1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phát triển vùng gỗ nguyên liệu giấy của Công ty giấy Bãi Bằng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

107 904 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện tại, trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường và thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, việc phát triển vùng NLG của t

Trang 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi nằm trong vùng quy hoạch nguyên liệu giấy (NLG) trung tâm Bắc Bộ, có diện tích rừng và đất rừng chiếm 57,3% diện tích tự nhiên của tỉnh Việc phát triển kinh tế đồi rừng nói chung và phát triển trồng rừng NLG nói riêng là một trong những định hướng chiến lược nhằm khai thác các thế mạnh của tỉnh

Tỉnh Phú Thọ cũng đã chủ trương phấn đấu đến năm 2010 định hình 60.000 ha rừng trồng NLG tập trung theo hướng thâm canh rừng có năng suất cao, khai thác hàng năm 6,0 - 7,5 ngàn ha, sản lượng từ 60 - 75 vạn m3 gỗ, cung cấp 50% - 60% nguyên liệu cho công ty giấy Bãi Bằng

Hiện tại, trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường và thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá

đất nước, việc phát triển vùng NLG của tỉnh Phú Thọ đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức:

Thứ nhất: trong những năm tới khả năng cung cấp gỗ nguyên liệu

giấy không đáp ứng nhu cầu của công ty giấy Bãi Bằng

Theo dự báo của công ty, giai đoạn 2006 - 2010, mỗi năm cần từ 700.000 m3 - 750.000 m3; trong khi đó vùng NLG của tỉnh chỉ đáp ứng được

từ 30% - 35% nhu cầu hiện nay

Thứ hai: hệ thống tổ chức sản xuất và cung ứng gỗ nguyên liệu giấy

trong vùng chưa được tổ chức hợp lý, gây khó khăn cho việc lập kế hoạch,

Trang 2

quản lý vốn và cung cấp gỗ nguyên liệu cho công ty, đồng thời chưa tạo được

sự liên kết chặt chẽ giữa người trồng rừng nguyên liệu và nhà máy

Thứ ba: giá gỗ nguyên liệu giấy trên thị trường thấp không hấp dẫn người dân và các tổ chức trồng rừng nguyên liệu, đang có nguy cơ làm chậm lại quá trình tạo vùng nguyên liệu

Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế nước ta, thị trường gỗ nguyên liệu giấy có lúc bị thả nổi, thiếu sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước và do một số nguyên nhân khác, đã dẫn đến giá gỗ nguyên liệu giấy trên thị trường vừa thấp vừa không ổn định, tác động tới lợi ích của người trực tiếp xây dựng vốn rừng, chưa tạo động lực khuyến khích người dân và cộng đồng địa phương tham gia phát triển vùng nguyên liệu

Thứ tư: nền kinh tế toàn vùng còn mang nặng dấu ấn của nền sản xuất

nhỏ tự cấp, tự túc, cơ sở hạ tầng thấp kém, những nguồn lực để phát triển kinh

tế - xã hội chưa được sử dụng hợp lý, trong đó nhiều diện tích đất trống đồi trọc quy hoạch để gây trồng rừng nằm phân tán, đất đai đã bắt đầu thoái hoá, năng suất rừng trồng thấp

Thứ năm: gỗ nguyên liêu giấy là sản phẩm cuối cùng của khâu xây

dựng rừng nhưng lại là nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất giấy Trong tiến trình hội nhập quốc tế, ngành giấy trong nước nói chung và Công

ty giấy Bãi Bằng nói riêng đã và đang phải cạnh tranh gay gắt với các sản phẩm ngoại nhập như: nguyên liệu bột giấy và giấy có chất lượng cao, giá rẻ

từ các nước có ngành công nghiệp giấy phát triển như Inđônêxia, Thái Lan

do đó sẽ có ảnh hưởng đến khu vực sản xuất nguyên liệu

Đứng trước những cơ hội và thách thức trên, có hàng loạt câu hỏi đang

đặt ra, như: Tình hình phát triển vùng NLG của các lâm trường quốc doanh (LTQD) tỉnh Phú Thọ hiện nay như thế nào? Để đáp ứng nhu cầu cho Công ty giấy Bãi Bằng thì cần quy hoạch về diện tích, năng suất, sản lượng của các

Trang 3

LTQD như thế nào cho hợp lý? Phát triển vùng NLG như thế nào cho ổn

định, bền vững? Đề tài “Nghiên cứu phát triển vùng gỗ nguyên liệu giấy

của Công ty giấy Bãi Bằng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” sẽ góp phần làm

sáng tỏ vấn đề trên

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng vùng gỗ NLG ở Phú Thọ để đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng vùng NLG ổn định, lâu dài, đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu đầu vào cho công ty giấy Bãi Bằng

Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận và thực tiễn về sự hình thành và phát triển vùng gỗ NLG

- Phân tích, đánh giá thực trạng vùng NLG của công ty giấy Bãi Bằng giai đoạn 2001- 2005 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng vùng nguyên liệu

ổn định lâu dài, đáp ứng nhu cầu về NLG của công ty trong những năm tới

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về nguyên liệu gỗ cho sản xuất giấy, thực trạng sản xuất và cung ứng gỗ NLG của các lâm trường quốc doanh (LTQD) trên địa bàn tỉnh Phú Thọ cho Công ty giấy Bãi Bằng

Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các LTQD vùng

nguyên liệu giấy của công ty giấy Bãi Bằng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Về thời gian: Thu thập số liệu và thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài chủ yếu từ năm 2001 đến nay Các giải pháp đề xuất phát triển vùng nguyên liệu giấy cho Công ty giấy Bãi Bằng chủ yếu áp dụng trong giai đoạn từ nay

đến năm 2010

Trang 4

2 tổng quan tàI liệu nghiên cứu

2.1 Vai trò của vùng nguyên liệu gỗ đối với sản xuất giấy

Vùng NLG là vùng SXLN chuyên môn hóa, là vùng nguyên liệu gỗ công nghiệp tập trung nhằm cung cấp gỗ NLG cho ngành công nghiệp giấy

Để phát triển ngành công nghiệp giấy, vấn đề quan trọng hàng đầu là tạo ra

được các vùng nguyên liệu đủ đáp ứng cho nhu cầu của công nghiệp chế biến Nguyên liệu giấy là cây dài ngày, do đó phải được đầu tư xây dựng trước một bước

và phải được quản lý việc mở mang, khai thác theo kiểu công nghiệp gắn liền với tiến độ sản xuất của Công ty Việc lựa chọn công nghệ sản xuất giấy phải gắn với tiềm năng nguyên liệu có thể phát triển, vừa lợi cho người trồng nguyên liệu, vừa lợi cho người làm ra giấy, đồng thời tạo điều kiện sử dụng hợp lý quỹ đất đai vốn dĩ chỉ

có hạn

Để đảm bảo cho vùng nguyên liệu luôn luôn phát triển một cách ổn định yếu

tố quyết định đảm bảo cho Công ty hoạt động liên tục có hiệu quả - vấn đề quan trọng là xây dựng cơ chế phân phối lợi ích một cách hợp lý giữa khâu sản xuất nguyên liệu và khâu chế biến giấy Cơ chế này cần được cụ thể hoá thông qua việc xây dựng giá thu mua nguyên liệu, đó chính là đòn bẩy quyết định để trồng rừng nguyên liệu giấy hiện nay và trong tương lai Điều càng trở nên quyết liệt hơn khi

mà nhiều loài cây trồng khác mang lại lợi nhuận nhiều hơn

Hiện nay đời sống kinh tế ngày càng được nâng cao, nhu cầu xã hội đối với các sản phẩm làm ra càng ngày càng có đòi hỏi cao hơn về số lượng, chủng loại và mẫu mã hàng hoá Ví dụ như tiêu dùng xã hội có nhu cầu ngày càng đa dạng về các sản phẩm giấy: giấy viết, giấy in, báo, giấy làm hộp và mỗi loại giấy lại có nhiều mẫu mã khác nhau như giấy viết loại mỏng và dày, bóng và không bóng, bóng 1 mặt

và bóng 2 mặt Thị trường tiêu thụ giấy các loại ngày càng tăng khi nền kinh tế càng phát triển, nhu cầu tiêu dùng của con người ngày càng mở rộng và đa dạng Do

Trang 5

vậy, đầu ra của các Công ty giấy nói chung sẽ có một thị trường tiêu thụ khá rộng rãi, vấn đề chủ yếu là các Công ty giấy có khả năng cạnh tranh

để đáp ứng kịp thời các nhu cầu thị trường tới mức nào Ngoài các yếu tố tác động khác, nguồn nguyên liệu đầu vào cho các Công ty sản xuất giấy là một yếu tố rất quan trọng

Nói tóm lại xã hội càng phát triển văn minh, nhu cầu giấy càng nhiều và càng

đa dạng Nhưng muốn có giấy và có nhiều giấy thì phải cần nhiều nguyên liệu cung cấp cho chế biến

Trên thực tế các nguồn nguyên liệu cho sản xuất của các Công ty chế biến giấy rất đa dạng và phong phú như giấy vụn, rơm rạ, bã mía, bột giấy, các loại cây

có sợi (gỗ và tre, nứa) Do yêu cầu khối lượng lớn, cung cấp ổn định, liên tục trong một thời gian dài của công nghiệp chế biến, cho nên đối với đa số các nước, gỗ các loại vẫn là một nguồn nguyên liệu chủ yếu cho sản xuất giấy Các loại nguyên liệu khác ít được sử dụng bởi vì:

Thứ nhất: Nguồn nguyên liệu giấy loại rất phân tán, chất lượng thấp chỉ phù

hợp cho chế biến giấy ở qui mô nhỏ và yêu cầu chất lượng sản phẩm không cao

Hiện nay bã mía được sử dụng làm nguyên liệu để đốt lò hơi trong qui trình công nghệ khép kín sản xuất đường vì vậy phần để cung cấp cho sản xuất giấy không nhiều Nguồn nguyên liệu từ rơm rạ, một mặt rất phân tán, chất lượng không cao, mặt khác đa số rơm rạ hiện nay được nông dân dùng làm chất đốt, thức ăn cho chăn nuôi, phân bón bồi bổ lại cho đồng ruộng

Thứ hai: Nguồn nguyên liệu từ bột giấy nhập khẩu, một mặt bột giấy cũng

phải sản xuất từ nguyên liệu gỗ, giá bột nhập ngoại khá cao, không chủ động được trong sản xuất Sử dụng nguyên liệu bột giấy để sản xuất giấy chỉ được thực hiện ở một số nước không có điều kiện và khả năng trồng rừng nguyên liệu

ở các nước vùng ôn đới và cận nhiệt đới, gỗ thông là nguyên liệu chủ yếu để sản xuất giấy, thứ đến là gỗ lá rộng và phế liệu nông nghiệp ở các nước thuộc vùng

Trang 6

nhiệt đới, trong đó có Việt Nam do nguồn nguyên liệu gỗ lá kim hạn chế nên nguyên liệu chủ yếu cho công nghiệp giấy là gỗ lá rộng như bạch đàn, mỡ, bồ đề, keo và các thực vật mọc nhanh thuộc họ tre nứa như tre, nứa, vàu, diễn, mai, lồ ô

Xét về mặt kỹ thuật, có thể có nhiều loại cây trồng hay cây mọc tự nhiên có thể dùng để sản xuất giấy Tuy nhiên xét về mặt kinh tế thì các nguồn gỗ nguyên liệu cho sản xuất phải đảm bảo những chỉ tiêu rất cụ thể như khả năng cung cấp ổn

