Nghị quyết Hội nghị lần thứ IX, Ban chấp hành Trung ương Đảngkhóa XI tiếp tục xác định “Xây dựng đời sống văn hóa ở địa bàn dân cư, cáccơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đoàn kết, dân chủ, vă
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG
NGUYỄN THỊ THU
XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG THANH XUÂN BẮC, QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
HÀ NỘI - 2015
Trang 2"Phải đưa văn hoá thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân Đặcbiệt chú trọng xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, bảo đảm mỗi nhà máy,công trường, mỗi cơ quan, trường học, bệnh viện đều có đời sống văn hóa”[2, tr.9] Nghị quyết Hội nghị lần thứ IX, Ban chấp hành Trung ương Đảngkhóa XI tiếp tục xác định “Xây dựng đời sống văn hóa ở địa bàn dân cư, các
cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đoàn kết, dân chủ, văn minh, đạt chuẩn thựcchất về văn hóa… Nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc vận động vănhóa, phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" [4, tr.7]
Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở bao gồm tổng hợp những hoạt độngcủa các cơ quan làm công tác văn hóa và sự phối hợp của các cấp, các ngành,các đoàn thể, quần chúng nhằm tuyên truyền, giáo dục, xây dựng đạo đức, lốisống, chuẩn mực cho con người, tạo điều kiện cho mọi người dân được thamgia hưởng thụ và sáng tạo văn hóa…qua đó tạo nên môi trường văn hóa lành
Trang 3mạnh để hạn chế những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường, tạođộng lực quan trọng để đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước
Trong những năm qua, công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở đãđược các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân đặcbiệt quan tâm Nhiều địa phương đã và đang xây dựng được hệ thống cơ sởvật chất phục vụ cho hoạt động văn hóa, thúc đẩy công tác xây dựng đờisống văn hóa ngày càng thêm khởi sắc
Phường Thanh Xuân Bắc được thành lập từ tháng 10/1982, nằm ở trungtâm của Quận Thanh Xuân, hệ thống giao thông thuận tiện Phường có mặtbằng dân trí tương đối cao, an ninh chính trị tương đối ổn định, kinh tế tăngtrưởng nhanh Nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân ngày càng cao Cácthiết chế văn hóa luôn được quan tâm đầu tư xây dựng, nâng cấp Công tácxây dựng đời sống văn hóa cơ sở bước đầu đi vào nề nếp, có ý nghĩa quantrọng đối với việc phát triển đời sống văn hóa vật chất - tinh thần của ngườidân Tuy nhiên trong triển khai thực hiện vẫn còn nhiều bất cập như: Chưa
có sự thống nhất trong nhận thức của lãnh đạo các cấp ủy Đảng, chính quyềnđoàn thể về vai trò, tầm quan trọng cũng như tiến trình thực hiện của cuộcvận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa từ phường tới Khudân cư Công tác lãnh đạo, chỉ đạo các các phong trào còn chung chung;công tác bình xét thi đua và kiểm tra, giám sát còn mang tính chất hình thức,
cơ sở vật chất chưa đủ đáp ứng nhu cầu; những tiêu cực và tệ nạn xã hội còndiễn biến phức tạp; việc quản lý hoạt động các thiết chế văn hóa còn nhiềuhạn chế; các phong trào, các cuộc vận động chưa thu hút được đại đa số nhândân tham gia hưởng ứng; việc tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thểdục, thể thao chưa phong phú, đa dạng…
Trước nhiệm vụ mới mà Đảng và Nhà nước đặt ra, là cán bộ đang côngtác tại phường Thanh Xuân Bắc, tác giả nhận thấy đây là vấn đề có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn cao, cần được nghiên cứu một cách sâu sắc, có hệ thống
để tìm ra giải pháp Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài
“Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên địa bàn phường Thanh Xuân Bắc, Quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội ” làm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
chuyên ngành Quản lý văn hóa
Trang 42 Lịch sử vấn đề
Trong giai đoạn hiện nay, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở được xácđịnh là một nhiệm vụ quan trọng Vì vậy vấn đề này đã thu hút nhiều nhàkhoa học, nhà quản lý quan tâm và đi sâu nghiên cứu
2.1 Các công trình nghiên cứu về sự phát triển của văn hóa
- Trần Văn Bính (chủ biên) (2000), Lý luận và đường lối văn hóa văn
nghệ của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Cuốn sách khẳng định văn
hóa là lĩnh vực thuộc đời sống tinh thần của xã hội nhưng vẫn chịu sự quyđịnh của những quy định chung và đều hướng tới những chuẩn mực cụ thể;
đi sâu nghiên cứu đường lối chính sách văn hóa của Đảng, Nhà nước và
những biện pháp nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc như Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp
hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đề ra
PGS.TS Nguyễn Duy Bắc (chủ biên) (2008), Xây dựng và phát triển con người Việt Nam trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế”, Đề tài cấp Bộ, Viện Văn hóa và Phát triển, Hà
Nội Đề tài đã đi sâu phân tích các nội dung và mục tiêu chủ yếu của quátrình đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế trí thức và yêu cầuphát triển con người Việt Nam hiện nay Phân tích, đánh giá thực trạng pháttriển con người Việt Nam thời kỳ từ 1991 đến nay về các mặt chủ yếu: Pháttriển con người, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhântài, đào tạo đội ngũ trí thức; xây dựng giai cấp công nhân, giai cấp nôngdân, đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý, đội ngũ doanh nhân; thực hiện cácchính sách xã hội; đảm bảo các quyền con người Từ đó đề ra phươnghướng và các giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng, phát triển con người ViệtNam trong điều kiện CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức trongnhững thập niên đầu thế kỷ XXI
- Phan Trọng Thưởng (chủ biên) (2010), Xây dựng con người và phát
triển văn hóa Việt Nam trong 20 năm đổi mới và hội nhập quốc tế - Quan điểm, giải pháp đến năm 2020, Đề tài cấp Nhà nước, Viện Nghiên cứu Văn
hóa, Hà Nội Đề tài đã tiến hành nghiên cứu, đánh giá các nhân tố tác độngtích cực và tiêu cực đến việc xây dựng con người và phát triển văn hóa ViệtNam trong bối cảnh đất nước tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc
tế, chỉ ra mức độ, phạm vi, tính chất của từng yếu tố Trên cơ sở đó, đề tài đãđánh giá thực trạng bao gồm cả thành tựu lẫn hạn chế, phân tích rõ nguyên
Trang 5nhân, rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết để tiếp tục xây dựng conngười và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiệnđại hóa Đề tài đã bước đầu đưa ra các dự báo về chiều hướng vận động vàbiến đổi của thực tiễn xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Namđến năm 2020 Đề xuất hệ quan điểm, giải pháp và các kiến nghị nhằm đẩymạnh sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trongthời kỳ tiếp theo
Đinh Xuân Dũng (2015), Mấy vấn đề Việt Nam hiện nay - thực tiễn và lý luận, Nxb Lao động, Hà Nội Ðây là một tập hợp các tiểu luận, chuyên đề,
bài viết của tác giả được tuyển chọn từ năm 2012 đến nay, đề cập những vấn
đề căn cốt và nêu bật một số nét về thực trạng và công tác nghiên cứu lý luậnvăn hóa Việt Nam hiện nay Cuốn sách cũng nêu lên mối quan hệ biện chứnggiữa văn hóa và đời sống văn hóa tinh thần, với sự phát triển bền vững trong
xã hội hiện đại; một số giải pháp trong công tác vận động, thuyết phục củacông tác tư tưởng đối với văn nghệ sĩ, trí thức; giải đáp các khái niệm "Tựdiễn biến", "Tự chuyển hóa" về tư tưởng trong đấu tranh tư tưởng; xác địnhnhững giá trị đặc trưng của con người Việt Nam đương đại Ðặc biệt, tác giả
đã bước đầu phác thảo được những định hướng và nội dung cơ bản trong quátrình triển khai xây dựng hệ thống lý luận văn hóa - nghệ thuật ở Việt Nam;
đề xuất các giải pháp ở tầm chính sách để phát triển văn hóa thật sự là sứcmạnh nội sinh của dân tộc
Bên cạnh đó còn một số cuốn sách như: Phạm Minh Hạc, Nguyễn
Khoa Điềm (2001), Về phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Nguyễn Hữu Thức, (2005), Về Văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Nguyễn Hữu Thức (2009), Về cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, Nxb Từ Điển Bách khoa và Viện văn hóa, Hà Nội Nguyễn Hữu Thức (2008), Những giải pháp thúc đẩy phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, đưa Kết luận Hội nghị Trung ương 10 (khóa IX) về văn hóa đi nhanh vào cuộc sống, Ban Tuyên
giáo Trung ương
2.2 Các công trình nghiên cứu công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
Nguyễn Tấn Đức (2008), Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tại Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn khoa Văn hóa học, trường Đại
Trang 6học khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội Luận văn đã trình bày một cáchkhái quát những vấn đề cơ bản về văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa,thiết chế văn hóa ở cơ sở Nêu một cách có hệ thống về nhận thức, đườnghướng các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở; đồng thời cũngtrình bày cụ thể các hoạt động đặc trưng của quá trình xây dựng đời sống vănhóa ở cơ sở tại quận Tân Phú cũng như những kết quả đạt được của các hoạtđộng ấy Trên cơ sở đó tác giả đã tiến hành nhận xét và đề xuất các nhómgiải pháp xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở trên Quận Tân Phú, Thành phố
Hồ Chí Minh
Lương Thị Nga (2009), Quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở
sở ở huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Th.s
Quản lý văn hóa, Trường Đại học Văn hóa, Hà Nội Luận văn đã làm rõ cơ
sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn ở ở sở Khảosát, đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong công tác quản lý hoạt động xâydựng đời sống văn hóa cơ sở ở huyện Tiền Hải, Thái Bình trong những nămqua, tìm nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế Luận văn đã bước đầu đềxuất phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lýhoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở tại huyện Tiền Hải tỉnh TháiBình trong giai đoạn hiện nay
Hoàng Văn Tầm (2011), Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở ở Huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, Luận văn thạc sĩ Quản lý Văn hoá, trường Đại học Văn
Hoá Luận văn đã đi phân tích làm rõ khái niệm của việc xây dựng đời sốngvăn hóa cơ sở và tác động của nó đối với việc phát triển đời sống văn hóa cơ
sở huyện Chi Lăng Bước đầu có những tổng kết về thực trạng xây dựng đờisống văn hóa ở huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, từ đó đề ra những giải phápthiết thực nhằm xây dựng và phát triển đời sống văn hóa của ngư dân tại đây,góp phần vào việc nâng cao chất lượng của công tác xây dựng đời sống vănhóa cơ sở ở huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn
Đặng Xuân Minh (2011), Quản lý nhà nước về văn hoá trên địa bàn phường Xuân La, Quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Quản
lý Văn hoá, trường Đại học Văn hoá Luận văn đã góp phần hệ thống hóanhững vấn đề lý luận chung về quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa vàquản lý văn hóa đối với hoạt động cấp xã/phường/thị trấn Luận văn đã đánhgiá được những hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về văn hóa ởphường Xuân La trong những năm qua, tìm nguyên nhân của những hạn chế
Trang 7đó Từ đó đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảquản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn phường Xuân la trong những nămtới
Hồ Thị Thái (2013), Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở Huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Luận văn Th.s Quản lý văn hóa, trường Đại học Văn hóa,
Hà Nội Luận văn đã đánh giá được tổng quan về lịch sử phát triển và tìnhhình kinh tế- văn hóa- chính trị của huyện Nam Đàn Luận văn đã khảo sát,phân tích và đánh giá khá sâu về thực trạng công tác xây dựng đời sống vănhóa cơ sở nói chung và công tác xây dựng nếp sống văn hóa, gia đình, làng,bản, khối phố, cơ quan, đơn vị có nếp sống văn hóa ở huyện Nam Đàn từnăm 2006 đến 2013 Từ đó đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao côngtác xây đựng đời sống văn hóa cơ sở ở huyện Nam Đàn trong giai đoạn hiệnnay
Nguyễn Phương Thủy (2014), Đảng bộ huyện Thanh Oai (Hà Nội), lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa cơ sở từ năm 2001 đến năm 2010, Luận văn
