MỤC LỤC I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẩU HÀNG KHÔNG. 1 1.Quá trình hình thành và phát triển: 1 2. Sơ đồ tổ chức bộ máy hiện tại: 2 3. Nhiệm vụ: 5 II. Đặc điểm thị trường kinh doanh của doanh nghiệp. 6 1, Các sản phẩm kinh doanh của công ty: 6 2, Đối tượng khách hàng của công ty: 6 3. Tính cạnh tranh: 8 4. Xu hướng phát triển thị trường: 9 III. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: 11 1.Về công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: 11 2. Các hoạt động quảng cáo: 11 3.Vấn đề hậu cần trong quá trình kinh doanh: 13 IV. Phân tích các hoạt động kinh doanh của công ty: 14 1. Về kim ngạch xuất nhập khẩu: 14 2.Về hoạt động nhập khẩu uỷ thác: 14 3.Về hoạt động đấu thầu mua bán xuất nhập khẩu: 17 4. Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của công ty 20030606: 19 V. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN 23 1. Những thuận lợi 23 2. Những khó khăn 25 VI.Một số giải pháp và kiến nghị 28 1.Về phía công ty 28 1.1.Về việc thuê vận tải và mua bảo hiểm 28 1.2.Về việc làm thủ tục nhận hàng 29 1.3.Về việc giao hàng cho đơn vị uỷ thác 29 1.4.Về công tác nghiên cứu và mở rộng thị trường 30 1.5.Về công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 30 2. Về phía quản lý nhà nước: 31 2.1.Đối với Tổng công ty hàng không Việt Nam 31 2.2.Đối với nhà nước 32
Trang 1
TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG KHễNG – AIRIMEX
I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TỔNG CÔNG TY
CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẩU HÀNG KHÔNG.
1.Quá trình hình thành và phát triển:
Tổng công ty Hàng không dân dụng Việt Nam có đặc trưng chủ yếu là được hình thành từ các đơn vị quân đội trực thuộc Bộ quốc phòng, và các đơn vị khác, Tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu Hàng không được thành lập chính thức ngày 21 tháng 03 năm 1989 theo quyết định số 197/QĐ/TCHK của tổng cục trưởng Tổng Cục Hàng không dân dụng Việt Nam với tên gọi ban đầu là “Cụng
ty xuất nhập khẩu chuyên ngành và dịch vụ Hàng khụng” đội ngũ lao động chính
là Phòng Vật tư kỹ thuật của Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam trực thuộc Bộ Quốc Phòng Công ty là một bộ phận và chịu sự quản lý trực tiếp của Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam với nhiệm vụ chính là tiến hành nghiệp vụ xuất nhập khẩu uỷ thác cho các đơn vị thuộc ngành Hàng không Việt Nam Lúc mới thành lập Công ty có 25 cán bộ công nhân viên- là sĩ quan, công nhân viên quốc phòng, được tổ chức thành 3 phòng: Kế hoạch, Nghiệp vụ thương mại và Kế toán tài vụ Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của Ngành Hàng không nói riêng, sau khi luật Hàng không năm 1991 ra đời, Công ty xuất nhập khẩu chuyên ngành và dịch vụ Hàng không được đặt dưới sự quản lý của Cục Hàng không dân dụng Việt Nam
Ngày 30 tháng 07 năm 1994, Bộ Giao thông vận tải ra Quyết định số
1173/QĐ-TCCB-LĐ thành lập Công ty xuất nhập khẩu Hàng không với mã
ngành kinh tế kỹ thuật là 25 ( trong khoảng thời gian này ngành Hàng không Việt Nam trực thuộc Bộ Giao thông vận tải) Theo quyết định này Công ty XNK Hàng không đặt trụ sở chính tại 141 Nguyễn Văn Cừ, Phường Bồ Đề, Quận Long Biên, Gia Lâm, Hà Nội và công ty cũng đặt một chi nhánh tại 108 Đường Hồng
Trang 2Hà, Quận Tõn Bỡnh, Thành phố Hồ Chí Minh Công ty đã tiến hành chuyển đổI
cổ phần từ Doanh nghiệp, theo Quyết định số 3892/QĐ – BGTVT ngày 17/10/2005 do bộ trưởng bộ giao thông vận tải kí xác nhận
Tổng Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Hàng Không là một doanh nghiệp nhà nước có chế độ hạch toán độc lập và tư cách pháp nhân đầy đủ,cụng ty có tài khoản tại các ngân hàng và có con dấu riêng Nhiệm vụ chính của Công ty là kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư,các máy móc thiết bị phụ tùng cho ngành Hàng không và các loại vật tư,máy móc thiết bị dân dụng khỏc… Vốn điều lệ của công
ty là 20 tỷ đồng, tổng số cán bộ công nhân viên là 120 người, thu nhập bình quân
là 3,5 triệu đồng/ người/thỏng, mức chi trả cổ tức bình quân là 7,2% / năm
Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 328/TTg về việc thành lập Tổng công ty hàng không Việt Nam vào ngày 02 tháng 05 năm 1995, mô hình của Tổng Công ty Hàng không Việt Nam được tổ chức lại theo Tập đoàn kinh doanh ( Tổng Công ty 91) và cho đến nay Tổng Công ty cổ phần XNK Hàng không được xác định là đơn vị thành viên hạch toán độc lập của Tổng Công ty Hàng không Việt Nam theo Nghị định số 04/CP của Chính phủ ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công ty hàng không Việt Nam được ký ngày 25/01/1996
Tên công ty: Tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu Hàng không.