định các nguyên liệu lâu dài, giá cả nguyên liệu có tính cạnh tranh, tức là có mức giá có thể cạnh tranh với các nguồn nguyên liệu thay thế khác Chất lượng nguyên liệu đáp ứng các yêu cầu sản xuất công nghiệp Vùng nguyên liệu đạt hiệu quả kinh

tế như dùng làm củi đun Việc khai thác rừng tự nhiên thường có nhiều lãng phí trong sử dụng lâm sản và gây ra nhiều hậu quả về kinh tế và môi trường Một cây rừng chặt hạ có khi chỉ sử dụng phần thân chính, còn các loại cành lớn, ngọn cây bị

bỏ lại hay việc cưa một cây gỗ lớn làm cho một loạt cây con bên cạnh bị đổ theo

Do vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp và giảm tác động xấu của việc khai thác rừng tự nhiên, trồng rừng nguyên liệu là một giải pháp đáp ứng các đòi hỏi về bảo vệ sinh thái cũng như đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội

Trồng rừng vì mục đích kinh tế có một loạt các ưu thế đáp ứng yêu cầu sản xuất công nghiệp, trong đó có công nghiệp chế biến giấy

- Thứ nhất nó có khả năng cung cấp các nguyên liệu có đặc tính phù hợp với công nghệ sản xuất công nghiệp

Trang 7

Trong điều kiện trồng rừng nguyên liệu, với chu kỳ đầu tư kéo dài thì việc ổn

định tiêu thụ đầu ra khi tới kỳ khai thác là một vấn đề hết sức quan trọng

Ngược lại để phát triển ngành công nghiệp giấy thì vấn đề quan trọng hàng

đầu là phải tạo ra được các vùng nguyên liệu giấy ổn định và bền vững

Qua đó có thể thấy vùng nguyên liệu đối với công nghiệp sản xuất đóng vai trò hết sức quan trọng, giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ với nhau bởi lẽ dây chuyền công nghiệp mang tính sản xuất hàng loạt rất cao, vì vậy sản xuất công nghiệp đòi hỏi các đầu vào nguyên liệu có đặc tính ổn định Việc trồng rừng nguyên liệu là một giải pháp đáp ứng yêu cầu về đầu vào cho các cơ sở công nghiệp sản xuất giấy

Mặt khác trồng và khai thác nguyên liệu theo vùng có nhiều yếu tố cho phép giảm giá thành như giảm chi phí vận chuyển và thu gom nguyên liệu do các cây gỗ

được khai thác tập trung theo từng vùng nhất định, nguyên liệu được khai thác theo chu kỳ nhất định niên độ đồng đều cao, tỷ lệ hao hụt thấp và cho phép làm giảm bớt chi phí về hoá chất trong các khâu tẩy, đun, lọc trong sản xuất giấy Ngoài ra, một

số chi phí gián tiếp như làm đường khai thác, kiểm tra chất lượng đầu vào hay cân

đong đo đếm cũng đơn giản hơn và giảm hơn

Tóm lại phát triển vùng gỗ nguyên liệu giấy có quan hệ chặt chẽ với phát triển ngành công nghiệp chế biến giấy vì gỗ nguyên liệu giấy là nguyên liệu chính của ngành công nghiệp giấy

2.2 ý nghĩa của phát triển vùng nguyên liệu giấy

Trang 8

Phát triển vùng nguyên liệu gỗ gắn liền với việc phát triển công nghiệp chế biến giấy là mô hình tổ chức sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường cao đã tồn tại và đang phát triển ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước đông nam châu á Khuyến khích phát triển trồng rừng nguyên liệu không những đảm bảo cho công nghiệp chế biến giấy phát triển bền vững lâu dài đồng thời còn mở ra các điều kiện tạo công ăn việc làm ổn định cho hàng chục vạn lao động nông thôn miền núi, vừa tạo ra sản phẩm tiêu dùng cho xã hội, vừa góp phần bảo vệ môi trường sinh thái của mỗi quốc gia đồng thời góp phần mạnh mẽ trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực tối ưu

Phát triển trồng rừng nguyên liệu giấy sẽ góp phần quan trọng thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp của Nhà nước, sử dụng hợp lý quỹ đất đai để tạo ra sản phẩm mang lại lợi ích kinh tế thiết thực cho nhân dân miền núi trung du, tạo môi trường cho đồng bào tham gia trực tiếp vào chương trình phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng của ngành công nghiệp Việt Nam, đóng góp gia tăng tổng sản phẩm trong nước Phát triển sản xuất kinh doanh nguyên liệu ở vùng trung tâm Bắc Bộ sẽ tác động đến hàng chục vạn lao động chủ yếu là đồng bào trung du miền núi, do vậy phát triển nguyên liệu giấy cần gắn kết với các yếu tố phát triển kinh tế - xã hội - môi trường Phát triển trồng rừng nguyên liệu giấy không đơn giản chỉ là vấn đề kinh tế của một ngành hay Tổng công ty mà là vấn đề phát triển kinh tế xã hội ở miền núi nói chung và cần được sự quan tâm của Chính phủ và các cấp chính quyền liên quan Do vậy, việc xây dựng vùng nguyên liệu giấy cần dựa trên các điều kiện

và mục tiêu để hình thành chúng sao cho có lợi nhất cho cả khâu sản xuất nguyên liệu và khâu chế biến Do vậy, khi lựa chọn rà soát, điều chỉnh quy hoạch vùng nguyên liệu cần dựa trên cơ sở kết hợp các điều kiện quan trọng về tiềm năng tự nhiên (đất đai, khí hậu, hệ cây trồng, tài nguyên rừng hiện có ) cũng như tiềm năng kinh tế xã hội (dân sinh, tâp quán canh tác, kinh nghiệm và tập quán nghề rừng của nhân dân, cơ sở hạ tầng ) Rừng tự nhiên trong vùng quy hoạch có khả năng cung

Trang 9

cấp nguyên liệu giấy cần được quan tâm đúng mức, định danh cụ thể để quản lý bảo

vệ và sử dụng theo mục đích phục vụ cho nguyên liệu giấy không thể tùy tiện phá đi

để lấy đất sử dụng cho các mục đích khác Diện tích đất dành để trồng rừng nguyên liệu giấy không thể chỉ là những lập địa xấu, dốc cao, khó canh tác mà phải lựa chọn những nơi phù hợp với đòi hỏi của cây trồng và các điều kiện canh tác cơ giới

Vùng gỗ nguyên liệu giấy là vùng sản xuất lâm nghiệp chuyên môn hoá, không những cung cấp gỗ cho công nghiệp giấy mà còn có thể tận thu sản phẩm còn lại (không đủ quy cách gỗ NLG hoặc lượng dư thừa) để sản xuất ván nhân tạo (ván dăm, ván sợi ép) gỗ ủi và các nhu cầu khác

Doanh thu từ việc bán gỗ nguyên liệu giấy là một trong những nguồn thu nhập chính của các doanh nghiệp lâm nghiệp và các hộ gia đình làm nghề rừng,

đồng thời việc trồng rừng nguyên liệu đã và đang tạo công ăn việc làm cho hàng vạn lao động trên địa bàn nông thôn miền núi

Phát triển vùng gỗ nguyên liệu giấy góp phần tăng độ che phủ của rừng, góp phần thay đổi điều kiện sinh thái môi trường của khu vực theo chiều hướng có lợi, hạn chế hiện tượng hạn hán, lũ lụt, cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt trong vùng, hạn chế sự ô nhiễm môi trường do sự phát triển mạnh mẽ của các khu công nghiệp và tốc độ đô thị hoá ngày càng gia tăng

2.3 Đặc điểm của vùng nguyên liệu giấy

Vùng gỗ nguyên liệu giấy thường nằm ở vùng trung du và miền núi, nơi có trình độ kinh tế - xã hội thấp kém, xa nơi tiêu thụ, nên ảnh hưởng đến chi phí sản xuất gỗ nguyên liệu giấy Sự phân bố đó gắn liền với những quan hệ liên vùng, đồng thời, sự vận động của sản phẩm ra ngoài vùng và của nguyên vật liệu từ ngoài vùng vào có tác dụng thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hoá vùng trung du và miền núi

Gỗ nguyên liệu giấy là sản phẩm chuyên môn hoá chính của vùng Sản xuất

gỗ nguyên liệu giấy tạo ra những vùng chuyên môn hoá cao, tỷ suất hàng hoá của gỗ nguyên liệu giấy lớn Doanh thu từ việc bán gỗ nguyên liệu là một trong những

Trang 10

nguồn thu nhập chính của các doanh nghiệp lâm nghiệp và các hộ gia đình làm nghề rừng, đồng thời, việc gây trồng rừng gỗ nguyên liệu đã tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động, tăng độ che phủ của rừng, góp phần làm thay đổi điều kiện sinh thái môi trường của khu vực theo chiều hướng có lợi, như: góp phần khắc phục hiện tượng hạn hán, lũ lụt, cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt trong vùng, hạn chế sự ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp, các khu khai thác khoáng sản

- Phát triển vùng nguyên liệu giấy có quan hệ chặt chẽ với phát triển ngành công nghiệp giấy vì gỗ nguyên liệu giấy là một nguồn nguyên liệu chính của ngành công nghiệp chế biến giấy

- Trong quá trình phát triển vùng nguyên liệu, hàng năm chỉ có một bộ phận trong tổng số sản phẩm mà lâm nghiệp tạo ra tham gia vào tổng sản phẩm xã hội Những sản phẩm đó được thể hiện dưới dạng sản phẩm hàng hoá như gỗ thu được trong khai thác chính và trong quá trình chăm sóc, tỉa thưa, chặt vệ sinh rừng Một

bộ phận khác về lợi ích vật chất so lâm nghiệp tạo ra như rừng non, rừng chưa khép tán, rừng chưa đến tuổi thành thục công nghệ không được tính vào tổng sản phẩm xã hội Ngoài ra còn có nhiều chức năng quan trọng nữa của rừng không thể tính được bằng tiền như rừng có khả năng bảo vệ đất, chống sói mòn, điều hoà nguồn nước

Đặc điểm này liên quan đến việc đánh giá thành quả lao động của hoạt động lâm nghiệp trong vùng nguyên liệu

- Tái sản xuất tài nguyên rừng vùng nguyên liệu bao gồm 2 giai đoạn: xây dựng rừng và sử dụng rừng Sử dụng rừng là sản xuất ra sản phẩm cho tiêu dùng hiện tại, còn xây dựng rừng là tạo ra trữ lượng cây đứng để có thể khai thác nó trong tương lai Khai thác và tái sinh rừng được coi là hai giai đoạn, hai mặt đối lập biện chứng của quá trình tái sản xuất tài nguyên rừng vùng nguyên liệu Đặc điểm này liên quan đến việc tổ chức sản xuất nhằm tạo điều kiện cho rừng luôn tồn tại và phát triển

Trang 11

- Chuyên môn hoá sản xuất kết hợp với phát triển tổng hợp vùng nguyên liệu thể hiện ở 3 điểm chính sau:

Thứ nhất, bên cạnh gỗ nguyên liệu giấy là sản phẩm chuyên môn hoá của

vùng, có thể phát triển một số sản phẩm khác để tận dụng hợp lý mọi nguồn lực mà việc sản xuất sản phẩm chuyên môn hoá chưa sử dụng hết thông qua trồng xen những loại cây khác Tuy nhiên, trồng xen này phải tuân thủ nguyên tắc cây trồng xen không được cản trở, cạnh tranh về dinh dưỡng với cây trồng chính