Th.s chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, trường Đại học khoahọc xã hội và nhân văn, Hà Nội Tác giả đã đi sâu phân tích thực trạng đờisống văn hóa ở huyện Thanh Oai trước năm 2001 Làm rõ chủ trương củaĐảng bộ huyện Thanh Oai trong lãnh đạo xây dựng Đời sống văn hóa(ĐSVH) Trên cơ sở đánh giá những thành tựu và những tồn tại, hạn chếtrong việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở của huyện Thanh Oai, luận vănrút ra một số ý nghĩa, bài học kinh nghiệm và giải pháp đối với việc xâydựng đời sống văn hóa cơ sở của huyện Thanh Oai
Bên cạnh đó, một số cuốn sách và công trình khoa học cũng đề cập đến
vấn đề văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở như: Cuốn “Xây dựng
đờ isống văn hóa ở cơ sở” của Viện Văn hóa- Bộ Văn hóa, Nxb Văn hóa Hà Nội(1984); Cuốn “Hỏi và đáp về phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” của Ban chỉ đạo phong trào “TDĐKXDĐSVH” Trung ương(2000); Cuốn “Xây dựng tư tưởng, đạo đức lối sống và đời sống văn hóaở Thủ đô Hà Nội” của TS.Nguyễn Viết Chức và các tác giả, Viện văn
hóa và Nxb Văn hóa thông tin(2001)…
Ngoài ra còn có các bài viết, bài báo, luận văn, luận án đề cập đến vấn đềcông tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở Những kết quả đó có giá trị thamkhảo tốt để tác giả thực hiện đề tài luận văn của mình
Trang 8Tuy nhiên, mỗi địa phương lại có những đặc điểm khác nhau về tình hìnhphát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là khác nhau trong việc triển khaithực hiện sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong quản lý đời sống văn hóa ở
cơ sở Đến nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về xây dựng đời sốngvăn hóa cơ sở trên địa bàn phường Thanh Xuân Bắc Hơn nữa, sự vận độngcủa đời sống văn hóa bao giờ cũng gắn liền với thực tiễn xã hội Đặc biệttrong giai đoạn đất nước ta đang đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, xu thếtoàn cầu hóa đang diễn ra trên mọi lĩnh vực đã tác động trực tiếp đến đờisống văn hóa của nhân dân Vì thế nghiên cứu công tác xây dựng đời sốngvăn hóa cơ sở không chỉ dừng lại ở phương diện lý luận, mà phải nghiên cứuxem xét gắn với tình hình, nhiệm vụ cụ thể của địa phương, đất nước trongthời kỳ mới Vì vậy, kế thừa những kết quả nghiên cứu khoa học trước, luậnvăn này đã tập trung đi nghiên cứu thực trạng xây dựng đời sống văn hóa cơ
sở trên địa bàn phường Thanh Xuân Bắc, qua đó đề xuất một số giải pháp đểthực hiện đạt hiệu quả nhất
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên địa bàn phường ThanhXuân Bắc
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung nghiên cứu: Đời sống văn hóa bao gồm rất nhiều yếu tố
khác nhau, tuy nhiên, trong luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu
hoạt động xây dựng đời sống văn hóa bao gồm 3 nội dung: 1 Triển khai thực hiện các phong trào như: “gia đình văn hóa, tổ dân phố văn hóa”,
“người tốt, việc tốt”, “công nhận cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩnvăn hóa”, “toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, “học tập,
lao động sáng tạo” 2 Xây dựng nếp sống, môi trường văn hóa, và 3 Xây
dựng thiết chế văn hóa.
- Không gian nghiên cứu: Luận văn này chỉ nhằm tập trung nghiên cứu
công tác xây dựng đời sống văn hoá cơ sở trên địa bàn phường Thanh XuânBắc
- Thời gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên địa bàn phường Thanh Xuân Bắc trong phạm vi từ
năm 2010 cho đến nay
Trang 94 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm mục đích nghiên cứu thực trạng và đề xuất những giải pháp
để quản lý hiệu quả công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên địa bànphường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội Qua đó gópphần thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ chính trị của phường nói riêng và
sự nghiệp đổi mới đất nước nói chung, hướng tới thực hiện mục tiêu dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp phân tích- tổng hợp
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp điều tra xã hội học
- Phương pháp thống kê
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về xây dựng đời sốngvăn hóa cơ sở; phân tích, đánh giá thực trạng công tác xây dựng đời sống vănhóa cơ sở trên địa bàn phường Thanh Xuân Bắc; đề xuất những giải phápnhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động này trong thời gian tới
Kết quả của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác quản
lý của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thành phố Hà Nội, Phòng Văn hóa Thông tin Quận Thanh Xuân và UBND phường Thanh Xuân Bắc
-Luận văn có thể làm cơ sở khoa học cho các công trình nghiên cứukhoa học cùng hướng tham khảo
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văngồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Trang 10Chương 2: Thực trạng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên địa bànphường Thanh Xuân Bắc.
Chương 3 Một số giải pháp xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên địabàn phường Thanh Xuân Bắc
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CƠ SỞ
VÀ TỔNG QUAN VỀ PHƯỜNG THANH XUÂN BẮC
1.1 Cơ sở lý luận về hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
1.1.1 Khái niệm về văn hoá
Văn hoá là một danh từ được sử dụng khá phổ biến, rộng rãi trên cácphương tiện thông tin đại chúng, song là một từ ngữ có hiểu cách hiểu khácnhau khi chúng được đồng nhất với trình độ học vấn, cách thức ứng xử, lốisống, sinh hoạt tập thể Cùng với sự phát triển của khoa học mà khái niệm
“văn hoá” cũng dần dần hoàn thiện và trở thành một thuật ngữ khoa học
Năm 1952, A.L Kroeber và Kluckhohn xuất bản quyển sách Culture, a critical review of concept and definitions [Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn
phê phán các khái niệm và định nghĩa], trong đó tác giả đã trích lục khoảng
160 định nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đưa ra ở nhiều nước khácnhau Điều này cho thấy, khái niệm “Văn hóa” rất phức tạp