Tên giao dịch quốc tế: General Aviation Import-Export Company.
Tên viết tắt: AIRIMEX.
Trụ sở công ty: 141 Nguyễn Văn Cừ, phường Bồ Đề, quận Long Biên, Gia Lâm, Hà Nội.
2 Sơ đồ tổ chức bộ máy hiện tại:
a- Phòng Kế hoạch- Tổ chức:
- Là đơn vị có trách nhiệm lập các kế hoạch kinh doanh, kế hoạch xuất nhập khẩu hàng năm và kế hoạch dài hạn về công tác đào tạo và bồi dưỡng lực lượng
Trang 3lao động Quản lý kiểm tra, đánh giá việc sử dụng quỹ thời gian, hiệu quả lao động của toàn công ty.
- Quản lý các khối văn phòng, cho thuê văn phòng và các công việc có liên quan
b- Phòng Nghiệp vụ I
- Là nơi tiến hành các hoạt động nhận uỷ thác nhập khẩu các thiết bị nhà ga, thiết bị sân đỗ máy bay, thiết bị thông tin liên lạc, thiết bị quản lý bay, trạm và thiết bị sửa chữa máy bay Tổ chức thực hiện các dự án có liên quan đến loại thiết bị sân bay và quản lý bay Tổ chức hoạt động cung cấp thiết bị cho các ngành công nghiệp khác
c- Phòng Nghiệp vụ 2
- Tiến hành nhận uỷ thác nhập khẩu các thiết bị, phụ tùng của máy bay, động
cơ máy bay Kinh doanh xuất nhập khẩu các loại thiết bị, phụ tùng nói trên
f- Chi nhánh phía Nam
- Là nơi hỗ trợ cho cỏc phũng chức năng của công ty trong việc tiến hành kinh
doanh, xúc tiến bán hàng, vận tải và giao nhận hàng hoá đối với các khách hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận
Trang 4g- Văn phòng đại diện tại Cộng hoà Liên ban Nga
Thay mặt công ty tiến hành các giao dịch đối với các đối tác tại Cộng hoà liên bang Nga
*/ Sơ đồ cơ cấu tổ chức của bộ máy quản lý của Tổng công ty xuất nhập khẩu Hàng Không:
3 Nhiệm vụ:
- Nhiệm vụ chính của cỏc phũng ban, bộ phận nay là liên doanh liên kết, tổ chức đầu tư với các cơ quan, tập đoàn kinh tế có số vốn, con dấu và tư cách pháp
Tổng giám đốc công ty Hàng không Việt Nam
Giám đốc công ty cổ phần XNK-HK Arimex Phó giám đốc
Phòng kinh doanh
Phòng nghiệp
vụ 1
Phòng nghiệp
vụ 2
Phòng thống kê-xử
lý dữ liệu
Phòng
vé và dịch vụ
Văn phòng đạI diện ở Nga
Chi nhánh tạI TP HCM
Trang 5nhân đầy đủ để không ngừng đổi mới công nghệ, tăng cường các hoạt động tiếp thị, thay đổi những tư duy kinh tế đã lỗi thời, lạc hậu bằng các lý luận mới tiên tiến hợp thời, đồng thời đại đẩy mạnh công tác xuất khẩu, cân đối giữa các tỷ trọng xuất nhập khẩu.
