1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại Bệnh viện Mắt Thanh Hóa

80 527 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, vẫn còn nhiều bất cập trong sử dụng thuốc tại các bệnh viện như: Các thuốc không thiết yếu không thực sự cần thiết được sử dụng với tỉ lệ cao, Chi phí dành cho kháng sinh chiếm

Trang 1

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

TRẦN THỊ HUYỀN

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN MẮT THANH HOÁ

NĂM 2014

LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I

HÀ NỘI 2015

Trang 2

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

TRẦN THỊ HUYỀN

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN MẮT THANH HÓA NĂM 2014

LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I

CHUYÊN NGÀNH:TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC

MÃ SỐ: CK 60720412

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Song Hà

Nơi thực hiện: Trường Đại học Dược Hà Nội

Bệnh viện Mắt Thanh Hóa

Thời gian thực hiện: Từ 19/1/2015 đến 19/5/2015

HÀ NỘI 2015

Trang 3

Lời Cảm Ơn

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều cá nhân, tập thể, của các thầy cô, gia đình, đồng nghiệp, bạn bè

Đầu tiên, với lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc, tôi xin gửi lời cám

ơn chân thành nhất tới PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà, người thầy đã tận

tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cám ơn quý thầy cô Bộ môn Quản lý và kinh tế dược, Trường đại học Dược Hà Nội đã giúp đỡ và truyền đạt những kiến thức quí báu cho tôi trong suốt quá trình học tập ở trường

Tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám Đốc và Khoa Dược Bệnh viện Mắt Thanh Hóa đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu cho luận văn này

Tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến quí thầy cô trong ban giám hiệu, phòng sau đại học Trường Đại học Dược Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, đồng nhiệp và bạn bè đã luôn bên cạnh, chia sẻ, động viên và giúp đỡ trong cuộc sống và quá trình học tập

Hà Nôi, ngày 20 tháng 5 năm 2015

Học viên

Trần Thị Huyền

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Dose Daily

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh viện là cơ sở y tế trực tiếp khám chữa bệnh và chăm lo sức khỏe toàn diện cho người bệnh Để thực hiện mục tiêu bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và có hiệu quả công tác sử dụng thuốc tại bệnh viện đóng vai trò rất quan trọng

Hiện nay, vẫn còn nhiều bất cập trong sử dụng thuốc tại các bệnh viện như: Các thuốc không thiết yếu (không thực sự cần thiết) được sử dụng với tỉ lệ cao, Chi phí dành cho kháng sinh chiếm tỉ lệ tương đối cao trong tổng chi phí cho thuốc và hóa chất[30], tỉ lệ thuốc nhập khẩu, thuốc theo tên biệt dược trong danh mục thuốc tại bệnh viện chiếm ưu thế, tỉ lệ kê đơn ghi không đầy đủ, rõ ràng nội dung vẫn còn cao…Sử dụng thuốc không hợp lý không chỉ ảnh hưởng tới công tác chăm sóc khám chữa bệnh

mà còn là nguyên nhân làm tăng chi phí đáng kể cho người bệnh, tạo ra gánh nặng cho nền kinh tế xã hội Một trong các yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng khám và điều trị cho người bệnh là việc sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả Do đó phân tích thực trạng sử dụng thuốc trong các bệnh viện là việc hết sức cần thiết để phản ánh thực trạng và góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh nói chung và nâng cao công tác

sử dụng thuốc nói riêng tại bệnh viện, đồng thời góp phần nâng cao lòng tin của nhân dân đối với hệ thống y tế

Bệnh viện Mắt Thanh Hóa là bệnh viện chuyên khoa của tỉnh, với chức năng khám và chữa bệnh liên quan đến mắt cho nhân dân trong toàn tỉnh, Bệnh viện gồm có 16 khoa phòng, giường kế hoạch giao là 150 và lượng bệnh nhân đến khám và điều trị ngày càng cao nhưng tại Bệnh viện này chưa có đề tài nào nghiên cứu đánh giá về công tác sử dụng thuốc Vì

vậy, chúng tôi thực hiện đề tài: “Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại

Bệnh viện Mắt Thanh Hóa năm 2014” với mục tiêu:

Trang 6

1 Phân tích cơ cấu về số lượng và giá trị của thuốc sử dụng tại

Bệnh viện Mắt Thanh Hóa năm 2014

2 Phân tích hoạt động kê thuốc điều trị ngoại trú được bảo hiểm y

tế chi trả tại Bệnh viện Mắt Thanh Hóa năm 2014

Trang 7

Chương I TỔNG QUAN

1.1.Thực trạng sử dụng thuốc tại các bệnh viện ở Việt Nam

1.1.1 Cơ cấu giá trị tiền thuốc

Theo các nghiên cứu trong những năm gần đây, giá trị tiền thuốc sử dụng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kinh phí bệnh viện

Kết quả khảo sát tại bệnh viện E năm 2009 cho thấy, kinh phí mua thuốc chiếm gần 50% tổng chi tiêu thường xuyên của bệnh viện [38] Tại bệnh viện Hữu Nghị từ năm 2004 đến 2010, tổng tiền thuốc sử dụng chiếm

tỷ lệ từ 29,4% (năm 2010) đến 41,2% (năm 2007) trong tổng kinh phí bệnh viện[20]

Các báo cáo của Bộ Y tế qua các năm cho thấy tiền mua thuốc của các bệnh viện tăng cả về số lượng và tỷ trọng so với tổng kinh phí các bệnh viện Theo báo cáo kết quả công tác khám chữa bệnh năm 2009-2010 của Cục quản lý khám chữa bệnh – Bộ Y tế, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong bệnh viện chiếm tỷ trọng 47.9% (Năm 2009) và 58,7% ( năm 2010) tổng giá trị tiền viện phí hàng năm trong bệnh viện[2],[16]

Sử dụng kháng sinh luôn là vấn đề được quan tâm trong sử dụng thuốc an toàn, hợp lý Theo kết quả nghiên cứu tại các bệnh viện, kinh phí mua thuốc kháng sinh luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng giá trị tiền thuốc sử dụng Kết quả khảo sát của Bộ Y tế tại một số bệnh viện cho thấy,

từ năm 2007 đến 2009, kinh phí mua thuốc kháng sinh chiến tỷ lệ không đổi, từ 32,3% đến 32,4% trong tổng giá trị tiền thuốc sử dụng[23]

Nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hương và cộng sự năm 2009 trên 38 bệnh viện đa khoa (7 bệnh viện đa khoa tuyến trung ương, 14 bệnh viện

Trang 8

tuyến tỉnh và 17 bệnh viện huyện/quận) đại diện cho 6 vùng trên cả nước cũng cho kết quả tương tự với tỷ lệ giá trị tiền thuốc kháng sinh ở 3 tuyến bệnh viện trung bình là 32,5%, trong đó cao nhất là ở các bệnh viện tuyến huyện(43,1%) và thấp nhất tại các bệnh viện tuyến trung ương(25,7%)[39]

Cũng trong năm 2009, theo một thống kê của Bộ Y tế từ các báo cáo

về tình hình sử dụng của một số bệnh viện, tỷ lệ giá trị tiền thuốc kháng sinh trung bình tại các bệnh viện chuyên khoa trung ương (21 bệnh viện) là 28%, tại các bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh (15 bệnh viện) là 34% và tại các bệnh viện đa khoa tuyến huyện (52 bệnh viện) là cao nhất (43%)[30]

Tại một số bệnh viện chuyên khoa tuyến trung ương có đến hơn 50% giá trị tiền thuốc sử dụng phân bố cho nhóm kháng sinh Tại Bệnh viện Da Liễu Trung Ương, nhóm kháng sinh chiến đến 52,2% tổng giá trị tiền thuốc

sử dụng năm 2009 và đặc biệt tỷ lệ này lên đến 70,3% tại Bệnh viện Phổi Trung Ương và 89% tại Bệnh viện Nhi thành phố Hồ Chí Minh[27],[30],[31]

