Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp, chính vì vậy Các Mác đã cho rằng không có đất xấu mà chỉ có người sử d
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo trường đạI học nông nghiệp I
Trang 2Lời cam đoan
- Tôi xin cam đoan rằng những số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã đ−ợc chỉ
rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Khánh Duyên
Trang 3Qua đây tôi cũng xin gửi lời cám ơn tới BCN khoa Nông - Lâm - Ngư, các thầy cô giáo trong khoa, tổ Trồng Trọt - Lâm Sinh - Địa Chính nơi tôi
đang công tác đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành đề tài này
Tôi xin gửi tới gia đình, bạn bè và những người thân đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tự đáy lòng mình, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình và quý báu đó !
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Khánh Duyên
Trang 4Mục lục
2.1 Tình hình nghiên cứu đánh giá và bố trí sử dụng đất nông nghiệp
2.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 19 2.3 Bố trí sử dụng đất hợp lý để phát triển nông nghiệp theo hướng sản
2.4 Nghiên cứu đánh giá và sử dụng đất phát triển sản xuất nông nghiệp
3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 38
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thị xã Cửa Lò 42 4.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên và cảnh quan môi trường 42
Trang 54.2 Tình hình sử dụng đất đai 60 4.2.1 Tình hình biến động đất đai và hiện trạng sử dụng đất 60 4.2.2 Thực trạng các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 64 4.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 71
4.3.2 Đánh giá hiệu quả về mặt xã hội 83 4.3.3 Đánh giá hiệu quả về môi trường 86 4.4 Đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp toàn thị xã 88 4.4.1 Các căn cứ đề xuất sử dụng đất nông nghiệp 88 4.4.2 Nội dung đề xuất sử dụng đất nông nghiệp 91 4.4.3 Một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 98
Trang 6Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
1 FAO Tæ chøc N«ng nghiÖp thÕ giíi
Trang 7Danh mục các bảng
Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất nông - lâm nghiệp ở Việt Nam 5Bảng 4.1 Phân loại địa hình theo cấp độ dốc của thị xã 43Bảng 4.2 Một số chỉ tiêu về dân số và lao động 53Bảng 4.3 Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1994 - 2005 57Bảng 4.4 Biến động diện tích đất theo mục đích sử dụng 62Bảng 4.5 Hiện trạng hệ thống trồng trọt xã Nghi Thu 66Bảng 4.6 Hiện trạng hệ thống trồng trọt xã Nghi Hương 68Bảng 4.7 Hiện trạng hệ thống trồng trọt trên địa bàn Nghi Hòa 69Bảng 4.8 Hiệu quả kinh tế của các cây trồng chính xã Nghi Thu 73Bảng 4.9 Hiệu quả kinh tế của các cây trồng chính xã Nghi Hương 74Bảng 4.10 Hiệu quả kinh tế của các cây trồng chính phường Nghi Hòa 75Bảng 4.11 Tổng hợp hiệu quả kinh tế của các cây trồng chính ở Cửa Lò 76Bảng 4.12 Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất xã Nghi Thu 77Bảng 4.13 Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất chính
xã Nghi Hương 78Bảng 4.14 Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất chính phường
Bảng 4.15 Tổng hợp hiệu quả kinh tế sử dụng đất trên toàn thị xã 81Bảng 4.16 Đề xuất bố trí hệ thống trồng trọt trên tiểu vùng 1 94Bảng 4.17 Đề xuất bố trí hệ thống trồng trọt trên tiểu vùng 2 96Bảng 4.18 Đề xuất bố trí hệ thống trồng trọt trên tiểu vùng 3 95Bảng 4.19 Tổng hợp đề xuất hướng sử dụng đất nông lâm nghiệp trên
các địa bàn điều tra thị xã Cửa Lò 97
Trang 8Danh mục các biểu đồ
Biểu đồ 2.1 Bình quân đất nông nghiệp (m2)/người ở Việt Nam
Biểu đồ 4.1 Diễn biến nhiệt độ trung bình trong năm 44Biểu đồ 4.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo giai đoạn 1995- 2005 58Biểu đồ 4.3 Biến động tình hình sử dụng đất trong giai đoạn 1995 - 2005 63Biểu đồ 4.4 Hiện trạng sử dụng đất năm 2005 của thị xã Cửa Lò 63Biểu đồ 4.5 Tổng hợp hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất ở Cửa Lò 82
Trang 91 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp, chính vì vậy Các Mác đã cho rằng không có đất xấu mà chỉ có người sử dụng nó không hợp lý [4] Trong tốc độ phát triển nền kinh
tế như hiện nay nhu cầu sử dụng đất ngày càng cao để mở rộng cơ sở sản xuất, giao thông, nhà cửa đã làm cho diện tích đất nông nghiệp giảm đi một cách nghiêm trọng, vì thế phấn đấu để có một nền nông nghiệp sạch, sản xuất ra nhiều sản phẩm chất lượng và đảm bảo môi trường sinh thái ổn định
là tiêu chí của tất cả các nước trên thế giới Đất đai là tiềm năng lớn cho sự phát triển kinh tế xã hôi, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên tiềm năng
đó chưa phát huy hết Như vậy, vấn đề đặt ra trong sản xuất muốn thực sự có hiệu quả từ đất đai thì không chờ cho quá trình sản xuất kết thúc mà hãy xem xét ngay từ đầu cách sử dụng nó như thế nào? [12] Hay nói cách khác là hãy sử dụng đất sao cho thật phù hợp nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất Đây là một trong những nội dung mà đề tài chúng tôi muốn đi tìm hiểu
Do yêu cầu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ đổi mới
đất nước, ngày 29 tháng 8 năn 1994 Chính phủ ra Nghị định 113/CP thành lập thị xã Cửa Lò thuộc tỉnh Nghệ An với diện tích tự nhiên 28,2km2 Là một đơn vị hành chính được tách ra từ một vùng nông thôn ven biển của huyện Nghi Lộc, kinh tế chủ yếu là Nông ngư nghiệp Cửa Lò - điểm du lịch hấp dẫn với bãi cát trắng mịn có 8 km bờ biển, thông ra hòn Ngư, hòn Mắt, đảo Lan Châu e ấp ven
bờ như một nét chấm phá của bức tranh thủy mạc Tất cả đã tạo cho Cửa Lò có một sức hấp dẫn mạnh mẽ với du khách thập phương, là một đô thị trẻ có nhiều tiềm năng phong phú đặc biệt là du lịch, công nghiệp dịch vụ thương mại và cảng biển Nghệ An, là cực tăng trưởng đột phá của tỉnh trong chiến lược kinh tế
Trang 10Thị xã Cửa Lò với lợi thế là có bãi biển dài, cảnh quan tươi đẹp, môi trường trong lành, hiện đang được khai thác mang lại lợi ích kinh tế rất lớn cho địa phương Theo báo cáo thống kê của UBND thị xã về tình hình du lịch trong những năm gần đây số lượng khách đến nghỉ tại địa phương ngày càng tăng Đặc biệt vào những ngày nghỉ trong dịp hè, số lượng khách lưu trú tăng nhanh, thậm chí vượt quá sức chứa của các nhà nghỉ khách sạn ven bãi tắm Với tình hình phát triển kinh tế như hiện nay thì trong một thời gian rất ngắn nữa Cửa Lò sẽ là một trung tâm kinh tế quan trọng số một của Nghệ An và kết quả tất yếu là sự mở rộng đô thị hóa, sự chuyển dịch kinh tế, chuyển mục đích sử dụng đất ngày càng cao sẽ làm cho diện tích đất nông nghiệp giảm một cách nhanh chóng Tuy nhiên, với mặt bằng và cơ sở hạ tầng hiện nay của thị xã Cửa
Lò chỉ mới đáp ứng được khách du lịch đến tắm biển và nghỉ ngơi ngắn ngày vào các tháng mùa hè Trong những thời gian còn lại chính quyền và nhân dân nơi đây chưa khai thác được thế mạnh về điều kiện tự nhiên nằm trên vùng nông nghiệp với rất nhiều hoạt động canh tác truyền thống đại diện cho vùng đất cát ven biển Lợi ích lâu dài của hệ canh tác này là ngoài chức năng sản xuất lương thực, thực phẩm còn có chức năng phục vụ thăm quan học tập cho khách du lịch
Chính vì vậy việc mở rộng hoạt động du lịch và quản lý phát triển thị xã theo định hướng đô thị kiểu mới - đô thị sinh thái học là một hướng đi thích hợp nhất cho bối cảnh ngày nay vì vừa quản lý được xu thế đô thị hóa, vừa khai thác được lợi thế nông nghiệp truyền thống của địa phương Đây sẽ là một hình thức hấp dẫn khách và lưu khách lâu hơn, đặc biệt là khách nước ngoài thông qua các hoạt động du lịch có đặc trưng theo văn hóa bản địa Đó không chỉ là
