Quy hoạch phát triển du lịch sinh thái Đầm Vạc cũng đòi hỏi những yêu cầu nhất định về tiêu chuẩn chất lượng môi trường đất ngập nước vùng Đầm Vạc và các khu vực phụ cận, phải dung hoà g
Trang 11 Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Vùng Đầm Vạc thuộc thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc có tổng diện tích là 3.079,84ha, nằm trong địa giới hành chính 6 xã/phường (Đống Đa, Ngô Quyền, Tích Sơn, Đồng Tâm, Khai Quang và Thanh Trù), trong đó diện tích đất ngập nước là 504,73ha, chiếm 16,39% tổng diện tích toàn vùng Đất ngập nước vùng Đầm Vạc điều hoà khí hậu cho thị xã luôn được mát mẻ, ôn hoà, điều tiết nước mặt, phân lũ cho hạ lưu sông Phan, cung cấp nước tưới cho hàng ngàn ha đất nông nghiệp của thị xã, chứa đựng
và phân giải nước thải toàn lưu vực Đất ngập nước vùng Đầm Vạc có đa dạng sinh học cao, nguồn lợi thuỷ sản dồi dào với những loài cá đặc hữu, là sinh kế của nhiều người dân trong khu vực Theo quy hoạch không gian đến năm 2020 của thị xã, đất ngập nước vùng Đầm Vạc được khai thác theo hướng du lịch sinh thái và nằm trong cụm du lịch Tam Đảo - Tây Thiên - Đầm Vạc - Đại Lải Vì vậy, đất ngập nước vùng Đầm Vạc có vai trò và chức năng quan trọng về môi trường, sinh thái, kinh tế và xã hội
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, đất ngập nước vùng Đầm Vạc đang suy thoái cả về số lượng và chất lượng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các chức năng môi trường và sự "mỏng manh, dễ nhạy cảm" của hệ sinh thái đất ngập nước vùng Đầm Vạc Cho đến nay, hàng chục hecta đất ngập nước đã bị san lấp ồ ạt để chuyển sang mục đích xây dựng, đất ở hay phát triển du lịch sinh thái Nhiều hộ ven hồ đầm lấn chiếm trái phép, tự ý đắp đập, xây kè để thả cá, xây dựng nhà cửa làm đất ngập nước
bị chia cắt phá vỡ cảnh quan môi trường
Tình trạng người dân khai thác thuỷ sản quá mức, sử dụng các phương tiện huỷ diệt như xung điện đã làm nguồn lợi thuỷ sản Đầm Vạc bị suy giảm nhanh chóng, nhiều loài đang có nguy cơ tuyệt chủng Thêm vào đó, mỗi ngày có khoảng hàng trăm tấn vật chất lơ lửng, cùng các chất hoá học nguy hại có trong nước thải nông nghiệp, sinh hoạt, công nghiệp trong lưu vực đổ vào đất ngập nước vùng Đầm Vạc mà chưa có biện pháp xử lí Mặt khác, ranh giới đất ngập nước không rõ ràng, cơ chế quản lí còn
Trang 2lỏng lẻo, nhiều đối tượng tham gia quản lí sử dụng nên dễ dẫn đến những tranh chấp/xung đột về lợi ích giữa các bên liên quan
Quy hoạch phát triển du lịch sinh thái Đầm Vạc cũng đòi hỏi những yêu cầu nhất
định về tiêu chuẩn chất lượng môi trường đất ngập nước vùng Đầm Vạc và các khu vực phụ cận, phải dung hoà giữa các mục đích sử dụng đất ngập nước, các mục tiêu khác nhau, cũng như đảm bảo lợi ích của các đối tượng có liên quan
Để khai thác có hiệu quả tiềm năng đất ngập nước phục vụ phát triển kinh tế, xã
hội đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái, việc nghiên cứu các giải pháp quản lí và sử dụng hợp lý đất ngập nước vùng Đầm Vạc có ý nghĩa vô cùng quan trọng Đề tài nghiên
cứu “Nghiên cứu hiện trạng quản lí và sử dụng đất ngập nước vùng Đầm Vạc, thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc” nhằm giải quyết yêu cầu trên
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:
Tìm hiểu tình hình quản lí và sử dụng đất ngập nước vùng Đầm Vạc làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lí và sử dụng đất ngập nước hợp lí, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường vùng Đầm Vạc, thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá hiện trạng quản lí và sử dụng đất ngập nước vùng Đầm Vạc;
- Xác định được các tồn tại chủ yếu trong quản lí và sử dụng đất ngập nước vùng
Đầm Vạc;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm quản lí và sử dụng hợp lý đất ngập nước vùng
Đầm Vạc, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường
Trang 32 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Trên thế giới
2.1.1 Khái niệm về đất ngập nước
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về đất ngập nước (Wetlands) Đất ngập nước được hiểu là bãi lầy thuỷ triều, rừng ngập mặn ảnh hưởng của thuỷ triều,
đầm lầy trồng đước và vùng bùn lầy Vùng đất ngập nước ven biển này có ý nghĩa cực
kỳ quan trọng đối với cuộc sống vùng ven biển (Robert B Ditton, 1943) [50]
Đất ngập nước gồm cả các khu vực ven sông hay ven biển nằm sát với đất ngập nước, và các vùng đảo hay vùng biển sâu hơn 6 mét khi thuỷ triều xuống bên trong vùng đất ngập nước [56]
Các nhà khoa học Canada (1988) định nghĩa "Đất ngập nước là đất bão hoà nước trong thời gian dài đủ để hỗ trợ cho các quá trình thuỷ sinh Đó là những nơi khó tiêu thoát nước,
có thực vật thuỷ sinh và các hoạt động sinh học thích hợp với môi trường ẩm ướt" [25]
Theo Công ước Ramsar năm 1971, đất ngập nước là tên gọi chung để chỉ "những
những vùng đầm lầy, vùng bị ngập nước, ao tù, kênh cụt từ sông chảy ra, hồ, đầm, dù tự nhiên hay nhân tạo, ngập nước thường xuyên hay từng thời kỳ, là nước tĩnh, nước chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, bao gồm cả những vùng biển mà độ sâu mực nước khi thuỷ triều ở mức thấp nhất không vượt quá 6m "[29]
Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về đất ngập nước, nhưng các tác giả đều thống nhất với nhau rằng, đất ngập nước như đới chuyển tiếp sinh thái, là khu vực chuyển tiếp giữa môi trường ngập nước vĩnh viễn (thuỷ sinh) và môi trường cạn Chính vì vậy, đất ngập nước có đặc tính của cả hai loại môi trường này mà thực ra rất khó có thể phân loại một cách rõ ràng như môi trường dưới nước hay trên cạn
Công ước Ramsar đưa ra bảng phân loại các sinh cảnh đất ngập nước, trong đó quy định hồ là những vùng ngập nước ngọt thường xuyên hoặc theo mùa, có diện tích
từ 8 ha trở lên, có bờ, bị ngập nước theo mùa hoặc không có quy luật và những hồ ở vùng đồng bằng ngập lũ (Dugan, 1990) [29]
Trang 4Theo P.S Welch (1935), hồ là một thuỷ vực phải có bờ chắn sóng Forel (1892)
định nghĩa ao là những hồ có độ sâu ít hơn [25]
Trong chương trình điều tra và phân loại đất ngập nước vùng hạ lưu sông Mê Kông, Ban thư ký Mê Kông cũng quy định hồ là những thuỷ vực có diện tích từ 8 ha trở lên và có bờ chắn sóng [25]
2.1.2 Vai trò và giá trị của đất ngập nước
2.1.2.1 Vai trò của đất ngập nước
Không phải ngẫu nhiên người ta nhận thức được giá trị và tầm quan trọng mà tài nguyên đất ngập nước mang lại cho con người Trải qua một quá trình khai thác sử dụng lâu dài con người mới biết được những giá trị đích thực của đất ngập nước, vai trò
và tầm quan trọng của nó được thể hiện ở những điểm sau [56]:
- Đất ngập nước bao phủ một phần rộng lớn bề mặt trái đất:
Tổng diện tích đất ngập nước trên thế giới khoảng 500 – 4000 triệu ha Số liệu có
vẻ phù hợp nhất vào khoảng từ 700-800 triệu ha Nhưng khoảng 70% dân số của thế giới sống gần bờ biển và đại dương
- Đất ngập nước được thừa nhận là một trong những chức năng quan trọng về mặt sinh thái và chu trình thuỷ học
Đất ngập nước hình thành những vùng chuyển tiếp giữa đất khô và nước Trong vùng nội địa, ví dụ như đất ngập do lũ lụt giữa vùng đất cao và sông, vùng đầm lầy ngập nước giữa đất cao và hồ ở vùng ven biển, vùng đầm phá, vùng cửa sông được nối kết giữa biển và đất liền
Do vị trí giữa đất khô và hệ sinh thái ngập nước, đất ngập nước tạo ra một vùng
đệm để giữ nước, lắng đọng chất lơ lửng, chất ô nhiễm và chất dinh dưỡng Chúng hấp thụ các chất dinh dưỡng và các chất lắng đọng do xói mòn từ đất dốc (như từ đô thị và nông nghiệp) và ngăn chặn sự phú dưỡng cho hồ và biển
Đất ngập nước có năng suất sinh học rất cao, là nguồn sinh sống cho rất nhiều loài
động vật, thực vật quí hiếm, bao gồm nhiều loài chim, bò sát, cá và động vật có vú Do vậy, đất ngập nước có vai trò vô cùng quan trọng cho việc bảo tồn đa dạng sinh học
Trang 5Đất ngập nước có vai trò như những vùng đệm trong chu trình thuỷ học, bảo vệ miền núi khỏi lũ lụt Đất ướt cũng giúp cho việc điều hoà khí hậu địa phương thông qua
sự phát triển của thực vật và sự thoát hơi nước, có khả năng hấp phụ CO2 trong khí quyển (chất làm tăng hiệu ứng nhà kính) Ngoài ra, đất ngập nước còn có chức năng cung cấp nước cho nguồn nước ngầm, tránh sạt lở, lún đất
- Đất ngập nước là nguồn sống, sinh kế cho nhiều người dân
Đất ngập nước cung cấp nhiều sản phẩm và dịch vụ cho con người: nước uống, lương thực và thực phẩm, dược liệu…Nhiều hoạt động kinh tế được tiến hành ở vùng
đất ngập nước: thuỷ sản, nông nghiệp, lâm nghiệp, sản phẩm nhiên liệu (như than bùn,
gỗ củi), giao thông Nhiều vùng đất ngập nước nổi tiếng được biết đến như một "nhà máy" có loài cây có tác dụng xử lí nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp
Trước tầm quan trọng như vậy, Công ước Ramsar đã chỉ ra rằng, đất ngập nước có một giá trị văn hoá, kinh tế và sinh thái vô cùng to lớn, và phải ngăn chặn mọi hành
động xâm lấn hay làm mất đi đất ngập nước (Donald M.Kent, 2000)[43]
2.1.2.2 Xác định giá trị tài nguyên đất ngập nước
Đất ngập nước trên thế giới bị suy thoái, thu hẹp dần, sử dụng một cách tuỳ tiện mang tính chất huỷ diệt, không bền vững là do quan điểm và nhận thức chưa đầy đủ về tổng giá trị của đất ngập nước, không hiểu biết và không thừa nhận giá trị sinh thái cảnh quan và kinh tế
do các vùng đất này đem lại, đặc biệt là thường bỏ sót nhiều giá trị quan trọng Vì thế, đất ngập nước được coi như đất bỏ hoang, giá trị đất ngập nước (nếu có tính được) thường thấp hơn rất nhiều so với giá trị thực tế mà con người đang hưởng Kết quả là đất ngập nước bị chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng…thậm chí là
