1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Chương VI tổ CHỨC PHỤC vụ kỹ THUẬT CHO HOẠT ĐỘNG xây lắp

14 303 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 53,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ VẬT CHẤT KỸ THUẬT XÂY DỰNG 6.1.1 Khái niệm + Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành xây dựng: Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành xây dựng là sản phẩm của ngành công nghiệp VLXD và của c

Trang 1

Chương VI TỔ CHỨC PHỤC VỤ KỸ THUẬT CHO HOẠT ĐỘNG XÂY LẮP

6.1 CƠ SỞ VẬT CHẤT KỸ THUẬT XÂY DỰNG

6.1.1 Khái niệm

+ Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành xây dựng: Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành xây dựng

là sản phẩm của ngành công nghiệp VLXD và của các ngành khác có liên quan đến hoạt động của ngành XDCB Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành xây dựng nói chung và XDGT phụ thuộc trực tiếp từ năng lực, trình độ phát triển lực lượng sản xuất của đất nước, đặc biệt từ ngành công nghiệp VLXD (như sản xuất xi măng), cơ khí luyện kim, khai thác chế biến gỗ Vì vậy, những tiến bộ và sự phát triển của các cơ sở vật chất của ngành xây dựng có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động cung ứng vật tư kỹ thuật của các doanh nghiệp XDGT

+ Cơ sở vật chất kỹ thuật của các doanh nghiệp xây dựng:

Cơ sở vật chất kỹ thuật của các doanh nghiệp xây dựng là hệ thống các cơ sở khai thác, gia công, chế tạo, sản xuất vật liệu, bán thành phẩm, chi tiết, cấu kiện cho việc xây dựng các công trình và các xí nghiệp sửa chữa, vận tải phục vụ các hoạt động xây lắp

Cơ sở vật chất kỹ thuật là tiền đề kinh tế quan trọng để đẩy mạnh hoạt động xây dựng; chỉ có làm cho nhịp điệu phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật vượt nhịp điệu gia tăng khối lượng công tác xây lắp mới có thể đẩy mạnh được nhịp điệu xây dựng Do tác động của TBKHKT, của nền kinh tế hội nhập với khu vực và thế giới, hoạt động sản xuất xây lắp của các DNXDGT phải tuân thủ các quy trình có tính phổ biến của khu vực và thế giới Do đó khi phát triển và hoàn thiện cơ

sở vật chất kỹ thuật của các doanh nghiệp xây dựng, cần có sự phù hợp và hoà nhập về tiêu chuẩn trong sản xuất sản phẩm

6.1.2 Nguyên tắc phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật của xây dựng

Phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật của xây dựng cần tuân theo các nguyên tắc:

+ Cần hình thành mạng lưới cơ sở SXVLXD tập trung, thống nhất phát triển kịp và vượt nhịp điệu xây lắp

+ Xác định cho được các nhu cầu VLXD theo từng loại chủ yếu và năng lực cần thiết bổ sung để sản xuất Biện pháp để tiến hành là sửa chữa, hiện đại hoá và mở rộng năng lực sản xuất để đạt được yêu cầu cần thiết theo số lượng, chất lượng và chủng loại, đồng thời phải luôn tính đến yếu tố (sự phát triển) động và phong phú của sản xuất Để thoả mãn được yêu cầu phát triển, phải có kế hoạch dài hạn về xây dựng, biết các tuyến đường, các dự án có công trình sẽ xây dựng trong các vùng cụ thể của đất nước Xác định và nắm được năng lực của các xí nghiệp hiện tại, nơi nào sẽ bố trí cơ sở,

xí nghiệp mới Nắm được các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cần thiết khác như: suất vốn đầu tư, giá thành vận chuyển và khai thác

+ Tăng cường ứng dụng các kết cấu tiến bộ và áp dụng vật liệu mới có hiệu quả

+ Thường xuyên xem xét, trang bị lại kỹ thuật cho các tổ chức xây dựng bằng máy móc, thiết

bị có năng suất

Trang 2

+ Tăng cường sửa chữa tập trung máy thi công (phải tôn trọng nguyên tắc quản lý theo ngành và lãnh thổ) khi lập dự án phát triển các cơ sở sản xuất; tức là phải tính đến chuyên môn

và hợp tác, liên kết liên doanh trong ngoài ngành giữa các cơ sở của các Bộ khác và địa phương, sao cho đạt được hiệu quả cuối cùng cao nhất