Thứ hai, mở rộng hoạt động chế biến lâm sản để nâng cao giá trị kinh tế của

rừng nguyên liệu

Thứ ba, tham gia các hoạt động mang tính công ích như: quản lý bảo vệ rừng

phòng hộ, rừng đặc dụng, xây dựng đường trục trong vùng nguyên liệu Tổ chức vùng nguyên liệu tập trung vào 2 vấn đề chính: tổ chức không gian rừng và tổ chức sản xuất trong vùng

- Tổ chức không gian rừng

Trong lâm nghiệp, trước đây, khi nói đến không gian rừng người ta thường hiểu theo nghĩa không gian 2 chiều như trong sản xuất nông nghiệp và vì vậy tổ chức không gian rừng thực chất là phân chia đối tượng rộng lớn thành những đơn vị nhỏ để tiện cho việc lập kế hoạch và tổ chức quản lý Dần dần, cùng với sự ra đời của những quan điểm lâm sinh hiện đại cho thấy không gian dinh dưỡng của cây rừng bao hàm cả chiều thẳng đứng (chiều cao), không gian nằm ngang (chiều rộng)

Từ đó cũng xuất hiện khái niệm về không gian tuyến tính và không gian động

Tổ chức không gian tuyến tính là việc phân chia rừng và đất trồng rừng trên phạm vi rộng lớn thành những đơn vị nhỏ thuần nhất về điều kiện tự nhiên, thống nhất về mục đích kinh doanh, thường bao gồm các nội dung như phân chia rừng theo lãnh thổ; phân chia rừng theo mục đích sử dụng; phân chia rừng theo hình thức

sở hữu

Trang 12

Phân chia rừng theo lãnh thổ thực chất là việc quy hoạch về mặt địa lý cho toàn bộ tài nguyên rừng phục vụ việc tổ chức và quản lý kinh doanh rừng

Phân chia rừng theo mục đích sử dụng là toàn bộ diện tích rừng được phân thành 3 loại: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất

Phân chia rừng theo hình thức sở hữu, theo cách phân chia này, toàn bộ diện tích rừng được phân thành rừng thuộc sở hữu của nhà nước, rừng hộ gia đình, rừng cộng đồng

Tổ chức không gian động thực chất là tổ chức đơn vị kinh doanh rừng và tạo lập cấu trúc rừng trong không gian 3 chiều một cách hợp lý nhất, làm cho các cây rừng trên một diện tích nhất định tận dụng triệt để nhất không gian dinh dưỡng, bao gồm 2 nội dung chính là: tổ chức đơn vị kinh doanh và cấu trúc lâm phần rừng [28]

Trong vùng nguyên liệu, không gian giữ một vai trò hết sức quan trọng Tổ chức không gian rừng thích hợp giúp cho việc tổ chức sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn rộng lớn và phức tạp định hướng tốt hơn, đảm bảo lợi dụng tài nguyên rừng lâu dài, liên tục và có hiệu quả

2.4 Những vấn đề kinh tế - kỹ thuật của trồng gỗ nguyên liệu giấy

2.4.1 Khái niệm về gỗ nguyên liệu giấy

Thuật ngữ "gỗ nguyên liệu giấy" ở đây dùng để chỉ gỗ rừng trồng được sử dụng làm nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp sản xuất giấy và bột giấy

Gỗ là một vật liệu có thành phần nguyên tố biến đổi rất ít theo loài, giống Về mặt cấu tạo hoá học, gỗ có thành phần các chất như xenluloza, lignin, hemixenluloza (tham gia cấu tạo vách tế bào thực vật), các chất tanin Trong đó, xenluloza là thành phần chiếm tỷ trọng lớn nhất: 48 ữ 56% đối với gỗ lá kim và 46 ữ 48% đối với gỗ lá rộng [15], đây chính là thành phần chủ yếu dùng để sản xuất giấy

và bột giấy

Xenluloza là cao phân tử có nhiều trong gỗ và thực vật nói chung Phân tử xenluloza là một cao phân tử glucopyranoza, mỗi chuỗi cơ bản của cao phân tử chứa

Trang 13

200 phân tử monimer liên kết với nhau theo trình tự nhất định, các chuỗi hợp thành

sợi hay còn gọi là sợi cơ bản Độ cao phân tử của xenluloza có thể từ 1.000 đến

Trung bình Tương đối

dài Khá dài

Rất dài

Kích

thước

(à)

<500 500ữ700 700ữ900 900ữ1600 1600ữ2200 2200ữ3000 >3000

Nguồn: Lê Xuân Tình (1998), Khoa học gỗ, NXB Nông nghiệp, Hà Nội [35]

Yêu cầu quan trọng nhất đối với gỗ làm bột giấy là nguyên liệu phải có hàm

lượng xenluloza cao, sợi xenluloza dài (đạt cấp độ từ dài đến rất dài), gỗ mềm, dễ

nghiền, dễ phân ly bằng hoá chất, không có hoặc có ít nhựa [15]

ở các loài thực vật bậc cao, tế bào đều chứa xenluloza, song để một loại cây

có thể trở thành nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất bột giấy thì phải đạt một số

tiêu chuẩn tối thiểu như sau: Phải có một trữ lượng đủ lớn; mọc nhanh, tập trung, dễ

khai thác; có những tính chất cơ, vật lý, hoá học phù hợp với sản xuất xenluloza và

có hiệu quả kinh tế

Đối với gỗ nhiên liệu, có nhiều loài cây gỗ thoả mãn được các yêu cầu kỹ

thuật để sản xuất giấy, song các loại gỗ mềm, nhẹ thích hợp với công nghiệp hơn cả

Trong các loài được phổ biến, khối lượng thể tích của các loài lá kim trung bình vào

khoảng 0,4 - 0,5g/cm3, các loài cây lá rộng 0,5 g/cm3 [15], [34] ở các nước châu

Âu, những loài được sử dụng phổ biến là vân san, thông các loại; các loài cây lá

rộng như: giẻ, bạch dương, dương, liễu, phong, sồi ở các nước châu Phi nhiệt đới

ngoài các loài thông, còn dùng phổ biến cây lõi thọ (một loài cây lá rộng mọc

Trang 14

nhanh) ở Việt Nam, những loài cây được trồng làm NLG đang được nghiên cứu Một số loài cây đã được trồng trên quy mô lớn và được dùng trong công nghiệp như:

bồ đề, bạch đàn, keo, cùng một số loài thông nhập nội [15], [34], [39]

Việt Nam là một nước có quy mô dân số khá lớn với trên 80 triệu dân, nhu cầu tiêu thụ giấy là rất lớn Mức tiêu thụ giấy bình quân của nước ta còn ở mức rất thấp 6,4 kg/người (năm 2000) Theo dự báo của Tổng công ty giấy Việt Nam, mức tiêu thụ giấy bình quân vào năm 2010 sẽ tăng lên 14,5 kg/người (tăng gấp 2,27 lần

so với năm 2000) và vào năm 2020 sẽ là 33,6 kg/người (gấp 2,3 lần so với năm 2010) Như vậy, cùng với tốc độ tăng dân số ước tính 1,2%/ năm thì nhu cầu giấy hàng năm tăng 10% [57] Dự báo nhu cầu giấy của Việt Nam năm 2010 được thể hiện trên biểu 2.2 như sau:

Biểu 2.2 - Dự báo nhu cầu giấy của Việt Nam đến năm 2010

Nguồn: Tổng công ty giấy Việt Nam, 2005 [38]

Như vậy, để đáp ứng được nhu cầu phát triển của ngành công nghiệp giấy trong tương lai thì vấn đề phát triển vùng nguyên liệu cần được quan tâm thích đáng

2.4.2 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật gỗ nguyên liệu giấy

2.4.2.1 Về đất trồng rừng

Theo một số nhà nghiên cứu, có 4 yếu tố quan trọng được lựa chọn để làm tiêu chuẩn phân chia dạng lập địa trong trồng rừng NLG, đó là đá mẹ và loại đất, độ dốc; độ dày tầng đất; thảm thực bì chỉ thị cho sự thoái hoá của đất [52]

- Đá mẹ và loại đất: Có các loại đất phát triển trên đá mẹ như sau: Đất Feralit

đỏ vàng phát triển trên đá sét và đá biến chất (Fs); đất Feralit đỏ vàng phát triển đá

Trang 15

vôi (Fv); đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá Macma axit (Fa); đất Feralit vàng nhạt phát triển trên đá cát (Fq); đất Feralit vàng nâu phát triển trên phù sa cổ (Fp)

- Độ dốc: Cấp độ dốc trong trồng rừng nguyên liệu được chia 3 cấp: Đất ít

dốc < 15o (I), đất có độ dốc 15 - 25o (II), đất dốc 25 - 35o (III)

- Độ dày tầng đất (tầng A +B): Được xác định khi đào tới tầng đất ở đó có tỷ

lệ đá mẹ hoặc kết von cao hơn 70% thì độ dày của tầng đất được xác định từ đó đến mặt đất Độ dày của tầng đất phản ánh độ phì tiềm tàng trong đất liên quan đến khả năng phát triển và năng suất cây trồng Về cơ bản có thể chia ra 3 cấp: Cấp I: Đất có

độ dày > 100cm, kết von đá lẫn < 20% (1); cấp II: Đất có độ dày 50 - 100cm, kết von đá lẫn 20 - 40 % (2); cấp III: Đất có độ dày < 50 cm, kết von đá lẫn > 40% (3)

- Thảm thực bì chỉ thị: Thảm thực bì tự nhiên có vai trò rất lớn trong việc

đánh giá đất về nhiều mặt Thảm thực bì là yếu tố tổng hợp và đơn giản có thể phản

ánh đúng quan hệ ảnh hưởng của đất với cây trồng Về cơ bản có thể chia ra 3 cấp chỉ thị như sau:

- Nhóm thực bì a: Rừng thứ sinh nghèo kiệt có một số cây gỗ tái sinh như:

hu, vạng, trám Số lượng cây tái sinh có mục đích dưới 500 cây/ha Rừng dây leo, cây nhỡ kín, rậm Độ che phủ từ 50 - 60%; h >3m

- Nhóm thực bì b: Trảng nứa tép có d = 2 - 3 cm sinh trưởng kém hoặc nứa

tép xen lau chít, chè vè, cỏ tranh hoặc trảng cây bụi cao, kín rậm + cỏ tranh, chít, chè vè Độ che phủ 30 - 50%; h = 1 - 3m

- Nhóm thực bì c: Trảng chít, chè vè, cỏ tranh hoặc trảng cây bụi thấp, chè vè,

cỏ tranh xấu Có cây bụi hạn sinh như lành ngạnh, sim, mua, ràng ràng Độ che phủ dưới 30%; h < 1m

Trên cơ sở phân tích kết quả của các tài liệu và kết quả trồng rừng của các cơ quan nghiên cứu và cơ sở sản xuất trong vùng, đặc điểm sinh thái của loài cây, có thể đưa ra hướng sử dụng các dạng lập địa như trên biểu 2.3

Trang 16

Nhìn chung, cây gỗ NLG thường được trồng trên diện tích đất trống đồi núi trọc và diện tích sau khi khai thác