Năm 1871, E.B Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [25,tr.13] Theo định nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một; nó bao gồm tất
cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡngđến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật…Có người ví định nghĩa này mang tính
“Bách khoa toàn thư” vì đã liệt kê hết mọi lĩnh vực sáng tạo của con người[88, tr 39]
F Boas định nghĩa:
“Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và nhữnghoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên mộtnhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mốiquan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm ngườikhác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thànhviên này với nhau”[26, tr.149]
Một định nghĩa khác về văn hóa mà A.L Kroeber và Kluckhohn đưa ra
là “Văn hóa là những mô hình hành động minh thị và ám thị được truyền đạt dựa trên những biểu trưng, là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm
Trang 12người… Hệ thống văn hóa vừa là kết quả hành vi vừa trở thành nguyên nhân tạo điều kiện cho hành vi tiếp theo”[1, tr.357]
Ở Việt Nam, văn hóa cũng được định nghĩa rất khác nhau
Hồ Chí Minh cho rằng:
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mớisáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinhhoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộnhững sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”[29, tr.431]
Với cách hiểu trên, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con ngườisáng tạo và phát minh ra Cũng giống như định nghĩa của Tylor, văn hóa theocách nói của Hồ Chí Minh sẽ là một “bách khoa toàn thư” về những lĩnh vựcliên quan đến đời sống con người
Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho rằng:
“Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú vàrộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà cóliên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quátrình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thốnggiá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tàinăng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo
vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sứcchiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [74, tr.22] Theo định nghĩa trên thì văn hóa là những cái gì đối lập với thiên nhiên
và do con người sáng tạo nên từ tư tưởng tình cảm đến ý thức tình cảm vàsức đề kháng của mỗi người, mỗi dân tộc
Theo Giáo sư Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ sở văn hoá Việt Nam,
ông cho rằng:“Văn hoá là các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ quá quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội ” [73, tr.10]
Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả
ở nước ngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thường vận dụng định nghĩa vănhóa do UNESCO đưa ra vào năm 1994 Theo UNESCO, văn hóa được hiểunhư sau:
“Văn hóa là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, trithức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó
Trang 13chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thứcchung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”
Nhìn chung, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng Tổnghợp các quan điểm, khái niệm, có thể hiểu:
Văn hóa là sản phẩm của con người được tạo ra trong qua trình laođộng (từ lao động trí óc đến lao động chân tay), được chi phối bởimôi trường (môi tự nhiên và xã hội) xung quanh và tính cách củatừng tộc người Nhờ có văn hóa mà con người trở nên khác biệt sovới các loài động vật khác; và do được chi phối bởi môi trườngxung quanh và tính cách tộc người nên văn hóa ở mỗi tộc người sẽ
có những đặc trưng riêng
Với cách hiểu này cùng với những định nghĩa đã nêu thì văn hóa chính
là nấc thang đưa con người vượt lên trên những loài động vật khác; và vănhóa là sản phẩm do con người tạo ra trong quá trình lao động nhằm mục đíchsinh tồn
1.1.2 Khái niệm về đời sống văn hoá cơ sở
Khái niệm đời sống văn hóa
“Đời sống văn hoá” với tư cách là một thuật ngữ khoa học được ra đờivào thế kỷ XX và hiện nay được sử dụng khá phổ biến trên sách, báo, vănkiện của Đảng, các phương tiện truyền thông của nước ta Tuy nhiên, chođến nay trong từ điển Việt Nam và nước ngoài vẫn chưa có một định nghĩanào thật hoàn chỉnh về thuật ngữ này
Trước hết về khái niệm “đời sống” được đưa ra trong Từ điển tiếng Việt (1992), đó là “hoạt động của con người về một lĩnh vực nào đó nói chung” [83, tr.670] Còn theo Từ điển bách khoa mở, thì ngoài nghĩa nói
trên, “đời sống” còn được hiểu là phương tiện để sống, lối sống của cá nhânhay tập thể (đời sống xa hoa, đời sống cần kiệm…)
Đời sống của con người bao gồm rất nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng
có liên quan mật thiết với nhau, chẳng hạn như: đời sống kinh tế, đời sốngchính trị, đời sống xã hội, đời sống văn hóa… Như vậy, đời sống văn hóa làlĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội
Tác giả Hoàng Vinh trong công trình nghiên cứu “Mấy vấn đề lý luận
và thực tiễn xây dựng văn hoá ở nước ta” cho rằng:
Đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các yếu
tố văn hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn
Trang 14hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và cácdạng hoạt động văn hóa của nó) Xét về một phương diện khác, đờisống văn hóa bao gồm các hình thức văn hóa hiện thực và cả cáchình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh [39, tr.268]
Có thể thấy định nghĩa này về cơ bản đã phản ánh được cấu trúc củađời sống văn hóa, song trong đó vẫn chưa đề cập đến những giá trị văn hóa.Đồng thời, cách diễn đạt như thế chưa làm rõ được bản chất của đời sống vănhóa vì chỉ nêu các yếu tố cấu thành ở thể biệt lập
Trong chương trình hệ cử nhân chính trị, các nhà khoa học khoa Vănhóa xã hội chủ nghĩa - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đưa raquan niệm:
Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, mà đời sống
xã hội là một phức thể các hoạt động sống của con người, nhằmđáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của nó Nhu cầu vật chấtđược đáp ứng làm cho con người tồn tại như một sinh thể, còn nhucầu tinh thần thì giúp cho con người tồn tại như một sinh thể xãhội, tức là một nhân cách văn hóa [62, tr.434]
Như vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về đời sống văn hóa Để điđến một quan niệm hoàn chỉnh hơn về đời sống văn hoá, chúng ta phải tiếpcận thêm đời sống văn hoá trong toàn bộ đời sống xã hội và phải khu biệt,giới hạn lĩnh vực sáng tạo văn hoá trên cơ sở xuất phát từ quan niệm văn hoátheo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp
Từ những cách hiểu trên đây về đời sống văn hóa và các lĩnh vực vănhóa, trong phạm vi, yêu cầu của đề tài nghiên cứu, có thể hiểu khái niệm đờisống văn hóa như sau:
Đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội, là phương thứcnhững hoạt động sống của con người trong sáng tạo, hưởng thụ vàlưu truyền những giá trị văn hóa do con người tạo ra Đời sống vănhóa bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vậtthể, các thiết chế văn hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động (conngười và các dạng hoạt động văn hóa của nó)
Khái niệm cơ sở
Đơn vị cơ sở là hình thức tổ chức cơ bản của văn hóa Đó là nhữngcộng đồng dân cư liên kết với nhau trong các sinh hoạt vật chất và tinh thầndiễn ra trong đời sống hàng ngày của nhân dân [39, tr.269]
Trang 15Khái niệm đời sống văn hóa cơ sở
Từ những luận điểm, khái niệm trên có thể hiểu đời sống văn hoá ở cơ
sở là đời sống văn hoá diễn ra ở cộng đồng gia đình, làng, bản, xóm, ấp,doanh nghiệp, cơ quan, bệnh viện…Đặc điểm cơ bản của đời sống văn hoá ở
cơ sở là các hoạt động văn hoá diễn ra gắn liền với sinh hoạt vật chất và tinhthần của cá nhân và cộng đồng trong các mối liên kết thường xuyên và trựctiếp với không gian địa lý nhất định cùng với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật
và các thiết chế văn hoá nhất định Mỗi cộng đồng dân cư sống cố định vàhình thành một tổ chức hành chính (xã, phường, trường học, bệnh viện) haymột cộng đồng nhỏ hơn (gia đình, tổ dân phố, khu dân cư…) đều có thể đượcxem là đơn vị văn hoá cơ sở Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là xây dựngvăn hoá ngay từ trong gia đình và trong cộng đồng dân cư, cộng đồng nghềnghiệp diễn ra sinh hoạt văn hoá thường nhật của quần chúng nhân dân
1.1.3 Cấu trúc đời sống văn hóa cơ sở
Đời sống văn hóa có cấu trúc hết sức phức tạp theo cả bề rộng vàchiều sâu Ta có thể tiếp cận cấu trúc văn hóa ở nhiều phương diện khácnhau, tùy theo quan niệm về đời sống văn hóa, tùy theo không gian khảo sát
Giáo sư Hoàng Vinh cho rằng đời sống văn hóa cơ sở là tổng hợp củahoạt động văn hóa, sản phẩm và con người văn hóa: “Muốn cho các sản phẩmvăn hóa nảy sinh và được vận hành trong đời sống xã hội, thì phải có ba yếu tố:
sản phẩm văn hóa, thể chế văn hóa, các dạng hoạt động văn hóa và những con người văn hóa Ba yếu tố đó tạo thành cấu trúc của đời sống văn hóa” [39,
tr.266]
Các nhà khoa học văn hóa xã hội chủ nghĩa - Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, trong cuốn “Giáo trình lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng”, cho rằng, cấu trúc của đời sống văn hóa cơ sở bao gồm ba yếu tố: Sản phẩm văn hóa của cộng đồng (bao gồm hai loại: Hữu hình và vô hình; bộ phận vô hình: huyền thoại, truyền thuyết, lễ hội, tín ngưỡng dân gian ; bộ phận hữu hình gồm có các dạng sản phẩm văn hóa đang lưu hành như: tranh, sách, báo, tượng, phim ảnh , các thiết chế văn hóa - xã hội như nhà văn hóa, mẫu giáo, sân vận động, trung tâm văn hóa, thư viện- phòng đọc sách, rạp hát , cảnh quan văn hóa như: phong cảnh thiên nhiên đã được tu bổ, công trình kiến trúc, tượng đài, quảng trường, đường sá ), các
dạng hoạt động văn hóa và những con người văn hóa
Trang 16Các tác giả khoa Văn hóa và phát triển Học viện Chính trị khu vực I,thì quan niệm đời sống văn hóa bao gồm 4 yếu tố cấu thành: Một là, những
yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể tồn tại ở mỗi cộng đồng như: các thiết chế văn hóa, các tác phẩm, sản phẩm văn hóa, các phương tiện thông tin đại chúng và truyền bá văn hóa, lễ hội, văn hóa - văn nghệ dân gian, các trường học, các nhóm văn hóa…; hai là, những yếu tố cảnh quan văn hóa (tự nhiên hoặc do con người tạo ra) hiện diện ở mỗi cộng đồng như: di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, công viên, tượng đài…; ba là, những yếu tố văn hóa cá nhân ở mỗi cộng đồng như: trình độ học vấn, nhu cầu sở thích và thị hiếu văn hóa, định hướng giá trị, phong cách sinh hoạt, cách sử dụng thời gian rỗi, văn hóa ứng xử, giao tiếp, nếp sống văn hóa…; bốn là, những yếu
tố văn hóa của các “tế bào” trong mỗi cộng đồng như: gia đình, nhà trường,
cơ quan, công sở, tổ nhóm lao động, học tập…
Dựa trên cơ sở khái niệm về đời sống văn hóa đã trình bày ở trên, cấu trúccủa đời sống văn hóa cơ sở được giới hạn trong luận văn này, bao gồm các thành
tố cơ bản sau:
- Chủ thể hoạt động văn hóa ở cơ sở;
- Hệ thống các giá trị văn hóa, biểu hiện ở các sản phẩm văn hóa vậtthể và phi vật thể ở cơ sở;
- Các thiết chế và cảnh quan, môi trường văn hóa ở cơ sở;
- Các hoạt động văn hóa ở cơ sở
* Chủ thể hoạt động văn hóa ở cơ sở
Nghiên cứu đời sống văn hóa của một cộng đồng, gắn với một khônggian cụ thể, trước hết phải quan tâm đến chủ thể văn hóa
Chủ thể hoạt động văn hóa (hay còn gọi là con người văn hóa) là yếu
tố quan trọng và quyết định nhất trong các yếu tố cấu thành đời sống vănhóa, bởi vì văn hóa mang tính đặc hữu của con người, chỉ có con người mới
có hoạt động văn hóa, chỉ có con người mới kiến tạo và kiến trúc nên đờisống văn hóa Con người sáng tạo ra văn hóa, tái tạo và sử dụng chúng nhưmột phương tiện để thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của mình,làm cho đời sống của con người không phải là những hoạt động bản năngsinh tồn Mặt khác, con người cũng là sản phẩm của đời sống văn hóa Conngười tham gia vào đời sống văn hóa với vai trò là chủ thể, đồng thời conngười cũng là đối tượng của văn hóa Chính từ trong đời sống thực tiễn,những năng lực văn hóa của nó được nuôi dưỡng và bộc lộ Có đời sống văn
Trang 17hóa của cá nhân, văn hóa của nhóm người và của xã hội, tất cả tương tácnhau trong sự vận hành của hệ giá trị văn hóa.
Nghiên cứu chủ thể hoạt động văn hóa, liên quan đến các đặc điểm củacộng đồng đó là trình độ văn hóa, bao gồm các khía cạnh như: học vấn, tuổithọ, sức khỏe, nghề nghiệp, tín ngưỡng, quan niệm sống, hành vi ứng xửtrước nghĩa vụ xã hội đối với lao động và nơi công cộng, nhu cầu về vật chất
và tinh thần
* Hệ thống các giá trị văn hóa
Văn hóa là tổng thể những giá trị do con người sáng tạo ra trong quátrình lịch sử bằng lao động của mình trên cả hai lĩnh vực sản xuất vật chất vàsản xuất tinh thần Có đời sống văn hóa của cá nhân, của những nhóm người,của cộng đồng và của cả xã hội Tất cả tương tác nhau trong sự vận hành của
hệ giá trị văn hóa
Giá trị văn hóa được xem là sự kết tinh những thành tựu của con ngườitrong quá trình hoạt động thực tiễn, cải tạo thế giới và cải tạo chính bản thân
Đó là những phẩm chất cao quý, có ý nghĩa mà cả xã hội cùng ao ước và chia
sẻ Ví dụ: lòng yêu nước, lòng nhân ái, đức tính bao dung, tinh thần đoànkết
Trong “Từ điển tiếng Việt” đã định nghĩa: “Giá trị - cái được xác định
có ích, có hiệu quả trong cuộc sống vật chất và tinh thần” [83, tr.725] Theođịnh nghĩa này, khi nói đến các giá trị văn hóa là nói đến những giá trị kếttinh trong các sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể do con người sáng tạo
ra trong quá trình hoạt động thực tiễn Giá trị văn hóa chính là hạt nhân củađời sống văn hóa Đời sống văn hóa giống như một biểu đồ phản ánh sự sángtạo, truyền bá và tác động của các giá trị thông qua hoạt động sống của conngười
Tuy nhiên, giá trị không tồn tại riêng lẻ mà bao giờ cũng hợp thành một
hệ thống, phản ánh quan niệm thống nhất của một cộng đồng về ý nghĩa củacác sự vật, hiện tượng trong đời sống Do đó, nó là hạt nhân tinh thần, là chấtkeo gắn kết cộng đồng, đồng thời là tấm biển chỉ dẫn nhận thức hành vi củacộng đồng hướng đến mục tiêu
Hiện nay có nhiều quan niệm về hệ thống các giá trị Nếu xem xét hoạtđộng sống của con người từ ba góc độ nhận thức, hành động và cảm xúc,chúng ta thấy hệ giá trị văn hóa gồm ba phạm trù cơ bản là: chân, thiện, mỹ.Trong đó, chân là đối tượng của nhận thức và sáng tạo khoa học; thiện là đối
Trang 18tượng của nhận thức và hành vi đạo đức; mỹ là đối tượng của nhận thức vàhoạt động thẩm mỹ - nghệ thuật Chân, thiện và mỹ thống nhất với nhau,phản ánh quan niệm của con người về những mối quan hệ ứng xử với tựnhiên và xã hội cũng như khả năng sáng tạo của con người theo qui luật củacái đẹp Phạm trù chân - thiện - mỹ đã hàm nghĩa phân biệt với các hiệntượng phản giá trị đối lập, đó là: giả - ác - xấu Điều này khẳng định rằng đờisống văn hóa là quá trình vận động của chủ thể người và xã hội theo hướngngày càng tiếp cận và khẳng định các giá trị chân - thiện - mỹ, đấu tranh vớicái phản giá trị giả - ác - xấu trong con người và xã hội.
* Hệ thống các thiết chế và môi trường văn hóa
Trong các yếu tố cấu thành của đời sống văn hóa, hệ thống các thiếtchế văn hóa đóng vai trò là nơi sáng tạo, lưu giữ và chuyển tải các giá trị vănhóa của cộng đồng đến từng cá nhân Đó là môi trường vật chất đảm bảo chocác hoạt động văn hóa diễn ra trong đời sống xã hội
Thiết chế trước hết là một tụ điểm, là một trung tâm, hay một cơ quan,
tổ chức các hoạt động có mục đích nhằm tuyên truyền, giáo dục về một tưtưởng, một quan điểm hay là một lĩnh vực nào đó, phục vụ cho công tácchính trị, tư tưởng, nghiên cứu khoa học, thực hành kỹ thuật công nghệ, sinhhoạt văn hóa - nghệ thuật, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí được tổ chức theonhững nội quy, quy chế nhất định, được thể chế hóa bằng pháp luật Nhànước ban hành, được xã hội công nhận và tuân thủ có mục đích, có yêu cầu
và có những chức năng riêng được xã hội công nhận và quy định
Thuật ngữ “Thiết chế văn hóa” được sử dụng rộng rãi trong ngành văn
hóa Việt Nam từ những năm 70 thế kỷ XX Cuốn “Từ điển Bách khoa Việt Nam” đưa ra khái niệm:
Thiết chế văn hóa là chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố cơ
sở vật chất, bộ máy tổ chức, hệ thống biện pháp hoạt động và kinhphí hoạt động cho thiết chế đó Ví dụ, thiết chế nhà văn hóa baogồm ngôi nhà, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồnkinh phí; chỉ riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hóa chưa đủ đểgọi là thiết chế văn hóa [82, tr.230]
Như vậy, về mặt nguyên tắc, một thiết chế văn hóa được coi là hoànchỉnh phải đảm bảo đủ 3 yếu tố: có một bộ máy nhân sự được tổ chức thành
hệ thống; có hệ thống các thể chế (luật, lệ) để vận hành; có trụ sở và các thiết
bị chuyên dụng, gọi chung là cơ sở vật chất để tồn tại và hoạt động lâu dài
Trang 19Tuy nhiên, trên thực tế, thiết chế văn hóa hình thành như một quá trình, nóđược hoàn thiện dần trong tiến trình hoạt động thực tiễn
Mạng lưới các thiết chế phải đảm đương được một số nhiệm vụ quantrọng như: tổ chức các hoạt động sản xuất (sáng tạo) trong lĩnh vực văn hóa,tạo ra những sản phẩm văn hóa, những công trình nghệ thuật; tổ chức sưutầm và bảo quản vốn di sản văn hóa của dân tộc, của cộng đồng; kịp thờitruyền đạt những giá trị văn hóa đến với mọi người; tổ chức tốt đời sống vănhóa trong các cộng đồng dân cư, bảo đảm định hướng tư tưởng đúng đắn củaĐảng trong mọi sinh hoạt tinh thần của xã hội
Hiện nay, ở Việt Nam tồn tại các thiết chế văn hóa tiêu biểu, bao gồm:Sân vận động, nhà văn hóa, CLB, thư viện, bảo tàng, nhà truyền thống, rạp
hát, rạp chiếu phim, công viên văn hóa, các cơ quan thông tin đại chúng…
Đây là nơi các hoạt động văn hóa diễn ra một cách tập trung, phản ánhnhững giá trị kết tinh của đời sống văn hóa cộng đồng Các thiết chế văn hóanày chính là chiếc cầu nối giữa sáng tạo, hưởng thụ những giá trị văn hóa,đồng thời là nơi diễn ra quá trình chuyển tải những giá trị văn hóa tới cộngđồng
Thiết chế văn hóa giữ vai trò là nơi lưu giữ và chuyển tải các giá trịvăn hóa của cộng đồng đến từng cá nhân Đó là môi trường vật chất, là
“đường dẫn” đảm bảo cho các hoạt động văn hóa, bao gồm sáng tạo, bảoquản, truyền bá và hưởng thụ các giá trị văn hóa diễn ra trong đời sống xãhội Hệ thống này được xem xét là “trung khu thần kinh” của nền văn hóa,bao gồm các thiết chế cơ sở vật chất - văn hóa và các thiết chế xã hội - vănhóa
Các thiết chế cơ sở vật chất - văn hóa như: thư viện, bảo tàng, nhàtruyền thống, câu lạc bộ, nhà hát, trung tâm văn hóa là nơi các hoạt độngvăn hóa diễn ra một cách tập trung, phản ánh những giá trị kết tinh của đờisống văn hóa cộng đồng Nó chính là cầu nối giữa sáng tạo và thưởng thức,giữa văn hóa quá khứ và văn hóa đương thời Những thiết chế này giúp đápứng nhu cầu văn hóa của quần chúng nhân dân, qua đó tuyên truyền tưtưởng, giáo dục và nâng cao trình độ văn hóa, thẩm mĩ cho công chúng Mỗinền văn hóa thường có một kiểu thiết chế văn hóa đặc trưng Sự đa dạng vàhoàn thiện của các thiết chế này cho thấy nhịp độ và trình độ của đời sốngvăn hóa nói chung Trong điều kiện bùng nổ thông tin, sự phát triển như vũbão của khoa học - công nghệ, thiết chế văn hóa có thể được xem là những
Trang 20“đồn lũy” văn hóa Đây là một trong những nơi mà đấu tranh trên lĩnh vựcvăn hóa diễn ra một cách cụ thể mà Đảng và Nhà nước không thể buông lỏng
sự lãnh đạo và quản lý trên lĩnh vực này
Các thiết chế văn hóa đang góp phần phát triển xã hội một cách bềnvững Cơ sở vật chất của hệ thống thiết chế văn hóa là nơi tổ chức các hoạtđộng văn hóa phù hợp với tư tưởng, chuẩn mực đạo đức, lối sống và nhất làphong tục, tập quán của từng vùng, miền, dân tộc Một xã hội muốn pháttriển bền vững đòi hỏi không chỉ có kinh tế vững mạnh mà còn phải đặc biệtquan tâm đến văn hóa Con người không chỉ có nhu cầu ăn, mặc, đi lại màđang ngày càng hướng tới lối sống lành mạnh, chất lượng cuộc sống tốt hơn.Các thiết chế văn hóa hiện có đang phát huy tác dụng này
Bên cạnh các thiết chế văn hóa, cảnh quan văn hóa là những sản phẩmtồn tại trong quan hệ tương tác giữa con người và môi trường tự nhiên, môitrường xã hội, bao gồm các thắng cảnh tự nhiên, các kiến trúc, công trình xâydựng, đường phố, tượng đài… cảnh quan văn hóa là môi trường vật chất - vănhóa mà trong đó con người sinh sống Nó biểu hiện bề mặt trực tiếp của đờisống văn hóa Qua kiến trúc, cảnh quan môi trường… ít nhiều có thể khái quátđời sống văn hóa của cộng đồng Tuy là không gian vật chất do con người tạo,nhưng cảnh quan văn hóa có tác động nâng đỡ, điều chỉnh, giám sát hành vicon người Bên trong những cảnh quan chứa đựng những chuẩn mực của cộngđồng, cũng như thấm đượm sự lan tỏa các giá trị văn hóa
* Các hoạt động văn hóa
Các hoạt động văn hoá là những hoạt động sáng tạo, lưu giữ, quảng bá
và tiêu dùng các giá trị văn hóa, thể hiện một cách tập trung nhất năng lựcvăn hóa, khả năng sáng tạo theo các quy luật của cái đẹp của cá nhân và cộngđồng Thông qua hoạt động này, giá trị sẽ được sản sinh, vận động và lan tỏatrong đời sống Những hoạt động này có thể là hoạt động của các cá nhân,nhưng luôn diễn ra trong mối liên hệ với cộng đồng, có nghĩa là, những hoạtđộng văn hóa luôn mang tính xã hội
Hoạt động văn hóa là hoạt động đáp ứng trực tiếp nhu cầu văn hóa củanhân dân Mà nhu cầu văn hóa của nhân dân rất đa dạng, vì thế các hoạt động
để đáp ứng những nhu cầu ấy cũng hết sức phong phú Tuy nhiên, đời sốngvăn hóa lành mạnh, phong phú phải được biểu hiện qua sự lành mạnh và đadạng của các dạng hoạt động văn hóa, mức độ tham gia của người dân Cóthể khái quát một số dạng hoạt động văn hóa phổ biến như sau:
Trang 21- Hoạt động thông tin tuyên truyền, cổ động: Thông qua các thiết chếvăn hóa như các cơ quan: phát thanh, truyền hình, báo chí, thông tin, cổđộng, triển lãm… Thực hiện nhiệm vụ chủ yếu là phổ biến rộng rãi trongcông chúng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như cácnhiệm vụ chính trị, các qui định của địa phương; đồng thời nêu gương ngườitốt, việc tốt, phê phán các thói hư, tật xấu, góp phần tạo dựng nếp sống vănhóa ở cơ sở
Các cơ quan phát thanh, truyền hình và báo chí của địa phương vừa
là cơ quan ngôn luận của Đảng và Nhà nước, đồng thời phản ánh nguyệnvọng của nhân dân
Ngày nay, dưới ảnh hưởng của Cách mạng khoa học và công nghệ, đãxuất hiện các phương tiện thông tin đại chúng được truyền qua hệ thống vệtinh viễn thông Một sự kiện xảy ra tại địa điểm nào đó của hành tinh đều cóthể nhanh chóng truyền bá ra khắp toàn cầu Con người không chỉ sống bóhẹp trong lũy tre làng, mà không gian hoạt động được mở ra đến vô cùng, vôtận Người ta suy nghĩ và hành động không chỉ dựa vào thói quen truyềnthống, hoặc dựa theo phong tục tập quán của môi trường cơ sở mà còn tiếpcận ảnh hưởng đời sống thực tiễn của cả thế giới năng động Hàng ngày, báođài tác động tới mỗi người nhiều luồng thông tin khác nhau Con người dễlúng túng trước sự bùng nổ thông tin Trước tình hình đó, công tác thông tin
cổ động ở địa phương có nhiệm vụ sàng lọc và định hướng, giúp cho mọingười lựa chọn và tiếp nhận thông tin thuận lợi, nhờ đó mà xây dựng môitrường văn hóa lành mạnh trong phạm vi cơ sở
- Hoạt động câu lạc bộ: Là tổ chức xã hội tập hợp theo nguyên tắc tựnguyện của những người có chung sở thích, nhằm tiến hành các hoạt độngthuộc các lĩnh vực chính trị - xã hội, kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn học -nghệ thuật, thể thao và các hoạt động nghỉ ngơi, giải trí khác Câu lạc bộthường tổ chức tại các cơ quan văn hóa, giáo dục như: nhà văn hóa, cung vănhóa, trung tâm văn hóa thuộc hệ thống Nhà nước (Bộ Văn hóa- Thể thao và
Du lịch) hoặc các ngành, giới như Quân đội, Công an, Công đoàn, Thanhniên, Hội phụ nữ
Hiện nay, phổ biến một số loại hình câu lạc bộ như: Loại chính trị - xãhội, loại kinh tế - xã hội, loại khoa học - kỹ thuật, loại văn hóa - nghệ thuật,loại thể dục - thể thao tùy theo điều kiện mỗi nơi, có thể thành lập nhữngcâu lạc bộ sở thích phù hợp với đặc điểm mỗi vùng dân cư
Trang 22- Hoạt động thể dục, thể thao, vui chơi giải trí
Hoạt động thể dục, thể thao không chỉ nhằm mục đích tăng cường thểchất mà còn rèn luyện nên những phẩm chất tinh thần như ý chí bền bỉ, lòngdũng cảm, hoạt bát, thông minh và tinh thần tập thể đồng đội Ngoài ra, cũngnhư các hoạt động vui chơi khác, hoạt động thể dục thể thao có tác dụng giảitrí lớn, làm tan biến đi những căng thẳng đầu óc, sau một thời gian làm việcliên tục Vì vậy, các hoạt động trên đây có sức hấp dẫn đối với mọi lứa tuổi
- Hoạt động giáo dục truyền thống
Để tiến hành công tác giáo dục truyền thống - văn hóa, lịch sử và cáchmạng, ngành văn hóa chủ trương xây dựng các bảo tàng, nhà truyền thống.Các hoạt động có tính rộng rãi như “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đápnghĩa, tổ chức các ngày hội cũng có ý nghĩa giáo dục tốt Việc công nhận
và xây dựng, tu sửa các di tích lịch sử văn hóa cũng nhằm giáo dục truyềnthống có hiệu quả
- Hoạt động xây dựng nếp sống văn hóa
Nếp sống là toàn bộ những mô thức ứng xử của con người, biểu hiệntrong mối quan hệ với thiên nhiên, với xã hội và với chính bản thân, được lặp
đi lặp lại nhiều lần trong cuộc sống, được cộng đồng chấp nhận và tự nguyệnthực hiện, lâu dần trở thành thói quen, phong tục; đó là nếp sống văn hóa.Phong tục tập quán có những giá trị tốt đẹp cần bảo lưu, giữ gìn và pháttriển, có những hạn chế cần khắc phục, sửa chữa, loại bỏ
Xây dựng nếp sống văn hóa bao gồm xây dựng nếp sống cá nhân, nếpsống gia đình và nếp sống xã hội Chính các thiết chế văn hóa ở cơ sở và cáchoạt động của nó có tác dụng hình thành những nếp sống văn hóa mới, khắcphục những tiêu cực của nếp sống cũ Hiện nay, gia đình là một dạng đơn vị
cơ sở đặc biệt để xây dựng nếp sống văn hóa, được Đảng và Nhà nước ta đặcbiệt coi trọng Bộ Chính trị có Chỉ thị 27/CT-TW về thực hiện nếp sống vănminh trong việc cưới, tang và tổ chức lễ hội cũng là nhằm xây dựng môitrường văn hóa lành mạnh, đấu tranh bài trừ các hủ tục lạc hậu, tệ nạn xã hội
và mê tín dị đoan
Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởngniệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúngthần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dângian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xãhội
Trang 23Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễnghi, quản lý tổ chức của tôn giáo.
Lễ hội là một loại hình sinh hoạt cộng đồng được tổ chức theo phươngpháp cảnh diễn hóa (sân khấu hóa) với nhiều nội dung, hình thức phong phúnhằm vừa tôn vinh những giá trị thiêng liêng, vừa thỏa mãn các nhu cầu vănhóa tinh thần của con người và góp phần thắt chặt các quan hệ xã hội Là mộthình thức sinh hoạt văn hóa tổng hợp, lễ hội được cấu thành bởi hai yếu tố lễ
và hội, tương ứng với các mặt: tinh thần, tôn giáo - tín ngưỡng, linh thiêng làyếu tố lễ; vật chất, văn hóa - nghệ thuật, đời thường là yếu tố hội, cả hai yếu
tố gắn bó, hòa quyện với nhau không thể bỏ đi một yếu tố nào mà không làmmất đi bản thân nó Lễ và hội hướng con người tới “cái thiêng” và gắn bócon người lại với nhau, có sức hấp dẫn lôi cuốn các tầng lớp xã hội, trở thànhmột nhu cầu, một khát vọng của nhân dân trong nhiều thế kỷ
Trên đây là các yếu tố cơ bản hình thành cấu trúc của đời sống văn hóanói chung, cũng là những mặt cơ bản hình thành nên diện mạo của đời sốngvăn hóa của một cộng đồng, gắn với một không gian cụ thể
Chính vì vậy, khi xem xét đời sống văn hóa cộng đồng nói chung, đờisống văn hóa của huyện Cẩm Giàng nói riêng, chúng ta cần xem xét đầy đủ
tất cả những yếu tố cấu thành của nó trong mối quan hệ biện chứng với nhau,
trong đó chủ thể đóng vai trò xây dựng và đối tượng xây dựng quyết định đờisống văn hóa của cộng đồng dân cư
Cách tiếp cận về đời sống văn hóa trên đây là cơ sở lý luận để luận văngiải quyết yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra của đề tài khi nghiên cứu xây dựng đờisống văn hóa cơ sở trên địa bàn phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân
1.1.2 Nội dung xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là công tác vô cùng quan trọng trong
sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa nước nhà hiện nay, nó trực tiếp tácđộng đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống của cộng đồng dân cư Đảng vàNhà nước ta coi nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa là nhiệm vụ then chốt đểnâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, giữ vững ổn định xã hội, xây dựngnhân cách con người Việt Nam, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết TW 5 (khóa VIII) đãkhẳng định: Quá trình hoạt động thực tiễn của Đảng và Nhà nước ta đã đạtnhững thành tựu to lớn, khẳng định tư duy văn hóa của Đảng và Nhà nước ta
có những bước tiến quan trọng trong việc ban hành Nghị quyết Điều đó cho