địa điểm lý tưởng để đổ rác, chứa nước thải sinh hoạt và công nghiệp…Việc lượng hoá giá trị bằng các công cụ/kỹ thuật đo đếm được, tìm kiếm các phương pháp tiếp cận mới
để đánh giá tài nguyên đất ngập nước có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở khoa học ra quyết
định quản lí tài nguyên đất ngập nước một cách bền vững[51,54,55]
Giá trị của đất ngập nước được thể hiện thông qua tổng giá trị kinh tế của chúng Tổng giá trị kinh tế (Total Economic Value) này lại được phân loại thành giá trị sử dụng (use value) và giá trị phi sử dụng (non - use value) [51,54,55]
Trang 6Giá trị sử dụng được tập hợp trên cơ sở sử dụng trực tiếp hay gián tiếp Giá trị sử dụng trực tiếp là những giá trị gắn liền với cuộc sống hàng ngày của con người mà đất ngập nước mang lại như đánh bắt cá, thu lượm củi đun, nghỉ ngơi, giải trí.v.v.[51,54,55]
Giá trị lựa chọn
Giá trị
để lại
Giá trị tồn tại
Giá trị trực tiếp và giá
trị tương lai
Giá trị sử dụng và không sử dụng trong tương lai
Giá trị từ nhận thức
sự tồn tại của tài nguyên
hệ sinh thái khác, ổn định tiểu khí hậu
Đa dạng sinh học nơi cư trú
Nơi cư trú các loài sinh vật
Hệ sinh thái, các loài bị đe doạ
Tính hữu hình giảm dần và khả năng lượng hoá giá trị khó dần
Tổng giá trị kinh tế
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ phân loại tổng giá trị kinh tế của đất ngập nước
Nguồn: Theo Munasinghe (1992), Barbier (1993, 1994)
Việc sử dụng trực tiếp có thể mang tính thương mại hoặc phi thương mại Giá trị phi sử dụng bao hàm những giá trị liên quan tới sử dụng hàng hoá môi trường hiện nay
và trong tương lai (tiềm năng) trên cơ sở sự tồn tại của chúng và nhiều khi không liên quan đến việc sử dụng thực tế của chúng (Pearce và Warford, 1993) Giá trị phi sử dụng
Trang 7được chia thành giá trị thừa kế (để lại) và giá trị tồn tại Giá trị phi sử dụng khi gộp lại
có thể rất lớn Tổng giá trị để lại và giá trị tồn tại, như được ước tính trong các nghiên cứu của Sutherland (1985) [51] và Walsh (1984) và Walsh (1985) [54,55], dao động trong khoảng từ 35 – 70% tổng giá trị tài nguyên
Vì vậy, việc bỏ qua giá trị này trong hoạch định chính sách quốc gia, thẩm định các dự án liên quan đến đất ngập nước có thể dẫn đến các sai lầm nghiêm trọng trong phân bố và sử dụng tài nguyên Tuy nhiên, những giá trị phi sử dụng này rất khó có thể
ước lượng Vì thế, xác định chính xác giá trị tài nguyên đất ngập nước (bao gồm giá trị
sử dụng và phi sử dụng) cũng giúp lựa chọn các phương án định giá phù hợp Với nhận thức cũng như trên thì giá trị kinh tế của hàng hoá đất ngập nước sẽ cao hơn rất nhiều
Điều này là cơ sở khoa học cho các nhà ra quyết định, nhà thẩm định dự án lựa chọn phương án sử dụng tài nguyên đất ngập nước hợp lý hơn, họ có nên quyết định chính sách đề ra hay không, như quyết định xây dựng khu bảo tồn đất ngập nước hay cho san lấp ao hồ để xây dựng khu công nghiệp, khu vui chơi giải trí, phương án nào lợi hơn
2.1.3 Những yếu tố tác động đến quản lí và sử dụng đất ngập nước
Tăng trưởng dân số làm tăng nhu cầu nước
Dân số thế giới tăng 80 triệu người/năm, dự tính đến năm 2005 dân số thế giới sẽ
là 8,1 tỷ người, trong đó 30% dân số tăng lên này tập trung ở các nước đang phát triển Nhu cầu lương thực sẽ ngày càng tăng lên, đòi hỏi các sản phẩm cây trồng tăng lên, kéo theo đó là nhu cầu về nước ngày càng tăng Để sản xuất ra 1 tấn ngũ cốc cần 1 nghìn tấn nước, như vậy 160 tỷ tấn nước mới có thể sản xuất 160 triệu tấn ngũ cốc, mà nhu cầu lương thực trung bình của thế giới là 300 kg/người/năm Như vậy, 160 tấn ngũ cốc
có thể cung cấp cho 480 triệu người Từ đó cho thấy 480 triệu trong tổng số 6,2 tỷ người trên thế giới đã được cung cấp lương thực bằng việc sử dụng nước không bền vững [44] Mặt khác, khi mức sống tăng lên thì nhu cầu về lương thực, thực phẩm cũng tăng theo dẫn đến nhu cầu về nước tăng Như người ấn Độ dùng 200 kg ngũ cốc/năm, còn người Mỹ dùng tới 800 kg ngũ cốc/năm, cao hơn gấp 4 lần [44]
Trang 8Nhu cầu nước cho các ngành không giống nhau
Trên thế giới, nhu cầu về nước cho các mục đích sử dụng chiếm tỷ lệ khác nhau như: cho sản xuất nông nghiệp chiếm 80%, sinh hoạt chiếm 15% và nước dùng cho công nghiệp chiếm 5% Do sự bành trướng và ưu tiên nước cho các ngành sản xuất phi nông nghiệp đã làm ảnh hưởng đến khả năng sử dụng cho mục đích nông nghiệp Sự canh tranh khốc liệt về mục tiêu sử dụng giữa các ngành tăng lên dẫn đến sản xuất nông nghiệp hầu như bị mất mùa Thực tế để sản xuất ra 1 tấn lúa mì có trị giá 200 đôla cần
đến 1 nghìn tấn nước Nếu cũng với lượng nước đó dùng cho công nghiệp phát triển thì sản phẩm thu được có giá trị lên tới 10 nghìn đôla (gấp 50 lần) [44]
Sự thay đổi khí hậu
Trên thế giới, nông nghiệp nhờ nước trời chiếm khoảng 1/3 diện tích đất trồng trọt Các quốc gia có diện tích canh tác dùng nước trời, nhất là ở các nước đang phát triển, lại rất lớn Nếu các vùng này mưa xảy ra ít, không mưa, hay chậm mưa, lượng nước không đủ hay không kịp để tưới cho cây trồng thì mùa màng sẽ bị mất, từ đó ảnh hưởng đến đời sống của hàng trăm triệu người Hạn hán ở châu Phi năm 1984 - 1985 đã làm giảm độ phì của đất, ảnh hưởng đến đời sống của 30 - 35 triệu người Hồ Tachad
đang cạn dần, nước sông cạn đến nỗi không đủ sức để chảy vào hồ nữa Đăck biệt, tình trạng tàn phá rừng mưa nhiệt đới đang là hiểm hoạ làm biến đổi khí hậu toàn cầu và thoái hoá đất, làm thay đổi chu trình thuỷ học, làm tăng hạn hán, lũ lụt [44]
Sự ô nhiễm nước
Ô nhiễm nguồn nước ngọt là một trong những nguyên nhân gây xung đột trong khai thác nguồn nước trên thế giới Tại Ai Cập, trên 150 công ty hoá chất hoạt động, hàng năm chúng đã thải hàng ngàn chất thải công nghiệp, gây ra ô nhiễm xuống sông Nil - nguồn nước sinh hoạt chủ yếu của nước này ở Guana, hàng triệu tấn nước thải chứa xianua từ các mỏ vàng đã đổ vào sông Essequibo (nguồn nước ngọt quan trọng) Nước sông bị ô nhiễm nặng, làm cá chết nổi trắng từng khúc sông vốn là thực phẩm của hàng triệu người Các thú rừng ra sông uống nước cũng bị chết hàng loạt do bị nhiễm
độc, nhiều người dân đã bị nhiễm độc do uống nước và ăn cá của con sông này [53]
Trang 9Do đẩy nhanh việc thâm canh trong nông nghiệp mà ở tất cả các nước việc sử dụng phân bón hoá học ngày càng tăng lên, đó là nguyên nhân làm cho đất và nguồn nước bị ô nhiễm bởi nitrat và phốtphat Nhà nghiên cứu P Person trong tác phẩm "ô nhiễm lục địa"
đã cho biết rằng, chúng gây nên sự mất cân bằng chức năng của các hệ sinh thái thuỷ vực (hồ, đầm, sông ) và sự mất cân bằng đó dẫn tới sự huỷ hoại môi trường nước và sau đó
là sự nghèo nàn đáng kể của các hệ động thực vật dưới nước [49]
Có thể nói, sự phát triển kinh tế trong những thập kỷ qua đã để lại nhiều vấn đề nghiêm trọng về môi trường, đã đẩy trái đất đến giới hạn chịu đựng cuối cùng Suy thoái môi trường, biến đổi khí hậu, thiên tai, hạn hán, ô nhiễm các vùng đất ngập nước v.v là những dấu hiệu chứng tỏ thiên nhiên đang nổi giận, đòi hỏi con người phải thay
đổi cách ứng xử với thiên nhiên (WB, 1992) [53]
Engel đã từng nói: "Không nên quá khoái trí về những thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên Giới tự nhiên sẽ trả thù chúng ta về mỗi thắng lợi đó" Bởi vì, sự thật
"chúng ta không hoàn toàn thống trị giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị các dân tộc khác, như một con người nằm bên ngoài giới tự nhiên mà trái lại chúng ta sống cả xương, thịt, máu và bộ não của chúng ta, là những vật thể thuộc về giới tự nhiên
Chúng ta nằm trong tự nhiên"[12] Qua đây cho thấy tư tưởng của Engel là muốn con người sống thân thiện và hài hoà với tự nhiên, không đối lập với tự nhiên
2.1.4 Quan điểm về quản lí và sử dụng bền vững đất ngập nước
Sử dụng “khôn ngoan” đất ngập nước
Sử dụng "khôn ngoan” là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong quản lý đất ngập nước Sử dụng "khôn ngoan" cũng giống như “sử dụng bền vững” Khái niệm này dựa trên ý tưởng mà cách đối xử của con người với đất ngập nước không gây tổn hại và ảnh hưởng đến sự nguyên vẹn của hệ sinh thái trong một thời gian dài Mọi người đều thừa nhận hai vấn đề quan trọng của đất ngập nước là sinh kế của cộng đồng ven vùng đất ngập nước và giá trị tự nhiên của hệ sinh thái đất ngập nước [56]
Theo Công ước Ramsar, sử dụng "khôn ngoan" là “sử dụng bền vững đất ngập nước cho lợi ích của nhân loại mà vẫn duy trì được những tính chất tự nhiên của hệ sinh
Trang 10thái” Sử dụng bền vững được định nghĩa như là “sử dụng đất ngập nước mà mang lại những lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại trong khi vẫn duy trì khả năng đáp ứng được những nhu cầu và nguyện vọng đó cho thế hệ mai sau” Những tính chất tự nhiên của
hệ sinh thái là: “thành phần lý, hoá, sinh học, như đất, nước, thực vật, động vật, chất dinh dưỡng và sự tương tác giữa chúng” [56]
Phục hồi các vùng đất ngập nước
Trong một số trường hợp, việc phục hồi lại các vùng đất ngập nước đã bị suy thoái hoặc bị mất đi có ý nghĩa rất lớn Có nhiều hình thức khác nhau để phục hồi đất ngập nước: như làm cho đất ngập nước có những điều kiện giống trước đó càng nhiều càng tốt, hoặc có thể giống điều kiện ở địa điểm khác, hoặc tạo ra những điều kiện mà cho phép mang lại một số giá trị giống như trước đây [56]
Quản lý tổng hợp đất ngập nước
John B.Loomis (1993) [48] cho rằng, kỹ thuật quản lí tổng hợp tài nguyên đất ngập nước có thể là một phương sách giải quyết xung đột khi cố gắng cân bằng sự tranh chấp sử dụng tài nguyên, như dung hoà giữa khai thác với bảo tồn tài nguyên Tuy nhiên, quản lí tổng hợp tài nguyên yêu cầu phải có cách tiếp cận liên ngành trong quản
lí và quy hoạch, cần có sự phân tích kỹ càng, có chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của mỗi phương án sử dụng tài nguyên, từ đó lựu chọn phương án có giá trị cao nhất cho xã hội Quản lí và sử dụng bền vững tài nguyên đất ngập nước phải gắn liền công tác
quản lý đất ngập nước tổng hợp, đặc biệt là biết sử dụng các công cụ quản lý phù hợp Những yếu tố mấu chốt cần giải quyết đảm bảo cho sự phát triển có liên quan đến
đất ngập nước đó là: An toàn về nước; sự cạnh tranh về nước và đất ngập nước; ô nhiễm
đất ngập nước; rủi ro, lũ lụt, hạn hán…Một trong những giải pháp đưa ra là phải quản
lý được nhu cầu về nước và khả năng cung cấp của nguồn nước, sự thay đổi và không
chắc chắn của các yếu tố như chính sách, ranh giới hành chính vùng, quốc gia…,công
nghệ, sự phát triển kinh tế - xã hội, sự chỉ trích, và các hệ thống giá trị tác động đến hai yếu tố trên (Dieter Prinz, 2001)[44], muốn vậy:
Trang 11Thứ nhất: quản lý nhu cầu nước
- Các biện pháp bảo tồn nước, như xây dựng các hệ thống canh tác hợp lý tiết kiệm và bảo tồn được nguồn nước, chống rửa trôi xói mòn, chú ý hoàn thiện các hệ canh tác trên đất dốc và đất rừng
- Thay đổi thể chế, chính sách, cải cách các cơ quan quản lý nước: quyền nước, hệ thống luật pháp, tư nhân hoá (phi tập trung) các dịch vụ nước;
- Sự khuyến khích dựa trên cơ sở thị trường: giá cả, phí ô nhiễm nguồn nước, thuế;
- Biện pháp phi thị trường: hạn chế, hạn ngạch, đăng ký cấp phép sử dụng nước
- Can thiệp trực tiếp: nghiên cứu và phát triển;
- Giáo dục, đào tạo: tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ môi trường nước;
Thứ hai: quản lý cung cấp nước
- Quản lý bảo vệ rừng, nguồn sinh thuỷ, lưu vực nước, vùng đầu nguồn, di chuyển
nước trong lưu vực; sử dụng nước tổng hợp, liên kết và nhiều đầu mối sử dụng nước;
- Sự phối hợp đa ngành; xây dựng hệ thống hồ đập giữ nước, tăng tích trữ nước;
- Duy trì và cải tiến cơ sở hạ tầng, xử lý rác thải;
Cũng theo tác giả, để quản lý tổng hợp và bền vững đất ngập nước nhất thiết phải quan tâm đến các khía cạnh về: kỹ thuật và khoa học, các tổ chức và cơ quan quản lí và
sử dụng đất ngập nước, cán bộ quản lý, và khía cạnh kinh tế – xã hội
2.1.5 Kinh nghiệm quản lý đất ngập nước ở một số nước trên thế giới
- Xây dựng các chiến lược quản lý đất ngập nước tại úc [52]
+ Quản lý đất ngập nước dựa vào toàn dân, thu hút sự tham gia người nhân;
+ Thi hành các chính sách nhân dân, và xây dựng thể chế pháp luật và phổ biến
chương trình toàn dân;
+ Xây dựng các nhóm cộng tác với các bang và chính quyền địa phương;
+ Đảm bảo cơ sở khoa học chắc chắn cho chính sách và quản lý;
+ Chương trình hành động quốc tế, tham gia công ước quốc tế về bảo tồn đất ngập nước
- Chiến lược quản lý đất ngập nước của World Bank: không chỉ tập trung đến
các lĩnh vực sử dụng đất ngập nước mà quản lý đất ngập nước, và phối hợp giữa sử
Trang 12dụng đất ngập nước với quản lý các dịch vụ, nói cách khác phải quản lý tổng hợp đất ngập nước, thể hiện ở [52]:
+ Thiết lập cơ cấu tổ chức: xác định các quy phạm pháp luật, các quyền và nghĩa
vụ, cấp phép sử dụng nước; trách nhiệm của các chủ quản khác nhau và tiêu chuẩn chất lượng nước, cung cấp dịch vụ (đặc biệt là người nghèo), đối với môi trường, cho quản lí
và sử dụng nước, đối với xây dựng và quản lý cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng đến chất lượng và số lượng của nguồn nước; quản lý lưu vực cấp địa phương tới quốc tế
+ Các công cụ quản lý: gồm tổ chức điều tiết; công cụ tài chính; tiêu chuẩn và kế hoạch, cơ chế tham gia; kiến thức và hệ thống thông tin làm thúc đẩy nhanh sự minh bạch mà làm ảnh hưởng đến sự phân phối nước; sử dụng và bảo tồn, duy trì, đảm bảo và bền vững hệ thống nguồn nước Nhất là vấn đề cải tổ và quản lý ngành kinh tế nước + Phát triển và quản lý cơ sở hạ tầng để điều chỉnh lưu lượng hàng năm cho hạn hán, lũ lụt, hồ chứa nước đa mục đích cho chất lượng và bảo vệ nguồn nước
- Chi lê
Theo cách tiếp cận của Chi lê thì mục tiêu là xem xét nước như một hàng hoá kinh
tế, không chỉ cho sản xuất nông nghiệp mà mang tính đa ngành [46]:
+ Thừa nhận nước không chỉ là một nhân tố, sản phẩm cho sản xuất nông nghiệp,
mà còn cho các ngành khác, hay đất ngập nước phải được sử dụng tổng hợp, phải được chuyển đổi, chuyển nhượng giống như các yếu tố đầu vào kinh tế khác
+ Phải liên kết chặt chẽ giữa tài nguyên có tính lưu động, dễ biến đổi như nước với tài nguyên bất động như tài nguyên đất đai;
+ Hậu quả quan trọng của sự chia cách đất đai/địa giới hành chính) đến quyền sử
dụng nước Nhà nước quy định quyền sở hữu nước như bất cứ quyền sở hữu khác, cho
phép hợp đồng cho thuê và bán giữa những người mua bán tự nguyện
- Tunisia: Tiếp cận quản lý lưu vực
Nhà nước có vai trò quan trọng trong đầu tư bảo tồn và phát triển nguồn nước, xây
Trang 13người nông dân với kiến thức khoa học kỹ thuật hiện đại có liên quan đến nước, như các kỹ thuật canh tác bảo tồn đất và nước, các loại cây trồng chịu hạn, các kỹ thuật tưới Người dân tự nguyện chấp nhận những kỹ thuật tiến bộ do nhà nước đầu tư, bảo trợ, đồng thời cũng phát huy kiến thức bản địa, truyền thống của cộng đồng trong canh tác[44]
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ tiếp cận quản lý lưu vực có sự tham gia
Phối hợp giữa can tác t uyền thống n ờ ờ nước t ời với kỹ th ật
Mấu chốt cho sự thành công của nước này là cần có sự trợ giúp và sự phối hợp giữa nhà nước, nhà khoa học với cán bộ khuyến nông dựa trên cách tiếp cận quản lý lưu vực Đề xuất những cơ sở khoa học cho Nhà nước đầu tư, nâng cao năng lực của cộng
đồng và khuyến khích sự tham gia của họ và công tác quản lý và phát triển đất ngập nước trong mối liên quan hệ thống của lưu vực Bài học thành công đã được nhiều quốc gia trên thế giới đón nhận và vận dụng theo từng điều kiện của mỗi quốc gia [44]
- Bài học về sự tuỳ ý san lấp Hồ Tỳ Bà ở Trung Quốc
Hồ Tỳ Bà thuộc huyện Thông Hải, tỉnh Vân Nam – Trung Quốc Trên 90% nhân dân huyện Thông Hải sống quanh hồ, trên 80% đồng ruộng cũng ở ven hồ, 80% nguồn thu nhập kinh tế của huyện dựa vào hồ này Năm 1956, để tăng thêm lương thực, nhân dân bắt đầu khai hoang các đồi núi ven hồ để canh tác, vây hồ làm ruộng, mở rộng diện tích trồng trọt Năm 1958, hồ bị vây lấn 1.133 ha, sau đó lại lấn tiếp 333 ha Đồng thời
họ còn chặt phá rừng khiến cho tỷ lệ che phủ của rừng giảm thấp rõ rệt Thời kỳ đầu lương thực quả thật có tăng lên, nhưng diện tích hồ ngày càng thu nhỏ Đến những năm
Trang 1480 diện tích hồ từ 4.667 ha thu hẹp còn 1.333 ha, lượng nước từ 1,7 tỷ m3 xuống còn 170.000m3 Vì rừng bị chặt phá nên một lượng đất lớn bị trôi chảy, hàng năm đất đổ vào lòng hồ khoảng 54.000 tấn Môi trường sinh thái của vùng này sau khi bị phá hoại nghiêm trọng theo đó khí hậu cũng biến đổi theo, hạn hán liên tiếp xảy ra Năm 1983, hạn rất nặng, hồ cạn kiệt 7.794 ha đồng ruộng bị hạn 4.667 ha khô nứt nẻ, lúa và hoa màu chết gần hết, sản lượng lương thực giảm mất 2.650 tấn [13]
Tuỳ ý khai hoang và lấn hồ làm ruộng đã đưa lại cho huyện Thông Hải một bài học sâu sắc Bắt đầu từ năm 1983, họ đã dùng biện pháp giảm bớt canh tác trả lại diện tích cho lòng hồ và trồng cây gây rừng, nên dần dần cải thiện được môi trường sinh thái Ngày nay hồ này đã được phục hồi như trước Nhân dân vùng đó còn nhờ vậy mà
mở nhiều loại kinh doanh nên thu nhập tăng lên [13]
Sự biến đổi tang thương của hồ Tỳ Bà cho thấy, nếu khai hoang lấn hồ để canh tác
mà không nghiên cứu cẩn thận môi trường sinh thái của vùng đó sẽ phá hoại cân bằng sinh thái dẫn đến hàng loạt phản ứng dây chuyền khiến cho môi trường sinh thái xấu đi, thiên tai sẽ xảy ra gây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp Bài học nhắc nhở với
chúng ta rằng: tuỳ ý khai hoang hoặc lấn hồ làm ruộng là “được không bằng mất”[13]
Bài học nhãn tiền về lũ lụt toàn lưu vực sông Trường Giang năm 1998 của Trung Quốc đã phải rút ra bài học cho nhiều quốc gia đó là phương châm xây dựng gồm 32
chữ “khoanh rừng trồng cây, trả đất cho rừng, trả ruộng cho hồ, giảm thấp đỉnh
lũ, xây dựng hợp lý, giãn dân đồng đều, gia cố đê điều, nạo vét lòng sông” [13] 2.2 ở Việt Nam
1.2.1 Khái niệm và vai trò của đất ngập nước ở Việt Nam
ở Việt Nam, có nhiều cách gọi khác nhau về đất đất ngập nước như "đất ngập nước", "đất ướt", "đất ẩm " hay "đất úng trũng"
Đất úng trũng sản xuất lúa nước (chỉ trồng được 1 vụ lúa, kết hợp với thả cá) cũng
được coi là đất ngập nước, như đất trồng lúa ngập nước nông (0-30cm) thiên về ngập nước, có khi hạn (Nguyễn ích Tân, 1999)[26]
Trang 15Thuật ngữ "đất ngập nước" tương đương với tên bằng tiếng Anh (Wetlands) được
sử dụng chính thức trong Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 của Chính phủ về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước Nhìn chung các thuật ngữ trên đều chỉ nền đất bị ngập nước theo các chế độ và mức ngập nước khác nhau Một trong ba thuộc tính mà đất ngập nước phải có là[24]:
- Có một thời kỳ nào đó trong năm thích hợp với phần lớn các loài thuỷ sinh vật;
- Nền đất hầu như không bị khô hoặc chỉ bị khô trong một khoảng thời gian nhất định;
- Nền đất không có cấu trúc rõ rệt hoặc bão hoà nước, hoặc bị ngập nước ở mức cạn một số thời điểm nào đó trong mùa sinh trưởng hàng năm của sinh vật
Diện tích đất ngập nước chiếm 25% tổng diện tích tự nhiên khu vực nội địa Nhưng chúng có một giá trị và chức năng quan trọng về môi trường, sinh thái, kinh tế, xã hội của Việt Nam [25]:
- Cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp;
- Là vùng sản xuất nông nghiệp quan trọng, năng suất sinh học cao;
- Là vùng phát triển nuôi trồng thuỷ sản có hiệu quả cao;
- Chắn sóng, chống xói lở và ổn định bờ biển;
- Chứa đựng các giá trị về đa dạng sinh học và điều hoà sinh thái khí hậu;
- Là nơi sinh sống lâu đời và mang đậm nét văn hoá cộng đồng dân cư nông thôn;
- Là nơi có cảnh quan đẹp để phát triển du lịch sinh thái và các ngành khác
2.2.2 Phân loại thuỷ vực
Theo Lê Văn Khoa (2001)[22], hệ sinh thái đầm khác với ao ở chỗ, ao nông hơn
đầm nên dễ bị hết nước vào mùa khô, sinh vật thường có khả năng chịu đựng cao đối với khô hạn nếu không chúng phải di chuyển sang thuỷ vực khác hoặc sống tiềm sinh Tuy nhiên ánh sáng mặt trời đều có thể xâm nhập tới đáy ao và đầm Do đó gần bờ thường phát triển thực vật thuỷ sinh có rễ ăn sâu xuống đáy và ở khu vực nước sâu là những thực vật sống trôi nổi như bèo các loại Những thực vật này đều là thức ăn của
động vật Trong các tầng nước, nhiệt độ và độ muối khoáng được phân bố đồng đều do tác dụng của gió Hệ động vật bao gồm: động vật đáy và những động vật tự bơi
Trang 16Theo Đặng Ngọc Thanh (1975) [39], các thuỷ vực nội địa trên mặt đất được chia thành 2 nhóm là nhóm nước đứng như: ao, hồ, đầm, đồng lầy và các thuỷ vực nước chảy như: sông, suối, mạch nước phun Hoặc phân loại thành các thuỷ vực tự nhiên hay nhân tạo (hồ chứa nước, ruộng lúa nước, ao đào, các hệ thống kênh mương ) Tuy nhiên, trên thực tế sự phân chia này cũng không thật hoàn toàn rõ ràng và ổn định, như
hồ chứa nước vừa có tính chất nước chảy, vừa có tính nước đứng, hay ruộng lúa nước là thuỷ vực nước chảy hay nước đứng phụ thuộc vào chế độ canh tác của từng vùng, hay
ao có khi là nguồn gốc tự nhiên, có khi là thuỷ vực nhân tạo
Theo Đặng Ngọc Thanh (1975) [39], các thuỷ vực ao, hồ, đầm được mô tả như sau:
- Hồ tự nhiên là một loại thuỷ vực có dạng một vùng trũng sâu lớn trên mặt đất chứa nước, có thể là nước đứng hoặc nước chảy chậm Về mặt hình thái khối nước, hồ khác với
đầm ao về độ lớn diện tích và độ sâu: hồ cũng khác với sông ở hình thái nền vỏ ngắn hơn, tốc độ nước chảy chậm hoặc nước đứng hẳn Hồ tự nhiên khác với hồ chứa nước nhân tạo ở nguồn gốc hình thành, không có đập chắn, có quan hệ về vị trí và chế độ nước đối với sông liên quan Về mặt nguồn gốc, hồ tự nhiên có nhiều loại, phân loại theo nguyên nhân hình thành: hồ nguồn gốc sông, hồ hang đá vôi, hồ địa chấn, hồ băng hà Trong thiên nhiên các
hồ tự nhiên thường trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ khi hình thành cho đến khi già cỗi
và mất hẳn Do hiện tượng vật chất tích tụ từ bên ngoài hay bên trong hồ, hồ dần dần trở thành nông và hẹp dần rồi mất dần đặc tính ban đầu, chuyển thành đầm rồi thành ao (quá trình ao hoá) Sau cùng hồ có thể chuyển thành đồng lầy hay mất hẳn;
- Hồ nhân tạo là thuỷ vực được xây dựng bằng các đập ngăn dòng chảy của sông hoặc suối Do đó khối nước ở trong hồ ở gần đập có tốc độ chảy rất chậm, mang tính chất
hồ, trong khi đó nơi ở xa đập, tốc độ nước chảy còn lớn, còn mang tính chất dòng sông
Hồ chứa nước nhân tạo khác với hồ tự nhiên ở hình thái mất đối xứng của vùng trũng sâu, vùng sâu nhất không phải là ở chính giữa hồ và lệch về phía đập ngăn Mặt khác nó cũng khác với sông ỏ chỗ chỉ có lớp nước trên mặt là luôn chảy theo một chiều;
- Ao là loài hình thuỷ vực nước đứng nhỏ, nông, hình thành nên do nhiều nguyên nhân tự nhiên hoặc nhân tạo Ao có thể là vùng trũng sâu tự nhiên (ao tự nhiên) hoặc
đào nên (ao đào), tích tự nước do nhiều nguồn khác nhau: nước mưa, nước sông.v.v Ao
Trang 17ở các vùng núi còn hình thành nên do đắp ngăn một vùng trũng sâu, tích tụ nước suối Diện tích ao nhỏ và chiều sâu thường nông (khoảng 1 - 2m);
- Đầm là loại hình thuỷ vực có kích thước và độ sâu trung bình, có thể coi là loài hình thuỷ vực trung gian giữa hồ và ao, một giai đoạn trong quá trình ao hoá của hồ Về mặt loại hình, ao và đầm cũng có thể coi là thuỷ vực dạng hồ
Theo tôi, việc coi đầm là thuỷ vực trung gian giữa ao và hồ là chưa hợp lí Bởi lẽ, theo diễn thế, những trường hợp đầm lớn bị chia cắt thành các hồ có diện tích lớn hơn 8ha do xây đắp các đập hay bờ ngăn thì các thuỷ vực mới được hình thành phải là hồ Hoặc đầm
được xây đập ngăn giữ nước thì lại chuyển sang thuỷ vực dạng hồ Như vậy, những vấn đề này cũng cần làm rõ để xác định cơ sở phân loại thuỷ vực và phân loại đất ngập nước Chính vì chưa có tiêu chuẩn thống nhất trong phân loại ao, hồ, đầm nên gây ra nhiều khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ, phân cấp quản lí, như tình trạng chênh lệch giữa số liệu thống kê và số liệu thực tế về số lượng hồ (thường nhầm lẫn giữa ao và hồ) Tên gọi ao, hồ, đầm cũng chưa thống nhất mà chủ yếu là do thói quen và lịch sử để lại hay mỗi lĩnh vực chuyên môn khác nhau có cách phân loại khác nhau Vì vậy, phân loại thuỷ vực, xác định đặt tên khoa học theo hệ thống là điều cần thiết nhằm mục tiêu quản lí, sử dụng bền vững tài nguyên đất ngập nước
2.2.3 Phân loại đất ngập nước
Theo hệ thống phân loại đất ngập nước của Việt Nam dùng để xây dựng bản đồ
đất ngập nước quốc gia, tỷ lệ 1/1.000.000 của các tác giả Nguyễn Chí Thành, Phạm Trọng Thịnh, Nguyễn Văn Nhân, Phạm Quang Khánh, Nguyễn Ngọc Anh, Lê Thái Bạt,
Hệ thống phân loại đất ngập nước Việt Nam gồm 2 đơn vị cấp 1 (tên gọi là hệ thống) là
đất ngập nước mặn (kí hiệu I) và đất ngập nước ngọt (kí hiệu II) [25]
Đối với hệ thống đất ngập nước ngọt, các cấp phân vị như sau:
- Cấp 1: Tên gọi = Hệ thống (System): bao gồm những loại đất ngập nước
không nhận nước từ biển mặc dầu chúng nằm gần ven biển, độ mặn trong nước thường xuyên nhỏ hơn 4g/lít Trong hệ thống này có những cánh đồng trồng cây nông nghiệp
đã được ngọt hoá bằng đê ngăn mặn, các vùng đồng bằng ngập nước định kỳ hay ngập nước theo mùa, nguồn nước từ các sông hoặc hồ chứa, các vùng đầm lầy, các hồ tự
Trang 18nhiên hoặc nhân tạo, các đồng cỏ hoặc rừng đầm lầy ngập nước định kỳ hay ngập nước theo mùa, các đồng ruộng trồng cây nông nghiệp hoặc nuôi trồng thuỷ sản có thời gian ngập nước ít nhất 6 tháng trong năm ở đồng bằng, trung du hoặc miền núi, các kênh rạch, sông suối có nước chảy thường xuyên ít nhất là 6 tháng trong năm
- Các đơn vị cấp 2: Tên gọi = Hệ thống phụ (Sub-system): được phân ra từ hệ
thống chính căn cứ vào yếu tố địa mạo Đất ngập nước ngọt có các hệ thống phụ: vùng ven sông nước ngọt; hồ vùng nước ngọt; đầm vùng nước ngọt
Hệ thống phụ đất ngập nước ngọt thuộc sông là hệ thống nhất quán của nhiều dòng sông, có chung một thuỷ hệ, cùng chung một dòng thoát nước đổ vào hồ lớn hoặc
đổ ra biển Đất ngập nước ngọt thuộc sông gồm các dòng sông, suối, kênh rạch nước ngọt và vùng đồng bằng ngập lũ ven sông có chế độ thuỷ văn chịu ảnh hưởng của sông
Đồng bằng ngập lũ là vùng đất bằng phẳng tiếp giáp với sông và thường xuyên bị ngập lụt ở những vùng ngập lũ, nước có thể đọng lại thường xuyên hoặc không thường xuyên
Hệ thống phụ đất ngập nước ngọt thuộc hồ là những khu vực rộng lớn hoặc những vùng trũng diện tích nhỏ, góp phần làm phong phú thêm các loại hình đất ngập nước Những mặt nước này bao gồm những loại như hồ có quy mô lớn, thường có mực nước sâu và nhiệt độ thay đổi tuỳ thuộc vào độ sâu, cho đến những ao nhỏ thường là nông và
có cùng nhiệt độ Chúng có thể là tự nhiên hoặc nhân tạo Đất ngập nước hình thành ở những rìa nông của hồ ao tuỳ thuộc vào hướng dốc và độ dốc của nước
Hệ thống phụ đất ngập nước ngọt thuộc đầm là đầm lầy nước ngọt thường xuất hiện ở những vùng nước cạn dọc bờ hồ, bờ sông chẳng hạn như đầm hình thành từ sông chết Những vùng trũng sâu ở vùng đồng bằng ngập lũ Đầm lầy tồn tại nhờ vào nước nguồn hơn là nhờ vào nước mưa Các hoạt động như đắp đê bao giữ nước đóng vai trò quyết định vào sự tồn tại của các đầm
- Đơn vị cấp 3: Tên gọi = lớp (Class) được phân ra từ các hệ thống phụ căn cứ vào
chế độ thuỷ văn (hay mực nước ngập): ngập thường xuyên hoặc không thường xuyên; + Đất ngập nước ngọt thường xuyên là những loại hình đất luôn bị ngập nước khi mức nước trong các sông đầm hồ xuống tới mức thấp nhất bình quân hàng năm;
Trang 19+ Đất ngập nước ngọt không thường xuyên là những loại hình bị ngập nước ngọt (nền đất bão hoà nước, đất không có cấu trúc rõ rệt) liên tục từ 3 tháng trở lên;
+ Những loại hình đất ngập nước không được xếp vào đất ngập nước ngọt nếu thời gian ngập nước ngọt liên tục hàng năm không đạt 3 tháng
- Các đơn vị cấp 4: Tên gọi = Lớp phụ (Sub-Class) được phân biệt với nhau căn
cứ vào hiện trạng đất đai và sử dụng đất Các yếu tố phân loại bào gồm nền đất, thảm thực vật và hiện trạng sử dụng đất
Bảng phân loại đất ngập nước Việt Nam dùng cho xây dựng bản đồ đất ngập nước quốc gia tỷ lệ 1/1.000.000 năm 2004 được thể hiện ở phụ lục
Kết quả phân loại đất ngập nước của PGS.TS Lê Thái Bạt (2004)[25] ứng dụng trong xây dựng bản đồ đất ngập nước vùng cửa sông đồng bằng sông Hồng xác định được:
- Cấp 1 (Hệ thống) có 2 loại đất ngập nước mặn và đất ngập nước ngọt
- Cấp 2 (Hệ thống phụ): 2 hệ thống phụ(ven biển, cửa sông) của Hệ thống "đất ngập nước mặn" và 2 thệ thống phụ (thuộc sông, thuộc đầm) của Hệ thống đất ngập nước ngọt
- Cấp 3 (Lớp): có 7 lớp (trong tổng số 12 lớp) thuộc 4 hệ thống phụ xuất hiện ở vùng cửa sông Hồng
- Cấp 4 (Lớp phụ): 20 đơn vị
Nhiều loại đất ngập nước ở nước ta nói chung và vùng đồng bằng nói riêng có qui mô diện tích rất nhỏ (ao hồ đầm, diện tích đất ngập nước có nguồn gốc và hiện trạng đa dạng ) khó khoanh vẽ trên bản đồ tỷ lệ nhỏ và trung bình Vì vậy, để khoanh vẽ, kiểm
kê, mô tả, xác định đầy đủ các chức năng, giá trị của chúng, một mặt cần cụ thể hoá thêm hệ thống phân loại theo mục tiêu sử dụng, mặt khác cần lập các bản đồ đất ngập nước với tỷ lệ lớn và chi tiết cho các đối tượng ưu tiên (Lê Thái Bạt, 2004)[25]
Trong phân loại đất theo mục đích sử dụng, khái niệm đất mặt nước được dùng để chỉ đất sông suối và mặt nước thuỷ lợi, đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, đất mặt nước
chuyên dùng Theo tôi, nếu chỉ phân loại đất theo mục đích sử dụng (không căn cứ vào nguồn gốc hình thành, thổ nhưỡng, nền đáy ) thì khái niệm đất mặt nước hẹp hơn
Trang 20khái niệm đất ngập nước Đất mặt nước chỉ là vùng đất ngập nước ngập thường xuyên như ao hồ, sông suối Nhưng các loại đất khác như đất úng trũng trồng 1 lúa + cá, đất bán ngập hay đất ngập nước không thường xuyên là đất ngập nước, nhưng đôi khi không gọi là đất mặt nước
2.2.4 Hiện trạng quản lí và sử dụng đất ngập nước và những bài học kinh nghiệm
Sau Hội nghị lần thứ 3 các nước thành viên Công ước Ramsar tháng 7/1987, ngày
20 tháng 1 năm 1989 Việt Nam chính thức tham gia Công ước Ramsar về bảo tồn và PTBV các vùng đất ngập nước Kết quả nhiều vùng đất ngập nước đã được quy hoạch thành khu bảo tồn nghiêm ngặt như Nam Định, Đồng Tháp
Mặc dù, đất ngập nước ao hồ không thuộc đối tượng bảo tồn theo Công ước Ramsar và được Chính phủ quan tâm, nhưng nhiều hệ thống hồ của các địa phương đã
được sử dụng theo hướng tổng hợp, phát triển du lịch sinh thái, thuỷ sản, khu vui chơi giải trí như Hồ Tây, hồ Đại Lải, hồ Núi Cốc, Hồ Ba Bể, hồ Hoà Bình
Tuy nhiên còn một số hồ nội thị bị ô nhiễm tảo độc vì không được cung cấp đủ nước, cộng với nhiệt độ cao dẫn đến phát sinh tảo độc, nguyên nhân sâu xa là hồ được cải tạo do thiếu hiểu biết về sinh thái học như cho xe lu lèn chặt đáy hồ nên không lưu thông với nước ngầm được, kè đá xung quanh hồ làm mất thảm thực vật thuỷ sinh[3] Kết quả nghiên cứu cho thấy các hồ chưa được cải tạo bị ô nhiễm mạnh hơn, chủ yếu là do loạn dưỡng sinh ra từ các chất nitrat, phốtphát có trong các cống rãnh, mương máng, chất thải công nghiệp, hoặc đất nông nghiệp bị xói mòn đổ vào hồ, sau khi bị phân huỷ gây thiếu hụt ôxy dẫn tới làm chết các sinh vật thuỷ sinh và động vật trong hồ
và gây mùi hôi thối Nghiêm trọng nhất là ô nhiễm hoá học do thuốc trừ sâu, các chất ngấm ra từ bãi rác thải sinh hoạt, dầu mỡ và và các sản phẩm dầu mỏ, các chất phóng xạ, các kim loại nặng như chì, thuỷ ngân thì phải mất hàng thế kỷ cũng không khắc phục được Các hồ cạnh khu công nghiệp, gần bãi rác thải hoặc là nơi đổ rác đều bị ô nhiễm Nước thải là nguyên nhân chính gây ô nhiễm hồ [3]
Công tác quản lý của các cơ quan chuyên trách còn nhiều vấn đề khó khăn, bất cập như ở Hà Nội, không chủ động trong công tác quản lí hồ Khó khăn là do là kinh
Trang 21phí cho công tác cải tạo hồ rất cao, đa số nhờ vào kinh phí nước ngoài Nhất là chúng ta chưa có đội ngũ chuyên gia về hồ, về sinh thái hồ Thêm vào đó là sự quản lý chồng chéo, nhiều đơn vị cùng quản lí theo kiểu “năm cha ba mẹ”, “cha chung không ai khóc”, nhất là khi lợi ích không thống nhất, dễ dẫn đến xung đột, nhiều hồ bị biến mất Nguyên nhân là do nhận thức chưa đầy đủ của người dân, các cơ quan quản lí và chưa
có sự phối hợp đồng bộ các ngành, các cấp trong bảo vệ hồ [3]
Xu thế cạn kiệt và biến mất của đất ngập nước do nhu cầu sử dụng đất ngập nước cho phát triển kinh tế – xã hội ngày càng tăng, nhận thức sai lầm về đất ngập nước Sự khai thác bừa bãi và sử dụng lãng phí đất ngập nước, làm biến đổi nước cả về số lượng
và chất lượng Công tác quy hoạch chưa chú ý đến bảo tồn đất ngập nước, chưa xác
định được tỷ lệ diện tích đất mặt nước vần bảo tồn và phát triển nhằm đảm bảo các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội, để điều tiết nước giữa các mùa, các vùng để hạn chế tác hại của hạn hán và lũ lụt Việc phân công quyền hạn, trách nhiệm và phối hợp các
đầu mối quản lí và sử dụng đất ngập nước còn nhiều tồn tại (Lê Văn Khoa, 2001)[22] Vấn đề bảo vệ và quản lí và sử dụng đất ngập nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng, phải được đặt ở cấp thích hợp, phải huy động được sự tham gia của cộng đồng dân chúng Mục tiêu 75% dân số đô thị có đủ điều kiện vệ sinh; có các tiêu chuẩn về thải các chất thải thành phố và công nghiệp; 3/4 lượng chất thải rắn đô thị được thu gom và việc quay vòng, tái sử dụng, thải bỏ an toàn cho môi trường; quản lý đất ngập nước trong mối quan hệ tổng hoà với hệ sinh thái thuỷ sinh và đánh giá tác động môi trường
đối với tất cả các dự án phát triển Mặt khác, cần bảo vệ lớp phủ rừng đầu nguồn và giảm thiểu chất ô nhiễm nông nghiệp cho nguồn nước;
Vấn đề phục hồi đất ngập nước cũng rất được quan tâm, vì các loài trên đất ngập nước có khả năng phục hồi cao Tuy nhiên, cần lưu ý đến việc duy trì chất lượng nước, sinh vật tầng dưới, quản lí được hạn chế của thuỷ văn
Do sự phát triển đô thị, xây dựng các hệ thống giao thông, nhà cửa kho tàng cao hơn mặt bằng đất tự nhiên với hệ thống thoát nước không đồng bộ làm cho diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư bị úng ngập ngày càng tăng Ngập úng đã làm gia tăng ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm và ổ truyền dịch bệnh [4]
Trang 22Xu hướng phát triển đa ngành thay thế phát triển kinh tế đơn ngành, mà bản chất bắt nguồn từ phương thức quản lý, cũng là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn về lợi ích giữa các ngành với nhau Bởi vậy, việc nghiên cứu tìm ra những giải pháp hài hoà giữa lợi ích kinh tế đa phương với BVMT và PTBV đất ngập nước là hết sức cần thiết Theo
Đặng Trung Thuận (2000) [34]
Có thể nói, sự bất cập trong quản lí và sử dụng đất ngập nước xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ về giá trị, chức năng và phương pháp sử dụng đất ngập nước hợp lí, Công tác điều tra, nghiên cứu về các chính sách liên quan đến đấp ngập nước còn thiết
đồng bộ, chồng chéo, đôi khi còn hạn chế lẫn nhau [25]
Từ quan niệm sai lầm cho rằng đất ngập nước là một vùng đất có năng suất thấp, bẩn thỉu, chứa đầy bệnh tật, côn trùng và cá sấu nên nhiều vùng đất ngập nước đã biến mất và thay vào đó là đất nông nghiệp, đất ở, khu công nghiệp và bước đầu đã mang lại những lợi ích nhất định Nhưng lợi ích đó không thể bù đắp được nhưng hậu quả to lớn
do suy thoái đất ngập nước gây ra cho con người, như lũ lụt, hạn hán, mặt hoá, sóng biển Những quan niệm mới hiện nay đều phải thừa nhận đất ngập nước là hệ sinh thái
có năng suất cao và giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội bền vững, đối lập hẳn với nhưng quan điểm sai lầm trên Ngày nay vấn đề bảo vệ đất ngập nước càng được coi trọng theo quan điểm môi trường và chiến lược PTBV [34]
Phương hướng bảo tồn và phát triển đất ngập nước ở nước ta
- Xã hội hoá bảo tồn và phát triển đất ngập nước Các cấp, các ngành, các địa
Trang 23tồn đất ngập nước là trách nhiệm chung Thông quan các hình thức tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cho người dân, thu hút người dân vào công tác bảo tồn và phát triển đất ngập nước;
- Bảo tồn và phát triển đất ngập nước theo hướng du lịch sinh thái Có nghĩa
là phát triển du lịch dựa vào những giá trị hấp dẫn của đất ngập nước và văn hoá bản
địa, quản lí bền vững đất ngập nước về môi trường sinh thái, giáo dục nâng cao ý thức BVMT và có những đóng góp cho những nỗ lực bảo tồn và phát triển cộng đồng Mô hình này đang được nhiều địa phương thực hiện như Hồ Ba Bể, hồ Núi Cốc, hồ Đồng Mô Thông qua phát triển du lịch sinh thái, tạo thu nhập, cảnh quan môi trường mà
đất ngập nước ao, hồ, đầm được bảo tồn và phát triển
- Xây dựng mô hình đất ngập nước theo hướng nông nghiệp đa canh Mô hình kết hợp trồng lúa, cây ăn quả, nuôi trồng thuỷ sản, chăn nuôi gia súc, gia cầm,
như mô hình lúa xuân - Cá hè đông ở Mê Linh - Vĩnh Phúc, vừa đạt hiệu quả kinh tế cao vừa giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động Mô hình này sử dụng lao
động hơn mô hình độc canh 2 lúa từ 264 - 704 công/ha (Nguyễn ích Tân, 1999)[26]
2.2.6 Cơ sở pháp lý liên quan đến quản lý và sử dụng đất ngập nước ở Việt Nam
Sau khi tham gia công ước Ramsar về bảo tồn đất ngập nước, nước ta đã ban hành nhiều luật liên quan đến việc quản lý, bảo tồn và phát triển đất ngập nước Có thể tóm tắt một số văn bản liên quan đến các khía cạch quản lí đất ngập nước như sau:
- Quản lí, bảo vệ đất ngập nước:
+ Quyết định 845/TTg ngày 22 tháng 12 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt "Kế hoạch hành động bảo vệ đa dạng sinh học của Việt Nam" có đề cập đến vấn
đề xây dựng và quản lí bảo vệ các khu vực đất ngập nước quan trọng trước tình trạng suy thoái nghiêm trọng của vùng đất này, trong đó có đất ao hồ đầm nội địa với mục tiêu là bảo
vệ đa dạng sinh học, ngăn chặn các nguồn ô nhiễm nước, chống tiêu thoát nước quá mức + Nghị định 109/NĐ - CP ngày 23 tháng 9 năm 2003 của Chính phủ về về bảo tồn các vùng đất ngập nước trước nguy cơ suy thoái nghiêm trọng các vùng đất ngập nước
có các hệ sinh thái đặc thù và có tầm quan trọng tầm cỡ quốc tế và quốc gia, có giá trị
đa dạng sinh học cao Việc ban hành Nghị định trên có một ý nghĩa hết sức to lớn Nó
Trang 24là cơ sở pháp lý và khoa học quan trọng để Nhà nước thống nhất quản lý và xây dựng quy hoạch, kế hoạch cho các cấp, các ngành và hợp tác quốc tế nhằm bảo tồn và khai thác bền vững vùng đất này Mặc dù, đất ngập nước ao hồ thuộc tỉnh mà không phải là các khu bảo tồn đất ngập nước nhưng cũng được đề cập trong khoản 1 điều 16 của Nghị
định trên, việc điều tra, nghiên cứu và bảo vệ các vùng đất ngập nước ao hồ thuộc về trách nhiệm của UBND các cấp, nhất là cấp tỉnh
Theo Thông tư 18/2004/TT-BTNMT, ngày 23 tháng 8 năm 2004 về Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23 tháng 9 năm 2003 của Chính phủ về bảo tồn và PTBV các vùng đất ngập nước, đất ngập nước là vùng ngập nước thường xuyên hoặc tạm thời, nước chảy hoặc nước tù, nước ngọt, nước mặn, nước lợ đất ngập nước được phân thành đất ngập nước ven biển và đất ngập nước nội địa Đất ngập nước nội địa gồm (ao hồ, đầm, sông suối, vùng sản xuất lúa nước )
Theo Nghị định 109/2003/NĐ-CP ngày 23 tháng 9 năm 2003 của Chính phủ về
bảo tồn và PTBV các vùng đất ngập nước thì việc bảo tồn vùng đất ngập nước là hoạt
động khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt các hệ sinh thái đặc thù, có tầm quan trọng quốc
tế, quốc gia, có giá trị đa dạng sinh học cao nhằm cân bằng sinh thái, bảo vệ các giống, loài đang sinh sống, cư trú và phát triển trên các vùng đất ngập nước
PTBV các vùng đất ngập nước là các hoạt động sử dụng, khai thác hợp lý các tiềm năng về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội trong giới hạn cho phép nhằm duy trì chức năng sinh thái và BVMT các vùng đất ngập nước
Theo Nghị định 109/2003/NĐ-CP ngày 23 tháng 9 năm 2003 của Chính phủ về bảo tồn và PTBV các vùng đất ngập nước, nội dung quản lý nhà nước về bảo tồn và PTBV các vùng đất ngập nước gồm:
+ Điều tra, nghiên cứu về các vùng đất ngập nước;
+ Xây dựng cơ chế chính sách, luật pháp về bảo tồn và PTBV các vùng đất ngập nước; + Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng các vùng đất ngập nước cho các mục đích bảo tồn và các hoạt động phát triển kinh tế- xã hội;
+ Quản lý các vùng đất ngập nước đã được khoanh vùng bảo vệ;
+ Quản lý các hoạt động khai thác nguồn lợi và tiềm năng các vùng đất ngập nước
Trang 25thuộc lĩnh vực nông nghiệp, thuỷ sản, du lịch, giao thông, thuỷ lợi, thuỷ điện và các lĩnh vực khác có liên quan đến bảo tồn và PTBV các vùng đất ngập nước;
+ Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm đối với việc bảo tồn và PTBV các vùng đất ngập nước;
+ Khuyến khích và tạo điều kiện để cộng đồng, đặc biệt là những người dân sinh sống trên các vùng đất ngập nước tham gia vào việc bảo vệ các hệ sinh thái, đa dạng sinh học và BVMT các vùng đất ngập nước;
+ Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn và khai thác bền vững các vùng đất ngập nước Cũng theo Nghị định này thì Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo tồn
và khai thác bền vững các vùng đất ngập nước Bộ tài nguyên và môi trường thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo tồn và PTBV các vùng đất ngập nước
Theo Thông tư 18/2004/TT-BTNMT, ngày 23 tháng 8 năm 2004 về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 109/2003/NĐ/-CP ngày ngày 23 tháng 9 năm 2003 của Chính phủ về về bảo tồn các vùng đất ngập nước, đất ao hồ, đầm thuộc loại đất ngập nước nội
địa, theo những tiêu chí đưa ra thì đất ao hồ được xác định là đối tượng được bảo tồn theo Nghị định 109/NĐ-CP của Chính phủ
Ngoài ra còn có các luật và văn bản dưới luật về đất đai, môi trường nước liên quan đến quản lí, sử dụng đất ngập nước như: Luật đất đai 2003; Nghị định 181/CP của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành luật đất đai 2003;
Tuy nhiên, các văn bản luật trên cũng chỉ quy định một cách sơ lược về quy định thẩm quyền ra quyết định quản lí đối với các ao hồ thuộc ranh giới hành chính nhiều
địa phương (xã, huyện, tỉnh) chứ chưa quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ chế phối hợp giữa các địa phương, các ngành như thế nào
- Xử phạt hình chính: Trước tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng do quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá tăng nhanh, nhiều cơ sở sản xuất ra đời nhưng công nghệ thì lạc hậu, không phải là công nghệ sạch có thể giảm thiểu ô nhiễm môi trường, Chính phủ đã ban hành Nghị định 64/CP, ngày 20 tháng 4 năm 2003 về kế hoạch xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nước; Nghị định 67/CP, ngày 13 tháng 6
Trang 26năm 2003 về phí BVMT đối với nước thải Chủ trương của Chính phủ là cương quyết
đóng cửa các cơ sở gây ô nhiễm, và Nhà nước phải thu phí BVMT đối với nước thải
Đây là chủ trương rất đúng đắn, gắn phát triển kinh tế, xã hội với BVMT
2.2.7 Quan điểm và giải pháp quản lí và sử dụng đất ngập nước
Sử dụng tiết kiệm, hợp lí và bền vững
Muốn quản lý tốt nguồn lợi đất ngập nước thì phải quản lý số lượng nước, phải tiết kiệm trong sử dụng thông qua đầu tư công nghệ để tái sử dụng nước, sau đó đảm bảo nguồn nước phải sạch, không được đưa vào thuỷ vực các nguồn gây bẩn, nếu bẩn thì phải
có biện pháp làm sạch trước khi sử dụng Khai thác nguồn lợi sinh vật dưới nước phải hợp
lý, tức là lấy đi phần tăng trưởng của nguồn lợi ở mức chi phí tối thiểu, nếu khai thác bất hợp lý sẽ gây ra sự nghèo kiệt nguồn gen, giảm tính ĐDSH (Vũ Trung Tạng, 1995)[37]
Quản lý thống nhất và tổng hợp đất ngập nước
Quản lí thống nhất và tổng hợp theo ngành và tiểu ngành để nhằm vào công tác quy hoạch và quản lý đất ngập nước có tính đến sự cạnh tranh và mâu thuẫn trong việc sử dụng nước của các ngành, như xây dựng các hồ chứa nước đa mục tiêu, vấn đề phân phối nước, hệ thống cấp giấy phép và sử dụng hồ đa mục đích Ngoài ra, còn có các chỉ tiêu như thống nhất và tổng hợp về môi trường – kinh tế và xã hội; thống nhất và tổng hợp về mặt hành chính; và thống nhất và tổng hợp về mặt địa lý (Lâm Minh Triết, 2001) [8]
Đảm bảo hài hoà lợi ích giữa các ngành kinh tế và các mục đích sử dụng
Các hoạt động kinh tế đơn phương quản lí, khai thác nguồn lợi đầm phá ven biển thường phát sinh tranh chấp với nhau mà nguyên nhân bắt nguồn từ phương thức quản
lý Do sử dụng đất ngập nước không mang tính chất tổng hợp và thống nhất nên tạo ra những bất đồng về lợi ích giữa các ngành với nhau Những giải pháp đưa ra là nhằm hài hoà giữa lợi ích kinh tế đa phương với BVMT và PTBV tài nguyên đất ngập nước, trên cơ sở đó xác định các mục tiêu ưu tiên và ban hành những quy định cần thiết [34]
Xây dựng mối quan hệ đồng tác
Mối quan hệ này được dựa trên cơ sở cộng đồng, phát huy sức mạnh nội sinh của cộng đồng và lấy quyền lợi của cộng đồng làm nền tảng cho mọi hoạt động sử dụng hợp
Trang 27lý TNMT Muốn vậy, trước hết cần nghiên cứu xác định rõ quy mô, giá trị, chức năng dịch vụ, đặc điểm và tiềm năng phát triển của các nguồn tài nguyên; xây dựng cơ sở khoa học cho xác định chức năng, trách nhiệm, quyền và lợi ích của từng đối tượng có liên quan; làm rõ ảnh hưởng của những yếu tố chủ yếu đến chất lượng của mối quan hệ đồng tác; làm rõ những kế hoạch, những thoả thuận trong quản lý tài nguyên cùng các cơ chế, thủ tục để ràng buộc lẫn nhau giữa các đối tượng liên quan cũng như để giải quyết các mâu thuẫn phát sinh; cuối cùng là đề xuất giải pháp hỗ trợ các đối tượng tham gia có hiệu quả vào quản lý tài nguyên trên cơ cở mối quan hệ đồng tác vì quyền lợi, hạnh phúc của
tất cả các bên và vì công cuộc phát triển chung (Lê Quí An, 2001) [1,2]
Do tính chất kỹ thuật tưới tiêu, nên nếu không có sự phối hợp tốt thì các cộng
đồng ở cuối nguồn nước thường bị thiệt thòi (tưới được ít nhưng chi phí lại cao) Bởi vậy, các cộng đồng phải xác định chi phí, phân bổ và sử dụng hợp lý nguồn nước là giải pháp tốt nhất để tránh mâu thuẫn nảy sinh (Hoàng Hùng, 2001) [17,18]
Quản lí và sử dụng đất ngập nước bền vững là phạm trù rất rộng, liên quan đến nhiều khía cạnh thể chế, chính sách, bao hàm quản lí đất, nước và môi trường; mang tính chất liên ngành; sự phối hợp theo ngành và theo lãnh thổ Quản lí và sử dụng đất ngập nước phải quan tâm đến vai trò của cộng đồng trong chia sẻ quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm Khai thác đất ngập nước phải dựa trên quan điểm tổng hợp, bền vững, phải duy trì nguồn lợi thuỷ sản, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn nước và các chức năng sinh thái đất ngập nước, quan tâm đến cả những giá trị văn hoá, giá trị đạo đức môi trường
Hiện nay, ở Việt Nam, vai trò và giá trị đất ngập nước chưa được nhận thức đầy
đủ, tự do hưởng lợi, dẫn đến quản lý lỏng lẻo, sử dụng bừa bãi gây suy thoái đất ngập nước Chưa lượng hoá giá trị tài nguyên đất ngập nước hồ đầm, thiếu các công cụ quản
lí, quyết định quản lí sử dụng đất ngập nước còn thiếu cơ sở khoa học Các cấp các ngành chưa quan tâm đến bảo tồn và phát triển đất ngập nước cơ chế phối hợp chưa rõ ràng, chồng chéo; Nghiên cứu gần đây chưa làm rõ vai trò tham gia của cộng đồng
trong QLSD đất ngập nước Tóm lại, đất ngập nước vô cùng quí giá, để sử dụng hợp
lí và bền vững đòi hỏi phải có một tư duy "chiến lược", một hành động mang tầm
"quốc gia" và mang lại một "lợi ích thiết thực" cho "cộng đồng và người dân"
Trang 283 Đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tình hình quản lí và sử dụng đất ngập nước vùng Đầm Vạc, thị xã Vĩnh Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc, tổng diện tích tự nhiên của vùng 3.079,84ha, trong đó tổng diện tích đất ngập nước của vùng là 504,73ha, gồm đất ngập nước thường xuyên hay còn gọi là đất mặt nước (ao, hồ, đầm, sông) và đất ngập không thường xuyên (đất trũng ven sông, ven đầm, đất bán ngập thuộc đầm có thời gian ngập ít nhất 6 tháng/năm, trồng 1 lúa, 1 màu hoặc 1 lúa + cá), và mối quan hệ giữa các đối tượng tham gia quản
lí, sử dụng đất ngập nước vùng Đầm Vạc
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nguyên cứu toàn bộ diện tích đất ngập nước của vùng Đầm Vạc (bao gồm cả diện tích đất mặt nước Đầm Vạc) nằm trên địa giới hành chính phường Đống Đa, phường Ngô Quyền, phường Tích Sơn, phường Đồng Tâm, phường Khai Quang và xã Thanh Trù của thị xã Vĩnh Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc Hiện trạng môi trường đất ngập nước chỉ được đánh giá đối với đất ngập nước thuộc đầm (Đầm Vạc), hiện trạng môi trường các loại đất ngập nước khác không được đề cập
- Thời gian thực hiện từ tháng 6/2004 - 8/2005
3.3 Nội dung nghiên cứu
1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội có liên quan trực tiếp đến quản lí và sử dụng
đất ngập nước vùng Đầm Vạc, Thị xã Vĩnh Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc
2 Hiện trạng quản lí và sử dụng đất ngập nước vùng Đầm Vạc
- Hiện trạng quản lí đất ngập nước vùng Đầm Vạc
- Hiện trạng sử dụng đất ngập nước vùng Đầm Vạc
- Hiện trạng môi trường nước Đầm Vạc
Trang 293 Một số nguyên nhân ảnh hưởng đến quản lí và sử dụng đất ngập nước vùng
Đầm Vạc
4 Sự tham gia của cộng đồng trong quản lí và sử dụng đất ngập nước vùng Đầm Vạc
5 Một số giải pháp nhằm quản lí và sử dụng hợp lý đất ngập nước vùng Đầm Vạc, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và BVMT ở khu vực
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp tiếp cận:
- Tiếp cận hệ thống: Việc xem xét đánh giá tình hình quản lí và sử dụng đất ngập
nước phải dựa trên cơ sở hệ thống, coi đất ngập nước như là một yếu tố cấu thành vẹn toàn của hệ sinh thái tự nhiên Quản lí và sử dụng đất ngập nước phải dựa trên nguyên tắc đảm bảo, duy trì các chức năng và tính nguyên vẹn của hệ sinh thái ao, hồ, đầm,
đảm bảo tính đa dạng sinh học, phải đặt đất ngập nước trong mối quan hệ với các yếu
tố có liên quan, như yếu tố tự nhiên (nguồn sinh thuỷ, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, sông ngòi), yếu tố kinh tế, xã hội
- Tiếp cận tổng hợp liên ngành: đất ngập nước có ảnh hưởng đến nhiều ngành,
nhiều đối tượng khác nhau (nông nghiệp, thuỷ sản, thuỷ lợi, du lịch, lâm nghiệp, công nghiệp…), mặt khác sử dụng nước còn bị chi phối bởi các yếu tố như địa giới hành chính, chính quyền các cấp, các điều kiện về tự nhiên, kinh tế và xã hội…Bởi vậy, để quản lý đất ngập nước tổng hợp và bền vững cần dựa trên phương pháp tiếp cận tổng hợp
và liên ngành, xem xét đến nhiều yếu tố, những mối tác động qua lại với nhau để xây dựng cơ sở khoa học, cơ chế, cơ cấu tổ chức nhằm sử dụng hợp lý, hiệu quả đất ngập
nước và BVMT, làm cơ sở cho phát huy nguồn lực tổng thể vào quản lý đất ngập nước
- Tiếp cận có sự tham gia: Sự tham gia ở đây là sự liên kết của các đối tượng
tham gia quản lí và sử dụng đất ngập nước, bao gồm người dân, cộng đồng, lãnh đạo chính quyền các cấp, cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và với nhà khoa học trong quản lí và sử dụng đất ngập nước Cách tiếp cận này cũng nhằm khuyến khích, thúc đẩy và tăng năng lực cho chính người dân, cộng đồng trong quản lý đất ngập nước Tiếp nhận thông tin phản hồi (fedback) từ cấp dưới (theo cấp ngành, theo chính
Trang 30quyền địa phương) lên để hoàn thiện cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý Tuy nhiên sự tham gia như thế nào, những ai tham gia, mức độ tham gia và khi nào cần tham gia thì còn tuỳ thuộc vào từng điều kiện cụ thể, từng giai đoạn, từng khâu của quá trình quản lí và
sử dụng đất ngập nước, làm cơ sở cho quản lý đất ngập nước trên cơ sở cộng đồng và xã hội hoá công tác bảo vệ đất ngập nước
Sơ đồ 2.1: Tóm tắt quá trình nghiên cứu của đề tài
Kinh nghiệm, quan
Tỉnh Huyện /xã
Trung ương (Vĩ mô)
Hiện trạng QLSD ĐNN
Điều kiện TN-KT-XH
Những hiệu quả, tồn tại, thách thức trong QLSD ĐNN
Nguyên nhân
ảnh hưởng đến QLSD ĐNN
Các bên liên quan, vai trò, lợi ích, mâu thuẫn/xung đột
Điều tra thu thập thông tin
- Tiếp cận xã hội học: sử dụng cách tiếp cận này để phân tích các xung đột lợi
ích theo các nhóm xã hội, các đối tượng hưởng lợi, xác định các nhóm chịu thiệt thòi, các đối tượng gây thiệt hại cho môi trường và cho các nhóm xã hội khác khi xung đột nảy sinh Từ cách tiếp cận này để xác định các cơ chế cân bằng lợi ích giữa các nhóm với nhau (giữa người dân với người dân, người dân với cộng đồng, cộng đồng với các tổ chức kinh tế, xã hội, cơ quan, xí nghiệp…) Theo cách tiếp cận này, các đối tượng hưởng lợi là đối tượng phân tích đánh giá, làm cơ sở phân loại các đương sự xung đột, tìm hiểu các quan điểm, thái độ, hành vi của các đối tượng sử dụng đất ngập nước, phân tích quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham gia
Trang 313.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA)
RRA được sử dụng nhằm xác định các bên hưởng lợi từ tài nguyên đất ngập nước
đối tượng quản lí, sử dụng mục đích sử dụng, cũng như xác định nhanh những vấn đề nổi cộm trong quản lí và sử dụng đất ngập nước
RRA được thực hiện thông qua việc phỏng vấn nhanh, phỏng vấn theo bảng hỏi 30
hộ gia đình, cá nhân, tập thể, công ty, các tổ chức có liên hệ trực tiếp tới quản lí và sử dụng đất ngập nước vùng Đầm Vạc, chính quyền các cấp ở địa phương, đó là những đối tượng ở cạnh Đầm Vạc hoặc có các hoạt động sinh sống, sản xuất nhờ vào hệ thống này
Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA)
Đề tài sử dụng một số công cụ của PRA: lược sử thôn bản, lịch mùa vụ, thảo luận nhóm, lát cắt, quan sát Mục đích sử dụng phương pháp nhằm kiểm tra kết quả, xác
định những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quản lí và sử dụng đất ngập nước vùng Đầm Vạc; những thách thức và cơ hội cho các bên trong quản lí và sử dụng đất ngập nước, lựa chọn những giải pháp ưu tiên, đề xuất những khuyến nghị về chính sách tạo động lực quản lí và sử dụng hợp lý đất ngập nước vùng Đầm Vạc
PRA được thực hiện sau nghiên cứu RRA thông qua 3 cuộc thảo luận nhóm với người dân, các bên có liên quan trong sử dụng đất ngập nước vùng Đầm Vạc
Phương pháp này còn được sử dụng để khảo sát, và đánh giá hiện trạng sử dụng
đất ngập nước, các hệ thống công trình thoát nước
Phương pháp điều tra xã hội học:
Phương pháp này được sử dụng nhằm thu thập các thông tin định lượng về hiệu quả kinh tế, xã hội đất ngập nước, các mâu thuẫn trong quản lí, sử dụng đất ngập nước, nguyện vọng và đề xuất của người dân Phương pháp sử dụng bảng câu hỏi được thiết
kế sẵn, dung lượng mẫu là 90 hộ, mẫu lấy ngẫu nghiên, đối tượng điều tra là các hộ có quản lí, sử dụng đất ngập nước nuôi trồng thuỷ sản, canh tác nông nghiệp, thuỷ lợi Nội dung điều tra: thông tin cơ bản về chủ hộ; vai trò và giá trị của đất ngập nước; nhận
Trang 32thức của người dân về pháp luật liên quan đến quản lí và sử dụng đất ngập nước; những mâu thuẫn/xung đột trong quản lí và sử dụng đất ngập nước; sự tham gia của người dân trong quản lí, sử dụng đất ngập nước và đề xuất giải pháp quản lí và sử dụng hợp lí đất ngập nước
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Đề tài thu thập các số liệu đánh giá hiện trạng đất ngập nước: số lượng và chất lượng nước tại vùng Đầm Vạc Những chỉ tiêu chất lượng nước bao gồm: các chỉ tiêu vật lý (nhiệt độ nước, độ đục, màu sắc, các chất cặn); các chỉ tiêu hoá học (độ pH, độ cứng, BOD, COD, )
Đề tài cũng tham khảo, kế thừa và phân tích những tài liệu, văn bản pháp lý, các công trình khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phương pháp đánh giá tác động môi trường, phương pháp biểu đồ, thống
kê theo bảng, bằng phần mềm Excel, SPSS, để tổng hợp và phân tích kết quả nghiên cứu, đánh giá tính hợp lí của quản lí, sử dụng đất ngập nước Các chỉ tiêu phân tích gồm: tổng thu nhập, giải quyết việc làm, đa dạng sinh học, san lấp, lấn chiếm, ô nhiễm,
số người mắc bệnh tật, sự tham gia của cộng đồng/người dân
3.4.5 Phương pháp chuyên gia
Đề tài tham khảo ý kiến chuyên gia của những nhà hoạch định chính sách ở địa phương và Trung ương về vấn đề quản lí và sử dụng đất ngập nước, tham khảo triệt để ý kiến của các chuyên gia chuyên ngành, nhằm sử dụng tiết kiệm đất, nguồn nước và lợi dụng các điều kiện tự nhiên trong sử dụng đất ngập nước
Trang 334 kết quả và thảo luận
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế x∙ hội khu vực nghiên cứu
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Vùng Đầm Vạc, Thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc có tổng diện tích tự nhiên là 3.079,84ha, gồm 5 phường (Tích Sơn, Đống Đa, Ngô Quyền, Khai Quang, Đồng Tâm)
và xã Thanh Trù, cách Hà Nội 60 km về phía Tây Bắc, cách thành phố Việt Trì 23 km
về phía Đông Nam, có đường quốc lộ 2 và đường sắt đi qua Cách Vĩnh Yên 24 km về phía Đông Bắc là thị trấn Tam Đảo - khu du lịch và nghỉ mát nổi tiếng của nước ta Giới hạn của vùng Đầm Vạc như sau:
- Phía Đông giáp núi Trống, xã Quất Lưu huyện Bình Xuyên;
- Phía Tây giáp xã Vân Hội, Hợp Thịnh huyện Tam Dương;
- Phía Nam giáp xã Đông Cương huyện Yên Lạc;
- Phía Bắc giáp xã Kim Long huyện Tam Đảo
4.1.1.2 Địa hình
Thị xã Vĩnh Yên được hình thành trên khu vực có kiểu địa hình thấp, thoải, độ cao
từ 8 - 30 m Địa hình có hướng dốc từ Đông Bắc xuống Tây Nam Phần phía Nam của thị xã là vùng thấp trũng tạo nên vùng đất ngập nước Đầm Vạc, với một cánh đồng thấp trũng, có độ cao 5 - 8 m, thường bị ngập nước Địa hình ở đây rất phức tạp, địa hình lồi lõm và bị chia cắt bởi các ao, hồ, đầm
4.1.1.3 Khí hậu
Vĩnh Yên nằm trong vùng khí hậu miền trung du Bắc Bộ tiếp giáp giữa vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ Vì vậy, khu vực thị xã Vĩnh Yên có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm Các đặc điểm khí hậu như:
- Nhiệt độ
+ Nhiệt độ trung bình hàng năm: 23,70C;
Trang 34+ Nhiệt độ tối cao tuyệt đối: 40,70C;
+ Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối: 4,00C;
+ Nhiệt độ không khí trung bình năm lớn nhất : 29,20C;
+ Nhiệt độ không khí trung bình năm thấp nhất: 16,30C;
+ Thời gian nóng nhất khoảng từ tháng 3 đến tháng 8 Thời gian lạnh nhất từ tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau
Lượng mưa: Lượng mưa năm bình quân trong nhiều năm của trạm khí tượng Vĩnh Yên là 1603 mm, cực đại có thể đạt xấp xỉ 2500 mm, cực tiểu có thể tụt xuống còn khoảng 1300 mm Mùa mưa kéo dài từ tháng V đến tháng X với lượng mưa chiếm khoảng 85% tổng lượng mưa năm Mưa nhiều và lớn nhất thường rơi vào tháng VII hoặc tháng VIII Số ngày có mưa trong năm khoảng 142 ngày, gây bất lợi cho các hoạt động sản xuất và thi công ngoài trời Lượng mưa ngày lớn nhất đạt 284 mm, xảy ra ngày 4 tháng X năm 1978
Biểu đồ 4.1 thể hiện qui luật phân phối mưa giữa các tháng trong năm bình quân trong thời gian nhiều năm tại Vĩnh Yên
Biểu đồ 4.1: Phân phối mưa tại trạm khí tượng Vĩnh Yên
(Nguồn: Trung tâm môi trường - Sở TNMT tỉnh Vĩnh Phúc, 2003)
Trang 35- Độ ẩm: Nhìn chung độ ẩm trong khu vực nghiên cứu tương đối cao và biến động không nhiều Theo số liệu của trạm Vĩnh Yên:
- Độ ẩm trung bình mùa khô khoảng 80 - 81%;
- Độ ẩm trung bình mùa mưa khoảng 82 - 84%;
Độ ẩm tương đối trung bình tháng và trung bình năm thể hiện qua bảng 4.1:
Có thể nói thời tiết khí hậu khu vực Vĩnh Yên khá thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp, giao thông, xây dựng và du lịch Tuy nhiên, bão và một số hiện tượng thời tiết nguy hiểm khác là những mặt trái bất thuận lợi, ảnh hưởng lớn đến sản xuất, cảnh quan, sức khỏe và đời sống của nhân dân Hàng năm Vĩnh Yên chịu ảnh hưởng của trên dưới 10 cơn bão và áp thấp nhiệt đới gây ngập úng hàng ngàn ha lúa và hoa màu, đặc biệt là khu vực Đầm Vạc (vào các năm 1977, 1983, 1985, 1994)
4.1.1.4 Thuỷ văn lưu vực đất ngập nước vùng Đầm Vạc
Nguồn nước mặt trong vùng chủ yếu là nguồn nước của lưu vực sông Cà Lồ, Sông Phan và sông Bến Tre
- Sông Cà Lồ là sông chính qua thị xã nằm phía Đông và Đông Nam, chiều dài 89km và diện tích lưu vực 881km2, sông Cà Lồ là phụ lưu cấp I lớn thứ hai của sông Cầu Sông bắt nguồn từ phía Tây bắc dãy núi Tam Đảo ở độ cao 1268m, chảy qua vùng
Trang 36đồng bằng là chủ yếu, rồi nhập vào sông Cầu ở Lương Phú bên bờ phải, cách cửa sông Cầu khoảng 64km chiều dài sông khoảng 89,0 km Hơn một nửa diện tích lưu vực sông
Cà Lồ là vùng núi, nhiều ngòi suối lớn từ nguồn Tam Đảo, Liễu Sơn Lượng nước của sông Cà Lồ 0,66 km3/năm ứng với lưu lượng bình quân 21m3/s và mô đun dòng chảy năm là 23,8 l/s/km2 Về mùa mưa nước mưa mực nước lũ có thể lên đến 7 - 8 m, cao hơn bề mặt đồng bằng nên thường gây ra nạn úng thủy nghiêm trọng
4.1.1.5 Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt: chủ yếu được khai thác, sử dụng từ các đầm, ao, hồ có trên
địa bàn và nước mưa Trữ lượng nước mặt dồi dào và đang được khai thác cho sinh hoạt của nhân dân Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ở khu đô thị, khu dân cư nông thôn
đã bị nhiễm bẩn do chịu ảnh hưởng của chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt, sử dụng thuốc trừ sâu, phân hoá học
- Nguồn nước ngầm: có trữ lượng không lớn, chất lượng không cao, có thể khai thác 33.900 - 75.000m3/ngày đêm Chất lượng nước tương đối tốt ở độ sâu cách mặt đất khoảng 60 - 80 m, để cung cấp cho sinh hoạt cần phải qua xử lý làm sạch các tạp chất
40, bản chất vẫn là đất phù sa sông Hồng, nhưng từ khi có đê loại đất này không được phù
sa bồi đắp, đất có thành phần cơ giới trung bình, phù hợp với sản xuất nông nghiệp
+ Đất phù sa không được bồi, glây mạnh ngập nước vào mùa mưa: được phân bố
ở địa hình trũng, hàng năm bị ngập nước liên tục thường có glây cạn, tỷ lệ mùn khá, độ
pH từ 4,5 - 6,0 Được sử dụng trồng lúa kết hợp nuôi trồng thuỷ sản, phân bố chủ yếu ở Ngô Quyền, Đống Đa
+ Đất phù sa cũ có sản phẩm Feralit không bạc màu: Đất thường bị chua hoặc rất chua, phân bố chủ yếu ở Thanh Trù, đất thường xen kẽ với đất bạc màu nhưng ở địa
Trang 37hình thấp hơn, được phát triển trên nền phù sa cũ có sản phẩm feralit và hình thành kết von từ 10 - 20% Đất phù hợp với cây trồng nông nghiệp nhưng cho năng suất thấp
+ Đất bạc màu trên nền phù sa cũ có sản phẩm Feralit: Phân bố hầu hết ở xã, phường, đất nghèo dinh dưỡng, bề mặt rời rạc, thành phần chủ yếu là cát và cát pha
+ Đất Feralit biến đổi do trồng lúa nước: Phân bố ở hầu hết các xã, phường trong
địa bàn, được con người khai phá, tạo thành những ruộng bậc thang
4.1.1.7 Tài nguyên đất đai
Tổng diện tích tự nhiên của vùng Đầm Vạc là 3.079,84ha, nhưng diện tích tập trung chủ yếu ở phường Khai Quang, xã Thanh Trù và phường Đồng Tâm Đất nông nghiệp toàn vùng là 1.439,63ha, chiếm 46,74%, đất ở là 215,5ha, chiếm 4,79% tổng diện tích tự nhiên của vùng Số liệu hiện trạng sử dụng đất thể hiện qua bảng 4.2:
Bảng 4.2 Hiện trạng sử dụng đất vùng Đầm Vạc
Địa điểm Đất nông
nghiệp
Đất lâm nghiệp
Đất chuyên dùng
Đất ở Đất chưa
sử dụng Tổng
Tỷ lệ (%)
Trang 38rừng phục vụ mục tiêu phát triển du lịch sinh thái cần phải cải tạo lại rừng, trồng các loài cây bản địa, cây có giá trị cao về cảnh quan
4.1.1.9 Tài nguyên nhân văn
Vùng Đầm Vạc nằm trong vùng đất cổ xưa có truyền thống lịch sử - văn hoá lâu
đời Người dân gắn bó lâu đời và phụ thuộc rất nhiều vào sông nước, hồ đầm Họ có những kinh nghiệm quí báu trong nuôi trồng thuỷ sản, đánh bắt cá, trồng lúa nước
Thị xã Vĩnh Yên còn có nhiều công trình văn hoá, lễ hội truyền thống văn hoá dân gian đặc trưng như lễ hội đình Cả, lễ hội móc khuỷ ở Khai Quang, đặc biệt là lễ hội giết trâu và đua thuyền ở Thanh Trù luôn gắn liền với sự tích Đầm Vạc
4.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
4.1.2.1 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thực hiện cơ chế đổi mới, đặc biệt là sau khi trở thành thị xã tỉnh lỵ của tỉnh Vĩnh Phúc, kinh tế của thị xã có bước phát triển toàn diện với tốc độ cao, ổn định: tốc
độ tăng trưởng kinh tế từ 6,7%/năm trong giai đoạn 1995 - 2000 lên 8,14%/năm giai
đoạn từ 2001 - 2004 Kinh tế chuyển dịch theo hường tăng tỷ trọng ngành công nghiệp xây dựng và giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp
Bảng 4.3: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1995 - 2004
(Nguồn: Niên giám thống kê thị xã Vĩnh Yên năm 1995-2004)
Cơ cấu nền kinh tế do thị xã quản lý có sự chuyển biến mạnh, công nghiệp xây dựng tăng nhanh, nông nghiệp giảm Cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế cũng có sự chuyển biến tích cực: Kinh tế Nhà nước có tốc độ tăng trưởng chậm, và đang tiếp tục cổ phần hoá Đồng thời huy động được mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển
Trang 394.1.2.2 Hiện trạng hoạt động phát triển kinh tế
a Hoạt động công nghiệp, kinh doanh – dịch vụ
Hoạt động kinh doanh dịch vụ và sản xuất với sự tham gia của tất cả các thành
phần kinh tế Các ngành nghề tập trung vào một số lĩnh vực chủ yếu sau: công nghiệp
chế biến, xây dựng, thương nghiệp và sửa chữa, khách sạn và nhà hàng Số lượng kinh
tế cá thể chuyên nghiệp tăng từ 78 đơn vị cơ sở (năm 1999), tăng lên 221 đơn vị cơ sở
(năm 2003), chủ yếu tập trung tại các phường nội thị như Tích Sơn và Ngô Quyền
Tại các xã ngoại thị, ngoài nghề nông, một số hộ còn tham gia sản xuất vật liệu
xây dựng (sản xuất gạch ngói) Theo thống kê chưa đầy đủ, trên địa bàn thị xã hiện có
khoảng 290 lò gạch ngói đang hoạt động Các lò gạch ngói này hoạt động theo kiểu thủ
công, đây là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường
Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu là gạch, ngói nung, bánh kẹo, quần áo may
sẵn, nông cụ cầm tay, xay sát lương thực… Nhìn chung, giá trị sản xuất công nghiệp
đem lại chưa tương xứng với tiềm năng của thị xã
b Hoạt động sản xuất nông - lâm - thuỷ sản
Hoạt động nông nghiệp - thuỷ sản chủ yếu tập trung tại các vùng ngoại thị Sản
phẩm của ngành này bao gồm: lợn, trâu, bò, gia cầm, lúa, ngô, khoai, sắn, cây thực
phẩm, cây công nghiệp Sản xuất lâm nghiệp tập trung ở địa hình cao của vùng như
Phường Khai Quang, Đồng Tâm, nhưng rừng nghèo, trữ lượng thấp
Cơ cấu cây trồng hàng năm được thể hiện qua bảng 4.4:
Bảng 4.4: Cơ cấu cây trồng từ năm 2002 - 2004
Chia ra Năm Tổng số
(ha) Cây lương
thực Cây rau đậu
Cây CN hàng năm
Cây hàng năm khác
Trang 40Năm 2004, tổng diện tích gieo trồng là 4264,5 ha: Cây lương thực giảm 0,62% cây rau đậu tăng 0,58%, cây công nghiệp hàng năm giảm 0,05% Nguyên nhân là do diện tích đất nông nghiệp giảm do chuyển sang đất xây dựng, đất ở Mặt khác nhu cầu của thị trường và hiệu quả kinh tế loại hình rau xanh cao nên nhiều hộ gia đình đã chuyển sang trồng rau Năng suất lúa trung bình cả năm đạt 43,8 tạ/ha; năng suất ngô 40,02 tạ/ha, tăng 39%; đậu tương 12,76 tạ/ha; Lạc 13,34 tạ/ha: Rau các loại 208,15 tạ/ha, giảm 2,75% Tổng sả lượng lương thực có hạt là 14.338,58 tấn, trong đó lúa là 12.173,18 tấn, ngô là 2.165,4 tấn Bình quân lương thực có hạt là 181 kg/người, đây là mức bình quân lương thực thấp so với các huyện khác và trong vùng
- Chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn phát triển ổn định Tính đến ngày 1/10/2004: So cùng kỳ đàn trâu giảm 4,34%, đàn bò tăng1,96%, đàn lợn tăng 3,74%; và
đàn gia cầm thì giảm mạnh đến 50% do dịch cúm gia cầm
- Hoạt động dịch vụ nông nghiệp: Cung ứng giống mới, phân bón, thuốc trừ sâu
đảm bảo đầy đủ và kịp thời cho mùa vụ sản xuất
- Thuỷ sản: Ngành thuỷ sản phát triển khá cả về nuôi trồng và khai thác tự nhiên: Diện tích nuôi trồng đạt 254,993ha, tăng 0,57% so với trước Tuy nhiên do diện tích nuôi thâm canh còn ít nên sản lượng đạt 392,31 tấn, tăng 8,27% so với cùng kỳ năm Giá trị sản xuất của ngành nông - lâm - thuỷ sản đạt (theo giá CĐ 94) là 64.172,553 triệu đồng, trong đó nông nghiệp là 60.749,0 triệu đồng, lâm nghiệp 333,73 triệu đồng, còn thuỷ sản là 3.089,803 triệu đồng
Cơ cấu lao động ngành nông – lâm nghiệp và thuỷ sản là 20.739 người, chiếm 59,4% tăng 1,4% so với năm 2000 Định hướng trong tương lai của thị xã cần phát triển ngành sản xuất phi nông nghiệp như công nghiệp, du lịch sinh thái, dịch vụ đến các địa phương ven đô để thu hút nhiều lao động vào các lĩnh vực này
4.1.2.3 Cơ sở hạ tầng
a Hệ thống giao thông
+ Giao thông đường bộ: Mạng lưới giao thông đường bộ được khép kín, liên hoàn từ các tuyến nội thị đến trung tâm các xã ngoại thị và với các địa phương khác