BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI PHẠM HOÀNG CHƯƠNG PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TỒN TRỮ, CẤP PHÁT VÀ SỬ DỤNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG NĂM 2014 LUẬN VĂN DƯỢ
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
PHẠM HOÀNG CHƯƠNG
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TỒN TRỮ, CẤP PHÁT VÀ SỬ DỤNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN AN MINH,
TỈNH KIÊN GIANG NĂM 2014
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI 2015
Trang 2BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
PHẠM HOÀNG CHƯƠNG
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TỒN TRỮ, CẤP PHÁT VÀ SỬ DỤNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN AN MINH,
TỈNH KIÊN GIANG NĂM 2014
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: CK 60 72 04 12
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thanh Hương
HÀ NỘI 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để được hoàn thành luận văn tốt nghiệp dược sĩ chuyên khoa cấp I, tôi đã được Ban Giám hiệu nhà trường và các thầy, cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu
Trước hết, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc nhất đến: Ts Nguyễn Thị Thanh Hương giảng viên
trường Đại học Dược Hà Nội, đã hướng dẫn, chỉ bảo và truyền đạt kinh nghiệm trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Xin trân trọng cản ơn Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo sau Đại học, các thầy cô đã dạy dỗ tận tình và tạo điều kiện cho em được học tập, nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, phòng Kế hoạch tổng hợp, phòng Tổ chức Hành chính, khoa Dược, phòng Kế toán tài vụ, các khoa lâm sàng, cận lâm sàng Bệnh viện đa khoa huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang đã tạo điều kiện cho tôi tham gia khóa học, cung cấp số liệu và đóng góp các ý kiến quý báu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Xin cảm ơn các anh, chị, bạn bè, các đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong thời gian qua
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến gia đình, bạn bè
và những người thân đã luôn chia sẽ, động viên, giúp đỡ tôi trong cuộc sống cũng như trong học tập!
Hà Nội, ngày 11 tháng 9 năm 2015
Học viên
Phạm Hoàng Chương
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tình hình sử dụng thuốc trên thế giới và Việt Nam 3
1.1.1 Trên thế giới 3
1.1.2 Tại Việt Nam 4
1.2 Tình hình sử dụng thuốc trong hệ thống bệnh viện ở Việt Nam 7
1.2.1 Về cơ cấu sử dụng thuốc 7
1.2.2 Về kinh phí sử dụng thuốc 8
1.3 Tồn trữ, cấp phát và sử dụng thuốc 9
1.3.1 Tồn trữ bảo quản thuốc 9
1.3.2 Cấp phát thuốc trong bệnh viện 11
1.4 Bệnh viện đa khoa huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang 15
1.4.1 Quá trình thành lập bệnh viện 15
1.4.2 Cơ cấu nhân lực bệnh viện 16
1.4.3 Chức năng, nhiệm vụ bệnh viện 16
1.4.4 Mô hình tổ chức bệnh viện 19
1.4.5 Mô hình bệnh tật bệnh viện 19
1.4.6 Khoa Dược bệnh viện 21
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 26
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.4 Phương pháp thu thập số liệu 26
2.4.1 Hoạt động tồn trữ, cấp phát thuốc 26
2.4.2 Hoạt động sử dụng thuốc 27
2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 29
2.6 Các biến số nghiên cứu 29
Trang 5Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Thực trạng tồn trữ, cấp phát thuốc tại bệnh viện 31
3.1.1 Thực trạng tồn trữ thuốc 31
3.1.2 Thực trạng cấp phát thuốc 39
3.2 Thực trạng sử dụng thuốc tại bệnh viện 43
3.2.1 Cơ cấu thuốc sử dụng ngoài DMT bệnh viện 43
3.2.2 Cơ cấu thuốc sử dụng theo tác dụng dược lý 44
3.2.3 Cơ cấu thuốc sử dụng theo nguồn góc 46
3.2.4 Cơ cấu sử dụng thuốc theo phương pháp phân tích ABC 49
Chương 4 BÀN LUẬN 54
4.1 Hoạt động tồn trữ, cấp phát thuốc 54
4.2 Hoạt động sử dụng thuốc 59
KẾT LUẬN 66
KIẾN NGHỊ 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Trang 83.18 Tỷ lệ thuốc đơn thành phần và thuốc đa thành phần 47
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân ngày càng cao, đồng nghĩa với việc sử dụng thuốc ngày càng tăng Vì vậy việc sử dụng thuốc không hiệu quả và hợp lý là vấn đề toàn cầu đang quan tâm Sử dụng thuốc không hợp lý sẽ gây nên những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế xã hội, làm tăng đáng kể chi phí cho hoạt động chăm sóc sức khỏe và giảm chất lượng điều trị
Trước tình hình đó Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản quản lý liên quan đến hoạt động tồn trữ, cấp phát và sử dụng thuốc, đặc biệt là tại hệ thống bệnh viện Vì vậy, để đảm bảo đáp ứng tốt hoạt động khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, thuốc đóng một vai trò rất quan trọng và là một trong những yếu tố chủ yếu nhằm đảm bảo mục tiêu sức khỏe cho mọi người