- Không ngừng xây dựng và tổ chức thực hiện các chiến lược phát triển để tăng năng suất và doanh thu cho công ty, liên tục đề ra và thực hiờn cỏc kế hoạch xuất nhập khẩu năm năm và hàng năm
- Liên tục đầu tư và mở rộng cơ sở vật chất hạ tầng kĩ thuật, không ngừng đổi mới và phát triển công nghệ, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hoá công tác quản lý và tác nghiệp chuyên ngành xuất nhập khẩu, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên để có chuyên môn vững chắc trong điều kiện hội nhập và phát triển nhất là bây giờ khi Việt Nam đã gia nhập WTO
- Luôn chú trọng việc bảo toàn và phát triển vốn, cố gắng sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, vốn do Tổng công ty giao phó, luôn đề ra các kế hoạch
và chương trình phát triển vốn, thực hiện và bổ sung theo quyết định của Hội đồng quản trị, làm sao để với số vốn đú luụn mang lại lợi nhuận cao nhất
- Thực hiện đúng tất cả các nghĩa vụ đóng góp đối với ngân sách Nhà nước, phù hợp với những quyền lợi mà tổng công ty được nhận, nghĩa vụ thu nộp khác theo quy định của Nhà nước và nghĩa vụ thu nộp đối với Tổng công ty Hàng không dân dụng Việt Nam
II Đặc điểm thị trường kinh doanh của doanh nghiệp.
1, Các sản phẩm kinh doanh của công ty:
Trang 6+ Kinh doanh phương tiện, thiết bị, dụng cụ, vật tư và phụ tùng cho ngành Hàng không.
+ Dịch vụ nhận gửi, chuyển, phát hàng hóa trong nước và Quốc tế
+ ĐạI lý bỏn vộ, giữ chỗ hàng không trong nước và Quốc tế
+ Lữ hành nội địa, Lữ hành Quốc tế và dịch vụ phục vụ khách du lịch ( không bao gồm kinh doanh phũng hỏt Karaoke, vũ trường, quán bar)
+ Kinh doanh vật liệu vật tư hàng hóa dân dụng
+ Kinh doanh trang thiết bị, máy móc y tế, vật tư, trang thiết bị trường học, đo lường, sinh học và môi trường, vật tư trang thiết bị văn phòng, các sản phẩm
cơ điện, điện tử, điện máy và thiết bị tin học, thiết bị mạng máy tính
+ Kinh doanh rượu, bia, nước giải khát ( không bao gồm quán bar)
+ Dịch vụ ủy thác nhập khẩu, khai thuê hải quan
+ Sản xuất, sửa chữa, lắp đặt, bảo hành, mua bán trang thiết bị, phương tiện, vật tư và phụ tùng thay thế thuộc các ngành công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, nông nghiệp, dầu khí, điện than, khoáng sản ( trừ các loại khoỏnh sản nhà nước cấm), xi măng, hóa chất ( trừ hóa chất nhà nước cấm), bưu chính viễn thông, thể thao và các ngành giải trí khác
+ Xây lắp các công trình điện đến 35kv
+ Kinh doanh xăng, dầu mỡ, khí hóa lỏng
+ Mua bán, cho thuê phương tiện vận tải đường bộ
+ Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hóa
2, Đối tượng khách hàng của công ty:
a.VIETNAM AIRLINES (VNA):
Trang 7Khách hàng lớn nhất của Tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu Hàng Không là Hãng hàng không quốc gia Việt Nam VIETNAM AIRLINES, đây là đơn vị có tỷ trọng lớn nhất trong các hợp đồng uỷ thác của Công ty Hoạt động trao đổi mua bán giữa Công ty và VIETNAM AIRLINES được chia ra làm hai mảng chính:
- Mua bán, xuất nhập khẩu máy bay hoặc máy móc thiết bị công nghệ cao, phức tạp như động cơ, máy móc thiết bị có liên quan đến máy bay…