Kết quả phân tích kinh phí sử dụng một số nhóm thuốc tại Bệnh viện

A tỉnh Thái Nguyên năm 2014 cho thấy, nhóm thuốc kháng sinh có kinh phí sử dụng lớn nhất trong các nhóm thuốc, chiếm tỷ lệ trung bình là 39,5% tổng giá trị tiền thuốc sử dụng[35], tương tự tại Bệnh viện Trung Ương Huế năm 2013, kinh phí sử dụng nhóm kháng sinh cũng chiếm tỷ lệ cao nhất 34,84% trong tổng giá trị tiền thuốc sử dụng[24]

Theo một nghiên cứu về thực trạng thanh toán thuốc BHYT trong cả nước năm 2010, trong số 30 hoạt chất có giá trị thanh toán nhiều nhất (chiếm 43,7% tiền thuốc BHYT), có đến 10 hoạt chất thuộc nhóm kháng sinh, chiếm tỷ lệ cao nhất (21,92% tiền thuốc BHYT)[33]

Trang 9

Thuốc kháng sinh chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tiền thuốc sử dụng tại bệnh viện, một phần cho thấy mô hình bệnh tật tại Việt Nam có tỷ

lệ các bệnh nhiễm khuẩn cao, mặt khác có thể đánh giá tình trạng lạm dụng kháng sinh vẫn còn phổ biến[36]

Vitamin là hoạt chất thường được sử dụng và có nguy cơ lạm dụng cao Kết quả phân tích tại 38 bệnh viện trong cả nước năm 2009 cho thấy vitamin là 1 trong 10 nhóm thuốc có giá trị sử dụng lớn nhất tại các tuyến bệnh viện[39] Bên cạnh đó, nhóm thuốc này cũng được sử dụng nhiều tại Bệnh viện A tỉnh Thái Nguyên năm 2013 và Bệnh viện Trung Ương Huế năm 2012[24],[35]

Bênh cạnh nhóm kháng sinh và vitamin, các thuốc có tác dụng hỗ trợ điều trị, hiệu quả chưa rõ ràng cũng đang được sử dụng phổ biến ở hầu hết

ở các bệnh viện trong cả nước

Kết quả khảo sát về thực trạng thanh toán thuốc bảo hiểm trong cả nước năm 2010 cho thấy, trong tống số 30 hoạt chất có giá trị thanh toán lớn nhất, có cả các thuốc bổ trợ là L-Ornithin L-Aspartat, Ginkgo Biloba và Arginin Trong đó, hoạt chất L-Ornithin L-aspartat nằm trong số 5 hoạt chất chiếm tỷ lệ lớn nhất về giá trị thanh toán[32] Đồng thời, hoạt chất này cũng là một trong những hoạt chất chiếm giá trị nhập khẩu lớn nhất thuộc nhóm tiêu hóa có xuất xứ từ Ấn Độ và Hàn Quốc năm 2008[17]

Một thực tế nữa cho thấy, hiện nay, các thuốc sản xuất trong nước vẫn chiếm tỷ lệ thấp trong danh mục thuốc và giá trị tiền thuốc sử dụng Các kết quả khảo sát tại một số bệnh viện đa khoa và chuyên khoa ở 3 tuyến bệnh viện đều cho thấy, Các thuốc sản xuất trong nước chỉ chiếm 25,5%-43,5% số khoản mục thuốc và 7%-57,1% tổng giá trị sử dụng, trong

đó thấp nhất là tại các bệnh viện tuyến Trung Ương.[26],[27],[28],[39]

Trang 10

Bên cạnh đó, trong các thuốc nhập khẩu, các bệnh viện ưu tiên sử dụng các thuốc nhập khẩu từ 2 quốc gia Ấn Độ, Hàn Quốc Năm 2008, thuốc thành phẩm nhập từ 2 quốc gia Ấn Độ và Hàn Quốc chiếm trên 1/5 tổng kim ngạch nhập khẩu thuốc thành phẩm vào thị trường Việt Nam, trong đó chủ yếu là các nhóm thuốc kháng khuẩn, chuyển hóa và tiêu hóa

mà nhiều doanh nghiệp trong nước đang tiến hành sản xuất[17]

1.1.2 Thực trạng kê đơn và thực hiện quy chế kê đơn ngoại trú

Năm 2005, Bộ Y tế tổ chức hội nghị đánh giá thực hiện chỉ thị 05/2004/CT-BYT về việc chấn chỉnh công tác cung ứng, sử dụng thuốc trong bệnh viện đã cho thấy việc kê quá nhiều thuốc cho người bệnh, dẫn đến tương tác thuốc khi điều trị Bệnh viện Thống nhất có nhiều đơn kê 14 đến 16 thuốc trong một ngày cho một người bệnh, thậm chí có đơn kê đến

20 loại thuốc cho một ngày cho một bệnh nhân[3]

Bên cạnh đó, kết quả khảo sát của Cục Quản lý khám chữa bệnh- Bộ

Y tế tại một số bệnh viện năm 2009 cho thấy: Mỗi bệnh nhân trong một đợt điều trị đã được sử dụng từ 0-10 thuốc, trung bình là 3,63±11,45 thuốc Nhóm bệnh nhân không có bảo hiểm y tế có số lượng thuốc trung bình trong một đợt điều trị là 4,00±2,00 thuốc/đợt tăng hơn so với nhóm bệnh nhân có BHYT 3.63±2,10 thuốc/đợt[5]

Theo nghiên cứu tại Bệnh viện Nhân Dân 115 năm 2009, số thuốc trung bình cho đơn ngoại trú là 3,62, trong đó số thuốc không thiết yếu là 1,5 thuốc/1 đơn thuốc chiếm 41,46% tổng số thuốc trung bình trong 1 đơn[21]

Theo các nghiên cứu tại Bệnh viện Tim Hà Nội Năm 2010, Bệnh viện Trung Ương Huế năm 2012 và Bệnh viện đa khoa Vĩnh Phúc năm

2011 số thuốc trung bình trong 1 đơn thuốc từ 2,88 đến 4,4[24],[26],[37]

Trang 11

Vitamin cũng là hoạt chất thường được các bác sĩ kê đơn Theo một khảo sát tại Bệnh viện Tim Hà Nội Năm 2010, có 35% đơn thuốc có kê vitamin, chủ yếu là vitamin nhóm B phối với các khoáng chất như Mg, Fe… và hầu như không có tình trạng bác sĩ kê nhiều loại vitamin cùng một đơn[26] Một khảo sát tại Bệnh viện Nhân Dân 115 cũng cho tỷ lệ tương tự

là 38%[21] Trong khi đó tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2011

có đến 46,3% đơn thuốc ngoại trú và 43,5% hồ sơ bệnh án có kê vitamin[37]

Về việc thực hiện quy chế kê đơn trong điều trị ngoại trú , theo kết quả khảo sát tại Bệnh viện Phổi Trung Ương năm 2009, do chưa ứng dụng phần mềm trong kê đơn trên máy tính nên tỷ lệ thực hiện theo quy chế về ghi các thông tin bệnh nhân và thông tin về thuốc là chưa cao Có 35% đơn khảo sát ghi rõ ràng, đầy đủ địa chỉ bệnh nhân chính xác đến số nhà, đường phố hoặc thôn xã; 100% ghi đầy đủ họ tên bệnh nhân; chẩn đoán bệnh có ghi nhưng còn viết tắt nhiều, 62% số đơn ghi tên thuốc theo hoạt chất, 83%

số đơn ghi đầy đủ hàm lượng, nồng độ, số lượng thuốc; 99% số đơn ghi đầy đủ hướng dẫn sử dụng trong đơn, 100% số đơn ghi đầy đủ liều dùng; 95% số đơn có ghi thời điểm dùng[27]