Hoạt động cung ứng thuốc là một trong những hoạt động thường quy của bệnh viện Cung ứng thuốc không đảm bảo kịp thời, đầy đủ và có chất lượng, không những gây lãng phí tiền của, mà còn gây những tác hại đến sức khỏe, thậm chí còn nguy hiểm đến tính mạng người bệnh, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng khám, chữa bệnh của bệnh viện
Trong những năm qua, ngành Dược Việt Nam đã có nhiều tiến bộ đáng ghi nhận Đặc biệt đã đảm bảo cung ứng đủ thuốc có chất lượng cho phòng bệnh và chữa bệnh, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực công tác cung ứng thuốc còn nhiều mặt hạn chế, việc bảo quản, tồn trữ thuốc cũng gặp nhiều khó khăn
Bệnh viện đa khoa huyện An Minh là bệnh viện hạng III trực thuộc
Sở Y tế Kiên Giang có nhiệm vụ khám và điều trị nhân dân trong huyện và một phần các huyện lân cận, mô hình bệnh tật đa dạng và phức tạp, đòi hỏi
Trang 11bệnh viện không ngừng nâng cao chất lượng khám chữa bệnh Trong bối cảnh quỹ bảo hiểm y tế còn eo hẹp, thu nhập người dân chưa cao thì việc quản lý sử dụng thuốc sao cho an toàn, hợp lý, hiệu quả, kinh tế cần phải được đặt lên hàng đầu Vì vậy, việc nâng cao chất lượng hoạt động tồn trữ, cấp phát và sử dụng dụng thuốc, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện là hết sức cần thiết
Với ý nghĩa đó, để góp phần có một cái nhìn tổng quan hơn về hoạt
động này tại bệnh viện, Đề tài: “ Phân tích hoạt động tồn trữ, cấp phát
và sử dụng thuốc tại Bệnh viện đa khoa huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang năm 2014 ” được thực hiện với hai mục tiêu sau:
1 Mô tả hoạt động tồn trữ, cấp phát thuốc tại Bệnh viện đa khoa huyện An Minh năm 2014
2 Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại Bệnh viện đa khoa huyện
An Minh năm 2014
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Tình hình sử dụng thuốc trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Trên thế giới
Theo báo cáo của WHO, chi phí sử dụng thuốc bình quân đầu người trên thế giới trong năm 2005/2006 dao động trong khoảng từ 7,61 USD ở các nước có thu nhập thấp đến 431,6 USD ở các nước có thu nhập cao và ngay trong mỗi quốc gia thì chi phí dành cho dược phẩm cũng có mức dao động đáng kể giữa các nhóm thu nhập trong xã hội Mức chi phí đang ngày càng tăng và mức tăng chi phí xảy ra mạnh hơn ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình Cũng tại nhóm các nước này từ năm 1995 trở lại đây, chi phí sử dụng thuốc ở khối tư nhân đều tăng lên [34] Theo thống kê của công ty nghiên cứu thị trường IMS Health, trong năm 2010, bình quân tiền thuốc sử dụng trên đầu người trên toàn thế giới là 125 USD/người/năm [16] Thống kê cũng cho thấy nhóm 16% dân số sống ở các nước thu nhập cao trên thế giới có chi phí sử dụng thuốc chiếm tới 78% chi phí sử dụng thuốc toàn cầu
Tổng chi tiêu dược phẩm (Total Pharmaceutical Expenditure - TPE) chiếm trung bình khoảng 1,5% tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product - GDP) tuy nhiên tỷ lệ này cũng có biến động đáng kể giữa các quốc gia dao động từ mức 0,2% đến 3,8% So sánh TPE với THE (Total Health Expenditure - tổng chi cho y tế) cũng có sự khác biệt giữa các nước
Ở các nước có thu nhập bình quân đầu người thấp, tỷ lệ chi cho thuốc trên tổng chi phí cho y tế thường cao hơn Giá trị TPE/THE dao động từ 7,7% đến 67,6% và trung bình ở mức 24,9% TPE được xác định thông qua giá
và số lượng của các loại dược phẩm được tiêu thụ Ở các quốc gia có mặt bằng giá thuốc thấp và tổng chi phí sử dụng thuốc đầu người cao thì việc sử
Trang 13dụng thuốc hợp lý là một giải pháp trọng tâm để kiểm soát TPE và sự tăng trưởng của nó Việc xây dựng thêm các chính sách về kiểm soát giá thuốc
là cần thiết nhằm đảm bảo sự công bằng trong tiếp cận và sử dụng thuốc [34] Vì thế trong mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG) đã đề cập đến
sự cam kết có tính toàn cầu nhằm đảm bảo việc tiếp cận các loại thuốc thiết yếu với giá cả hợp lý và cần phải đạt được vào năm 2015 Để hoàn thành được mục tiêu này, việc tăng cường nguồn chi cho dược phẩm là cần thiết tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình Điều này có thể đạt được thông qua tăng mức độ bao phủ của BHYT hoặc tăng chi tiêu công dành cho dược phẩm
1.1.2 Tại Việt Nam
Theo WHO, tại Việt Nam, tổng chi y tế so với GDP đã tăng dần qua các năm trong giai đoạn 1998 - 2008, trong đó luôn đạt mức >5% sau năm
2000 và đạt 6,2% GDP năm 2007 Nếu so sánh thì tốc độ tăng chi tiêu y tế hằng năm bình quân đạt 8,8% cao hơn so với tốc độ phát triển của GDP (7,2%) [3] Theo WHO thì nếu tổng chi cho y tế đạt 4-5% so với GDP thì