Biểu 2.3 - Phân chia nhóm dạng lập địa và hướng sử dụng trồng rừng NLG

Bồ đề, Mỡ, Bạch đàn, Keo

Bồ đề, Keo

1

Fs, Fq, Fa, Fp (I1c, I2c)

Fv (I1c, I2c)

Trồng rừng công nghiệp thâm canh (cày toàn diện, bón phân)

Bạch đàn, Keo Keo

B

2

Fs, Fq, Fa, Fp (II1a, II2a, II1b)

Trồng rừng công nghiệp thâm canh (cày cuốc theo băng)

Bồ đề, Mỡ, Keo

1

Fs, Fq, Fa, Fp (II1c, II2c, II2b)

Fv (II1c, II2c, II2b)

Trồng rừng công nghiệp thâm canh (cày cuốc theo băng)

Trồng rừng thủ công Bồ đề, Mỡ, Keo

D

Fs, Fq, Fp, Fa (I3b, I3c, I3b

I2b, II3c, III2c, III3b, III3c)

Fv (I3b, I3c, II3b, II3c, III2c,

Căn cứ vào điều kiện lập địa khu vực và đặc tính sinh thái của mỗi loài cây thì

từ trước tới nay vẫn tồn tại 2 nhóm cây trồng với mục tiêu cung cấp NLG, đó là nhóm cây bản địa và nhóm cây nhập nội [38], [39], [42], [43]

+ Nhóm cây bản địa bao gồm các loài cây như mỡ và bồ đề Đây là nhóm

cây tại chỗ, được trồng gần như khắp vùng nguyên liệu (trừ một số nơi đất quá xấu ở Vĩnh Phúc)

- Bồ đề (Styrax tonkinensis) là cây ưa sáng, ưa đất Feralit đỏ vàng, nhiệt độ

trung bình hàng năm 19 - 23oC, lượng mưa trung bình 1.500 - 2.500mm Bồ đề có

Trang 17

chu kỳ 8 - 10 năm, dễ trồng, đầu tư không cao Gỗ bồ đề trắng, mềm, nhẹ dùng làm giấy, diêm, đũa Cây bồ đề chỉ phát triển tốt, cho sản lượng cao trên đất còn tính chất đất rừng, có thực bì che phủ Hiện trường trồng bồ đề phải được phát, đốt dọn sạch trước khi cuốc hố trồng (tra hạt) Năng suất rừng bồ đề bình quân 70 - 80m3/ha/chu kỳ

- Cây mỡ (Mangletia glauca): Mỡ cũng là cây bản địa, gỗ phù hợp với yêu

cầu NLG, ngoài ra còn dùng phổ biến trong xây dựng cơ bản Cây mỡ có chu kỳ khá dài 13 - 15 năm, năng suất lại không cao (mức tăng trưởng 7 - 8 m3/ha/năm) Cây

mỡ tra ưa đất tốt, ẩm, đất ít dốc Cây mỡ hay bị ong phá hoại Từ năm 1997, cây mỡ

đã không được đưa vào trồng làm NLG

+ Nhóm cây nhập nội: Gồm các loài keo, bạch đàn, thông

- Cây thông (Pinus caribea và Pinus khava ): Thông chính thức được đưa vào

trồng làm NLG từ năm 1980 Cây thông có ưu điểm là cho nguyên liệu sợi dài, chất lượng tốt, dùng để pha trộn hay sản xuất các loại bột cao cấp, giấy in báo Ngoài ra

nó còn phục vụ cho các mục đích làm đồ gia dụng, xây dựng và đặc biệt nó còn có tác dụng làm đẹp cảnh quan môi trường, bảo vệ đất Cây thông có chu kỳ kinh doanh dài 20 - 30 năm Qua thực tế trồng làm NLG ở vùng trung tâm Bắc Bộ và theo

đánh giá của các nhà chuyên môn thì cây thông thích nghi kém với điều kiện tự nhiên khu vực, hay bị sâu bệnh hại, hiệu quả kinh tế thấp, chính vì vậy cây thông chỉ

được trồng đến hết năm 1985

- Cây Keo là giống cây nhập nội có nguồn gốc từ Australia, có ưu điểm là dễ

trồng, dễ sống, dễ thích nghi với điều kiện sống và nhìn chung cây keo có tính hướng ẩm, trung tính, đất còn tốt sẽ cho năng suất cao Cây keo được đánh giá là cây đa mục đích, đang được khuyến khích phát triển Gỗ keo vừa làm NLG, vừa làm

đồ gỗ gia dụng, xây dựng, đồng thời cây keo là cây họ đậu có tính năng cải tạo đất,

điều hoà khí hậu Cây keo có chu kỳ 7 -8 năm, đến cuối chu kỳ sản lượng gỗ khai

Trang 18

thác bình quân có thể đạt 70 - 80m3/ha/ chu kỳ đối với keo tai tượng (Acacia Magium) và 100 - 120m3/ha/ chu kỳ đối với rừng keo lai (Acacia Hybrid)

- Cây bạch đàn: Đã có 2 giống Bạch đàn được đưa vào trồng làm NLG đó là

bạch đàn trắng (Ecalyptus Camaldulensis) và bạch đàn Urô (Ecalyptus Urophilla)

Bạch đàn trắng được đưa vào trồng từ năm 1986 qua chương trình hợp tác Việt Nam - Thuỵ Điển, nguồn giống nhập từ Australia xuất xứ Petford Chu kỳ kinh doanh 7 - 8 năm Qua thực tế trồng cho thấy cây thích nghi kém với điều kiện lập

địa khu vực, sản lượng gỗ thương phẩm đạt thấp, bình quân khoảng 20m3/ha/chu kỳ Diện tích trồng loài cây này đã bị giảm đi nhiều từ năm 1989 và đến năm 1993 thì

đã không còn được trồng trong vùng NLG

Do loài bạch đàn trắng không được trồng tiếp nên từ năm 1989 bạch đàn Urô

đã được đưa vào trồng thay thế Qua khảo nghiệm về loài, xuất xứ đã khẳng định loài cây này tỏ ra phù hợp với điều kiện gây trồng trong vùng NLG, nó có thể trồng

ở đất có tốc độ dốc < 30o, đất còn ẩm và không quá xấu Chu kỳ kinh doanh 7 - 8 năm, sản lượng gỗ thương phẩm bình quân có thể đạt 80 - 90m3/ha/chu kỳ Với việc ứng dụng công nghệ sinh học trong lai tạo giống và áp dụng thâm canh cao đã nâng cao năng suất và sản lượng rừng trồng NLG, sản lượng gỗ thương phẩm của rừng bạch đàn mô có thể đạt bình quân 120m3/ha/chu kỳ

2.4.2.3 Về kỹ thuật thâm canh

Phương thức chủ yếu trồng rừng NLG là trồng rừng thâm canh và trồng rừng chuyên canh Đối với vùng kinh doanh gỗ NLG thì việc áp dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt là trồng rừng thâm canh trên

đất dốc [50], [55] Hiện nay, Trung tâm nghiên cứu cây NLG (Trực thuộc Tổng công ty giấy Việt Nam) đang đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong trồng rừng NLG

2.4.2.4 Về khai thác và vận chuyển gỗ nguyên liệu giấy

Trang 19

Khi rừng đến tuổi thành thục công nghệ, tức là tuổi mà cây rừng đạt tới kích thước hoặc chất lượng đáp ứng yêu cầu gỗ NLG thì tiến hành khai thác Do phần lớn rừng nguyên liệu được trồng trên đất dốc nên việc khai thác, vận xuất từ nơi chặt hạ

đến cửa rừng rất nặng nhọc và nguy hiểm Mặt khác, cơ sở hạ tầng nông thôn miền núi phần lớn kém phát triển, cự ly vận chuyển xa, sản phẩm cồng kềnh nên việc vận chuyển gặp nhiều khó khăn, chi phí vận chuyển chiếm tỷ trọng lớn trong kết cấu giá thành gỗ NLG

2.4.2.5 Yêu cầu về chất lượng sản phẩm gỗ nguyên liệu giấy

Căn cứ theo tiêu chuẩn TC - 05: 2004 và TC - 29: 2004 của Công ty giấy Bãi Bằng: Chủng loại gỗ nguyên liệu chủ yếu là: gỗ bồ đề, gỗ mỡ, gỗ keo, gỗ bạch đàn Tuổi khai thác: 7 - 12 năm tuổi Kích thước gỗ nguyên liệu quy định được thể hiện trên biểu 2.4

Nguồn: Phòng Khoa học công nghệ và môi trường - Công ty giấy Bãi Bằng, 2005

Ngoài các yêu cầu về kích thước, còn một số các yêu cầu khác đối với gỗ NLG như các loại gỗ bạch đàn, keo phải được bóc vỏ trước khi giao nhận Cây gỗ phải sạch, không bị bẩn, dính bùn đất, không bị mối mọt, mục ải Không lấy phần cong queo quá 2 lần đường kính Không lấy phần gốc, rễ Không được để lẫn lộn

Trang 20

các chủng loại với nhau (trừ gỗ bồ đề và gỗ mỡ) Không được để lẫn lộn gỗ loại A

và loại B Tỷ lệ gỗ loại B so với tổng khối lượng nguyên liệu gỗ nhập: Đối với gỗ bồ

đề không quá 20%, đối với gỗ keo, bạch đàn không quá 15%

2.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển vùng nguyên liệu giấy

2.5.1 Nhóm điều kiện tự nhiên

Đất đai, tài nguyên rừng, thời tiết, khí hậu là những yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng thường xuyên, trực tiếp và lâu dài tới các hoạt động sản xuất và cung ứng lâm sản Mức độ tác động của chúng tuỳ thuộc vào từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể

và luôn luôn diễn ra trong trạng thái động

* Đất đai: Trong sản xuất nông lâm nghiệp nói chung và trong việc sản xuất

gỗ NLG nói riêng, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được, không có đất thì không thể tiến hành hoạt động sản xuất ra các nông, lâm sản đáp ứng nhu cầu của xã hội được Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu đối với lâm sản ngày càng gia tăng Tuy nhiên đất đai lại có hạn và đang ngày càng giảm sút cả

về số lượng và chất lượng do sức ép về dân số và nhu cầu lương thực trước mắt

* Tài nguyên rừng: ảnh hưởng của tài nguyên rừng đối với việc sản xuất và

cung ứng NVL được thể hiện ở các mặt như trữ lượng, sản lượng, chất lượng rừng,

sự phân bố tài nguyên rừng, điều kiện khai thác, mức độ sử dụng tài nguyên rừng

* Khí hậu, thời tiết, thuỷ văn: Khí hậu là một yếu tố tự nhiên quan trọng đối

với việc phát triển vùng NLG, nó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng rừng trồng Đối tượng chủ yếu của sản xuất lâm nghiệp là cây rừng, là một thể sinh vật học cho nên mỗi loài cây đều đòi hỏi những giới hạn nhất định về nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm Do ảnh hưởng của khí hậu nên mỗi vùng, mỗi khu vực chỉ thích ứng với một hoặc một số loại cây trồng nhất định Chính yếu tố này đã tạo nên sự chuyên môn hoá của vùng, của khu vực Điều kiện khí hậu kết hợp với điều kiện thổ nhưỡng tác động mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển vùng nguyên liệu

2.5.2 Nhóm kinh tế - chính trị - x∙ hội

Trang 21

* Thị trường tiêu thụ: Thị trường tiêu thụ được coi là một trong những yếu tố

quyết định đến sự hình thành và tập trung của chuyên môn hoá sản xuất nguyên liệu cho ngành công nghiệp giấy vì chuyên môn hoá sản xuất sẽ tạo ra sản phẩm gỗ NLG hàng hoá Thị trường phản ánh nhu cầu tiêu dùng của xã hội Nếu không có nhu cầu trên thị trường thì cũng đồng nghĩa với không có nhu cầu xã hội đối với sản xuất và đương nhiên sẽ không có sản xuất Thông qua thị trường, hoạt động trao đổi tác động tác động mạnh sự phát triển của vùng nguyên liệu Trao đổi làm cho sản phẩm được vận động từ nơi sản xuất (người trồng rừng) đến nơi tiêu dùng cuối (nhà máy giấy), đồng thời tạo ra sự vận động của các yếu tố sản xuất trên thị trường vào vùng nguyên liệu (vốn, giống, phân bón )

* Cơ sở hạ tầng kinh tế - x∙ hội: Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội vừa thể hiện

trình độ kỹ thuật của sản xuất, vừa thể hiện lực của vùng sản xuất chuyên môn hoá Cơ sở hạ tầng được coi như trình độ xuất phát điểm của từng vùng, là chỗ dựa để tăng trưởng kinh tế và phát triển chuyên môn hoá

Trong lưu thông hàng hoá, một trong những yếu tố quan trọng của cơ sở hạ tầng đó là hệ thống giao thông Giao thông được coi là yếu tố tiên quyết trong việc giải quyết cải thiện quan hệ trao đổi và xúc tiến thương mại Chuyên môn hoá trong sản xuất gỗ NLG phải gắn liền với sự thuận tiện về giao thông, ở đâu có giao thông thuận tiện thì ở đó có thị trường phát triển

Bên cạnh đó, các yếu tố hạ tầng xã hội như hệ thống giáo dục, y tế, văn hoá, nguồn năng lượng, thông tin cũng liên quan trực tiếp đến cuộc sống của con người

và ảnh hưởng thông qua sự phát triển nguồn lực trong vùng NLG

* Dân cư và lao động: Dân cư và lao động được xem như là một yếu tố của

vùng nguyên liệu, nó tác động mạnh đến sản xuất và cung ứng gỗ NLG Truyền thống và trình độ lành nghề ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất Sự chênh lệch

về kinh nghiệm, trình độ lành nghề và trình độ dân trí trong vùng cũng là nguyên nhân dẫn tới khả năng tiếp thu kỹ thuật khác nhau Ngoài ra, các vấn đề như cơ cấu

Trang 22

dân tộc, mật độ dân số, tôn giáo, phong tục tập quán, sự di dân, du canh du cư cũng ảnh hưởng rất lớn sự hình thành và phát triển vùng NLG

* Hệ thống chính sách của Nhà nước: Chính sách là sự cụ thể hoá các chủ

trương, chiến lược phát triển về một phương diện nào đó của nền kinh tế xã hội do Chính phủ thực hiện, bao gồm các mục tiêu mà Chính phủ muốn đạt được và cách làm để đạt được mục tiêu đó Nhà nước có vai trò to lớn đối với sự phát triển sản xuất và cung ứng gỗ NLG thông qua hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô do Chính phủ ban hành

Việc phát triển sản xuất gỗ NLG ở vùng quy hoạch trồng rừng nguyên liệu chịu ảnh hưởng tổng hợp của nhiều chính sách khác nhau, trong đó có thể kể đến một số chính sách cơ bản như chính sách đất đai, chính sách thuế sử dụng đất nông nghiệp, chính sách đầu tư tín dụng, chính sách định canh định cư và khuyến nông khuyến lâm

- Chính sách đất đai: Mặc dù đất đai thuộc quyền sở hữu của Nhà nước song

từ khi có Chỉ thị 100 CT/TW của Ban bí thư Trung ương Đảng về cải tiến công tác khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về

đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, Luật đất đai và đặc biệt là chính sách giao đất khoán rừng cho tổ chức, cá nhân, HGĐ sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp đã có ảnh hưởng rất lớn để sản xuất gỗ NLG

Giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, HGĐ, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước là chủ trương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm gắn lao động với đối tượng lao động, tạo thành động lực để phát triển sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp ổn định kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng

Đối với các vùng quy hoạch NLG, việc giao đất lâm nghiệp là biện pháp tích cực để tổ chức lại sản xuất nguyên liệu từ trung ương đến địa phương nhằm xây dựng, bảo vệ và phát triển rừng nguyên liệu bền vững phục vụ cho công nghiệp giấy;

Trang 23

sử dụng có hiệu quả đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái, đáp ứng yêu cầu về việc làm và thu hút lao động vào làm nghề rừng nhằm nâng cao mức sống của nhân dân trong vùng và toàn xã hội

- Chính sách thuế sử dụng đất nông nghiệp: Với quan niệm thuế sử dụng đất

là phần địa tô chênh lệch I do điều kiện tự nhiên của mảnh đất mang lại, Nhà nước ban hành và áp dụng thu thuế sử dụng đất nông nghiệp để nhằm thực hiện sự công bằng về sử dụng đất giữa các loại đất có độ màu mỡ khác nhau, không phân biệt theo thành phần kinh tế Với những vùng đất mới khai hoang, thiên tai mất mùa thì tuỳ theo tình hình cụ thể mà Nhà nước miễn hoặc giảm thuế Việc dùng thuế sử dụng đất như một công cụ để giải quyết hài hoà mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước

và người sử dụng đất sẽ thúc đẩy người sản xuất đầu tư thâm canh, áp dụng các tiến

bộ khoa học kỹ thuật để thu được địa tô chênh lệch II trên diện tích đất rừng của họ, khuyến khích họ mở rộng diện tích trồng rừng NLG

- Chính sách đầu tư tín dụng là một trong những yếu tố quan trọng quyết định

sự phát triển sản xuất gỗ NLG Chính sách đầu tư tín dụng phù hợp sẽ có tác dụng thúc đẩy người trồng rừng đầu tư thâm canh, sản xuất nguyên liệu ổn định Đầu tư tín dụng còn giúp các nhà máy hiện đại hoá công nghệ sản xuất bột giấy và giấy để tạo ra các sản phẩm có đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế và cũng chính việc này sẽ tác động tích cực trở lại với việc phát triển vùng nguyên liệu Bên cạnh đó, chính sách đầu tư tín dụng còn tạo điều kiện cho việc phát triển các hình thức hợp tác trong sản xuất trên cơ sở tự nguyện, cùng có lợi, cùng chia sẻ rủi

ro trong kinh doanh

Để thực hiện mục tiêu phát triển trồng rừng nguyên liệu nói chung và rừng NLG nói riêng cần phải có chính sách khuyến khích đầu tư phát triển rừng phù hợp Ngày 27/7/1992 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 264/QĐ về chính sách đầu tư phát triển rừng, tiếp theo đó là Thông tư số 11/TT-LB ngày 10/6/1993 hướng dẫn thực hiện quyết định trên Tinh

Trang 24

thần chung của chính sách này là căn cứ vào quỹ đất để trồng rừng, quy hoạch, kế hoạch chung về trồng rừng, đặc điểm của loài cây cây trồng và khả năng của chủ rừng (tổ chức, cá nhân), cấp có thẩm quyền giao đất cho chủ rừng để trồng rừng và cấp vốn ngân sách hoặc cho vay vốn tín dụng trong nước, tạo điều kiện cho họ vay vốn hoặc hợp tác kinh doanh với nước ngoài Chủ rừng được vay vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch Nhà nước với lãi suất ưu đãi, được Nhà nước hỗ trợ về cây giống cho việc trồng cây đặc sản

- Chính sách định canh định cư: Mặc dù đồng bào các dân tộc đã gắn bó với

rừng và đất rừng từ bao đời nay nhưng nghề rừng vẫn chưa phát triển thành nghề chính của đồng bào miền núi Lực lượng sản xuất còn ở trình độ thấp, công cụ lao

động thủ công, lạc hậu, chưa tạo nên động lực cho sự phát triển Nền kinh tế còn mang tính tự cung tự cấp, hạ tầng cơ sở kém phát triển Do sức ép tăng dân số đã dẫn tới thiếu lương thực, con người tìm đến những nơi còn rừng, còn điều kiện tự nhiên, còn khả năng khai thác để tiếp tục sự sống Với kiểu sống du canh du cư như vậy sẽ dẫn đến môi trường bị huỷ hoại, cân bằng sinh thái bị phá vỡ, đất đai bị nghèo kiệt nhanh chóng

Đảng và Nhà nước ta coi công tác định canh định cư là một cuộc vận động cách mạng toàn diện, triệt để và sâu sắc, nhằm thực hiện chính sách dân tộc, giúp

đồng bào dân tộc ít người miền núi khắc phục những khó khăn trong sản xuất và đời sống, từng bước giúp đồng bào dân tộc vốn từ lâu đời đã gắn bó với rừng và đất rừng nay có thể sống và làm giàu từ rừng; phát triển văn hoá xã hội để từng bước phát huy thế mạnh, khai thác tiềm năng sẵn có của vùng

- Chính sách khuyến nông khuyến lâm: Với tập quán canh tác cũ kỹ lạc hậu

và tiểu nông của người nông dân thì công tác khuyến nông khuyến lâm có ý nghĩa vô cùng to lớn Việc giới thiệu và chuyển giao tiến bộ về giống, kỹ thuật trồng, các phương thức làm ăn có hiệu quả với mục tiêu giúp người dân nâng cao hiệu quả và

mở rộng sản xuất là rất cần thiết Song để làm được điều đó thì cần có mạng lưới và

Trang 25

các tổ chức khuyến nông - khuyến lâm rộng khắp mới có thể giúp được người dân như tổ chức khuyến nông - khuyến lâm của nhà nước, các tổ chức tự nguyện hoạt

động bằng vốn tự có, các cơ sở đào tạo, nghiên cứu, các doanh nghiệp đều có thể làm khuyến nông khuyến lâm để phục vụ cho mục tiêu của đơn vị mình

Ngoài các chính sách ở trên, các chính sách về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn cũng ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất và cung ứng gỗ NLG thông qua việc đầu tư mở rộng và xây dựng mới các cơ sở sản xuất giấy, bột giấy, ván nhân tạo

2.5.3 Nhóm tổ chức, kỹ thuật

* Tổ chức sản xuất:

- Tổ chức sản xuất theo thành phần kinh tế: Theo đường lối Nghị quyết của

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI và VII, nghề rừng nước ta phải được tổ chức lại theo hướng lâm nghiệp nhân dân (còn gọi là lâm nghiệp xã hội hay lâm nghiệp cộng

đồng) Đây cũng là phương hướng chung của lâm nghiệp thế giới và khác hẳn với lâm nghiệp truyền thống là chỉ do Nhà nước thực hiện mà chưa quan tâm đến lợi ích chính đáng của nhân dân

Nghị định số 13/CP của Chính phủ về công tác khuyến nông và Thông tư hướng dẫn Liên bộ 02/LB ngày 02/8/1993 là cơ sở cần thiết để ngành lâm nghiệp chuyển từ lâm nghiệp Nhà nước sang lâm nghiệp xã hội Hai lực lượng này cùng song song tồn tại sẽ tạo đà thúc đẩy nền kinh tế xã hội, nhất là các tỉnh trung du miền núi ở vùng quy hoạch NLG phát triển Định hướng phát triển là chuyển lâm nghiệp từ chỗ khai thác chính sang khai thác kết hợp với việc xây dựng vốn rừng trên cơ sở phát triển lâm nghiệp xã hội, phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó chú trọng phát triển kinh tế HGD và đẩy mạnh xây dựng trang trại vườn rừng Với chủ trương trên nhằm thu hút mọi thành phần kinh tế, trong đó có các HGĐ miền núi, vào việc xây dựng, bảo vệ và phát triển vốn rừng (thông qua chính sách đất lâm nghiệp)

Trang 26

- Tổ chức sản xuất tập trung chuyên môn hoá: Để sản xuất nguyên liệu cho

công nghiệp giấy thì phải sản xuất tập trung với quy mô lớn Vì vậy việc quy hoạch, phân vùng để khai thác được mọi tiềm năng lợi thế của từng vùng để phát triển sản xuất gỗ NLG và các cây trồng khác là hết sức quan trọng Việc phân vùng và bố trí sản xuất hợp lý nghĩa là bố trí vùng trồng cây NLG và cơ cấu cây trồng thích hợp trong vùng sản xuất NLG Có vậy mới giữ được cân bằng về sinh thái, khai thác tối

đa tiềm năng và lợi thế trong vùng nhằm đảm bảo hiệu quả trước mắt cũng như lâu dài cho vùng nguyên liệu

Trong vùng nguyên liệu thì việc bố trí sản xuất theo hướng chuyên môn hoá

là cần thiết Trên cơ sở đó tạo ra sự phân công lao động theo ngành, tổ chức lao

động hợp lý và đồng bộ từ khâu sản xuất nguyên liệu đến chế biến và các khâu dịch

vụ hỗ trợ khác Tổ chức sản xuất theo hướng chuyên môn hoá sẽ có tác dụng tạo nên

sự cạnh tranh cao trên thị trường, từ đó thúc đẩy sự tìm tòi áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, làm thay đổi tập quán canh tác cũ, tạo ra đội ngũ lao động có kỹ thuật làm nền tảng cho việc đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất và hiệu quả kinh tế trong trồng rừng nguyên liệu Mặt khác, chuyên môn hoá sản xuất gỗ NLG còn có tác dụng đẩy mạnh sản xuất hàng hoá, góp phần thực hiện tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nông nghiệp và nông thôn, thúc đẩy nhanh quá trình hợp tác lao

động trong nước và quốc tế

* Tiến bộ khoa học và công nghệ: Trong sản xuất lâm nghiệp nói chung và

sản xuất gỗ NLG nói riêng thì công nghệ mới trước tiên phải là những vấn đề về kỹ thuật lâm sinh, như việc ứng dụng công nghệ sinh học vào lai tạo giống (sản xuất cây lai, nhân giống bằng mô, hom), kỹ thuật thâm canh rừng trồng, kỹ thuật điều chế rừng, công nghệ sử dụng tổng hợp nguyên liệu lâm sản Công nghệ mới không chỉ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế trồng rừng NLG, tạo khả năng cạnh tranh của lâm sản hàng hoá trên thị trường mà còn cải thiện điều kiện lao động và sinh hoạt, cải thiện môi sinh, môi trường

Trang 27

ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, tăng sản phẩm cho xã hội góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn

Chủ trương này được cụ thể hoá trong một số văn bản chủ yếu sau:

1 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ mục tiêu giai

đoạn 1996 - 2000 là cần "đầu tư chiều sâu các nhà máy giấy hiện có và xây dựng mới một số nhà máy gắn với phát triển vùng nguyên liệu để đưa sản lượng giấy năm

2000 lên 300.000 tấn" Trên thực tế, sản lượng đạt được là 380.000 tấn, tăng 26,7%

so với mục tiêu đề ra, đáp ứng được 70% nhu cầu tiêu thụ giấy cả nước [13]

2 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đề ra mục tiêu chiến

lược từ nay đến năm 2010 phải "Bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, nâng độ che phủ của rừng lên 43% Hoàn thành việc giao đất, giao rừng ổn định và lâu dài theo

định hướng xã hội hoá lâm nghiệp, có chính sách bảo đảm cho người làm rừng sống

được bằng nghề rừng Kết hợp lâm nghiệp với nông nghiệp và có chính sách hỗ trợ

để định canh, định cư, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân miền núi Ngăn chặn nạn đốt phá rừng Đẩy mạnh trồng rừng kinh tế, tạo nguồn gỗ trụ mỏ, nguyên liệu cho công nghiệp bột giấy, công nghiệp chế biến gỗ và là hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu; nâng cao giá trị sản phẩm rừng" và trong định hướng phát triển các ngành công nghiệp (trong đó có công nghiệp giấy) đã nêu " phát triển nhiều hình thức liên kết giữa các doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn, giữa sản xuất nguyên liệu với chế biến, tiêu thụ sản phẩm trên cơ sở đảm bảo hài hoà về lợi ích"

Cũng trong Đại hội này đã đề ra các mục tiêu phát triển cho ngành công nghiệp giấy là "đầu tư mở rộng các cơ sở sản xuất giấy hiện có, nghiên cứu xây

Trang 28

dựng thêm một số cơ sở sản xuất bột giấy và giấy để có thể tăng công suất thêm 200.00 tấn, trong đó có nhà máy bột giấy ở Kon Tum công suất 130.000tấn/năm,

đưa tổng năng lực sản xuất lên 600.000 tấn" [13]

3 Tại Quyết định số 197/CT ngày 12/6/1987 của Chính phủ phê duyệt tổng thể diện tích vùng chuyên canh NLG trung tâm Bắc bộ

4 Tại Quyết định số 160/1998/QĐ-TTg ngày 04/9/1998 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp giấy đến năm

2010 Cụ thể: Đến năm 2010 phấn đấu đạt 1.050.000 tấn giấy và 1.015.000 tấn bột giấy, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung có diện tích 640.000ha

5 Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XVI cũng đã chỉ rõ mục

tiêu giai đoạn 2005 - 2010 là cần “cơ cấu lại diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng nhằm khai thác được sản phẩm của rừng trồng, nhân rộng các mô hình kinh tế mang lại hiệu quả cao; tạo điều kiện cho nông dân gắn bó với rừng và làm giàu trên đất

đồi, rừng Quy hoạch , mở rộng diện tích trồng rừng nguyên liệu, cung cấp cho công nghiệp chế biến giấy”

Nhìn chung, đây là những cơ sở pháp lý quan trọng tạo điều kiện cho việc phát triển các vùng nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp giấy

2.6 Tình hình sản xuất và cung ứng gỗ nguyên liệu giấy của các nước ASEAN

và Việt Nam

2.6.1 Khái quát chung về tình hình sản xuất lâm nghiệp các nước ASEAN

ASEAN cho đến nay gồm có 10 quốc gia trong khu vực Đông Nam á Trong báo cáo hàng năm "State of the World's Forest 2005" của Tổ chức nông lương thế giới (FAO) đã đánh giá tương đối toàn diện về thực trạng lâm nghiệp của các quốc gia trên thế giới [68]

Về sản xuất, thương mại, tiêu thụ bột giấy, giấy và một số lâm sản khác của mỗi quốc gia trong khu vực Các con số so sánh được thể hiện trên biểu 2.5

Trang 29

XuÊt khÈu

Tiªu dïng

S¶n xuÊt

NhËp khÈu

XuÊt khÈu

Tiªu dïng

Trang 30

2.6.2.1 Về sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, tiêu dùng bột giấy và giấy của nước ta trong năm qua

Năm 2005 là một năm phát triển với tốc độ cao (19,33% so với năm 2004) của ngành giấy Việt Nam, nhiều dự án đầu tư đã hoàn thành nâng năng lực sản xuất giấy 900.000 tấn/năm Tuy nhiên, ngành giấy Việt Nam hiện mới chỉ đáp được 66% nhu cầu tiêu dùng trong nước Việt Nam vẫn phải nhập khẩu lượng lớn các loại giấy

đấu sẽ gia tăng 5 triệu tấn bột giấy, trong đó Indonexia sẽ đạt trên 3 triệu tấn bột giấy

2.6.2.2 Về đặc điểm đầu tư ngành giấy

Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2001 - 2010 đã quy hoạch quỹ đất xây dựng rừng NLG của cả nước là 2.220.000 ha trong đó Phú Thọ là 60.000 ha [6]

Trang 31

Đầu tư của ngành giấy phải xuất phát từ việc đầu tư trồng rừng NLG; đầu tư nhà máy sản xuất giấy và bột giấy và đầu tư gia công, chế biến các sản phẩm từ giấy Có một số đặc điểm chung như sau:

Thứ nhất, chu trình đầu tư kéo dài: Đầu tư nguyên liệu theo chu kỳ cây 8 - 15

năm Đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất, chu kỳ đầu tư thường tính là 20 năm Độ rủi ro cao; đầu tư trồng rừng nguyên liệu gặp rủi ro do nạn chặt phá rừng, sâu bệnh, cháy rừng; đầu tư nhà máy gặp rủi ro do biến động giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào, giá sản phẩm đầu ra, thời gian vay vốn kéo dài, lãi suất cao, tỷ giá ngoại tệ thay

đổi

Thứ hai, nhu cầu vốn lớn, thời gian thu hồi vốn chậm Để xây dựng nhà máy

sản xuất bột giấy hiệu quả không chỉ đơn thuần đầu tư nhà máy sản xuất bột giấy và giấy mà phải đầu tư các nhà máy phụ trợ sản xuất điện, hơi nước, hoá chất, thu hồi hoá chất, sử lý nước thải tạo thành một khu liên hợp khép kín để sử dụng tối đa các dạng năng lượng, giảm thiểu các định mức tiêu hao nguyên nhiên vật liệu trong sản xuất

ở Việt Nam, các dự án quy mô lớn chỉ có Nhà nước mới đủ khả năng đầu tư Còn ở các nước đang phát triển khác, các dự án lớn hầu hết vốn đầu tư từ nước ngoài hoặc liên doanh ở Trung Quốc, công trình có quy mô lớn hoặc do nước ngoài đầu tư hoặc Nhà nước đầu tư sau đó giao lại cho doanh nghiệp nhà nước quản lý điều hành Các dự án ngành giấy có mức vốn đầu tư trên 30 triệu USD đều được vay với lãi suất hết sức ưu đãi

Thứ ba, hiệu quả đầu tư chỉ thực sự phát huy sau thời gian dài: Công trình

nhà máy giấy Bãi Bằng do Chính phủ Thuỵ Điển tài trợ không hoàn lại đến năm thứ

15 mới đạt công suất thiết kế, sau 20 năm lợi nhuận đạt 50 - 60 tỷ đồng

Hầu hết các nước có nền kinh tế mạnh đều có ngành công nghiệp giấy rất phát triển như Mỹ, Nhật, Canada, Đức, Phần Lan, Thuỵ Điển ở Châu á có các

Trang 32

nước như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Inđônêxia, Malaixia, Thái Lan Đặc biệt các nước có tiềm năng phát triển nông lâm nghiệp thì công nghiệp giấy đóng vai trò quan trọng đặc biệt trong việc phát triển kinh tế, tăng độ che phủ rừng, bảo

vệ môi trường như Nga, Ôtxtrâylia, Niudilân, Braxin, Inđônêxia

2.6.3 Các nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Hiện nay, ở nước ta, có rất nhiều các cơ quan và các nhà khoa học đã có những công trình khoa học nghiên cứu về phát triển ngành công nghiệp giấy cũng như phát triển vùng NLG như:

- Các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Lâm nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu cây NLG Phù Ninh tiến hành các nghiên cứu về các lĩnh vực như chọn và tạo giống, kỹ thuật lâm sinh, đất trồng rừng…[42], [52]

- Nguyễn Minh Đạo (2004) nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu thực trạng sản xuất và cung ứng gỗ nguyên liệu giấy tại tỉnh Phú Thọ trong điều kiện hội nhập [14]

- Đoàn Thị Mai (1997) đã thực hiện nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế về môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững cho một số phương án sử dụng đất trong canh tác nông lâm nghiệp ở vùng NLG Tác giả đã đánh giá hiệu quả kinh tế môi trường của các phương án sử dụng đất của các hộ gia đình ở vùng NLG, khẳng định lợi ích lâu dài của việc trồng rừng trên đất dốc so với canh tác theo kiểu nương rẫy truyền thống [19]

- Vũ Long (1999) đã nghiên cứu về thị trường gỗ nguyên liệu ở công ty giấy Bãi Bằng Nghiên cứu của tác giả mới dừng lại ở việc đưa ra tình hình cung cấp nguyên liệu cho công ty giai đoạn 1990 - 1998, nghiên cứu về giá cả và lợi ích của người trồng rừng [2]

Trang 33

- Trần Hữu Quang (1997) nghiên cứu đề tài “Các chính sách và biện pháp gắn trồng rừng nguyên liệu với công nghiệp chế biến giấy ở trung du và miền núi phía Bắc [29]

- Nguyễn Văn Tuấn (1999) đã nghiên cứu xu hướng phát triển thị trường gỗ NLG phục vụ cho việc xây dựng chiến lược phát triển nông thôn miền núi phía Bắc Việt Nam Đây mới chỉ là nghiên cứu mang tính khái quát về thị trường gỗ NLG ở vung trung tâm Bắc Bộ ở thời điểm 1999 [44]

Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa làm rõ được một số vấn đề như:

Quy hoạch sử dụng đất chi tiết, xác định địa điểm cụ thể xây dựng rừng nguyên liệu trên bản đồ và thực địa tới các LTQD…

Mô hình hệ thống tổ chức sản xuất và cung ứng gỗ NLG trong vùng nguyên liệu, vừa đảm bảo tính tự chủ của các đơn vị sản xuất vừa đảm bảo thống nhất vào một đầu mối phù hợp với vùng nguyên liệu tập trung

Giải pháp thu hút người dân và cộng đồng địa phương tham gia bảo vệ và phát triển vùng nguyên liệu

Giải pháp xác định cơ cấu cây trồng hợp lý vừa phù hợp với vùng lập địa vừa

đáp ứng yêu cầu của thị trường, các giải pháp nhằm nâng cao năng suất rừng trồng nguyên liệu và bảo vệ đất

Giải pháp về thị trường nhằm tạo lập thị trường gỗ NLG cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa người sản xuất, cung ứng và tiêu thụ gỗ NLG

Nghiên cứu đề xuất định hướng cơ chế chính sách phù hợp với đặc thù vùng NLG

Trang 34

3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đặc điểm vùng nguyên liệu giấy của công ty giấy Bãi Bằng

3.1.1 Vị trí địa lý

Vùng nguyên liệu giấy trung tâm Bắc Bộ (trung du miền núi phía Bắc) nằm trên địa bàn thuộc 6 tỉnh miền núi phía Bắc gồm các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái và Lào Cai Vùng nguyên liệu này được hình thành năm 1986, sau khi có quyết định của văn phòng HĐBT (nay là Văn phòng Chính phủ) tại cuộc họp về việc phân công quản lý vùng NLG Trung tâm Bắc Bộ cung cấp cho công ty giấy Bãi Bằng, Phú Thọ ngày 20 tháng 1 năm 1986

Tiếp theo, để triển khai hình thành và quản lý trồng rừng nguyên liệu, Thủ tưởng Chính phủ đã có Quyết định số 197/CT, ngày 12 tháng 6 năm 1987 phê chuẩn quy hoạch tổng thể vùng NLG ở Trung tâm Bắc bộ Vùng nguyên liệu giấy này có tổng diện tích là 346.000 ha, trong đó 64.058 ha dành để xây dựng vùng thâm canh tập trung năng suất cao cung cấp nguyên liệu cho Công ty giấy Bãi Bằng Vùng nguyên liệu giấy Bãi Bằng thuộc vùng thung lũng sông Lô và sông Gâm, nằm giữa

vĩ tuyến 22045' đến 105055' Đông, chia thành 2 vùng chính: vùng phía Bắc gồm khu vực Hàm Yên - Bắc Quang; vùng phía Nam thuộc Nam Tuyên Quang và Bắc Phú Thọ

Vùng nguyên liệu của Công ty giấy Bãi Bằng thuộc địa bàn 4 tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Giang, Tuyên Quang Vùng này nằm giữa các vùng kinh tế lớn phía Bắc, là nơi trung chuyển và tiếp nối Hà Nội với hai cửa khẩu kinh tế lớn Với vị trí

địa lý như vậy đã và đang mở ra cho vùng nguyên liệu giấy của Công ty có nhiều triển vọng phát triển kinh tế và hội nhập với các trung tâm kinh tế lớn trong nước và quốc tế [25], [33]

Trang 35

3.1.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

* Địa hình địa thế: Vùng nguyên liệu giấy của Công ty có địa hình chia cắt phức tạp, nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng và trung du miền núi phía Bắc Phía Bắc khu nguyên liệu giấy gồm các khu vực đồi núi cao nằm phía Bắc - Nam sông Chảy và Bắc - Đông sông Lô có độ cao từ 300 - 900 m

Phía Nam là khu vực đồi núi thấp có độ cao từ 30 - 100m xen kẽ ruộng lúa

Đất bị xói mòn mạnh và thoái hoá, thường cấu tạo bởi phiến thạch mica, granit, phiến thạch sét

Nhìn chung, vùng NLG của công ty có thể chia thành ba tiểu vùng rõ rệt [34], [42]:

- Tiểu vùng I: Bao gồm các huyện: Vĩnh Yên, Tam Đảo, Lập Thạch, Phong Châu,

Tam Thanh, Sông Thao và một số xã phía Nam Sơn Dương như Tam Đa, Sơn Nam, Hào Phú

Đặc điểm chung của vùng này là vùng đồi bát úp thấp hoặc trung bình từ 50 - 200m Độ dốc bình quân dưới 150 Thảm thực vật chủ yếu là các trảng cỏ thấp, phần

đa là đồi trống đất trọc, chủ yếu thuộc nhóm thực bì Ia Diện tích đất có thể còn lại trồng rừng rất ít Đất chủ yếu thuộc nhóm Fs (Feralit vàng đỏ phát triển trên đá sét),

Fp (đất phát triển trên phù sa mới) dọc theo sông Hồng và Fo (trên phù sa cổ) ở vùng Tam Đảo, Vĩnh Yên Đất có tầng mỏng, xấu, nghèo dinh dưỡng, đất thoái hoá nặng, có nhiều đá ong tạo thành lớp đất cứng khó canh tác Để trồng rừng công nghiệp cho vùng này cần phải dùng máy cày Lượng mưa bình quân từ 1600 - 1700

mm và nhiệt độ bình quân biến đổi từ 23 - 240C Trừ khu vực gần đỉnh núi Tam Đảo

có lượng mưa trên 2000 mm và có nhiệt độ từ 16 - 180C

- Tiểu vùng II: Bao gồm các huyện: Thanh Sơn, Yên Lập, Hạ Hoà, Đoan Hùng (Phú

Thọ); Yên Bình, Văn Yên, Văn Trấn, Lục Yên, Bảo Yên và một số xã Văn Trấn (Yên Bái); Yên Sơn, các xã phía bắc Sơn Dương, Chiêm Hoá (Tuyên Quang)

Trang 36

mm Trừ một số khu vực nhỏ như khu vực núi Ten, núi Am, núi Chao fun có lượng mưa trên 2000 mm và nhiệt độ bình quân từ 18 - 200C Một số nơi có sương muối và lạnh kéo dài trong mùa đông

- Tiểu vùng III: Gồm các huyện Na Hang, Hàm Yên (Tuyên Quang) và Bắc Quang

(Hà Giang)

Đặc điểm chung của vùng này là vùng núi thấp và trung bình (300 - 700m),

có một số núi cao trên 1700 m Độ dốc bình quân từ 25 - 350 Các nhóm đất chính trong vùng là Fs (đất feralit phát triển trên đá sét); Fv (đất phát triển trên đá vôi) và

Fq (đất phát triển trên nhóm đá hạt thô) Thảm thực vật thuộc nhóm Ic đó là vùng đất trống có cây bụi, giang và nứa tép, rừng khai thác kiệt không có khả năng phục hồi

ở các vùng xa đường quốc lộ còn có rừng thứ sinh tự nhiên Lượng mưa bình quân vùng này đều trên 2000 mm riêng khu vực Bắc Quang lượng mưa thường xuyên cao hơn 3000 mm có nơi đến 4500 mm, rất ít khu vực có lượng mưa dưới 2000 mm

Sự khác biệt về địa hình là một trong những yếu tố dẫn đến sự khác nhau về thổ nhưỡng và đây là căn cứ để chọn loại cây trồng phù hợp cho từng vùng sinh thái

Trong mấy năm gần đây, do rừng bị khai thác quá mức, canh tác nương rẫy theo phương thức quảng canh, đất đai bị xói mòn rửa trôi và độ phì của đất bị giảm sút nhanh chóng Mặt khác, địa hình chia cắt đã ảnh hưởng lớn tới tổ chức sản xuất

và giao lưu hàng hoá, việc giao thông đi lại nội vùng có nhiều trở ngại do hệ thống

đường nhánh còn ít

* Khí hậu, thời tiết: Vùng nguyên liệu giấy nằm trong vùng khí hậu gió mùa, mùa hè nóng ẩm và mùa đông lạnh ẩm Lượng mưa trung bình 1560 mm, lượng mưa

Trang 37

tối đa tháng 6 và tháng 7 là khoảng 300 mm Từ tháng 12 đến tháng 3 lượng mưa rất

ít, chỉ ở dạng mưa phùn, mùa khô không rõ rệt Độ ẩm cao gần quanh năm, không

có tháng nào độ ẩm dưới 80% Nhiệt độ bị ảnh hưởng bởi gió mùa, nhiệt độ trung bình năm khoảng 230C, ở vùng thấp có ngày lên đến 400C [64] Mùa đông giá rét có xuất hiện sương muối tuy thời gian không dài nhưng gây nhiều thiệt hại vào mùa hè gây thiệt hại cho mùa màng và các cơ sở hạ tầng trong vùng Trong những năm gần

đây, do rừng bị tàn phá, tỷ lệ che phủ của rừng còn 35% đã làm cho thời tiết, khí hậu trong vùng có nhiều diễn biến phức tạp Mùa khô hạn hán kéo dài, mùa mưa đến chậm, biên độ nhiệt giữa các tháng biến động lớn ở một số nơi như Thanh Sơn, Yên Lập thường xuất hiện lũ quét, lốc và gió xoáy kèm theo mưa đá gây trở ngại cho sản xuất và đời sống của nhân dân trong vùng

* Sông suối thuỷ văn Vùng nguyên liệu của công ty giấy Bãi Bằng có một hệ thống các con sông lớn như sông Hồng, sông Lô, sông Đà Các con sông này đều bắt nguồn từ Trung Quốc chảy theo hướng Tây Bắc Đông Nam với tổng chiều dài hơn 200km Ngoài ra còn có sông Bứa, ngòi Giành và hàng trăm km suối to, nhỏ thuộc hệ thống các con sông lớn tạo thành mạng lưới sông suối phân bổ đều khắp vùng nguyên liệu Hệ thống sông suối trong vùng không những là nguồn cung cấp nước quan trọng cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong vùng mà còn thể hiện tiềm năng phát triển hệ thống giao thông đường thuỷ, đặc biệt là phục vụ vào việc vận chuyển nông lâm sản

* Đất đai: Đá mẹ phổ biến là gnai, đôi chỗ có phiến thạch sét Đất phần lớn là feralit, đôi chỗ feralit pha cát, cấu tượng và màu mỡ rất khác nhau Vùng phía Nam bao gồm nhiều đất nghèo kiệt do xói mòn, hàm lượng chất hữu cơ thấp và thường bị kết vón, đặc biệt nghèo đạm và lân Độ PH nói chung thấp, chỉ từ 4,5 - 5,5

- Tài nguyên rừng Hiện nay khả năng cung cấp gỗ NLG từ rừng tự nhiên bị hạn chế bởi hầu hết diện tích rừng còn lại ở trạng thái rừng nghèo, rừng phục hồi và thuộc đối tượng rừng phòng hộ đầu nguồn Hơn nữa, từ năm 1998 Nhà nước có chủ

Trang 38

trương "Phát triển mạnh trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc hướng tới đóng cửa rừng tự nhiên" cho nên trong tương lai gỗ NLG chủ yếu được cung cấp từ rừng trồng Diện tích rừng trồng chiếm tới 40% diện tích đất có rừng với các loại cây chủ yếu như bạch đàn, keo, bồ đề, trữ lượng cây đứng bình quân khoảng 20m3/ha, phần lớn diện tích rừng trồng là rừng non, rừng chưa đến tuổi thành thục công nghệ, mặt khác diện tích rừng có khả năng cung cấp gỗ NLG chỉ chiếm một phần nhỏ trong toàn bộ diện tích rừng trồng nói trên bao gồm cả 3 loại rừng: phòng hộ, đặc dụng, sản xuất

3.1.3 Thực trạng quy hoạch vùng nguyên liệu giấy của tỉnh Phú Thọ trong vùng nguyên liệu giấy Trung tâm Bắc bộ

Phú thọ là một tỉnh trung du miền núi nằm trong vùng quy hoạch chuyên canh NLG, phát triển kinh tế đồi rừng nói chung và sản xuất gỗ NLG nói riêng được xác định là một trong những thế mạnh của tỉnh Sự hình thành và phát triển vùng NLG tỉnh Phú Thọ gắn liền với sự phát triển vùng quy hoạch nguyên liệu cho Công

ty giấy Bãi Bằng Để tạo vùng cung cấp nguyên liệu ổn định cho ngành công nghiệp giấy trong khu vực, Chủ tịch HĐBT (nay là Thủ tướng Chính Phủ) đã có Quyết định

số 197/CT, ngày 12 tháng 6 năm 1987 phê chuẩn quy hoạch tổng thể vùng NLG ở Trung tâm Bắc bộ Vùng NLG này có tổng diện tích là 346.000 ha trong đó phân theo loại rừng gồm:

- Rừng trồng: 52.000 ha

- Rừng tự nhiên: 118.000 ha

- Đất để trồng rừng: 176.000 ha Trong tổng số diện tích đã quy hoạch cho vùng NLG, diện tích trồng rừng thâm canh, chuyên canh tập trung cho Công ty giấy Bãi Bằng là 65.000 ha trong đó của tỉnh Phú Thọ là 35.800 ha Quy hoạch tổng thể vùng chuyên canh NLG được thể hiện trên biểu 3.1

Trang 39

Rừng tự nhiên

Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phú Thọ

Biểu 3.2 - Quy hoạch vùng trồng rừng NLG tỉnh Phú Thọ đến 2010

Nguồn: UBND tỉnh Phú Thọ: Quy hoạch phát triển lâm nghiệp tỉnh Phú Thọ 2001 - 2010

Việc quy hoạch phát triển rừng NLG của tỉnh Phú Thọ phải đảm bảo ổn định lâu dài cho cơ sở chế biến giấy, đảm bảo lợi ích thỏa đáng cho người trồng rừng NLG, tăng cường khả năng phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái Dựa trên các mục tiêu trên, diện tích quy hoạch vùng trồng rừng chuyên canh NLG của tỉnh Phú Thọ

được thể hiện trên biểu 3.2 Qua đó cho thấy, vùng quy hoạch NLG tỉnh Phú Thọ nằm trên địa bàn 9 huyện của tỉnh, trong đó 2 huyện Thanh Sơn và Đoan Hùng có diện tích quy hoạch trồng rừng NLG lớn nhất Diện tích dành cho chuyên doanh

Trang 40

NLG là 40.080 ha, bao gồm cả đất có rừng và đất không có rừng, chiếm 41,48% diện tích quy hoạch trồng rừng sản xuất của tỉnh

Tuy nhiên, công tác quy hoạch phát triển vùng NLG của tỉnh trong những năm qua còn thể hiện một số tồn tại sau:

- Việc quy hoạch vùng NLG trên thực tế mới chỉ dừng ở mức tổng thể và chưa có một quy hoạch cụ thể, chi tiết Do đó chưa có các kế hoạch cụ thể về trồng cây nguyên liệu giấy chuyên canh, thâm canh hay khu vực vừa trồng cây nguyên liệu giấy vừa trồng rừng phòng hộ môi sinh, khu vực dành cho phát triển sản xuất nông nghiệp hay các mục tiêu khác trên địa bàn

- Sau khi quy hoạch vùng nguyên liệu giấy, không tiếp tục điều tra, xây dựng

dự án nghiên cứu khả thi hay dự án đầu tư cho từng lâm trường Do đó chưa tạo lập

và huy động được các nguồn lực như lao động, kỹ thuật, vốn để thực thi Vì vậy việc hình thành vùng NLG của tỉnh chưa đạt được như mong muốn

- Chưa có sự quan tâm chăm sóc đúng mức, chưa định danh, định chủ cụ thể

để quản lý và khai thác sử dụng có hiệu quả rừng tự nhiên có tiềm năng NLG Hậu quả là ở nhiều nơi rừng này bị khai thác bừa bãi, đốt phá làm củi, lấy đất sử dụng vào các mục tiêu khai thác vì lợi ích và nhu cầu cuộc sống trước mắt

- Phần lớn diện tích quy hoạch để phát triển rừng nguyên liệu giấy không thuộc diện đất tốt mà là đất dốc, đất kém độ phì, khó canh tác, khó thâm canh bằng các phương tiện cơ giới, hiện đại Trong khi đó lại chưa có những nghiên cứu cơ bản

về hệ thống các biện pháp canh tác trên đất dốc, đất bạc màu thích hợp cho rừng cây nguyên liệu giấy

3.1.4 Khái quát đặc điểm cơ bản của Tỉnh Phú Thọ

3.1.4.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

3.1.4.1.1 Vị trí địa lý

Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi nằm trong vùng quy hoạch NLG trung tâm Bắc Bộ Các hướng tiếp giáp như sau: Phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Yên Bái, phía

Ngày đăng: 02/11/2015, 08:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ NN &amp; PTNT (1988), Định mức kinh tế kỹ thuật trồng rừng, Ban hành kèm theo Quyết định số 532/NKT ngày 15/7/1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định mức kinh tế kỹ thuật trồng rừng
Tác giả: Bộ NN &amp; PTNT
Năm: 1988
2. Bộ NN &amp; PTNT - FAO - JICA (1998), Chủ rừng và lợi ích của chủ rừng trong kinh doanh rừng trồng, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Chủ rừng và lợi ích của chủ rừng trong kinh doanh rừng trồng
Tác giả: Bộ NN &amp; PTNT - FAO - JICA
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998
3. Bộ NN &amp; PTNT (1999), Quy chế về khai thác gỗ và lâm sản, Ban hành kèm theo Quyết định số 02 - 1999/QĐ - BNN - PTLN ngày 05/01/1999, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế về khai thác gỗ và lâm sản
Tác giả: Bộ NN &amp; PTNT
Năm: 1999
4. Bộ NN &amp; PTNT (1999), Chiến l−ợc phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2001- 2010, Ban hành kèm theo Quyết định số 199/QĐ - BNN - PTLN ngày 22/01/2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến l−ợc phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2001-2010
Tác giả: Bộ NN &amp; PTNT
Năm: 1999
5. Bộ NN &amp; PTNT (2002), Sổ tay cam kết hội nhập kinh tế quốc tế ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay cam kết hội nhập kinh tế quốc tế ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Bộ NN &amp; PTNT
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
6. Bộ NN &amp; PTNT (2001), Chiến l−ợc phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2001- 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến l−ợc phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2001-2010
Tác giả: Bộ NN &amp; PTNT
Năm: 2001
7. Bộ Kế hoạch &amp; Đầu t− (2002), Nội dung hội thảo về chiến l−ợc trồng rừng nguyên liệu, sản xuất bột giấy và ván nhân tạo. Công văn số 2400 BKH/NN, ngày17/4/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nội dung hội thảo về chiến l−ợc trồng rừng nguyên liệu, sản xuất bột giấy và ván nhân tạo
Tác giả: Bộ Kế hoạch &amp; Đầu t−
Năm: 2002
11. Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ (5/2006), Niên giám thống kê 2005, NXB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2005
8. Công ty NLG Vĩnh Phú (1999), Báo cáo chuyên đề về lựa chọn loài cây trồng, vấn đề quy hoạch sử dụng đất trồng rừng và vấn đề ứng dụng kỹ thuật mô hom trong trồng rừng nguyên liệu giấy, các mô hình liên doanh, liên kết trồng rừng tại Công ty NLG Vĩnh Phú Khác
9. Công ty giấy Bãi Bằng (2000-2005), Báo cáo kết quả và kế hoạch SXKD Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 4.1- Các kênh lưu thông gỗ NLG của Công ty giấy Bãi Bằng - Nghiên cứu phát triển vùng gỗ nguyên liệu giấy của Công ty giấy Bãi Bằng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Sơ đồ 4.1 Các kênh lưu thông gỗ NLG của Công ty giấy Bãi Bằng (Trang 52)
Sơ đồ 4.2 - Các yếu tố cấu thành giá nguyên liệu giấy - Nghiên cứu phát triển vùng gỗ nguyên liệu giấy của Công ty giấy Bãi Bằng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Sơ đồ 4.2 Các yếu tố cấu thành giá nguyên liệu giấy (Trang 55)
Sơ đồ 4.3-  Hệ thống tổ chức sản xuất kinh doanh gỗ NLG của Công ty giấy Bãi - Nghiên cứu phát triển vùng gỗ nguyên liệu giấy của Công ty giấy Bãi Bằng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Sơ đồ 4.3 Hệ thống tổ chức sản xuất kinh doanh gỗ NLG của Công ty giấy Bãi (Trang 61)
Sơ đồ 4.4 - Các giải pháp phát triển vùng  NLG - Nghiên cứu phát triển vùng gỗ nguyên liệu giấy của Công ty giấy Bãi Bằng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Sơ đồ 4.4 Các giải pháp phát triển vùng NLG (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w