Nhưng việc sử dụng thuốc trong điều trị tại bệnh viện cần dùng loại thuốc nào, số lượng bao nhiêu, cách thức sử dụng ra sao thì lại không phải do người bệnh tự quyết định mà được quyết đ
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LÊ THỊ THUẬN NGUYÊN
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT
THANH HÓA NĂM 2014 LUẬN VĂN DƯỢC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I
Trang 2BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LÊ THỊ THUẬN NGUYÊN
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT THANH
HÓA NĂM 2014
LUẬN VĂN DƯỢC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: CK60720412
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Song Hà Nơi thực hiện: Trường Đại Học Dược Hà Nội
Bệnh viện Nội Tiết Thanh Hóa
Thời gian thực hiện: 19/01/2015 – 19/5/2015
HÀ NỘI 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin được gửi lời cảm
ơn chân thành tới PGS.TS NGUYỄN THỊ SONG HÀ người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới:
- Các thầy cô giáo bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược, Trường Đại học Dược
Hà Nội đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn ban giám đốc, các bạn đồng nghiệp
cơ quan cũng như gia đình, bạn bè đã luôn động viên và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập !
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Học viên
Lê Thị Thuận Nguyên
Trang 4MỤC LỤC
1.1 SỬ DỤNG THUỐC TRONG HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG
THUỐC CỦA BỆNH VIỆN
1.2.2 Phương pháp phân tích nhóm điều trị 7
1.2.4 Một số chỉ số sử dụng thuốc cho các cơ sở khám chữa bệnh 8 1.3 Thực trạng sử dụng thuốc tại một số bệnh viện ở nước ta 9 1.4 MỘT VÀI NÉT VỀ BỆNH NỘI TIẾT VÀ BỆNH VIỆN NỘI
TIẾT THANH HÓA
10
2.2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 17
2.3.2 Phương pháp chọn mẫu và kỹ thuật lấy mẫu 18
2.3.5 Phương pháp phân tích, trình bày và xử lý số liệu 24
Trang 53.1 PHÂN TÍCH CƠ CẤU VỀ SỐ LƯỢNG VÀ GIÁ TRỊ
THUỐC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT THANH HÓA NĂM 2014
27
3.1.1 Cơ cấu thuốc sử dụng theo nhóm điều trị 27
3.2 PHÂN TÍCH MỘT SỐ THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN THUỐC
CỦA BỆNH VIỆN NỘI TIẾT THANH HÓA NĂM 2014
41
3.2.1 Phân tích một số chỉ số kê đơn và việc thực hiện quy chế
chuyên môn trong kê đơn thuốc ngoại trú tại bệnh viện Nội Tiết Thanh Hóa
41
3.2.2 Phân tích một số chi phí trong kê đơn thuốc ngoại trú 44 3.2.3 Phân tích việc thực hiện quy chế trong kê đơn thuốc ngoại trú 46
4.1 CƠ CẤU VỀ SỐ LƯỢNG VÀ GIÁ TRỊ THUỐC SỬ DỤNG
TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT THANH HÓA NĂM 2014
4.2 PHÂN TÍCH MỘT SỐ THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN THUỐC
NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT THANH HÓA
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVĐK Bệnh viện đa khoa
BVNTTH Bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa BVNTTW Bệnh viện Nội tiết Trung ương
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các chỉ số nghiên cứu về cơ cấu thuốc sử dụng tại
Bảng 3.2 Cơ cấu thuốc trong nhóm hormone và các thuốc tác động
vào hệ nội tiết
28
Bảng 3.3 Cơ cấu về số lượng và giá trị thuốc trong nhóm tim mạch 28
Bảng 3.5 Kết quả phân tích ABC theo nhóm tác dụng điều trị 31
Bảng 3.7 Phân tích VEN theo nhóm tác dụng điều trị 34 Bảng 3.8 Kết quả phân tích ma trận ABC/ VEN 35 Bảng 3.9 Cơ cấu thuốc nhóm AV theo tác dụng điều trị 36 Bảng 3.10 Cơ cấu thuốc nhốm AE theo tác dụng điều trị 37 Bảng 3.11 Cơ cấu thuốc theo tác dụng điều trị trong nhóm AN 38
Bảng 3.13 Tỷ lệ thuốc nhóm Hormone và các thuốc tác động vào hệ
nội tiết kê trong đơn
40
Bảng 3.15 Chi phí trung bình của một đơn thuốc 42
Bảng 3.17 Chi phí các thuốc trong nhóm hormone và các thuốc tác 43
Trang 8Bảng 3.18 Tình hình thực hiện quy chế kê đơn ngoại trú tại bệnh viện 44
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Cơ cấu thuốc trong nhóm hormone và các thuốc tác dụng
vào hệ nội tiết
Trang 10Thuốc đái tháo đường
Thuốc tuyến giáp
Thuốc nội tiết khác
Thuốc tim mạch
Thuốc tiêm Insulin
Nội dung 1: Ghi đầy đủ họ tên BN Nội dung 8: Ghi đủ hàm lượng
Nội dung 2 Ghi địa chỉ BN số nhà, Nội dung 9: Ghi đủ liều dùng
đường phố hoặc thôn, xã Nội dung 10: Ghi đủ đường dùng
Nội dung 3 Ghi chẩn đoán bệnh Nội dung 11: Ghi đủ thời điểm dùng Nội dung 4 Đánh số khoản Nội dung 13: Ghi diễn biến
Nội dung 5 Gạch chéo phần đơn còn lại Nội dung 14: Kê đúng số ngày quiđịnh