đã đảm bảo được mục tiêu chăm sóc sức khỏe nhân dân [27] Tuy nhiên chi công (từ ngân sách nhà nước, BHYT và nguồn ODA) chỉ chiếm 30% [3]
Tỷ trọng như vậy là thấp so với các nước có thu nhập thấp và trung bình trên thế giới So sánh với các nước châu Á, tỷ lệ chi phí so với GDP của Việt Nam có cao hơn tuy nhiên GDP lại thấp hơn nhiều so với các nước như Thái Lan, Malaisia, Trung Quốc, Hàn Quốc Vì vậy mà chi tiêu cho y
tế của Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước kể trên [35]
Trang 14Bảng 1.1 Chi phí y tế theo GDP ở một số nước châu Á năm 2010 [35]
Bảng 1.2 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu kinh tế ngành dược
Việt nam 2009-2012 [28]
Tổng giá trị tiền thuốc
Tổng giá thuốc sản xuất
Trang 15Tổng giá thuốc nhập
Tiền thuốc bình quân
Tiền thuốc bình quân đầu người tăng từ 19,77 USD năm 2009 lên 29,50 USD năm 2012, tăng khảng 1,5 lần, tổng giá trị tiền thuốc cũng tăng với tỷ lệ tương ứng Cho thấy nhu cầu sử dụng thuốc của người dân tăng rất nhanh và sẽ còn tiếp tục tăng nhanh trong những năm tới
Ngành Dược Việt Nam trong những năm qua cũng đã có sự phát triển vượt bậc trong lĩnh vực công nghiệp Dược Theo số liệu của Cục Quản lý Dược, hiện có khoảng 22.615 số đăng ký thuốc lưu hành còn hiệu lực, trong đó có 11.923 số đăng ký thuốc nước ngoài với khoảng 1.000 hoạt chất và 10.692 số đăng ký thuốc sản xuất trong nước với khoảng 500 hoạt chất [10] Thuốc của các đơn vị sản xuất trong nước đã góp phần đảm bảo nhu cầu thuốc thiết yếu và bình ổn thị trường thuốc tại Việt Nam, giảm áp
áp lực và làm đối trọng với các thuốc nhập khẩu Giá trị thuốc sản xuất trong nước hiện chiếm khoảng 50% tổng giá trị sử dụng hiện tại, nhưng thực tế sử dụng trong khối điều trị thì thuốc Việt Nam mới được sử dụng khoảng 38,7% Tổng số tiền mua thuốc năm 2010 theo thống kê của 1.018 bệnh viện là 15 nghìn tỷ đồng, tăng 22,4% so với năm 2009, trong đó tỷ lệ tiền thuốc sản xuất trong nước chiếm 38,7% tăng nhẹ so với năm 2009 (38,2%) [16],[20]
1.2 Tình hình sử dụng thuốc trong hệ thống bệnh viện ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hệ thống bệnh viện công lập đóng vai trò xương sống trong hệ thống y tế Vấn đề đề sử dụng thuốc trong hệ thống bệnh viện cũng là một trong những mối quan tâm hàng đầu của quốc gia
1.2.1 Về cơ cấu sử dụng thuốc
Trang 16Về cơ cấu sử dụng thuốc trong bệnh viện theo nhóm tác dụng dược
lý thì năm 2010 tỷ lệ tiền thuốc kháng sinh trong tổng số tiền thuốc sử dụng vẫn chiếm tới 37,7% tuy có giảm nhẹ so với năm 2009 (38,4%) [5] Theo một nghiên cứu năm 2009 tại 36 bệnh viện ở các tuyến TW, tỉnh, huyện trên cả nước, nhóm thuốc kháng khuẩn có tỷ trọng lớn nhất tại tất cả các bệnh viện với tỷ lệ trung bình là 32,5%, cao nhất tại tuyến huyện với 43,1%, thấp nhất tại tuyến tỉnh với 25,7% Kết quả này phù hợp với MHBT của Việt Nam về tỷ lệ các bệnh nhiễm trùng Tuy nhiên kết quả phân tích nghiên cứu cũng cho thấy sự bất hợp lý trong cách lựa chọn và sử dụng thuốc kháng sinh tại các bệnh viện: 47 thuốc kháng sinh nhóm A của bệnh viện Chợ Rẫy chiếm tỷ lệ 35,7% về giá trị sử dụng trong nhóm A Trong đó hoạt chất Prepenem có 5 biệt dược, chiếm tỷ trọng 21,4%; hoạt chất Cefoperazone có 9 biệt dược, chiếm tỷ trọng 19,2%; hoạt chất Ceftazidime
có 6 biệt dược, chiếm tỷ trọng 13,9%; hoạt chất Imipenem có 5 biệt dược chiếm 6,6%
Trong những năm qua, các bệnh lây nhiễm tại Việt Nam có xu hướng giảm dần Hiện ước tính bệnh này chỉ chiếm 25% tổng số bệnh tật tại Việt Nam, song nhu cầu và thực trạng sử dụng kháng sinh lại không hề giảm và ngày càng gia tăng [28] Các bệnh nhiễm khuẩn đường tiêu hóa, đường hô hấp, các bệnh lây truyền qua đường tình dục và nhiễm khuẩn bệnh viện là các nguyên nhân hàng đầu gây tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong cao ở
cả Việt Nam và các nước đang phát triển Việc kiểm soát các loại bệnh này
đã và đang chịu sự tác động bất lợi của sự phát triển và lan rộng tình trạng kháng thuốc Thực tế tại Việt Nam cho thấy, hầu hết các bệnh viện đang phải đối mặt với tốc độ lan rộng của các vi khuẩn kháng với nhiều loại kháng sinh [15]
Tỷ lệ sử dụng vitamin, dịch truyền và corticoid trong cơ cấu sử dụng thuốc giảm so với cùng kỳ năm 2009 Vitamin giảm từ 6,5% năm 2009
Trang 17xuống còn 4,7% năm 2010 Đây là tín hiệu đáng mừng trong công tác sử dụng thuốc hợp lý Tuy nhiên, còn một số đơn vi, đặc biệt là tuyến tỉnh, huyện chưa chú trọng làm tốt công tác này gây tăng chi phí không cần thiết cho người bệnh [5],[16]
1.2.2 Về kinh phí sử dụng thuốc