+ Bố trí các cơ sở vật chất kỹ thuật có thể phục vụ cho nhiều vùng (liên vùng) là những doanh nghiệp của ngành hoặc phục vụ cho một vùng là doanh nghiệp của TCT, thậm chí có xí nghiệp chỉ phục vụ cho một công trình; sau khi xong, công trình cần được hoàn thiện để duy trì hoạt động thường xuyên, nhưng phải tính đến diện hoạt động thay đổi Trong XDGT, cần bố trí các xí nghiệp và chọn các mỏ vật liệu gần mạng lưới giao thông để giảm chi phí vận chuyển, cần kết hợp thật tối ưu các cơ sở cố định và di động Khuynh hướng phổ biến và quan trọng để hoàn thiện tổ chức phục vụ kỹ thuật là giải phóng các tổ chức xây lắp khỏi hoạt động này Điều này chỉ có thể giải quyết có hiệu quả ở phạm vi ngành, nghĩa là phải tính đến tập trung, chuyên môn

và hợp tác hoá giữa các đơn vị trên phạm vi toàn ngành Cần chú ý xác định năng lực của các cơ

sở sản xuất vật liệu, cấu kiện và phải dựa trên việc sử dụng quỹ thời gian lớn nhất khi khai thác máy móc thiết bị, tức là theo chế độ (2 hay 3 ca)

Trang 3

Cơ sở vật chất kỹ thuật của xây dựng Các ngành công nghiệp Các tỉnh

và thành phố Các ngành

Công

nghiệp

VLXD

Chế

tạo

thép

Chế tạo dụng cụ, thiết bị

CN VLXD địa phương

Công nghiệp địa phương

Chế tạo máy xây dựng

Chế tạo máy thiết bị

Chế tạo máy móc

Các đối tượng xây dựng

Cơ sở vật chất kỹ thuật của các TCXD Các

nhà

máy XN

chế

biến

SXVL

cấu

kiện

Các

cơ sở

khai

thác

cát,

đá sỏi

các

trạm

Các

cơ sở kho tàng gia công

Các phương tiện thiết

bị cơ giới hóa

Các phương tiện vận tải

Các XN chế tạo dụng cụ, sửa chữa

Các

XN và tổ chức khác

có liên quan

Bảo dưỡng sửa chữa phục hồi

Các đối tượng xây dựng

Trang 4

6.2 TỔ CHỨC QUẢN LÝ MÁY THI CÔNG

6.2.1 Cơ giới hoá tổng hợp các quá trình xây lắp và hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhà thầu

Trong nền kinh tế cạnh tranh và hội nhập, ngành XDGT thường xuyên tiếp nhận ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới, các nhà thầu tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ bằng các trang thiết bị hiện đại, máy móc thi công có công suất lớn (cả về số lượng và chủng loại) Điều này không chỉ để thực hiện các dự án lớn mà ngay cả ở các công trình nhỏ ở thị trường xây dựng giao thông nông thôn (ở đây, các cầu nông thôn ngày nay cũng là các loại kết cấu hiện đại được sản xuất và lắp đặt theo công nghệ mới, nhẹ, đẹp và rẻ hơn) các đơn vị thi công cũng phải đổi mới công nghệ cho phù hợp với thị trường Tình hình trên cho thấy những biến đổi liên tục về lực lượng sản xuất của các nhà thầu Nhờ vậy đã làm thay đổi các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật trong sản xuất xây dựng và mang lại hiệu quả cả cho nền kinh tế và cho doanh nghiệp Đó là tiết kiệm được vốn đầu tư xây dựng, rút ngắn được tiến độ thi công, hạ giá thành, cải tiến được chất lượng, tăng năng suất lao động và thu nhập cho người lao động Mức độ cơ giới hoá càng cao thì chi phí máy trong giá thành càng lớn Do đó, sử dụng hiệu quả các tài sản