định hướng phát triển của Cửa Lò mà còn là chiến lược chung cho du lịch Việt Nam
Theo nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, các hệ canh tác truyền thống có nhiều ưu điểm nhưng cũng chứa đựng nhiều tồn tại là chưa phát huy được hết các lợi thế của vùng Vì lẽ đó loại hình du lịch trên cát biển Cửa
Lò ra đời với hai chức năng là du lịch nghỉ ngơi dài ngày và hình thành loại hình thăm quan học tập Đây chính là sự kết hợp hài hòa giữa sự bảo tồn hoạt
Trang 11động nông nghiệp truyền thống và sự phát triển dịch vụ kiểu mới Do tốc độ phát triển kinh tế và nhu cầu sử dụng đất ngày càng cao cho nên diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm nhưng với chủ trương và định hưóng của thị xã là tạo ra các vùng sản xuất riêng đặc trưng của vùng như ngô nếp, dưa hấu, rau màu, hải sản để thu hút du khách đến với vùng biển cũng như đáp ứng nhu cầu lương thực của địa bàn, đáp ứng nguồn rau xanh sạch tại chỗ cho các khách sạn nhà hàng vào mùa du lịch, nâng cao hiệu quả kinh tế, thu hút nguồn lao
động và bảo vệ môi trường Vì thế hiệu quả sử dụng đất về phương diện kinh tế
đã được người sử dụng đất quan tâm, nhưng sử dụng đất như thế nào để tài nguyên đất được khai thác thích hợp cả về kinh tế, xã hội cũng như duy trì đảm bảo về môi trường đô thị thì đòi hỏi phải điều tra, đánh giá một cách tổng hợp các
điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến sử dụng đất để có giải pháp sử dụng hợp lý
Xuất phát từ thực tế đó tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài "Đánh giá thực trạng và đề xuất sử dụng đất nông nghiệp hợp lý trên địa bàn thị x∙ Cửa Lò - Tỉnh Nghệ An".
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
- Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Định hướng và đề xuất các giải pháp hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững theo
hướng sản xuất hàng hóa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
nông thôn
1.2.2 Yêu cầu
- Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sử dụng đất
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của các loại cây trồng, của các kiểu sử dụng đất
- Các giải pháp đề xuất phải hợp lý và có tính thực thi
Trang 122 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu đánh giá và bố trí sử dụng
đất nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam
2.1.1 Khái quát về đất nông nghiệp
Đất nông nghịêp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Theo Luật đất đai 2003 trong phân loại đất thì
đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây "đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hỗ, đất rừng đặc dụng,
đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác" [16]
Theo báo cáo của World Bank [37], cho đến cuối thế kỷ XX vẫn còn 1/10 dân số thế giới thiếu ăn và bị nạn đói đe dọa, hàng năm mức sản xuất so với yêu cầu sử dụng lương thực vẫn thiếu hụt từ 150 - 200 triệu tấn, trong khi đó vẫn có từ 6 - 7 triệu héc- ta đất nông nghiệp bị loại bỏ do xói mòn Trong 1200 triệu ha đất bị thoái hóa có tới 544 triệu ha đất canh tác bị mất khả năng sản xuất do sử dụng không hợp lý
Theo tài liệu của FAO, năm 1980 diện tích trồng trọt trên toàn thế giới còn khoảng gần 15 tỷ ha, chiếm khoảng 10% tổng diện tích tự nhiên trái đất, trong đó có khoảng 973 triệu ha là đất vùng núi [38] Trong 1.200 triệu ha
đất bị thoái hóa có tới 544 triệu ha đất canh tác mất khả năng sản xuất do sử dụng đất không hợp lý
Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.069.348,12 ha trong đó đất nông nghiệp chỉ có 9.415.568,0 ha, đất lâm nghiệp có 14.677.409,10 ha [5], dân số là 83.121,0 triệu người, bình quân diện tích đất nông nghiệp là 1.132,75 m2/người, bình quân đất lâm nghiệp là 1.765,78 m2/người So sánh với 10 nước khu vực Đông Nam á, tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam xếp
Trang 13hàng thứ 4, nhưng dân số lại xếp hàng thứ 2 nên bình quân diện tích tự nhiên
trên đầu người của Việt Nam đứng vị trí thứ 9 trong khu vực [20] Vì vậy,
việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thỏa mãn nhu cầu cho xã hội về
nông sản phẩm đang trở thành một trong những mối quan tâm lớn nhất của
người quản lý và sử dụng đất
Biến động diện tích đất nông nghiệp Việt Nam trong những năm gần
đây được thể hiện qua bảng 1 (giai đoạn 1990 - 2005)
Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất nông - lâm nghiệp ở Việt Nam
Dân số (1000 người)
Bình quân đất nông nghiệp (m 2 )/người
Bình quân đất lâm nghiệp (m 2 )/ngưòi
Trang 14Qua bảng số liệu trên cho thấy:
- Diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 1990- 2005 tăng dần từ 6.993.241 ha lên 9.415.568,0 ha, trong giai đoạn này diện tích đất nông nghiệp tăng do những vùng đất có khả năng khai thác sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp còn rất nhiều nên người dân đã tích cực khai hoang mở rộng diện tích đất nông nghiệp, từ năm 2001 đến nay diện tích đất có khả năng sử dụng vào mục đích nông nghiệp còn không nhiều, mặt khác do quá trình đô thị hóa ngày càng mạnh mẽ nên một phần không nhỏ diện tích đất nông nghiệp đã chuyển sang sử dụng vào các mục đích khác như xây dựng các khu công nghiệp, khu dân cư, cơ sở hạ tầng do đó trong giai đoạn này diện tích đất nông nghiệp tăng không đáng kể
Trang 15- Diện tích đất Lâm nghiệp giai đoạn 1990- 1998 tăng dần từ 9.395.194 ha lên 11.985.367 ha, tuy nhiên từ năm 1998 đến năm 1999 diện tích đất lâm nghiệp bị giảm đi 1.069.767 ha nguyên nhân do sử quản lý lỏng lẻo của các cơ quan chức năng trong một thời gian dài dẫn đến tình trạng chặt phá rừng bừa bãi đặc biệt ở những khu rừng nguyên sinh Để khắc phục tình trạng này Chính phủ đã chỉ đạo các cơ quan thực hiện chính sách giao
đất nông nghiệp ổn định lâu dài cho hộ gia đình cá nhân thông qua Nghị
định 02/CP (15/1/1994), 163/CP (6/11/1999) chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, do đó từ năm 1999 đến nay diện tích đất lâm nghiệp liên tục tăng lên, đến nay diện tích đất lâm nghiệp trên cả nước là 14.677.409 ha nhưng chủ yếu là rừng trồng, diện tích rừng phòng hỗ và rừng đặc dụng còn không nhiều
2.1.2 Tình hình nghiên cứu đánh giá sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài là vấn đề quan trọng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu vào việc
đánh giá hiệu quả của từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi loại
đất, để từ đó có thể sắp xếp, bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai thác tốt hơn lợi thế so sánh của vùng
Theo Macdicken K.G Vergara N.T (dẫn theo Đoàn Công Quỳ, 2001) [19] nông - lâm nghiệp kết hợp là phương thức sử dụng đất đã được áp dụng hàng ngàn năm trên thế giới Nền nông nghiệp "chặt -đốt" ra đời vào khoảng
7000 năm trước công nguyên Sự cần thiết phải tăng cường phát triển nông - lâm kết hợp đã được xác nhận trở lại nhiều hơn trong những năm trở lại đây Trong gần 50 năm qua, tiến bộ khoa học kỹ thuật đang được ứng dụng rỗng rãi trong sản xuất nông - lâm nghiệp, sự phát triển đó đã nâng cao hiệu quả nhiều mặt trong sản xuất Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của chương trình
Trang 16môi trường Liên Hợp Quốc cho rằng: nhiều nước trên thế giới sử dụng đất bằng các biện pháp truyền thống đang nhanh chóng bị lãng quyên, dẫn đến xuống cấp của môi trường và đất đai
Từ những thập niên 50 của thế kỷ XX, đánh giá khả năng sử dụng đất