Hiện nay, nhiều bệnh viện đã ứng dụng phần mềm trong kê đơn nên

đã thực hiện tốt hơn quy chế kê đơn ngoại trú Một số nghiên cứu can thiệp tại Bệnh viện Nhân Dân 115 cho thấy việc áp dụng kê đơn điện tử đã cải thiện rõ rệt chất lượng kê đơn thuốc tại khoa khám bệnh Số đơn ghi thiếu thông tin về bệnh nhân đã giảm từ 98% xuống còn 33,6%, trong đó số đơn ghi thiếu địa chỉ bệnh nhân giảm từ 97,8% xuống còn 33,6%, các thông tin

về họ tên, tuổi giới giảm từ 92.6% đến không còn(0%) Các sai sót về ghi chỉ định, tên hoạt chất đã được hạn chế tối đa khi áp dụng kê đơn điện tử

Trang 12

Tỉ lệ đơn ghi thiếu thông tin về thời điểm dùng thuốc giảm từ 54% xuống còn 33,5%[22]

1.2 Một số văn bản pháp quy quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện

Với mục tiêu đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, Tổ chức Y tế thế giới đã khuyến cáo các nước đang phát triển cần có chính sách quốc gia

về thuốc Trên cơ sở đó, ngày 20/6/1996, Chính phủ Việt Nam đã ban hành chính sách quốc gia về thuốc nhằm hai mục tiêu cơ bản: (1) bảo đảm cung ứng thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng đến người dân; (2) bảo đảm

sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và có hiệu quả Hai mục tiêu này đã được cụ thể hoá thành 9 mục tiêu và 8 nhóm chính sách, về cơ bản phù hợp với hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới [18]

Chính sách thuốc thiết yếu, sử dụng thuốc hợp lý, an toàn là một trong những nội dung cơ bản của chính sách quốc gia về thuốc của Việt Nam Trong đó chỉ rõ sự cần thiết phải có chính sách về thuốc thiết yếu và ngành

Y tế có trách nhiệm xây dựng và ban hành danh mục thuốc thiết yếu, định

kỳ (3 đến 5 năm) xem xét, bổ sung cho phù hợp với mô hình bệnh tật, điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam, với tiến độ về khoa học và kỹ thuật trong điều trị Bên cạnh đó, cần ban hành danh mục thuốc quốc gia, dựa trên các tiêu chí phù hợp với mô hình bệnh tật và phương pháp điều trị trong nước, có hiệu quả cao, đảm bảo an toàn, dễ sử dụng, phù hợp với yêu cầu điều trị ở mỗi tuyến Đồng thời, cần thành lập Hội đồng thuốc và điều trị, cùng với việc ban hành các phác đồ điều trị khung, ban hành Dược thư quốc gia làm tài liệu pháp lí trong việc dùng thuốc, thực hiện quy chế kê đơn thuốc và bán thuốc theo đơn, tên thuốc ghi trong đơn, in trên nhãn thuốc [4]

Trang 13

Chính sách quốc gia về thuốc kháng sinh cũng đã nhấn mạnh: thuốc kháng sinh có vai trò rất quan trọng trong điều trị, đặc biệt đối với tình hình bệnh tật của một nước khí hậu nhiệt đới như Việt Nam, do đó, cần chấn chỉnh việc kê đơn và sử dụng kháng sinh, xác định tính kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh, tạo điều kiện để các cơ sở điều trị có khả năng làm kháng sinh đồ [18]

Thực hiện theo Chính sách quốc gia về thuốc, trên cơ sở danh mục thuốc thiết yếu của Thế giới, Bộ Y tế đã ban hành Danh mục thuốc thiết yếu Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1987 Cho đến nay, danh mục này đã qua 4 lần được sửa đổi, bổ sung và cập nhật vào các năm 1992, 1995, 1999

và 2005 Danh mục TTY Việt Nam lần thứ V ban hành kèm theo quyết định số 17/2005/QĐ-BYT ngày 01/07/2005 của Bộ Y tế bao gồm 355 thuốc của 314 hoạt chất tân dược; danh mục thuốc chế phẩm y học cổ truyền; danh mục cây thuốc nam và danh mục vị thuốc [6]

Bệnh viện là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ toàn diện cho nhân dân Để thực hiện mục tiêu của chính sách thuốc quốc gia về

sử dụng thuốc hợp lý, an toàn công tác sử dụng thuốc tại bệnh viện đóng vai trò rất quan trọng Trong nhiều năm qua, Bộ Y tế rất quan tâm đến công tác này và đã, đang có nhiều giải pháp, chính sách chỉ đạo các đơn vị thực hiện

Căn cứ theo DMTTY, Bộ Y tế ban hành DMTCY để các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh lựa chọn thuốc sử dụng phù hợp với mô hình bệnh tật, khả năng chuyên môn của đơn vị, làm cơ sở cho BHYT thanh toán chi phí điều trị cho bệnh nhân Từ DMTCY ban hành theo quyết định 03/2005/QĐ-BYT, được bổ sung, sửa đổi theo quyết định 05/2008/QĐ-BYT, cho đến nay, danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu đang được áp dụng là DMTCY sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được quỹ BHYT thanh toán (ban

Trang 14

hành theo thông tư 40/2014/TT-BYT ngày 17/11/2014 của Bộ Y tế), bao gồm 845 thuốc (hay hoạt chất) tân dược, và 57 danh mục thuốc phóng xạ

và hợp chất đánh dấu[10] Đây là cơ sở quan trọng để các bệnh viện xây dựng danh mục thuốc sử dụng phù hợp với mô hình bệnh tật bệnh viện, trình độ kỹ thuật cũng như khả năng tài chính của bệnh viện

Ngày 4/7/1997, Bộ Y tế đã ban hành thông tư số 08/BYT-TT hướng dẫn về việc tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của Hội đồng thuốc và điều trị ở bệnh viện Trong đó, chỉ rõ: HĐT&ĐT của bệnh viện có chức năng tư vấn cho giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện, thực hiện tốt Chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện [9]

Để chấn chỉnh việc cung ứng thuốc nhằm đảm bảo chất lượng khám chữa bệnh và sử dụng thuốc an toàn hợp lý, ngày 16/4/2004, Bộ Y tế đã đưa ra chỉ thị số 05/2004/CT-BYT về việc chấn chỉnh công tác cung ứng,

sử dụng thuốc trong bệnh viện Trong đó, chỉ thị yêu cầu ban giám đốc bệnh viện chỉ đạo hoạt động của hội đồng thuốc trong việc lựa chọn và sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, tăng cường kiểm tra việc thực hiện quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn trong bệnh viện

Để thực hiện chỉ thị số 05, ngày 16/4/2004, vụ điều trị (nay là Cục Quản Lý khám chữa bệnh) đã ra công Văn số 3483/YT – ĐTr hướng dẫn các bệnh viện tổ chức kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện các quy định sử dụng thuốc trong bệnh viện về việc thực hiện quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn, kiểm tra các chỉ số về kê đơn ngoại trú và phân tích sử dụng thuốc trong các ca lâm sàng Cụ thể như sau:

* Về thực hiện quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn:

Trang 15

+ Bệnh viện cần có danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện (tên gốc, tên biệt dược) cho bác sĩ kê đơn dễ tra cứu

+ Tiêu chuẩn của một đơn thuốc hợp lý bao gồm: đúng mẫu đơn quy định, thuốc ghi theo tên gốc với thuốc đơn chất, ghi chính xác liều dùng mỗi lần, số lần dùng thuốc và thời gian dùng thuốc trong ngày, thời gian cho cả đợt điều trị

+ Thực hiện kê đơn thuốc trên nguyên tắc sau:

 Khi thật cần thiết phải dùng đến thuốc, kê những thuốc tối thiểu cần thiết và phải có đủ thông tin về thuốc đó

 Chọn thuốc hợp lý cho người bệnh cụ thể, hợp lý về giá và hiệu quả, chú ý thận trọng với từng cơ địa, trạng thái bệnh lý của người bệnh

