1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của ong ký sinh nhập nội và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sâu tơ hại rau họ hoa thập tự vụ đông xuân 2005-2006 tại văn lâm, hưng yên

90 706 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 728,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I --- bùi xuân phong Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của ong ký sinh Diadegma insulare Cresson nhập nội và khả năng

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I -

bùi xuân phong

Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của ong ký sinh

(Diadegma insulare Cresson) nhập nội và khả năng sử dụng chúng

trong phòng chống sâu tơ hại rau họ hoa thập tự

vụ đông xuân 2005-2006 tại văn lâm, hưng yên

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã

đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Bùi Xuân Phong

Trang 3

Lời cảm ơn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS TS Hà Quang Hùng đã dành nhiều thời gian quý báu tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong Khoa Nông học, Khoa

Đào tạo sau Đại học - Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội; Chân thành cảm

ơn Lãnh đạo Cục Bảo vệ thực vật, Dự án IPM- DANIDA, Ban Giám đốc, Phòng

Dự báo & Chuyển giao, Phòng nhân nuôi Ong ký sinh và toàn thể cán bộ Trung tâm BVTV phía Bắc đã tạo điều kiện, tận tình giúp đỡ; Cảm ơn các em sinh viên

đã phối hợp để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin cảm ơn tất cả các bạn đồng nghiệp, bạn bè trong lớp Cao học BVTV khoá 13 đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Tác giả luận văn

Trang 4

Mục lục

Phần I: mở đầu i

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích của đề tài 3

1.3 Yêu cầu của đề tài 3

Phần II: tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.2 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước 5

2.2.1 Những nghiên cứu ngoài nước 5

2.2.1.1 Những nghiên cứu về sâu tơ và biện pháp quản lý 5

2.2.1.2 Những nghiên cứu về ong ký sinh D insulare 13

2.2.2 Những nghiên cứu trong nước 19

2.2.2.1 Sản xuất rau và tình trạng sử dụng thuốc hóa học trên rau 19

2.2.2.2 Những nghiên cứu về sâu tơ 22

2.2.2.3 Những nghiên cứu về kẻ thù tự nhiên của sâu tơ 24

2.2.2.4 Những nghiên cứu về ong ký sinh D insulare 26

phần iiI: đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu 30

3.1 Đối tượng nghiên cứu 30

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30

3.3 Dụng cụ nghiên cứu 30

3.4 Phương pháp nghiên cứu 31

3.4.1.Ngoài đồng 31

3.4.2.Trong phòng 31

3.4.3 Phương pháp bảo quản mẫu và giám định 33

3.5 Chỉ tiêu và phương pháp tính toán 33

3.6 Phương pháp tính toán 35

1

4

Trang 5

phần iV: kết quả nghiên cứu và thảo luận 36

4.1 Thành phần sâu hại trên rau họ hoa thập tự vụ Đông Xuân năm 2005-2006 tại Văn Lâm, Hưng Yên 36

4.2 Thành phần kẻ thù tự nhiên của sâu tơ (P xylostella) vụ Đông Xuân 2005-2006 tại Văn Lâm, Hưng Yên 39

4.3 Diến biến số lượng của sâu tơ và một số loài thiên địch chủ yếu trên cải bắp vụ Đông Xuân 2005-2006 tại Văn Lâm, Hưng Yên 43

4.4 Đặc điểm hình thái và một số đặc điểm sinh học của ong D insulare ký sinh sâu non sâu tơ hại rau họ hoa thập tự 48

4.4.1 Đặc điểm hình thái của ong Diadegma insulare 48

4.4.2 Vòng đời của ong D insulare 51

4.4.3 Một số tập tính của trưởng thành ong D insulare 52

4.4.4 Thời gian vũ hóa trong ngày của ong D insulare 53

4.4.5 Hoạt động đẻ trứng trong ngày của ong D insulare 54

4.4.6 Nhịp điệu đẻ trứng của ong D insulare 56

4.4.7 Tính lựa chọn tuổi sâu tơ để ký sinh 58

4.4.8 ảnh hưởng của thức ăn bổ sung đến thời gian sống và khả năng đẻ trứng của trưởng thành ong D insulare 59

4.4.9 ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến trưởng thành ong D insulare 61

4.4.10 Nhân nuôi ong D insulare trong phòng thí nghiệm 62

4.4.11 Diễn biến tỷ lệ ký sinh của ong D insulare trên đồng ruộng 64

phần V: kết luận và đề nghị 67

5.1 Kết luận 67

5.2 Đề nghị 68

Tài liệu tham khảo 69

Trang 6

Danh mục các từ viết tắt

AVRDC: Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau Châu á

BMAT: Bắt mồi ăn thịt

BVTV: Bảo vệ thực vật

CC: cánh cộc

CABI: Trung tâm sinh học ứng dụng quốc tế

CABI - SEARC: Trung tâm vùng Đông Nam á của CABI

c/m2: mật độ con/m2

FAO: Tổ chức lương thực thế giới

GĐST: Giai đoạn sinh trưởng

GAP: Hệ thống tiêu chuẩn sản xuất rau an toàn Châu Âu

IPM: Quản lý dịch hại tổng hợp

KSN: Ký sinh nhộng

KSSN: Ký sinh sâu non

MARDI: Viện nghiên cứu nông nghiệp và phát triển nông thôn Malaysia MĐ PB: Mức độ phổ biến

Trang 7

Danh mục các bảng

Bảng 1: Thành phần sâu hại rau họ hoa thập tự vụ Đông Xuân năm 2005-2006

tại Văn Lâm, Hưng Yên 36

Bảng 2: Thành phần kẻ thù tự nhiên của sâu tơ vụ Đông Xuân 2005-2006 tại Văn Lâm, Hưng Yên 39

Bảng 3: Diễn biến số lượng của sâu tơ và một số loài thiên địch chủ yếu trên trà cải bắp sớm - Vụ Đông Xuân 2005-2006 tại Văn Lâm, Hưng Yên 43

Bảng 4 : Diễn biến số lượng sâu tơ và một số thiên địch chủ yếu trên trà cải bắp chính vụ- Vụ Đông Xuân 2005-2006 tại Văn Lâm, Hưng Yên 46

Bảng 5: Kích thước các pha phát dục của ong D insulare 49

Bảng 6: Vòng đời của ong D insulare 51

Bảng 7: Thời gian vũ hóa trong ngày (tỷ lệ %) của ong D insulare 53

Bảng 8: Hoạt động đẻ trứng trong ngày của ong D insulare 54

Bảng 9: Nhịp điệu đẻ trứng ký sinh của ong D insulare 57

Bảng 10: Tính lựa chọn tuổi sâu tơ để ký sinh của ong D insulare 58

Bảng 11: ảnh hưởng của thức ăn bổ xung đến thời gian sống (ngày) và khả năng đẻ trứng của trưởng thành ong D insulare 60

Bảng 12: ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến trưởng thành ong D insulare 61

Bảng 13: Khả năng nhân nuôi ong D insulare trong phòng thí nghiệm 63

Bảng 14: Diễn biến tỷ lệ ký sinh của ong D insulare 65

Trang 8

Danh mục các đồ thị

Đồ thị 1: Diễn biến mật độ của sâu tơ và một số loài BMAT chính trên trà

cải bắp sớm 45

Đồ thị 2: Diễn biến mật độ của sâu tơ và tỷ lệ ong ký sinh trên trà cải bắp sớm 45

Đồ thị 3: Diễn biến mật độ của sâu tơ và một số loài BMAT chính trên trà cải bắp chính vụ 47

Đồ thị 4: Diễn biến mật độ của sâu tơ và tỷ lệ ong ký sinh trà cải bắp chính vụ 47 Đồ thị 5: Thời gian vũ hóa (tỷ lệ %) trong ngày của ong D insulare 54

Đồ thị 6: Hoạt động đẻ trứng trong ngày của ong D insulare 56

Đồ thị 7: Nhịp điệu đẻ trứng ký sinh của ong D insulare 58

Đồ thị 8: Tính lựa chọn tuổi sâu tơ để ký sinh 59

Đồ thị 9: ảnh hưởng của thức ăn bổ xung đến thời gian sống và khả năng đẻ trứng của trưởng thành ong D insulare………60

Đồ thị 10: ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến trưởng thành ong D insulare 62

Đồ thị 11: Diễn biến tỷ lệ nở và tỷ lệ ong cái nhân nuôi trong phòng 64

Đồ thị 12: Diễn biến tỷ lệ ký sinh của ong D insulare trên đồng ruộng 66

Trang 9

Danh mục các ảnh

ảnh 1: Trưởng thành sâu tơ (P xylostella) 38

ảnh 2: Sâu non sâu tơ (P xylostella) 38

ảnh 3: Sâu tơ và triệu chứng gây hại 38

ảnh 4: Nhộng sâu tơ (P xylostella) 38

ảnh 5: Bọ rùa 2 chấm đỏ (Lemnia biplagiata) 42

ảnh 6: Bọ rùa vàng (Micraspis sp.)……… ……… 42

ảnh 7: Bọ rùa 6 vằn (Menochilus sexmaculatus)……… 42

ảnh 8: Nhện linh miêu (Oxyopes javanus)……….……… 42

ảnh 9: Trưởng thành đực ong D insulare 50

ảnh 10: Trưởng thành cái D insulare 50

ảnh 11: Trưởng thành cái D insulare đang ký sinh 50

ảnh 12: Trưởng thành cái D insulare đang tìm ký chủ trên rau cải bắp 50

ảnh 13: Cánh trưởng thành đực D insulare 51

ảnh 14: Trứng ong D insulare 51

ảnh 15: ấu trùng tuổi 1 ong D insulare 51

ảnh 16: ấu trùng tuổi 2 ong D insulare 51

ảnh 17: ấu trùng tuổi 3 ong D insulare 51

ảnh 18: ấu trùng tuổi 4 ong D insulare 51

ảnh 19: Tiền nhộng của ong D insulare 51

ảnh 20: Nhộng ong D insulare nằm trong kén sâu tơ 51

ảnh 21: Nhộng ong D insulare 51

ảnh 22: Rau cải bắp trồng phục vụ thí nghiệm 51

ảnh 23: Dụng cụ, cây trồng phục vụ thí nghiệm 51

ảnh 24: Lồng nhân nuôi ong ký sinh 51

Trang 10

Phần I: mở đầu 1.1 Đặt vấn đề

Dân số thế giới ngày càng tăng, tính đến thời điểm hiện tại là trên 6 tỷ người cho nên việc đảm bảo nhu cầu thiết yếu về lương thực thực phẩm ngày càng tăng Hơn thế nữa, nhu cầu về chất lượng thực phẩm ngày càng cao và phải

đảm bảo được an toàn thực phẩm cho người sử dụng

Rau xanh nói chung, rau họ hoa thập tự nói riêng là nguồn dinh dưỡng rất quan trọng đối với con người Rau xanh được chia thành các nhóm: nhóm rau cải (rau họ hoa thập tự), nhóm cà, nhóm hành tỏi, nhóm rau ăn quả (bầu, bí, mướp, dưa chuột ), nhóm đậu làm rau, nhóm xà lách gia vị Trong các nhóm này thì

nhóm rau họ hoa thập tự (Brassicaceae) chiếm hơn 50% tổng sản lượng rau

Hàm lượng dinh dưỡng khoáng trong rau khá cao, trong 100g rau tươi có 90- 93,8g nước, 1,1-1,8g protein, 2,1-5,4g gluxit, 1,6-1,8g xenlulo Thành phần muối khoáng gồm canxi, phốt pho, sắt…vitamin gồm carôten, vitamin B1, B2, PP

và vitamin C Hàng năm cả nước ta gieo trồng khoảng 260-270 ngàn ha rau các loại, sản lượng đạt trên 3 triệu tấn Vùng sản xuất rau lớn tập trung ở vùng đồng bằng sông Hồng với 27-28% diện tích chiếm 32-33% sản lượng rau cả nước Đây cũng là vùng rau hàng hoá, gieo trồng được nhiều loại rau ôn đới trong đó có họ thập tự

Rau họ hoa thập tự có thể trồng nhiều vụ trong năm, xen canh gối vụ trong nhiều điều kiện thời tiết khác nhau nên thành phần sâu hại rất phong phú và đa

dạng Chủ yếu là sâu xám (Agrotis ypsilon), sâu tơ (Plutella xylostella), bọ nhảy

(Phyllotreta striolata), sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae), rệp cải (Brevicoryne brassicae)

Sâu tơ (Plutella xylostella Linnaeus) là loài dịch hại nghiêm trọng nhất đối

với cây rau họ thập tự (Cruciferacae) ở tất cả các nước trồng rau trên thế giới

Trang 11

trong đó có Việt Nam Khả năng kháng thuốc của sâu tơ rất cao do đó việc phòng trừ gặp rất nhiều khó khăn [1]

Nông nghiệp thế giới đã phát triển theo hướng tập trung thâm canh tăng năng suất cây trồng, nhưng khi tăng được năng suất cây trồng thì kèm theo là dịch hại gia tăng mạnh Để bảo vệ cây rau khỏi sự tàn phá của sâu hại, người nông dân đã phải dùng nhiều biện pháp khác nhau để diệt trừ, trong đó chủ yếu là biện pháp hoá học ở những vùng chuyên canh rau, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) được sử dụng nhiều và liên tục đã gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng, phá

vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường, tạo ra khả năng kháng thuốc của các loài sâu hại, bùng phát số lượng của các loài thứ yếu Ngoài tác động trực tiếp cho người sử dụng thuốc hoá học còn gây tác hại cho người sử dụng sản phẩm rau, ảnh hưởng đến sinh vật có ích, tồn tại trong đất, nước gây ô nhiễm môi trường [30], [34], [35]

Vấn đề sản xuất rau an toàn và môi trường đang là mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Biện pháp sinh học được

sử dụng như biện pháp cốt lõi trong hệ thống quản lý dịch hại tổng hợp (Intergrate Pest Management: IPM) [3] Biện pháp sinh học tránh được những tiêu cực do biện pháp hoá học gây ra, bảo tồn và khích lệ sự phát triển các loài thiên địch của dịch hại Biện pháp sinh học đang là hướng đi đúng đắn trong công tác BVTV [14]

Nhập nội các loài ký sinh thiên địch cũng nhằm tăng cường đa dạng sinh học, tiến tới trạng thái cân bằng sinh học Phần lớn các loài du nhập không sống

được tại nơi mới đến, một tỷ lệ nhất định thiết lập được sự sống ở nơi mới đến Trung tâm BVTV phía Bắc [33] đã được Cục BVTV, chương trình IPM Quốc gia

chỉ định tiếp nhận, nhân nuôi ong Diadegma insulare Cresson nhập nội, ký sinh sâu non sâu tơ (Plutella xylostella) với mục đích nghiên cứu đặc điểm sinh vật

học, sinh thái học và khả năng thích ứng với điều kiện khí hậu Việt Nam, nhân

Trang 12

thả ong trên đồng ruộng nhằm góp phần điều hoà số lượng sâu tơ trên đồng ruộng, nhằm giảm bớt lượng thuốc hoá học sử dụng trong sản xuất rau họ hoa thập tự Kết hợp với chương trình này, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của ong ký sinh Diadegma insulare Cresson nhập nội và khả năng sử dụng chúng trong

phòng chống sâu tơ hại rau họ hoa thập tự vụ Đông Xuân 2005-2006 tại Văn Lâm, Hưng Yên ”

1.2 Mục đích của đề tài

Điều tra tình hình gây hại, biến động số lượng của sâu tơ (Plutella

xylostella) và thành phần ong ký sinh của chúng; nghiên cứu đặc điểm sinh vật

học, sinh thái học của ong ký sinh Diadegma insulare nhập nội làm cơ sở đề xuất

khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sâu tơ hại rau họ hoa thập tự

1.3 Yêu cầu của đề tài

- Điều tra tình hình gây hại, biến động số lượng của sâu tơ (P xylostella) hại

rau họ hoa thập tự vụ Đông Xuân 2005- 2006 tại địa điểm nghiên cứu

- Điều tra xác định thành phần ong ký sinh của sâu tơ (P xylostella) trên rau

họ hoa thập tự và mối quan hệ của chúng với sâu tơ tại địa điểm nghiên cứu

- Tìm hiểu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của ong Diadegma insulare

Cresson nhập nội và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sâu tơ hại rau

họ hoa thập tự

Trang 13

Phần II: tổng quan tài liệu nghiên cứu 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Sâu tơ (Plutella xylostella -Bộ Lepidoptera họ Yponomeutidae) là loài dịch

hại phổ biến trên toàn thế giới Sâu tơ tấn công cả cây trồng và cây dại thuộc họ hoa thập tự [1], [14], [15]

Trên cây trồng thường phải sử dụng thuốc trừ sâu để diệt trừ sâu tơ Hiện nay biện pháp hoá học vẫn là chủ yếu để trừ sâu tơ mặc dù đó không phải là lựa chọn hay nhất bởi vì biện pháp này chi phí cao, thường làm gia tăng các loài dịch hại khác và gia tăng khả năng kháng thuốc trừ sâu của sâu tơ và còn ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, sức khỏe con người [11]

ở những vùng được cho là khởi nguyên của sâu tơ thì sâu tơ thường không phải là một trong những dịch hại nghiêm trọng vì bị kiểm soát bởi lượng lớn các loài ong ký sinh và kẻ thù tự nhiên Nhưng ở những nơi khác nó lại gây hại nghiêm trọng, nhiều nơi ở vùng nhiệt đới sâu tơ là loài ngoại lai thì chỉ có một vài loài hoặc không có loài ký sinh nào kiểm soát Từ đó chiến lược sử dụng kẻ thù tự nhiên để kiểm soát sâu tơ như ở vùng khởi nguyên của nó được vạch ra Đó

là một biện pháp sinh học cổ điển nhưng thích hợp nhất

Nhiều cố gắng bước đầu tiến hành với ong ký sinh Diadegma semiclausum Hellen (Hymenoptera: Ichneumonidae) và đã thu được thành công ở nhiều quốc

gia Tuy nhiên những thành công này ở vùng nhiệt đới chỉ có ở các vùng đất cao nơi có điều kiện khí hậu mát mẻ và phù hợp với loài ong ký sinh này Còn ở những vùng đất thấp (vùng đồng bằng) và những vùng có khí hậu thay đổi theo

mùa nóng lạnh xen kẽ (như ở vùng nhiệt đới) thì thường D semiclausum không

tồn tại được lâu dài và không thiết lập được quần thể mới [42]

Do đó các khảo sát tỷ mỷ về các điều kiện khí hậu của các loài ong ký sinh sâu tơ được tiến hành Loài ong ký sinh được cho là phù hợp nhất đối với các

điều kiện của vùng đất thấp và những vùng có điều kiện khí hậu thay đổi theo

Trang 14

mùa nóng, lạnh được đưa ra: đó chính là ong ký sinh Diadegma insulare

Cresson

Hiện nay hai quốc gia đang nhân nuôi D insulare và có khả năng phù hợp

ở giai đoạn đầu đó là Việt Nam và Philippine [6], [7] Philippine là vùng có điều kiện thời tiết nắng ấm quanh năm còn miền Bắc Việt Nam có điều kiện thời tiết thay đổi theo mùa nóng lạnh xen kẽ Đó là hy vọng có thể nhập nội ong ký sinh

để kiểm soát sâu tơ vùng nhiệt đới

2.2 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Những nghiên cứu ngoài nước

2.2.1.1 Những nghiên cứu về sâu tơ và biện pháp quản lý

Sâu tơ (Plutella xylostella L.) được mô tả lần đầu tiên năm 1746 (Harcourt

1963) [61] Roesel (1746) [86] cung cấp một bản lý lịch khá ngắn về đặc điểm

cũng như tập tính của sâu tơ Rồi sau đó được đặt tên Harpiptex xylostella L Khi phát hiện sâu tơ ăn trên cả cây Kim ngân thì lại được đặt tên là Phanaelatinea

xyloslella (1758) Schrank (1802) [88] và Curtis (1832) [50] đề xuất tên gọi Plutella macunipennis nhưng đến năm 1837 sâu tơ được gọi là Cerostoma xylostella Tuy vậy Zeller (1843) [103] xem xét toàn bộ thấy rằng sâu tơ là loài

hại chuyên tính trên cây họ hoa thập tự và đặt tên là Plutella crucciferarum Zell

Cái tên này tồn tại trong nhiều năm Sau đó Meyrick (1885) [76] chỉ ra rằng

Curtis miêu tả trước đó là đúng với tên macunipennis, được xác nhận bởi Whitehead (1894) [101] và Walsingham, Durrant (1897) [98] thì cái tên Plutella

macunipennis Curt được dùng rộng rãi trong suốt 70 năm cho đến khi Bredler

(1966) [43] đề xuất xylostella thay thế macunipennis là từ đồng nghĩa nhưng thấp hơn về cấp bậc trong phân loại thực vật Từ đó đến nay sâu tơ mang tên P

xylostella (L.)

Trang 15

Vì sâu tơ chỉ ăn trên cây thuộc họ hoa thập tự (Talekar và Shelton 1993) [93], tổng hợp lại thấy rằng sâu tơ tiến hóa trên họ thực vật này Từ xuất xứ của cây họ hoa thập tự ở Châu âu (Hardy 1938) [64] và được chấp nhận rộng rãi rằng sâu tơ cũng có nguồn gốc từ Châu âu, gần như chắc chắn là ở vùng Địa Trung Hải Cũng ở Châu âu, Mustata (1992) [79] ghi nhận trên 25 loài của họ

Ichneumonidae và Branconidae ký sinh sâu tơ ở Rumani Tuy nhiên, Kfir (1998)

[66] mới đây chỉ ra rằng sâu tơ có thể xuất xứ từ Nam Phi, cây chỉ thị là họ hoa thập tự có số lượng lớn các loài gồm 175 loài bản địa và 32 loài ngoại lai, quần thể ong ký sinh bậc 2 rất phong phú gồm 22 loài, nhiều loài trong đó chỉ có ở Nam Phi và đã có mặt ở đó từ rất lâu Một loài ong ký sinh lưỡng tính họ

Ichneumonidae là Diadromus collaris Grav Tìm thấy ở đây nhưng không giống

loài ong ký sinh lưỡng tính ở Châu âu và Đài Loan hiện nay

Sâu tơ ngày nay phổ biến trên toàn thế giới và tìm thấy trên toàn bộ lãnh thổ Châu Phi, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Châu âu, Liên bang Xô viết cũ, Australia, New Zealand và Châu á Sâu tơ cũng trải rộng khắp Thái Bình Dương Dường như sâu tơ không tồn tại ở các đảo như Kiribati, Tokolau, Tuvalu, Wallis và Futuna (Waterhouse 1985) [99] Tuy nhiên nó được ghi nhận như là loài dịch hại mới như ở Solomon Island từ năm 1982 (Macfarlane 1982) [73] ở Châu Mỹ, sâu tơ

được ghi nhận lần đầu tiên ở Illinos (Bắc Mỹ) năm 1854 (Fitch 1855) [53] Năm

1883 sâu tơ trải rộng từ Nam Florida đến phía Tây vùng núi Rocky (Riley 1883) [84] Năm 1885 sâu tơ được ghi nhận ở Tây Canada (Flether 1891) [55], ở Barazin năm 1892 và ở Argentina năm 1923 (Salinas 1977) [87] Năm 1972 CABI đã thống kê được 128 quốc gia có sâu tơ hiện diện

Sâu tơ có tập tính sinh học về đêm, trưởng thành cái đẻ trứng rời rạc hoặc thành đám qua nhiều lượt lên mặt dưới lá cây rau họ hoa thập tự Mỗi ngài cái đẻ trung bình 139 trứng Sâu non tuổi 1 chui vào ăn từ bên trong mô lá, tuổi 2, 3 ăn

Trang 16

chừa lại biểu bì trên, tuổi 4 ăn thủng lá Giai đoạn sâu non trải qua 4 tuổi (Harcourt 1957) [62], có tác giả lại cho rằng sâu tơ trải qua 5 tuổi (Hardy, 1938 [64] Sâu non đẫy sức sau lột xác lần cuối cùng nhả tơ quấn một cái kén đính lên

bề mặt lá và sau đó hoá nhộng bên trong kén Trứng sâu tơ hình ô van hơi dẹt,

được đẻ từng quả hay vài quả ở mặt lá Thời gian nở từ 4-8 ngày, sâu non mới nở thường bò xuống mặt dưới lá, khoét lỗ ăn thịt lá để lại lớp biểu bì trên Sau đó sâu vẫn ăn mặt dưới lá nhưng ăn toàn bộ lá kể cả gân nhỏ và biểu bì trên tạo thành các lỗ hổng Khi bị tác động, sâu tơ giật lùi về phía sau và nhanh chóng nhả một sợi tơ mảnh buông mình rời khỏi lá, chúng có thể buông mình lơ lửng trên sợi tơ

đó sau đó lại leo lên vị trí cũ, cũng có thể đáp xuống lá phía dưới hoặc rơi thẳng xuống đất lẩn trốn Sâu non tuổi cuối cùng có màu hơi xanh lục do ảnh hưởng của màu thức ăn trong ruột sâu non Khi sâu non thành thục thì nhả tơ dệt kén, thường ở mặt dưới lá hoặc trong các lá cuốn phía trên Đôi khi chúng có thể di chuyển đoạn ngắn và tìm nơi hóa nhộng phù hợp Giai đoạn ấu trùng từ 9-30 ngày, dài hơn ở nhiệt độ thấp hơn Thời gian tiền nhộng và nhộng từ 5-15 ngày Vòng đời có thể ngắn 16 ngày trong điều kiện nhiệt độ cao Trưởng thành thon mảnh, màu hơi xám nâu, khi đậu cánh trước xếp lại dọc theo cơ thể và khi nhìn từ trên xuống mặt lưng có dải màu vàng kem với hình co thắt tạo ra hình các mảnh viên kim cương

Ban ngày trưởng thành sâu tơ không hoạt động trừ trường hợp bị kích động thì bay lên theo đường xoắn ốc từng đoạn ngắn và tìm nơi trú ẩn mới Trưởng thành có thể bò hoặc bay từng đoạn ngắn tạo cảm giác như là đang nhảy Hoạt

động mạnh lúc trời chạng vạng tối, tìm mật hoa ở cây họ hoa thập tự, mặc dù bay yếu nhưng trưởng thành có thể bay xa nhờ gió, có khi tới hàng trăm dặm với số lượng lớn các cá thể Trưởng thành cái chỉ cần giao phối một lần, thời gian giao phối thường vào lúc chập tối và đẻ trứng trong thời gian ngắn sau đó Trung bình một trưởng thành cái đẻ khoảng 160 trứng trong khoảng 10 ngày Trong một năm

Trang 17

có nhiều lứa gối nhau và sinh sản liên tục nếu trong điều kiện thời tiết ấm áp ở cao nguyên Cameron (Malaysia) trong điều kiện nhiệt độ thấp sâu tơ qua đông ở giai đoạn trưởng thành, chúng thường bay ra khỏi vùng lạnh giá và quay trở lại vào mùa xuân ấm áp (Harcourt 1963) [61]

Sâu tơ là loài có khả năng thích ứng cao, phân bố rất rộng Hardy (1938) [64] tin rằng nó có thể sống bất cứ nơi đâu có cây họ hoa thập tự Vành đai khí hậu có thể giới hạn phân bố loài Trong trường hợp sâu tơ, nhân tố khí hậu là chủ yếu và lượng mưa lớn có thể tác động đến sâu tơ Sức chịu đựng của sâu tơ không phải có thể phân bố mọi nơi trên thế giới xong chúng có thể nhanh chóng thích nghi trong điều kiện nhiệt độ từ 10 - 400C Tuy nhiên theo Hardy (1938), nhiệt độ thuận lợi nhất cho hoạt động đẻ trứng của trưởng thành sâu tơ là 200C ở vùng xích đạo thuận lợi cho sâu tơ vì nhiệt độ gây chết không bao giờ đạt tới

Sâu tơ là dịch hại nghiêm trọng cho cả cây rau họ hoa thập tự và cây dại, phải phòng trừ trên cải bắp, súp lơ, súp lơ xanh, cải Bruxen và cải củ Nó cũng

được ghi nhận tấn công vài loài thực vật của họ khác (Harding 1976) [63]

Nhiều nghiên cứu đã tìm ra hai cách ảnh hưởng đến kiểm soát sâu tơ: biện pháp canh tác bố trí mùa vụ, tiêu hủy tàn dư, luân canh, dùng bẫy (bẫy Pheromone, bẫy dính) và sử dụng biện pháp vật lý (tưới phun, làm rào cản bằng lưới…) đã được thử nghiệm và cho kết quả thành công nhất định Nhiều nghiên

cứu cũng ứng dụng biện pháp thuốc trừ sâu vi sinh như nấm Beauveria

brongniartii ở Canada (Fox và Jaques 1961) [56] Boverin (Beauveria bassiana) ở

Mỹ Tuy nhiên cho đến nay chỉ còn chế phẩm Bt (Bacilus thuringiensis) được sử

dụng rộng rãi để trừ sâu tơ ở nhiều nơi trên thế giới

Hiện tại biện pháp hoá học là biện pháp chính để trừ sâu tơ, nó tiêu tốn trên 35% tổng giá trị sản phẩm làm ra (CABI - SEARC 2001) [44]

Sự gia tăng của các tác động xấu đã được ghi nhận, thuốc hoá học còn ảnh hưởng đến sinh thái của các loài côn trùng khác, đến chim muông và sinh vật,

Trang 18

làm suy giảm và mất dần đa dạng sinh học, thuốc tồn dư trong thức ăn và chuỗi thức ăn, tác động xấu đến môi trường, đến con người

Tác động của thuốc trừ sâu làm sâu tơ gia tăng tính kháng thuốc, tình trạng này sảy ra ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt ở vùng rau Nam á nơi sâu tơ kháng tất cả các loại thuốc có trên thị trường (Lim 1990) [72] và nhiều nước Châu á sâu tơ còn chống lại cả thuốc sinh học như Bt Ngày nay còn rất ít loại thuốc có hiệu lực với sâu tơ mà giá rẻ

Nơi nào sâu tơ tồn tại là một vấn đề nghiêm trọng, giống như ở tất cả các nơi của vùng nhiệt đới Tác động của thuốc trừ sâu ngày càng lan rộng, ở nhiều quốc gia vấn đề này tiếp tục gia tăng, đặc biệt nơi mà ngành công nghiệp thuốc trừ sâu phát triển và có nhiều loại thuốc trừ sâu trên thị trường

Việc sử dụng thuốc trừ sâu mới có nguồn gốc từ vi sinh vật như Abamectin, Emamectin và Spinosad để trừ côn trùng hại rau họ hoa thập tự đã làm giảm được dư lượng trên rau nhưng số lần phun thuốc vẫn không giảm, một

vụ vẫn phải phun 10 lần hoặc hơn ngay cả rau trồng trong nhà lưới Việc dùng thuốc như vậy đã làm gia tăng sức ép chọn lọc của sâu tơ [44]

Tình trạng đó đã nảy sinh yêu cầu khẩn cấp sử dụng luân phiên các biện pháp nhằm giảm thiểu hoặc tránh sử dụng độc lập biện pháp hóa học Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) ngày nay là lựa chọn tốt nhất

Ngày nay có nhiều thành công của chương trình IPM nơi mà ảnh hưởng của ký sinh sâu tơ được kết hợp sử dụng, và chỉ hoạt động tốt khi các tác động có hại của thuốc trừ sâu là không có hoặc ít nhất (hoặc sử dụng Bt) và biện pháp sinh học được áp dụng toàn diện để trừ sâu tơ

ở Châu á (Indonesia, Malaysia, Philippine và Đài Loan) cho thấy sâu tơ

sẽ trở thành dịch hại không quan trọng trong thời gian dài và thuốc trừ sâu hoá học không cần sử dụng (Taleka 1992 [91], CABI 1996 [45], Ooi 1992 [82], Sivapragasam et al 1997 [89]) IPM thành công như vậy xong chỉ ở những vùng

Trang 19

đất cao có điều kiện khí hậu mát mẻ hoặc lạnh nơi D semiclausum và vài loài khác đã thành công Các thí nghiệm cho thấy D semiclausum có thể kiểm soát

sâu tơ tốt mặc dù nó không thích hợp với nhiệt độ >250C (Taleka et al 1992) [92] do đó ở vùng đất thấp nhiệt đới sâu tơ vẫn gây hại nghiêm trọng, thuốc hoá học vẫn được sử dụng rộng rãi

Sâu tơ tấn công gây hại nhiều hay ít tùy thuộc vào phân bố của nó, nó gây hại nghiêm trọng ở các nước Nam và Đông Nam á trong khi lại gây hại vừa phải

ở vài vùng Châu á khác (Taleka 1992, Sivapragasam et al 1997) Ngược lại chỉ hại nhẹ ở nhiều vùng tại Canada, Châu âu, Châu Mỹ (Muggeridge 1930 [78], Hardy 1938 [64], Sutherland 1966 [90], Oatman và Platner 1969 [80]) ở Anh sâu tơ chỉ thỉnh thoảng mới gây hại nặng do chúng di cư đến với số đông (Hardy

1938, French 1965 [58]) ở Đức, Pháp và Italia sâu tơ thường không đủ mật độ

để gây hại nặng (Muggeridge 1930)

Mặc dù khả năng thích ứng rộng nhưng sâu tơ không gây hại nặng ở nhiều vùng do kẻ thù tự nhiên tấn công Marsk (1917) [74] chỉ ra rằng “ở tình trạng của nước Mỹ sâu tơ là ví dụ khả năng kìm hãm của ký sinh đối với sâu hại Mặc

dù sâu tơ với khả năng phát triển nhanh chóng về mặt số lượng và gây hại nghiêm trọng trên diện rộng nếu không kiểm soát nhưng nó chỉ gây hại nhẹ như một dịch hại thứ yếu nhờ sự trấn áp của ong ký sinh” Sự kiện kiểm soát tự nhiên như vậy ghi nhận ở nhiều nơi sâu tơ không hại nặng (Muggeridge 1930, Hardy

1938, Robertson 1939 [85], Ullyett 1947 [96], Kopvillem 1960 [68]) Nó đã được ghi nhận rằng mức độ ký sinh cao sẽ hỗ trợ làm cho mật số sâu tơ thấp ở Australia (Wilson 1960) [102], Anh (Hardy 1938), Hà Lan, New Zealand (Todd 1959) [95] và Nam Phi (Ullyett 1947) đều đã ghi nhận tương tự và chỉ ra rằng sâu tơ chỉ có thể trở thành dịch hại nghiêm trọng khi ở đó kẻ thù tự nhiên thiếu vắng hay ảnh hưởng không đáng kể

Trang 20

Điều khiển tự nhiên trong thời gian dài là chiến lược phòng chống các loài sinh vật ngoại lai như sâu tơ ở ngoài vùng Địa Trung Hải (hay vùng Nam á) và ở những nơi không có kẻ thù tự nhiên ở nơi bản xứ của sâu tơ Nhiều nước đã sử

dụng D semiclausum để kiểm soát tốt sâu tơ Tuy vậy ở vùng nhiệt đới còn bị hạn chế do D semiclausum chỉ thích hợp với vùng đất cao, lạnh như cao nguyên

Cameron (Malaysia) hay Đà Lạt (Việt Nam) ở tất cả các vùng của Châu Âu nơi sâu tơ không phải là dịch hại chủ yếu thì đều có sự hiện diện của ong ký sinh họ

Diadegma và họ Diadromus trong đó D semiclausum phổ biến rộng và ảnh

hưởng rõ nhất Họ Diadegma, Diadromus và Cotesia phổ biến ở Nam á Quần thể ký sinh sâu tơ và ký sinh bậc 2 phong phú và đa dạng Giống Diadegma cũng

có ảnh hưởng lớn tới việc kìm hãm sâu tơ phát triển (Fitton và Wallker 1992)

[54], vài loài có thể giao phối với giống khác (Diadegma fenestrale Holm., D

insulare, D semiclausum (Hardy 1938, Cave 1999) [48] Tuy nhiên phân loại

gần đây được sửa lại rằng đó là 3 loài có sự biến thái hình dạng từ một loài

ở Bắc Mỹ ong ký sinh D insulare, Microplitis plutellae là loài ong bản địa

ký sinh sâu tơ Cotesia plutella Kurd phân bố rất rộng và rất quan trọng ở nhiều

quốc gia như Ba Lan, Australia, Châu á, Liên xô cũ và nhiều vùng của Châu Phi

Loài ong ký sinh Apanteles ippeus Nixon ghi nhận chỉ ký sinh trên sâu tơ

Nhìn chung có rất nhiều loài ký sinh trên sâu tơ, 48 loài đã được Thompson đưa vào danh mục (1946) [94] trong khi Goodwin (1979) [60] chỉ ra hơn 90 loài Tuy nhiên trong các báo cáo của họ, Lim (1982) [70], Waterhouse

và Norris (1987) [100] chỉ ra rằng rất nhiều loài kẻ thù tự nhiên bản địa của sâu tơ đã theo ký chủ của chúng di cư và chỉ có vài loài trong số đó thích ứng với

điều kiện nhiệt độ cao, hầu hết trong số chúng khả năng ký sinh tương đối thấp

Những nỗ lực khác của biện pháp sinh học là sử dụng kẻ thù tự nhiên bản

địa Lim (1982), Waterhouse và Norris (1987) đánh giá tác động của ong ký sinh

Trang 21

và đưa ra khuyến cáo về khả năng sử dụng chúng trong biện pháp sinh học trong tương lai

Thành công của biện pháp sinh học bao gồm nhiều loài ký sinh quan trọng

khác như Apanteles ippeus, Cotesia plutellae, Microplitis plutellae (Branconidae),

Diadromus collaris, Diadromus subtilicornis (Grav.), Diadegma fenestrale,

D insulare, Diadegma semiclausum, Macromalon orientale Kerrich nidae), Oomyzus sokolowskii Kurd (Eulophidae) và Trichogramtoidae bactrae

(Ichneumo-Nagaraja (Trichogramtidae) Thường thường chúng có thể thiết lập một tổ hợp

phối hợp hai hay nhiều loài ký sinh với nhau (Muggeridge 1930, Hardy 1938, Robertson 1939, Ullyett 1947, Kopvillem 1960, Vos 1953 [97], Harcourt 1963 [61], Wilson 1960, Sutherland 1966, Oatman và Platner 1969, Lim 1986 [71], Waterhouse và Norris 1987, Taleka 1992, Sivapragasam et al 1997) Hiếm khi chỉ một loài ký sinh có khả năng kìm hãm được sâu tơ Một số tổ hợp đã được ghi nhận:

- Tổ hợp 2 hoặc nhiều hơn các loài gồm Apanteles ippeus, Cotesia plutellae,

Diadromus collaris, D semiclausum ở Australia, Malaysia, New Zealand,

Philippine và Đài Loan

- Tổ hợp các loài Cotesia plutellae và Oomyzus sokolowskii Kurd ở Barbades

và đảo Cape Verde

- Tổ hợp các loài D insulare, Diadromus subtilicornis Grav và Microplitis

plutellae ở Canada

- Tổ hợp các loài Diadegma fenestrale, D semiclausum ở Châu âu

Bên cạnh các tổ hợp ký sinh bản địa, nhiều loài không quan trọng cũng phân bố trong lãnh thổ đó

Nhìn chung hầu hết các thành công trong biện pháp sinh học đều ở các

nước ôn đới và gắn với giống Diadegma hoặc kết hợp với giống khác như

Trang 22

Diadromus ở vùng nhiệt đới ong ký sinh Cotesia plutellae và Oomyzus sokolowskii là chủ yếu, mặc dù 2 loài có thể kết hợp tốt với nhau ở vài vùng

nhưng nhìn chung chúng không có hiệu quả rõ rệt trong kiểm soát sâu tơ

Hiện tại cả Việt Nam và Philippine đang thử nghiệm nhập nội ong ký sinh sâu tơ cho vùng đồng bằng sau khi đã thành công trên vùng cao nguyên

Cordillera ở Philippine và Đà Lạt ở Việt Nam Ong ký sinh D semiclausum đã

thiết lập được quần thể ở cả 2 quốc gia, riêng ở Việt Nam có thể loài ong ký sinh

Diadegma collaris cũng có khả năng thiết lập được Cùng với Cotesia plutellae

đã tồn tại, tổ hợp ký sinh này đã hoạt động tốt để kiểm soát sâu tơ ở Cordillera

và Đà Lạt Đánh giá tác động đầy đủ của ong ký sinh tại Đà Lạt vẫn chưa được

đầy đủ vì ong mới chỉ được phóng thích từ năm 1997 [44]

ở vùng đồng bằng ong ký sinh Cotesia plutellae đã phân bố rộng ở cả Việt Nam và Philippine Tuy nhiên tác động kìm hãm sâu tơ hạn chế và sâu tơ vẫn là dịch hại nghiêm trọng Chính phủ hai quốc gia đều muốn du nhập ong ký sinh phù hợp để kiểm soát sâu tơ hiệu quả

Trong điều kiện khí hậu trải qua 2 mùa nóng lạnh trong năm như ở miền Bắc Việt Nam thì ong ký sinh phải có khả năng sống sót Loài ong ký sinh sâu tơ

D insulare có nguồn gốc ở Bắc Mỹ, loài này phân bố trải rộng từ Bắc, Trung đến

Nam Mỹ Mặc dù là loài ưa lạnh nhưng loài ong này hoạt động tốt ở miền duyên hải của Nam California và nhiều vùng khác của Mỹ với phổ nhiệt độ rất rộng Do vậy nó có thể thích hợp với vùng ôn đới, vùng cao nguyên hay vùng đồng bằng ở các nước nhiệt đới

2.2.1.2 Những nghiên cứu về ong ký sinh D insulare

Giống Diadegma thuộc họ phụ Campopleginae (Hymenoptera,

Ichneumo-nidea) Họ Ichneumonidae là họ rất lớn với gần 60.000 loài trên khắp thế giới

(Gauld và Bolton 1988) [59] Họ phụ Campopleginae cũng rất lớn và phân bố

rộng trên nhiều vùng nhiệt độ khác nhau Các loài trong họ đều là loài nội ký

Trang 23

sinh đơn chuyên tính, đẻ trứng vào trong vật chủ, ký chủ chính là bộ cánh vảy

Lepidoptera Giống Diadegma gần 200 loài (Fitton và Walker 1992) [54]

Phân bố của D insulare nằm từ Nam Canada đến Venezuela trải rộng khắp

Châu Mỹ với nhiều Biotype Loài này đã thiết lập quần thể thành công ở Hawaii

để kiểm soát sâu tơ Tuy vậy ở đây loài này cũng được ghi nhận là thiết lập ở độ cao >780 mét so với mực nước biển (Jhonson et al 1988) [65]

Fitton và Walker (1992) [54] chỉ ra rằng Diadegma spp có quan hệ đặc biệt với ký chủ, thường là các loài thuộc bộ cánh phấn Lepidopterae nhưng có kích thước nhỏ D insulare đã được ghi nhận ký sinh trên 2 ký chủ họ bướm ống

là Hellula undalis và Plutella armoricae

D insulare là loài nội ký sinh bắt buộc (Cordero và Cave 1990) [49], nhiều

nghiên cứu đã xác định vòng đời của D insulare

D insulare phát triển qua các giai đoạn trứng, 4 tuổi ấu trùng, nhộng và

trưởng thành Những nghiên cứu tại Cambridge, Ontario (Bolter và Laing 1983)

[42] đều chỉ ra rằng thời gian D insulare phát triển từ trứng đến trưởng thành

giảm ở nhiệt độ cao, nếu ở nhiệt độ 6,6 0C phải 282 ngày mới hoàn thành vòng

đời, ngắn nhất 16,34 ngày ở điều kiện nhiệt độ 19-22 0C (Ochoa et al 1989) [81], ngắn hơn so với kết quả của Ontario trong điều kiện tương tự (19,63 ngày ở 19-23 0C)

Trưởng thành trung bình sống từ 21,2 ngày ở điều kiện nhiệt độ 250C đến 43,6 ngày ở 170C và đẻ từ 813,8 quả ở 23 0C đến 595,4 quả ở 17 0C

Theo kết quả nghiên cứu của Bolter và Laing (1983) trưởng thành cái có ống đẻ trứng dài do vậy có thể đẻ trứng vào ký chủ dễ dàng Lasota và Kok (1986) [69] nghiên cứu trong phòng thí nghiệm chỉ sử dụng sâu tơ tuổi 2 phát hiện trưởng thành cái sau khi thành thục tìm sâu tơ trên các lỗ do sâu ăn thủng trên lá bằng râu đầu và bằng máng đẻ trứng rất khéo léo Gần đây Cordero và

Cave (1990) [49] dựa vào các nghiên cứu đồng ruộng đã ghi nhận rằng D

Trang 24

insulare tấn công cả tuổi 3 và tuổi 4 của sâu non sâu tơ Trưởng thành cái đẻ

trứng vào vật chủ có chọn lựa, chúng có thể phân biệt giữa ký chủ và vật không phải ký chủ

Vài loài ong ký sinh được ghi nhận là ký sinh trên D insulare ở Châu Mỹ, tất cả đều thuộc bộ cánh màng Hymenoptera, loài thuộc họ khác nhau Ký sinh bậc 2 dường như tấn công vào ấu trùng D insulare khi vừa chui ra khỏi ký chủ là

sâu tơ Hầu hết ong ký sinh bậc 2 đều có phân bố địa lý rất rộng Ví dụ loài

Conura hirtifemora (Ashon) phân bố đều từ Tây Nam Mỹ đến Caribbean (J

Lasalle) ở Cuba loài ong ký sinh bậc 2 này tìm thấy ký sinh tới 50% D insulare (Castineiras và Hernadez 1980) [47] Loài Conura side Walk ghi nhận như là ký sinh bắt buộc trên loài Narraga fimetaria thuộc họ bướm sâu đo ở Trung Texas

(Deloach và Psencik 1982) [51] nhưng không có thông tin nào ký sinh trên sâu

tơ Đã ghi nhận đươc 11 loài ký sinh bậc 2 trên D insulare ký sinh cả giai đoạn

ấu trùng và nhộng, phân bố ở Havana, Cuba và Mỹ

Vài nghiên cứu về tác động của D insulare lên sâu tơ ở Bắc và Trung Mỹ:

Ontario (Bolter và Laing 1983), Whasington, Cregon và California (Fox et al 1990) [57], Virginia (Kok và Mc Avoy 1989 [67]; Lasota và Kok 1986) [69], Nam Califonia (Muckenfuss et al 1992) [77], Honduras (Cordero và Cave 1990)

[49] Tất cả các nghiên cứu đều chỉ ra rằng D insulare thường xuyên là một

trong những các loài ký sinh phổ biến tấn công sâu tơ trên ruộng cải Tỷ lệ ký sinh biến đổi từ 100% (Whasington và Oregon), 32% ở Florida và 29,3% ở Honduras Trong bảng sống của sâu tơ ở Ontario trong thời gian 11 năm sâu tơ

đều trải qua 4-5 lứa và D insulare cùng với 2 loài ký sinh khác là Microplitis

plutellae, Diadromus subtilicornis đã phát hiện thấy có ý nghĩa đặc biệt trong

việc làm giảm mật số sâu tơ (Harcourt 1986) [62]

Putnam (1978) [83] thấy rằng ở Saskatchewan (Canada) loài ong ký sinh

Microplitis plutellae qua đông ở giai đoạn tiền nhộng và nhộng trong mùa đông

Trang 25

trong khi D insulare không có giai đoạn này Trong những tháng mùa đông ở Anh sâu tơ qua đông ở giai đoạn trưởng thành (Hardy 1938), nếu D insulare

không qua đông ở vùng Bắc Mỹ thì chúng phải qua đông ở giai đoạn trưởng thành hoặc là phải di tản đến những vùng ấm hơn ở phía Nam Fitton và Wallker

(1992) [54] nhận xét rằng nhiều ấu trùng ong ký sinh D insulare có thể di trú nhưng không có thí nghiệm nào chứng minh ở California D insulare ký sinh

sâu tơ có quần thể đông đúc nhưng độc lập, tỷ lệ ong cái cao hơn trên những

ruộng rau bắp cải bón nhiều đạm và nhiều sâu tơ Nó chỉ ra rằng D insulare có

khả năng tiềm tàng trong việc điều khiển sinh học sâu tơ thông qua tỷ lệ cái cao trong thời gian dài

Nghiên cứu ở Costarica (Carballo et al 1989) [46] chỉ ra rằng quản lý cỏ dại

trong ruộng cải tốt sẽ hạn chế sâu tơ và tăng khả năng tác động của D insulare

Tác động qua lại giữa các loài rất có ý nghĩa trong điều khiển sinh học, hợp lực ký sinh giữa hai hay nhiều loài là mối quan hệ phức tạp, có thể là mối quan hệ kìm hãm hoặc tương hỗ nhau

ở Ontario hầu hết ong ký sinh sâu non sâu tơ là D insulare và Microplitis

plutellae Bollter và Laing (1983) đánh giá tác động quần thể giữa hai loài này

trong phòng thí nghiệm kết quả ghi nhận ong ký sinh D insulare có khả năng tránh đẻ trứng lên sâu tơ đã bị ong ký sinh M plutellae ký sinh Trong khi đó ong

ký sinh M plutellae trong vòng 12 giờ lại không thể phát hiện ra sâu non sâu tơ

đã bị ong D insulare đẻ trứng vào ấu trùng tuổi 1 của ong ký sinh M plutellae

về bản chất mạnh hơn ấu trùng ong ký sinh D insulare và tồn tại tốt hơn khi cả hai loài đều đẻ trứng vào một ký chủ là sâu tơ Tuy vậy khi ấu trùng D insulare ở tuổi 2-3 lại mạnh hơn ấu trùng M plutellae Điều thú vị là ong ký sinh D

insulare trưởng thành có thể phát hiện ấu trùng sâu tơ đã bị M plutellae thông

qua vết đẻ trên sâu non sâu tơ do vậy khả năng sống sót cao hơn Kiểu quan hệ

Trang 26

như vậy giữa hai loài ong cùng ký sinh trên một ký chủ như vậy là bền vững, nó

đảm bảo cho cả hai loài cùng tồn tại và phát triển, hạn chế sự tiêu diệt lẫn nhau (May và Hassell 1981) [75]

Du nhập D insulare để phòng chống sâu tơ đã được ghi nhận, Sri Lanka và Thái Lan du nhập D insulare năm 1964, Hawaii nhập năm 1953 và Guam năm

1975 D insulare đã thiết lập quần thể được ở Hawaii, Johnson (1988) báo cáo

rằng điều tra trên ruộng cải từ thấp (80 mét so mực nước biển) lên cao (780 mét

trở lên) ở các đảo của Maui và Hawaii chỉ tìm thấy D insulare ở độ cao 780 mét trở lên ở tài liệu khác ghi nhận Cotesia plutellae phổ biến ở tất cả các độ cao Tác giả này cho rằng D insulare có ý nghĩa trong việc tác động đến mật số sâu tơ Nhiều nghiên cứu về D insulare ở Bắc Mỹ chỉ ra rằng D insulare có khả năng kiểm soát sâu tơ tốt Tuy nhiên khả năng phân bố không rộng của D

insulare do phụ thuộc vào các yếu tố khí hậu, chu kỳ ngày đêm và ký chủ Nhiều

bằng chứng cho thấy cùng phạm vi nhiệt độ như nhau nhưng D insulare từ Costarica thời gian phát dục nhanh hơn D insulare ở Ontario, sự thích nghi như

thế hạn chế cơ hội thiết lập hay không phân bố rộng theo vùng đại lý (CABI - SEARC 2001) [44]

Khí hậu có thể so sánh tương đối giữa bản địa và nơi nhập cư mới Phần mềm xử lý khí hậu CLIMEX do tiến sỹ Wayne Rochester (Đại học Qeensland- Australia) xây dựng đã được dùng để so sánh các vị trí khác nhau ở Nam á với Bắc Mỹ ở Hà Nội tương đồng nhất là Florida, Nam California khác hơn Nhiệt

độ trung bình ngày ở Hà Nội cao hơn Charleston (thuộc bờ biển Nam Carolina) khoảng 50C trong suốt tháng 6 và tháng 7

Đó là tác động có ý nghĩa trong việc du nhập ong ký sinh D insulare Vấn

đề ở chỗ vài tham số khí hậu trở nên quan trọng hơn những tham số khác trong

Trang 27

danh giới thích nghi của loài và khi đó những thuật toán đơn giản sẽ không dự

đoán tốt nhất các phản ứng của loài đối với môi trường

Nghiên cứu dựa trên cơ sở tiến triển và sự có thể sinh sản của một loài đối với khí hậu và các thông số môi trường khác Những nghiên cứu như thế có thể

làm sáng tỏ sự thực của các Biotype (và tác động của ngủ đông) trong phạm vi D

insulare phân bố

Trong trường hợp về phương diện khí hậu tương đồng, có thể du nhập D

insulare từ Bắc Mỹ cho vùng đồng bằng ở Đông Nam á Thực tế D insulare đã

tồn tại ở vùng cao nguyên có khí hậu mát mẻ ở Đông Nam á Có thể có tác động

qua lại giữa các loài D insulare và D semiclausum giống như các nghiên cứu đã nêu Cave (1999) [48] đã thí nghiệm lai giống giữa D insulare và D Semiclau-

sum và kết quả ấu trùng có thể sống được, như vậy có khả năng 2 loài này khá

tương đồng về gen và có thể hai loài này có phạm vi phân bố chồng chéo lên nhau sau khi phóng thích, mở ra cơ hội kiểm soát sâu tơ tốt hơn

Sâu tơ (P xylostella) kháng thuốc trừ sâu đã được ghi nhận ở nhiều nơi

trên thế giới, là điển hình của trường hợp sâu kháng thuốc Nông dân thường phun thuốc hoá học thường xuyên để phòng trừ loài dịch hại này, có khi phun

định kỳ 5-7 ngày 1 lần nhưng sâu tơ vẫn phát sinh gây hại và thiên địch của sâu tơ giảm rõ rệt Nguy hiểm hơn nữa là thuốc hoá học để lại dư lượng trong rau gây

độc cho người sử dụng Những vụ ngộ độc thực phẩm sảy ra rất nhiều, thậm chí

đã gây tử vong ở nhiều nơi trên thế giới Trước đây các công trình nghiên cứu về sâu tơ và thiên địch của chúng được tiến hành khá nhiều, các kết quả đạt được

cho thấy thiên địch có thể điều hoà được số lượng sâu tơ (P xylostella) trên đồng

ruộng Thành phần ký sinh trên sâu tơ rất phong phú và đa dạng, theo Thomson (1946) [94] có khoảng 40 loài nhưng theo Goodwin (1979) [60] có hơn 90 loài

được ghi nhận ký sinh trên sâu tơ, hầu hết thuộc bộ cánh màng (Hymenoptera) và

bộ 2 cánh (Diptera) Tuy vậy chỉ có một số loài chiếm ưu thế trong từng điều

Trang 28

kiện sinh thái: vùng ôn đới là các loài thuộc họ Microplitis, Diadegma còn vùng khí nóng và bình nguyên lại là các loài thuộc họ Apanteles Năm 1883 Hoa kỳ lần đầu tiên nhập nội ong ký sinh Apanteles glomeratus từ nước Anh vào để trừ sâu xanh hại rau cải (Pieris rapae), loài ký sinh này đã định cư được và trở thành

loài côn trùng có lợi cho khu hệ côn trùng Hoa Kỳ (Doutt, 1964; Coppel, Mertinus, 1979) ở Australia sâu tơ hại chính trên rau họ hoa thập tự, nhiều loài

ký sinh đã được nhập nội như Diadegma eucerophaga, Thyraeela collaris,

Apanteles plutella đã làm giảm mật độ sâu tơ một cách rõ rệt (Willsan, 1960)

Như biện pháp sinh học đòi hỏi, việc du nhập loài ngoại lai vào môi trường mới là có thể có những rủi ro cho những sinh vật khác, con người và môi trường

(FAO 1996) [52] Những nghiên cứu trong vùng D insulare phân bố chỉ ra hoàn toàn rõ ràng rằng D insulare là ký sinh chuyên tính của họ ngài đêm (họ

Yponomeutidae và Pyralididae), ký chủ chính là sâu tơ P xylostella L Thực tế

D insulare có thể tấn công loài sâu khác họ ngài đêm giống như là ký sinh trên

ký chủ phụ mà bản chất không có giá trị kinh tế

Để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm ong ký sinh bậc hai cho ong D insulare

khi chuyển từ Bắc Mỹ sang Đông Nam á cần nuôi ong trong phòng cách ly phù hợp Ong ký sinh thu thập trên đồng ruộng phải qua phòng thí nghiệm này và phải được loại bỏ hoàn toàn ong ký sinh bậc hai Toàn bộ thực vật và vật chèn lót

phải được tiêu hủy, ong D insulare phải được kiểm tra bởi các chuyên gia và lưu

giữ mẫu

2.2.2 Những nghiên cứu trong nước

2.2.2.1 Sản xuất rau và tình trạng sử dụng thuốc hóa học trên rau

Trần Khắc Thi, Trần Ngọc Hùng (2001) [29], nghề trồng rau ở nước ta ra

đời từ rất sớm, có trước cả nghề trồng lúa nước, nước ta cũng là trung tâm khởi nguyên của nhiều loại rau trồng Tuy vậy do chịu ảnh hưởng của nền nông

Trang 29

nghiệp tự túc trong nhiều thế kỷ nên sự phát triển của ngành trồng rau còn khoảng cách khá xa so với tiềm năng tự nhiên và trình độ canh tác Thực tế rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu trong mỗi bữa ăn hằng ngày của mọi người trên khắp hành tinh, nhưng sản xuất và tiêu thụ rau lại là vấn đề nan giải trong hiện tại cũng như tương lai Việc thâm canh đạt năng suất cao không khó nhưng đảm bảo rau an toàn và kinh tế thì rất khó Trong đề án phát triển rau quả

và hoa cây cảnh thời kỳ 1999-2010 của Bộ Nông nghiệp và PTNT [9] thì mục tiêu của ngành sản xuất rau là đáp ứng nhu cầu rau có chất lượng cao cho tiêu dùng trong nước, nhất là các vùng dân cư tập trung, đô thị và xuất khẩu Theo Ngô Văn Thiệu (2006) [30] số liệu thống kê diện tích trồng rau cả nước năm

2000 là 445.000 ha tăng 70% so với năm 1990, các tỉnh phía Bắc chiếm 56% tổng diện tích Năng suất rau còn thấp, sản lượng rau trên đất nông nghiệp năm

2000 đạt cao nhất 6.007 triệu tấn nhưng chủ yếu do tăng diện tích trồng Song song với tăng năng suất thì tình trạng ô nhiễm trên rau cũng gia tăng theo

Theo Nguyễn Văn Tuất, Nguyễn Trường Thành (2002) [38], việc ồ ạt sử dụng phân bón, thuốc BVTV, ô nhiễm nguồn nước đã làm gia tăng ô nhiễm rau xanh Ô nhiễm do thuốc BVTV là nguyên nhân hàng đầu trên rau xanh Theo Trung tâm Kiểm định thuốc BVTV phía Bắc (2003) [34], [35], năm 1998 ở Việt Nam sử dụng khoảng 270 loại thuốc trừ sâu, 216 loại thuốc trừ bệnh, 160 loại thuốc trừ cỏ, 12 loại thuốc diệt chuột và 2 loại thuốc kích thích sinh trưởng Tuy chủng loại nhiều nhưng do thói quen hoặc thiếu hiểu biết, nông dân chỉ dùng một

số ít loại thuốc quen thuộc, thường là các thuốc cấm sử dụng như Monitor, Wofatox do những loại này rẻ tiền mà hiệu lực lại cao

Trần Quang Hùng (1999) [16] đến năm 1988 toàn thế giới sử dụng khoảng 3,1 triệu tấn hoạt chất thuốc BVTV trị giá trên 20 tỷ USD trong đó 8,9 tỷ thuốc trừ cỏ dại, 6,1 tỷ thuốc trừ sâu, 4,2 tỷ thuốc trừ nấm bệnh và 1,3 tỷ thuốc các loại khác Trong đó thuốc trừ sâu sử dụng ở Châu á nhiều nhất

Trang 30

Theo điều tra của Lê Thị Kim Oanh (2000) [23] nông dân ở các vùng trồng rau lớn như Hà Nội, Hà Tây, Vĩnh Phúc sử dụng 32 loại thuốc BVTV bao gồm cả thuốc cấm và thuốc không có trong danh mục được phép sử dụng do Bộ Nông nghiệp & PTNT ban hành [2] Nông dân thường sử dụng một vài loại thuốc có hiệu quả cao, sau khi thuốc đó không còn hiệu qủa cao nữa thì họ lập tức chuyển sang thuốc khác Hơn nữa nông dân hầu hết không phun theo khuyến cáo mà tăng liều từ 1,7-2,4 lần, số lần phun trung bình từ 9,7 - 15,1 lần, người dân thường dung hỗn hợp hai hay nhiều loại thuốc BVTV với nhau để phun

Nguyễn Thị Lan (2002) [21] nghiên cứu hiện trạng sử dụng thuốc BVTV

và phân bón trong sản xuất rau tại Hà Nội và Ninh Bình ghi nhận nông dân sử dụng 27 loại thuốc BVTV trong đó 85% là thuốc hoá học, thuốc sinh học chiếm 15%, đặc biệt thuốc Monitor, Wofatox vẫn được sử dụng Nông dân phun định

kỳ từ khi cây con, có hộ phun 2-3 lần/tuần với 15-17 lần/vụ

Cục BVTV [8] đánh giá thực trạng dư lượng thuốc BVTV trên rau quá cao, thường vượt quá từ 10-15%, có khi vượt quá 40-70% mức dư lượng cho phép

Tình trạng ngộ độc thuốc BVTV thông qua sử dụng thực phẩm, đặc biệt là qua sử dụng rau đang gia tăng Quản lý lưu thông thuốc BVTV là biện pháp chế tài mạnh nhằm giúp hạn chế tối đa tình trạng buôn bán thuốc BVTV giả, thuốc quá hạn sử dụng, thuốc cấm sử dụng và hạn chế sử dụng ở mỗi quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và Lâm Đồng là 2 tỉnh có vùng trồng rau rộng lớn, tình hình sản xuất, tiêu thụ và vấn đề an toàn thực phẩm ở 2 tỉnh này cũng tương tự như nhiều tỉnh khác trong cả nước Năm 2001 Chi cục BVTV thành phố Hố Chí Minh [5] kiểm tra 248 mẫu rau các loại chỉ có 7,3% số mẫu không đạt chuẩn an toàn Vậy mà chỉ đầu năm 2002 đã có 55 trường hợp ngộ độc cấp tính do ăn phải rau nghi là có chứa dư lượng thuốc BVTV Rau họ hoa thập tự cũng là loại rau có nguy cơ mất an toàn vệ sinh thực phẩm nhất do tình trạng sử dụng thuốc BVTV bừa bãi, do sâu tơ kháng thuốc ngày càng cao Có nơi người nông dân phải phun