Nội dung 6 Ghi tên bác sĩ đầy đủ ( tối đa 1 tháng)
Nội dung 7 Ghi theo tên biệt dược
Trang 11TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
1 Tạ Văn Bình (2008) “ Những nguyên lý nền tảng đái tháo đường tăng
Glucosse máu”.Nhà xuất bản y học
2 Bộ y tế (2007), Quản lý và kinh tế Dược, NXB Y học
3 Bộ Y Tế (2001), Quy chế bệnh viện, nhà xuất bản y học
4 Bộ môn Dược lực (2008) , Giải phẫu sinh lý người, NXBY học Hà Nội
5 Bộ Y Tế (2008) thực hiện QĐ 04/2008/QĐ-BYT ngày 01tháng 2 năm
2008 “ Ban hành qui chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú”
6 Bộ Y Tế (2013), Thông tư quy định về tổ chức và hoạt động của Hội
đồng thuốc và điều trị.’’ Thông tư 21/12013-TTBYT ngày 8/8/2013
7 Bộ Y Tế 23/2011/TT-BYT ” Hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ
sở y tế có giường bệnh”
8 Bộ Y Tế 22/2011/TT-BYT ”Quy định tổ chức và hoạt động của khoa
Dược bệnh viện”
9 Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2012), Về việc thanh toán theo chế độ
BHYT đối với 5 loại thuốc, số 2503/BHXH-DVT ngày 02/07/2012
10 Bộ y tế- Cục quản lý dược (2013), chính sách phát triển thị trường
dược phẩm Việt Nam giai đoạn 2020-2030 ngày 27 tháng 12 năm 2013
11.Bộ Y Tế (2012) , Báo cáo tổng kết công tác y tế năm 2012,nhiệm vụ và
các giải pháp thực hiện trong năm 2013
12 Bộ y tế ( 2007), Quản lý và kinh tế dược,Giáo trình Pháp chế hành
Trang 1213 Mai khánh Chi (2014) Phân tích hoạt động sử dụng thuốc tại BV Nội
Tiết trung ương Luận văn thac sĩ Dược học, trường Đại học Dược Hà Nội
14 Nguyễn Thy Khuê (2007) “ Bệnh đái tháo đường” Nội tiết học đại
cương Mai Thế trạch và Nguyễn Thy Khuê
15 Hoàng Lê Anh Dũng, Trần Hữu Dàng (Năm 2010) “Đánh giá đặc
điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân đái tháo đường mới phát hiện tại Bệnh viện trung ương Huế” Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học
Đại hội- Hội nghị Nội khoa Toàn Quốc lần thứ VI
16 Hoàng Lê Anh Dũng, Trần Hữu Dàng (Năm 2010) “Nghiên cứu biến
chứng ở bệnh nhân đái tháo đường nhập viện lần đầu,, Kỷ yếu toàn văn đề tài nghiên cứu khoa học 2010.Tạp chí nội khoa số 04
17 Đại học Y Hà Nội (2007), Nội khoa cơ sở tập 2, NXB Y học, Hà Nội
18 Trần Thị Hằng(2012), khảo sát thực trạng sử dụng thuốc và thông in
thuốc tại bệnh viện ĐK tỉnh Vĩnh Phúc năm 2011, Luận văn thạc sĩ Dược
học Trường ĐH Dược Hà Nội
19 Vũ Thị Thu Hương (2012), Đánh giá hoạt động của hội đồng thuốc và
điều trị trong xây dưng và thực hiện danh mục thuốc tại một số bệnh viện
đa khoa, luận án tiến sĩ Dược học, Trường ĐH Dược Hà Nội
20.Tổ chức Y tế Thế giới (2003), Hướng dẫn điều tra sử dụng thuốc tại
các cơ sở khám chữa bệnh , WHO/ dược,DAP/93.1
21 Tổ chức Y tế thế giới , Hội đồng thuốc và Điều trị- Cẩm nang hướng
dẫn thực hành, hoạt động ADPC-Chương trình hợp tác y tế Việt Nam-Thụy
Điển.2014
22 Ngô Thùy Linh (2013), Phân tích hoạt động lựa chọn và sử dụng thuốc
Trang 1323 Nguyễn Thị Phương Lan (2011), Phân tích hoạt động sử dụng thuốc
tại bệnh viện Tim Hà Nội giai đoạn 2008-2010, luận văn Thạc sĩ Dược học,
ĐH Dược Hà Nội
24 Luât khám chữa bệnh (2014)
25 Huỳnh Hiền Trung(2012), Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao
chất lượng cung ứng thuốc tại bệnh viện trung ương Huế năm 2012, luận án
tiến sĩ Dược học, trường Đại học Dược Hà Nội
26 Vũ Đình Phóng (2013), Phân tích hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh
viện Phụ sản trung ương năm 2012, luận văn dược sĩ Dược học, trường Đại
học Dược Hà Nội
Tài liệu Tiếng Anh
27 Goossens, H., Ferech M., et al (2005) " Outpatient Antibiotic Use in Europe and Association with Resistsnce:" The Lancet 365 , pp 579-578
Tài liệu Internet
28 http://www.dieutri.vn/vietnam/28-5-2012
29.Baohiem.vn.net
Trang 14ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bất kỳ hoàn cảnh sống nào, ở bất kỳ xã hội nào, điều kiện tôn giáo, tín ngưỡng ra sao, con người luôn có nhu cầu về thuốc phòng và chữa bệnh Thuốc giữ vai trò to lớn trong việc đảm bảo tính mạng, sức khỏe cho sự tồn tại của mỗi cá nhân cũng như cả xã hội loài người Xã hội càng phát triển, nhu cầu về thuốc càng cao cả về số lượng, chất lượng, chủng loại Nhưng việc sử dụng thuốc trong điều trị tại bệnh viện cần dùng loại thuốc nào, số lượng bao nhiêu, cách thức sử dụng ra sao thì lại không phải do người bệnh tự quyết định mà được quyết định bởi thầy thuốc và người dùng phải tuân thủ nghiêm ngặt