được xem như là bước nghiên cứu kế tiếp của công tác nghiên cứu đặc điểm
đất Xuất phát từ nỗ lực riêng lẻ của từng quốc gia, về sau phương pháp đánh giá đất được nhiều nhà khoa học hàng đầu thế giới và các tổ chức quốc tế quan tâm, do vậy trở thành một trong những chuyên ngành nghiên cứu quan trọng và đặc biệt gần gũi với những nhà quy hoạch, người hoạch định chính sách đất đai và người sử dụng đất [11] Hàng năm các viện nghiên cứu nông nghiệp các nước trên thế giới cũng đưa ra nhiều giống cây trồng mới, giúp cho việc tạo thành một số hình thức sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả cao hơn trước Viện lúa quốc tế (IRRI) đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây trồng trên đất canh tác, thậm chí "Farming Japan" của Nhật ra hàng tháng đã giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất đai, đặc biệt là của Nhật
Nhà khoa học Nhật Bản Otak Tanakad đã nêu lên những vấn đề cơ bản
về sự hình thành của sinh thái đồng ruộng và từ đó cho rằng yếu tố quyết
định của hệ thống nông nghiệp là sự thay đổi về kỹ thuật, kinh tế xã hội
Các nhà khoa học Nhật Bản đã hệ thống tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng
đất đai thông qua hệ thống cây trồng trên đất canh tác Là sự phối hợp giữa các cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi, cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra, tính chất hàng hóa của sản phẩm
Trung Quốc cho rằng việc khai thác và sử dụng đất đai là yếu tố quyết
định để phát triển kinh tế xã hội nông thôn toàn diện Chính phủ Trung Quốc
đã đưa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai, ổn định chế độ sở hữu, giao đất nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính sáng tạo
Trang 17của nông dân trong sản xuất Thực hiện chủ trương "ly nông bất ly hương" đã thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nông thôn phát triển toàn diện và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Phân loại khả năng thích nghi đất đai có tưới của cục cải tạo đất đai -
Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ biên soạn năm 1951 Trong phân loại này, ngoài đặc
điểm đất đai, một số chỉ tiêu kinh tế định lượng cũng được xem xét Bên cạnh
đó, khái niệm "Khả năng đất đai" cũng được mở rộng trong công tác đánh giá
đất đai ở Hoa Kỳ do Klingebiel và Montgomery đề nghị năm 1964 [11]
Bùi Quang Toản và cộng sự (1995) [21] đã cho biết Liên xô cũ và các nước Đông Âu từ những thập niên 60 của thế kỷ XX việc phân hạng và đánh giá đất đai cũng được thực hiện, bao gồm 3 bước như sau:
- Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng (so sánh các loại thổ nhưỡng theo tính chất tự nhiên)
- Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai (được xem xét kết hợp với yếu tố khí hậu, độ ẩm, địa hình )
- Đánh giá kinh tế đất (chủ yếu đánh giá khả năng xuất hiện của đất
đai) phương pháp này thuần túy quan tâm đến khía cạnh tự nhiên của đối tượng đất đai, chưa xem xét đầy đủ đến khía cạnh kinh tế xã hội của việc sử dụng đất đai
Từ những năm 70 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu đánh giá đất thấy rằng cần thống nhất và tiêu chuẩn hóa việc đánh giá đất đai quốc tế Do
đó hai ủy ban nghiên cứu quốc tế do FAO chủ trì đã xây dựng dự thảo đầu tiên về đánh giá đất (FAO 1972) Đến năm 1975 FAO đã chính thức cho xuất bản đề cương đánh giá đất đai theo FAO "A Framework For Land Evaluation", sau đó được điều chỉnh, bổ sung năm 1983 (dẫn theo Nguyễn Quang Học, 2001 [11] Bên cạnh những tài liệu tổng quát, một số hướng dẫn
cụ thể khác về đánh giá đất đai cho từng đối tượng như:
- Đánh gía đất đai cho nền nông nghiệp nhờ mưa (Land Evaluation For
Trang 18Hiện nay, công tác đánh giá đất đai được thực hiện ở hầu hết các quốc gia và trở thành một khâu trọng yếu trong các hoạt động đánh giá tài nguyên hay trong quy hoạch sử dụng đất, là một công cụ cần thiết cho phát triển bền vững
2.1.3 Tình hình nghiên cứu đánh giá sử dụng đất ở Việt Nam
Việt Nam là nước nông nghiệp đang phát triển với trên 70% dân số sống
ở nông thôn và khoảng 65% lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp [22] Chính vì vậy, nông nghiệp có vai trò hết sức quan trọng về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường sinh thái Nông nghiệp không chỉ cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho công nghiệp, mà còn là ngành chủ yếu tạo ra nhiều việc làm, thu nhập ….cho đa
số dân cư nước ta
Việt Nam thuộc vùng nhiệt đới ẩm Châu á có nhiều thuần lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên nguồn đất đai có hạn, dân số lại đông bình quân đất đầu người là 0,397ha, chỉ bằng 1/3 mức bình quân của thế giới, xếp thứ 135/60 nước thế giới, xếp thứ 9/10 nước Đông Nam á Mặt khác dân
số lại tăng nhanh làm cho bình quân diện tích đất trên người lại càng giảm Tốc độ tăng dân số là 1- 2% năm thì dân số Việt Nam sẽ là 100,8 triệu người vào năm 2015 Vì thế nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là yều cầu cần thiết đối với Việt Nam trong những năm tới
Trang 19Từ thời phong kiến các triều đại vua chúa nước ta đã thực hiện đạc điền, phân hạng đất theo kinh nghiệm nhằm quản lý đất đai cả về số lượng và chất lượng Năm 1092, nhà Lý lần đầu tiên đã tiến hành đạc điền, lập điền bạ, đánh thuế ruộng đất Thời nhà Lê vào thế kỷ XV, ruộng đất đã được phân chia tứ hạng điền (nhất đẳng điền, nhị đẳng điền, tam đẳng điền và tứ đẳng điền) nhằm phục vụ cho chính sách quản điền và tô thuế Trong thời kỳ thống trị của thực dân Pháp, việc nghiên cứu đánh giá đất đã được tiến hành ở những vùng đất đai phì nhiêu, những vùng đất có khả năng khai phá với mục đích xác định tiềm năng sử dụng để lựa chọn đất lập đồn điền, tiêu biểu là một số công trình của Yves Henry (1931), Castagnol E.M (1959,1952), Smith (1951 ) [19]
Trong giai đoạn 1954- 1975, ở Miền Nam đã có một số công trình nghiên cứu về đất của Moorman F.R (1958 - 1960), Thái Công Tụng, Moorman F.R (1958), Trương Đình Phú (1960 - 1961) các công trình nghiên cứu trên đã xác định được hầu hết các loại đất chính phân bố trên địa bàn Miền Nam (nguồn gốc phát sinh, tính chất lý học, hiện trạng và khả năng sử dụng đất) ở Miền Bắc các nhà khoa học Việt Nam đã tiến hành
điều tra về đất và xây dựng bản đồ thổ nhưỡng toàn quốc tỷ lệ 1:1.000.000 Một số công trình nghiên cứu cơ bản về đất đã được công bố như Frinland
VM với "Một số kết quả nghiên cứu bước đầu về đất Miền Bắc" (1962) Vũ Ngọc Tuyên, Trần Khải, Phan Gia Tụ với "Những loại đất chính Miền Bắc Việt Nam", Tôn Thất Chiểu với "Tổng quan về điều tra phân loại đất Việt Nam" [19]
Từ đầu những năm 70, vấn đề luân canh bố trí hệ thống cây trồng để tăng
vụ, gối vụ, xen canh nhằm sử dụng tốt hơn nguồn lực đất đai, khí hậu được nhiều tác giả đề cập như Bùi Huy Giáp (1974), Ngô Thế Dân (1982), Vũ Tuyên Hoàng (1978), Bùi Quang Toản và một số cán bộ khoa học viện thổ nhưỡng nông hóa đã thực hiện công tác nghiên cứu đánh giá đất và phân hạng đất ở 23 huyện, 286 hợp tác xã (HTX) và 9 vùng chuyên canh Các kết
Trang 20quả nghiên cứu bước đầu đã phục vụ thiết thực cho công tác tổ chức lại sản xuất Từ kết quả nghiên cứu đó, Bùi Quang Toản đã đề xuất quy trình phân hạng đất đai áp dụng cho các HTX và vùng chuyên canh gồm 4 bước, các yếu tố chất lượng được chia ra thành yếu tố thuận và yếu tố nghịch, đất đai được chia làm 4 hạng: rất tốt, tốt, trung và kém [19]
Năm 1983, tổng cục quản lý ruộng đất đã ban hành "Dự thảo phương pháp phân hạng đất lúa nước cấp huyện" Theo phương pháp này, đất đai