- Tất cả các chủng loại hàng hoỏ khỏc như vật tư, phụ tùng máy móc có liên quan đến máy bay…Những chủng loại hàng hoá này thường có giá trị không lớn lắm
và các yêu cầu về kỹ thuật, công nghệ không quá phức tạp, có thể phù hợp với thị trường và khả năng cung ứng của Việt Nam, là các loại hàng hoá được sản xuất ở nhiều hãng khác nhau Ngoài ra các hoạt động chớnh đú ra, Công ty còn đảm nhiệm chuyên trách như là một đại lý bỏn vộ của VIETNAM AIRLINES thông qua phòng bán vé máy bay
b Các Sân bay trong lãnh thổ Việt Nam:
Các sân bay đó là Sân bay Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Vinh, Huế, Đà Nẵng…Cỏc mặt hàng mà Công ty cung cấp cho những đơn vị này hầu hết là các thiết bị đồng
bộ như: Rađa, nhiên liệu phục vụ cho các chuyến bay và tất cả các trang thiết bị mặt đất như thiết bị nhà ga (máy soi, chiếu hành lý…)
c Các Công ty địch vụ bay VASCO, MASCO, Cụm cảng hàng không miền bắc NASCO, Cụm cảng hàng không miền nam SASCO …
Những khách hàng này tương đối đặc biệt đối với công ty do phạm vi hoạt động của nó Ngoài các công việc chính như là chuyên chở hàng hoá, bay, các loại hình dịch vụ của những công ty này còn bao gồm kinh doanh khách sạn, dịch vụ sân bay…nghĩa là lĩnh vực hoạt động kinh doanh của các Công ty này rất đa dạng Chính vì vậy mà nhu cầu của các khách hàng này về các loại hàng hoá, dịch vụ rất lớn và rất đa dạng, đôi khi đòi hỏi các yêu cầu về kĩ thuật cao hơn những khách hàng khác và các mặt hàng này chủ yếu phảI nhập khẩu từ các nước
Trang 8phát triển, ví dụ như là các mặt hàng chuyên ngành như máy bay trực thăng, máy bay chụp trắc địa…
d PACIFIC AIRLINES (PA):
PACIFIC AIRLINES là một Công ty hàng không cổ phần nhưng cũng đang từng bước mở rộng mạng đường bay và tăng thêm nhiều chuyến bay trong và ngoài nước Do đó nhu cầu về các mặt hàng tương tự như các mặt hàng của VIETNAM AIRLINES
3 Tính cạnh tranh:
Nước ta là một nước đang phát triển, trình độ phát triển còn non kém so với các nước trên Thế Giới Ngành Hàng Không là một ngành vừa mang tính dịch vụ lại vừa mang tính công nghiệp nên đòi hỏi về yêu cầu kĩ thuật và khoa học công nghệ là rất cao Do vậy ngành Hàng Không để có thể và phát triển cho đến ngày nay là cả một nỗ lực lớn của toàn thể các đơn vị và cán bộ công nhân viên Ở Việt Nam hiện nay, do lực lượng của ngành Hàng Không còn non kém so với các Quốc gia khỏc trờn Thế Giới nên AIRIMEX đang là Công ty nhập khẩu chuyên ngành Hàng Không lớn nhất Việt Nam và do đó công ty là đơn vị cung ứng gần như độc quyền cho hãng Hàng Không Việt Nam Nhưng hiện nay Nhà Nước ta
đã cho phộp cỏc công ty được quyền nhập khẩu máy móc, trang thiết bị để tự phục vụ cho nhu cầu sản xuất Và trong thị trường luôn có xu hướng cạnh tranh
về giá và chất lượng sản phẩm Các công ty xuất nhập khẩu khác thành lập muộn hơn muốn cạnh tranh và thành công thì phải dùng mọi chiến lược để thu hút khách hàng Như vậy đó cũng là khó khăn và trở ngại đối với AIRIMEX Trong
xu hướng hiện nay các công ty có xu hướng tự nhập khẩu máy móc trang thiết bị