Chu trình cung ứng thuốc tại bệnh viện gồm bốn nhiệm vụ chính là: lựa chọn, mua sắm, tồn trữ, cấp phát sử dụng thuốc Vì vậy bên cạnh việc việc đảm bảo cung ứng thuốc đầy đủ kịp thời thì việc sử dụng thuốc
an toàn, hợp lý mang lại hiệu quả điều trị cho người bệnh đến khám và điều trị tại Bệnh viện Bên cạnh đó, việc sử dụng thuốc không hợp lý sẽ làm tăng chi phí cho người bệnh, tạo gánh nặng cho gia đình và xã hội và gây ra những hậu quả đối với sức khỏe, đặc biệt với các bệnh mãn tính, phải thường xuyên dùng thuốc trong thời gian dài như các bệnh Nội tiết, Tim mạch, huyết áp…Đặc biệt bệnh Nội tiết như đái tháo đường thường kèm theo nhiều biến chứng về tim mạch, huyết áp, thận, mắt, thần kinh không những làm tăng chi phí điều trị mà trong việc thực hiện quy chế kê đơn hướng dẫn sử dụng nếu người thầy thuốc không tuân thủ một cách nghiêm túc sẽ dễ dẫn đến tai biến cho người bệnh trong quá trình dùng thuốc như: hạ đường huyết dẫn đến tai biến tim mạch, huyết áp,… ngoài
ra còn bị ảnh hưởng bởi các tương tác của thuốc trong quá trình điều trị đối với bệnh nhân
Trang 15Bệnh viện Nội Tiết Thanh Hóa là bệnh viện chuyên khoa hạng II, là
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân với chức năng phòng và điều trị các bệnh Nội tiết, thực hiện chương trình dự án phòng chống Bướu cổ, phòng chống bệnh Đái tháo đường trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Với khoảng hơn 50 ngàn lượt bệnh nhân đến khám và điều trị mỗi năm
Từ khi được thành lập đến nay, tại bệnh viện Nội Tiết Thanh Hóa, chưa có một đề tài NCKH nào nghiên cứu về thực trạng sử dụng thuốc tại bệnh viện
Với mong muốn nhằm nâng cao hiệu quả việc sử dụng thuốc, tiết kiệm chi phí và giảm bớt những tổn hại do thuốc gây ra, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“ Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại bệnh viện Nội Tiết
Thanh Hóa năm 2014” với hai mục tiêu :
1 Phân tích cơ cấu về số lượng và giá trị thuốc sử dụng tại Bệnh viện Nội Tiết Thanh Hóa năm 2014
2 Phân tích thực trạng kê đơn thuốc Bảo hiểm y tế ngoại trú tại bệnh viện Nội Tiết Thanh Hóa năm 2014
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Sử dụng thuốc trong hoạt động cung ứng thuốc của bệnh viện
1.1.1 Vài nét về hoạt động cung ứng thuốc trong bệnh viện
Hoạt động cung ứng thuốc trong BV là một trong các hoạt động quan trọng của BV Để đáp ứng yêu cầu chẩn đoán, điều trị và các yêu cầu chữa bệnh khác tại BV được an toàn và hiệu quả, hợp lý, chất lượng, thì công tác quản lý cung ứng thuốc của khoa Dược BV phải được quan tâm đúng mức Cung ứng thuốc trong BV là một hoạt động mang tính chất chu trình
bao gồm bốn hoạt động chính: lựa chọn, mua sắm, cấp phát và sử dụng
thuốc
Quy trình cung ứng thuốc trong BV được tóm tắt theo sơ đồ hình 1.1
Hình 1.1 Quy trình cung ứng thuốc
Công Khoa nghệ học
Kinh tế
-Mô hình bệnh tật -Phác đồ điều trị -Ngân sách
Trang 17Bốn hoạt động trong chu trình đều tác động và ảnh hưởng tới nhau, hoạt động nào cũng quan trọng đều cần phải được quản lý, thực hiện một cách hợp lý và hiệu quả
1.1.2 Hoạt động sử dụng thuốc
Sử dụng thuốc là hoạt động chuyên môn nhằm giúp bệnh nhân sử dụng thuốc được an toàn, hợp lý đảm bảo phát huy được chất lượng của thuốc đạt hiệu quả điều trị cao, thuốc được sử dụng đúng người, đúng bệnh , đó luôn là mục tiêu đầu tiên trong công tác điều trị
Ngày 10/6/2011 BYT đã ban hành thông tư số 23/2011/TT-BYT về
hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở Y tế có giường bệnh
Trong thông tư quy định rất rõ về trách nhiệm của từng chức danh, từng
bộ phận khoa phòng trong việc sử dụng thuốc cho BN [7]
Hoạt động sử dụng thuốc được thể hiện qua hình 1.2:
Hình 1.2 Chu trình sử dụng thuốc
Chẩn đoán, kê đơn
Khi khám bệnh, thầy thuốc phải chẩn đoán, khai thác tiền sử dùng thuốc, tiền sử dị ứng của bệnh nhân, liệt kê các thuốc mà người bệnh đã dùng trước đó, và diễn biến lâm sàng của người bệnh để kê đơn, ra y lệnh dùng thuốc cho BN Trong điều trị nội trú trường hợp người bệnh đã được
Trang 18lựa chọn thuốc và liều thích hợp, thời gian chỉ định thuốc tối đa không quá
2 ngày đối với ngày làm việc và không quá 3 ngày đối với ngày nghỉ Ghi chỉ định thuốc theo trình tự đường tiêm, uống, đặt, dùng ngoài và các đường dùng khác Đối với chỉ định thuốc kháng sinh, thuốc phóng xạ, thuốc gây nghiện hướng tâm thần, corticoid, thuốc điều trị lao phải đánh
Bên cạnh đó, việc kê đơn cần lưu ý đến sự tương tác thuốc, đó là hiện tượng xảy ra khi sử dụng đồng thời hai hay nhiều thuốc, thuốc này làm thay đổi tác dụng hoặc đặc tính của thuốc kia dẫn tới hậu quả có lợi hoặc bất lợi đối với cơ thể người dùng thuốc [1]
Mục đích của việc sử dụng nhiều thuốc trên một bệnh nhân trong cùng một thời gian là để đạt mục tiêu điều trị mong muốn hoặc để chữa nhiều bệnh cùng một lúc Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp thuốc được phối hơp quá nhiều là không cần thiết Khi dùng đồng thời nhiều thuốc, bác sĩ đứng trước vấn đề phối hợp thuốc như vậy có thể dẫn đến tương tác thuốc hay không Nhiệm vụ của bác sĩ là phải hiểu những nguyên lý cơ bản của tương tác thuốc trong việc xây dựng phác đồ điều trị, đảm bảo đơn không có nguy cơ tương tác bất lợi đã biết Dược sĩ có trách nhiệm phát hiện các tương tác thuốc nghiêm trọng khi đọc đơn thuốc Điều
Trang 19dưỡng phải nhận biết được những dấu hiệu lâm sàng của tác dụng nguy hại khi người bệnh dùng thuốc [1]
1.2 Một số phương pháp phân tích dữ liệu trong sử dụng thuốc
1.2.1 Phân tích danh mục thuốc theo phương pháp ABC
Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm định ra những thuốc nào chiếm
tỷ lệ lớn trong ngân sách Phân tích ABC cho ta biết:
- Những thuốc được sử dụng thay thế với lượng lớn mà có chi phí thấp trong danh mục hoặc sẵn co trên thị trường để nhằm lược chon những thuốc có chi phí điều trị thấp hơn, tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế, thương lượng với nhà cung cấp để mua được thuốc với giá thấp hơn
- Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng và từ đó phát hiện ra những bất hợp lý trong sử dụng thuốc, bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật
- Xác định phương thức mua các thuốc không có trong danh mục thuốc thiết yếu của bệnh viện
Phân tích ABC có thể ứng dụng các số liệu tiêu thụ thuốc cho chu
kỳ trên 1 năm hoặc ngắn hơn Sau khi hoàn thành phân tích ABC, các thuốc đặc biệt là trong nhóm A cần phải được đánh giá lại và xem xét việc sử dụng những thuốc không có trong danh mục và thuốc đắt tiền, trên
cơ sở đó lựa chọn những phác đồ điều trị có có hiệu lực tương đương nhưng có giá thành rẻ hơn Như vậy ưu điểm chính của phân tích ABC giúp xác định xem phần lớn ngân sách được chi trả cho những nhóm thuốc nào [20]
1.2.2 Phân tích danh mục thuốc theo nhóm điều trị
Dựa trên phân tích ABC, phân tích nhóm điều trị nhằm:
- Xác định những nhóm điều trị có mức tiêu thụ thuốc cao nhất và chi phí nhiều nhất
Trang 20- Trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, xác định những vấn đề
sử dụng thuốc bất hợp lý
- Xác định những thuốc đã bị lam dụng hoặc những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và thuốc lựa chọn trong liệu pháp điều trị thay thế
Từ đó tiến hành phân tích cụ thể hơn cho môi nhóm diệu trị chi phí cao để xác định những thuốc đắt tiền và liệu pháp điều trị thay thế có chi phí hiệu quả cao [20]
1.2.3 Phân tích danh mục thuốc theo phương pháp VEN
Phân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không
đủ để mua toàn bộ các thuốc như mong muốn Trong phân tích VEN, các thuốc được phân chia thành 3 hạng mục cụ thể như sau:
- Thuốc V (Vital drugs): là thuốc dùng trong các trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện
- Thuốc E (Essential drugs): là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trọng trong
mô hình bệnh tật của bệnh viện
- Thuốc N (Non- Essential drugs): là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể tự khỏi, có thể bao gồm các thuốc mà hiệu quả điều trị còn chưa được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành cao không tương xứng với lợi ích lâm sàng của thuốc [9]
Phân tích VEN cho phép so sánh những thuốc có hiệu lực điều trị
và khả năng sử dụng khác nhau [21]
1.2.4 Một số chỉ số sử dụng thuốc cho các cơ sở khám chữa bệnh
Các chỉ sử dụng thuốc được dùng để đánh giá khuynh hướng hành vi của các nhà cung cấp dịch vụ y tế tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu
Trang 21một cách đáng tin cậy Các chỉ số này cung cấp cho các nhà quản lý y tế thông tin về sử dụng thuốc, thói quen kê đơn và các khía cạnh quan trọng khác của việc chăm sóc người bệnh [21]
* Các chỉ số kê đơn như
- Số thuốc kê trung bình trong một đơn
- Tỷ lệ phần trăm thuốc đã kê theo tên gốc
- Tỷ lệ phần trăm các lần kê đơn kháng sinh
- Tỷ lệ phần trăm các thuốc được kê có thuốc tiêm…[21]
* Các chỉ số chăm sóc người bệnh
- Thời gian phát thuốc trung bình
- Tỷ lệ phần trăm thuốc được cấp phát trên thực tế
- Hiểu biết của người bệnh về liều đúng[21]
* Các chỉ số sử dụng thuốc toàn diện
- Chi phí cho thuốc trung bình của mỗi đơn
- Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc dành cho thuốc tiêm
- Tỷ lệ phần trăm người bệnh hài lòng với dịch vụ chăm sóc sức khỏe [21]
1.3 Thực trạng sử dụng thuốc tại các bệnh viện ở nước ta trong những năm gần đây
Việc sử dụng thuốc tại các bệnh viện được thực hiện tuỳ thuộc vào điều kiện nhân lực và trang thiết bị tại từng bệnh viện, hiện nay việc sử dụng thuốc tại các BV đã có thông tư hướng dẫn về sử dụng thuốc trong
điều trị nội trú tại bệnh viện có giường bệnh [7] Công tác thông tin thuốc
và theo dõi ADR đã hình thành, nhưng mới hoạt động mạnh ở một số thành phố lớn, còn tại các bệnh viện ở nhiều địa phương chưa triển khai hoặc đã triển khai nhưng cơ sở vật chất còn quá nghèo nàn, thiếu DSĐH làm việc tại các bệnh viện, đặc biệt là BV tuyến huyện HĐT và ĐT đã hoạt động thường quy, nhưng chưa thực sự đem lại hiệu quả trong công tác điều trị, còn mang tính hình thức
Trang 22Dược lâm sàng (DLS) ở nước ta đã triển khai được hơn 10 năm nay, tuy nhiên cho đến nay vẫn tập trung ở một số bệnh viện Trung ương
và một số BV lớn ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh như Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Nhân Dân 115, Bệnh viện Chợ Rẫy Khoa Dược các BV
đã triển khai công tác DLS, hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn hiệu quả, nhưng nhìn chung chức năng này còn khá mờ nhạt, công việc chủ yếu vẫn
là xây dựng DMT sử dụng trong BV và tham mưu cho Lãnh đạo bệnh viện trong công tác đấu thầu thuốc Các BV tuyến tỉnh, nhất là là tuyến huyện thì công tác Dược lâm sàng chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiều nơi chưa thực hiện được công tác này, nguyên nhân chủ yếu vẫn là do thiếu nhân lực Tỉ lệ nhân lực khoa Dược so với nhân lực của toàn bệnh viện đều thiếu, tại bệnh viện Nhi Thái Bình là 7,39%, Bệnh viện Hữu Nghị là gần 5%, bệnh viện Giao thông vận tải I là 2%, đặc biệt là thiếu Dược sĩ đại học, do đó công tác DLS đều được làm kiêm nhiệm
Trong những năm gần đây kinh tế phát triển, chất lượng cuộc sống của
con người đang ngày càng được cải thiện làm tăng nhu cầu chăm sóc sức khỏe, kéo theo đó là làm tăng nhu cầu sử dụng thuốc Theo báo cáo của cục quản lý Dược, tiền thuốc bình quân đầu người tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây Năm 2007, tiền thuốc bình quân đầu người là 13,39 USD/năm Sau 5 năm, vào năm 2012 tiền thuốc bình quân đầu người tăng lên mức 29,5USD/năm Năm 2014, tiền thuốc bình quân đầu người là 31 USD/năm Nhu cầu tiêu dùng thuốc bình quân đầu người tăng lên giúp cải thiện công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân và thúc đẩy nghành dược phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích đó chúng ta đang gặp phải nhiều vấn đề bất cập trong vấn đề sử dụng thuốc hiện nay [11]
1.3.1 Thực trạng chung về sử dụng thuốc tại các bệnh viện ở nước ta hiện nay
Trang 23Việc phân tích theo nhóm điều trị nhằm tổng hợp giá trị phần trăm của mỗi thuốc bao gồm cả số lượng và giá trị tiêu thụ để xác định nhóm điều trị nào chiếm chi phí lớn nhất được thực hiện ở hầu hết các bệnh viện [21] Theo nghiên cứu tại bệnh viện Phụ sản trung ương thì chi phí tập trung vào nhóm hormon và nội tiết tố (47,7%), thuốc chống nhiễm khuẩn (13,6%), thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch (12,4%) [26] Tại Bệnh viện Nội Tiết Trung ương, chi phí thuốc tập trung ở nhóm Hormon
và các thuốc tác động vào hệ Nội Tiết (33,5%) và thuốc tim mạch (32,4%) [11] BVĐK Đức Giang tập trung ở nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn (32,55%), nhóm Hormon và các thuốc tác động vào
hệ nội tiết (15,17%), thuốc tim mạch (9,18%) [22] BV trường Đại học Y Dược Huế năm 2011, chi phí thuốc sử dụng tập trung ở nhóm thuốc điều trị ung thư (40,1%), thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn (32,55%), nhóm Hormon và thuốc tác động vào hệ nội tiết (15,17%), nhóm thuốc tim mạch (9,18%) [22]; BV trung ương Huế : nhóm thuốc điều trị nhiễm khuẩn, ký sinh trùng (34,84%) , thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch (14,95%) , thuốc đường tiêu hóa (11,39%) [21]
Theo nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hương sử dụng phương pháp phân tích ABC là một trong các tiêu chí đánh giá hoạt đông của Hội đồng thuốc và điều trị trong xây dựng và thực hiện DMT tại một số bệnh viện
đa khoa đã nhận thấy các bệnh viện ma sắm tương đối tập trung vào các thuốc được sử dụng nhiều nhất trong điều trị ( sử dụng 70% tông kinh phí