 Liều hợp lý, chỉ định dùng thuốc đúng: thời gian, khoảng cách giữa các lần dùng thuốc

 Hạn chế, thận trọng trong các phối hợp nhiều thuốc hoặc dùng thuốc hỗn hợp nhiều thành phần, thận trọng với các phản ứng phụ, phản ứng có hại của thuốc

 Kiểm tra các chỉ số về kê đơn ngoại trú:

+ Mỗi chuyên khoa kiểm tra ít nhất 30 đơn thuốc về các chỉ số sau:

 Số thuốc trung bình cho 01 đơn thuốc

 Tỉ lệ % thuốc kê tên gốc

 Tỉ lệ % đơn có kháng sinh

 Tỉ lệ % đơn có vitamin

 Tỉ lệ % đơn có thuốc tiêm

Trang 16

 Tỉ lệ % các thuốc có trong danh mục thuốc chủ yếu

Phân tích sử dụng thuốc trong các ca lâm sàng: Giám đốc BV giao cho HĐT&ĐT tổ chức phân tích sử dụng thuốc trong các ca lậm sàng (bình bệnh án) ít nhất mỗi tháng một lần: Bình bệnh án khách quan với mục tiêu tăng cường sử dụng thuốc hợp lý

Từ các chỉ số kê đơn ngoại trú và số liệu về thuốc trong các tóm tắt bệnh án, tính các tỉ lệ các chỉ số sử dụng thuốc cho mỗi khoa sau đó là cho

cả bệnh viện Lập danh mục 10 thuốc sử dụng nhiều nhất và 10 bệnh mắc cao nhất từ các tóm tắt bệnh án để phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại bệnh viện Xác định cụ thể những vấn đề sử dụng thuốc chưa hợp lý, chú ý kiểm tra những thuốc sử dụng nhiều, hay lạm dụng Sau đó, tổ chức thảo luận, phân tích tìm nguyên nhân của sử dụng thuốc chưa hợp lý, xây dựng

kế hoạch và biện pháp khắc phục những tồn tại [14]

Ngày 07/05/2010, Bộ Y tế ban hành Công văn số 2094/BYT - QLD của Bộ Y tế về việc tăng cường công tác quản lý hoạt động cung ứng thuốc

và giá thuốc trong các cơ sở khám chữa bệnh công lập, một lần nữa yêu cầu Giám đốc các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm chỉ đạo hoạt động của HĐT&ĐT trong việc lựa chọn thuốc, công tác bình bệnh án, tăng cường kiểm tra giám sát để đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả [12]

Bên cạnh đó, các nội dung về tiền thuốc ngoại nhập, tiền thuốc sản xuất trong nước, tiền thuốc kháng sinh, tiền thuốc vitamin, tiền dịch truyền, thuốc corticoid là các nội dung các BV cần phải báo cáo trong bảng kiểm tra BV hàng năm do Bộ Y tế ban hành [8]

Trang 17

Ngày 01/02/2008, Bộ Y tế đã ban hành Quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú kèm theo Quyết định số 04/2008/QĐ – BYT, quy định rõ

về trách nhiệm người kê đơn và cách ghi đơn thuốc như sau:

Người kê đơn phải chịu trách nhiệm về đơn thuốc do mình kê cho người bệnh và thực hiện các quy định sau:

+ Chỉ được kê thuốc điều trị các bệnh được phân công khám, chữa bệnh hoặc các bệnh trong phạm vi hành nghề ghi trong giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp

+ Chỉ được kê đơn thuốc sau khi trực tiếp khám bệnh

+ Không kê đơn thuốc các trường hợp sau:

+ Viết tên thuốc theo tên chung quốc tế (INN, generic name) hoặc nếu ghi tên biệt dược phải ghi tên chung quốc tế trong ngoặc đơn (trừ trường hợp thuốc có nhiều hoạt chất), đồng thời ghi đầy đủ tên thuốc, hàm lượng, số lượng, liều dùng, cách dùng của mỗi thuốc Nếu có sửa chữa đơn phải ký, ghi rõ họ tên, ngày bên cạnh Gạch chéo phần đơn còn giấy trắng

và phải ký, ghi (hoặc đóng dấu) họ tên người kê đơn [11]

Trang 18

Ngoài ra, cần tuân thủ những quy định về kê đơn thuốc điều trị bệnh mãn tính và kê đơn đối với những loại thuốc cần có sự kiểm soát đặc biệt như thuốc điều trị lao, thuốc hướng tâm thần và tiền chất dùng làm thuốc, thuốc gây nghiện và thuốc opioids giảm đau cho người bệnh ung thư và người bệnh AIDS [11]

Trong công văn số 2094/BYT – QLD ngày 07/05/2010 về việc tăng cường công tác quản lý hoạt động cung ứng thuốc và giá thuốc trong các cơ

sở khám chữa bệnh công lập, Bộ Y tế cũng đã yêu cầu Giám đốc BV chỉ đạo thực hiện nghiêm túc quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú ban hành theo Quyết định số 04/2008/QĐ – BYT ngày 01/02/2008 Cụ thể: triển khai quy định việc kê đơn thuốc theo tên generic (hoặc tên chung quốc tế), hạn chế tối đa các trường hợp kê đơn theo tên thương mại hoặc tên biệt dược Giám đốc BV chịu trách nhiệm chỉ đạo của HĐT&ĐT bệnh viện giám sát chặt chẽ việc kê đơn thuốc theo tên biệt dược, tên thương mại

và có biện pháp xử lý nghiêm các trường hợp kê đơn không hợp lý [12]

Ngày 10/06/2011, Bộ Y tế đã ban hành thông tư 23/2011/TT-BYT

về hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh Trong đó quy định rõ:

- Chỉ định dùng thuốc phải ghi đầy đủ, rõ ràng vào đơn thuốc, hồ sơ bệnh án, không viết tắt tên thuốc, không ghi kí hiệu Trường hợp sửa chữa bất kì nội dung nào phải kí xác nhận bên cạnh

- Nội dung chỉ định thuốc bao gồm: tên thuốc, nồng độ (hàm lượng), liều dùng 1 lần, số lần dùng thuốc trong 24h, khoảng cách giữa các lần dùng thuốc , thời điểm dùng thuốc, đường dùng thuốc và những chú ý đặt biệt khi dùng thuốc

Trang 19

- Ghi chỉ định thuốc theo trình tự : đường tiêm, uống, đặt, dùng ngoài và các đường dùng khác Một số nhóm thuốc cần thận trọng khi sử dụng dụng thì phải đánh số thứ tự ngày dùng thuốc, bao gồm: thuốc phóng xạ; thuốc gây nghiện; thuốc hướng tâm thần; thuốc kháng sinh; thuốc điều trị lao và thuốc corticoid

Thầy thuốc cần căn cứ vào tình trạng người bệnh, mức độ bệnh lí, đường dùng của thuốc để ra y lệnh đường dùng thuốc thích hợp, chỉ dùng đường tiêm khi người bệnh không uống được thuốc hoặc khi sử dụng thuốc theo đường uống không đáp ứng được yêu cầu điều trị hoặc với thuốc chỉ dùng đường tiêm

Thầy thuốc phải thông báo tác dụng không mong muốn của thuốc cho điều dưỡng chăm sóc theo dõi và người bệnh (hoặc cho gia đình người bệnh) đồng thời theo dõi đáp ứng của người bệnh khi dùng thuốc, xử lý kịp thời các tai biến do dùng thuốc và báo cáo phản ứng có hại của thuốc cho khoa dược ngay khi xảy ra [15]

Để khắc phục tình trạng chỉ định rộng rãi 5 loại thuốc: glutathione, tiêm, ginkgo biloba uống; glucosamine uống; arginin uống và L-Ornithin –L- Aspatat tiêm, uống với tỷ lệ chi phí lớn tại nhiều cơ sở khám chữa bệnh trong thanh toán BHYT, ngày 27/2/2012 BHXH Việt Nam đã có công văn

số 2503/BHXH-DVT yêu cầu không thanh toán theo chế độ BHYT khi sử dụng các thuốc nêu trên như thuốc bổ thông thường, chỉ thanh toán khi thuốc được sử dụng phù hợp với công văn hướng dẫn có liên quan của cục Quản lý Dược các chỉ định của thuốc đã dược phê duyệt và tình trạng bệnh nhân Đối với các trường hợp bệnh có nhiều lựa chọn thuốc, cơ sở khám chữa bệnh chọn thuốc hợp lý, tránh sử dụng các thuốc có giá thành cao, chi phí điều trị lớn không cần thiết để đảm bảo hiệu quả sử dụng thuốc, phù hợp với khả năng chi trả của quỹ BHYT[1]

Trang 20

Gần đây nhất, ngày 08/08/2013, Bộ Y tế đã ban hành công tư 21/2013/TT/BYT quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện (thay thế cho công tư 08 cũ kể từ ngày 22/09/2013) Thông tư đã quy định rõ một trong các nhiệm vụ của HĐT&ĐT là xác định và phân tích các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc Trong đó, cần xác định các vấn đề liên quan đến thuốc trong suốt quá trình

từ khi tồn kho, bảo quản đến kê đơn, cấp phát và sử dụng Đồng thời, cần

áo dụng một trong các phương pháp phân tích ABC, phân tích nhóm điều trị, phân tích VEN, phân tích theo liều xác định trong ngày-DDD, giám sát các chỉ số sử dụng thuốc theo hướng dẫn của Bộ Y tế để phân tích việc sử dụng thuốc tại đơn vị Từ đó, HĐT&ĐT cần xác định vấn đề, nguyên nhân liên quan đến sử dụng thuốc và lựa chọn các giải pháp can thiệp phù hợp[13]

1.3 Một số phương pháp phân tích dữ liệu về sử dụng thuốc

1.3.1 Phương pháp phân tích ABC

Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách Phân tích ABC có thể:

- Cho thấy những thuốc được sử dụng thay thế với lượng lớn mà có chi phí thấp trong danh mục hoặc có sẵn trên thị trường để nhằm: lựa chọn những thuốc có chi phí thấp hơn, tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế, thương lượng với nhà cung cấp để mua được những thuốc với giá thấp hơn

- Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng và từ đó phát hiện ra những bất hợp lý trong sử dụng thuốc, bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật

Trang 21

- Xác định phương thức mua các thuốc không có danh mục thuốc thiết yếu của bệnh viện

Phân tích ABC có thể ứng dụng các số liệu tiêu thụ thuốc cho chu kỳ trên 1 năm hoặc ngắn hơn Sau khi hoàn thành phân tích ABC, Các thuốc đặc biệt là trong nhóm A cần phải được đánh giá lại và xem xét việc sử dụng những thuốc không có trong danh mục và thuốc đắt tiền, trên cơ sở đó lựa chọn những phác đồ điều trị có hiệu lực tương đương nhưng có giá thành rẻ hơn Như vậy ưu điểm chính của phân trích ABC giúp xác định xem phần lớn ngân sách được chi trả cho những nhóm thuốc nào[34]

1.3.2 Phương pháp phân tích nhóm điều trị

Dựa trên phân tích ABC, phân tích nhóm điều trị giúp:

- Xác định những nhóm điều trị có mức tiêu thụ cao nhất và chi phí nhiều nhất

- Trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý

- Xác định những thuốc đã bị lạm dụng hoặc những thuốc mà mức tiêu thụ không mang tính đại diện cho những ca bệnh cụ thể

- Hội đồng thuốc lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và lựa chọn trong liệu pháp điều trị thay thế

Từ đó tiến hành phân tích cụ thể hơn cho mỗi nhóm điều trị chi phí cao để xác định những thuốc đắt tiền và liệu pháp điều trị thay thế có chi phí hiệu quả cao[34]

Trang 22

1.3.3 Phương pháp phân tích VEN

Phân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn, Trong phân tích VEN, các thuốc được chia thành 3 hạng mục cụ thể sau:

- Thuốc V (Vital drugs) – là thuốc dùng trong các trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám chữa bệnh của bệnh viện

- Thuốc E (Essential drugs) – là thuốc dùng trong các trường hợp ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện

- Thuốc N (Non - Essential drugs) – là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể tự khỏi, có thể bao gồm các thuốc mà hiệu quả điều trị còn chưa được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành cao không tương xứng với lợi ích lâm sàng của thuốc[13]

Phân tích VEN cho phép so sánh những thuốc có hiệu lực điều trị và khả năng sử dụng khác nhau[34]

1.3.4 Một số chỉ số sử dụng thuốc WHO/INRUD cho các cơ sở khám chữa bệnh

Các chỉ số sử dụng thuốc của WHO/INRUD được dùng để đánh giá khuynh hướng hành vi của các nhà cung cấp dịch vụ y tế tại cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu một cách đáng tin cậy Các chỉ số này cung cấp cho các nhà quản lý y tế thông tin về sử dụng thuốc, thói quen kê đơn và các khía cạnh quan trọng khác của việc chăm sóc người bệnh[34]

Trang 23

* Các chỉ số kê đơn

- Số thuốc kê trung bình trong một đơn;

- Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê tên generic hoặc tên chung quốc tế (INN);

- Tỷ lệ phần trăm đơn kê có thuốc tiêm;

- Tỷ lệ phần trăm đơn kê vitamin…[13],[34]

* Các chỉ số chăm sóc người bệnh

- Thời gian phát thuốc trung bình;

- Tỷ lệ phần trăm thuốc được cấp phát trên thực tế;

- Hiểu biết của người bệnh về liều lượng…[13],[34]

* Các chỉ số sử dụng thuốc toàn diện

- Chi phí thuốc trung bình của mỗi đơn;

- Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc dành cho vitamin;

- Tỷ lệ người bệnh hài lòng với dịch vụ chăm sóc sức khỏe…[13],[34]

1.4 Vài nét về bệnh viện Mắt Thanh Hóa

1.4.1 Chức năng , nhiệm vụ của bệnh viện

Năm 2005 Viện Mắt được thành lập với qui mô 70 giường bệnh, chỉ

có vài bác sỹ, được trang bị thô sơ, khám và điều trị các bệnh mắt thông thường Mặc dù cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc men, vật tư thiếu thốn, cán bộ nhãn khoa còn nghèo nàn, Bệnh viện Mắt Thanh Hoá đã cùng với toàn ngành Mắt tiếp tục củng cố và xây dựng hệ thống phòng chống mù loà trên toàn tỉnh, xây dựng mạng lưới chuyên khoa mắt, đào tạo cán bộ, điều tra nghiên cứu tình hình các bệnh về mắt, phòng chống dịch bệnh, thực hiện các phong trào vệ sinh phòng bệnh Tập trung vào giải quyết các vấn

Trang 24

đề bức xúc trong lĩnh vực bệnh mắt, khám chữa bệnh mắt cho nhân dân, tập trung nghiên cứu khoa học, tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế khắc phục những khó khăn

Dưới sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ Y tế, Bệnh viện Mắt TW, Sở Y tế Thanh Hoá, Bệnh viện Mắt Thanh Hoá đã không ngừng lớn mạnh, hiện nay, Bệnh viện Mắt Thanh hóa là bệnh viện hạng II trực thuộc Sở Y tế Thanh Hóa

Với vị trí là một đơn vị đầu ngành Nhãn khoa của tỉnh, Bệnh viện Mắt Thanh Hóa đảm nhiệm 7 chức năng, nhiệm vụ gồm:

- Điều trị các bệnh về mắt,

- Đào tạo cán bộ cho tỉnh,

- Nghiên cứu khoa học,

- Chỉ đạo ngành mắt tỉnh,

- Hợp tác trong nước và Quốc Tế về lĩnh vực nhãn khoa,

- Thông tin tuyên truyền cho cán bộ và nhân dân,

- Làm công tác kinh tế trong y tế

Mô hình tổ chức bệnh viện:

Trang 25

Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức bệnh viện Mắt Thanh Hóa

1.4.2.Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của khoa Dược Bệnh viện Mắt Thanh Hóa

 Vị Trí

Khoa Dược bệnh viện là một khoa trực thuộc Ban Giám đốc bệnh viện

Khoa dược là tổ chức cao nhất đảm nhận mọi công tác về dược không chỉ

có tính chất thuần túy của một chuyên khoa mà còn thêm tính chất của một

bộ phận quản lý nhằm góp phần nâng cao hiệu quả và đảm bảo an toàn trong khám chữa bệnh, nhất là trong xây dựng danh mục thuốc và sử dụng thuốc

 Chức năng nhiệm vụ khoa dược Bệnh viện Mắt Thanh Hóa

Trang 26

Khoa dược có chức năng và nhiệm vụ sau:

- Lập kế hoạch, cung cấp, đảm bảo thuốc, hóa chất, vật tư y tế tiêu hao đầy

đủ, kịp thời dấp ứng nhu cầu điều trị hợp lý của bệnh viện

- Pha chế thuốc theo danh mục sử dụng của bệnh viện

- Duy trì các qui chế dược tại bệnh viện

- Kiểm tra theo dõi việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, tham gia thông tin,

tư vấn về thuốc, theo dõi phản ứng có hại của thuốc trong toàn bệnh viện

- Đảm bảo thuốc, hóa chất, vật tư tiêu hao… Dự trữ các cơ số thuốc đề

phòng thiên tai, thảm họa và chiến tranh

- Quản lí kinh phí sử dụng thuốc, hóa chất tại các khoa trong bệnh viện

- Tham gia công tác nghiên cứu khoa học là cơ sở thực hành của các trường

đại học y dược, các trường trung học y tế

- Huấn luyện và giúp đỡ các tuyến khi có nhu cầu

1.4.3 Tổ chức cơ cấu nhân lực tại khoa dược Bệnh viện Mắt Thanh Hóa

Hoạt động của khoa dược bệnh viện để đảm bảo cung cấp thuốc hợp

lý an toàn và hiệu quả Mô hình tổ chức của khoa Dược bệnh viện tổ theo

cấu trúc trực tuyến-chức năng như sau:

Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức khoa Dược - Bệnh Viện Mắt Thanh Hóa

Trang 27

Như vậy, khoa Dược Bệnh viện Mắt Thanh Hoá là đơn vị trực thuộc Ban Giám đốc và chia thành 4 tổ: Hành chính và thống kê, Cấp phát, Nghiệp vụ dược và Dược lâm sàng và tổ nhà thuốc Mỗi tổ đảm nhận các phần việc của khoa Để thực hiện chức năng của mình, Khoa Dược Bệnh viện Mắt Thanh Hoá năm 2014 có 11 cán bộ trong đó cán bộ nhân viên có trình độ trung học đông nhất 9/11 chiếm 81,8% Cán bộ có trình độ đại học 2/12 chiếm 19,2% Với số lượng là 150 giường bệnh thì cán bộ khoa dược

đã đủ với biên chế và đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn về dược cho toàn bệnh viện

1.4.4 Cơ cấu bệnh tật của bệnh viện

Về cơ cấu bệnh của bệnh viện chủ yếu thuộc nhóm bệnh ở bán phần trước Nhóm bệnh thủy tinh thể chiếm tỉ lệ cao nhất 36,2%, tiếp theo là nhóm bệnh thuộc giác củng mạc, bệnh về bán phần sau còn hạn chế do bệnh viện chưa triển khai được các kỹ thuật để xử lý những bệnh thuộc bán phần sau, nên bệnh nhân phải chuyển lên tuyến trên; hoặc bệnh võng mạc đái tháo đường, bệnh võng mạc cao huyết áp phải chuyển chuyên khoa điều trị

Với đặc thù cơ cấu bệnh tật, bệnh nhân điều trị dài ngày và chủ yếu điều trị bằng ngoại khoa, sử dụng nhiều thuốc trên cùng bệnh nhân do phải dùng cả thuốc tại chỗ và thuốc toàn thân, chính vì vậy việc sử dụng thuốc trong bệnh viện và việc kê đơn điều trị ngoại trú là việc rất quan trọng trong hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện, nghiên cứu về vấn đề này giúp quản lý sử dụng tốt thuốc chữa bệnh và đảm bảo an toàn cho người bệnh đồng thời nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho những năm sau

Trang 28

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các đối tượng liên quan đến sử dụng thuốc tại Bệnh viện Mắt Thanh Hóa bao gồm:

+ Bác sĩ điều trị tham gia kê đơn điều trị ngoại trú tại bệnh viện + Danh mục thuốc bệnh viện

+ Dược sỹ khoa dược bệnh viện

+ Hội đồng thuốc và điều trị

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 12 năm 2014

- Địa điểm: Bệnh viện Mắt Thanh Hóa

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu được tiến hành theo các phương pháp mô tả hồi cứu với các nội dung được trình bày trong hình 2.1

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

- Đối với đơn thuốc ngoại trú

+ Sử dụng công thức tính cỡ mẫu: tính số đơn thuốc cần có, áp dụng công thức tính cỡ mẫu xác định tỷ lệ trung bình trong quần thể lớn

)1(

d

P

P 

(2.1)

Trang 29

N: Cỡ mẫu nghiên cứu (Số đơn thuốc cần có để khảo sát)

Z: Độ sai lệch của hệ số giới hạn tin cậy

α: Mức độ tin cậy

d: Độ sai lệch giữa tham số mẫu và tham số quần thể

P: Tỷ lệ nghiên cứu ước tính đơn thuốc kê

Chọn P=0,5 để lấy cỡ mẫu lớn nhất, chọn α = 0,05; tra bảng với 1-α=0,95 ta có Z(1-α/2)=1,96 Chọn d=0,05 Áp dụng công thức (2.1) chúng tôi thu được kết quả N=400

Chúng tôi tiến hành lấy 400 đơn thuốc bảo hiểm y tế Gọi tổng số đơn bảo hiểm y tế ngoại trú năm 2014 là N, K là kkoảng cách thứ tự các mẫu và K= N/400 Chọn ngẫu nhiên một số thứ tự từ 1 đến 20, mẫu đầu tiên là đơn có thứ tự đó tính từ đơn được đánh số đầu tiên trong năm 2014 Các mẫu tiếp theo là đơn có số thứ tự bằng số trước cộng K, cứ lấy tiếp như vậy đến đủ 400 đơn

Theo số liệu lưu lại tại phần mềm kê đơn thuốc bảo hiểm y tế, tổng

số đơn bảo hiểm y tế ngoại trú năm 2014 là 11.524 đơn Từ đó, tính được K=11524/400=29 Chọn ngẫu nhiên đơn thuốc đầu tiên là số 6, và đơn thuốc thứ hai có số 35 Chọn các đơn tiếp có số thứ tự bằng số thứ tự của đơn trước cộng với 29 cho tới khi đủ 400 thì dừng lại

Trang 30

Hình 2.1 Sơ đồ thiết kế nghiên cứu

Phân tích hoạt động sử dụng thuốc tại Bệnh viện Mắt Thanh Hóa năm 2014

Phân tích cơ cấu về SL và GT

của thuốc sử dụng tại Bệnh

viện Mắt Thanh Hóa năm

Phân tích hoạt động kê đơn điều trị ngoại trú được BHYT chi trả tại Bệnh viện Mắt

Phương pháp phân tích ABC

ABC/VEN N

Thực hiện quy chế

kê đơn ngoại trú

Một số chỉ số

kê đơn

Trang 31

2.3.3 Các chỉ số nghiên cứu

Các chỉ số nghiên cứu: được thể hiện qua các bảng 2.1 đến bảng 2.5

Bảng 2.1 Nhóm chỉ số phân tích cơ cấu thuốc sử dụng

Nội

Nguồn thu thập

Báo cáo tài chính của bệnh viện năm

2014

Tỷ lệ % SL và GTSD thuốc theo nhóm điều trị

(SL và GTSD thuốc của từng nhóm điều trị/

tổng số lượng và giá trị

sử dụng)*100%

Báo cáo xuất nhập tồn thuốc

2014, danh mục thuốc bệnh viện

Tỷ lệ % SL và GTSD thuốc theo nguồn gốc,

xuất xứ

(SL và GTSD thuốc trong nước, thuốc nhập khẩu/ tổng số lượng và giá trị sử dụng)*100%

Trang 32

Bảng 2.2 Nhóm chỉ số phân tích ABC, VEN Nội

Nguồn thu thập

(SL và GTSD thuốc nhóm A/tổng SL và GT sử dụng)*100%

Danh mục thuốc bệnh viện và Báo cáo xuất nhập tồn thuốc năm

2014

Tỷ lệ % SL và GTSD thuốc nhóm B

(SL và GTSD thuốc nhóm B/Tổng SL và GT sử dụng)*100%

Tỷ lệ % SL và GTSD thuốc nhóm C

(SL và GTSD thuốc nhóm C/

tổng SL và GT sử dụng)*100%

(SL và GTSD thuốc nhóm V / tổng SL và GT sử dụng)*100%

Tỷ lệ % SL và GTSD thuốc nhóm E

(SL và GTSD thuốc nhóm E/

tổng SL và GT sử dụng)*100%

Tỷ lệ % SL và GTSD thuốc nhóm N

(SL và GTSD thuốc nhóm N / tổng SL và GT sử dụng)*100%

Trang 33

Bảng 2.3 Nhóm chỉ số phân tích ma trân ABC/VEN

Nội

Nguồn thu thập

Danh mục thuốc bệnh viện và báo cáo xuất nhập tồn thuốc năm

2014

Tỷ lệ % theo SL và

GTSD thuốc nhóm AE

(SL và GTSD thuốc nhóm AE / tổng SL và GT sử dụng)*100%

Tỷ lệ % theo SL và

GTSD thuốc nhóm BE

(SL và GTSD thuốc nhóm BE / tổng SL và GT sử dụng)*100%

Tỷ lệ % theo SL và

GTSD thuốc nhóm BN

(SL và GTSD thuốc nhóm BN / tổng SL và GT sử dụng)*100%

Trang 34

Bảng 2.4 Nhóm chỉ số phân tích thực hiện quy chế kê đơn ngoại trú

Nội

Nguồn thu thập

Trang 35

Bảng 2.5 Nhóm chỉ số phân tích các chỉ số dùng thuốc

Nguồn thu thập

Đơn thuốc BHYT ngoại trú năm

2014

Đơn có kê

kháng sinh

Tỷ lệ % đơn có kê kháng sinh

Tống số đơn có kê kháng sinh/400)*100%

Đơn có kê

thuốc tiêm

Tỷ lệ % số đơn có kê thuốc tiêm

(Tống số đơn có kê thuốc tiêm/400)*100%

Tiền thuốc

trung bình

Tiền thuốc trung bình

2.3.4 Phương pháp thu thập, phân tích và xử lý số liệu

2.3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

* Cơ cấu sử dụng thuốc tại bệnh viện Mắt Thanh Hóa

- Hồi cứu các tài liệu, sổ sách liên quan đến toàn bộ thuốc tân dược được sử

dụng tại bệnh viện Mắt Thanh Hóa năm 2014 bao gồm:

+ Báo cáo xuất nhập tồn thuốc năm 2014

+ Danh mục thuốc bệnh viện

Trang 36

+ Báo cáo tài chính của bệnh viện

- Các thông tin về thuốc cần thu thập bao gồm: Tên thuốc, nồng độ, hàm lượng, nguồn gốc, số lượng, đơn giá, thành tiền…

*Thực trạng kê đơn điều trị ngoại trú được bảo hiểm y tế chi trả tại bệnh viện Mắt Thanh Hóa năm 2014

- Thu thập số liệu từ đơn thuốc bảo hiểm y tế ngoại trú năm 2014 theo

phiếu thu thập số liệu (Theo mẫu ở phụ lục)

- Các thông tin cần thu thập đối với mỗi đơn thuốc bao gồm: Tất cả các cần chỉ số nghiên cứu như phần các chỉ số nghiên cứu

2.3.4.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

* Phương pháp phân tích ABC

Các bước tiến hành:

+ Bước 1: Liệt kê sản phẩm

+ Bước 2: Điền thông tin cho mỗi sản phẩm gồm: đơn giá và số lượng sản phẩm

+ Bước 3: Tính giá trị thành tiền cho mỗi sản phẩm bằng cách nhân đơn giá với số lượng sản phẩm Tổng số tiền sẽ bằng tổng của lượng tiền cho mỗi sản phẩm

+ Bước 4: Tính giá trị phần trăm của mỗi sản phẩm bằng cách lấy số tiền của mỗi sản phẩm chia cho tổng số tiền

+ Bước 5: Sắp xếp lại các sản phẩm theo thứ tự phần trăm giá trị giảm dần+ +Bước 6: Tính giá trị phần trăm tích lũy của tổng giá trị cho mỗi sản phẩm, bắt đầu với sản phẩm số 1, sau đó cộng với sản phẩm tiếp theo trong danh sách

Trang 37

+ Bước 7: Phân hạng sản phẩm như sau:

 Hạng A: Gồm những sản phẩm chiếm 75-80% tổng giá tiền

 Hạng B: Gồm những sản phẩm chiếm 15-20% tổng giá tiền

 Hạng C: Gồm những sản phẩm chiếm 5-10% tổng giá tiền

* Phương pháp phân tích VEN

Các bước phân tích VEN

+ Phân nhóm các thuốc V-E-N dựa vào danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện theo phân loại VEN:

 Thuốc V – là thuốc dùng trong các trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trong, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám chữa bệnh của bệnh viện

 Thuốc E – là thuốc dùng trong các trường hợp ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện

 Thuốc N – là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể

tự khỏi

Dựa theo cách phân loại VEN trên HĐT & ĐT của bệnh viện họp đưa cho tất cả thành viên danh mục thuốc để phân loại theo ý kiến riêng sau đó tập hợp lại và hội đồng quyết định thuốc nào thuộc nhóm V, thuốc nào E và thuốc nào thuộc nhóm N

+ Tính tổng số và tỷ lệ phần trăm số lượng thuốc và giá trị sử dụng của các thuốc V-E-N

+ Kết hợp phân tích VEN và nhóm điều trị

* Phân tích ma trân ABC/VEN

Kết hợp chéo phân tích ABC và phân tích VEN

Trang 38

+ Xếp các thuốc V-E-N trong nhóm A thu được các nhóm nhỏ AV, AE,

AN Sau đó tính tổng số và tỷ lệ phần trăm số lượng thuốc, số đơn vị tiêu thụ và giá trị sử dụng thuốc trong mỗi nhóm nhỏ

+ Làm tương tự với nhóm B và C thu được ma trận ABC/VEN

Được thể hiện qua bảng 2.6 sau:

+ Kết hợp phân tích nhóm AV, AE, AN và nhóm điều trị

* Phương pháp phân nhóm điều trị

+ Sắp xếp lại danh mục thuốc theo nhóm điều trị và tổng hợp giá trị phần trăm của mỗi thuốc cho mỗi nhóm điều trị để xác định nhóm điều trị nào chiếm chi phí lớn nhất

* Phương pháp tỷ trọng: Tính tỷ lệ phần trăm các giá trị trên tổng số

* Xử lý số liệu:

Trang 39

- Số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel, toàn bộ những dữ

liệu được tổng hợp trên bảng tính Excel

- Phần đơn thuốc được tổng hợp vào phiếu thu thập số liệu, tổng hợp trên bảng tính Excel

2.3.5 Phương pháp trình bày số liệu

Số liệu được trình bày bằng phần mềm Microsoft Excel và Microsoft Word dưới dạng: Lập bảng, biểu đồ, Sơ đồ

Trang 40

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Phân tích cơ cấu về SL và GT tiền thuốc sử dụng tại Bệnh viện

Mắt Thanh Hóa năm 2014

3.1.1.Giá trị tiền thuốc sử dụng

Bảng 3.1 Giá trị tiền thuốc sử dụng tại Bệnh viện Mắt Thanh Hóa năm 2014

Ngày đăng: 02/11/2015, 10:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Y tế (2005), Đánh giá một năm thực hiện chỉ thị 05/2004/CT-BYT 4. Bộ Y tế (2008), Quyết định số 05/2008/QĐ-BYT về việc ban hành Danhmục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá một năm thực hiện chỉ thị 05/2004/CT-BYT" 4. Bộ Y tế (2008), "Quyết định số 05/2008/QĐ-BYT về việc ban hành Danh
Tác giả: Bộ Y tế (2005), Đánh giá một năm thực hiện chỉ thị 05/2004/CT-BYT 4. Bộ Y tế
Năm: 2008
19. Đoàn Thị phương Mai, Phân tích hoạt động xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện Lao và Phổi Quảng Ninh năm 2010, Luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp 1, Trường Đại học Dược Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hoạt động xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện Lao và Phổi Quảng Ninh năm 2010
20. Hoàng Thị Minh Hiền (2012), Hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện Hữu nghị - Thực trạng và một số giải pháp, Luận văn tiến sĩ dược học, Trường Đại học Dược Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện Hữu nghị - Thực trạng và một số giải pháp
Tác giả: Hoàng Thị Minh Hiền
Năm: 2012
1. Bảo hiểm xã hội việt Nam (2012), Công văn số 2503/BHXH-DVT về việc thanh toán chế độ BHYT đối với 5 loại thuốc Khác
2. Bộ Y tế (2010), Báo cáo kết quả công tác khám chữa bệnh năm 2010 và trọng tâm năm 2011 Khác
5. Bộ Y tế (2010), Phân tích tình hình sử dụng thuốc cho bệnh nhân nội trú và ngoại trú tại một số bệnh viện Khác
6. Bộ Y tế (2005), Quyết định số 17/2005/QĐ-BYT ngày 01/07/2005 về việc ban hành danh mục thuốc thiết yếu Việt Nam lần thứ V Khác
7. Bộ Y Tế - Bộ Tài Chính (2007), Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT- BYT-BTC Hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế công lập Khác
8. Bộ Y Tế (2012), Quyết định số 4381/QĐ_BYT về ban hành bảng kiểm tra bệnh viện năm 2012 Khác
9. Bộ Y tế (1997), Thông tư 08/BYT-TT Hướng dẫn tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của hội đồng thuốc và điều trị ở bệnh viện Khác
10. Bộ Y tế (2011), Thông tư 40/2014/TT-BYT về việc ban hành và hướng dẫn thực hiện danh mục thuốc tân dược thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế Khác
11. Bộ Y Tế (2008), Quyết định số 04/2008/QĐ-BYT về việc ban hành qui chế kê đơn trong điều trị ngoại trú Khác
12. Bộ Y Tế (2010), Công văn 2094/BYT-QLD về việc tăng cường công tác quản lý cung ứng thuốc và giá thuốc trong các cơ sở khám chữa bệnh công lập Khác
13. Bộ Y tế (2013), Thông tư 21/2013/TT-BYT quy định về tổ chức và hoạt động của hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện Khác
14. Bộ Y Tế (2004), Công văn số 3483/YT-ĐTr về việc hướng dẫn thực hiện chỉ thị số 05/2004/CT-BYT của bộ trưởng Bộ Y tế Khác
15. Bộ Y tế (2011), Thông tư 23/2011/TT-BYT hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có gường bệnh Khác
18. Chính phủ (1996), Nghị quyết 37/CP ngày 20/6/1996 về định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong thời gian 1996-2000 và chính sách quốc gia về thuốc của Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Sơ đồ tổ chức bệnh viện Mắt Thanh Hóa - Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại Bệnh viện Mắt Thanh Hóa
Hình 1.1. Sơ đồ tổ chức bệnh viện Mắt Thanh Hóa (Trang 25)
Hình 1.2. Sơ đồ tổ chức khoa Dược - Bệnh Viện Mắt Thanh Hóa - Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại Bệnh viện Mắt Thanh Hóa
Hình 1.2. Sơ đồ tổ chức khoa Dược - Bệnh Viện Mắt Thanh Hóa (Trang 26)
Bảng 2.1. Nhóm chỉ số phân tích cơ cấu thuốc sử dụng - Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại Bệnh viện Mắt Thanh Hóa
Bảng 2.1. Nhóm chỉ số phân tích cơ cấu thuốc sử dụng (Trang 31)
Bảng 2.2. Nhóm chỉ số phân tích ABC, VEN - Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại Bệnh viện Mắt Thanh Hóa
Bảng 2.2. Nhóm chỉ số phân tích ABC, VEN (Trang 32)
Bảng 2.5. Nhóm chỉ số phân tích các chỉ số dùng thuốc - Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại Bệnh viện Mắt Thanh Hóa
Bảng 2.5. Nhóm chỉ số phân tích các chỉ số dùng thuốc (Trang 35)
Bảng 3.3. Cơ cấu về SL và GT tiền thuốc theo phương pháp - Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại Bệnh viện Mắt Thanh Hóa
Bảng 3.3. Cơ cấu về SL và GT tiền thuốc theo phương pháp (Trang 43)
Bảng 3.5. Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc, xuất xứ có trong hạng A - Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại Bệnh viện Mắt Thanh Hóa
Bảng 3.5. Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc, xuất xứ có trong hạng A (Trang 45)
Bảng 3.6. Kết quả phân tích VEN - Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại Bệnh viện Mắt Thanh Hóa
Bảng 3.6. Kết quả phân tích VEN (Trang 45)
Hình 3.3. Biểu đồ phân tích VEN - Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại Bệnh viện Mắt Thanh Hóa
Hình 3.3. Biểu đồ phân tích VEN (Trang 46)
Bảng 3.9. Cơ cấu về SL và GT thuốc theo tác dụng điều trị trong - Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại Bệnh viện Mắt Thanh Hóa
Bảng 3.9. Cơ cấu về SL và GT thuốc theo tác dụng điều trị trong (Trang 49)
Bảng 3.10. Cơ cấu về SL và GT thuốc theo tác dụng điều trị trong - Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại Bệnh viện Mắt Thanh Hóa
Bảng 3.10. Cơ cấu về SL và GT thuốc theo tác dụng điều trị trong (Trang 50)
Bảng 3.11. Cơ cấu về SL và GT thuốc theo tác dụng điều trị trong - Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại Bệnh viện Mắt Thanh Hóa
Bảng 3.11. Cơ cấu về SL và GT thuốc theo tác dụng điều trị trong (Trang 51)
Hình 3.4.  Sự phân bố thuốc trong đơn - Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại Bệnh viện Mắt Thanh Hóa
Hình 3.4. Sự phân bố thuốc trong đơn (Trang 54)
Bảng 3.16. Tỷ lệ đơn có kê vitamin và các thuốc có tác dụng hỗ trợ - Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại Bệnh viện Mắt Thanh Hóa
Bảng 3.16. Tỷ lệ đơn có kê vitamin và các thuốc có tác dụng hỗ trợ (Trang 57)
Bảng 3.18. Nội dung thực hiện ghi thông tin bệnh nhân - Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại Bệnh viện Mắt Thanh Hóa
Bảng 3.18. Nội dung thực hiện ghi thông tin bệnh nhân (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w