Trang 31

thuốc 5-7 ngày/ lần để phun trừ sâu tơ nhưng vẫn không đạt kết quả khả quan Năm 2002 Chi cục BVTV TP Hồ chí Minh tiến hành kiểm tra 225 nông dân đang phun xịt thuốc trên cánh đồng phát hiện và xử lý 4 nông dân phun thuốc BVTV không được phép sử dụng ở Việt Nam, phát hiện 5 trường hợp thu hoạch sản phẩm rau trước thời gian cách ly 2-3 ngày, các mẫu rau này đem phân tích đều có kết quả hàm lượng thuốc BVTV cao quá mức cho phép Ngoài ra đoàn kiểm tra lấy 164 mẫu rau ở các chợ đầu mối phân tích có 9 mẫu (chiếm 5,5%) vượt mức cho phép

2.2.2.2 Những nghiên cứu về sâu tơ

Chưa có thông tin chính thức ghi nhận sâu tơ gây hại từ bao giờ ở Việt Nam, theo Lê Trường (1981) [36] cuối thập niên 40 của thế kỷ XX nhiều nơi ở

Hà Nội và Hải Phòng nông dân đã phải dùng thuốc hóa học để trừ sâu tơ trên ruộng cải bắp

Thành phần sâu hại trên rau họ hoa thập tự rất phong phú, kết quả điều tra cơ bản côn trùng các tỉnh phía Bắc 1967-1968 [17] đã ghi nhận 23 loài trong đó

14 loài thường xuyên gây hại, điều tra các tỉnh phía Nam 1977-1978 ghi nhận 30 loài trong đó 8 loài thường xuyên gây hại Đến năm 1995-1997 tác giả Lê Văn Trịnh [32] ghi nhận ở đồng bằng Sông Hồng có 31 loài thuộc 16 họ, 7 bộ Hà Quang Hùng (1998, 2004) [1], [14], [15] ghi nhận những loài gây hại quan trọng

và thường xuyên là sâu xám (Agrotis ypsilon), sâu tơ (P xylostella), bọ nhảy

(Phylotetra sp.), sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae), rệp cải (Brevicoryne brassicae)

Nguyễn Văn Đĩnh (2004) [10] điều tra thành phần sâu hại rau chủ yếu trồng trong nhà có mái che ở Lĩnh Nam (Hoàng Mai) và Đặng Xá (Gia Lâm) Hà Nội rút ra nhận xét thành phần sâu hại trong nhà lưới có mái che tương tự như trên đồng ruộng, sâu tơ và bọ nhảy cũng là hai loài gây hại mạnh nhất Lê Lương

Trang 32

Tề (2004) [28] cũng cho rằng sâu bệnh hại rau trong nhà lưới tương tự, đôi khi còn nặng hơn so trên đồng ruộng

Lê Thị Kim Oanh (2002) [25] điều tra tại Hà Nội, Hà Tây và Vĩnh Phúc

thu thập được 29 loài sâu hại thuộc 7 bộ 17 họ trong đó bộ cánh vảy Lepidoptera

có số lượng loài lớn nhất (34,5%) Theo Phạm Bình Quyền và NNK (2003) [26] sâu tơ phát sinh nhiều lứa trong năm, mỗi năm có tới 17 đỉnh cao mật độ, tăng cao từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, khoảng cách giữa các đỉnh cao từ 10-36

ngày Có nhiều loài ong và ruồi ký sinh trên sâu tơ, trong đó ong ký sinh Cotesia

plutella ký sinh lúc cao điểm đạt 22-24% sâu non sâu tơ trên đồng ruộng

Lê Thị Kim Oanh (2001) [24] tiến hành khảo sát mức độ kháng thuốc của sâu tơ ở Hà Nội, Hà Tây và Vĩnh Phúc cho kết quả sâu tơ kháng cao với thuốc Cypermethrin, Fipronil Đặc biệt chỉ số kháng gia tăng theo thời gian dùng thuốc,

đầu vụ chỉ số kháng thấp nhưng giữa đến cuối vụ chỉ số lại cao, khi ngừng sử dụng thuốc thì chỉ số kháng lại giảm xuống

Dzolkhifli Omar (Malaysia) (2001) [11] nghiên cứu tính kháng thuốc của sâu tơ đối với một số thuốc trừ sâu mới cho thấy việc dùng thuốc làm tăng sức ép chọn lọc của sâu tơ, tính kháng tăng nhanh qua từng thế hệ

Nguyễn Văn Tuất (2001) [37] nghiên cứu sử dụng chế phẩm EM trong phòng trừ tổng hợp sâu tơ hại cải bắp kết luận chế phẩm EM có thể ảnh hưỏng

đến trứng, ấu trùng sâu tơ, gây chết ở tuổi 3-4, từ đó làm giảm mật số sâu tơ trên ruộng rau Khi chết sâu tơ có triệu chứng chung là ban đầu sâu bỏ ăn, ít di động, 1-2 ngày sau sâu mọng nước to dần và chết

Nguyễn Văn Hải (2000) [13] đưa ra mô hình sử dụng thuốc hợp lý phòng trừ sâu tơ trong đó sử dụng luân chuyển các loại thuốc như Abamectin, Chlorfluazuron, Fiponil, Bt cho hiệu quả cao và giảm được số lần phun thuốc

Lê Văn Trịnh (2002) [32] nghiên cứu chất dẫn dụ giới tính trong dự báo và phòng trừ sâu tơ đã phối chế được chất dẫn dụ bướm sâu tơ chất lượng tương

Trang 33

đương sản phẩm của Trung Quốc nhưng giá thành chỉ bằng 14-26% giá sản phẩm ngoại nhập Nếu bẫy liên tục từ đầu vụ sẽ góp phần hạn chế đáng kể lượng sâu trên ruộng

Trong những năm qua Viện BVTV [31] đã phát triển các công nghệ sản xuất và nghiên cứu ứng dụng các chế phẩm trừ sâu sinh học để sử dụng trong sản xuất nông sản an toàn như chế phẩm NPV, Beauveria, Metarhizium, V-Bt, Bt, thuốc thảo mộc trừ sâu, Pheromone giới tính…

2.2.2.3 Những nghiên cứu về kẻ thù tự nhiên của sâu tơ

Theo Trần Đức Viên và NNK, (2004) [40], Nguyễn Viết Tùng (2004) [39] trong thiên nhiên mỗi loài côn trùng tồn tại dưới dạng quần thể, quần thể mỗi loài chỉ phân bố ở một số khu vực nhất định trong khả năng chịu đựng được của loài

Để tồn tại và phát triển quần thể mỗi loài sẽ có một số biến đổi để thích nghi với

điều kiện môi trường thay đổi ở hệ sinh thái đồng ruộng khi đạt được cân bằng sinh học thì số lượng sâu không lớn, tổn thất mùa màng không đáng kể

Phạm Văn Lầm (2002) [19] điều tra tài nguyên thiên địch của sâu hại và

định danh thiên địch của sâu hại thu được trên một số cây trồng chính trong giai

đoạn 1981-2002 đã thu thập được trên 600 loài thiên địch xác định được 452 loài,

đã định danh được 223 loài ký sinh, 215 loài bắt mồi ăn thịt

Hồ Thị Thu Giang (2002) [12] thu thập được 77 loài có ích thuộc 7 bộ côn

trùng, 1 bộ nhện lớn ăn thịt trong đó ong ký sinh sâu tơ Diadromus collaris và

Cotesia plutella là 2 loài ký sinh sâu non quan trọng trong việc khống chế mật

Trang 34

Theo Phạm Văn Lầm (1995) [17], sự đa dạng về loài thực vật sẽ dẫn đến

đa dạng về loài sâu hại và thiên địch của chúng Đa dạng sinh học các loài thiên

địch có thể được tăng cường và phát huy hiệu quả bằng cách đưa một loài là ký sinh hay vật bắt mồi ăn thịt nhập cư, nhân nuôi rồi phóng thích hàng loạt Cũng theo tác giả này [19] có thể giảm tỷ lệ chết của thiên địch bằng cách hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu, cung cấp thêm nguồn thức ăn phụ và vật chủ ngoài vật chủ chính Tăng cường đa dạng thực vật trong và xung quanh ruộng trồng

Theo Nguyễn Viết Tùng (2004) [39], nhập nội các loài ký sinh thiên địch cũng nhằm tăng cường đa dạng sinh học, tiến tới trạng thái cân bằng sinh học Phạm Bình Quyền (2003) [27], phần lớn các loài du nhập không sống được tại nơi mới đến, một tỷ lệ nhất định thiết lập được sự sống, nhiều loài trong số đó còn tỏ ra vượt trội so với loài bản địa

Đà Lạt là vùng chuyên canh rau lớn, rau họ hoa thập tự chiếm cơ cấu lớn

về diện tích: 1800-2000 ha chiếm 30-35% diện tích rau Đà Lạt Sâu tơ là loài dịch hại nghiêm trọng nhất, nông dân phun trừ sâu tơ 10-14 lần thuốc hóa học và thường phối hợp 2-3 loại thuốc với nồng độ cao Khoảng 58% nông dân phun

định kỳ 3-5 ngày/lần Năm 1996 Chi cục BVTV Lâm Đồng (2001) [4] đã nhập

500 kén ong D semiclausum từ Malaysia, sau 5 năm nhân được 103.202 ong

trưởng thành Tỷ lệ ký sinh trong phòng thí nghiệm từ 87,7% (năm 1997) đến 52,9% (2001), tỷ lệ ong cái cao nhất 51,1% (1998) thấp nhất 44,2% (2001) Sau nhiều thế hệ nhân nuôi trong phòng thí nghiệm tỷ lệ ong cái có xu hướng giảm dần Tuy vậy tỷ lệ ong cái ở Đà Lạt cao hơn nhiều so với ở Malaysia (chỉ từ 10-20%) Ruộng thuần hóa rộng 1000 m2 trồng 300 m2/tháng luân phiên, không phun bất cứ loại thuốc trừ sâu nào để cung cấp ký chủ cho ong và thuần hóa với

điều kiện địa phương từ đó ong tự phát tán ra Chi cục thả D semiclausum liên

tục từ 1997 đến 2001 với tổng số 19.320 ong Tỷ lệ ký sinh sâu tơ ở ruộng sinh thái đạt 20,1 – 32%; 25-67,4% và 31,1-46,1% tương ứng các năm 1997, 1998 và

Trang 35

1999 Ong phát tán đều ra các hướng xung quanh, xa nhất tới 3,5 km, tỷ lệ ký

sinh dao động 10-20% cao nhất 57,3% Ong D semiclausum nhập nội từ

Malaysia đã thiết lập được quần thể ở Đà Lạt

2.2.2.4 Những nghiên cứu về ong ký sinh D insulare

Chương trình liên quốc gia về IPM trên cây rau ở Nam và Đông Nam á

đang phát triển các kỹ thuật đấu tranh sinh học đối với các loài dịch hại trên cây

rau, đặc biệt là đối với sâu tơ (P xylostella) một loài dịch hại nghiêm trọng nhất

đối với ngành sản xuất rau ở Châu á Sự du nhập thành công ong ký sinh

Diadegma semiclausum vào Malaysia và Việt Nam đã tạo ra một tác nhân sinh

học mới trong việc kiểm oát sâu tơ Tuy vậy loài ong này lại không thiết lập được

quần thể ở vùng khí hậu nóng Ong ký sinh D Insulare có hiệu quả kiểm soát

sâu tơ ở khu vực khí hậu ấm của Hoa Kỳ có thể mang lại hiệu quả kiểm soát sâu tơ ở vùng đất thấp, khí hậu nóng của Châu á Trung tâm sinh học ứng dụng quốc

tế (CABI 1996) [3] đã triển khai dự án GCP/RAS/160/NET IPM trên cây rau

nhập nội ong ký sinh D Insulare vào Malaysia và cung cấp cho Việt Nam thông

qua tổ chức FAO ở Việt Nam

Trung tâm BVTV phía Bắc (2005) [33] đã được Cục BVTV, chương trình

IPM Quốc gia chỉ định tiếp nhận, nhân nuôi ong D insulare nhập nội ký sinh sâu non sâu tơ (P xylostella) với mục đích nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh

thái học và khả năng thích ứng với điều kiện miền Bắc Việt Nam, nhân thả ong trên đồng ruộng nhằm góp phần điều hoà số lượng sâu tơ trên đồng ruộng, giảm bớt lượng thuốc hoá học sử dụng trong sản xuất rau