cố định này là một hướng để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhà thầu, chủ động giảm thời hạn xây dựng, giảm chi phí sản xuất và cải tiến được chất lượng xây dựng Đối với các hợp đồng XD của các dự án có quy mô vừa và lớn, việc đề xuất các thiết bị của nhà thầu là mối quan tâm đối với CĐT, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí của nhà thầu Có nhiều giải pháp để tăng cường máy thi công như: tự đầu tư; thuê mua, vay mua Cần phải tính toán cân nhắc để vừa tiết kiệm chi phí, vừa phục vụ tốt yêu cầu của sản xuất Khi quản lý không tốt, những tổn thất từ chi phí máy thi công sẽ tác động xấu đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp

Loại trừ nguyên nhân khách quan do công tác chế tạo tác động, việc trang bị không phù hợp,

bố trí diện công tác không đảm bảo, tổ chức và quản lý sản xuất tồi, không tôn trọng quy trình khai thác và bảo dưỡng thiết bị đều làm giảm hiệu quả khai thác máy thi công Nguyên nhân chủ quan này, nhà thầu có thể hạn chế khắc phục được nếu chủ động nâng cao trình độ tổ chức quản

lý đầu tư và khai thác máy thi công

6.2.2 Tổ chức khai thác máy thi công

6.2.2.1 Cơ sở lựa chọn hình thức khai thác máy thi công

Sản xuất của các DNXDGT bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, nhưng phổ biến là các công tác đất, bê tông, đóng cọc, lắp ráp và sản xuất VLXD và cần có nhiều loại xe máy khác nhau Khi lựa chọn máy móc thiết bị, cần quan tâm đến các nhân tố: có độ tin cậy, phù hợp với nhu cầu của công việc; dễ bảo quản, vận chuyển và điều khiển Máy móc có công suất lớn hơn yêu cầu của công việc sẽ lãng phí, ngược lại thì dễ hỏng và chi phí bảo trì sẽ cao

Muốn lựa chọn hình thức khai thác xe máy phải căn cứ vào đặc tính công tác xây lắp, các hoạt động xây dựng, vị trí của công trình và quy mô của chúng; phải xác định được chế độ, thời gian khai thác xe máy, từ đó xác định được định mức sử dụng máy, lập được kế hoạch thi công

cơ giới và vẽ được sơ đồ điều phối xe máy trong kỳ thi công

Xác định chế độ khai thác năm của máy theo công thức:

Trang 5

Tkt = Tl - (Tlễ, nghỉ + Ts.chữa + bd + Tdc + T#) Trong đó: Tl là thời gian theo lịch

T lễ, nghỉ là thời gian nghỉ lễ, chế độ

Ts.chữa + bd là thời gian máy nghỉ để bảo dưỡng, sửa chữa

Tdc là thời gian vận chuyển máy tới công trường

T# các loại thời gian khác

Tkt số lượng ca máy công tác trong năm

Xác định chi phí trong giá thành ca máy bao gồm chi phí một lần, chi phí tính theo năm và chi phí khai thác thường xuyên

Chi phí một lần là chi phí trước khi khai thác máy ở công trình được xác định:

C=Cvc +Ct +Cxd+C#

trong đó:

Cvc: chi phí vận chuyển máy tới công trường và vị trí khác

Ct: chi phí tháo dỡ máy

Cxd: chi phí xây dựng phụ tạm

C#: chi phí khác

Chi phí theo năm là chi phí khấu hao cơ bản và sửa chữa lớn

Chi phí thường xuyên là chi phí sửa chữa, mua sắm phụ tùng nguyên liệu, năng lượng, vật liệu bôi trơn, chi phí cho cán bộ quản lý và bảo quản máy Muốn quản lý giá thành và giảm chi phí ca máy, phải chú ý giảm các loại chi phí này

6.2.2.2 Phân chia trách nhiệm trong khai thác máy thi công

Có thể hình thành các đơn vị thi công cơ giới độc lập hoặc trực thuộc các doanh nghiệp xây dựng Ngày nay ở các TCTXDGT, các máy móc hiện đại, đặc chủng, thiết bị siêu trường siêu trọng được tập trung về các doanh nghiệp trực thuộc TCT và chuyên một cách trực tiếp thi công các công trình, hoặc cho thuê máy theo yêu cầu của khách hàng Hình thức này có ưu điểm là tập trung được lực lượng cán bộ và công nhân lành nghề, tận dụng được các cơ sở vật chất, dễ triển khai thực hiện áp dụng TBKT và tích luỹ được kinh nghiệm quản lý

Trường hợp máy thi công trực thuộc các doanh nghiệp xây dựng thì có ưu điểm là doanh nghiệp chủ động được điều phối xe máy; nhược điểm là công tác bảo dưỡng sửa chữa bị hạn chế,

sử dụng máy tuỳ tiện, lãng phí, tuổi thọ máy thấp Trong quan hệ với đơn vị thi công cơ giới, mọi tính toán liên quan đến khai thác xe máy phải dựa trên khối lượng công tác được nghiệm thu theo giá dự toán và tính đến các tỉ lệ gián tiếp cho đơn vị thi công cơ giới; tất cả phải được thể hiện trong hợp đồng Đơn vị có máy phải tiến hành bảo dưỡng kỹ thuật, sửa chữa và đưa máy tới công trình sẵn sàng thi công Muốn sửa chữa máy phải theo tiến độ đã được thông báo trước Đơn vị xây lắp phải đảm bảo diện công tác và chịu trách nhiệm lãnh đạo tác nghiệp chung trên công trường; muốn xử lý, truyền tin về hoạt động của máy thi công (như hoàn thành tác nghiệp, thực hiện quy trình) phải căn cứ vào sơ đồ tác nghiệp

Trang 6

6.2.3 Tổ chức phục vụ và sửa chữa máy thi công

6.2.3.1 Ý nghĩa của hoạt động phục vụ và sửa chữa máy thi công

Muốn đảm bảo cho xe máy sẵn sàng về mặt kỹ thuật (đáp ứng cho thi công) phải có đội ngũ phục vụ khai thác kỹ thuật và bảo dưỡng sửa chữa Đó là nguồn dự trữ quan trọng để tăng thời gian làm việc của máy, tăng sản lượng ca máy và cải tiến chất lượng thi công Chủ động sửa chữa dự phòng theo kế hoạch sẽ giảm được thời gian và chi phí sửa chữa

6.2.3.2 Các hình thức bảo dưỡng và sửa chữa máy thi công

- Phục vụ khai thác Đó là hoạt động cung cấp đảm bảo nhiên liệu cho máy hoạt động; di chuyển máy đến công trình khác đảm bảo có đủ các dụng cụ, tạo điều kiện tốt phục vụ cho vận hành và tiến hành trông nom bảo quản máy thi công

- Bảo dưỡng máy thi công Đó là các hoạt động bôi trơn, kiểm tra xem xét cơ cấu máy do thợ điều khiển làm trước, trong và sau khi máy công tác Chú ý mỗi máy có yêu cầu, quy trình bảo dưỡng khai thác riêng

- Sửa chữa thường xuyên Nhằm kiểm tra trạng thái kỹ thuật, gia cố điều chỉnh, tăng cường các chi tiết máy để loại bỏ các hư hỏng cục bộ; sửa chữa thường xuyên được tiến hành ở các bãi, xưởng thợ và không tháo máy ra khỏi bệ Các hoạt động trên đây đều chi từ vốn lưu động

- Sửa chữa lớn (đại tu) xe máy Là sửa chữa khôi phục toàn bộ các bộ phận chủ yếu của máy

và thay thế các bộ phận mòn nhiều nhất; sửa chữa máy cho phù hợp với các điều kiện kỹ thuật khai thác bình thường của nó Sửa chữa lớn chỉ tiến hành sau khi có ý kiến của hội đồng kiểm tra ở doanh nghiệp Thời gian giữa hai kỳ sửa chữa lớn là chu kỳ sửa chữa Trình tự, thời gian, khối lượng lao động cho sửa chữa phụ thuộc vào dạng máy và độ phức tạp của máy

Máy bảo dưỡng cấp I cấu trúc không phức tạp lắm Ví dụ: trục kéo, rơ moóc

Máy bảo dưỡng cấp II cấu trúc tương đối phức tạp như cầu trục tháp

Máy bảo dưỡng cấp III là máy phức tạp như máy đào đất, máy ủi

Kết cấu của kế hoạch bảo dưỡng kỹ thuật và sửa chữa máy gồm: kế hoạch khai thác và tiến

độ sửa chữa lớn; kế hoạch khai thác tháng và sơ đồ bảo dưỡng kỹ thuật Muốn lập được kế hoạch bảo dưỡng sửa chữa, phải nắm được kết cấu chu kỳ sửa chữa, định mức thời gian sửa chữa và tình trạng của máy

6.3 CÁC BIỆN PHÁP TỔNG HỢP CẢI TIẾN SỬ DỤNG MÁY THI CÔNG

6.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá trình độ sử dụng máy thi công

Trước hết, cần cải tiến thời gian làm việc của máy bằng cách bố trí sơ đồ vận hành hợp lý, giảm thời gian máy không tải Để đánh giá trình độ sử dụng thời gian làm việc của máy, sử dụng

hệ số K1:

K1 = Tt /Tk Tt: Thời gian hoạt động thực tế của xe máy

Trang 7

Tk: Thời gian dự kiến kế hoạch hoạt động của máy (ca máy)

Đánh giá trình độ sử dụng năng suất của máy:

Kns = SLt/SLkh Trong đó SLt là sản lượng thực tế của máy

SLkh là sản lượng kế hoạch của máy

Hiệu quả do nâng cao hệ số sẵn sàng kỹ thuật của máy được xác định:

 =(K2-K1) Trong đó:  là giá trị của tổ hợp máy

K1, K2 là hệ số sẵn sàng kỹ thuật trước và sau khi máy sửa chữa

+ Các biện pháp tổng hợp cải tiến sử dụng máy thi công:

Thường xuyên cải tiến sử dụng máy thi công là một biện pháp có hiệu quả để tăng hiệu quả SXKD của các doanh nghiệp XDGT Cụ thể là:

Cung cấp đầy đủ tài liệu hướng dẫn khai thác, bảo quản máy, ghi chép có hệ thống các thông tin về máy (năm chế tạo; số và ký hiệu; ngày mua và giá cả; giá trị còn lại; sơ đồ khai thác; giá thuê; giờ vận hành có thể và thực tế; định mức tiêu hao nhiên liệu; thời gian bảo dưỡng sửa chữa ) và có kế hoạch bồi dưỡng kèm cặp cho các đơn vị, cá nhân liên quan Khai thác vận hành và bảo trì xe máy có liên quan chặt chẽ với nhau, cần quan tâm sửa chữa dự phòng xe máy theo kế hoạch và để ý tới phụ tùng thay thế; bố trí sơ đồ điều phối xe máy hợp lý trong kỳ thi công; lựa chọn chế độ công tác hợp lý an toàn của máy, cần căn cứ vào điều kiện sản xuất và tính năng sử dụng của từng loại máy; tăng cường tính đồng bộ của máy, thực hiện máy có nhiều tác nghiệp hoặc máy cái có nhiều trang bị Tổ chức lực lượng xe máy đồng bộ, thành phần cần đủ loại để có thể phối hợp hoàn thành một quá trình sản xuất nhất định Thường xuyên nâng cao trình độ lãnh đạo cơ giới cho cán bộ chỉ huy và có kế hoạch nâng cao hệ thống tay nghề cho công nhân điều khiển và sửa chữa máy thi công, kể cả người trông nom bảo quản máy móc, thiết bị và dụng cụ trên công trường

Khi hình thức tổ chức xây dựng có biến đổi phải thay đổi hình thức tổ chức quản lý khai thác máy thi công; phải nâng cao trình độ tổ chức khai thác máy cho phù hợp với trình độ phát triển sản xuất xây dựng và TBKT trong lĩnh vực SXXD Ví dụ sơ đồ điều phối máy thi công - biểu đồ công tác một số thiết bị của doanh nghiệp xây dựng giao thông trong năm kế hoạch

TT Các công trình

Các quý Thời kỳ làm việc

đầu

Kết thúc

1

2 3

Cầu A Cầu cảng X Sân bay

Thiết bị cọc khoan nhồi 3 4.04 3.7.04 Cần cẩu 5.6.04 5.7.04

Máy rải thảm 8.10.04 31.11

6.4 TỔ CHỨC CÔNG TÁC VẬN CHUYỂN

Trang 8

6.4.1 Ý nghĩa và các dạng vận chuyển

Hoạt động SXKD của nhà thầu phụ thuộc nhiều từ hoạt động vận tải cả về tiến độ và chi phí Chi phí hoạt động vận tải chiếm đến 14% giá trị công tác xây dựng và 20-25% giá thành công tác xây lắp Hiệu quả của công tác tổ chức vận chuyển phụ thuộc ở việc bố trí đúng đắn các cơ sở sản xuất, chuyên môn hoá vận tải, lựa chọn đúng các dạng vận chuyển và ở trình độ sử dụng hợp

lý phương tiện vận tải, giảm khối lượng bốc dỡ, vận chuyển vòng quanh và giảm diện tích kho bãi

Có hai dạng vận chuyển: vận chuyển ngoài và vận chuyển nội bộ

- Vận chuyển ngoài: Là vận chuyển từ các điểm cung cấp tới kho (khu vực hoạt động) của đơn vị xây lắp Thông thường là vận chuyển bằng đường sắt, đường thuỷ và ô tô

-Vận chuyển nội bộ: Là vận chuyển nội bộ (bên trong), chủ yếu bằng ô tô và các phương tiện chạy ở cự ly ngắn dùng để đưa vật liệu cấu kiện từ kho đến các điểm tiêu dùng

6.4.2 Các bước tổ chức vận tải

+ Xác định khối lượng vận chuyển: Nhằm xác định cường độ cần vận chuyển trong một ngày đêm (Qnđ) ở đây:

Qnđ = (Qn/T).K

Qn là khối lượng vật liệu cần vận chuyển trung bình trong thời kỳ thi công

T là độ dài thời kỳ vận chuyển

K là hệ số không điều hoà vận chuyển

Tính Qn theo từng loại vật liệu chủ yếu

+ Xác định địa điểm xuất và nhập hàng (tìm luồng hàng):

Cần lập bảng thể hiện khối lượng vật tư phải vận chuyển và các điểm cung cấp dưới dạng bảng

Nơi tiêu dùng Công trình

A

Công trình B

Công trình

C Tổng cộng Nơi cung

cấp

1 2 3 4

Trang 9

Tổng cộng

Lựa chọn tính toán phương tiện vận chuyển:

 Chọn sơ bộ: Căn cứ vào mạng lưới đường cụ thể có sẵn và xét đến đặc điểm kinh tế của từng loại vận chuyển mà quyết định trực tiếp chọn loại phương tiện cho thích hợp Ví dụ, ở cự ly ngắn nên dùng ô tô

 So sánh dựa trên các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật: Là sự lựa chọn phương tiện dựa trên việc kết hợp các yếu tố: khối lượng vận chuyển, cự ly vận chuyển, đặc điểm vùng lãnh thổ, thời kỳ xây dựng, trạng thái giao thông và điều kiện xếp dỡ Chỉ tiêu chủ yếu để quyết định là giá thành vận chuyển một tấn hàng

Cvc = ( C1 +C2+C3+C4)/Qn Trong đó:

C1 là chi phí một lần (như xây dựng đường, chi phí vận chuyển đến nơi xây dựng và các công trình phục vụ khai thác đường

C2 chi phí khai thác, bảo quản các loại động cơ

C3 chi phí bốc xếp

C4 chi phí phụ tùng

Qn là khối lượng vận chuyển trong kỳ kế hoạch

 Tính toán số phương tiện vận tải:

Xác định khả năng lưu thông của đường (xác định chu kỳ quay vòng phương tiện):

Tck = Tx + 2L/Vtb + Td Trong đó: Tx, Td là thời gian xếp và dỡ hàng

L là cự ly vận chuyển trung bình

Vtb là tốc độ trung bình của phương tiện

Xác định Tck là căn cứ để xác định số phương tiện, đồng thời còn xác định khả năng đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật khác Ví dụ thời gian cho phép vận chuyển bê tông nhựa nóng

Tính số lượng ô tô

Nôtô = (Q Tck)/T.q Trong đó: Q là khối lượng hàng hoá cần vận chuyển

T là thời gian làm việc của phương tiện trong ngày

q là trọng tải có ích của phương tiện

Tck là thời gian quay vòng phương tiện

Tính số ô tô bình quân tại trạm xe

Trang 10

Ntb = Nôtô/K

K là hệ số sử dụng trạm xe

+ Tổ chức vận chuyển:

 Đối với đường sắt:

Yêu cầu phải giải phóng toa xe nhanh nhờ tăng cường cơ giới hoá bốc dỡ, tăng cường chạy tàu có tải, tổ chức tàu chạy suốt (không thay lập đoàn tàu)

 Đối với ô tô:

Cần nâng cao chất lượng của hợp đồng quan hệ giữa đơn vị xây lắp và đơn vị vận tải Tối ưu hoá kế hoạch vận chuyển và cấu trúc phương tiện vận chuyển cho phù hợp nhu cầu phong phú của chủng loại sản phẩm

Thường xuyên cải tiến kế hoạch tác nghiệp, chọn phương tiện hợp lý, sơ đồ vận chuyển tối

ưu, bố trí hợp lý các cơ sở khai thác, sản xuất, gia công và loại đường vận chuyển kinh tế nhất

6.5 TỔ CHỨC CUNG ỨNG VẬT TƯ KỸ THUẬT CHO XÂY DỰNG

6.5.1 Vị trí, nhiệm vụ cung ứng vật tư kỹ thuật cho xây dựng

XDGT chỉ có thể tiến hành được khi có sự cung cấp, đảm bảo được các đầu vào (đối tượng lao động) cho các quá trình tạo ra sản phẩm xây dựng

Cung cấp VTKT là một trong những khâu quan trọng nhất của hoạt động xây dựng Tổ chức tốt cung ứng VTKT sẽ góp phần cải tiến được các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật trong hoạt động kinh doanh của nhà thầu, vì chi phí vật tư là yếu tố chủ yếu cấu tạo nên giá thành công trình (chiếm tới 70-80% giá thành công tác xây lắp) Muốn giảm được chi phí vật liệu phải tổ chức hợp lý việc cung cấp VTKT; ngược lại sẽ gây tổn thất chi phí vật tư, làm tăng giá thành công trình Mối quan hệ ảnh hưởng của các nhân tố tới chi phí vật liệu được thể hiện:

Yêu cầu đặt ra đối với hoạt động mua sắm VTKT là: Phải thực hiện đúng hợp đồng, đúng giá, đúng nơi, đúng chủng loại, đúng chất lượng và đáp ứng kịp tiến độ xây lắp

Trong xí nghiệp XDGT, cung ứng VTKT phải giải quyết được các nhiệm vụ sau đây:

+ Xác định đủ nhu cầu vật tư trong kỳ kế hoạch, tìm hiểu khả năng và thiết lập các hợp đồng với từng nhà cung cấp nhằm đáp ứng yêu cầu VTKT cho xây lắp các công trình Muốn vậy phải căn cứ vào kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp và nhu cầu của các thầu phụ, khối lượng công tác xây lắp bằng hiện vật, các bản vẽ thi công và các dự toán; các định mức sản xuất, tiêu hao vật liệu và giá; các thông tin về khai thác, liên kết để khai thác vật liệu địa phương tại vùng lãnh thổ như: cự ly vận chuyển, khả năng sản xuất, giá thành khai thác và dịch vụ khác Người thiết kế đưa ra bản liệt kê danh sách nguyên vật liệu và phải được kiểm tra chặt chẽ để đảm bảo độ chính xác Danh sách thiết bị và nguyên vật liệu là cơ sở cho các hoạt động mua sắm Đối với các dự

Khoản mục

vật liệu

Giá vật liệu

Sử dụng và tiết kiệm số lượng vật liệu

Tổ chức vận chuyển, bảo quản vật liệu

Sử dụng các vật liệu hiệu quả

Ngày đăng: 01/11/2015, 08:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w