Theo các báo cáo, kinh phí sử dụng thuốc trong bệnh viện thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng ngân sách của một bệnh viện, nó có thể chiếm tỷ trọng tới 40-60% đối với các nước đang phát triển Tuy nhiên, tại Việt Nam, thực tế con số này cao hơn nhiều Theo báo cáo kết quả công tác khám chữa bệnh năm 2010 của Cục quản lý khám chữa bệnh - Bộ Y tế, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong bệnh viện chiếm tỷ trọng 58,7% tổng giá trị tiền viện phí hàng năm trong bệnh viện [8]
Để quản lý kinh phí sử dụng thuốc một cách hiệu quả cần có các phương pháp phân tích dữ liệu tổng hợp sử dụng thuốc Một trong những phương pháp đề xuất được xem như là công cụ hỗ trợ cho việc quản lý kinh phí sử dụng thuốc đó là phương pháp phân tích ABC Phương pháp phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn lớn trong ngân sách Phân tích ABC là một công cụ cực kỳ mạnh mẽ trong lựa chọn, mua sắm và sử dụng thuốc hợp lý để có được bức tranh chính xác
và khách quan về kinh phí sử dụng thuốc Phân tích ABC có nhiều lợi ích trong lựa chọn thuốc, phân tích được thuốc nhóm A có chi phí cao, các thuốc này có thể được thay thế bởi các thuốc rẻ hơn
Trong các nghiên cứu về sử dụng thuốc hiện nay, việc sử dụng phương pháp phân tích ABC được sử dụng rất phổ biến Tại bệnh viện 115, năm 2012, kết quả nghiên cứu ABC cho thấy về số lượng chủng loại thuốc
3 nhóm A, B, C chiếm tỷ lệ lần lượt là: 9,2%, 16,9% và 73,9% [28] Tại bệnh viện Phổi Trung ương năm 2009, tỷ lệ về số lượng thuốc nhóm A là
Trang 188,17% [8] Nhìn chung kết quả đều cho thấy, tại các bệnh viện ở Việt Nam, nhóm A là nhóm có giá trị tiêu thụ lớn 70-80% nhưng lại chỉ tập trung ở một số lượng rất ít thuốc (<10%) Trong phân nhóm A nhóm thuốc điều trị
ký sinh trùng và nhiễm khuẩn luôn chiếm tỷ lệ cao về giá trị tiêu thụ và số lượng tiêu thụ Tại bệnh viện Hữu Nghị, tỷ lệ về giá trị tiêu thụ thuốc nhóm này chiếm 27,8% còn bệnh viện Nhi Trung ương, tỷ lệ này lên tới 44,6% [18] Các nhóm thuốc tiếp theo cũng có số lượng tiêu thụ khá lớn là các nhóm thuốc có liên quan đến các bệnh không lây nhiễm như: nhóm thuốc ung thư, nhóm thuốc tim mạch, nhóm hormon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết
1.3 Tồn trữ, cấp phát và sử dụng thuốc
1.3.1 Tồn trữ và bảo quản thuốc: [2], [22], [23]
Tồn trữ, bảo quản bao gồm cả quá trình xuất nhập kho, quá trình kiểm tra, kiểm kê, dự trữ và các biện pháp kỹ thuật bảo quản thuốc Thực hiện nghiêm túc quy chế dược về quản lý, bảo quản, kiểm nhập thuốc, theo dõi hạn dùng của thuốc Tất cả các khoa trong bệnh viện có sử dụng thuốc đều phải thực hiện các quy chế Dược
Trách nhiệm của khoa Dược là hướng dẫn bác sĩ, y tá thực hiện nghiêm túc các quy chế này và thường xuyên kiểm tra việc thực hiện các quy chế Dược tại bệnh viện
Để đảm bảo chất lượng thuốc trong quy trình tồn trữ đòi hỏi khoa Dược phải có cơ sở vật chất đáp ứng các yêu cầu về bảo quản thuốc, có quy trình thực hành bảo quản thuốc tốt trong khoa Dược
Kho thuốc phải được thiết kế đúng quy định
Đảm bảo thực hiện 5 chống
Đảm bảo thực hiện các quy chế quản lý đối với thuốc gây nghiện, hướng tâm thần, theo đúng quy chế do Bộ Y tế ban hành [3],[4] Các loại thuốc đều phải đảm bảo được quản lý, giám sát đầy đủ về nguồn gốc xuất
Trang 19xứ, số đăng ký lưu hành, số lô, hạn dùng, phiếu kiểm nghiệm, chất lượng cảm quan Bệnh viện đa khoa huyện An Minh là một bệnh viện đa khoa, do
đó số lượng và chủng loại các mặt hàng rất lớn, nên muốn giám sát đầy đủ đòi hỏi phải ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý kho thuốc để có thể tra cứu chính xác và kịp thời thông tin các mặt hàng thuốc đã nhập vào kho Dược
1.3.1.1 Hoạt động quản lý nghiệp vụ kho:
Trước khi thuốc nhập vào kho, Hội đồng kiểm nhập có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát và tiếp nhận thuốc vào kho theo đúng quy định Phải kiểm tra lô sản xuất, hạn dùng, phiếu kiểm nghiệm, đảm bảo nhập kho đúng chủng loại, quy cách đóng gói, số lượng, chất lượng
Hình 1.1 Hệ thống kho thuốc
1.3.1.2 Sắp xếp thuốc trong kho:
Sắp xếp theo độc tính: thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần, thuốc thường
Sắp xếp theo tác dụng dược lý: thuốc gây tê, thuốc gây mê, thuốc chống dị ứng, thuốc chống nhiễm khuẩn, thuốc tim mạch, thuốc tiêu hóa…
Sắp xếp theo dạng bào chế: thuốc viên, thuốc tiêm…
Sắp xếp theo đường dùng: thuốc uống, thuốc tiêm, thuốc dùng ngoài
1.3.1.3 Quản lý hàng tồn kho:
Khoa Dược
Kho chính
Trang 20Xây dựng cơ số tồn kho hợp lý là bài toán đảm bảo cung ứng kịp thời cho nhu cầu điều trị, đồng thời đảm bảo tính kinh tế Không để thuốc tồn đọng quá nhiều, quá lâu, ảnh hưởng đến công tác bảo quản và tồn đọng một lượng tiền lớn trong điều kiện kinh phí còn hạn hẹp Theo một số tài liệu lượng thuốc tồn kho tại kho dược phải đảm bảo sử dụng khoảng 2-3 tháng thuốc của bệnh viện [24]
1.3.2 Cấp phát thuốc trong bệnh viện:
Trong bệnh viện, cấp phát thuốc cho bệnh nhân do khoa Dược đảm nhiệm Thuốc sau khi dán nhãn đầy đủ sẽ được cấp phát cho bệnh nhân ngoại trú hoặc đưa lên các khoa điều trị nội trú để bệnh nhân sử dụng Mặc
dù có một số điểm khác nhau trong cấp phát thuốc cho bệnh nhân nội trú và bệnh nhân ngoại trú, nhưng cả hai đều phải tuân theo một số quy tắc bắt buộc là “ba kiểm tra, ba đối chiếu” [7], [9], [6]
Tên thuốc ở đơn, phiếu và nhãn
Nồng độ, hàm lượng thuốc trong đơn, phiếu với số lượng thuốc sẽ giao
Số lượng, số khoản thuốc sẽ giao
Trang 211.3.2.1 Đối với bệnh nhân ngoại trú:
Đối với bệnh nhân ngoại trú, chu trình gồm 6 bước chính
Hình 1.2 Chu trình cấp phát thuốc ngoại trú
Tiếp nhận và xác nhận đơn thuốc: người tiếp nhận đơn phải xác nhận đầy đủ và kiểm tra lại họ và tên của bệnh nhân sử dụng thuốc
Hiểu và phân tích đơn: bao gồm đọc đơn thuốc, xác định đúng tên các loại thuốc trong đơn, hiểu một cách chính xác các chữ viết tắt của người kê đơn, kiểm tra liều lượng, tính toán chính xác liều lượng và số lượng các thuốc trong đơn
Tất cả các tính toán nên được kiểm tra hai lần bởi người cấp phát hoặc bởi một nhân viên khác, vì nếu tính toán sai về liều lượng thuốc có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho bệnh nhân
Chuẩn bị các thuốc được phát: gồm các thủ tục tự kiểm tra, tính toán lại để đảm bảo độ chính xác, cũng như các nội dung theo quy định của thuốc cấp phát lẻ Đóng gói và dán nhãn thuốc (tùy theo dạng thuốc đóng gói cho phù hợp)
Ghi lại công việc: Việc ghi lại các thuốc trong đơn được cấp phát có thể được sử dụng để hồi cứu nhằm xác minh các thuốc đã cấp phát cho bệnh nhân, từ đó góp phần theo dõi bất kỳ vấn đề nao liên quan tới các loại thuốc đã cấp phát sử dụng cho bệnh nhân
Tiếp nhận,
xác nhận
đơn thuốc
Hiểu và phân tích đơn thuốc
Chuẩn bị, dán nhãn cho các gói thuốc
Cấp thuốc và
hướng dẫn
sử dụng
Kiểm tra lại trước khi cấp
Ghi lại công việc
Trang 22Thực hiện kiểm tra lần cuối trước khi cấp phát: kiểm tra cuối cùng bao gồm việc đọc và giải thích các thuốc trong đơn
Phát thuốc cho bệnh nhân với các hướng dẫn và lời khuyên rõ ràng: cảnh báo về tác dụng không mong muốn thường gặp cho bệnh nhân trước khi sử dụng thuốc như: buồn nôn, tiêu chảy, màu sắc nước tiểu thay đổi… còn đối với tác dụng không mong muốn nghiêm trọng chỉ nên thông báo trực tiếp cho bệnh nhân sau khi tham khảo ý kiến của người kê đơn, những người có tính đến rủi ro cho bệnh nhân khi kê thuốc vì nó có thể làm ảnh hưởng tới tâm lý người bệnh từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị Có một thực tế đa phần các cơ sở y tế Việt Nam, người hướng dẫn sử dụng trực tiếp là bác sĩ và thường được ghi ngay trong đơn thuốc, đây là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả điều trị của bệnh nhân ngoại trú vì thường không đầy đủ, rõ ràng
1.3.2.2 Đối với bệnh nhân nội trú:
Chu trình cấp phát thuốc cho các bệnh nhân nội trú tại khoa Dược được khái quát gồm các giai đoạn như sau:
Hình 1.3 Chu trình cấp phát thuốc nội trú
Cấp phát thuốc cho bệnh nhân nội trú khác với cấp phát thuốc cho bệnh nhân ngoại trú, thuốc của bệnh nhân nội trú được điều dưỡng tổng hợp theo từng khoa rồi mới gửi xuống cho khoa Dược Cho nên hai điểm khác biệt chính giữa cấp phát thuốc nội trú và ngoại trú là:
Nhận phiếu tổng
hợp thuốc của các
khoa lâm sàng
Duyệt phiếu lĩnh thuốc
Chuẩn bị thuốc
Vào thẻ kho
cấp phát
hàng ngày
Cấp phát tới khoa lâm sàng
Kiểm tra đối chiếu
Trang 23Duyệt phiếu lĩnh thuốc: Sau khi tiếp nhận phiếu lĩnh thuốc của các khoa lâm sàng, nhân viên khoa dược có nhiệm vụ kiểm tra lại và duyệt thuốc, người duyệt thuốc phải từ dược sĩ đại học được ủy quyền trở lên
Cấp phát tới khoa lâm sàng: Tùy thuộc vào điều kiện nhân lực của đơn vị, khoa dược đưa thuốc tới khoa lâm sàng hoặc khoa lâm sàng nhận thuốc tại khoa dược theo quy định của giám đốc bệnh viện Khoa dược từ chối cấp phát thuốc trong các trường hợp phiếu lĩnh, đơn thuốc có sai sót; thông báo lại với bác sĩ kê đơn và bác sĩ ký duyệt; phối hợp với bác sĩ lâm sàng trong việc điều chỉnh đơn thuốc hoặc thay thế thuốc Thuốc sau khi được điều dưỡng khoa nhận đủ sau đó chia cho từng bệnh nhân theo chỉ định thuốc hàng ngày của bác sĩ trong HSBA[4], [6]
- Phải có phiếu lĩnh thuốc đúng quy định
- Nhận thuốc phải kiểm tra chất lượng thuốc, hàm lượng, số lượng, đối chiếu với phiếu lĩnh thuốc và ký xác nhận đủ vào phiếu lĩnh
- Lĩnh thuốc xong phải đưa thuốc về khoa điều trị và bàn giao cho điều dưỡng chăm sóc, để thực hiện theo y lệnh
Dược sĩ khoa dược thực hiện:
- Phải phát thuốc hàng ngày và thuốc bổ sung theo y lệnh
Trang 24- Thuốc nhập kho phải đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn quy định
- Có trách nhiệm cùng với bác sĩ điều trị hướng dẫn và thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả và kinh tế
- Phải thông báo kịp thời những thông tin về thuốc mới: tên thuốc, thành phần tác dụng dược lý, tác dụng phụ, liều dùng áp dụng điều trị và giá thành
Trước khi cấp phát thuốc phải thực hiện:
+ Tên thuốc ở đơn, phiếu và nhãn
+ Nồng độ, hàm lượng thuốc ở đơn, phiếu với số thuốc sẽ giao
+ Số lượng, số khoản thuốc ở đơn, phiếu với số thuốc sẽ giao [9]
1.4 Bệnh viện đa khoa huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
1.4.1 Quá trình thành lập
Bệnh viện đa khoa huyện An Minh được chia tách từ Trung tâm y tế huyện An Minh và được thành lập theo Quyết định số 1882/QĐ-UBND ngày 20/11/2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang về việc thành lập Bệnh viện đa khoa các huyện, thị xã, là bệnh viện hạng III, với quy mô giường bệnh hiện nay là 170 giường (thực kê 180 giường)
Sau 8 năm đi vào hoạt động số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện có xu hướng tăng Theo thống kê năm 2014 bệnh viện khám điều trị ngoại trú cho 155.668 lượt bệnh nhân đạt 112% kế hoạch được giao; 15.221 lượt bệnh nhân điều trị nội trú đạt 118 % kế hoạch được giao
Trang 251.4.2 Cơ cấu nhân lực của Bệnh viện năm 2014
Bảng 1.3 Cơ cấu nhân lực Bệnh viện đa khoa huyện An Minh năm 2014
Trang 26Đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện tuyến tỉnh
Bệnh viện có tư cách pháp nhân, có trụ sở, có con dấu và tài khoản riêng
1.4.3.2 Nhiệm vụ
Cấp cứu, khám bệnh và chữa bệnh
- Tiếp nhận tất cả các trường hợp người bệnh từ ngoài vào hoặc từ các cơ sở y tế chuyển đến để cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú hoặc ngoại trú;
- Tổ chức khám sức khỏe và chứng nhận sức khỏe theo quy định của nhà nước;
- Có trách nhiệm giải quyết toàn bộ bệnh thông thường về nội khoa
và các trường hợp cấp cứu về ngoại khoa;
- Tổ chức giám định sức khỏe, khám giám định pháp y khi Hội đồng giám định y khoa tỉnh hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật trưng cầu;
- Tổ chức chuyển cho người bệnh lên tuyến trên khi vượt quá khả năng của bệnh viện
Đào tạo cán bộ:
- Bệnh viện là cơ sở thực hành cho các trường, lớp trung học y tế;
- Tổ chức đào tạo liên tục cho các thành viên trong bệnh viện và cơ
sở y tế tuyến dưới để nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng quản lý chăm sóc sức khỏe ban đầu
Nghiên cứu khoa học về y tế:
- Tổ chức tổng kết, đánh giá các đề tài và chương trình về chăm sóc sức khỏe ban đầu;
- Tham gia các công trình nghiên cứu về y tế cộng đồng và dịch tễ học trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cấp Bộ và cấp cơ sở;
Trang 27- Nghiên cứu áp dụng y học cổ truyền và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc;
Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật:
- Lập kế hoạch chỉ đạo tuyến dưới thực hiện các phác đồ chẩn đoán
Quản lý kinh tế về bệnh viện:
- Có kế hoạch sử dụng có hiệu quả ngân sách nhà nước cấp và các nguồn kinh phí khác;
- Tạo thêm nguồn kinh phí từ các dịch vụ y tế: viện phí, BHYT, đầu
tư của nước ngoài và các tổ chức kinh tế;
- Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của nhà nước về thu, chi ngân sách của bệnh viện, từng bước hạch toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh
Trang 281.4.4 Mô hình tổ chức của bệnh viện
Hình 1.4 Sơ đồ tổ chức Bệnh viện đa khoa huyện An Minh
1.4.5 Mô hình bệnh tật của Bệnh viện đa khoa huyện An Minh năm
Khoa Nhiễm Khoa
PT-GMHS
Trang 29Bảng 1.4 Mô hình bệnh tật của Bệnh viện đa khoa huyện An Minh
năm 2014
Bệnh nhiễm khuẩn và kí sinh
Bệnh nội tiết, dinh dưỡng
Các bệnh khác
F99, G00-G99,P00-P96
Qua bảng thống kê mô hình bệnh tật tại bệnh viện năm 2014 cho thấy các bệnh không lây nhiễm chiếm tỷ lệ khá cao Cao nhất là bệnh tiêu
Trang 30hóa với 33,4%, tiếp theo là nhóm bệnh tuần hoàn, hô hấp Điều này cũng tương tự với số liệu về MHBT trong báo cáo chung tổng quan ngành y tế của Bộ Y tế Báo cáo nêu rõ: xu hướng tỷ trọng các bệnh không lây nhiễm đang ở mức cao, nếu tỷ lệ này năm 1996 là 50%, năm 2006 đã tăng lên 62% và chỉ sau 4 năm, năm 2010, tỷ lệ đã là 72% [12]
1.4.6 Khoa Dược bệnh viện đa khoa huyện An Minh
Trang 31- Bảo quản thuốc theo đúng nguyên tắc “Thực hành tốt bảo quản thuốc”;
- Tổ chức pha chế thuốc, hóa chất sát khuẩn;
- Thực hiện công tác duộc lâm sàng, thông tin tư vấn về sử dụng thuốc, tham gia công tác cảnh giác dược, theo dõi báo cáo thông tin liên quan tới phản ứng có hại của thuốc;
- Quản lý, theo dõi việc thực hiện các quy định chuyên môn về dược tại các khoa trong bệnh viện;
- Nghiên cứu và đào tạo: là cơ sở thực hành về dược của các trường cao đẳng, trung cấp về dược;
- Phối hợp với các khoa lâm sàng theo dõi kiểm tra giám sát việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, đặc biệt là sử dụng kháng sinh và theo dõi tình hình kháng kháng sinh trong bệnh viện;
- Tham gia hội chẩn khi có yêu cầu;
- Tham gia theo dõi kinh phí sử dụng thuốc;
- Quản lý hoạt động của nhà thuốc bệnh viện theo đúng quy định
Trang 32Mô hình tổ chức khoa Dược Bệnh viện đa khoa huyện An Minh
Hình 1.5 Sơ đồ tổ chức khoa Dược Bệnh viện đa khoa huyện An Minh
Cơ cấu nhân lực khoa Dược bao gồm: 1 trưởng khoa, 2 phó trưởng khoa, Tùy theo khả năng và tình hình cụ thể của từng bệnh viện thường cần
có DSĐH ở các bộ phận sau:
- Nghiệp vụ dược;
- Khoa và cấp phát nội trú, cấp phát ngoại trú;
- Thống kê dược;
- Dược lâm sàng, thông tin thuốc;
- Quản lý hoạt động nhà thuốc bệnh viện
Tuy nhiên, hiện nay cán bộ dược nói chung hay dược sĩ đại học nói riêng chưa phù hợp với công việc, chức năng nhiệm vụ của khoa dược Bên cạnh đó sự phân bố đối với các tuyến, các cấp cũng có nhiều bất cập Với các yêu cầu phát triển công tác chăm sóc người bệnh toàn diện, khoa dược tăng cường hoạt động dược lâm sàng, thông tin thuốc, hướng dẫn sử dụng
Tổ Thống kê
Tổ Dược chính
Đơn
vị Thông tin thuốc, DLS
Nhà thuốc Bệnh viện
Trang 33thuốc thì số lượng biên chế và chất lượng nhân lực chưa đảm bảo Khoa dược chưa thay đổi về số biên chế qua nhiều năm nhưng nhu cầu về thuốc liên tục phát triển Các dược sĩ đại học tại các bệnh viện chưa được đào tạo chuyên sâu về công tác dược bệnh viện như: dược lâm sàng, quản lý dược bệnh viện… nên gặp nhiều khó khăn trong phát triển chuyên môn, đây là những vấn đề bức xúc cần giải quyết [29]
1.4.6.4 Hoạt động thông tin thuốc và dược lâm sàng
Tại Việt Nam hiện nay hoạt động thông tin thuốc và dược lâm sàng dường như còn rất kém hiệu quả Tại các bệnh viện, một trong những chức năng và nhiệm cụ củ HĐT&ĐT theo dõi và giám sát ADR cũng như quản
lý đơn vị thông tin thuốc Ngày 13/11/2013 Cục quản lý khám chữa bệnh
đã có Công văn số 1766/YT-ĐTr về việc hướng dẫn tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của đơn vị TTT trong bệnh viện Công văn số 3483/YT-ĐTr của
Bộ Y tế ngày 19/5/2004 một lần nữa hướng dẫn các bệnh viện trên toàn quốc thành lập đơn vị TTT Từ đó, hoạt động TTT và theo dõi ADR đã được các bệnh viện trên toàn quốc đưa vào hoạt động Ngày 24/3/2009 Bộ
Y tế đã ban hành Quyết định số 991 thành lập Trung tâm quốc gia về TTT
và theo dõi ADR đặt tại Đại học Dược Hà Nội cũng đã đóng góp ý nghĩa rất quan trọng và là một bước ngoặc lớn trong hoạt động DLS tại Việt Nam
Hoạt động của các đơn vị TTT tại các bệnh viện với những hình thức thu thập, lưu trữ và xử lý TTT đã một phần nào làm cho việc dùng thuốc của các bệnh viện đi vào quỹ đạo, đem lại hiệu quả trong các phác đồ điều trị, giúp sử dụng thuốc được tốt hơn, phòng tránh, khắc phục những ADR trong quá trình dùng thuốc Tuy nhiên hoạt động TTT muốn làm tốt, cần có những yêu cầu tối thiểu về cơ sở vật chất, nhân lực, đặc biệt là thay đổi nhận thức trong hoạt động TTT Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào TTT kể cả các bệnh viện lớn đầu ngành cũng còn hết sức chậm
Trang 34chạp Theo báo cáo của Trung tâm TTT&ADR Quốc gia, điều tra tại 14 bệnh viện lớn và 6 Trường Đại học Y Dược ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Huế, Thái Nguyên thì nguồn thông tin chủ yếu của cán bộ y tế Việt Nam vẫn là tra cứu trong các sách và tạp chí như: Dược thư Quốc gia, VIDAL, MINS, thông tin DLS, dược học… Tỷ lệ các cán bộ y tế sử dụng phần mềm và các Website khoa học uy tín để tra cứu thông tin rất thấp Chính vì vậy mà thông tin thường chậm, không cập nhật và hiệu quả không cao Bên cạnh đó, hiện nay khoa dược các bệnh viện được giao rất nhiều nhiệm vụ, kể cả việc phải vận chuyển một khối lượng thuốc lớn xuống buồng bệnh trong khi nhân lực dược rất thiếu đã làm cho công tác DLS cũng như TTT gặp rất nhiều khó khăn Các bệnh viện đã thiếu dược sĩ, lại chưa được đào tạo cập nhật về DLS, TTT, từ đó ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả cũng như chất lượng thông tin và phương pháp TTT
Trang 35Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Dược sĩ cấp phát thuốc;
- Dược sĩ thủ kho thuốc;
- Danh mục thuốc sử dụng năm 2014;
- Bệnh nhân, người nhà bệnh nhân;
- Bác sỹ, điều dưỡng
2.2 Thời gian - địa điểm nghiên cứu:
- Thời gian: Từ ngày 01/01/2014 đến ngày 31/12/2014
- Địa điểm: Bệnh viện đa khoa huyện An Minh
2.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp mô tả cắt ngang
- Phương pháp Hồi cứu hồ sơ, báo cáo tổng kết công tác bệnh viện, báo cáo công tác dược, báo cáo tài chính, danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện năm 2014, các tài liệu văn bản liên quan đến hoạt động sử dụng thuốc của bệnh viện
2.4 Phương pháp thu thập số liệu
2.4.1 Hoạt động tồn trữ, cấp phát thuốc
Hồi cứu lại hồ sơ sổ sách xuất nhập, tồn, số liệu, ghi lại các văn bản
và các hoạt động liên quan đến việc tồn trữ, bảo quản, cấp phát thuốc để phân tích một số chỉ số tại khoa Dược:
- Mô hình quản lý và bảo quản thuốc
Trang 36Các chỉ số khảo sát trên 30 bệnh nhân:
- Thời gian quan sát: từ ngày 10/11-14/11/2014
- Mẫu quan sát: 30 bệnh nhân ngoại trú tại kho cấp phát thuốc lẻ
ngoại trú
- Phương pháp chọn mẫu: mỗi ngày quan sát 06 bệnh nhân bắt đầu từ
8 giờ, cứ 30 phút quan sát và phỏng vấn 01 bệnh nhân với 100% các thuốc
có trong đơn
- Sử dụng đồng hồ bấm giây để tính thời gian nhận thuốc của bệnh nhân: kể từ khi bệnh nhân cầm đơn/sổ khám bệnh đưa vào quầy cấp phát và dược sĩ cấp phát cầm đơn/sổ khám bệnh cho đến khi bệnh nhân nhận thuốc
và đi ra khỏi quầy cấp phát thuốc ngoại trú, sau đó tiến hành phỏng vấn bệnh nhân, làm như thế đến khi đủ 06 bệnh nhân trong ngày
- Sử dụng phiếu khảo sát bệnh nhân lĩnh thuốc, từ các thông tin ở
phiếu, tổng hợp được các chỉ số
Dựa vào bảng theo dõi nhiệt độ và độ ẩm của các kho Lấy ngẫu nhiên 5 ngày theo dõi nhiệt độ, độ ẩm vào các ngày: 1,8,15,22 và 29 hàng tháng trong sổ theo dõi nhiệt độ và độ ẩm của các kho thuốc Khi đó trong
1 tháng có các ngày được bảo đảm điều kiện nhiệt độ và độ ẩm được trình bày tại phục lục 1 (theo quy định buổi sáng theo dõi nhiệt độ, độ ẩm vào lúc 8h, buổi chiều lúc 13h) Như vậy trong 12 tháng có 60 ngày được theo dõi nhiệt độ và độ ẩm tại các kho: Kho chính, kho cấp phát lẻ ngoại trú, kho cấp phát lẻ nội trú của khoa Dược Bệnh viện đa khoa huyện An Minh:
- Đảm bảo điều kiện nhiệt độ bảo quản thuốc
- Đảm bảo điều kiện độ ẩm bảo quản thuốc
2.4.2 Hoạt động sử dụng thuốc
Hồi cứu báo cáo sử dụng thuốc tại bệnh viện năm 2014, báo cáo công tác khám chữa bệnh của bệnh viện năm 2014, phần mềm quản lý sử dụng thuốc
Trang 37Thu thập thông tin chi tiết (tên biệt dược, tên hoạt chất, hàm lượng, dạng bào chế, đơn vị tính, quy cách đóng gói, nhà sản xuất, nước sản xuất đơn giá, số lượng) của toàn bộ thuốc tân dược sử dụng tại Bệnh viện đa khoa huyện An Minh năm 2014 từ các thông tin chi tiết từ phần mềm quản
lý nhập - xuất - tồn của bệnh viện
Đánh giá thuốc sử dụng theo cơ cấu sau:
- Cơ cấu thuốc sử dụng theo tác dụng dược lý: Phân loại dựa theo
nhóm tác dụng dược lý quy định tại Thông tư số 31/2011/TT-BYT
- Cơ cấu thuốc sử dụng đơn thành phần hay đa thành phần
- Cơ cấu thuốc mang tên gốc hay tên thương mại: Zantac (Ranitidin),
Verospiron (Spironolacton)
- Cơ cấu thuốc sử dụng theo dạng bào chế: Thuốc tiêm - tiêm
truyền, thuốc uống…
Áp dụng phương pháp phân tích ABC đối với phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện năm 2014
Phân tích dựa trên cơ sở báo cáo sử dụng thuốc năm 2014 lưu tại khoa dược Công cụ hỗ trợ phân tích là phần mềm Excell for Windows Các bước tiến hành phân tích như sau:
- Bước 1: Trích xuất các thông tin sau từ báo cáo sử dụng thuốc năm
2014 của Bệnh viện đa khoa huyện An Minh: tên thuốc, đơn vị tính, đơn giá, số lượng sử dụng
- Bước 2: Tính số tiền cho mỗi thuốc bằng cách nhân đơn giá với số
lượng Tổng số tiền sẽ bằng tổng của lượng tiền cho mỗi thuốc
- Bước 3: Tính giá trị % cho mỗi thuốc bằng cách lấy số tiền của mỗi
thuốc chia cho tổng số tiền
- Bước 4: Sắp xếp lại các thuốc theo thứ tự % giảm dần
Trang 38- Bước 5: Tính giá trị % tích lũy của tổng giá trị của mỗi thuốc: bắt
đầu với % giá trị thuốc số 1 sau đó cộng với % giá trị thuốc tiếp theo trong danh sách Tiếp tục tiến hành như vậy cho đến hết
- Bước 6: Phân hạng ABC đối với từng thuốc:
+ Thuốc hạng A: Thuốc có giá trị chiếm 75%-80% so với tổng giá trị tiền thuốc
+ Thuốc hạng B: Thuốc có giá trị chiếm từ 15%- 20% so với tổng giá trị tiền thuốc
+ Thuốc hạng C: Thuốc có giá trị chiếm từ 5%- 10% so với tổng giá trị tiền thuốc
Từ số liệu bảng đã xử lý, tiến hành phân tích:
- Cơ cấu các nhóm thuốc tiêu thụ thuộc hạng A
- Cơ cấu tiêu thụ các phân nhóm kháng sinh thuộc hạng A
2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Microsoft Excel với các kỹ thuật phân tích:
- Phương pháp tính tỷ trọng:
Là phương pháp tính tỷ lệ phần trăm của giá trị số liệu của một hoặc một nhóm đối tượng nghiên cứu Từ đó có thể phân tích được các chỉ tiêu chi tiết cấu thành chỉ tiêu tổng thể
- Phương pháp phân tích ABC: Áp dụng đối với phân tích danh mục
thuốc sử dụng tại bệnh viện năm 2014
2.6 Các biến số nghiên cứu
Trang 39Bảng 2.5 Các biến số nghiên cứu
STT Tên biến Loại biến Định nghĩa biến
Nguồn thu thập
Quan sát trực tiếp
Có: khoản mục thuốc được phát đúng với khoản mục thuốc được
kê trong đơn
Xem trực tiếp
Xem trực tiếp
Có hiểu biết: Nhắc lại được cách dùng thuốc của 100% thuốc trong đơn được lĩnh
Phỏng vấn
Phỏng vấn