Trung tâm đã nhận 2 đợt ong D insulare từ tháng 11 và 12 năm 2004, tháng 4 năm 2005 Trung tâm lại tiếp nhận 2.100 kén ong D insulare đã qua

kiểm dịch thực vật, lô kén này vũ hóa được 1.235 ong đạt tỷ lệ nở 58,6% trong đó

tỷ lệ ong cái đạt 35,55% Tháng 5 năm 2005 nhận tiếp lô thứ 2 tổng số 1.600 kén

Trang 36

ong D insulare, tỷ lệ vũ hóa chỉ đạt 37,9% tỷ lệ cái đạt 22,4% Nhận định ban

đầu do kén ong D insulare nhập từ Bắc Mỹ trong điều kiện nhiệt độ tháng 4 là

150C khi về Việt Nam là 250C, ẩm độ cao hơn 8%, hơn nữa thời gian từ nhộng

đến vũ hóa chỉ từ 4-9 ngày trong khi vận chuyển, kiểm dịch phải bảo quản trong môi trường lạnh nên có khả năng ảnh hưởng tới tỷ lệ vũ hóa của ong Vòng đời

của ong D insulare từ 15-17 ngày tùy điều kiện nhiệt độ, thời gian từ trứng đến

lúc ấu trùng ong chui ra khỏi ký chủ là sâu tơ từ 13-16 ngày, nhộng 5-8 ngày, trưởng thành sống từ 5-15 ngày

Chi cục BVTV thành phố Hồ Chí Minh (2005) [6] nghiên cứu sản xuất

sinh khối sâu tơ phục vụ cho nhân nuôi ong D insulare do Trung tâm BVTV

phía Bắc cung cấp nguồn ong cho thấy lá cải rổ và mầm cải củ hấp dẫn trưởng thành sâu tơ đến đẻ trứng nhiều hơn lá cải xanh và giấy bạc Chi cục BVTV TP

Hồ Chí Minh [7] cũng tiến hành thử nghiệm đánh giá khả năng thiết lập quần thể

của ong D insulare trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, thả sâu tơ 3- 4 ngày

tuổi ra đồng trước khi phóng thích ong 1 ngày, sau khi cho ong ký sinh trong lồng 01 m3 từ 3-5 ngày mới để ong tự do bay ra ngoài kết quả ghi nhận khả năng sống sót của ong không cao do trong thời gian phóng thích ong gặp điều kiện mưa to, mật độ sâu trên đồng ruộng thấp và số ong cái phóng thích không lớn

Lim Guan Soon (2006) [22] báo cáo cố vấn chương trình du nhập ong D

insulare vào Việt Nam trong hội thảo tại TP Hồ Chí Minh nhận định: Chính phủ

Việt Nam đang cố gắng thiết lập ong D insulare để phòng trừ sâu tơ ở vùng

đồng bằng sản xuất rau cải và đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam Việt Nam Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc ở Hưng Yên đã nhận hai đợt ong ký sinh từ Florida (Mỹ) vào tháng 11 và tháng 12 năm 2004 Sau khi qua kiểm dịch và nhân nuôi hàng loạt thành công, ong đã được chuyển cho trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục nhân nuôi và thả ra ruộng Hè năm 2005, trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh thả ong lần đầu tiên ra ruộng trong thành phố, còn Chi cục BVTV thành phố HCM điều tra đồng ruộng Lần

Trang 37

thả thứ hai ở Bà Rịa - Vũng Tàu được tiến hành vào tháng hai năm 2006 Hội thảo được tổ chức vào ngày 17-18 tháng Giêng năm 2006 tại thành phố Hồ Chí Minh với sự tham gia của Cục BVTV, Trung tâm BVTV phía Bắc, Chi cục BVTV thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và

Văn phòng FAO - IPM Hà Nội) Việc nhân nuôi D insulare ở Hưng Yên đang

tiến triển tốt trong phòng thí nghiệm, mặc dù quần thể trên ruộng sinh thái giảm

nhiều do mùa đông lạnh Phòng thí nghiệm nuôi ong D insulare ở trường Đại

học Nông Lâm có tỷ lệ ong cái thấp, nên sản xuất ký sinh kém Điều này chủ yếu

là do ong không có đủ không gian giao phối (trong ống nhỏ) và chỉ có một hoặc một vài cặp Phương pháp này phù hợp với mục đích nghiên cứu, nhưng không hiệu quả lắm cho việc nhân nuôi hàng loạt như ở Trung tâm BVTV phía Bắc Đối với việc thả ong trong nhà lưới, Đại học Nông Lâm đã thả vài lần, mỗi lần với số

lượng ít Chỉ có một vài kén D insulare tạo ra ong đực là sống sót Chi cục

BVTV thành phố Hồ Chí Minh cũng thử thả ong ra ruộng với số lượng nhỏ Lượng ký sinh sống sót thấp, chủ yếu do điều kiện cây trồng kém, không có sâu tơ nhiều trên ruộng (Sự tồn tại tự nhiên của quần thể sâu tơ trên ruộng là yêu cầu chính cho ong thiết lập được)

Với những vấn đề về sâu tơ ở miền Nam Việt Nam, việc phòng trừ hiện

nay bằng các loài ong ký sinh đang tồn tại (Cotesia plutellae và M plutellae) là chưa đủ, đó là lý do căn bản để du nhập ong D insulare Sinh thái và tiềm năng của D insulare được đặc biệt chú trọng, bao gồm cả việc nhân nuôi hàng loạt để

thả ra ruộng và cách thả như thế nào, các bước điều tra và đánh giá về sự thiết lập

của ong trên ruộng Việc tiếp sau chủ yếu là kiểm tra kén D insulare trên ruộng,

nuôi kén thu thập được trên ruộng để đánh giá chất lượng, thu thập sâu non sâu tơ

để nuôi ong D insulare

Việc nuôi ong ký sinh cần để ong giao phối trong không gian rộng hơn và chỉ thả ong ra ruộng vài lần (chẳng hạn chỉ 1-3 lần) với số lượng lớn hơn (tốt nhất

là >200 cặp mỗi lần)

Trang 38

Theo kế hoạch Trung tâm BVTV phía Bắc Hưng Yên tiếp tục nhân nuôi và

duy trì D insulare trong phòng thí nghiệm và trên ruộng sinh thái, cung cấp ong

cho Đại học Nông Lâm để thả ra ruộng và làm các nghiên cứu khác Đề nghị thả ong ở Sapa, Lào Cai và Tam Đảo do những nơi này tránh được nhiệt độ cao vào

các tháng mùa hè Đại học Nông Lâm tiếp tục thử thả D insulare ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và điều tra sau khi thả, nhân nuôi D insulare, tiến hành các nghiên cứu liên quan tới D insulare để hỗ trợ cho việc thả ong ra ruộng Chi cục BVTV thành phố HCM thử thả lại D insulare trên ruộng lớn hơn, có nhiều sâu tơ tuổi nhỏ và theo dõi để thử lại khả năng thiết lập quần thể của ong D insulare

Tóm lại do ong ký sinh D insulare mới nhập nội vào Việt Nam nên những

nghiên cứu về loài ong này chỉ mới bắt đầu, những nghiên cứu cụ thể về đặc điểm hình thái, đặc tính sinh vật học chưa được tiến hành, hiện tại vấn đề bức thiết nhất

đang được đặt ra như bất kỳ một loài sinh vật mới nhập nội nào khác là ong D

insulare có thể thiết lập được quần thể tại Việt Nam hay không? Công việc vẫn

đang được Cục BVTV, Chương trình IPM Quốc gia, Trung tâm BVTV phía Bắc

và các đơn vị tham gia tiến hành

Trang 39

phần iiI: đối tượng, địa điểm, nội dung và

phương pháp nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Cây trồng: rau họ hoa thập tự vụ Đông Xuân năm 2005-2006

- Ký chủ: sâu tơ (P xylostella L.)

- Ký sinh: Ong Diadegma insulare Cresson nhập nội có nguồn gốc từ

Florida - Mỹ

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Điều tra tình hình gây hại, biến động số lượng của sâu tơ (P xylostella),

thành phần ong ký sinh, mối quan hệ giữa cây trồng - sâu tơ - ong ký sinh được thực hiện ở Văn Lâm, Hưng Yên

- Nuôi sâu tơ (P xylostella) để phát hiện thành phần ong ký sinh, bảo quản

mẫu, phân tích giám định mẫu, mổ sâu theo dõi các pha phát dục của ong ký sinh

D insulare được tiến hành tại phòng thí nghiệm sinh thái côn trùng của Bộ môn

côn trùng - Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội

- Nghiên cứu khả năng ký sinh của ong D insulare được tiến hành tại

Phòng nhân nuôi ong của Trung tâm BVTV phía Bắc tại Hưng Yên

- Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 08 năm 2005 đến tháng 04 năm 2006

3.3 Dụng cụ nghiên cứu

- ống nghiệm, hộp petri, lồng mica, lồng lưới, kính lúp cầm tay, kính lúp 2 mắt, bông thấm nước, hạt giống rau cải bắp gieo trồng để nhân nuôi sâu tơ, bộ đồ

Trang 40

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Ngoài đồng

- Điều tra tình hình gây hại của sâu tơ trên đồng ruộng được tiến hành theo phương pháp định kỳ 7 ngày/lần trên ruộng rau Điều tra 3 ruộng, 5 điểm chéo góc trên mỗi ruộng, mỗi điểm điều tra 4 cây, đếm toàn bộ số sâu tơ [41]

- Phương pháp điều tra thu thập thành phần ong ký sinh của sâu tơ và tỷ lệ ký sinh: thu mẫu sâu non, nhộng sâu tơ ở ngoài ruộng rau một cách ngẫu nhiên mang về phòng tiếp tục nuôi và theo dõi tỷ lệ và thành phần ký sinh cho tới khi sâu vào nhộng, vũ hoá trưởng thành Nếu xuất hiện ký sinh chúng tôi thu thập và ngâm mẫu ký sinh và ký chủ trong lọ mẫu có chứa cồn 70o để phân loại

- Khả năng thiết lập quần thể ngoài đồng ruộng: Thả ong ra ruộng rau đang có sâu tơ đa số tuổi 2, sau đó điều tra định kỳ 7 ngày/lần ở khu vực đó cho đến hết

vụ Ruộng rau không phun bất kỳ loại thuốc BVTV nào để bảo tồn ong ký sinh Theo dõi tỷ lệ ký sinh, khả năng phát tán của ong

3.4.2 Trong phòng

- Nhân nuôi sâu tơ (P xylostella) trong dụng cụ nuôi để thu nhộng, trưởng

thành vũ hoá chuyển vào lồng lưới cho giao phối đẻ trứng, từ đó lấy nguồn sâu non để theo dõi tiếp cho các thí nghiệm khác

- Khả năng nhân nuôi trong phòng thí nghiệm: nguồn ong ký sinh nhập về

được giữ trong đĩa Petri, hàng ngày theo dõi tổng số ong, số ong cái hoặc ký sinh

bậc hai nở ra Tiến hành nhân nuôi liên tục ong ký sinh D insulare trong phòng

thí nghiệm, cứ mỗi lồng thả 10-20 cặp ong và 200-300 sâu tơ tuổi 1-2 lên cây rau cải bắp để trong lồng, treo mật ong 50% để ăn bổ sung, sau 1-2 ngày thay sâu, chuyển sang lồng khác để chờ thu kén Kén thu được chuyển vào đĩa Petri, khi ong vũ hóa lại tiếp tục cho ký sinh