để mua sắm 11,2%-13,1% số khoản mục thuốc) Đây là thuốc có giá trị
và số lượng sử dụng lớn Vì vây cần ưu tiên mua sắm đồng thời quản lý chặt chẽ các thuốc thuốc nhóm A[27]
Kết hợp việc phân tích theo nhóm điều trị với việc phân tích ABC, VEN sẽ cho ta thấy rõ về nhu cầu và thực trạng sử dụng thuốc, giúp cho việc lựa chọn, loại bỏ những thuốc tiêu thụ chiếm giá trị cao nhưng lại là thuốc không thiết yếu
Trang 24Theo nghiên cứu của Huỳnh Hiền Trung đã dùng phân tích ABC/VEN
là một tiêu chí để đánh giá sự cải thiện trong can thiệp chất lượng DMT tại bệnh viện 115, sau khi sử dụng biện pháp can thiệp và đánh giá vào năm 2008, theo số lượng thuốc, thuốc nhóm I ( gồm AV, AE, AN, BV, CV) là nhóm thuốc cần quan tâm đặc biệt vì sử dụng nhiều ngân sách và cần cho điều trị Kết quả can thiệp đã thay đổi từ 14,8% năm 2006 xuống còn 9,1% năm 2008 Nhóm II ( gồm BE, BN, CE) tuy mức độ quan trọng
ít hơn nhóm I nhưng cũng là nhóm thuốc cần giám sát kỹ vì chiếm lượng ngân sách tương đối lớn và cần cho điều trị giảm từ 57,3% trước can thiệp giảm xuống còn 41,6% sau can thiệp Nhóm III ít quan trọng song sau can thiệp giảm còn 11,5% so với 27,9% trước can thiệp[ 25]
1.3.2 Về vấn đề kê đơn
Theo đánh giá của Bộ Y Tế việc chấp hành thực hiện quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn chưa nghiêm, một bộ phận thầy thuốc ghi đơn thuốc theo tên biệt dược , không kê theo tên gốc, kê các thuốc đắt tiền, hoặc kê đơn các thuốc được tiếp thị … Theo một nghiên cứu tại bệnh viện Tim Hà Nội số lượng thuốc được ghi bằng tên gốc chiếm tỷ lệ là 19,95%[ 26 ], còn tại BVĐK tỉnh Vĩnh Phúc năm 2011, tỷ lệ thuốc được ghi bằng tên gốc đạt 8,5% , còn lại các thuốc đều ghi theo tên biệt dược[18]
Mô hình bệnh tật của nước ta hiện nay đang thay đổi, các bệnh không lây nhiễm như Đái tháo đường, tim mạch,…ngay càng gia tăng Thực trạng này kéo theo một loạt các vấn đề về sử dụng thuốc như lạm dụng kháng sinh, corticoid, vitamin, và kê đồng thời nhiều thuốc trong một đơn Tỷ lệ đơn ngoại trú có kháng sinh ở Bệnh viện ĐK tỉnh Vĩnh Phúc là 59,5% và nội trú là 61,8% [ 18] Tại bệnh viện tim Hà Nội đơn có kê vitamin chiếm tỷ lệ 35% trên tổng số đơn [23]
1 4 Vài nét về Bệnh nội tiết và Bệnh viện Nội Tiết Thanh Hóa
1.4.1 Bệnh Nội tiết
Trang 25Bệnh nội tiết Là bệnh không lây nhiễm, do rối loạn của hệ nội tiết [17] Các tuyến nội tiết trong cơ thể người gồm có: vùng dưới đồi, tuyến tùng, tuyến yên, tuyến cận giáp, tuyến giáp, tuyến thượng thận, tuyến tụy và tuyến sinh dục [1]
Theo báo cáo của Hiệp hội đái tháo đường quốc tế, trên thế giới năm
2000 có khoảng 151 triệu người tuổi từ 20-79 mắc bệnh đái tháo đường, chiếm tỷ lệ 4,6%
Ở Việt Nam, có sự thay đổi rõ rệt về mô hình bệnh tật, tình hình mắc các bệnh nội tiết đặc biệt là Đái tháo đường có chiều hướng gia tăng Năm 2001 tỷ lệ mắc đái tháo đường tại khu vực nội thành của bốn thành phố lớn là 4,0% Theo số liệu về cơ cấu số lượt khám chữa bệnh (KCB) tại cơ sở y tế nhà nước trong Niên giám thống kê năm 2010, xu hướng tỷ trọng các bệnh không lây nhiễm gia tăng liên tục ở mức cao, từ 50,0% năm 1996 tới 71,6% năm 2010 Ngược lại với xu hướng này là sự giảm đi nhanh chóng của tỷ trọng số đợt KCB đối với người mắc bệnh truyền nhiễm Tỷ trọng số lượt KCB liên quan đến tai nạn, chấn thương, ngộ độc
có xu hướng chững lại Như vậy, gánh nặng bệnh tật chuyển dịch mạnh sang các bệnh không lây nhiễm (chủ yếu là bệnh tim mạch, đái tháo đường, ung thư và bệnh phổi mạn tính) Năm 2012 theo số liệu công bố tại Hội nghị tổng kết hoạt động của Dự án phòng chống đái tháo đường quốc gia tỷ lệ người mắc bệnh đái tháo đường ở nước ta là 5,7% [6] Qua sàng lọc, năm 2013 phát hiện gần 19.800 người mắc bệnh ĐTĐ và hơn 36.100 người tiền ĐTĐ, chiếm 17,3%
Theo điều tra dịch tễ học của trung tâm Nội Tiết Thanh Hóa năm
2001 tại 5 Phường xã trên địa bàn thành phố Thanh Hóa tuổi từ 30- 64 chiếm tỷ lệ 3,2% Năm 2004 nghiên cứu 23 xã trong toàn tỉnh cho thấy tỷ
lệ đái tháo đường chiếm 4,0%
Cùng với bệnh tiểu đường, bệnh bướu cổ cũng là bệnh về nội tiết có tỷ lệ gia tăng trong những năm vừa qua Theo một con số thống kê chưa đầy
Trang 26đủ, trên toàn đất nước ta có khoảng trên 3.000.000 người mắc bệnh bướu
cổ các loại Theo thống kê của Bộ Y tế, số người mắc bệnh bướu cổ ở miền núi phía Bắc chiếm tỷ lệ 30 – 40% trong nhân dân, có nơi tới 80%
Ở đồng bằng phía Bắc khoảng 6% người mắc bệnh bướu cổ Ở đồng bằng sông Cửu Long tỷ lệ người mắc bệnh bướu cổ là 20 – 22%
1.4.2 Bệnh viện Nội Tiết Thanh Hóa
Bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa bệnh viện chuyên khoa hạng II, là đơn vị sự nghiệp y tế, trực thuộc Sở y tế Thanh Hóa, chức năng khám, chữa bệnh, phòng và điều trị các bệnh về chuyển hóa- nội tiết, thực hiện chương trình dự án phòng chống bướu cổ, phòng chống bệnh tiểu đường trên địa bàn toàn tỉnh
Bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa được thành lập năm 2007 trên cơ sở nâng cấp từ Trung tâm Nội Tiết Là một bệnh viện chuyên khoa nội tiết đầu ngành của tỉnh, với nhiệm vụ khám, chữa bệnh và công tác chỉ đạo tuyến dưới về chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân trong tỉnh Với tổng số
161 cán bộ viên chức, 15 khoa phòng với đội ngũ y bác sĩ, Dược sĩ vững vàng, thường xuyên được học tập, nâng cao trình độ chuyên môn Năm
2014 bệnh viện Nội Tiết Thanh Hóa được giao kế hoạch 120 giường bệnh, năm 2014 có hơn 50 nghìn lượt bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện Do đặc thù của bệnh nội tiết là bệnh mãn tính điều trị duy trì nên phần lớn bệnh nhân đến khám và chữa bệnh là bệnh nhân ngoại trú, vì vậy công tác khám chữa bệnh tập trung phần lớn vào điều trị ngoại trú
Với sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của ban giám đốc bệnh viện và toàn thể công chức viên chức Bệnh viện.Trong những năm qua Bệnh viện
đã không ngừng phát huy tính hiệu quả trong công tác khám chữa bệnh cho nhân dân nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng khám chữa bệnh ngày càng cao, góp phần giảm tải cho tuyến trên
Khoa Dược Bệnh viện Nội Tiết Thanh Hóa
Vị trí , chức năng
Trang 27Khoa Dược là một khoa chuyên môn thuộc sự điều hành quản lý trực tiếp của Giám đốc Bệnh viện
Khoa Dược có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám đốc bệnh viện về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện nhằm đảm bảo cung cấp
đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử
dụng thuốc an toàn, hợp lý
Mô hình tổ chức và cơ cấu nhân lực của khoa Dược
Khoa Dược có các bộ phận như quy định tại Thông tư 22/2011/TT-BYT Bộ Y tế ngày 10/06/2011 “Quy định về tổ chức và hoạt
động của khoa dược Bệnh viện’’ như: nghiệp vụ dược, thống kê, dược lâm
sàng-thông tin thuốc , kho cấp phát, mô hình tổ chức được thể hiện trong
Kho cấp phát nội trú
Kho cấp phát ngoại trú
Dược lâm sàng và TT thuốc
Nhà thuốc
Trang 28Hình 1.3 Mô hình tổ chức của khoa Dược
* Cơ cấu nhân lực của Khoa Dược
Khoa Dược Bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa gồm 12 cán bộ, trong đó,
04 Dược sỹ đại học, 08 dược sỹ trung học Cơ cấu nhân lực của khoa Dược thể hiện trong bảng 1.3 sau:
Bảng 1.1 Cơ cấu nhân lực của khoa Dược bệnh viện năm 2014
Tóm lại, BVNT Thanh Hóa là bệnh viện chuyên khoa đầu nghành
về Nội Tiết trong tỉnh Thanh Hóa, vì vậy khi bệnh nhân được chuyển từ tuyến dưới lên thì hầu hết là những bệnh nhân mắc đồng thời nhiều bệnh hoặc đã có kèm biến chứng, vì vậy phải sử dụng nhiều thuốc, thời gian dùng thuốc kéo dài Từ khi thành lập đến nay chưa có một đề tài nào nghiên cứu về thực trạng sử dụng thuốc tại bệnh viện Để góp phần nâng cao hiệu quả về vấn đề sử dụng thuốcc tại BVNT Thanh Hóa, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại Bệnh viện Nội Tiết Thanh Hóa năm 2014”
Trang 29Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các Dược sỹ khoa Dược
- Các Bác sỹ tham gia khám bệnh và kê đơn điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội Tiết Thanh Hóa
- Đơn thuốc ngoại trú tại bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viên Nội Tiết Thanh Hóa
- Thời gian nghiên cứu: tháng 01/2014 đến tháng 12/2014
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp mô tả hồi cứu với các nội dung được trình bày trong hình 2.1
Trang 30Hình 2.1 Tóm tắt nội dung nghiên cứu
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC TẠI
BỆNH VIỆN NỘI TIẾT THANH HOÁ NĂM 2014
Nội dung 1: Phân tích cơ cấu về số
lượng và giá trị thuốc sử dụng tại
bệnh viện Nội Tiết Thanh Hóa năm
2014
Nội dung 2: Phân tích thực trạng
kê đơn thuốc BHYT ngoại trú tại bệnh viện Nội Tiết Thanh Hóa năm
2014
Phân tích hoạt động kê đơn
- Chỉ số kê đơn
- Chi phí kê đơn thuốc
- Thực hiện quy chế kê đơn
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC TẠI
BỆNH VIỆN NỘI TIẾT THANH HOÁ NĂM 2014
Nội dung 1: Phân tích cơ cấu về số
lượng và giá trị thuốc sử dụng tại
bệnh viện Nội Tiết Thanh Hóa năm
2014
Nội dung 2: Phân tích thực trạng
kê đơn thuốc BHYT ngoại trú tại bệnh viện Nội Tiết Thanh Hóa năm
2014
Phân tích hoạt động kê đơn
- Chỉ số kê đơn
- Chi phí kê đơn thuốc
- Thực hiện quy chế kê đơn
Trang 312.3.2 Phương pháp chọn mẫu và kỹ thuật lấy mẫu
Xác định cỡ mẫu
Đơn thuốc bệnh nhân ngoại trú có BHYT: Cỡ mẫu là 200 đơn thuốc
Kỹ thuật lấy mẫu
Đề tài tiến hành thu thập 200 đơn thuốc BHYT ngoại trú năm 2014
bằng phương pháp chọn mẫu hệ thống như sau:
Gọi tổng số đơn cấp thuốc bảo hiểm y tế ngoại trú năm 2014 là N, k
là khoảng cách thứ tự các mẫu và k = N/200 Chọn ngẫu nhiên một số thứ
tự từ 1 đến 10, mẫu đầu tiên là đơn có số thứ tự đó, các mẫu tiếp theo là các đơn có số bằng số trước cộng k, cứ lấy như vậy cho đến khi đủ 200 đơn
Theo số liệu lưu tại phần mềm kê đơn thuốc BHYT ngoại trú tại bệnh viện Nội Tiết Thanh Hóa, tổng số đơn cấp thuốc BHYT ngoại trú năm 2014 là 51600 đơn, ta có k = 51600/200 = 258
Chọn ngẫu nhiên đơn thuốc đầu tiên là đơn số 4, thì đơn thuốc thứ hai có số 262 Các đơn tiếp theo có số thứ tự bằng số thứ tự của đơn trước cộng 258 cho tới khi đủ 200 đơn thì dừng lại
2.3.3 Các chỉ số nghiên cứu
Các chỉ số về cơ cấu thuốc sử dụng
Để đánh giá cơ cấu sử dụng thuốc tại bệnh viện Nội Tiết Thanh Hóa chúng tôi tiến hành phân tích các chỉ số về số lượng và giá trị thuốc
sử dụng như trình bày trong bảng 2.1
Trang 32Bảng 2.1 Các chỉ số nghiên cứu về cơ cấu thuốc sử dụng tại bệnh viện
Nội Tiết Thanh Hóa
Tỷ lệ % = Số lượng
sử dụng mỗi nhóm (giá trị sử dụng) /số lượng sử dụng thuốc (giá trị sử dụng
thuốc) x 100
- DMTBV năm 2014;
- Kết xuất từ phần mềm lưu trữ;
- 200 đơn thuốc ngoại trú 2014 lưu trữ tại khoa
Dược
+ Cơ cấu số lượng
và giá trị nhóm Hormone và thuốc tác động vào hệ nội tiết
+ Cơ cấu số lượng
và giá trị nhóm thuốc tim mạch
Tỷ lệ % = Số lượng
sử dụng mỗi nhóm (A,B,C, điều trị) /số lượng sử dụng thuốc (giá trị sử dụng
thuốc) x 100
Tỷ lệ % SL và GT thuốc A, B, C theo
- Tỷ lệ % SL và GT thuốc V, E, N theo
nhóm điều trị
Tỷ lệ % = Số lượng
sử dụng mỗi nhóm (V,E,N) /số lượng
sử dụng thuốc (giá trị sử dụng thuốc) x
100
Phân tích sử dụng Tỷ lệ % SL và GT Tỷ lệ % = Số lượng
Trang 33Nội dung Chỉ số Cách tính Nguồn thu
dụng thuốc) x 100
Tỷ lệ % SL và GT theo cơ cấu nhóm
AE theo tác dụng điều trị
Tỷ lệ % = số lượng
sử dụng trong nhóm
AE theo điều trị/
tổng số thuốc thuộc nhóm AE x 100
Tỷ lệ % SL và GT theo cơ cấu nhóm
AN theo tác dụng điều trị
Tỷ lệ % = số lượng
sử dụng trong nhóm
AN theo điều trị/
tổng số thuốc thuộc nhóm AN x 100
Các chỉ số về thực trạng kê đơn thuốc BHYT ngoại trú
Để đánh giá việc kê đơn thuốc BHYT ngoại trú tại bệnh viện Nội Tiết Thanh Hóa chúng tôi tiến hành phân tích các chỉ số về số lượng và giá trị thuốc sử dụng như trình bày trong bảng 2.2
Bảng 2.2 Các chỉ số nghiên cứu về thực trạng kê đơn thuốc BHYT
ngoại trú tại bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa
Trang 34Nội dung Chỉ số Cách tính Nguồn thu
Tổng số thuốc của
200 đơn khảo sát/200
200 đơn thuốc BHYT ngoại trú năm 2014
Tỷ lệ % các thuốc thuộc nhóm Hormone và tác động vào hệ nội tiết
Tổng số thuốc nội tiết/tổng số thuốc trong 200 đơn khảo sát x 100
Tỷ lệ % đơn có kê thuốc thuốc tiêm Insulin
Tổng số đơn thuốc
có kê thuốc tiêm Insulin/ 200 đơn khảo sát x 100
Phân tích một số
chi phí trong kê
đơn thuốc
Chi phí trung bình của một đơn thuốc
Tổng số tiền của
200 đơn khảo sát/200
Chi phí các thuốc trong nhóm hormone và tác động vào hệ nội tiết phân theo nhóm điều trị
Chi phí tiền thuốc nội tiết theo nhóm điều trị/ tổng số tiền thuốc thuộc nhóm hormone và tác động vào hệ nội tiết trong 200 đơn khảo sát x 100
Trang 35Tổng số đơn thuốc ghi đầy đủ đầu mục thủ tục hành chính/tổng số đơn khảo sát x 100
Tỷ lệ đơn thuốc ghi đúng danh pháp, hàm lượng,
Tổng số đơn thuốc đúng danh
pháp/tổng số đơn khảo sát x100
Tỷ lệ đơn thuốc ghi đầy đủ hướng dẫn
sử dụng thuốc
Tổng số đơn thuốc ghi đầy đủ hướng dẫn sử dụng/tổng số đơn khảo sát x 100
Tỷ lệ đơn thuốc thực hiện đúng quy chế kê đơn thuốc điều trị bệnh mạn tính
Tổng số đơn thuốc thực hiện đúng quy chế kê đơn thuốc điều trị bệnh mạn tính/tổng số đơn khảo sát x 100
2.3.4 Phương pháp thu thập số liệu
Nguồn tài liệu liên quan đến mục tiêu nghiên cứu
- Sổ sách xuất nhập, thống kê sử dụng thuốc năm 2014;
- Phần mềm quản lý thuốc tại bệnh viện;
- 200 đơn thuốc lưu tại khoa Dược
Phương pháp thu thập
- Các thông tin theo mục tiêu nghiên cứu từ nguồn tài liệu trên được lấy
và điền vào phiếu thu thập thông tin (Phụ lục)
2.3.5 Phương pháp phân tích, trình bày và xử lý số liệu