được chia thành 8 hạng, chủ yếu là dựa vào năng suất cây trồng, ngoài ra còn
sử dụng một số chỉ tiêu như độ dày tầng canh tác, địa hình, thành phần cơ giới, độ nhiễm mặn, nhiễm phèn [18]
Nhiều công trình nghiên cứu về đánh giá đất đai của các tác giả như Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng (1993) [13] với "Kết quả bước đầu đánh giá tài nguyên đất đai Việt Nam" (1994) Đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền (Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 1995)[31] Phạm Quang Khánh với "Kết quả nghiên cứu hệ thống sử dụng đất trong nông nghiệp" (1994), Nguyễn Công Pho với "Đánh giá đất vùng đồng bằng sông Hồng" (1995)
Thực tế trong những năm qua nước ta đã quan tâm giải quyết tốt các vấn
đề kỹ thuật và kinh tế, tổ chức trong sử dụng đất nông nghiệp Việc nghiên cứu và ứng dụng được tập trung vào các vấn đề như: lai tạo giống cây trồng mới có năng suất cao, bố trí luân canh cây trồng vật nuôi, thực hiện thâm canh toàn diện, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Trong nghiên cứu hệ thống sử dụng đất và các yếu tố sinh thái nông nghiệp phục vụ quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đã có nhiều công trình nghiên cứu trên các vùng sinh thái của cả nước Những công trình nghiên cứu sử dụng đất chung trên phạm vi cả nước với quan niệm này gồm "Hệ sinh thái nông nghiệp" (Đào Thế Tuấn, 1984),
"Khả năng phát triển nông nghiệp nước ta trong giai đoạn tới" (Tôn Thất
Trang 21Chiểu, 1992), "Chiến lược sử dụng đất, bảo vệ, bồi dưỡng đất đai và môi trường' (Nguyễn Vy, 1992)
Năm 1995, Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp đã tổ chức hội thảo quốc gia về đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái, phát triển bền vững Hội nghị đã tổng kết đánh giá việc ứng dụng quy trình đánh giá đất của FAO vào thực tiễn ở Việt Nam, nêu những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để sử dụng kết quả đánh giá đất vào công tác quy hoach
sử dụng đất có hiệu quả Thông qua việc đánh giá khả năng thích hợp của đất
đai để thấy tiềm năng đa dạng hóa của nông nghiệp, khả năng tăng vụ, lựa chọn hệ thống sử dụng đất, loại hình sử dụng đất phù hợp để tiến tới sử dụng
đất hợp lý và có hiệu quả cao hơn
Đánh giá đất của FAO gồm 9 bước được vận dụng trong đánh giá đất đai
từ các địa phương đến các vùng sinh thái lớn có đóng góp rất nhiều của các nhà nghiên cứu như:
- Vùng đồi núi Tây Bắc và Trung du phía Bắc có Lê Duy Thước (1992),
Lê Văn Khoa (1993), Lê Thái Bạt (1995), các tác giả có những nhận định tổng quát về quỹ đất của vùng
- Vùng đồng bằng Sông Hồng với những công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Công Pho, Lê Hồng Sơn (1995), Cao Liêm, Vũ Thị Bình, Nguyễn Đình Hà (1992 - 1993); Đỗ Nguyên Hải (1999) Trong chương trình nghiên cứu vận dụng phương pháp đánh giá đất của FAO thực hiện trên bản
đồ tỷ lệ 1:250.000 cho phép đánh giá mức độ tổng hợp phục vụ quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng Sông Hồng
- Vùng đồng bằng sông Cửu Long: Nguyễn Văn Nhân (1996) [18] đã ứng dụng kỹ thuật GIS vào việc đánh giá đất thích hợp của FAO trên phạm vi toàn vùng với diện tích 3,9 triệu ha Kết quả đánh giá đã xác định được 25 loại hình sử dụng đất nông nghiệp, 3 loại hình sử dụng đất lâm nghiệp và 1 loại hình thủy sản và phân lập được 57 hệ thống sử dụng đất trên 6 tiểu
Trang 22vùng đại diện chính, lựa chọn được 12 loại hình sử dụng đất có triển vọng cho vùng
- Vùng Đông Nam Bộ: Các công trình nghiên cứu của Phạm Quang Khánh, Trần An Phong, Vũ Cao Thái (1994) Kết quả cho thấy 7 loại hình
sử dụng đất chính, 49 loại hình sử dụng đất chi tiết với 94 hệ thống sử dụng
đất trong nông nghiệp, trong đó 50 hệ thống sử dụng đất được lựa chọn [14], [15]
- Vùng Tây Nguyên: Năm 1989 Vũ Cao Thái [ Dẫn theo 32 ] lần đầu tiên thử nghiệm đánh giá đất thích hợp cho cây trồng cà phê, chè, cao su, dâu tằm, trên cơ sở vận dụng phương pháp đánh giá đất của FAO để đánh giá
định tính và khái quát tiềm năng đất Kết quả nghiên cứu tác giả đưa ra những tiêu chuẩn đánh giá, phân hạng cho từng loại cây trồng Tuy nhiên các chỉ tiêu thiên về yếu tố thổ nhưỡng mà chưa đề cập đến yếu tố sinh thái
và xã hội
- Vùng Bắc Trung Bộ: Cả nước hiện nay nhóm đất cát ven biển có 479,1 nghìn ha, trong đó vùng Bắc Trung Bộ là 202,8 nghìn ha, Nam Trung Bộ 244,6 nghìn ha Như vậy Duyên hải miền Trung có diện tích lớn nhất chiếm 93,4% Năm 1981, tác giả Phan Liêu trong quá trình nghiên cứu về đất cát ven biển cũng đã đề cập đến một số khía cạnh về phát sinh, xây dựng hệ thống phân loại đất cát ven biển nhưng chưa đi sâu nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất dụng nhóm đất này Đất cát ven biển đã được áp dụng thành công những mô hình đạt giá trị kinh tế cao như: Cây lạc xuân theo phương pháp phủ nilon ở xã Diễn Quỳnh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, cho giá trị sản lượng đạt từ 12 - 13 triệu đồng/ha Bông xen dưa hấu trên đất cát ven biển ở Hương Trà, tỉnh Thưa Thiên Huế đạt giá trị sản lượng 29,36 triệu đồng, thu nhập 13,32 triệu đồng Mô hình nuôi trồng thủy sản trên đất cát với hơn 20.000 ha đất cát ven biển miền Trung, trong đó Hà Tĩnh (1.300 ha), Quảng Trị (4.000 ha), Quãng Bình (4.500 ha)…Dự án 2.800 ha nuôi tôm công
Trang 23nghiệp ở 2 huyện Quảng Ninh và Lệ Thủy - Quảng Bình Các công trình nghiên cứu tập trung đánh giá tiềm năng đất đai, phân tích hệ thống cây trồng hiện đại, xác định khả năng thích nghi của đất đai cho các loại hình sử dụng đất, đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất phù hợp với đặc điểm đất
đai, các yếu tố kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường
Năm 1995, tổng cục địa chính đã xây dựng "Dự án đánh giá đất cấp huyện", chọn một số huyện đại diện cho các vùng kinh tế tự nhiên (Miền núi
và trung du phía bắc, đồng bằng Sông Hồng, khu IV cũ, ven biển miền Trung
và đồng bằng sông Cửu Long) Có thể nhận thấy các nghiên cứu sâu về đất
và sử dụng đất đây là cơ sở cần thiết cho việc định hướng sử dụng đất và bảo
vệ tài nguyên đất thời kỳ tiếp theo
Cả nước hiện có 24.822.560 ha đất nông nghiệp chiếm 75,06% tổng diện tích tự nhiên, bình quân 0,3 ha/người và 0,68 ha/lao động nông nghiệp, trong
đó vùng Bắc Trung Bộ là 3.970.700 ha chiếm 16% [5] Sau 5 năm thực hiện
kế hoạch phát triển nông nghiệp và nông thôn, cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn có bước chuyển dịch tích cực Tuy một bộ phận diện tích gieo trồng lúa đã chuyển sang nuôi trồng thủy sản và các cây khác có giá trị hơn nhưng năng suất, sản lượng lúa vẫn tăng, an ninh lương thực được đảm bảo Sản xuất cây công nghiệp, cây ăn quả có sự điều chỉnh theo nhu cầu thị trường, hình thành nhiều vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với công nghiệp chế biến Ngành chăn nuôi tiếp tục phát triển với tốc độ cao để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng về thịt, trứng, sữa trong nước đang tăng nhanh Công nghiệp chế biến nông lâm, sản và ngành nghề nông thôn có bước phát triển tích cực nhất là về chế biến hải sản Tốc độ tăng trưởng nông lâm nghiệp bình quân giai đoạn 2001 - 2005 đạt 3,6%/năm, sản xuất lúa 35,9 triệu tấn, sản xuất ngô 3,45 triệu tấn Xuất khẩu hàng năm nông lâm, thủy sản đạt 29,5
tỷ USD Bình quân đất sản xuất nông nghiệp 0,11 ha/người và 0,26 ha/ lao
động nông nghiệp, trong đó vùng Bắc Trung Bộ có 802.310 ha (chiếm
Trang 248,25%) Từ năm 2001- 2005 vùng đồng bằng Bắc Bộ đất nông nghiệp giảm 18.404 ha (trong đó đất sản xuất nông nghiệp giảm 37.544ha)
Cùng với tăng trưởng sản xuất, phương thức sản xuất và quan hệ kinh tế cũng có nhiều thay đổi, tạo động lực giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp và nông thôn, góp phần đưa kinh tế nông thôn phát triển theo hướng đa dạng hóa ngành nghề, tăng tỷ trọng của công nghiệp cao hơn 6%, dịch vụ cao hơn cao hơn 4% và sản xuất thuần nông giảm hơn 10%, nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động của sản xuất nông nghiệp từ 74,2% năm 2000 lên 80% năm 2005 Nhìn chung việc sử dụng đất sản xuất nông nghiệp đã đem lại những kết quả rõ rệt, sản lượng lương thực và lương thực bình quân đầu người đều tăng, xuất khẩu lương thực và nông sản ổn định và ngày càng đi dần vào chất lượng, hiệu quả Tuy nhiên, việc sử dụng đất nông nghiệp cũng còn nhiều hạn chế, trong đó đáng chú ý là tiềm năng đất nông nghiệp chưa được khai thác hợp lý, năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp còn thấp, thửa đất nông nghiệp bị chia cắt manh mún, quy mô sản xuất của từng hộ sản xuất nông nghiệp nhỏ bé
Định hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam đến năm 2010 là "Xây dựng nền nông nghiệp tăng trưởng nhanh và bền vững theo hướng nền nông nghiệp sinh thái" Thực hiện đất đai canh tác đa dạng hóa sản phẩm, kết hợp nông nghiệp, lâm nghiệp với công nghiệp chế biến, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, tăng nhanh nông sản hàng hóa, tăng cường xuất khẩu nâng cao đời sống nông dân và xây dựng nông thôn mới
2.1.4 Phát triển nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam
2.1.4.1 Phát triển nông nghiệp trên thế giới
Theo Đường Hồng Dật (1994) [7] trong quá trình phát triển nông nghiệp, mỗi nước chịu ảnh hưỏng của các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác nhau nhưng đều phải giải quyết các vấn đề chung sau:
- Không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, nâng cao hiệu
Trang 25quả đầu tư trong nông nghiệp
- Mức độ và phương thức đầu tư vốn, lao động, khoa học vào quá trình phát triển nông nghiệp Chiều hướng chung là phấn đấu giảm lao động chân tay, đầu tư nhiều lao động trí óc, tăng cường hiệu quả của lao động quản lý
- Nông nghiệp sinh thái: Hướng này nhấn mạnh các yếu tố sinh thái, các yếu tố tự nhiên, làm nổi bật lên đối tượng sản xuất trong nông nghiệp là các loại sinh vật, đồng thời có chú ý hơn đến các quy luật sinh học, quy luật tự nhiên Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp nông nghiệp sinh thái không đảm bảo hiệu quả cao và ổn định Gần đây, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu nền nông nghiệp bền vững, đó là một dạng nông nghiệp sinh thái với mục tiêu là sản xuất nông nghiệp đi đôi với giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững
Trong thực tế, nông nghiệp phát triển theo dạng tổng hợp, các xu hướng
đan xen nhau Cụ thể:
- Vào những năm 60, các nước đang phát triển ở Châu á, Mỹ La Tinh đã thực hiện cuộc "Cách mạng xanh" Cuộc cách mạng này chủ yếu dựa vào việc áp dụng các giống cây lương thực có năng suất cao (lúa nước, lúa mì, ngô, đậu ), xây dựng hệ thống thủy lợi, sử dụng nhiều phân bón hóa học và dựa vào một số yếu tố sinh học, hóa học, thành tựu trong công nghiệp
- Cuộc "Cách mạng trắng" được thực hiện dựa vào việc tạo ra các giống gia súc có tiềm năng cho sữa cao, những tiến bộ của khoa học trong việc tăng
Trang 26năng suất cây trồng, chất lượng các loại thức ăn gia súc và các phương thức chăn nuôi mang tính chất công nghiệp
Vì tính chất thiếu toàn diện nên 2 cuộc cách mạng trên gặp nhiều trở ngại, đặc biệt là trở ngại trong quan hệ sản xuất và trong hiệu quả kinh tế
- Cuộc "Cách mạng nâu" diễn ra trên cơ sở giải quyết tốt mối quan hệ giữa nông dân với ruộng đất, khuyến khích tính cần cù của người nông dân
để tăng năng suất và sản lượng trong nông nghiệp
Cả 3 cuộc cách mạng này mới chỉ dừng lại ở việc giải quyết phiến diện, tháo gỡ những khó khăn nhất định chưa thể là cơ sở cho một chiến lược phát triển nông nghiệp lâu dài và bền vững
Từ những bài học của lịch sử phát triển nông nghiệp những thành tựu đạt
được của khoa học công nghệ, ở giai đoạn hiện nay muốn đưa nông nghiệp đi lên phải xây dựng và thực hiện một nền nông nghiệp trí tuệ bởi vì tính phong phú đa dạng và đầy biến động của nông nghiệp đòi hỏi những hiểu biết và những xử lý đầy trí tuệ và rất biện chứng Nông nghiệp trí tuệ thể hiện ở việc phát hiện, nắm bắt và vận dụng các quy luật tự nhiên và xã hội biểu hiện trong mọi hoạt động của hệ thống nông nghiệp phong phú, biểu hiện ở việc áp dụng các giải pháp phù hợp, hợp lý Nông nghiệp trí tuệ là bước phát triển mới
ở mức cao, là sử dụng đất kết hợp ở đỉnh cao của các thành tựu sinh học, công nghiệp, kinh tế, quản lý được vận dụng phù hợp và hợp lý vào điều kiện cụ thể của mỗi nước, mỗi vùng Đó là nền nông nghiệp phát triển toàn diện và bền vững
2.1.4.2 Phát triển nông nghiệp ở Việt Nam
Theo văn kiện đại hội đảng toàn quốc lần thứ X (2006) [8], định hướng phát triển ngành nông lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 sẽ là:
- Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hóa lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái của từng vùng Đưa nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, tăng năng suất lao động, nâng cao chất
Trang 27lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm Mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản trong và ngoài nước Quy hoạch hợp lý và nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ
đất, nguồn nước, vốn rừng gắn với bảo vệ môi trường
- Điều chỉnh quy hoạch sản xuất lương thực phù hợp với nhu cầu và khả năng tiêu thụ, tăng năng suất đi đôi với nâng cao chất lượng Bảo đảm an ninh lương thực trong mọi tình huống Xây dựng các vùng sản xuất tập trung,
có chính sách bảo đảm lợi ích của người sản xuất lương thực
- Bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao độ che phủ của rừng lên 43% Hoàn thành việc giao đất, giao rừng ổn định và lâu dài theo hướng xã hội hóa lâm nghiệp, có chính sách bảo đảm cho người làm lâm nghiệp sống được bằng nghề rừng Kết hợp lâm nghiệp với nông nghiệp, đẩy nhanh trồng rừng kinh
tế, tạo nguồn gỗ, nguyên liệu cho công nghiệp bột giấy, công nghiệp chế biến gỗ và làm hàng mỹ nghệ xuất khẩu, nâng cao giá trị sản phẩm rừng
- Chú trọng tạo và sử dụng giống cây có năng suất, chất lượng và giá trị cao Đưa nhanh công nghệ mới vào sản xuất xây dựng một số khu công nghệ cao
- Trên cơ sở chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang các ngành, nghề khác, từng bước tăng quỹ đất canh tác cho mỗi lao động nông nghiệp,
mở rộng quy mô sản xuất, tăng việc làm và thu nhập cho dân cư nông thôn
- Giá trị gia tăng nông nghiệp (kể cả thủy sản, lâm nghiệp) tăng bình quân hàng năm 4,0 - 5,0% Đến năm 2010 tổng sản lượng lương thực có hạt đạt khoảng 40 triệu tấn Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP khoảng 16 - 17% Bảo vệ 10 triệu ha rừng tự nhiên, hoàn thành chương trình trồng mới
5 triệu ha rừng
2.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.2.1 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất
Trong thực tế có rất nhiều quan điểm, nhưng theo trung tâm từ điểm ngôn ngữ [26], hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại
Trang 28Kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu thị bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu ngày càng cao của con người mà ta phải xem xét kết quả được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra để tạo ra kết quả đó là bao nhiêu? có đưa lại kết quả hữu ích không? Chính vì thế khi đánh giá hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo
ra sản phẩm đó Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung đánh giá hiệu quả
Việc xác định bản chất và khái niệm hiệu quả cần xuất phát từ những luận điểm triết học của Mác và những luận điểm lý thuyết hệ thống [2] sau đây:
• Thứ nhất: bản chất của hiệu quả là sự thực hiện yêu cầu tiết kiệm thời gian, biểu hiện trình độ sử dụng nguồn lực của xã hội Các Mác cho rằng quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất Mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật đó,
nó quyết định động lực phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển văn minh xã hội và nâng cao đời sống của con người qua mọi thời đại
• Thứ hai: theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xã
hội là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trình sản xuất
Hệ thống sản xuất xã hội bao gồm trong nó các quá trình sản xuất, các phương tiện bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội, đáp ứng các nhu cầu xã hội, nhu cầu của con người là những yếu tố khách quan phản ánh mối quan hệ nhất định của con người đối với môi trường bên ngoài Đó là quá trình trao
đổi vật chất, năng lượng giữa sản xuất xã hội và môi trường
• Thứ ba: hiệu quả kinh tế là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu
cuối cùng mà là mục tiêu xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế Trong kế hoạch
Trang 29và quản lý kinh tế nói chung hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu vào
và đầu ra, là lợi ích lớn hơn thu được với một chi phí nhất định, hoặc một kết quả nhất định với chi phí nhỏ hơn
Ngày nay chúng ta sống trong thời đại "một trái đất một gia đình" nên con người ngày càng nhận thức được các quy luật tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường Trong điều kiện cụ thể của nền kinh tế mở như hiện nay thì mọi hoạt động sản xuất không chỉ quan tâm đến vấn đề kinh tế, xã hội mà vấn đề môi trường ngày càng trở nên quan trọng đòi hỏi phải được quan tâm đúng mức Một quan niệm về hiệu quả trong điều kiện hiện nay là phải thỏa mãn
về tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tài nguyên trong sản xuất, mang lại lợi ích xã hội và bảo vệ môi trường Như vậy, bản chất của hiệu quả được xem là việc
đáp ứng nhu cầu của con người trong đời sống xã hội, bảo tồn tài nguyên và nguồn lực để phát triển lâu bền
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới [31], nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp
Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hóa cây trồng vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao Đó là một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển nền nông nghiệp hướng về xuất khẩu có tính ổn định và bền vững
Căn cứ vào nội dung và cách biểu hiện thì hiệu quả có thể phân thành
3 loại: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường
* Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể
Trang 30là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Theo nhà khoa học kinh tế Samuelson Nordhuas "Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí" Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội, "Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một hàng hoá này mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hoá khác" Theo các nhà khoa học Đức như: StenICn, Hanau, Rusteruyer, Simmerman, hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội [23]
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hóa, tới tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được ba vấn đề:
• Một là: mọi hoạt động sản xuất của con người đều tuân theo quy luật
"tiết kiệm thời gian"
• Hai là: hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm lý thuyết hệ
thống
• Ba là: hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng
của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào Mối tương quan cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là: với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một
Trang 31khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội [9]
* Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan giữa kết quả thu được về mặt xã
hội mà sản xuất mang lại với các chi phí sản xuất xã hội bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền
đề của nhau và là một phạm trù thống nhất, phản ánh mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và các lợi ích xã hội mang lại
Theo Nguyễn Duy Tính (1995) [25], hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp
* Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của sinh vật, hoá học, vật lý , chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường của các loại vật chất trong môi trường Hiệu quả môi trường phân theo nguyên nhân gây nên gồm: hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật
lý môi trường và hiệu quả sinh vật môi trường Hiệu quả sinh vật môi trường là hiệu quả khác nhau của hệ thống sinh thái do sự phát sinh biến hoá của các loại yếu tố môi trường dẫn đến Hiệu quả hoá học môi trường là hiệu quả môi trường do các phản ứng hoá học giữa các vật chất chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường dẫn đến Hiệu quả vật lý môi trường là hiệu quả môi trường do tác động vật lý dẫn đến Hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài vừa đảm bảo lợi ích trước mắt, nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng , bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái
Trang 322.2.2 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
2.2.2.1 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu của con người
được lấy từ đất ngày càng tăng, mặt khác đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do bị trưng dụng sang các mục đích khác Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở bảo
đảm an ninh lương thực, thực phẩm, bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp, đảm bảo khả năng phòng hộ môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học, bảo vệ hệ động thực vật quí hiếm của rừng, phát triển công nghiệp chế biến vừa và nhỏ với thiết bị cộng nghệ tiên tiến; khai thác tiềm năng lao động, giải quyết công ăn việc làm góp phần xóa
đói giảm nghèo, thu hút các nguồn lực đầu tư, nâng cao vai trò và giá trị đóng góp của ngành nông - lâm nghiệp vào phát triển kinh tế quốc dân [dẫn theo 1] Sản xuất nông nghiệp trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm
ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để
đảm bảo cho khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên đất Do đó đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc "đầy đủ, hợp lý và hiệu quả"
- Đầy đủ: Đây là nguyên tắc quan trọng, đảm bảo diện tích đất canh tác luôn đáp ứng được nhu cầu về an toàn lương thực, diện tích đất nông nghiệp đáp ứng được tiêu chuẩn môi trường sinh thái được bền vững cũng như nhu cầu sinh hoạt của con người
- Hợp lý: đây là nguyên tắc giúp cho việc khai thác, sử dụng đất đạt hiệu quả cao nhưng vẫn đảm bảo được tính an toàn và hiệu quả
- Hiệu quả: trong khai thác và quản lý sử dụng đất tính hiệu quả cao nhất cả về kinh tế, xã hội và môi trường Mặt khác phải có những quan điểm
đúng đắn theo xu hướng tiến bộ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, làm cơ sở thực hiện sử dụng đất có hiệu quả kinh tế xã hội cao
Trang 332.2.2.2 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
Theo chiến lược phát triển nông nghiệp - nông thôn Việt Nam đến năm 2010 (2003) [3] quan điểm sử dụng đất nông - lâm nghiệp là:
- Tận dụng triệt để các nguồn lực thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh
về khoa học kỹ thuật, đất đai, lao động để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỷ xuất hàng hóa cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu
- áp dụng phương thức sản xuất nông lâm kết hợp, lựa chọn các loại hình sử dụng đất thích hợp, đa dạng hóa sản phẩm, chống xói mòn, thâm canh sản xuất bền vững
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp trên cơ sở thực hiện đa dạng hóa cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo vệ môi trường
- Phát triển nông lâm nghiệp một cách toàn diện và có hệ thống trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển theo chiều sâu, đáp ứng yêu cầu
đa dạng hóa của nền kinh tế quốc dân
- Phát triển nông nghiệp toàn diện gắn liền với việc xóa đói giảm nghèo, giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và phát huy nền văn hóa truyền thống của các dân tộc, không ngừng nâng cao vai trò nguồn lực của con người
- Phát triển kinh tế nông nghịêp trên cơ sở áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của địa phương phải gắn liền với định hướng phát triển kinh tế, xã hội của vùng và cả nước
+ Quan điểm sử dụng đất bền vững và hợp lý
Từ khi biết sử dụng đất đai vào mục đích sinh tồn, đất đai đã trở thành cơ sở cần thiết cho sự sống và cho tương lai phát triển của loài người
Trước đây, khi dân số còn ít để đáp ứng yêu cầu của con người việc khai thác từ đất khá dễ dàng và chưa có những ảnh hưởng lớn đến tài nguyên
Trang 34đất Nhưng ngày nay, mật độ dân số ngày càng tăng, đặc biệt là ở các nước
đang phát triển thì vấn đề đảm bảo lương thực cho sự gia tăng dân số đã trở thành sức ép ngày càng mạnh mẽ lên đất đai Diện tích đất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp ngày càng cạn kiệt, con người phải mở rộng thêm diện tích canh tác trên các vùng đất không thích hợp cho sản xuất, hậu quả đã gây ra quá trình thoái hóa đất một cách nghiêm trọng [36 ]
Tác động của con người tới đất đã làm cho độ phì nhiêu của đất ngày càng suy giảm và dẫn đến thoái hóa đất, lúc đó rất khó có khả năng phục hồi
độ phì nhiêu của đất hoặc phải chi phí rất tốn kém mới có khả năng phục hồi
được Đất với 5 chức năng chính là ''Duy trì vòng tuần hoàn sinh học và địa hóa học, phân phối nước, tích trữ và phân phối vật chất, mang tính đệm và phân phối năng lượng" (De Kimpe và Warkentin - 1998) [34], là những trợ giúp cần thiết cho các hệ sinh thái Mục đích của sản xuất là tạo ra lợi nhuẫn luôn chi phối các tác động của con ngưòi lên đất đai và môi trường tự nhiên, những giải pháp sử dụng và quản lý đất không thích hợp chính là nguyên nhân dẫn đến sự mất cân bằng lớn trong đất, sẽ làm cho đất bị thoái hóa
Sử dụng đất một cách có hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn cho
sự tồn tại và tương lai phát triển của loài người, bởi vậy việc tìm kiếm các giải pháp sử dụng đất thích hợp, bền vững đã được nhiều nhà khoa học đất và các tổ chức quốc tế quan tâm Thuật ngữ "Sử dụng đất bền vững" (Suitainable land use) đã trở thành thông dụng trên thế giới hiện nay
Nội dung sử dụng đất bền vững bao hàm ở một vùng trên bề mặt trái
đất với tất cả các đặc trưng: Khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, chế độ thủy văn,
động vật - thực vật và cả những hoạt động cải thiện việc sử dụng và quản lý
đất đai như: hệ thống tưới tiêu, xây dựng đồng ruộng…Do đó thông qua hoạt
động thực tiễn sử dụng đất chúng ta phải xác định được những vấn đề liên quan đến các yếu tố tác động đến khả năng bền vững đất đai trên phạm vi cụ thể của từng vùng để tránh những sai lầm trong sử dụng đất, đồng thời hạn
Trang 35chế được những tác hại đối với môi trường sinh thái [10]
Theo Fetry [35] sự phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động và thực vật, không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội FAO đã đưa ra các chỉ tiêu cụ thể cho nông nghiệp bền vững là
- Thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại và tương lai về số lượng, chất lượng và các sản phẩm nông nghiệp khác
- Cung cấp lâu dài việc làm, đủ thu thập và các điều kiện sống, làm việc tốt cho mọi người trực tiếp làm nông nghiệp
- Duy trì và có thể tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở tài nguyên thiên nhiên, khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tái tạo
được mà không phã vỡ chức năng của các chu trình sinh thái cơ sở, cân bằng
tự nhiên không phá vỡ bản sắc văn hóa - xã hội của các cộng đồng sống ở nông thôn hoặc không gây ô nhiễm môi trường
- Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng tin trong nông dân [24]
2.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng đất nông nghiệp
Phạm vi sử dụng đất, cơ cấu và phương thức sử dụng đất một mặt bị chi phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị kiềm chế bởi các điều kiện, quy luật kinh tế, xã hội và các yếu tố kỹ thuật Vì vậy,
có thể khái quát những điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất theo bốn nội dung sau đây:
2.2.3.1 Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết ) là yếu tố cơ bản để xác định công dụng của đất đai, có ảnh hưởng trực tiếp, cụ thể và sâu sắc, nhất là đối với sản xuất nông - lâm nghiệp Đặc thù của điều kiện tự nhiên mang tính khu vực, vị trí địa lý của vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác sẽ quyết định đến
Trang 36khả năng, công dụng và hiệu quả sử dụng đất Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng
đất cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế nhằm đạt hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường Trong nhân tố điều kiện tự nhiên,
điều kiện khí hậu là nhân tố quan trọng, sau đó là điều kiện đất đai, nguồn nước và các nhân tố khác
- Điều kiện khí hậu: Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Tổng tích ôn, nhiệt
độ bình quân, sự sai khác nhiệt độ ánh sáng, về thời gian và không gian trực tiếp ảnh hưởng tới sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, thực vật lượng mưa bốc hơi có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ, độ ẩm của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho sinh trưởng của cây trồng, gia súc, thủy sản
- Điều kiện đất đai: theo N.Borrlang - người được giải Nobel về hoà bình về giải quyết lương thực cho các nước phát triển cho rằng: yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây trồng ở các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ phì đất, đây chính là cơ sở để hình thành địa tô chênh chệch I [20]
Tuy nhiên, đặc thù của nhân tố điều kiện tự nhiên mang tính khu vực
Vị trí địa lý cùng với sự khác biệt về tính chất đất đai thể hiện độ phì nhiêu của đất đối với cây trồng cùng với nguồn nước và các yếu tố tự nhiên khác sẽ quyết định năng suất tự nhiên và khả năng cho hiệu quả sử dụng đất
2.2.3.2 Nhóm các yếu tố về điều kiện kinh tế, x∙ hội
Bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân số và lao động, thông tin và quản lý, chính sách môi trường, chính sách đất đai, sức sản xuất và trình độ phát triển của kinh tế hàng hoá, cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất, các điều kiện về nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông, sự phát triển của khoa học kĩ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất
Điều kiện kinh tế, xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với
Trang 37việc sử dụng đất đai Thực vậy, phương hướng sử dụng đất được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định Việc
sử dụng đất đai như thế nào được quyết định bởi sự năng động của con người
và các điều kiện kinh tế, xã hội, kỹ thuật hiện có; quyết định bởi tính hợp lý, tính khả thi và kinh tế kỹ thuật; quyết định bởi nhu cầu của thị trường
Chế độ sở hữu tư liệu sản xuất và chế độ kinh tế xã hội khác nhau đã tác
động đến việc quản lý của xã hội về sử dụng đất nông nghiệp, khống chế phương thức và hiệu quả sử dụng đất Trình độ phát triển xã hội và kinh tế khác nhau dẫn đến trình độ sử dụng đất nông nghiệp khác nhau Nền kinh tế
và khoa học kỹ thuật nông nghiệp càng phát triển thì khả năng sử dụng đất nông nghiệp của con ngưòi càng được nâng cao
ảnh hưởng của các điều kiện kinh tế xã hội góp phần tạo ra năng suất kinh tế trong nông nghiệp và được đánh giá bằng hiệu quả sử dụng đất Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp liên quan đến lợi ích kinh tế của người sử dụng đất nông nghiệp Tuy nhiên, nên có chính sách ưu đãi để tạo điều kiện cải thiện và hạn chế việc sử dụng đất theo kiểu bóc lột đất đai Mặt khác sự quan tâm quá mức đến lợi nhuận cũng dẫn đến tính trạng đất bị sử dụng không hợp lý, thậm chí hủy hoại đất Vì vậy, cần phải dựa vào quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế xã hội để nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố
tự nhiên, kinh tế xã hội trong việc sử dụng đất nông nghiệp Căn cứ vào những yêu cầu thị trường của xã hội xác định sử dụng đất kết hợp chặt chẽ yêu cầu sử dụng đất với ưu thế tài nguyên của đất đai, để đạt tới cơ cấu hợp
lý nhất, với diện tích đất nông nghiệp có hạn để mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và sử dụng đất bền vững [Dẫn theo 33]
2.2.3.3 Nhóm các yếu tố về kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của các quá trình sản xuất để đạt hiệu quả kinh tế cao Trên cơ sở nghiên cứu các quy luật tự
Trang 38nhiên của sinh vật để lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng đầu vào nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế đề ra Tuy nhiên, việc ứng dụng các biện pháp kỹ thuật tiến bộ trong canh tác còn phụ thuộc rất lớn vào trình độ đầu tư các cơ sở kinh tế, hạ tầng trong nông nghiệp Đây
là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường Theo Frank Ellis và Douglass C.North [Dẫn theo Đỗ Thị Tám (2001) [20], ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với việc tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh Cho đến giữa thế kỷ XXI, trong nông nghiệp nước ta quy trình kỹ thuật có thể góp 30% năng suất kinh tế [13] Như vậy, nhóm các biện pháp kĩ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất
2.2.3.4 Nhóm các yếu tố kinh tế - tổ chức
Nhóm các yếu tố này bao gồm:
• Việc quy hoạch và bố trí sản xuất: Thực hiện phân vùng sinh thái nông
nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên, dựa trên cơ sở phân tích, dự báo và đánh giá nhu cầu thị trường, gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến, kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và các thể chế luật pháp về bảo vệ tài nguyên, môi trường Đó là cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi và khai thác đất một cách đầy đủ, hợp lý Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp [31]
• Hình thức tổ chức sản xuất: Các hình thức tổ chức sản xuất có ảnh
hưởng trực tiếp đến việc tổ chức khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông - lâm nghiệp [17] Vì thế, trong từng cơ sở sản xuất phát huy thế mạnh của các loại hình tổ chức sử dụng đất là rất cần thiết Muốn vậy cần phải thực
Trang 39hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các hình thức đó
2.2.4 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông nghiệp Tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới khoảng 3 - 5 tỷ ha Nhân loại đã làm hư hại khoảng 1,4 tỷ ha đất và hiện nay mỗi năm có khoảng 6 -7 triệu ha đất nông nghiệp bị bỏ hoang do xói mòn và thoái hoá Để giải quyết nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp của con người phải thâm canh, tăng vụ, tăng năng suất cây trồng và mở rộng diện tích đất nông nghiệp Việc điều tra, nghiên cứu đất
đai để nắm vững số lượng và chất lượng đất bao gồm điều tra lập bản đồ đất,
đánh giá hiện trạng sử dụng đất, đánh giá phân hạng đất và quy hoạch sử dụng
đất hợp lý là vấn đề đặc biệt quan trọng mà các quốc gia đang rất quan tâm
Để ngăn chặn những suy thoái tài nguyên đất đai do sự thiếu hiểu biết của con người, đồng thời nhằm hướng dẫn những quyết định về sử dụng và quản lý đất đai sao cho nguồn tài nguyên này có thể được khai thác tốt nhất
mà vẫn duy trì được sản xuất của nó trong tương lai
Vì thế, trong quá trình sử dụng đất, tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi
đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất
về chi phí các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả [23] Do đó, tiêu chuẩn đánh giá việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất nông - lâm nghiệp là mức độ tăng thêm các kết quả sản xuất trong điều kiện nguồn lực hiện có hoặc mức tiết kiệm về chi phí các nguồn lực khi sản xuất ra một khối lượng nông - lâm sản nhất định
Theo quan điểm của Hội đồng nghiên cứu sản xuất của Liên Xô (SOPS) thì chỉ nên có một chỉ tiêu duy nhất, xuất phát từ lý luận giá trị lao động của Các Mác và ăng Ghen là tăng năng suất lao động hay tiết kiệm chi phí lao
Trang 40động xã hội, có nghĩa là tiết kiệm tài nguyên lao động, chi phí sản xuất
Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả sử dụng đất là mức đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường [2]
Hiệu quả sử dụng đất có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông - lâm nghiệp, đến môi trường sinh thái, đến đời sống người nông dân Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng vào
ba tiêu chuẩn chung là bền vững về mặt kinh tế, xã hội và môi trường (FAO, 1994)
Trên cơ sở đó, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
có thể xem xét trên các mặt sau:
- Đối với nông nghiệp, tiêu chuẩn để đánh giá là mức đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội, môi trường do xã hội đặt ra Cụ thể như tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm hướng tới thỏa mãn tốt nhất nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu,
đồng thời đáp ứng yêu cầu về bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững
- Sử dụng đất phải đảm bảo cực tiểu hóa chi phí các yếu tố đầu vào theo nguyên tắc tiết kiệm khi cần sản xuất ra một lượng nông sản nhất định
và các yếu tố đầu vào khác
- Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất ngành nông nghiệp, đến hệ thống môi trường sinh thái nông nghiệp, đến những người sống bằng nông nghiệp Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải tuân theo quan điểm sử dụng đất bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt xã hội Nghĩa là định hướng sự thay đổi về kỹ thuật và tổ chức sản xuất nhằm đảm bảo thỏa mãn liên tục các nhu cầu của con người thuộc các thế hệ hôm nay và mai sau
2.3 Bố trí sử dụng đất hợp lý để phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
Nông nghiệp là một hoạt động sản xuất mang tính chất cơ bản của mỗi
quốc gia [8] Nhiều nước trên thế giới có nền kinh tế phát triển, tỉ trọng của