- Để nghiên cứu khả năng ký sinh của ong D insulare cho ong vào lồng nuôi

sâu trong đó có sâu tơ tuổi 2, treo bông tẩm mật ong nguyên chất để tạo nguồn

Ngày đăng: 02/11/2015, 11:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ môn côn trùng- Tr−ờng ĐHNN1 (2004), Giáo trình côn trùng chuyên khoa, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình côn trùng chuyên khoa
Tác giả: Bộ môn côn trùng- Tr−ờng ĐHNN1
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2004
2. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2005), Danh mục thuốc BVTV đ−ợc phép sử dụng trên rau, Quyết định 22/2005 QĐ- BNN ngày 22/09/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục thuốc BVTV đ−ợc phép sử dụng trên rau
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Năm: 2005
3. CABI (Trung tâm vùng Nam á) (2001), “Báo cáo b−ớc đầu dự án du nhập ong ký sinh Diadegma insulare để kiểm soát sâu tơ vùng đất thấpĐông Nam á”, Báo cáo ch−ơng trình liên quốc gia về IPM trên cây rau vùng Nam và Đông Nam á, FAO Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo b−ớc đầu dự án du nhập ong ký sinh "Diadegma insulare" để kiểm soát sâu tơ vùng đất thấp Đông Nam á”, "Báo cáo ch−ơng trình liên quốc gia về IPM trên cây rau vùng Nam và Đông Nam á
Tác giả: CABI (Trung tâm vùng Nam á)
Năm: 2001
4. Chi cục BVTV Lâm Đồng (2001), “Kết quả b−ớc đầu sử dụng ong ký sinh nhập nội để trừ sâu tơ hại rau họ hoa thập tự tại Đà Lạt”, Tạp chí BVTV, sè 5/2002 (185), tr. 19-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả b−ớc đầu sử dụng ong ký sinh nhập nội để trừ sâu tơ hại rau họ hoa thập tự tại Đà Lạt"”, Tạp chí BVTV
Tác giả: Chi cục BVTV Lâm Đồng
Năm: 2001
5. Chi cục BVTV Thành phố Hồ Chí Minh (2002), “Công tác thanh tra việc sử dụng thuốc BVTV trên rau tại Thành phố Hồ Chí Minh và biện pháp xử lý”, Tạp chí BVTV, số 2/2003 (188), tr. 38- 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác thanh tra việc sử dụng thuốc BVTV trên rau tại Thành phố Hồ Chí Minh và biện pháp xử lý”," Tạp chí BVTV
Tác giả: Chi cục BVTV Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002
6. Chi cục BVTV Thành phố Hồ Chí Minh (2005), “Báo cáo kết quả nghiên cứu và tình hình nhân nuôi ong Diadegma insulare tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Báo cáo tổng kết ch−ơng trình nhập nội ong ký sinh, Cục BVTV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả nghiên cứu và tình hình nhân nuôi ong "Diadegma insulare" tại Thành phố Hồ Chí Minh”, "Báo cáo tổng kết ch−ơng trình nhập nội ong ký sinh
Tác giả: Chi cục BVTV Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
7. Chi cục BVTV Thành phố Hồ Chí Minh (2005), “Báo cáo kết quả phóng thích ong ký sinh Diadegma insulare tại TP HCM”, Báo cáo tổng kết ch−ơng trình nhập nội ong ký sinh, Cục BVTV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả phóng thích ong ký sinh "Diadegma insulare" tại TP HCM”, "Báo cáo tổng kết ch−ơng trình nhập nội ong ký sinh
Tác giả: Chi cục BVTV Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
8. Cục BVTV (2003), Một số ứng dụng BVTV vào sản xuất nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ứng dụng BVTV vào sản xuất nông nghiệp
Tác giả: Cục BVTV
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
9. Cục BVTV, Bộ Nông nghiệp & PTNT (2006), “Ch−ơng trình huấn luyện nông dân sản xuất và xây dựng mô hình rau an toàn theo h−ớng GAP” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ch−ơng trình huấn luyện nông dân sản xuất và xây dựng mô hình rau an toàn theo h−ớng GAP
Tác giả: Cục BVTV, Bộ Nông nghiệp & PTNT
Năm: 2006
10. Nguyễn Văn Đĩnh (2005), “Sâu hại rau chủ yếu trồng trong nhà có mái che ở Lĩnh Nam (Hoàng Mai) và Đặng Xá (Gia Lâm) Hà Nội năm 2003- 2004”, Tạp chí BVTV, số 4 (202)/2005, tr. 4-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sâu hại rau chủ yếu trồng trong nhà có mái che ở Lĩnh Nam (Hoàng Mai) và Đặng Xá (Gia Lâm) Hà Nội năm 2003-2004”", Tạp chí BVTV
Tác giả: Nguyễn Văn Đĩnh
Năm: 2005
11. Dzolkhifli Omar (2001), “Tính kháng thuốc của sâu tơ đối với một số thuốc trừ sâu mới”, (Phạm Văn Lầm), Tạp chí BVTV, số 2 /2001(176), tr. 42- 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính kháng thuốc của sâu tơ đối với một số thuốc trừ sâu mới"”," (Phạm Văn Lầm), "Tạp chí BVTV
Tác giả: Dzolkhifli Omar
Năm: 2001
12. Hồ Thị Thu Giang (2002), Nghiên cứu thiên địch sâu hại rau họ hoa thập tự; đặc điểm sinh học, sinh thái học của 2 loài ong ký sinh chủ yếu trên sâu tơ ở ngoại thành Hà Nội, Luận án tiến sỹ nông nghiệp, Tr−ờng Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thiên địch sâu hại rau họ hoa thập tự; đặc điểm sinh học, sinh thái học của 2 loài ong ký sinh chủ yếu trên sâu tơ ở ngoại thành Hà Nội
Tác giả: Hồ Thị Thu Giang
Năm: 2002
13. Nguyễn Văn Hải (2000), “Một vài mô hình sử dụng thuốc hợp lý trừ sâu tơ hại rau cải bắp”, Tạp chí BVTV, số 2/2001(176), tr. 16-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài mô hình sử dụng thuốc hợp lý trừ sâu tơ hại rau cải bắp”, "Tạp chí BVTV
Tác giả: Nguyễn Văn Hải
Năm: 2000
14. Hà Quang Hùng (1998), Phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng nông nghiệp
Tác giả: Hà Quang Hùng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998
15. Hà Quang Hùng (2004), Dịch học BVTV, Tài liệu giảng dạy cao học, Tr−ờng Đại học NN1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch học BVTV
Tác giả: Hà Quang Hùng
Năm: 2004
17. Nguyễn Đức Khiêm (2006), Giáo trình côn trùng nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình côn trùng nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Đức Khiêm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2006
18. Phạm Văn Lầm (1995), Biện pháp sinh học phòng chống dịch hại nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp sinh học phòng chống dịch hại nông nghiệp
Tác giả: Phạm Văn Lầm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
19. Phạm Văn Lầm (2002), Tài nguyên thiên địch của sâu hại: Nghiên cứu và ứng dụng, Quyển 1, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 7- 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên thiên địch của sâu hại: Nghiên cứu và ứng dụng
Tác giả: Phạm Văn Lầm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
21. Nguyễn Thị Lan (2002), “Nghiên cứu hiện trạng sử dụng thuốc BVTV và phân bón trong sản xuất rau tại Hà Nội và Ninh Bình”, Tạp chí BVTV, sè 6 (198)/2004 tr. 31-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hiện trạng sử dụng thuốc BVTV và phân bón trong sản xuất rau tại Hà Nội và Ninh Bình”, "Tạp chí BVTV
Tác giả: Nguyễn Thị Lan
Năm: 2002
22. Lim Guan Soon (2006), “Báo cáo cố vấn ch−ơng trình du nhập ong Diadegma insulare vào Việt Nam”, Hội thảo du nhập ong ký sinh vào Diadegma insulare vào Việt Nam, Tháng 1/2006, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo cố vấn ch−ơng trình du nhập ong Diadegma insulare vào Việt Nam”," Hội thảo du nhập ong ký sinh vào Diadegma insulare vào Việt Nam
Tác giả: Lim Guan Soon
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 1: Diễn biến mật độ của sâu tơ và một số loài BMAT chính - nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của ong ký sinh nhập nội và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sâu tơ hại rau họ hoa thập tự vụ đông xuân 2005-2006 tại văn lâm, hưng yên
th ị 1: Diễn biến mật độ của sâu tơ và một số loài BMAT chính (Trang 54)
Đồ thị 4: Diễn biến mật độ của sâu tơ và tỷ lệ ong ký sinh trà cải bắp chính vụ - nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của ong ký sinh nhập nội và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sâu tơ hại rau họ hoa thập tự vụ đông xuân 2005-2006 tại văn lâm, hưng yên
th ị 4: Diễn biến mật độ của sâu tơ và tỷ lệ ong ký sinh trà cải bắp chính vụ (Trang 56)
Đồ thị 3: Diễn biến mật độ của sâu tơ và một số loài BMAT chính - nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của ong ký sinh nhập nội và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sâu tơ hại rau họ hoa thập tự vụ đông xuân 2005-2006 tại văn lâm, hưng yên
th ị 3: Diễn biến mật độ của sâu tơ và một số loài BMAT chính (Trang 56)
Bảng 5: Kích th−ớc các pha phát dục của ong D. insulare - nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của ong ký sinh nhập nội và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sâu tơ hại rau họ hoa thập tự vụ đông xuân 2005-2006 tại văn lâm, hưng yên
Bảng 5 Kích th−ớc các pha phát dục của ong D. insulare (Trang 58)
Đồ thị 5: Thời gian vũ hóa (tỷ lệ  % ) trong ngày của ong D. insulare - nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của ong ký sinh nhập nội và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sâu tơ hại rau họ hoa thập tự vụ đông xuân 2005-2006 tại văn lâm, hưng yên
th ị 5: Thời gian vũ hóa (tỷ lệ % ) trong ngày của ong D. insulare (Trang 63)
Bảng 9: Nhịp điệu đẻ trứng ký sinh của ong D. insulare - nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của ong ký sinh nhập nội và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sâu tơ hại rau họ hoa thập tự vụ đông xuân 2005-2006 tại văn lâm, hưng yên
Bảng 9 Nhịp điệu đẻ trứng ký sinh của ong D. insulare (Trang 66)
Đồ thị 7: Nhịp điệu đẻ trứng ký sinh của ong D. insulare (% số quả/ngày) - nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của ong ký sinh nhập nội và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sâu tơ hại rau họ hoa thập tự vụ đông xuân 2005-2006 tại văn lâm, hưng yên
th ị 7: Nhịp điệu đẻ trứng ký sinh của ong D. insulare (% số quả/ngày) (Trang 67)
Đồ thị 8: Tính lựa chọn tuổi sâu tơ để ký sinh - nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của ong ký sinh nhập nội và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sâu tơ hại rau họ hoa thập tự vụ đông xuân 2005-2006 tại văn lâm, hưng yên
th ị 8: Tính lựa chọn tuổi sâu tơ để ký sinh (Trang 68)
Bảng 11: ảnh hưởng của thức ăn bổ xung đến thời gian sống (ngày) và khả - nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của ong ký sinh nhập nội và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sâu tơ hại rau họ hoa thập tự vụ đông xuân 2005-2006 tại văn lâm, hưng yên
Bảng 11 ảnh hưởng của thức ăn bổ xung đến thời gian sống (ngày) và khả (Trang 69)
Bảng 12: ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến trưởng thành ong D. insulare - nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của ong ký sinh nhập nội và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sâu tơ hại rau họ hoa thập tự vụ đông xuân 2005-2006 tại văn lâm, hưng yên
Bảng 12 ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến trưởng thành ong D. insulare (Trang 70)
Đồ thị 10: ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến trưởng thành ong D. insulare - nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của ong ký sinh nhập nội và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sâu tơ hại rau họ hoa thập tự vụ đông xuân 2005-2006 tại văn lâm, hưng yên
th ị 10: ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến trưởng thành ong D. insulare (Trang 71)
Bảng 13: Khả năng nhân nuôi ong D. insulare trong phòng thí nghiệm - nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của ong ký sinh nhập nội và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sâu tơ hại rau họ hoa thập tự vụ đông xuân 2005-2006 tại văn lâm, hưng yên
Bảng 13 Khả năng nhân nuôi ong D. insulare trong phòng thí nghiệm (Trang 72)
Đồ thị 11: Diễn biến tỷ lệ nở và tỷ lệ ong cái nhân nuôi trong phòng. - nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của ong ký sinh nhập nội và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sâu tơ hại rau họ hoa thập tự vụ đông xuân 2005-2006 tại văn lâm, hưng yên
th ị 11: Diễn biến tỷ lệ nở và tỷ lệ ong cái nhân nuôi trong phòng (Trang 73)
Bảng 14: Diễn biến tỷ lệ ký sinh của ong D. insulare trên đồng ruộng - nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của ong ký sinh nhập nội và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sâu tơ hại rau họ hoa thập tự vụ đông xuân 2005-2006 tại văn lâm, hưng yên
Bảng 14 Diễn biến tỷ lệ ký sinh của ong D. insulare trên đồng ruộng (Trang 74)
Đồ thị 12: Diễn biến tỷ lệ ký sinh của ong D. insulare trên đồng ruộng. - nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của ong ký sinh nhập nội và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sâu tơ hại rau họ hoa thập tự vụ đông xuân 2005-2006 tại văn lâm, hưng yên
th ị 12: Diễn biến tỷ lệ ký sinh của ong D. insulare trên đồng ruộng (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm