3.3 Nhịp điệu sinh sản của rệp xanh đen (Pleotrichophorus
chrysanthemi Theobald) qua các đợt nuôi thí nghiệm năm 2005
4.3.4 Sức sinh sản, thời gian sinh sản của rệp xanh đen
(P chrysanthemi) ở các đợt nuôi thí nghiệm 64 4.4 Diễn biến mật độ và mức độ gây hại của một số sâu hại chính trên
hoa loa kèn vụ đông xuân 2005 - 2006 vùng Hà Nội 65 4.4.1 Diễn biến mật độ một số loài sâu hại chính trên hoa loa kèn
(Lilium longiflorum Thunb) ở vụ muộn tại Quảng An - Tây Hồ 65 4.4.2 Diễn biến mật độ rệp xanh đen (P.chrysanthemi) trên các giống
loa kèn trong vụ muội tại Quảng An - Tây Hồ - Hà Nội 68 4.4.3 Diễn biến mật độ rệp xanh (P.chrysanthemi) hại trên hoa loa
kèn ở hai vụ chính và muộn tại Quảng An - Tây Hồ - Hà Nội
4.4.4 Diễn biến mật độ sâu hại chính trên hoa loa kèn (L.auratum) ở
vụ đông xuân chính vụ tại Tây Tựu- Từ Liêm - Hà Nội năm
4.4.5 Diễn biến mật độ rệp xanh (P.chrysanthemi) hại trên hoa loa
kèn (L auratum) ở hai vụ chính và muộn tại Tây Tựu - Từ Liêm
4.5 Đánh giá hiệu lực một số thuốc hoá học đang dùng phổ biến
Trang 64.5.1 Thí nghiệm hiệu lực thuốc hoá học trong phòng 80 4.5.2 Thí nghiệm hiệu lực thuốc hoá học ngoài đồng ruộng 80 4.6 Đề xuất một số biện pháp phòng chống sâu hại, nhện hại, rệp
Trang 7Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
BVTV: B¶o vÖ thùc vËt ctv : Céng t¸c viªn IPM : Phßng trõ tæng hîp dÞch h¹i c©y trång n«ng nghiÖp NXB : Nhµ xuÊt b¶n
Trang 84.6 Sức sinh sản, thời gian sinh sản của rệp xanh đen
(P chrysanthemi ) ở các đợt nuôi thí nghiệm 644.7 Diễn biến mật độ một số loài sâu hại chính trên hoa loa kèn ở vụ
đông xuân muộn tại Quảng An - Tây Hồ- Hà Nội năm 2005 2006 664.8 Diễn biến mật độ rệp xanh đen (P.chrysanthemi ) trên các giống
loa kèn ở vụ muộn tại Quảng An - Tây Hồ - Hà Nội năm 2005 -
4.9 Diễn biến mật độ rệp xanh (P.chrysanthemi) hại trên hoa loa kèn
ở hai vụ chính và muộn tại Quảng An - Tây Hồ - Hà Nội năm
4.10 Diễn biến mật độ sâu hại chính trên hoa loa kèn (L.auratum ) ở vụ
đông xuân chính vụ tại Tây Tựu- Từ Liêm - Hà Nội năm 2005 -
Trang 94.11 Diễn biến mật độ rệp xanh (P.chrysanthemi) hại trên hoa loa
kèn ở hai vụ chính và muộn tại Tây Tựu - Từ Liêm - Hà Nội năm
4.12 Hiệu lực một số loại thuốc thí nghiệm trong phòng 804.13 Hiệu lực một số loại thuốc hoá học trừ rệp muội
(Pleotrichophorus chrysanthemi Theobald) hại trên hoa loa kèn
Trang 101 Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Hoa tươi là một sản phẩm đặc biệt vừa mang giá trị tinh thần, vừa mang giá trị kinh tế đg từ lâu con người đg thưởng thức hoa như một món ăn tinh thần Những bông hoa tươi thắm nhiều màu sắc và hương thơm quyến rũ đg trở nên gần gũi và không thể thiếu được trong nhu cầu về đời sống tinh thần của con người, bó hoa tươi thắm đại diện cho sự hoà bình hữu nghị và trang trọng, cầu nối cho sự biểu lộ tình cảm của con người trong lúc vui cũng như lúc buồn Bông hoa là sứ giả của tình yêu và có khi nó là nguồn cảm hứng, cảm xúc của con người để từ đó có thể chuyển tải tâm hồn trong sáng vào đó Mặt khác nó còn là sự tôn thờ tín ngưỡng của con người
Ngày nay, sự phát triển của nền văn minh văn hoá nhân loại con người
đg sử dụng hoa một cách sâu sắc hơn Hương thơm và tinh dầu hoa dùng để chế mỹ phẩm, dược liệu rất có ý nghĩa và giá trị trong đời sống của con người Trong chiến lược phát triển nông nghiệp hiện nay ở Việt Nam, việc chuyển
đổi cơ cấu cây trồng để nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích đất
đai nhỏ đang là một yêu cầu bức thiết trong sản xuất nông nghiệp Nghề trồng hoa đg trở nên phổ biến ở các vùng ven đô thị, nhiều mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng đạt hiệu quả kinh tế cao Nhiều hộ đg đạt tổng thu nhập hàng trăm triệu đồng trên một hécta mỗi năm nhờ kỹ thuật cao trong trồng hoa thâm canh Khi nói đến hoa người ta không thể không nói đến hoa loa kèn, một trong những loài hoa được trồng phổ biến nhất trên thế giới Hoa loa kèn không chỉ hấp dẫn người tiêu dùng về màu sắc mà còn bởi đặc trưng vế tuổi thọ của hoa rất lâu
Trang 11Vùng đồng bằng Bắc bộ hiện nay có nhiều vùng trồng hoa với trình độ
kỹ thuật thâm canh cao và diện tích đáng kể như: Từ Liêm, Đông Anh (Hà Nội), Đằng Hải (Hải Phòng), Mê Linh (Vĩnh Phúc), Văn Giang, Văn Lâm (Hưng Yên) Khu vực ngoại thành Hà Nội và lân cận các loại hoa trồng ở đây rất đa dạng và phong phú như: hoa Loa kèn, hoa Cúc, hoa Đồng Tiền, Phăng, hoa Hồng…trong đó hoa Loa kèn mới được trồng vài năm gần đây và là sản phẩm hoa tươi đang có thị hiếu của người dân Thủ đô Hoa Loa kèn có mùi thơm dịu và nhiều màu sắc đẹp, phong phú Hiện nay ở Thủ đô Hà Nội hoa loa kèn đang là loài hoa được ưa chuộng vì hoa bền và trang trọng trong các ngày
lễ tết cuối năm và đầu năm của người dân
Tuy nhiên trong quá trình phát triển của cây hoa loa kèn mà người trồng hoa luôn quan tâm đó là sự phá hại của các loài sâu hại Chúng phá hại làm
ảnh hưởng xấu đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây hoa, mặt khác
nó còn làm biến dạng và mất thẩm mỹ của bông hoa, sâu hại trên củ giống, cây non gây cho cây hoa yếu và dễ bị nhiễm bệnh Thành phần các loài sâu hại trên hoa loa kèn chủ yếu là một số loài chính: rệp muội, câu cấu xanh, nhện, sâu xanh, sâu khoang…tác hại của chúng làm giảm phẩm chất, năng suất hoa, chi phí cho sản xuất tăng, thiệt hại kinh tế cho người trồng hoa Mặt khác nếu dùng thuốc hoá học quá nhiều để phòng chống sẽ ảnh hưởng đến môi trường sống của con người Từ các vấn đề trên chúng tôi thực hiện và nghiên cứu đề tài:
"Thành phần sâu, nhện hại hoa Loa kèn, đặc điểm sinh học, sinh thái của rệp muội Pleotrichophorus chrysanthemi Theobald và biện pháp phòng chống chúng tại ngoại thành Hà Nội vụ đông xuân năm 2005 - 2006"
Trang 121.2 Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của đề tài
- Đưa ra thành phần sâu, nhện và thiên địch của chúng trên cây hoa loa kèn
- Đưa ra một số đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của loài rệp muội chính hại trên hoa loa kèn làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu
1.2.3.2 ý nghĩa thực tiễn
- Đề xuất biện pháp phòng chống sâu hại hoa Loa kèn một cách hợp lý
bổ sung vào kỹ thuật thâm canh hoa cây cảnh, giải quyết một số khó khăn trong công tác phòng chống dịch hại trên hoa Loa kèn cho người trồng hoa
Trang 13Hình 1: Hoa loa kèn đang trồng ở hà nội
Loa kèn Lilium formolongo trên đồng ruộng
Hoa loa kèn trồng và cắm trong nhà
Trang 142 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.1 Khái quát tình hình sản xuất hoa vùng Hà Nội và phụ cận
Theo thống kê năm 2003 tổng diện tích trồng hoa của thủ đô Hà Nội vào khoảng 1500 ha các loại hoa bao gồm: hoa hồng, hoa cúc, hoa đồng tiền, hoa loa kèn và các loại hoa cây cảnh khác Trong số các loại hoa kể trên thì hoa hồng và hoa cúc chiếm diện tích chủ yếu 70% diện tích trồng hoa, hoa loa kèn chỉ chiếm 3-5% ở một vụ là vụ đông xuân Các khu vục trồng thuộc thành phố Hà Nội là: xg Tây Tựu - huyện Từ Liêm, phường Quảng An - quận Tây
Hồ một số xg rải rác thuộc huyện Đông Anh Một số khu vực có truyền thống nổi tiếng của Hà Nội trước đây như là: Ngọc Hà, Nhật Tân do sự gia tăng và phát triển đô thị hoá hiện nay diện tích đg không còn đất trồng đg chuyển đổi sang mục đích khác: quy hoạch xây dựng, công trình công cộng dân sinh…
Hiện nay tại Hà Nội có khoảng 300 cửa hàng chính thức kinh doanh hoa tươi hàng ngày, nhu cầu về hoa tươi của Thủ đô Hà Nội là khá lớn ước khoảng một triệu cành mỗi ngày [14] nhu cầu của thị trường như vậy là rất lớn
mà diện tích trồng hoa tươi thì chỉ hạn chế Một số chuyên gia đánh giá thì diện tích hoa trồng vùng Hà nội và phục cận sẽ còn tăng lên nhanh và mạnh trong một vài năm tới Trong số các loài hoa được trồng hiên nay thì loa kèn
đang là loài hoa được ưa chuộng đối với người dân vì hoa đẹp và trang trọng rất phù hợp trong ngày các lễ hội Tuy vậy hoa loa kèn chỉ mới trồng vài năm trở lại đây ở khu vực Hà Nội và là cây trồng đòi hỏi người trồng phải có trình
độ thâm canh cao do vậy diện tích trồng chưa được mở rộng nhiều
Theo phân loại mới nhất của hệ thống phân loại cây trồng quốc tế APG (Angiosborm Phylogenny Group) thì hoa loa kèn được xếp vào bộ Lilialis là
Trang 15bộ thực vật một lá mầm Chủ yếu là cây thân thảo, các cơ quan dự trữ thức ăn
là thân hành hay thân rễ [27]
Hoa loa kèn du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu của thập niên 40 của thế kỷ 20 (theo nguồn tài liệu của Bách khoa toàn thư)[27] Nhập từ Pháp khoảng 1945- 1955, nhập từ Hàn Quốc vào khoảng năm 1970, Nhật Bản năm
1972, tài liệu này cũng cho biết xuất xứ của hoa loa kèn từ Nhật Bản và đảo Ryukyu Sự phân bố của loài hoa này có mặt ở hầu hết các châu lục từ biên độ
vĩ độ 100 - 600 vĩ Bắc [27]
Hiện nay ở miền Bắc nước ta hoa loa kèn chủ yếu là các loại hoa màu trắng, hoa loa kèn màu đỏ ít thấy trồng bởi khó canh tác không thích hợp cho hoa cắt thời gian sinh trưởng quá dài và không được ưa chuộng Vùng trồng hoa Hà Nội phụ cận hiện nay đang trồng ba giống hoa loa kèn trắng: loa kèn trắng Hải Phòng (Lilium longiflorum Thunb), loa kèn trắng Nam Định (Lilium auratum Lindl), hoa loa kèn trắng Trung Quốc mới nhập nội từ vài năm trở lại
đây (Lilium formolongo Raizan) thời vụ trồng các giống hoa loa kèn trắng kể trên là từ ngày 5 tháng 9 âm lịch hằng năm đến tháng 3 - 4 âm lịch năm sau Thời gian trồng đến khi thu hoạch loa kèn từ 5 đến 9 tháng tuỳ theo kĩ thuật canh tác và trình độ thâm canh của người trồng Nếu củ hoa loa kèn được xử lý lạnh trước khi trồng khoảng 2 tuần thì cây sẽ phát triển nhanh, củ nhanh nảy mầm và ra rễ, nếu chiếu ánh sáng vào ban đêm (thắp bóng điện) cho ruộng hoa
sẽ cho thu hoạch sớm và đúng dịp, tuy nhiên chi phí sản xuất sẽ cao hơn [6]
Trên thế giới hiện nay hoa loa kèn chiếm một vị trí quan trọng trong nghề trồng hoa, nhiều nước trồng và xuất khẩu hoa loa kèn đg thu lại lợi nhuận hàng trăm triệu đôla mỗi năm Trong đó phải kể đến là các nước như:
Hà Lan, Canada, Hàn Quốc, Kenia, Nhật Bản, Đài Loan [28]
ở Việt Nam cây hoa loa kèn trước đây chủ yếu được trồng ở Đà Lạt -
Trang 16Lâm Đồng bởi vì nhiệt độ, khí hậu, đất đai ở đây phù hợp với hoa loa kèn quanh năm Nhiều doanh nghiệp sản xuất hoa ở đây vài năm trước đg thu về hàng triệu đô la mỗi năm khi xuất khẩu hoa lyly và hoa loa kèn [13] Hiện nay các vùng trồng hoa Hà Nội người trồng hoa thu được lợi nhuận khá cao khoảng 30-35 triệu đồng/sào Bắc bộ mỗi năm và riêng đối với hoa loa kèn thu
được khoảng 12-15 triệu đồng/sào Bắc bộ mỗi vụ tương đương 340 - 420 triệu / ha/vụ Với mức thu nhập như vậy đg hấp dẫn người trồng hoa loa kèn đầu tư
và có trình độ thâm canh ngày một tiến bộ Mặt khác người trồng hoa nơi đây phần lớn là những người đg có nghề trồng hoa khá chuyên nghiệp đồng thời rất cần cù chịu khó do vậy họ cũng đg tiếp thu được nhiều tiến bộ kĩ thuật do khoa học nông nghiệp mang lại
Đg có nhiều nghiên cứu trên thế giới về hoa loa kèn rất nhiều, ngoài việc hoa có sức hấp dẫn về màu sắc và dáng hoa thì hoa loa kèn còn là giống hoa có nguồn gen quý và trong cây hoa có nhiều chất hữu cơ tự nhiên và protein quý có thể làm dược liệu, tinh dầu, mỹ phẩm, men hoạt chất quý trong công nghệ sinh học để sản xuất các chế phẩm đặc biệt khác [28]
Song hoa loa kèn là đối tượng gây hại của nhiều loại dịch hại khác nhau chúng phá hoại các loài cây từ khi còn là củ giống cho đến khi thu hoạch gây tổn thất không ít đến kinh tế cho người trồng hoa Vấn đề này đg có những nghiên cứu, tuy nhiên ở trên thế giới và Việt Nam những nghiên cứu về sâu bệnh hại trên hoa loa kèn chưa nhiều Một số tác giả trong nước và nước ngoài cũng đg đề cập nhưng chỉ ở phương diện chung chưa có nhiều thông tin cụ thể rõ ràng Trên hoa loa kèn hiện nay có nhiều loài sâu, nhện hại làm giảm chất lượng, thiệt hại kinh
tế, những nghiên cứu về chúng sẽ là cơ sở để đề xuất các biện pháp phòng chống chúng một cách hợp lý và có hiệu quả cho người trồng hoa
Trang 182.2 Những nghiên cứu trong nước và ngoài nước về sâu, rệp muội hại hoa, cây trồng
2.2.1 Kết quả nghiên cứu ở nước ngoài
* Về thành phần và sự phân bố sâu hại trên cây hoa và cây trồng Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về sâu hại trên hoa và có những nhận xét đặc điểm và triệu chứng gây hại của chúng
Năm 1960 trong nghiên cứu của Harold.W Rickett đg nhận xét trên cây hoa hồng: nhện đỏ (Tetranychus Talarius) hại khá phổ biến trên hoa hồng, khi chúng có mật độ cao hại trên cây sẽ làm cho lá bị rụng nhiều Một loài nhện khác là Hyphatria curea cũng thường thấy xuất hiện, chúng chăng tơ cuốn lá làm cho lá không phát triển được bình thường Ngoài ra còn có rệp muội cũng gây hại, rệp thường tập trung mặt dưới lá, chích hút dịch cây làm cho lá bị rụng [48]
Một nghiên cứu khác của Taiswal và A.M Wandhwani năm 1986 trên cây hoa cúc cho rằng: nhện đỏ thường hại mặt dưới lá và phát triển mạnh vào mùa nóng ẩm, có thể chúng có màu đỏ và có thể rất nhỏ, nhện thường tập trung chích hút với mật độ cao sẽ làm lá vàng và rụng Một nhóm côn trùng nhỏ đen xuất hiện với số lượng tương đối lớn tập trung hút dịch những phần non của cây
Rệp muội gây hại trên hoa được xác định là đối tượng gây hại nguy hiểm, tổn thất kinh tế người trồng hoa Một số tác giả khi nghiên cứu đg phân loại được nhiều loại rệp muội hại trên ác cây hoa khác nhau Trên cây hoa cúc
có 14 loài trong đó có 3 loài quan trọng: Coloradoa rufomaculata (Wilson), Pleotricophorus chrysanthemi Theobald, Macsosiphonieella sanleorni (Gillette), Myzus piersicae Sulzer, Aphis gosipii Glover Trên hoa hồng có 26 loài nhưng chưa phân loại rõ tên, loài Coloradoa rufomaculata (Wilson) được phát hiện và ghi nhận ở nhiều nước trên thế giới Bắt gặp chủ yếu trên cây ưa
Trang 19lạnh Sinh sản của loài rệp này chủ yếu bằng hình thức sinh sản đơn tính, người ta cũng đg xác định được rằng loài rệp này là môi giới truyền bệnh Virut B trên cây hoa cúc và cây cà chua [40]
Năm 1966 Eastop có nhận xét: loài rệp muội Pleotrichophorus chrysanthemi Theohald phát hiện có mặt ở miền Nam Châu Phi và ghi nhận
có mặt ở Châu Âu (Anh, Pháp, Ailen, Hylạp) Ngoài ra còn phát hiện chúng
có mặt ở ấn Độ, úc, Bắc Mỹ, Braxin, Nhật Bản, Đài Loan, thu thập được trưởng thành có cánh trên cây hoa cúc Loài này mới chỉ thấy có hình thức sinh sản đơn tính , chưa tìm thấy hình thức sinh sản hữu tính Tác giả cũng đg
đưa ra những đặc điểm cơ bản để có thể phân biệt trưởng thành có cánh của loài này so với loài kia Một nhận xét quan trọng là loài Macrosiphoniella sanborni (Gillete) thường chỉ gây hại ở vùng Đông Nam á Không gây hại trên toàn thế giới Thấy chúng có mặt trên cây hoa cúc và chỉ có hình thức sinh sản đơn tính [41]
Năm 1976, Ghosh A.K đg công bố trên thế giới có hơn 4000 loài rệp muội đg được mô tả và chia làm 8 họ phụ trong đó vùng Đông Nam á có hơn
1000 loài [45] Về vùng phân bố địa lý thì tổng họ Aphidoidae có số loài nhiều nhất ở Bắc Mỹ, Châu Âu và khu vực Trung Đông, nhưng vùng có đầy
đủ các nhóm trong tổng họ Aphidoidae lại là Đông Nam á [45] ở từng nước, thành phần rệp muội trên cây trồng cũng khác nhau Tại Nhật Bản đg thu
được 240 loài thuộc tộc Macrosiphini (Masahisa1971)[59], Triều Tiên thu
được 170 loài rệp muội hại cây trồng (theo Ghosh 1976) [45]
Năm 1980, trong cuốn sách viết về rệp muội ở ấn Độ Raychaudhuri đg cho biết: có 379 loài và loại phụ rệp muội đg được định trên thuộc 150 giống, 7 tộc song đó cũng chỉ là tên của 70% tổng số loài tìm thấy ở ấn Độ Tác giả cũng đg mô tả những loài mới và tầm quan trọng của nó [70] Szelgewiez năm
1968 đg thu thập được 22 loài rệp muội trên một số cây trồng ở Việt Nam [78]
Trang 20Đến năm 1998 trong nghiên cứu của Waterhouse tác giả đg nêu 9 loài rệp khá phổ biến và là dịch hại chính ở Việt Nam cũng như vùng Đông Nam á [86]
Hầu hết các loài rệp muội là nguyên nhân gây hại trực tiếp đến sinh trưởng cà phát triển của cây trồng dẫn đến giảm năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm.Trên thế giới có rất nhiều tác giả nghiên cứu và ghi nhận tầm quan trọng kinh tế rất lớn của các loài rệp muội trên nhiều loại cây trồng khác nhau
Năm 1980 Ghosh và ctv đg nghiên cứu về rệp muội hại trên cây họ đậu
và rau họ thập tự ở quanh vùng Calcutta làm giảm sản lượng, chất lượng rau quả một cách nghiêm trọng [46] Nghiên cứu trên đồng ruộng từ năm 1989 –
1990 ở Dantnaga, Uttar Pradedesh (ấn Độ), Singh và cộng sự đg chỉ ra sản lượng ớt bị mất do rệp hại là 69,61% [76] Năm 1995, Gutam và ctv theo dõi thấy quần thể rệp muội 32% sản lượng dầu và 50,6% trọng lượng hạt của hướng dương ở ấn Độ [47]
* Về đặc điểm sinh sản rệp muội
Nhiều tác giả trên thế giới kết luận: rệp muội có 2 loại hình sinh sản, sinh sản đơn tính (parthenogenesis) đẻ ra con (viviparous) trong suốt quá trình sống hay còn gọi là vòng đời hở và loại sinh sản hữu tính (bisexual) có giao phối giữa đực cái và đẻ ra trứng (oviparous) hay còn gọi là vòng đời kín Có loại chỉ sinh sản ở dạng đơn tính có loại sinh sản cả đôi Tại ấn Độ, năm1980 qua kết quả nghiên cứu của mình, Raychaudhuri (1980)[70] đg đi đến một số kết luận:
- Hầu hết các loài rệp có vòng đời hở thậm chí cả ở khí hậu vùng đồi ít nhiều có nhiệt độ như vùng đồng bằng song có thể có một vài loài có vòng đời kín nhưng không phải là quy luật
- Sinh sản hữu tính thường thấy ở độ cao khoang 750m trong mùa đông khi nhiệt độ biến thiên từ 0 - 100C và độ dài ngày chiếu sáng chỉ khoảng 10 giờ
- Điều quan trọng có ý nghĩa của việc tìm ra dạng khác của sinh sản
Trang 21hữu tính chưa được biết
ở Châu Âu rệp Aphis gossypii Golver không có loại hình sinh sản hữu tính, nhưng ở Đông Phi, Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản chúng lại có loại hình sinh sản hữu tính Mặc dù vậy, ở Nhật Bản vẫn có quần thể rệp này qua đông sinh sản đơn tính (Waterhouse, 1998 [86])
* ảnh hưởng của yếu tố khí hậu
Calvo và Fuentes (1981) [39] nghiên cứu về biến động số lượng quần thể đào Myzus persicae (Sulz.) ở Costa Rica cho thấy ở nhiệt độ 22 - 240C, tốc
độ gió 20 - 28 km/h và ẩm độ 66 - 70% lượng mưa 0 - 4,1mm rệp có mật độ cao nhất Quần thể rệp đào ở đây bao gồm cả rệp có cánh nơi khác di cư đến
và là môi giới truyền bệnh Mật độ quần thể rệp muội tăng lên, tỷ lệ bệnh tăng theo do rệp làm môi giới sẽ tăng lên theo tốc độ gió tăng cùng với độ ẩm và lượng mưa giảm xuống Theo Ram Kishore và ctv (1987) còn nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ trong từng hộp lồng nuôi rệp đào ở ngoài đồng có phủ vải phía trong, nilông phía ngoài theo % diện tích che phủ và đi đến kết luận: sự gia tăng quần thể rệp đào bị giảm đi cùng với sự tăng lên của nhiệt độ Abdel
và ctv (1982) đg nghiên cứu ảnh hưởng của độ dài ngày chiếu sáng đến sự phát triển của rệp đậu màu đen A.craccivora Koch Ông nhận thấy trong các chu kỳ ánh sáng khác nhau rệp non bị ảnh hưởng không đáng kể đến sinh trưởng Độ dài ngày tốt nhất cho rệp non phát triển thường là 16/8, song đối với rệp trưởng thành thì độ dài ngày chiếu có ảnh hưởng tới dạng hình đời sau (có cánh hoặc không có cánh); ở độ dài chiếu sáng 12/12 và 16/8 không hình thành dạng hình có cánh (dẫn qua [63]) Theo Matthews và ctv (1994) [63] với lượng mưa 20mm trong 4 giờ thì mưa làm giảm 20 - 40% rệp trên bông Chính vì vậy nông dân coi mưa như một liều thuốc phun rệp hữu ích, Jamaludin
và ctv (1994) cho rằng quần thể rệp bông Aphis sacchari (Melanaphis sacchari) giảm đáng kể mặc dù có mặt bò rùa và thiên địch khác
Trang 22* ảnh hưởng của yếu tố canh tác
Matthews và ctv (1994) [63] cho rằng điều kiện tưới nước cho cây có
ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng sinh lý của rệp bông A.gossypii, mật độ sáp
và sức trương Điều kiện tưới nước có ảnh hưởng trực tiếp tới số lượng, chất lượng thức ăn của rệp, ảnh hưởng tới sự phát triển, tuổi thọ, mật độ lớn và sự xuất hiện của dạng hình có cánh Bón phân đạm nhiều, tăng tỷ lệ cây bông bị nhiễm rệp Giảm bón đạm đi thì tỷ lệ sinh sản hàng ngày cũng giảm theo
* Tính kháng và nhiễm của cây với rệp
ở Mỹ năm 1980 Mcinty và ctv [65] đg tìm ra giống thuốc lá kháng bệnh hoa lá do virus gây nên mà rệp đào Myzus persicae (Sulz.) là véctơ truyền bệnh Rệp đào được sống trên giống thuốc lá này thì tỷ lệ sinh sản bị giảm 13% so với rệp đào sống và sinh sản trên các giống thuốc lá khác Brar (1981) [37] đg làm thí nghiệm nhiễm rệp ở mức khác nhau một cách có ý nghĩa nhưng chưa thấy giống nào biểu hiện rõ tính kháng Thí nghiệm với 3 dòng đơn tính của rệp đậu A.craccivora Koch ở Chana trên đậu răng ngựa trồng dưới điều kiện ánh sáng đỏ và ánh sáng yếu Nkansah - Poku và ctv năm (1995) [67] đg có kết luận: Đậu răng ngựa có 2 giống kháng là Tvu 801 và Tvu 3000, 1 giống kháng vừa là Tvu 36, 1 giống nhiễm (Ifbroun) Tính kháng
và nhiễm của giống có thể bị thay đổi do điều kiện chiếu sáng cho cây ở Shani, Trung Quốc, Hou Yuming và ctv (1995) [49] đg nghiên cứu và đánh giá tính kháng của 12 giống nho với rệp đào, 2 loài rệp xám (Brevicoryne brassicae và Lypaphis erysimi) ở trong phòng thí nghiệm cũng như ở ngoài
đồng và kết luận rằng tỷ lệ sống sót, thời gian phát dục, khả năng sinh sản của rệp trên các giống nho khác nhau một cách có ý nghĩa Kfoury (1996)[54] cho rằng cấu trúc của cây kháng được bắt đầu do tiến trình dinh dưỡng ngay cả khi cây không có rệp Hệ thống kháng đòi hỏi xuất hiện trước để hạn chế quá trình hút dinh dưỡng của rệp Ahmed (1996) [32] điều tra trên 6 giống dưa
Trang 23chuột ở Ai Cập và kết luận: giống fiti sacara có tính kháng cao nhất với rệp bông A.gossypii, trong khi đó giống Dominus-hy bị nhiễm cao với rệp bông Kết quả phân tích thành phần hoá học của 2 giống đg chỉ ra protêin tổng số và hàm lượng amino acid cao hơn ở hầu hết các giống nhiễm Người ta cho rằng
để có tính kháng cao là phải làm giảm hàm lượng prôtêin tổng số và hàm lượng amino acid trong lá để chúng cung cấp ít dinh dưỡng cho rệp muội
* Thiên địch của rệp muội
Đg có nhiều tác giả đánh giá vai trò của kẻ thù tự nhiên của rệp muội Zubkov (1982) [88] đánh giá về quan hệ sinh học trong quần thể rệp xám Brevicorythe brassicae (L.) trên hai cánh đồng cải vùng Anuar ở Mỹ năm
1977 Tác giả kết luận côn trùng ăn thịt, chủ yếu là dòi ăn rệp và dòi năn (Cecidomyiids) làm giảm 20% quần thể rệp Ký sinh Aphididus làm giảm 10% quần thể rệp xám Đến năm 1982 tác giả cho rằng phương pháp đúng của việc dự báo quần thể rệp là đánh giá mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau giữa hệ thống con mồi là rệp xám Brevicoryne brassicae (L.) và vật bắt mồi (bao gồm
bọ rùa, dòi ăn rệp và dòi năn) trên cơ sở đg thiết lập được ngưỡng kinh tế của nhiều loài ăn thịt trong quần thể rệp xám ở vùng Anuar (Mỹ)
Artokhin (1981) [34] thí nghiệm ở Nga cho thấy sâu non bọ rùa Coccinella septempunctata L có thể tiêu diệt 300 rệp Rhopalosiphum padi (L.) một ngày, trong toàn bộ pha sâu non có thể phá huỷ tới 1000 rệp non và rệp trưởng thành, ngoài ra ông còn cho rằng bọ mắt vàng Chrysopa, ong ký sinh Aphidus, ruồi ăn rệp cũng là những tác nhân sinh học trừ rệp mạnh Punkinskaya và ctv (1981) [69] đg kết luận (ở Nga) thiên địch đg làm giảm số lượng rệp Rhopalosiphum padi (L.) dưới ngưỡng kinh tế và giảm diện tích phải phòng trừ bằng thuốc trừ sâu Bode (1982) [36] cho rằng trên lúa mỳ ở Cộng hoà Đức từ 1976 - 1979 vào cuối tháng 6, các loài ăn thịt tự nhiên có khả năng giữ quần thể rệp (R.padi(L.) padi (L.)) dưới ngưỡng kinh tế thiệt hại kinh tế ở mức 35 rệp trên một nhánh lùa mỳ Loài ăn thịt quan trọng nhất là
Trang 24ruồi Aphidius cũng đóng góp một vai trò quan trọng Chúng trực tiếp tiêu diệt hạn chế quần thể rệp và có thể đưa ra để tính toán dự báo sự phát triển của quần thể rệp trên cây mạch Mahmoud (1983) [61] đg nghiên cứu chẩn đoán rệp đào và kẻ thù tự nhiên của chúng trên cây đào ở vùng Mosul (Irắc) năm
1977 - 1978 Tác giả nhận thấy mối quan hệ khá chặt giữa đỉnh cao của rệp xảy ra vào tuần cuối tháng tư và tuần đầu tháng năm với sự xuất hiện của kẻ thù tự nhiên Các loài ruồi ăn rệp chiếm 53,04% tổng số các loài ăn thịt rệp, sau đó đến bọ mắt vàng Chrysopa carnea (Steeph.) (29,71%) So sánh vai trò của ký sinh và ăn thịt rệp muội đối với quần thể rệp xám hại cải bắp B.brassicae (L.) Laska (1984) [57] cho rằng dòi ăn rệp là quan trọng hơn nhiều so với ký sinh rệp Theo Hurej (1984) [49], trên ruộng củ cải đường ở Wroclaw và Klodzko (Ba Lan) không phun thuốc trừ sâu trong các năm 1978,
1979 và 1980; ruồi Syrphidae chiếm 93,87% các loài ruồi ăn rệp và ăn 73,00% tổng các loài rệp Tại 2 vùng này chúng đg hạn chế sự gia tăng của quần thể rệp, chỉ còn có 8,0% số lượng rệp trên cây Theo Ghanim (1984) [45] các loài ăn rệp quan trọng trên lúa mì mùa đông ở Mansoura (Ai Cập) là Coccinella undecimpunctata, Chrysopa carnea Metasyrphus corollae, các loài này đg kìm hgm sự bùng dịch rệp muội
Theo Saharia (1980) [73] ở Asam (ấn Độ) rệp đậu màu đen Aphis craccivora Koch trên đậu có đỉnh cao về mật độ vào lúc ra hoa và hình thành quả Cùng lúc này, các loài ăn thịt rệp: bọ rùa 6 chấm Menochilus sexmaculatus (F.) và bọ rùa chữ nhân Coccinella repanda Thunb xuất hiện với mật độ cao Điều tra trong các năm 1974 - 1976 cho thấy bọ rùa 6 chấm là loài có mặt thường xuyên và có mật độ lớn hơn so với các loài bọ rùa Lemnia biplagiata (Swar.), Spilocaria bisellata (Muls.) và Harmonia dimidiata (F.) Butani và Bhaodia (1984) [38] đg quan sát quan hệ giữa quần thể rệp đậu màu
đen A.craccivora trên lạc và kẻ thù tự nhiên của chúng Tác giả cũng đi đến kết luận rằng sự áp dụng thuốc trừ sâu là không cần thiết nếu bọ rùa có mặt
Trang 25nhiều trên lạc vào vụ hè Krishan và ctv (1990) [55] cho rằng tại vùng Himachal Pradesh (ấn Độ) ruồi ăn rệp phát huy hiệu quả tốt hơn các loài bọ rùa Cuối tháng 3 quần thể của nó đủ sức để có thể giữ quần thể rệp muội dưới mức phòng trừ Hussein (1990) [51] cho rằng khả năng của ruồi ăn rệp cũng như các loài ăn thịt có triển vọng là rất hữu ích và được xem như một nhân tố trong phòng trừ sinh học Loài bọ rùa 6 chấm M.sexmaculatus (F.) đg
được khuyến khích nghiên cứu ở Malaysia Tác giả cũng cho rằng loài bọ rùa cũng là một vũ khí trong phòng trừ sinh học ở vùng nhiệt đới Từ năm 1991 -
1994 ở California nổ ra dịch rệp bông A.gossypii Glover ở vụ sớm khác với thường lệ Theo Rosenhcim (1995) [71] thì lý do bùng dịch là bị ảnh hưởng bởi kiểm soát của thiên địch bị giảm do mật độ của chúng thấp hơn
Thiên địch của rệp muội cũng đg được nhiều tác giả nghiên cứu Đối với mỗi loài rệp trên từng miền thường đi theo một tập đoàn thiên địch khác nhau Slabospiskii (1980) [77] nghiên cứu thấy thiên địch trên rệp cải của Bungari bao gồm các loài ăn thịt chính là Episyrphus balteatus (Deg.) Sphaerophoria rueppellii (Wied.), S.sarmatica Bank, Syrphus ribesii(L) và Metasyrphus corollae (F.) Theo Kadamshoev (1984)[53] thiên địch trên rệp xám hại bắp cải B.brassicae (L.) ở Tajikistan (Liên Xô cũ) gồm 20 loài, trong
đó đáng chú ý là các loài ăn thịt: Coccinella septempunctata L.; Chrysoperla carnea (Steph.), Metasyrphus corollae (F.), Episyrphus balteatus (Deg.) ở
ấn Độ, Agarwala và ctv (1981) [30][31] đg công bố rệp A.fabae, Lipaphis erysimi, A.gossypii bị ong Ephedrus plagiato và Dialrelichla rapae ký sinh Những loài rệp này cũng bị dòi ăn rệp Episyrphus balteatus (Deg.) tấn công Tiếp sau đó tác giả [31] cũng nghiên cứu và đưa ra danh mục các loài thiên
địch của rệp muội ở ấn Độ gồm 27 loài, trong đó có 2 loài ong ký sinh Aphidius, 11 loài nhện lớn bắt mồi và 5 loài rệp ăn rệp Ghosh và ctv(1981) [45] ghi nhận trên rau ăn quả ở ấn Độ gồm có 4 loài ký sinh và 20 loài ăn thịt
Trang 26Thiên địch này có khả năng hạn chế được 2 loài rệp muội quan trọng nhất là A.craccivora và L.erysimi Gần đây Matthews và ctv (1994) [63] công bố có
từ 300 - 600 loài ký sinh và ăn thịt rệp muội trên bông ở Mỹ Các loài bọ rùa xuất hiện thường xuyên và có vai trò hạn chế đều đặn rệp bông Theo Mustafa
và ctv (1994) [66] ở Jordan cả loại hình không cánh và loại hình có cánh của rệp xám B.brassicae (L.) đều bị ký sinh Tỷ lệ bị ký sinh đều xảy ra vào 2 thời
điểm: thời điểm thứ nhất vào tháng 10 - 11 và thời điểm thứ 2 vào tháng 4 và tháng 5 Tỷ lệ ký sinh loại hình không cánh thời điểm 1 là 10% và thời điểm 2
là 0,2% Năm 1996 Elmali và ctv [42] thu được khá nhiều thiên địch của rệp trên lúa mì ở Thổ Nhĩ Kỳ Riêng các loài ăn thịt bao gồm: bọ rùa 14 loài; ruồi
ăn rệp: 3 loài là Chamaemyidae: 1; Miridae: 1; Naibidae: 2 loài Các loài ký sinh bao gồm 4 loài Braconidae, 1 loài Aphelinidae, bọ rùa là phong phú nhất
và có vai trò hạn chế số lượng rệp
Trong các loài thiên địch thì ruồi ăn rệp họ Syrphidae được nhiều tác giả lưu tâm nghiên cứu kỹ về thành phần loài, vai trò của nó cũng như đặc tính sinh học
Theo Herve - Brazin (1926) ở Đông Dương có 47 loài ruồi ăn rệp thuộc
22 giống đg được nhận dạng Năm 1929 chính ông đg bổ sung thêm 4 loài thuộc giống Chilosia Theo Tokuichi Shiraki (1968) [83][84] ở Nhật Bản có hơn 200 loài ruồi ăn rệp đg được mô tả Năm 1976 - 1979, Dethier và Tiefenau (1982) thu được 121 loài ruồi ăn rệp ở đỉnh núi Munt la Schera Thuỵ Sĩ trong
đó có gần 90% số loài di cư theo chiều gió tới Theo Kula (1981) [56], ở cộng hoà Czechoslovakia đg thu được 63 loài ăn rệp họ Syrphidae trong đó loài Episyrphus balteatus (Deg.) là loài có số lượng mẫu cao nhất Pek (1982) [66] nghiên cứu ruồi ăn rệp ở cao nguyên Tiên - shan và Pamis (Liên Xô cũ) đg thu
được 101 loài, song chúng không phải đều là loài bản xứ Thomson (1981) [80] công bố 1 bản danh mục về Syrphidae ở Tây ấn Độ gồm có 129 loài Shivayogeshwara và ctv (1990) [75] trong năm 1989 đg thu được 12 loài ăn
Trang 27thịt trên rệp đào hại thuốc lá Theo Krishan và ctv (1990) [55], ở vùng Hamachal Paradesh (ấn Độ) có 9 loài ruồi ăn rệp trên các ký chủ khác nhau
Sinh học của một số loài ruồi ăn rệp cũng được nhiều tác giả ở các nước nghiên cứu ở Philippine, Alfiler và calilung (1981) [33] tiến hành nuôi sinh học và tìm hiểu khả năng ăn rệp của ruồi Ischiodon scutellaris (F.) mà con mồi là 2 loài rệp phổ biến Melanaphis sacchari (Zhnt) và Rhopalosiphum maidis (Fitch) Kết quả nuôi sinh học cho thấy: giai đoạn trứng 3 - 4 ngày; giai đoạn dòi (ấu trùng) 5 - 7 ngày (3 tuổi); nhộng 4 - 12 ngày; trưởng thành con đực sống: 7 - 8 ngày; con cái : 11 - 12 ngày và số lượng trứng đẻ ra từ 32 -
51 trứng Khả năng ăn rệp của ấu trùng (dòi) tuổi 1 là 37, tuổi 2 là 50 với cả hai loài rệp, nhưng ở tuổi 3 ăn 71 rệp mía (M.sacchari) hoặc 58 rệp ngô (R.maydis) Sharma và Bhalla (1988) đg nghiên cứu sinh học của 6 loài ruồi ăn rệp xám Brevicoryne brassicae (L.) ở ấn Độ Sức ăn của ấu trùng (dòi) của các loài ruồi Metasyrphus confrater, Scaeva pyrastri, Macrosyphus sp.; Episyrphus balteatus, Eupeodes corollae (Metasyrphus corollae) và Ischiodon scutellaris (F.) trong suốt giai đoạn dòi là 418,8: 384,9: 268,2: 252: 235,1 và 222,8 rệp (lần lượt theo thứ tự loài) Thời gian sống của ruồi trưởng thành khi cho hút mật ong 10% là 4 - 24 ngày Krishan và ctv (1990) [55] đg nghiên cứu vai trò của hai loài ruồi ăn rệp trong điều khiển quần thể của 3 loài rệp: Brevicoryne brassicae (L.), Myzus persicae (Suizei) và Lipaphis erysimi (Kalt) Tác giả nhận thấy: cả giai đoạn dòi Episyphus balteatus (Deg.) ăn 209,
289, 233 con rệp: cả giai đoạn dòi Ischiodon scutellaris (F.) ăn 210, 173, 218 con rệp từng loài theo thứ tự Makhmoor và Verma (1989) [62] nghiên cứu tỷ
lệ gia tăng tự nhiên của ruồi Metasyrphus confrater (Wied.) cho thấy trong
điều kiện phòng thí nghiệm ở nhiệt độ 9,1 - 14,30C; ẩm độ 75% (tháng 9 đến tháng 2) con cái đg giao phối và có thời kỳ đẻ trứng là 21 ngày, thời gian thế
hệ là 52,6 ngày Khi nhiệt độ 13,6 - 19,40C; ẩm độ 65% (tháng 2 đến tháng 4) con cái đg giao phối và có thời gian đẻ trứng là 112 ngày, thời gian thế hệ là
Trang 2834,74 ngày Số lượng trứng đẻ là 17,34 trứng trong mùa đông và 56,3 trứng trong mùa hè Hai tác giả cũng kết luận rằng khả năng ăn rệp của dòi khá hơn nhưng thay đổi theo các tháng trong năm Chúng ăn khoẻ nhất vào tháng 12 và tháng 3.Verma và Makhmoor (1989) [85] đg lập bảng sống của ruồi Metasyrphus confrater (Wied.) ở trong phòng thí nghiệm và ngoài ruộng súp lơ ở Himachal Prasdeh trong hai năm 1982 - 1983 và 1983 - 1984 Tác giả đưa
ra kết luận về tỷ lệ của ruồi trong mùa đông là 76,09 và 90,80% Agarwala và ctv (1989) [29] nghiên cứu đặc điểm sinh học của 6 loài ruồi phổ biến cao thấy cả 6 loài ruồi đều thích ăn rệp Lipaphis erysimi (Kalt.) tuổi 4 hơn tuổi 2
và tuổi 3
Sanders W (1981) [74] đg đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng tới bản tính của ruồi Syrphus corollae (kết luận rằng ruồi mới vũ hoá thích vùng tối hơn, trong khi đó con đực 4 - 8 ngày tuổi thích vùng trắng hơn vùng
có 2 màu, còn con cái 2 ngày tuổi thích vùng có tương phản ánh sáng cao Con
đực 8 - 10 ngày tuổi thích vùng tối đồng màu Năm 1981 tác giả này [74],
1982 đg nghiên cứu bản năng đẻ trứng của ruồi Syrphus corollae và thấy chúng thích đẻ vào quần tụ rệp ở những lá nằm ngang gần giữa hơn vào quần
tụ tương tự nhưng ở lá dưới Nếu có 2 quần tụ rệp tương tự như nhau ở 2 mặt lá thì ruồi cái bao giờ cũng thích đẻ ở mặt dưới của lá đó hơn là đẻ ở mặt trên Mầu đen và hơi đen có tính hấp dẫn cao hơn cho hoạt động đẻ trứng đặc biệt
là cho vị trí đẻ Leir và Barlow (1982) [58] đg thí nghiệm trong phòng (Canada) và đưa ra kết luận là dòi Metasyrphus corrolae bỏ đói cho ăn rệp Acyrthosiphon pisum (Haris) sẽ ăn nhanh hơn so với dòi không bị bỏ đói; dòi tuổi lớn (trừ lúc gần vào nhộng) ăn nhanh, nhiều hơn so với dòi tuổi nhỏ Thời gian hút dịch và lượng dịch hút của dòi bị bỏ đói tăng hơn so với dòi không bị
bỏ đói Gaudchau (1982) [43], (CHLB Đức) đg tìm hiểu khả năng ăn rệp của ruồi Syrphus corollae (F.0 thấy 1 dòi tuổi 2 trong quần thể rệp Acyrthosiphon pisum (Haris) nuôi ở lồng 1,2m2 với tỷ lệ dòi/rệp là 1:10,1:5;1:2,5; số lượng
Trang 29rệp bị tiêu diệt lớn nhất ở tỷ lệ 1:2,5 và nhỏ nhất ở tỷ lệ 1:10 Ông cũng nuôi thành công Episyrphus balteatus (Deg.) bằng rệp Acyrthosiphon pisum (Haris) trong lồng nhỏ, thời gian 1 thế hệ kéo dài 20 - 23 ngày Tenhumberg (1995) [81] đg đánh giá khả năng ăn mồi của Episyrphus balteatus (Deg.) Theo ông trong thời gian dòi, một dòi non ăn được tối đa 396 rệp Số rệp này chỉ bằng 50% số rệp mà chúng có thể ăn được khi nuôi trong phòng vì ở ngoài đồng chúng ăn ít hơn và do chúng mất thời gian tìm kiếm thức ăn Gần đây ở Kenya, người ta đg tiến hành nuôi một số lượng lớn dòi Xanthogramma aegytium (Ischiodon aegyptium) đây là tác nhân sinh học đối với rệp chè (Toxoptera aurantii) Tỷ lệ phát triển của dòi tăng nhanh cùng với sự gia tăng của lượng thức ăn Giai đoạn dòi là 10 ngày, từ trứng đến trưởng thành là 23 ngày
Ruồi ăn rệp có vai trò lớn đối với quần thể rệp muội nhưng còn có những mặt hạn chế nhất định Chúng bị một số kẻ thù tự nhiên nhất là ong ký sinh Rotheray (1984) [72] nhận xét hầu hết các loài ruồi ăn rệp đều bị ký sinh
*Nghiên cứu về ngưỡng phòng trừ
ở Hunam - Trung Quốc, Zhang và ctv (1996) [87] đg đưa ra ngưỡng kinh tế đối với rệp đào trên thuốc lá là 4 con/cây, ngưỡng phòng trừ là 10 rệp/cây Mineo và ctv (1962)[64] nghiên cứu ở Sicily (Italy) đg đưa ra ngưỡng phòng trừ rệp bông Aphis gossypii Glover (là sâu hại quan trọng nhất ) là 10 -
20 rệp/cây trên dưa hấu, thường cả vụ cần 4 lần phun Tahtacioglu (1998)[79] dùng bẫy nước mầu vàng để bẫy rệp đào có cánh ở vùng trồng khoai tây (Thổ Nhĩ Kỳ) và kết luận ngưỡng kinh tế của rệp đào là 20 rệp trên 1 bẫy và thường
được theo dõi từ đầu tháng 9
2.2.2 Kết quả nghiên cứu trong nước
ở Việt Nam nghề trồng hoa tuy đg có từ lâu đời, nhưng trồng hoa tươi mang tính thương mại mới chỉ phát triển ở một số vùng nhưng chưa phổ biến
Trang 30nhiều.Trong nước đg có nhiều nghiên cứu về hoa nói chung và hoa loa kèn nói riêng nhưng phần lớn chủ yếu đề cập tới các vấn đề thuộc kỹ thuật trồng trọt
là chủ yếu Tuy nhiên cũng đg có một số nghiên cứu về sâu bệnh hại hoa nói chung và hoa loa kèn nói riêng thực tế còn rất ít mới chỉ đưa ra những nhận xét, đánh giá sơ lược về thành phần cũng như mức độ hại và biện pháp phòng chống sâu hại trên hoa
Năm 1993, tác giả Trần Hợp đg cho xuất bản cuốn sách “Hoa và cây cây cảnh Việt Nam” Trong đó tác giả đg giới thiệu các loại hoa được trồng phổ biến ở miền Bắc nước ta, hoa cúc, hoa hồng, cẩm chướng, violet… trong
đó hoa cúc và hoa hồng là được trồng phổ biến hơn cả [4]
Năm 1996, Huỳnh Văn Thới cho ra mắt cuốn “Cẩm nang nuôi trồng và kinh doanh phong lan”, ở thời điểm này cây phong lan đang là cây hoa được chú ý và đánh giá mang lại hiệu quả kinh tế trong sản xuất và kinh doanh hoa cây cảnh Trong cuốn sách tác giả cho biết: sâu hại trên hoa rất nhiều, trong đó bao gồm bọ trĩ, nhện đỏ, rệp muội là những đối tượng hại nguy hiểm phải quan tâm hơn cả Ngoài ra còn có rệp vẩy thuộc họ rệp sáng cũng gây hại nhiều trên phong lan Các loài sâu hại này thường gây hại ở phần đoạn non làm cho đoạn đó bị lá vàng và héo dần, nếu chăm sóc không tốt cây phong lan có thể bị chết hoặc không cho thu hoạch hoa [24]
Năm 1997, nghiên cứu về thành phần sâu hại trên hoa hồng và hoa phăng vùng Hà Nội trong báo cáo của Nguyễn Mai Hương cho biết thành phần sâu hại hoa hồng, hoa phăng gồm 9 loài, 4 họ và 3 bộ Trong đó sâu hại thuộc bộ cánh vảy là khá phổ biến có tới 6 loài [5]
Theo tác giả Nguyễn Thị Lan 1998 trong báo cáo tốt nghiệp của mình tác giả đg đưa ra thành phần sâu hại trên hoa cúc, hoa phăng gồm 16 loài, 10
họ thuộc 5 bộ Một nhận xét quan trọng là: có 3 loài rệp muội thuộc họ Aphididae phổ biến, rệp xanh đen (Meotrichophorrus chrysanthemi Theobald) rệp nâu đen (Macrosiphoniella sanborni Gillette), rệp xanh lá cây (Coloradoa rufomaculata (Wilson))[9]
Trang 31Trong báo cáo tác giả đề cập đến hai loài sâu hại chủ yếu và quan tâm hơn cả là sâu xanh (Helicoverpa armigera Hb.) và sâu khoang (Spodoptera Fabr.) [8]
Nhóm sâu hại trên hoa thì nhóm rệp muội là đối tượng sâu hại nhỏ được quan tâm và nghiên cứu nhiều, chúng gây hại trên nhiều loài cây trồng và là đối tượng nguy hiểm Có nhiều tác giả trong nước nghiên cứu và đề cập về chúng
Tác giả Nguyễn Viết Tùng (1992) khi đề cập tới vấn đề phổ cây ký chủ của rệp muội, tác giả cho rằng: rệp muội là nhóm côn trùng có phổ ký rộng, hay phát tán, thường bắt gặp chúng trên nhiều loại cây trồng khác nhau Tác giả có nhận xét: rệp muội thường hay phát tán ở nhiều loại cây trồng khác khác nhau và nếu chọn những ký chủ thích hợp để định cư Tác giả còn cho rằng mỗi loài thực vật chỉ xem là ký chủ thực sự của một loài rệp muội nào
đó khu loài rệp muội này sinh sống và sinh sản thuận lợi trên đó Vì lẽ này
mà có nhiều nhận xét khác nhau về phổ cây lý của các tác giả khác nhau, phổ cây ký chủ của một số loài rệp được xác định ở Việt Nam thường hẹp hơn so với công bố của một số tác giả nước ngoài [25]
Năm 1996, tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh nghiên cứu về đặc tính sinh học của loài rệp muội đg có nhận xét quan trọng: Rệp muội sau khi lột xác khoảng 1 ngày thì bắt đầu hoạt động chích hút dịch cây, hoạt động này diễn
ra suốt ngày đêm ngay cả khi chúng đẻ Qua đây cho thấy tập tính hoạt động của rệp muội có ảnh hưởng sâu sắc đến cây trồng khu chúng gây hại với mật
độ cao trên cây [20]
Có rất nhiều tác giả đề cập tới tác hại của rệp muội đối với cây trồng Nguyễn Xuân Cung (1975) cho rằng rệp xám Brevicosyne brassicae L phá hại nhiều trên rau họ thập tự Rệp phá hại mạnh và bám tập trung ở mặt dưới lá trên ngọn và trên hoa Khi rệp phát triển nhiều cây bị cằn cỗi và héo vàng dần [2] Theo Phạm Thị Nhất (1975) thì rệp muội hại cải B.brassicae (Linn) là một trong những sâu hại quan trọng trong vụ rau đông xuân Rệp thường phá hại mạnh vào các tháng đằng sau vụ, sau đó giảm dần từ tháng 3 - 4 lại phá hại mạnh [17]
Trang 32* Về thành phần loài
Theo kết quả điều tra côn trùng ở miền Bắc Việt Nam năm 1967 - 1968
đg thu thập được 9 loài rệp muội (Viện Bảo vệ thực vật (1976)) Theo Nguyễn Văn Cảm (1983) [1], Viện Bảo vệ thực vật (1993) điều tra sâu bệnh ở miền Nam năm 1977 - 1978 đg thu thập được 11 loài rệp muội Theo Nguyễn Công Thuật (1977), trên khoai tây có 4 loài rệp muội Nguyễn Xuân Thành (1992) [23] đg ghi nhận được trên rau có 6 loài rệp muội Hà Minh Trung, Phạm Văn Lầm (1993) [10] đg công bố 8 loài rệp muội là môi giới truyền phổ biến trên một số cây trồng ở ngoại thành Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Khánh Hoà Nguyễn Thị Kim Oanh (1996) [21] gần đây đg phát hiện được 14 loài rệp muội
ở ngoại thành Hà Nội Quách Thị Ngọ (1999) [15] đg công bố ở ngoại thành Hà Nội có 18 loài rệp muội Một số tác giả nước ngoài (Ba Lan, Nga) cũng có những công bố về thành phần loài rệp ở Việt Nam Tổng hợp các kết quả đg công bố của nhiều tác giả thì đến nay ở nứơc ta đg phát hiện được 28 loài rệp muội Tuy vậy vẫn có nhiều loài chưa được phát hiện
* Về sinh học, sinh thái
Những nghiên cứu về sinh học sinh thái của rệp muội nói chung chưa
được nghiên cứu nhiều như một số nhóm sâu hại khác Nguyễn Tất Thắng
1991 đg công bố kết quả nuôi sinh học rệp đào myzus persicae(Sulzer) bằng khoai tây: Rệp non có 4 tuổi, tuổi 1:1,7; tuôir 2: 2,0; tuổi 3: 2,4; tuổi 4: 2,7, ngay vòng đời 9,2 ngày Đời rệp 17,8 ngày ở nhiệt độ: 18,5 - 26,50C Tác giả cũng đg có những kết qủa về diễn biến của quần thể rệp đào trên các thời vụ khoai tây(dẫn qua [20]) Nguyễn Thị Kim Oanh (1996) [20] đg nghiên cứu sinh học của 6 loài rệp muội (3 loài ở nhiệt độ 200 C và 180 C, 3 loài ở nhiệt độ 25 và
300 C) Tác giả đg kết luận trong điều kiện thí nghiệm với thức ăn là cây kí chủ
ưa thích của các loài rệp ở nhiệt độ 20 - 25 0 C nhìn chung các loài đều có vòng thời gian ngắn từ 7,2 - 14,3 ngày Theo Nguyễn Đức Khiêm (1996) [7] rệp xơ
Trang 33trắng hại mía loại hình có cánh có vòng đời 6,9 - 8,4 ngày, sức đẻ trung bình của một rệp cái không cánh từ 35,7 - 43,6 rệp con (nhiệt độ 21,9 - 28,10 C)
*ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu
Theo Nguyễn Thị Kim Oanh(1996) [21], lượng mưa có ảnh hưởng rõ rệt đến mật độ rệp hại Lượng mưa từ 10 mm trở lên đg làm giảm mật độ các loài rệp muội Theo Nguyễn Đức Khiêm (1965) [5] đg cho rằng lượng mưa có
ảnh hưởng lớn đến mật độ xơ trắng hại mía: Lượng mưa 110 mm đg làm giảm mật độ rệp có cánh tới 47,17%; rệp cái không cánh là 36,4%; rệp non 24,6%; Tổng số rệp giảm trung bình 27,6%
*ảnh hưởng của các yếu tố canh tác
Nguyễn Thị Kim Oanh (1996) [21] cho biết biện pháp canh tác như giống thời vụ phân bón có ảnh hưởng khá rõ rệt tới mật độ của rệp Mật độ của rệp trên ngô ở nền phân bón cao (128 kg/ha) cao hơn ở nền phân bón thấp (64kg/ha)
*Thiên địch của rệp muội
Yếu tố ảnh hưởng tới quần thể rệp được đề cập nhiều nhất là quần thể thiên địch của rệp muỗi:
Nhìn chung thành phần thiên địch của rệp muỗi thu được ở trong nước phần nhiều là những loài ăn thịt tập trung ở hai họ ruồi ăn rệp (Svphidae) và
bọ rùa (Cociellidae) Kết quả điều tra năm 1967 - 1968 ở miền Bắc thu đựơc
14 loài ruồi ăn rệp trưởng thành (Viện Bảo vệ thực vật (1976)) Nguyễn Văn Cảm (1983)[1] ở miền Nam thu được 2 loài Nguyễn Viết Tùng (1990) [26] đg thu thập được 7 loài ruồi ăn rệp Tác giả cũng đg công bố 13 loại bọ rùa ăn rệp trong vùng đồng bằng sông Hồng Phạm Văn Lầm (1992) [10][11] đg nêu một số loài bọ rùa ăn rệp Nguyễn Xuân Thành (1992) [23] điều tra trên ruộng
đay đg thu được 14 loài bọ rùa ăn rệp Aphis gossypii Glover trên sinh quần ruộng đay Nguyễn Thị Kim Oanh(1996) [21] đg thu được 20 loài thiên địch
Trang 34trên 6 loài rệp muội phổ biến Phạm Văn Lầm (1999) [11]đg thu được 10 loài thiên địch trên rệp xám và rệp đào hại rau họ thập tự
Về vai trò của thiên địch trong việc hạn chế rệp muội, Vũ Công Hậu (1978) [2] nhận xét rệp muội có nhiều thiên địch, chú ý bảo vệ bọ rùa, ruồi Syrphid Đây là những kẻ thù lợi hại của rệp muội, tiến tới nuôi thả đồng ruộng những loài hoạt động mạnh nhất Hoàng Đức Nhuận (1980) [18] nhận xét họ rùa đỏ Micrapis discolor được xác định như một thiên địch phổ biến ở nhiều loài cây trồng Tác giả nhận xét bọ rùa 6 chấm là loài rất phổ biến ở nhiều sinh cảnh của nước ta, nhiều khi ta gặp với số lượng lớn trên cánh đồng
đậu, khoai lang, điền thanh Ông cho rằng rệp là thức ăn ưa thích của bọ rùa này Nguyễn Viết Tùng (1992) [26] cho rằng bọ rùa (Cocinellidae) là những
kẻ thù tự nhiên phổ biến của rệp muỗi ở vùng đồng bằng sông Hồng Phối hợp
sủ dụng những loại bọ rùa này với các biện pháp khác phòng trừ rệp muội hại cây trồng có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao
Đánh giá khả năng tiêu diệt con mồi của ruồi ăn rệp Ischiodon setitellaris Fabr vowis rệp cải, Bùi Hải Sơn và ctv (1990) [22] kết luận cả giai
đoạn đời của loài nay tiêu diệt được từ 169,2 - 262,7 rệp cải Tác giả nhận xét trong mùa đông giai đoạn từ trứng đến trưởng thành vũ hoá thay đổi từ 13-25 ngày Trương Xuân Lam(1982) [8] đg cho biết một bọ rùa trưởng thành ăn thịt
được 73,08 rệp trắng mía (Ceraspis discolor) trưởng thành một ngày ăn đựơc trung bình từ 6,33 rệp cải, 8,62 rệp bông, 8,96 rệp đào, 9,19 rệp rễ và 11,48 rệp ngô Quách Thị Ngọ 1999 [15] đg nghiên cứu một số đặc điểm sinh học chủ yếu của 2 loài ruồi ăn rệp Episyrphus balteatus (Deg), Ischiodon scutellaris Fabr Tác giả cũng đg đánh giá sức ăn của chúng trong điều kiện phòng thí nghiệm Năm 1999 [15] Quách Thị Ngọ và ctv đg công bố kết quả nghiên cứu sinh học và đánh giá sức ăn của bọ rùa 2 mảnh đỏ
Trang 35Khuất Đăng Long và ctv (1996) [12] đg nghiên cứu về ong Diacre tilla rapae M'Intosh ký sinh trùng rệp xám (Brevicoryne brassicae(L)) Tác giả này cho rằng trên rau su hào và cải bắp vụ đông xuân ở khu vực ngoại thành
Hà Nội, loài kí sinh này thường hoạt động tích cực từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Tỷ lệ rệp bị xám bị ký sinh từ 5 -19%, trung bình là 14,5% Tỷ lệ rệp
bị kí sinh cao hơn ở ruộng su hào không hoặc ít bị phun thuốc Tác giả mới chỉ tìm thấy ong vũ hoá ra từ vỏ rệp không cánh chứ chưa tìm thấy từ rệp có cánh
Trang 363 Địa điểm, thời gian, Đối tượng, vật liệu
Hà Nội (Tây Tựu - Từ Liêm, Quảng An - Tây Hồ)
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, đặc tính sinh học rệp muội tại Bộ môn Côn trùng - Khoa Nông học- Trường Đại học Nông nghiệp I và phòng thực tập Côn trùng Trường Trung cấp Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - tỉnh Hải Dương 3.1.2 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 8 năm 2005 đến tháng 5 năm 2006
3.2 Đối tượng, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các loài sâu, nhện hại cây hoa loa kèn
- Các loài thiên địch của sâu hại hoa loa kèn
3.2.2 Vật liệu nghiên cứu
- Các giống hoa loa kèn đang trồng tại vùng nghiên cứu
- Sáu loại thuốc bảo vệ thực vật
3.2.3 Dụng cụ nghiên cứu: bút lông bắt rệp, kính lúp tay, kính đo kích thước sâu, lọ đựng mẫu,vợt, panh mềm, tủ sinh thái, hộp petry, cồn, dung dịch fooc môn
Trang 37Số lần bắt gặp loài sâu + Tần suất xuất hiện(%) =
Tổng số lần điều tra x100 Chỉ tiêu theo dõi: mức độ phổ biến của loài sâu, nhện hại
- Mức độ phổ biến:
(-): rất ít xuất hiện (tần suất xuất hiện < 5%)
(+): rất ít phổ biến (tần suất xuất hiện 5% - 25%)
(++): phổ biến (tần suất xuất hiện > 25% - 50%)
(+++): rát phổ biến (tần suất xuất hiện > 50%)
3.3.2 Phương pháp điều tra diễn biến số lượng sâu, nhện nhỏ trên đồng ruộng
* Đối với rệp muội và nhện nhỏ :
- Điều tra 1 tuần/ 1 lần: việc điều tra được tiến hành từ khi cây bắt đầu trồng cho tới khi thu hoạch
- Điều tra trên các ruộng đại diện cho các giống, thời vụ, địa điểm mỗi
đại diện chọn 1 ruộng
- Mỗi ruộng điều tra 5 điểm chéo góc
- Mỗi điểm chọn ngẫu nhiên 3 cây (ở giai đoạn cây nhỏ) để điều tra hoặc chọn điều tra ngẫu nhiên 1 cây lớn (ở giai đoạn cây đg bắt đầu phân nhánh, có hoa, đến thu hoạch)
Trang 38- Mỗi cây nhỏ: chọn 3 tầng (tầng ngọn, tầng giữa cây và tầng lá sát mặt
đất) mỗi tầng ngắt một lá rồi dùng kính lúp tay quan sát và đếm số rệp ở trên mặt trên và mặt dưới lá
- Cây lớn (ở giai đoạn cây đg phân nhánh và có hoa đến thu hoạch) thì ngắt lá theo 3 tầng (ngọn, giữa cây, sát mặt đất) mỗi tầng theo 4 hướng đông, tây, nam, bắc) như vậy là ngắt 12 lá/1 cây ở 1 kỳ điều tra
- Khi cây đg có hoa thì ngoài việc điều tra rệp trên lá thì cần xác định tỷ
lệ chùm hoa có rệp hại
Chỉ tiêu điều tra:
Tổng số rệp điều tra (con) + Mật độ rệp (con/ bộ phận điều tra) =
Tổng số bộ phận điều tra
Tổng số cây (hoa) có rệp + Tỷ lệ cây (hoa) có rệp (%) =
Tổng số cây (hoa) điều tra x100
* Đối với sâu khoang, sâu xanh, câu cấu :
- Điều tra 1 tuần/ 1 lần: việc điều tra được tiến hành từ khi cây bắt đầu trồng cho tới khi thu hoạch
- Điều tra trên các ruộng đại diện cho các giống, thời vụ, địa điểm mỗi
đại diện chọn 1 ruộng
- Mỗi ruộng điều tra 5 điểm chéo góc
- Mỗi điểm chọn ngẫu nhiên 5 cây để điều tra
Chỉ tiêu điều tra:
Tổng số sâu điều tra (con) + Mật độ sâu (con/ cây) =
Tổng số cây điều tra (cây )
Trang 393.3.3 Phương pháp nuôi sinh học rệp muội để xác định đặc điểm hình thái, đặc tính sinh học sinh thái
* Nuôi rệp theo phương pháp đĩa lá của Van Emden (1972)
- Dùng bút lông chuyển vào mỗi hộp petry (hộp có sẵn lá cây k í chủ sạch, lá được đặt trên giấy thấm nước sạch để giữ cho lá tươi) 10 rệp mẹ được bắt từ ngoài đồng Sau 1 đêm dùng bút lông đg thấm nhẹ nước tác động thật nhẹ nhàng vào phía cuối cơ thể rệp non tuổi 1 vừa được đẻ ra trong đêm để chuyển mỗi rệp non vào một hộp petry (hộp có sẵn lá cây kí chủ sạch, lá được
đặt trên giấy thấm nước sạch để giữ cho lá tươi, hộp được đánh số từ 1 đến 30 cả đáy và nắp Thí nghiệm được tiến hành với 30 hộp, ngoài ra cần có từ 5 đến
10 hộp dự trữ để khi thay thế thức ăn làm chết rệp Ghi lại ngày rệp non được
đẻ ra và bắt đầu tiến hành nuôi, hàng ngày từ 9 giờ đến 10 giờ sáng tiến hành kiểm tra các hộp để bổ sung nước sạch, lấy xác lột của rệp để xác định tuổi rệp hoặc bắt rệp non được đẻ ra để xác định khả năng sinh sản của rệp ( ở giai
đoạn rệp bắt đầu đẻ) và hai ngày thay thức ăn 1 lần Toàn bộ số liệu quan sát
được ghi vào bảng nuôi sinh học rệp
Cuối cùng từ các bảng nuôi sẽ xác định được các chỉ tiêu sau:
+ Thời gian phát triển trung bình từng tuổi (pha)
+ Vòng đười của rệp (ngày)
+ Sức sinh sản trung bình của rệp (số con TB/1 rệp mẹ)
+ Nhịp điệu sinh sản (số lượng rệp con được đẻ ra trung bình từng ngày)
* Phương pháp đo kích thước và mô tả rệp (đo theo phương pháp của Blackman và Eastop 1984)
- Việc quan sát được tiến hành ở hai loại hình rệp có cánh và không có cánh bắt được từ ngoài tự nhiên, đem rệp về phòng nghiên cứu dùng kính lúp
điện để giám định, mô tả và vẽ hình
Trang 40- Để mô tả sự thay đổi về kích thước và màu sắc rệp ở các tuổi khác nhau chúng tôi tiến hành theo phương pháp nuôi cá thể như sau: 10 cá thể rệp tuổi 1 được đẻ ra cùng một đêm, đặt trong 10 hộp petry có lá cây kí chủ sạch
đặt trên giấy thấm nước Rệp ở từng tuổi được đưa vào quan sát và đo dưới kính lúp điện xác định kích thước của từng tuổi, kích thước rệp được tính bằng trị số bình quân của 10 lần đo trên 10 cá thể rệp Mô tả màu sắc rệp, cấu tạo các đốt râu, trán, hình dáng, màu sắc và độ dài ống bụng, đuôi
- Đo độ dài cơ thể rệp được tính từ đỉnh đầu tới cuối cơ thể rệp (không
kể chiều dài đuôi), chiều rộng cơ thể rệp được đo ở phần rộng nhất của cơ thể rệp
3.3.4 Phương pháp điều tra thành phần các loài kẻ thù tự nhiên của rệp muội
- Điều tra tỷ lệ rệp muội bị kí sinh: kết hợp với việc điều tra sâu hại hoa tại ruộng điều tra ở mỗi vùng nghiên cứu trong mỗi đợt điều tra bắt về 100 con rệp (bao gồm cả rệp bị kí sinh và chưa bị kí sinh) Sau đó tiếp tục nuôi hàng ngày, thay thức ăn theo dõi xem có bao nhiêu rệp bị k í sinh bao nhiêu rệp sinh sản và phát triển bình thường, trong 2 tuần thu được tỷ lệ rệp bị kí sinh (%)
- Điều tra côn trùng bắt mồi ăn thịt: thu bắt các loài bọ rùa, cánh cứng, cánh ngắn, ruồi ăn rệp…
3.3.5 Thí nghiệm về biện pháp phòng trừ rệp bằng một số thuốc bảo vệ thực vật
* Đánh giá hiệu lực của các loại thuốc trong phòng thí nghiệm
- Tiến hành theo phương pháp nhúng lá cây rệp hại vào trong dung dịch thuốc trong thời gian 5 giây Ngay sau khi nhúng thuốc, dùng panh nhặt lá đặt lên giấy thấm cho ráo nước rồi đếm tổng số rệp còn lại trên lá Sau đó chuyển lên đĩa petry có giấy thấm giữ ẩm Sau từ 3, 5 giờ, sau 1ngày đếm số lượng rệp còn sống Những con rệp không có phản ứng gì khi chạm bút lông vào chân