để giảm chi phớ cũn cỏc công ty nhỏ hơn thì ủy thác cho các công ty chuyên nhập khẩu Do vậy các công ty chuyên nhập khẩu đều là đối thủ cạnh tranh của AIRIMEX Tuy nhiên do AIRIMEX là một công ty chuyên và đứng đầu ngành trong lĩnh vực xuất nhập khẩu các mặt hàng máy móc trang thiết bị liên quan đến ngành hàng không nên được nhiều bạn hàng lớn tin cậy Có thể nói tại Hà Nội đối thủ cạnh tranh lớn nhất của AIRIMEX là MACHNO-IMPORT
Trang 9Trong điều kiện hiện nay hội nhập kinh tế Quốc Tế, Việt Nam ngày càng mở cửa
và mở rộng các mặt hàng kinh doanh do vậy mà bạn hàng của Công ty ngày càng nhiều hơn nhưng ngược lại các đối thủ cạnh trang của Công ty theo đó mà cũng gia tăng Đối với các công ty và xí nghiệp trực thuộc Tổng công ty Hàng Không dân dụng Việt Nam như: Cụm cảng Hàng Không miền Nam-viết tắt là NASCO
và cụm cảng hàng không miền Bắc-viết tắt là SASCO, cụm cảng hàng không các khu vực, trung tâm quản lý bay dân dụng Việt Nam…cỏc công ty này đã tự nhập khẩu một số thiết bị chuyên ngành Hàng Không Ngoài ra cũng có một số các công ty ngoài ngành cũng có chức năng Kinh Doanh Xuất Nhập khẩu, các công
ty này cũng dã mở rộng mặt hàng Kinh doanh của mình trong đó họ cũng tham gia vào các lĩnh vực hàng không như Tổng công ty VINACONEX, PETROLILEX, TECOIMPORT, PETECHIM…Chớnh vỡ những lí do này đã tạo nên các yếu tố cạnh tranh rất lớn đối với AIRIMEX Điều này đòi hỏi Công ty phải thường xuyên tìm hiểu và nắm vững nhu cầu của khách hàng, luôn cung cấp các sản phẩm và dịch vụ của mình với chất lượng cao, giá thành hợp lý, chú trọng giữ uy tín trong kinh doanh để giữ được khách hàng
4 Xu hướng phát triển thị trường:
Trong lịch sử hình thành và phát triển của Tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu hàng Không phần lớn các hoạt động của là nhập khẩu ủy thác và được người ủy thác cung cấp sẵn địa chỉ của người nhập khẩu nờn cỏc hoạt động nghiên cứu thị trường kém và thường nằm trong thế bị động Nhưng trong điều kiện hiện nay, khi nước ta bắt đầu chính sách mở cửa và có nhiều thay đổi trong cơ chế quản lý thị trường, chính phủ đã cho phộp cỏc công ty trong nước mở rộng thị trường ra nước ngoài và cho phép các công ty nước ngoài đầu tư vốn vào Việt Nam Do vậy mảng kinh doanh nhận ủy thác của công ty ngày càng được thu hẹp, Công ty chỉ nhận đặt hàng với các Công ty có tiếng khác và uy tín trên thị trường, đồng thời đây là những người bạn lâu năm của công ty Hơn nữa, các công ty thuê chỉ
Trang 10định ủy thác trước đây, trong điều kiện thị trường mới cũng mở rộng lĩnh vực kinh doanh, đảm nhiệm công việc của công ty ủy thác trước đây, bớt được chi phí đi thuê ủy thác, nhằm tăng doanh thu cho công ty mình Hơn nữa trong những năm trở lại đây công ty bắt đầu thực hiện một hình thức kinh doanh mới,
đó là đấu thầu mua bán hàng nhập khẩu, do đó công tác nghiên cứu thị trường lại càng trở nên quan trọng hơn Do đó trước mắt công ty thiết lập riêng một bộ phận chuyên trách công tác nghiên cứu thị trường, nhiệm vụ này là làm mọi cách để
mở rộng thị trường kinh doanh của công ty Bộ phận này cũng ko nháp thiết phải được lập thành một phòng ban riêng biệt, nó có thể là một bộ phận của phòng Marketing, phòng nghiệp vụ hay phòng kinh doanh, gồm một nhóm cán bộ chuyên môn về nghiên cứu thị trường phục vụ cho nghiệp vụ đặc trưng của mỗi phòng Trước đây, bạn hàng của Công ty chủ yếu là các công ty thuộc bộ phận quản lý của Tổng công ty Hàng Không Việt Nam, nhưng hiện nay Công ty không những nghiên cứu và chiếm lĩnh thị trường trong nước mà còn vươn ra thị trường nước ngoài Nhận nhập khẩu các linh kiện, máy móc thiết bị từ nước ngoài vào Việt Nam Công ty cũng có văn phòng đại diện tại Liên Bang Nga, đây cũng là trụ sở chính của công ty tại Châu Âu, phụ trách công việc tìm hiểu thị trường quốc tế, kí kết các hợp đồng xuất nhập khẩu Quốc Tế Trong tương lai, công ty
sẽ kí kết nhiều hợp đồng hơn nữa với các đối tác nước ngoài để mở rộng thị trường kinh doanh sang thị trường tiềm năng như Châu Âu, Châu Mỹ…
III Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
1.Về công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực:
Trang 11Đầu tiên muốn mở rộng và phát triển được thị trường kinh doanh của Công ty, công ty phải đầu tư vào đội ngũ cán bộ công nhân viên Liên tục đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho các cán bộ công nhân viên Để họ có đủ năng lực và trình
độ tham gia vào các hợp đồng mua bán phực tạp đòi hỏi nghiệp vụ cao với các đối tác nước ngoài Hơn thế nữa cán bộ của Công ty phải luôn nhanh nhậy với thị trường, nắm bắt được những thay đổi của thị trường, về các chính sách mới, thể chế pháp luật của những thị trường mà công ty đang định thâm nhập, điều tra về văn hóa, đánh giá xem cách thức và các mặt hàng của Công ty có phù hợp với thị trường mới hay không Để có được một đội ngũ cán bộ như vậy, lãnh đạo công ty phải có một chiến lược lâu dài và chính sách phù hợp với từng giai đoạn phát triển của Công ty, nhằm cú cỏ chính sách hỗ trợ và khen thưởng hợp lý với cán
bộ công nhân viên, đặc biệt là những cán bộ giữ vai trò và vị trí then chốt
2 Các hoạt động quảng cáo:
Quảng cáo là một hoạt động quan trọng trong nghiệp vụ marketing của công ty, nhằm quảng bá thương hiệu kinh nghiệm, uy tín và khả năng tiềm tàng của công ty với các đối tác và bạn hàng trong nước cũng như nước ngoài Trong thời gian qua hoạt động quảng cáo được lãnh đạo công ty quan tâm, chú trọng triển khai Tuy nhiên, nội dung, cách thức quảng cáo của Công ty chưa được thiết
kế một cách hợp lý so với đặc thù về kinh doanh, về ngành hàng và khách hàng Trước đõy cỏc hoạt động quảng cáo của Công ty được thực hiện theo một mẫu cố định như trên và được thực hiện thông qua các phương tiện như báo và tạp chí với nội dung hoàn toàn giống nhau, đơn điệu Các tạp chí được công ty lựa chọn để quảng cáo về hoạt động kinh doanh của mình là : Tạp chí Hàng không Việt nam, Kinh doanh và Tiếp thị , Thời báo Kinh tế Việc quảng cáo trong thờI gian này chưa được thiết kế một cách bài bản, không có kế hoạch ngân sách cũng như mục đích, phương thức cụ thể Chưa được ban lãnh đạo của công
ty coi trọng và chú ý đến vai trò của họa động quảng cảo trong kinh doanh Việc tiến hành quảng cáo của công ty dường như là dựa theo tiếp thị của các tạp chí,
Trang 12báo là chính Cho đến nay, quảng cáo đã trở thành một trong những chiến lược quan trọng của công ty khi muốn nâng cao các nguồn thu nhập, mở rộng phạm vi kinh doanh và làm cho tên tuổI của mình trở nên được biết đến trong nước cũng như quốc tế.
Về nội dung quảng cáo, hoạt động kinh doanh trong thông điệp quảng cáo này chỉ là liệt kê lại những ngành nghề kinh doanh đã được đăng ký và bổ xung trong giấy phép kinh doanh chứ chưa phải là hoạt động thực tiễn của Công ty Chẳng hạn như thiết bị giao thông vận tải, vật tư nông nghiệp, phân bón hay kinh doanh XNK rượu đó là những mặt hàng mà công ty đăng ký sẵn để khai thác những cơ hội kinh doanh có thể có chứ cho đến này Công ty hoàn toàn chưa thực hiện được hợp đồng nào
Nội dung của thông điệp quảng cáo chưa thể hiện được mục đích quảng cáo Thực chất nó chỉ cho người đọc quảng cáo biết được tên và địa chỉ công ty lĩnh vực hoạt động của công ty chứ không biết được khả năng của công ty như thế nào, sức mạnh cạnh tranh đến đâu Thực sự quảng cáo này chưa nói lên được “
tầm hoạt động “ của Công ty Quảng cáo mà công ty thực hiện chưa phải là
quảng cáo thuyết phục
Ngoài hình thức quảng cáo trên, Công ty đã tổ chức in một số các bản tờ gấp giới thiệu công ty ( bằng tiếng Việt nam và tiếng Anh ) Tuy nhiên, nội dung của tờ gấp này cũng chỉ mang tính thông tin chung chung về công ty – Nó thiếu tính hiệu quả của quảng cáo Tờ gấp này có thể sử dụng được cho khách hàng trong nước và đối tác nước ngoài
Quảng cáo của AIRIMEX hoàn toàn chỉ trong giới hạn trong nước, công ty chưa thực hiện bất cứ một phương thức quảng cáo nào tại nước ngoài Hiện tại, quảng cáo này chỉ tập trung vào thông tin sơ lược về công ty cho các khách hàng trong nước chứ chưa có quảng cáo khả năng và thế mạnh của công ty đối với hãng cung cấp nước ngoài
3.Vấn đề hậu cần trong quá trình kinh doanh:
Trang 13Kể từ khi thành lập, Công ty AIRIMEX đã trưởng thành và phát triển theo năm tháng và cho đến nay Công ty có một đội ngũ những nhà quản lý, các chuyên viên, kỹ sư kinh tế và kỹ thuật, nhân viên với tổng số trên 100 người, phần nhiều cú trỡnh trình độ đại học và giàu kinh nghiệm thực tế Mức lương trung bình của người lao động trong năm 2003 đạt gần 42 triệu VNĐ trên một đầu người, tính đến năm 2004 là 43,5 triệu.
Trước đây, hoạt động chủ yếu của Công ty là nhập khẩu uỷ thác, xuất khẩu chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong hoạt động kinh doanh, đó là xuất khẩu bao bì sang thị trường Nga, hiện nay công ty đã xuất khẩu nhiều loạI mặt hàng phong phú và vươn ra nhiều thị trường trong nước và Quốc tế tổng kim ngạch XNK của công ty trong những năm gần đây không ngừng tăng rõ rệt, thể hiện tình hình hoạt động kinh doanh của công ty ngày càng tiến bộ và chiếm được lòng tin của các bạn hàng trên Thế Giới: Tổng kim ngạch XNK năm 2003 là 39,536 nghìn USD, sang năm 2004 con số này đã tăng lên đáng kể và đạt được 40,772 nghìn USD, đến năm 2005 con số này là 41,103 nghìn USD, và tình đến tháng 6 năm
2006 con số này tăng vượt bậc so vớI cựng kỡ năm trước và ở mức 25,184 nghìn USD
Mặc dù trong những năm qua tình hình có nhiều khó khăn, phức tạp Hoạt
động khủng bố, dịch bệnh tác động lớn đến hoạt động vận tải hành khách hàng hoá bằng đường không, nhiều hãng Hàng không lớn trên thế giới lâm vào tình trạng phá sản hoặc thu gọn phạm vi hoạt động, Hàng không Việt Nam cũng phải chịu nhiều ảnh hưởng, ảnh hưởng đến chiến lược vốn, kế hoạch đầu tư, mua sắm trang thiết bị nên hoạt động của công ty có phần chững lại
IV Phân tích các hoạt động kinh doanh của công ty:
1 Về kim ngạch xuất nhập khẩu:
Trang 14Nguồn :phòng kinh doanh
Qua đó ta thấy tổng kim ngạch xuất nhập khẩu từ năm 2003 đến tháng 6 năm 2006 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của công ty đều tăng nhanh Nhất là năm 2005 và năm 2006, Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã tăng vọt Điều đó chứng tỏ công ty Xuất nhập khẩu hàng không ngày càng có uy tín trên thị trường trong nước cũng như nước ngoài Nhờ vào chính sách mở cửa của nhà nước, sự lãnh đạo sáng suốt của ban lãnh đạo công ty và những đóng góp tận tình của độI ngũ cán bộ công nhân viện
2.Về hoạt động nhập khẩu uỷ thác:
Uỷ thác nhập khẩu là hoạt động đặc thù của hoạt động xuất nhập khẩu, quy trình của hoạt động nay gồm có 3 thành phần tham gia:1) Người uỷ thác (người mua, người sử dụng cuối cùng), 2) bên nhận uỷ thác (Công ty XNK Hàng không)
và 3) bên bán (Hãng cung cấp nước ngoài)
Khi phát sinh một nhu cầu về mua sắm trang thiết bị, người uỷ thác bằng các nguồn thông tin của mình sẽ tiến hành liên lạc với những nhà cung cấp có khả năng để chào hỏi giá Sau khi nhận được chào giá thì người mua sẽ lựa chọn người cung cấp có điều kiện chào giá về kỹ thuật và thương mại hấp dẫn nhất và chuyển giao cho công ty AIRIMEX tiến hành thương thảo Trên cơ sở đó, AIRIMEX sẽ đứng ra liên hệ với nhà cung cấp để tiến hành đàm phán và ký kết
Trang 15hợp đồng mua bán AIRIMEX có thể hỗ trợ người uỷ thác bằng các thông tin tư vấn lựa chọn thị trường, nhà sản xuất và sản phẩm Hợp đồng uỷ thác giữa Công
ty và người mua trong nước cũng được ký kết đồng thời
Mô hình dịch vụ uỷ thác nhập khẩu.
Trang 16NHU CẦU NHẬP KHẨU THIẾT
BỊ
ỦY THÁC CHO AIRMEX
BẰNG HĐ UỶ THÁC
NHẬN UỶ THÁC NHẬP KHẨU BẰNG HỢP ĐỒNG UỶ THÁC
KÝ KẾT HỢP ĐỒNG NGOẠI
XIN PHÉP BỘ THƯƠNG MẠI
M L/C VÀ TH C HI N CÁC BI N PHÁP B O Ở Ự Ệ Ệ Ả
M THANH TOÁN ĐẢ
THUÊ V N T I VÀ B O HI M N U GIAO Ậ Ả Ả Ể Ế HÀNH FOB/FCA
HOÀN THÀNH THỦ TỤC NHẬN HÀNG Ở CẢNG/SBAY
THUÊ VẬN TẢI, BẢO HIỂM NỘI ĐỊA
BÀN GIAO CHO KHÁCH HÀNG
NHẬN HÀNG VÀ THANH
TOÁN CHO AIRIMEX
Trang 17Giao hàng cho đơn vị giao uỷ thác và kiểm tra nghiệm thu là khâu rất quan trọng đối với việc nhập khẩu thiết bị.
Sau khi nhận hàng Công ty AIRIMEX sẽ tiến hành vận chuyển hàng hoá đến nơi giao hàng mà đơn vị uỷ thác quy định AIRIMEX chịu trách nhiệm thuê phương tiện vận tải nội địa và mua bảo hiểm cho hàng hoá của mình trong quá trình vận chuyển đó Công ty thường ký hợp đồng bảo hiểm với cỏc hóng Bảo Việt trên cả nước
Mặt hàng nhập khẩu của Công ty chủ yếu là máy móc thiết bị nên đòi hỏi phải có điều kiện lắp đặt cũng như AIRIMEX phải chịu trách nhiệm thuê chuyên gia đào tạo và hướng dẫn sử dụng thiết bị Sau khi khoá đào tạo hướng dẫn sử dụng kết thúc và nghiệm thu công trình thì hai bên giao uỷ thác và nhận uỷ thác mới hoàn thành các nghĩa vụ của hợp đồng Tuy nhiên AIRIMEX vẫn phải chịu trách nhiệm đối với mỗi lô hàng máy móc thiết bị cho tới hết thời hạn bảo hành của các thiết bị đó Trong thời hạn bảo hành, nếu có hỏng hóc cần sửa chữa hoặc
có bộ phận nào đó của thiết bị cần phải thay thế thì AIRIMEX có trách nhiệm liên hệ với bên bán để giải quyết
3.Về hoạt động đấu thầu mua bán xuất nhập khẩu:
Nghị định 88/1999/NĐ-CP ngày 01/09/1999 quy định về quy chế đấu thầu (bao gồm cả đấu thầu mua sắm trang thiết bị) áp dụng đối với tất cả các đơn vị sử dụng vốn do ngân sách Nhà nước cấp, nờn các đơn vị khách hàng của AIRIMEX phải tuân theo các quy định của Nghị định này trong việc mua sắm trang thiết bị
mà thông thường là thông qua đấu thầu rộng rãi Chính điều này đã làm giảm dần tính ưu thế, sự thuận lợi của Công ty AIRIMEX-với tư cách là công ty trong ngành
AIRIMEX phải tuân thủ đỳng cỏc bước và trình tự như sơ đồ sau: