1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng bọ rùa đỏ (Micraspis discolor Fabr.) và chế phẩm làm từ cây cúc (Bidens pilosa L.), lá cà chua (Lycopersicum esculentum Mill.) phòng trừ sâu hại sâu bọ hoa thập tự tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn năm 2013 2014

86 1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 7,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu của đề tài Xác định được mật độ thích hợp của bọ rùa đỏ phòng trừ rệp hại rau họ cảitrong ô lưới ngoài đồng ruộng để khẳng định được vai trò tác dụng của chúngđồng th

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

- -NGUYỄN THỊ HUYỀN

SỬ DỤNG BỌ RÙA ĐỎ (Micraspis discolor Fabr.) VÀ CHẾ PHẨM LÀM TỪ CÂY CÚC (Bidens pilosa L.),

LÁ CÀ CHUA (Lycopersicum esculentum Mill.) PHÒNG TRỪ

SÂU HẠI RAU HỌ HOA THẬP TỰ TẠI XÃ KIM LIÊN,

HUYỆN NAM ĐÀN NĂM 2013-2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

NGHỆ AN, 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

- -NGUYỄN THỊ HUYỀN

SỬ DỤNG BỌ RÙA ĐỎ (Micraspis discolor Fabr.) VÀ CHẾ PHẨM LÀM TỪ CÂY CÚC (Bidens pilosa L.),

LÁ CÀ CHUA (Lycopersicum esculentum Mill.) PHÒNG TRỪ

SÂU HẠI RAU HỌ HOA THẬP TỰ TẠI XÃ KIM LIÊN,

HUYỆN NAM ĐÀN NĂM 2013-2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng

Mã số: 60 62 01 10

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thanh

NGHỆ AN, 2014

Trang 3

Tôi xin cam đoan công trình “Sử dụng bọ rùa đỏ (Micraspis discolor

Fabr.) và chế phẩm thảo mộc làm từ cây cúc (Bidens pilosa L.), lá cà chua (Lycopersicum esculentum Mill.) phòng trừ sâu hại rau họ hoa thập tự tại xã

Kim Liên, huyện Nam Đàn năm 2013- 2014” là của riêng tôi Các số liệu, kết

quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳcông trình nào khác Tôi cũng xin cam đoan rằng, các thông tin trích dẫn trongluận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Nghệ An, ngày tháng 10 năm 2014

Tác giả

Nguyễn Thị Huyền

Trang 4

Đề tài “Sử dụng bọ rùa đỏ (Micraspis discolor Fabr.) và chế phẩm

thảo mộc làm từ cây cúc (Bidens pilosaL.), lá cà chua (Lycopersicum

esculentum Mill.) phòng trừ sâu hại rau họ hoa thập tự tại xã Kim Liên,

huyện Nam Đàn năm 2013- 2014” được thực hiện từ tháng 09 năm 2012 đến

tháng 07 năm 2014 Trong suốt thời gian thực hiện đề tài tôi đã nhận được rấtnhiều sự giúp đỡ của các Thầy Cô giáo Khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại họcVinh

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Tiến sỹNguyễn Thị Thanh, Cô giáo kính quý đã luôn tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôitrong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các Thầy Cô giáo Khoa Nông Lâm Ngư đặcbiệt là Bộ môn Bảo vệ thực vật và Trung tâm thực hành thí nghiệm đã tạo điềukiện để tôi thực hiện đề tài này

Tôi xin cảm ơn người dân ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn đã giúp đỡ tôitrong quá trình thu thập mẫu vật thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi vô cùng biết ơn gia đình, người thân, bạn bè đã động viên,giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Nghệ An, ngày tháng 10 năm 2014

Tác giả

Nguyễn Thị Huyền

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1.Cơ sở khoa học của đề tài 5

1.1.1.Biện pháp sinh học là cốt lõi của IPM VÀ IPM-B 5

1.1.2 Các loài sâu hại rau họ HTT 7

1.1.3 Các loài thiên địch trên rau họ HTT 7

1.1.4 Cơ chế tác động của thuốc thảo mộc lên sâu hại 8

1.1.5 Đặc điểm của bọ rùa đỏ (Micraspis discolor Fabr.) 9

1.1.6 Đặc điểm của cây cúc (Bidens pilosa L.) 11

1.1.7 Đặc điểm của cây cà chua (Lycopersicum esculentum Mill.) 12

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 13

1.3 Tổng quan nghiên cứu thành phần côn trùng bắt mồi trên sinh quần ruộng rau họ hoa thập tự (HTT) 15

1.3.1.Thành phần côn trùng bắt mồi trên sinh quần ruộng rau họ HTT trên thế giới15 1.3.2 Thành phần côn trùng bắt mồi trên sinh quần ruộng rau họ HTT ở Việt Nam 16

1.4.Tình hình nghiên cứu về bọ rùa bắt mồi trên thế giới và Việt Nam 18

1.4.1 Tình hình nghiên cứu về bọ rùa bắt mồi trên thế giới 18

1.4.2.Tình hình nghiên cứu bọ rùa bắt mồi ở Việt Nam 20

1.5.Tổng quan nghiên cứu chế phẩm thảo mộc phòng trừ sâu hại cây trồng nông nghiệp ở trên thế giới và Việt Nam 25

1.5.1.Tổng quan nghiên cứu chế phẩm thảo mộc phòng trừ sâu hại cây trồng nông nghiệp ở trên thế giới 25

1.5.2 Tổng quan nghiên cứu chế phẩm thảo mộc phòng trừ sâu hại cây trồng nông nghiệp ở Việt Nam 27

1.6 Đặc điểm khu vực nghiên cứu 28

1.6.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Kim Liên, huyện Nam Đàn 28

1.6.2 Tình hình sản xuất rau tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn 29

CHƯƠNG II: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

Trang 6

2.3 Dụng cụ, thiết bị nghiên cứu 30

2.4 Nội dung nghiên cứu 30

2.5 Phương pháp nghiên cứu 31

2.5.1 Phương pháp điều tra sâu hại và thiên địch trên rau họ hoa thập tự 31

2.5.2 Phương pháp sử dụng bọ rùa đỏ phòng trừ rệp 32

2.5.3 Phương pháp sử dụng chế phẩm thảo mộc phòng trừ sâu xanh bướm trắng hại rau cải trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng 33

2.6 Phương pháp thu thập, phân tích và xử lý số liệu 38

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39

3.1 Thành phần sâu hại và thiên địch trên rau họ hoa thập tự (HTT) ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An năm 2013-2014 39

3.1.1.Thành phần sâu hại rau họ HTT ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An năm 2013-2014 39

3.1.2.Thành phần côn trùng bắt mồi trên rau họ HTT ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An năm 2013-2014 42

3.2 Thử nghiệm sử dụng bọ rùa đỏ (Micraspis discolor) phòng trừ rệp hại rau họ HTT trong phòng thí nghiệm và trong điều kiện ô luới ngoài đồng ruộng 48

3.2.1.Thử nghiệm sử dụng bọ rùa đỏ phòng trừ rệp hại rau họ HTT trong PTN 48

3.2.2.Thử nghiệm sử dụng bọ rùa đỏ phòng trừ rệp hại rau họ HTT trong điều kiện ô luới ngoài đồng ruộng 48

3.2.2.1 Hiệu lực phòng trừ rệp hại rau họ HTT của bọ rùa đỏ với mật độ 4 con/m2, 6 con/m2, 8 con/m2 48

3.2.2.2 Hiệu lực phòng trừ rệp hại rau họ HTT của bọ rùa đỏ với mật độ 8 con/ m2 ở giai đoạn cây rau trồng 20-25 ngày và 30-35 ngày trong điều kiện ô lưới ngoài đồng ruộng 50

3.3 Kỹ thuật chế biến và sử dụng chế phẩm thảo mộc từ cây cúc (B pilosa) và lá cây cà chua (L esculentum) phòng trừ SXBT hại rau họ HTT 52

Trang 7

3.3.3 Kỹ thuật sản xuất chế phẩm thảo mộc từ lá của cây cà chua (Lycopersicum

3.4.3 So sánh hiệu lực phòng trừ SXBT của chế phẩm dạng dịch chiết và dạng

bột khô cây cúc (B pilosa) 57

3.4.4 Hiệu lực phòng trừ SXBT ở các tuổi khác nhau của chế phẩm dạng dịch

chiết từ cây cúc (B pilosa) 59

3.4.5 Hiệu lực phòng trừ SXBT của chế phẩm dạng dịch chiết từ cây cúc (B

pilosa) ở điều kiện ô lưới ngoài đồng ruộng 59

3.5.Sử dụng chế phẩm thảo mộc dạng dịch chiết từ lá cà chua phòng trừ SXBT hại rau họ HTT trong phòng thí nghiệm và ô lưới ngoài đồng ruộng 60

3.5.1 Hiệu lực phòng trừ SXBT của chế phẩm dạng dịch chiết từ lá cà chua ở điều kiện PTN 60

3.5.2 Hiệu lực phòng trừ SXBT ở các tuổi khác nhau của chế phẩm dạng dịch chiết từ lá cà chua nồng độ 1,5% 61

3.5.3 Hiệu lực phòng trừ SXBT của chế phẩm thảo mộc dạng dịch chiết tươi từ

lá cà chua ở điều kiện ô lưới ngoài đồng ruộng 62

3.5.4 Hiệu lực phòng trừ SXBT tuổi 1,2,3,4 hại rau họ HTT của chế phẩm từ dịch lá cà chua 1,5% trong điều kiện ô lưới ngoài đồng ruộng 64

3.6 Đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm từ dịch chiết của cây cúc, lá cây cà chua

và thuốc hóa học đến sức sống của bọ rùa đỏ 65

Trang 8

2 Kiến nghị 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

1 Tài liệu tiếng việt 69

2 Tài liệu tiếng anh 72

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 75

Trang 10

Bảng 3.1.Thành phần loài sâu hại trên sinh quần ruộng rau họ hoa thập tự ở Nam Đàn năm 2013– 2014 40 Bảng 3.2 Thành phần loài côn trùng bắt mồi trên sinh quần ruộng rauhọ hoa thập tự ở huyện Nam Đàn năm 2013 - 2014 44

Bảng 3.3 Hiệu lực phòng trừ rệp hại rau họ HTT của bọ rùa đỏ trong phòng thí nghiệm 47

Bảng 3.4 Hiệu lực phòng trừ rệp hại rau họ HTT của bọ rùa đỏ ngoài đồng ruộngvới mật độ 4, 6, 8 con/m2 48

Bảng 3.5 Hiệu lực phòng trừ rệp hại rau họ HTT của bọ rùa đỏ mật độ 8 con/m2

ở giai đoạn cây rau 20-25 và 30-35 ngày sinh trưởng ngoài đồng ruộng 50

Bảng 3.6 Hiệu lực phòng trừ SXBT của chế phẩm dạng dịch chiết nồng độ 0,6%; 0,8%; 1% và 1,2% sau 1,3,5,7 ngày phun 56

Bảng 3.7 Hiệu lực phòng trừ SXBT của chế phẩm dạng bột khô từ cây cúc (B

pilosa) nồng độ 0,6%; 0,8%; 1,0% và 1,2% 57

Bảng 3.8 Hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng hại rau họ HTT của chế phẩm

từ dịch cây và bột cây cúc 1,2% ở PTN 57

Bảng 3.9 Hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng hại rau họ HTT của chế phẩm

làm từ dịch cây cúc (B pilosa) nồng độ 1,2% ở trong PTN 58

Bảng 3.10 Hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng hại rau họ HTT của chế

phẩm làm từ dịch chiết cây cúc (B pilosa)1,2% ở ngoài đồng ruộng 59

Bảng 3.11 Hiệu lực phòng trừ SXBT hại rau họ HTT của chế phẩm làm từ dịch

lá cây cà chua ở nồng độ 0,9%, 1,2%, 1,5% trong phòng thí nghiệm 61

Bảng 3.12 Hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng hại rau họ HTT của chế phẩm làm từ dịch lá cà chua 1,5 % ở trong phòng thí nghiệm 61

Bảng 3.13 Hiệu lực phòng trừ SXBT hại rau họ HTT của chế phẩm từ dịch 63

Bảng 3.14 Hiệu lực phòng trừ SXBT tuổi 1,2,3,4 hại rau họ HTT của chế phẩm làm từ dịch lá cà chua 1,5% ngoài đồng ruộng 63

Bảng 3.15 Ảnh hưởng của chế phẩm làm từ dịch chiết cây cúc, lá cây cà chua

và thuốc hóa học tới bọ rùa đỏ 64

Trang 11

Hình 1.1 Cấu tạo hoá học của các hoạt chất trong cây cúc (Bidens pilosa) 12

Hình 1.2 Cấu tạo hoá học Tomatin trong lá cây cà chua (Lycopersicum esculentum) 13

Hình 2.1 : Phương pháp sử dụng bọ rùa đỏ phòng trừ rệp 33

Hình 2.2 Phương pháp sử dụng CPTM phòng trừ SXBT trong PTN 35

Hình 2.3 Phương pháp sử dụng CPTM phòng trừ SXBT ở ngoài đồng ruộng 37

Hình 3.1 Đa dạng thành phần sâu hại trên rau họ hoa thập tự tại xã Kim Liên, Huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (năm 2013-2014) 41

Hình 3.2 Đa dạng loài côn trùng bắt mồi trên rau họ HTT ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn (năm 2013 – 2014) 47

Hình 3.3 Kỹ thuật sản xuất chế phẩm dịch chiết từ cây cúc (B pilosa) 52

Hình 3.4.Kỹ thuật sản xuất chế phẩm dạng bột khô từ cây cúc (B.pilosa) 53

Hình 3.5 Kỹ thuật sản xuất CP dịch chiết từ lá cây cà chua (L esculentum) 54

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Rau là loại thực phẩm không thể thiếu được trong đời sống hằng ngày.Cùng với thức ăn động vật, rau cung cấp những dinh dưỡng cần thiết cho sự tồntại và phát triển của con người Tục ngữ có câu: “Cơm không rau như đau khôngthuốc” Rau cung cấp cho cơ thể những chất dinh dưỡng, đặc biệt là các vitamin,các axít hữu cơ, chất khoáng, Theo tính toán của nhiều nhà dinh dưỡng học,muốn cơ thể hoạt động bình thường cần cung cấp 2300-2500 kcal mỗi ngày,trong đó phải có 250-300 gam rau tương đương với 7,5-8 kg/tháng hay 90-108kg/năm Như vậy tổng nhu cầu rau của nước ta sẽ là 7.650 – 9.180 nghìn tấn,tổng sản lượng rau các loại năm 2006 đạt 9.650 nghìn tấn

Không như nhiều năm trước đây, các hộ dân sản xuất rau chỉ để cải thiệnbữa ăn cho gia đình, hay chỉ là tiêu thụ trong các chợ địa phương, hiện nay saunhiều năm thực hiện theo chủ trương chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp,rau xanh được đưa vào sản xuất như một giống cây trồng có giá trị kinh tế cao,thu được nhiều lợi nhuận, tăng thu nhập, tạo công ăn việc làm cho người dân,góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn vùng sản xuất rau

Việt Nam là một nước nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm, điều kiện rất thuậnlợi cho các loại rau quả phát triển Vì thế rau quả Việt Nam là những loại raunhiệt đới, ngon, quý hiếm, đa dạng về chủng loại, được sản xuất và thu hoạchquanh năm nên đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước cũngnhư trên thị trường thế giới Diện tích trồng rau quả Việt Nam là 1.685.000 hatrong đó rau 910.000 ha, quả 775.000 ha, sản lượng cả năm là 17.653.100tấn.Trong đó, rau 10.969.300 tấn, quả 6.500.000 tấn (số liệu năm 2007 của Cụctrồng trọt Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) Hàng năm Việt Nam xuấtkhẩu khoảng 300 triệu USD rau qủa cho trên 30 thị trường Châu Á, Chấu Âu,Bắc Mỹ

Là một tỉnh Bắc Trung Bộ, khí hậu mang nặng tính chất nhiệt đới gió mùa,diện tích đất đai rộng lớn và đội ngũ lao động nông thôn cần cù, nông dân tỉnhNghệ An đang tích cực sản xuất, đưa ra thị trường nhiều loại nông sản, rau màu,

Trang 13

đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, hứa hẹn một mùa rau dồi dào trong dịp Tết Nguyênđán 2011 Mặc dù bị thiệt hại nhiều do đợt mưa lũ hồi tháng 10 nhưng nhờ sự hỗtrợ từ Quỹ dự trữ quốc gia nên các huyện trong tỉnh có lượng rau giống khá dồidào Hiện nông dân ở Nghệ An đã gieo trồng 10.250 ha rau màu các loại để cungcấp cho thị trường Tết, tập trung chủ yếu ở các huyện Quỳnh Lưu, Nam Đàn,Diễn Châu, Yên Thành, Thanh Chương, Quỳ Hợp với nhiều loại rau màu phongphú như bắp cải, xà lách, diếp, củ cải, đậu, rau gia vị, bầu, bí, ớt, cà chua, dưahấu, hành, xu hào, khoai tây, khoai sọ, gừng, Theo thông tin từ Sở Nông nghiệp

và phát triển nông thôn Nghệ An, mới đây Sở đã tiến hành kiểm tra, cấp chứngchỉ cho một số vùng sản xuất rau an toàn đủ điều kiện ở TP Vinh, huyện QuỳnhLưu và huyện Nghi Lộc Sở Nông nghiệp cũng đang tập trung chỉ đạo 3 vùng lớn

là Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nam Đàn để sản xuất rau an toàn cho vụ Đông Xuân.Nam Đàn là một huyện có diện tích trồng rau lớn của tỉnh, nghề trồng raucũng có từ lâu cho thu nhập khá đến thời điểm này Ngoài việc khắc phục cơ bảnhoàn thành một số diện tích bị ảnh hưởng nặng từ trận lụt năm 2010, toàn huyện

đã khép kín gần 1.000ha rau màu hàng hoá, trong đó có 30% diện tích rau ngắnngày bước đầu đã cho thu nhập

Như chúng ta đã biết, nhóm cây rau thuộc họ hoa thập tự là nhóm thựcphẩm có ý nghĩa quan trọng đối với con người và được trồng phổ biến khắp nơitrên thế giới Cùng với nhiều địa phương khác trong cả nước, huyện Nam Đàn,tỉnh Nghệ An đang từng bước chuyển đổi cơ cấu cây trồng, trong đó chú trọngđến phát triển cây rau theo hướng rau an toàn, rau sạch Huyện Nam Đàn là mộttrong ba địa phương phát triển vùng rau chuyên canh theo định hướng của tỉnh

Về mặt dinh dưỡng, rau cung cấp cho cơ thể những chất quan trọng có tácdụng điều hòa cân bằng kiềm tan trong máu làm tăng khả năng đồng hóa Protein.Ngoài ra, chúng còn bổ sung lượng vitamin và các chất khoáng cần thiết giúp cơthể chống bệnh phù thũng, mỏi mệt khi làm việc, tăng sự dẻo dai cho hệ tuầnhoàn, hệ thần kinh Hằng ngày, để đảm bảo năng lượng cần thiết thì một ngườiphải dùng từ 250 – 300 g (khoảng 7,5 - 9 kg rau cho 1 người/tháng)

Trang 14

Về mặt kinh tế, rau là loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, giá trị sảnxuất 1 ha rau cao gấp 2-3 lần trồng lúa và là loại hàng hóa có giá trị xuất khẩucao Thời kỳ 1986-1990 nước ta xuất khẩu đạt 5,15 triệu USD Năm 1997 kimngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam đạt 140 triệu USD tăng 170% so với năm

1986 và chiếm 1,6% tổng kim ngạch xuất khẩu trong cả nước Đến năm 2006,kim ngạch rau quả đã đạt 500 triệu USD tăng hơn 350% so với năm 1997 vàphấn đấu đạt 650 triệu USD vào năm 2010

Về mặt xã hội, sản xuất rau góp phần tăng thu nhập cho người lao động,giải quyết việc làm cho nông dân trong những lúc nông nhàn Thậm chí ở một sốvùng trồng rau thâm canh, sản xuất rau đã trở thành thu nhập chính và là cơ hộilàm giàu cho người trồng rau

Rau xanh gồm nhiều họ khác nhau trong đó rau họ Hoa thập tự(Cruciferae) chiếm tới 50% sản lượng rau và xuất hiện quanh năm trên thịtrường Tuy nhiên, trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, nhóm rau thuộc họ hoa thập

tự với đặc điểm thân, lá mềm yếu và chứa nhiều chất dinh dưỡng luôn bị tácđộng bởi nhiều yếu tố bất lợi khác nhau, trong đó tập đoàn sâu hại gây ảnh hưởngnghiêm trọng đến năng suất cũng như phẩm chất rau

Để phòng trừ sâu hại họ Hoa thập tự, cho đến nay người nông dân vẫn chủyếu dựa vào biện pháp hóa học là chính nhưng việc tuân thủ nguyên tắc 4 đúngkhông được quan tâm (thời gian phun, chủng loại thuốc, số lần phun và nồng độsử dụng đều cao hơn nhiều so với khuyến cáo, thậm chí người nông dân còn trộnmột số loại thuốc với nhau) chính vì vậy đã xuất hiện nhiều sâu hại với tínhkháng thuốc cao như sâu tơ, sâu xanh,…làm giảm số lượng, chủng loại các loạisinh vật có ích, gây mất cân bằng sinh thái, đồng thời tạo điều kiện cho các loạisâu hại trước đây thứ yếu trở thành chủ yếu Quan trọng hơn là chất lượng rauđang bị đe dọa bởi dư lượng thuốc bảo vệ thực vật điều này có nghĩa rằng sứckhỏe con người bị ảnh hưởng nghiêm trọng Mặt khác, vấn đề đảm bảo vệ sinh

an toàn thực phẩm, đặc biệt đối với rau xanh đang trở thành một bài toán lớn chotoàn xã hội Chính vì vậy, các nhà khoa học bảo vệ thực vật đã và đang tập trungnghiên cứu biện pháp sinh học, coi đây là biện pháp cốt lõi trong hệ thống quản

lý dịch hại tổng hợp

Trang 15

Hiện nay, trong trồng rau, rệp xám (Brevicoryne brasiceae L.) và sâu xanh bướm trắng (Peris rapae L.) là những loài sâu nguy hại đối với cây rau họ Hoa

thập tự Chúng phá hại từ tháng 10 năm trước đến tháng 5 năm sau, gây hại nặngnhất trong tháng 2 trên cây rau cải Sử dụng chế phẩm thảo mộc và thiên địch làbiện pháp phòng trừ sâu hại an toàn và thân thiện với môi trường hiện nay

Các chế phẩm sinh học có nhiều ưu điểm như: không gây ảnh hưởng tới sứckhoẻ con người, vật nuôi, cây trồng và các sinh vật có ích khác Các chế phẩmhữu cơ phân huỷ nhanh trong đất nên không làm hại đến kết cấu đất và tính chấtđất mà còn góp phần tăng độ phì đất Không gây ô nhiễm đến môi trường

Xuất phát từ những lý do trên và góp phần nâng cao hiệu quả của biện phápsinh học trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất “rau an toàn” tại huyệnNam Đàn nói riêng nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng, phát triển nền nông nghiệphữu cơ bền vững, đồng thời, cung cấp đầy đủ số lượng cũng như chất lượng sản

phẩm rau cho người tiêu dùng, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Sử dụng

bọ rùa đỏ (Micraspis discolor Fabr.) và chế phẩm thảo mộc làm từ cây cúc (Bidens pilosaL.), lá cà chua (Lycopersicum esculentum Mill.) phòng trừ sâu

hại rau họ hoa thập tự tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn năm 2013- 2014”.

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Xác định được mật độ thích hợp của bọ rùa đỏ phòng trừ rệp hại rau họ cảitrong ô lưới ngoài đồng ruộng để khẳng định được vai trò tác dụng của chúngđồng thời xác định được loại chế phẩm thảo mộc, nồng độ chế phẩm, tuổi sâuphòng trừ để đạt được hiệu quả cao đóng góp thêm những dẫn liệu khoa học chobiện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên rau họ hoa thập tự

3 Yêu cầu của đề tài

- Điều tra, thu thập thành phần sâu hại rau họ hoa thập tự và côn trùng bắtmồi ở xã Kim Liên, Huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An năm 2013 – 2014

- Xác định được mật độ bọ rùa trưởng thành có khả năng khống chế sựphát triển rệp hại rau họ cải

- Nghiên cứu kỹ thuật tạo và sử dụng chế phẩm thảo mộc từ các bộ phận

khác nhau của cây cúc(Bidens pilosa L.), lá cây cà chua phòng trừ sâu xanh

bướm trong phòng thí nghiệm và ô lưới ngoài đồng ruộng

Trang 16

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Biện pháp sinh học là cốt lõi của IPM VÀ IPM-B

Khái niệm IPM (Phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng nông nghiệp) đượcđưa ra từ những năm 1970 mà tiền thân là các biện pháp IPC (Phòng trừ dịch hạimột cách tổng hợp), PC (Phòng trừ dịch hại) Trên thế giới, biện pháp này đãđược đưa vào áp dụng từ rất lâu và mang lại hiệu quả to lớn về kinh tế cũng nhưbảo đảm cho sức khỏe cho con người, vật nuôi và an toàn cho môi trường TạiViệt Nam, chỉ đến những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ XX mới được đưabiện pháp IPM vào áp dụng trong điều kiện thực nghiệm Biện pháp này đã đượcchứng minh, sau khi áp dụng năng suất cây trồng không giảm, tiết kiệm chi phí,tăng lợi nhuận, giảm rủi ro, người nông dân có thể đầu tư trở lại vào phân bón,máy móc điều khiển nước tưới cho hoàn chỉnh IPM được áp dụng trên nhiều đốitượng cây trồng nhưng nhiều nhất vẫn là trên cây lúa và cây rau [24]

Phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng nông nghiệp (IPM) là một hệ thốngđiều khiển dịch hại bằng cách sử dụng tất cả những biện pháp thích hợp trên cơ

sở sinh thái hợp lý để giữ cho quần thể dịch hại phát triển dưới ngưỡng gây hạikinh tế (EIL) (Hà Quang Hùng và Vũ Quang Côn, 1990) [8]

IPM là phương pháp dựa trên cơ sở sinh thái về mối quan hệ cây trồng vàdịch hại.Xác định ngưỡng chấp nhận kinh tế về quần thể gây hại và hệ thốngquan trắc ổn định để phát hiện dự tính dịch hại, đặc biệt tối ưu sử dụng biện phápphòng trừ sinh học [24]

Chiến lược phòng trừ dịch hại thông qua hệ thống trồng trọt (IPM-B) là tăngcường cường đa dạng sinh học trong đất và trên đất canh tác và biện pháp sinhhọc, bao gồm: tạo điều kiện cho đất có hoạt tính tốt về sinh học và dinh dưỡng,tạo điều kiện thuận lợi cho sinh vật có lợi, trong đó ưu tiên cho việc sử dụng cácchế phẩm sinh học

Biện pháp sinh học là việc sử dụng những sinh vật sống hay các sản phẩmhoạt động sống của chúng nhằm ngăn ngừa hoặc làm giảm bớt tác hại do sinh vậtgây ra” [24]

Trang 17

Vai trò của chế phẩm sinh học, trong đó có các chế phẩm thảo mộc, vi sinhvật trong sản xuất nông nghiệp được thừa nhận có các ưu điểm đó là không gâyảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng Không gây ônhiễm môi trường sinh thái Có tác dụng cân bằng hệ sinh thái (vi sinh vật, dinhdưỡng,…) trong môi trường đất nói riêng và môi trường nói chung [5].

Chế phẩm sinh học “hợp lý” có tác dụng trừ sâu là những chất có nguồn gốc

tự nhiên (hoặc được tổng hợp bắt chước những chất có nguồn gốc tự nhiên) cótác dụng hại hoặc làm chết những đối tượng gây hại như sâu, bệnh, cỏ dại vànhững côn trùng có xương sống Những chất này có phương thức tác động giốngnhau, không độc đối với người và gia súc, không hoặc ít ảnh hưởng tới môitrường và cộng đồng [6]

Các chế phẩm sinh học trừ sâu được phân vào nhóm các hóa chất sinh học(hormon, enzim, pheromon và các chất tự nhiên như chất điều tiết sinh trưởngsâu) hoặc nhóm vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, tuyến trùng hoặc động vật nguyênsinh] Từ năm 1990 trở đi, Tổ chức Bảo vệ Môi trường Mỹ đã bắt đầu sử dụngkhái niệm thuốc BVTV sinh học (biopesticide), bao gồm:

Thuốc BVTV vi sinh (microbial pesticides): Vi khuẩn, nấm, vi rút, động vậtnguyên sinh (đơn bào)

Các hợp chất hóa sinh (biochemicals): Những tự nhiên dùng để phòng trừcôn trùng theo cơ chế không độc [6]

Thông qua các tài liệu nghiên cứu phân tích về cây cúc (Bidens pilosa) thì các

nhà khoa học đã tìm thấy các chất có hoạt tính kháng sinh, kháng khuẩn cao trong

các bộ phận thân, hoa, lá, rễ, của cây cúc (Bidens pilosa) Điều đó, đồng nghĩa với

việc các chế phẩm được nghiên cứu tạo ra từ cây cúc có khả năng phát huy tác dụngtrong công tác bảo vệ thực vật phòng trừ sâu hại cây trồng trên đồng ruộng Bọ rùa

đỏ là một trong những loài rất phổ biến trên hệ sinh thái rau và có khả năng kìm hãm

sự phát triển của rệp hại rất lớn, giúp nông dân giảm thiểu việc sử dụng thuốc hóahọc phòng trừ sâu hại tạo ra nông sản hữu cơ an toàn

1.1.2 Các loài sâu hại rau họ HTT

Trang 18

Sâu hại là một trở ngại lớn trong sản xuất trồng trọt, làm giảm sản lượng

và phẩm chất của nông sản Theo số liệu của tổ chức nông nghiệp Liên hiệpquốc, sâu hại đã phá hại 1/5 sản lượng ngũ cốc, 1/6 sản lượng khoai tây, 1/5 sảnlượng đậu đỗ và 1/2 sản lượng táo trên thế giới Nếu tính cả thiệt hại trog khotàng thì hàng trăm sâu hại đã làm thiệt hại tới hàng trăm triệu tấn ngũ cốc Với sốlương thực và thực phẩm mất mát kể trên có thể nuôi 400-500 triệu người trongmột năm [14]

Ở nước ta cũng như tỉnh Nghệ An nói chung, huyện Nam Đàn nói riêng,sâu hại gây ra hậu quả rất lớn, theo ước tính của Bộ Nông nghiệp và phát triểnnông thôn thiệt hại hàng năm từ 15 -20% tổng sản lượng

Sâu hại còn làm giảm phẩm chất của nông sản nói chung và các loại câyrau nói riêng Cây rau có thân mềm, yếu và thời gian sinh trưởng ngắn nên sâuhại càng dễ dàng gây hại trên cây rau Chúng còn kéo theo sự tích tụ một số chấtđộc do sử dụng nhiều thuốc hóa học trừ sâu Môi trường không khí, đất bị ônhiễm, chi phí sản xuất tăng do phải đầu tư nhiều lao động, tiền vốn và vật tư.Sâuhại gây hại lớn như vậy nên trong sản xuất việc phòng trừ chúng có một ý nghĩa

vô cùng quan trọng

1.1.3 Các loài thiên địch trên rau họ HTT

Ở nước ta nói chung, Nam Đàn nói riêng trong sản xuất nông nghiệp cácquá trình canh tác từ khi gieo trồng đến khi thu hoạch, việc gia tăng phân hóahọc, thuốc bảo vệ thực vật,… thường xuyên thay đổi đã và đang làm giảm sự đadạng sinh học dẫn đến mất cân bằng sinh học Hệ quả, không những không tăngnăng suất, phẩm chất, nguy cơ sản phẩm không an toàn và ô nhiễm môi trườngtrầm trọng hơn, ngoài ra còn làm biến động quần thể sinh vật, nhiều loài thiênđịch giảm số lượng nghiêm trọng, không thể khống chế, không thể khống chếđược dịch hại dẫn đến dịch hại bùng phát với số lượng quá mức, gây thiệt hạingày một lớn đối với cây trồng

Để có được một nền sinh thái bền vững, hiệu quả và chất lượng, quản lýdịch hại tổng hợp (IPM) trên cây trồng là một trong những phương hướng chiếnlược quan trọng đem lại hiệu quả kinh tế, ít ảnh hưởng đến môi trường và sức

Trang 19

khỏe con người Trong IPM thì biện pháp sinh học được coi là một trong nhữngbiện pháp cốt lõi Đặc biệt vai trò ký sinh và bắt mồi được coi là những yếu tốđiều hòa số lượng sâu hại thường xuyên rất có hiệu quả và được sử dụng rộng rãitrong đấu tranh sinh học với sâu hại Vì vậy để thực hiện thành công biện phápsinh học trong IPM thì việc điều tra nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái vàsử dụng các loài thiên địch trên cây trồng là thực sự cần thiết góp phần tạo cơ sởkhoa học nhằm hạn chế sâu hại, duy trì tính đa dạng sinh học, cân bằng sinh tháiđáp ứng được nhu cầu thực tiễn của sản xuất.

1.1.4 Cơ chế tác động của thuốc thảo mộc lên sâu hại

Cơ chế tác động của thuốc thảo mộc lên sâu hại: Thuốc trừ sâu xâm nhậpvào cơ thể côn trùng qua vỏ cơ thể, qua miệng và qua đường hô hấp

* Thuốc xâm nhập qua vỏ cơ thể côn trùng

Thuốc trừ sâu có đặc tính thẩm thấu qua vỏ cơ thể côn trùng gọi là thuốc trừsâu tiếp xúc (contact insecticide) Các loại thuốc trừ sâu tiếp xúc có khả năng hoàtan trong lipit và lipoprotein và độ hoà tan này càng cao hiệu lực thuốc càng mạnh

Cơ thể côn trùng có những chỗ là đoạn da mềm như các đoạn khớp đầu, ngực, bànchân, chân lông, râu, cơ quan cảm giác Thuốc xâm nhập qua chỗ da mềm này vàqua các tuyến tiết dịch vào lớp hạ bì và màng đáy (hypodermis) rồi từ đó vào tế bàothần kinh, tế bào máu được truyền đi khắp cơ thể thông qua hệ tuần hoàn

Các chế phẩm chứa dung môi hữu cơ thẩm thấu qua lớp biểu bì mạnh hơncác chế phẩm không chứa dung môi hữu cơ Dung môi hữu cơ trong chế phẩm cókhả năng hoà tan chất béo, thấm ướt nhanh lớp biểu bì trên, hoạt chất trong chếphẩm lại ở dạng hoà tan nên dễ tiếp xúc qua vật cản hơn Do vậy thuốc trừ sâutiếp xúc ở dạng sữa hoặc dung dịch hiệu lực trừ sâu mạnh hơn ở các dạng khác

* Thuốc xâm nhập qua đường tiêu hoá

Loại thuốc trừ sâu tác động qua đường tiêu hoá gọi là thuốc vị độc(stomach insecticide) Qua miệng vào đường ruột cùng với thức ăn, thuốc đượchấp thu chủ yếu ở đoạn ruột giữa qua bao ruột peritrophit rồi khuyếch tán qua lớpbiểu bì ruột rồi vào tế bào thần kinh, máu được truyền đi khắp cơ thể Một lượng

Trang 20

nhỏ thuốc cũng có thể thấm sâu qua thành ruột trước vào thành ruột sau và đượcgiữ lại ở đó, nhất là ở vùng tế bào tuyến rectum của ruột sau.

Quá trình đồng hoá và bài tiết thức ăn tiến triển càng chậm, chất độc lưulại trong ruột lâu, lượng chất độc xâm nhập vào cơ thể càng lớn, tuy nhiên mộtphần chất độc bị phân giải do tác động của men tiêu hoá và độ pH của dịch ruột

* Thuốc xâm nhập qua đường hô hấp

Những loại thuốc ngoài tác động qua đường tiếp xúc, vị độc còn gây hiệulực qua đường hô hấp do một phần thuốc biến thành thể khí gọi là thuốc có tácdụng xông hơi (fumigant action) Chất độc xâm nhập qua lỗ thở cơ thể côn trùng

và từ đó qua hệ thống khí quản và vi khí quản vào tổ chức tế bào thông qua quátrình thông hơi (chủ yếu ở khí quản) và khuyếch tán (ở vi khí quản) Thuốc xâmnhập qua đường hô hấp gây độc nhanh và mạnh hơn so với xâm nhập qua đườngruột và qua vỏ cơ thể côn trùng bởi thuốc tác động ngay tới tế bào thần kinh.Cường độ hô hấp của côn trùng càng mạnh thuốc càng xâm nhập nhanh

Hoạt động sống của côn trùng rất tinh vi, phức tạp và được tạo nên bởi sựtrao đổi chất và năng lượng dưới sự điều khiển của hệ thần kinh Hệ thần kinhđiều hoà mọi hoạt động sống của cơ thể là cầu nối cơ quan cảm giác với các cơquan khác trong cơ thể cấu thành nên nên sự hoạt động nhịp nhàng trong hệthống sống Một trong chuỗi hoạt động sống này bị tác động của chất độc, thếcân bằng trong hệ bị phá vỡ, hoạt động sống bị ngừng trệ và cơ thể côn trùng bịtử vong (Hà Quang Hùng, 1990) [8]

1.1.5 Đặc điểm của bọ rùa đỏ (Micraspis discolor Fabr.)

Bọ rùa đỏ Micraspis discolor là loài côn trùng biến thái hoàn toàn qua 4

pha phát dục: trứng, ấu trùng, nhộng và trưởng thành

* Tập tính sống và quần tụ

Bọ rùa đỏ là loài có mặt trên rất nhiều cây trồng khác nhau Thành phầnthức ăn của chúng cũng rất phong phú Theo kết quả nghiên cứu điều tra ngoài tựnhiên của một số tác giả (Hoàng Đức Nhuận, 1982; Phạm Văn Lầm, 2002) thì ởViệt Nam có 19 loài côn trùng là thức ăn của bọ rùa đỏ (dẫn theo Phạm Quỳnh

Trang 21

Mai, 2010) [14], ngoài ra khi số lượng côn trùng thức ăn của bọ rùa chưa xuấthiện thì chúng cư ngụ trên các cây thuộc họ hòa thảo và sử dụng phấn hoa củacác cây này làm thức ăn Chúng tăng số lượng cá thể lên khi mật độ thức ăn rệpphát triển mạnh Khi nguồn thức ăn cạn kiệt hay môi trường sống thay đổi chúng

di chuyển đến những bụi rậm, cỏ lồng vực nơi có thức ăn để trú ngụ Các phaphát dục có tập tính sống khác nhau

Bọ rùa trưởng thành sống từng cá thể riêng lẻ, lúc thời điểm cặp đôi chúngtập trung thành từng nhóm tìm bạn để cặp đôi, sau khi cặp đôi con cái đẻ trứngthành từng ổ tập trung, sau khi trứng nở ấu trùng tuổi 1, 2 sống tập trung và dichuyển xung quanh ổ trứng, sang tuổi 3, 4 phân tán hoạt động rộng hơn và sống

tự do trên sinh quần đồng ruộng, đến khi tuổi 4 đạt kích thước tối đa chúngngừng ăn chuyển sang giai đoạn tiền nhộng và hóa nhộng sang trưởng thànhngay trên nơi chúng cư ngụ

* Tập tính ăn mồi của bọ rùa đỏ Micraspis discolor

Theo dõi hàng trăm cá thể Micraspis discolor trưởng thành cũng như ở

các tuổi của bọ rùa, kết quả cho thấy: khả năng săn mồi và sức ăn mồi càngnhanh nhạy và mạnh tăng dần theo độ tuổi của ấu trùng Bọ rùa non ở tuổi 1 sốngtập trung ít hoạt động nên khả năng ăn mồi rất thấp chủ yếu là vỏ trứng đã nở vàrệp con nhưng không đáng kể, sang tuổi 2 bắt đầu bắt đầu di chuyển đi săn mồiban đầu là những con mồi nhỏ trung bình 1-3 con mồi/ngày Số lượng con mồi bị

ăn thịt/ ngày tăng dần đến tuổi 4 trung bình tiêu diệt 5-7 con mồi/ngày và sangtuổi trưởng thành khả năng hoạt động rộng nhờ đôi cánh, sức ăn cũng mạnh nhất,trung bình một cá thể trưởng thành tiêu diệt 10-12 con mồi/ngày

Khi số lượng vật mồi giảm dần một số cá thể Micraspis discolor có xu

hướng cạnh tranh con mồi Trong quá trình săn mồi và ăn mồi những tác động

xung quanh cũng có thể ảnh hưởng đến Micraspis discolor, chúng thả con mồi ra

và tản đi nơi khác Sau khi ăn mồi chúng bỏ xác con mồi lại (phần đầu của rệp)

và di chuyển đi chỗ khác, nếu chưa no thì tiếp tục lựa chọn con mồi khác

Trang 22

Quá trình ăn mồi diễn ra như sau: Bọ rùa đỏ Micraspis discolor xác định

được con mồi ưa thích, chúng bay sà đúng vị trí con mồi và dùng hai chân trướcgiữ chặt con mồi rồi bắt đầu ăn thịt bằng cách cắn vào con mồi theo các vị tríkhác nhau trên cơ thể con mồi có thể cắn từ phần bụng, phần ngực hoặc phầnđầu Đặc điểm giống nhau khi săn mồi giữa các tuổi là chúng chọn con mồi vàtấn công ngay chứ không vờn con mồi

Vị trí trên cơ thể rệp bị bọ rùa cắn nhiều nhất là phần bụng, rồi đến phầnđầu, và phần ngực Khi bị bọ rùa cắn, rệp bị giữ chặt bởi 2 chân trước của bọ rùa

nên không thể thoát ra được Micraspis discolor thường chỉ ăn phần bụng bỏ dở

phần đầu rồi đi tìm con mồi khác nhưng cũng có khi ăn hết con này nếu chưa nomới tìm con mồi khác

1.1.6 Đặc điểm của cây cúc (Bidens pilosa L.)

Bidens pilosa vừa là một loài cỏ dại trong một số môi trường sống nhiệt

đới, vừa là một loại thảo dược Cây này có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và Trung

Mỹ Khả năng thích ứng tốt, sức sinh sản cao và phát triển rất nhanh, mạnh trong

tự nhiên Bidens pilosa là một loại thảo dược hàng năm, cây cao từ 0,3 – 0,4m.

Lá hình trứng, có 5-9 thùy lá dài 3-20 cm và rộng 2,5-12 cm Phân đoạn lá hìnhtrứng đến hình mũi mác, có răng như răng cưa Thân cây màu đỏ tía, 4 góc cạnh,đơn giản hoặc phân nhánh Hoa hình chùy, tràng hoa dài 7-15 mm có màu vàng,màu trắng hoặc hơi hồng, đĩa hoa với 3,5 - 5 mm dài (Pier, 2007) (dẫn theoDương Hoa Xô, 2007) [24]

Bidens pilosa được sử dụng như là một cây thuốc ở khu vực Châu Phi,

Châu Á và Châu Mỹ Rễ, lá và hạt của loài cây này có khả năng kháng khuẩn,chống viêm, chống sốt rét, lợi tiểu và chữa hạ huyết áp Tại Châu Phi,

Bidenspilosa được sử dụng để điều trị đau đầu, nhiễm trùng tai, tiêu chảy, một số

bệnh liên quan đến thận, sốt rét, vàng da, kiết lỵ, bỏng, viêm khớp, viêm loét Nócũng được sử dụng như một thuốc gây mê, đông máu và điều trị dễ dàng sinh con(Mvere, 2004) (dẫn theo Dương Hoa Xô, 2007) [24]

Trang 23

Nghiên cứu thành phần hoá học của dịch chiết từ cây Bidens pilosa người

ta đã xác định được cấu trúc các chất như sau:

benzopyrone

Hình 1.1 Cấu tạo hoá học của các hoạt chất trong cây cúc (Bidens pilosa)

1.1.7 Đặc điểm của cây cà chua (Lycopersicum esculentum)

Cây cà chua là loài cây thảo sống theo mùa, thân cây tròn, phân nhiềucành Rễ chùm, ăn sâu và phân nhánh mạnh, khả năng phát triển rễ phụ rất lớn.Trong điều kiện tối ưu những giống tăng trưởng mạnh có rễ ăn sâu 1 - 1,5m vàrộng 1,5 - 2,5m vì vậy cà chua chịu hạn tốt Bộ rễ ăn sâu, cạn, mạnh hay yếu đều

có liên quan đến mức độ phân cành và phát triển của bộ phận trên mặt đất, do đókhi trồng cà chua tỉa cành, bấm ngọn, bộ rễ thường ăn nông và hẹp hơn so vớiđiều kiện trồng tự nhiên Thân tròn, thẳng đứng, mọng nước, phủ nhiều lông, khicây lớn gốc thân dần dần hóa gỗ Thân mang lá và phát hoa Ở nách lá là chồinách Chồi nách ở các vị trí khác nhau có tốc độ sinh trưởng và phát dục khácnhau, thường chồi nách ở ngay dưới chùm hoa thứ nhất có khả năng tăng trưởngmạnh và phát dục sớm so với các chồi nách gần gốc Lá thuộc lá kép lông chim

lẻ, mỗi lá có 3 - 4 đôi lá chét, ngọn lá có 1 lá riêng gọi là lá đỉnh Rìa lá chét đều

có răng cưa nông hay sâu tùy giống Phiến lá thường phủ lông tơ Đặc tính lá củagiống thường thể hiện đầy đủ sau khi cây có chùm hoa đầu tiên Cây cà chua là

Trang 24

cây chịu ấm, một trong những điều kiện cơ bản để có được sản lượng cao và sớm

ở cà chua là tạo chế độ nhiệt độ tối ưu cho cây 21-24oC, nếu nhiệt độ đêm thấphơn ngày 4-5oC thì cây cho nhiều hoa Các thời kỳ sinh trưởng và phát triển khácnhau của cây đòi hỏi nhiệt độ không khí và đất nhất định Ngoài ra, nó còn là cây

ưa sáng, không nên gieo cây con ở nơi bóng râm, cường độ tối thiểu để cây tăngtrưởng là 2.000 - 3.000 lux, không chịu ảnh hưởng quang kỳ Ở cường độ ánhsáng thấp hơn hô hấp gia tăng trong khi quang hợp bị hạn chế, sự tiêu phí chấtdinh dưỡng bởi hô hấp cao hơn lượng vật chất tạo ra được bởi quang hợp, do đócây sinh trưởng kém Trong lá cà chua đã xác định được có thành phần hóa họctomatin - một hoạt chất kháng sinh, kháng khuẩn cao được thể hiện qua côngthức cấu tạo:

Hình 1.2 Cấu tạo hoá học Tomatin trong lá cây cà chua L esculentum

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Trồng rau ở Việt Nam là nguồn thu nhập quan trọng của nông dân, ướctính chiếm khoảng 9% trong tổng số thu nhập từ nông nghiệp bao gồm cả trồnglúa Có thể nâng cao tiềm năng thu nhập cho người trồng rau thông qua việc pháthuy tối đa khả năng tăng năng suất và chất lượng của sản phẩm rau do họ làm ra.Tuy nhiên, còn nhiều mặt tồn tại trong ngành sản xuất rau ở Việt Nam dẫn đếnhạn chế việc mở rộng và phát triển ngành trồng rau cũng như tăng thu nhập chonông dân Đặc biệt là dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, nitơrat và các dư chất độchại khác trong sản phẩm còn cao Nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng có tới 22% rauđược tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay có thể chưa an toàn do dư lượng của thuốc

Trang 25

bảo vệ thực vật, nhiễm kim loại nặng và Nitrosamin còn ở mức cao (theo báoSức khỏe và đời sống, số 204, tháng 12/2002) Ở Hà Nội có đến 9% các mẫu raukiểm tra vượt quá dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cho phép và 7% có dư lượngcủa danh mục thuốc bảo vệ thực vật bị cấm sử dụng (Moustier, Bridger et al.2002; Anh, Ali et al 2004) Tại Nghệ An có trên 30% mẫu rau kiểm tra có dưlượng thuốc trừ sâu, trong đó, vượt ngưỡng cho phép trên 15% (P.V.Chương,2008) [3] Ngoài dư lượng thuốc bảo vệ thực vật thì hàm lượng nitơrat trong sảnphẩm rau quả nhìn chung cao hơn giới hạn cho phép, điều này là do nông dân sửdụng quá nhiều lượng phân đạm [2].

Cho dù sử dụng quá nhiều thuốc bảo vệ thực vật, nhưng phần lớn năngsuất cây trồng đã bị giảm do sâu bệnh, cụ thể với rau ăn lá giảm 25%, rau họ bầu

bí giảm 23%, rau cải là 32% Ngoài vấn đề dư lượng thuốc bảo vệ thực vật thì ẩm

độ tương đối của không khí ở nhiều vùng trồng rau luôn cao (trên 75%) đã dẫnđến việc sử dụng thuốc trừ bệnh trên lá và thuốc diệt nấm tăng cao [2]

Theo kết quả nghiên cứu, những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sức ép về

vệ sinh an toàn thực phẩm là do sử dụng bừa bãi các loại hóa chất trong sảnphẩm rau quả tươi sống, côn trùng thiên địch bị tiêu diệt, hiện tượng nhờn thuốccủa một số loại sâu hại đã gây thành dịch hại ở nhiều vùng trồng rau, giốngkhông có khả năng kháng bệnh [3]

Bên cạnh những thực trạng đó, xã hội ngày càng phát triển, đời sống conngười ngày càng tăng, nhu cầu về lương thực, thực phẩm an toàn là vấn đề quantâm cấp thiết và nỗi lo của toàn xã hội hiện nay Trong tất cả các khâu để sảnxuất lương thực thực phẩm an toàn thì phòng trừ sâu, bệnh hại bằng biện phápsinh học là khâu quan trọng cho năng suất và chất lượng lương thực, thực phẩm

an toàn Phòng trừ sâu hại bằng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trong

đó việc sử dụng thiên địch nhằm hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc hóa học rất có

ý nghĩa và cần được quan tâm

Trang 26

1.3 Tổng quan nghiên cứu thành phần côn trùng bắt mồi trên sinh quần ruộng rau họ hoa thập tự (HTT)

1.3.1.Thành phần côn trùng bắt mồi trên sinh quần ruộng rau họ HTT trên thế giới

Nhiều nhà khoa học trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu về thiên địch củasâu hại rau họ HTT và nhận xét rằng đây là nhóm khá phong phú bao gồm cácloài côn trùng bắt mồi, ký sinh, nấm, vi khuẩn, virut Việc xác định thành phầnthiên địch, đánh giá vai trò của chúng tạo cơ sở cho biện pháp sử dụng thiên địchtrong quản lý dịch hại tổng hợp sâu hại rau Ở mỗi quốc gia, mỗi vùng sinh thái,thành phần các loài sâu hại khác nhau dẫn đến thành phần thiên địch cũng khácnhau Đến nay đã có rất nhiều loài thiên địch của sâu hại rau họ HTT được pháthiện với số loài, thành phần loài khác nhau ở mỗi quốc gia

Ở Nhật Bản đã phát hiện có ít nhất 14 loài côn trùng bắt mồi sâu hại rau (7loài nhện và 7 loài côn trùng), 8 loài ong ký sinh và 1 loài vi sinh vật gây bệnh(Yamada and Yamaguchi, 1985) [48]

Vào những năm 1978 – 1980 ở Trung Quốc đã điều tra và xác định đượcthành phần thiên địch của sâu hại rau có 17 loài nhện, côn trùng bắt mồi và kýsinh Trong hai năm 1983 - 1984, ở Wuchang, Hubei (Trung Quốc) đã thu thậpđược 50 loài thiên địch trên rau cải trong số đó có 35 loài côn trùng bắt mồi ănthịt và 15 loài ký sinh (Zong et al., 1986) [49] Nghiên cứu thành phần thiên địch

của sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae) ở Trung Quốc đã xác định được 53 loài

bao gồm 34 loài côn trùng bắt mồi và 19 loài ong ký sinh, trong số đó có 4 loài

có vai trò quan trọng trong điều hòa số lượng quần thể sâu xanh bướm trắng.Thiên địch của sâu tơ có 23 loài, thiên địch của rệp hại rau cải có 7 loài (Wangand Liu, 1995) [47]

Thành phần thiên địch của sâu hại rau họ HTT ở Carolina (Hoa Kỳ) cũng

đã được quan tâm nghiên cứu, kết quả đã xác định được 24 loài thiên địch trong

đó có 23 loài bắt mồi và chỉ có 1 loài ký sinh [31] Ở Jamaica đến năm 1990 đãghi nhận 20 loài thiên địch của sâu hại rau thập tự, trong đó có 8 loài côn trùng

Trang 27

bắt mồi, 5 loài ong ký sinh bậc 1, 4 loài ký sinh bậc 2 và 3 loài vi sinh vật gâybệnh cho sâu hại (Alam, 1992) [27].

Ở Bangladesh đã thu thập được 6 loài côn trùng bắt mồi và 5 loài côn trùng

ký sinh trên sâu hại rau họ HTT, trong số đó có 1 loài ký sinh bậc 2 (Ali, Karim,1995) [29]

Trong thời gian 1993 – 1995, nghiên cứu ở Ấn Độ đã khẳng định các loài

ruồi ăn rệp (Episyrphus balteatus, Metasyrphus confrater, Ischiodon scutellaris), các loài bọ rùa (Coccinella transversalis, C septempunctata, Menochilus

sexmaculatus) và ong ký sinh có mối quan hệ chặt chẽ với vật mồi là rệp cải (B brassicae) (Devi et al., 1999) [30].

Các kết quả nghiên cứu cho thấy thành phần côn trùng bắt mồi của sâu hạirau họ HTT rất phong phú, tuy nhiên việc nghiên cứu và đánh giá vai trò của cácloài côn trùng bắt mồi còn ít và tản mạn

1.3.2 Thành phần côn trùng bắt mồi trên sinh quần ruộng rau họ HTT ở Việt Nam

Ở Việt Nam cho đến nay đã một số dẫn liệu công bố về thành phần thiênđịch sâu hại rau họ HTT Hà Quang Hùng và Vũ Quang Côn (1990) [8] đã ghinhận 14 loài côn trùng bắt mồi thuộc bộ cánh cứng và bộ hai cánh, 3 loài ong kýsinh là thiên địch của sâu hại rau vùng Hà Nội

Nguyễn Viết Tùng (1992) [23] đã ghi nhận thành phần bọ rùa ăn rệp trêncây rau và một số loại cây trồng khác ở đồng bằng sông Hồng có 13 loài trong số

đó 5 loài phổ biến là bọ rùa đỏ, bọ rùa 10 chấm đen, bọ rùa 6 vệt đen, bọ rùa mỏneo và bọ rùa 2 mảng đỏ

Nguyễn Công Thuật (1996) [21] đã thống kê thiên địch thường thấy trênsâu hại rau bắp cải có 31 loài, trong đó có 21 loài côn trùng và nhện lớn bắt mồi,

6 loài côn trùng ký sinh và 4 loài vi sinh vật gây bệnh Kết quả điều tra ở vùngrau ngoại thành Hà Nội đã thu thập được 56 loài thiên địch trên rau họ HTT,trong đó đã xác định được tên khoa học cho 48 loài gồm 24 loài bắt mồi, 11 loài

ký sinh sâu hại, 8 loài ký sinh bậc 2 và 5 loài ký sinh trên các côn trùng bắt mồi(Phạm Văn Lầm, 1999) [10]

Trang 28

Theo Lê Văn Trịnh (1999) [22] trên cây rau họ HTT ở vùng đồng bằngSông Hồng có 20 loài thiên địch của sâu hại gồm 13 loài côn trùng và nhện bắtmồi, 3 loài ong ký sinh và 4 tác nhân gây bệnh.

Thiên địch của rệp muội được biết đến rất đa dạng, một số loài phổ biến như

Coccinella transversalis Fabr., Cryptogonus orbiculus Gyllen, Harmona octomaculata Fabr., Micraspis discolor Fabr., Propylea japonica Thumb., Scymnus hoffanni Weiseva, Diplazon sp., Ischiodon scutellaris Fabr trong đó Coccinella transversalis và Ischiodon scutellaris đóng vai trò quan trọng trong hạn chế rệp Aphiscraccivora Koch (Phạm Văn Lầm, 2008 [12]).

Trong thời gian từ 1995 - 2002 đã xác định đươc 45 loài kẻ thù tự nhiêncủa sâu hại rau thập tự ở khu vực ngoại thành Hà Nội và phụ cận gồm 21 họthuộc 5 bộ côn trùng và 1 bộ nhện (Lê Thị Kim Oanh, 2002) [16]

Hồ Thị Thu Giang (2002) [6] đã xác định được 77 loài thiên địch trên sinhquần rau thập tự, trong đó có 60 loài bắt mồi (48 loài côn trùng, 12 loài nhện lớn)

và 17 loài ký sinh Côn trùng bắt mồi khá đa dạng thuộc nhiều bộ khác nhau, bộCánh cứng có 36 loài, thuộc 4 họ, họ bọ chân chạy có 19 loài, họ bọ rùa 11 loài,

họ bọ cánh cộc 4 loài Bộ Hai cánh có 3 loài thuộc họ Syrphidae, bộ Cánh khác

có 4 loài thuộc 2 họ, tần suất bắt gặp nhóm này trên đồng ruộng rất thấp BộCánh da có 2 loài, bộ Bọ ngựa, bộ Chuồn chuồn mỗi bộ chỉ có 1 loài với tầnsuất bắt gặp thấp

Ở Nghệ An cho đến nay mới chỉ có một công trình nghiên cứu về đa dạngloài côn trùng và nhện bắt mồi trên lúa Kết quả đã xác định được thành phầncánh cứng bắt mồi có 38 loài, bọ xít bắt mồi có 15 loài, nhện bắt mồi có 11 loài(Trần Ngọc Lân, 2000) [13]

Các kết quả nghiên cứu cho thấy thành phần côn trùng bắt mồi của sâu hạirau họ HTT rất phong phú, tuy nhiên việc nghiên cứu và đánh giá vai trò của cácloài côn trùng bắt mồi còn ít và tản mạn Ở Việt Nam, các nghiên cứu hầu như tậptrung về thành phần loài, mô tả một số đặc điểm sinh học, sinh thái của chúng ởkhu vực phía Bắc và phía Nam Ở các tỉnh thuộc Miền Trung, mà đặc biệt là Nghệ

Trang 29

An thì chưa có công trình nào nghiên cứu về các loài côn trùng bắt mồi trên sinhquần ruộng rau họ HTT.

1.4.Tình hình nghiên cứu về bọ rùa bắt mồi trên thế giới và Việt Nam

1.4.1 Tình hình nghiên cứu về bọ rùa bắt mồi trên thế giới

Sự tiêu diệt các loài côn trùng bởi các loài thiên địch đã được sử dụng từ lâu

để trừ dịch hại trong nông nghiệp Thế kỷ XVIII có nhiều tài liệu công bố về côntrùng ký sinh và côn trùng bắt mồi ăn thịt, đó là những tài liệu của Gedort, DeGeer, Reaumur, E.Darwin,… đặc biệt là những tác phẩm của Reaumur công bố

từ 1734-1742, là người đầu tiên khuyến cáo áp dụng biện pháp sinh học phòngtrừ sâu hại

Tháng 11/1888, Koebele nhà côn trùng học người Đức làm việc tại

California đã nhập về Mỹ bọ rùa Rodolia cardadinalis từ Australia để phòng trừ rệp sáp Iceria purchasi (Kairo & Murphy, 1995) [28] Thực tế ở nơi thả bọ rùa ở

California sau một vài tháng rệp sáp đã giảm hẳn và sau vài năm số rệp sáp nàykhông còn nguy hiểm nữa Sự kiện bọ rùa Châu Úc khẳng định giá trị to lớn củabiện pháp sinh học trong phòng chống sâu hại, việc nhập nội thiên địch để trừ sâuhại đã được tiến hành một cách rộng rãi trên nhiều đối tượng sâu hại khác nhau ởnhiều quốc gia trên thế giới: Mỹ, Canada, Chile, Nhật Bản sau thành công ởCalifornia, bọ rùa châu Úc được nhập tới 29 nước khác trên thế giới và đạt hiệuquả 25 nước thành công và 4 nước thành công gần như hoàn toàn (dẫn theoNguyễn Hồng Thanh, 2010) [19]

Họ bọ rùa ( Coccinellidae)có một lịch sử phát triển khá lâu dài Theo Iablokoff-Khazorian thì học Cocccinellidae được hình thành từ khu vực ở vùng nhiệt đới mà hiện nay ở đó họ Cocccinellidae cũng vô cùng phong phú và đa

dạng (Hoàng Đức Nhuận, 1982) [15]

Bọ rùa ăn thịt có vai trò quan trọng trong việc tiêu diệt côn trùng gây hại câytrồng đặc biệt là nhóm rệp hại Ở Liên Xô đã sử dụng thành công loài bọ rùa Ấn

Độ (Serangium parcesetosum) trong việc phòng trừ rệp cánh trắng hại cam ở

miền nam Liên Xô (Hoàng Đức Nhuận, 1982) [15]

Trang 30

Để phát huy tác dụng của côn trùng bắt mồi ăn thịt, một số tác giả cònnghiên cứu một số khía cạnh phối hợp côn trùng bản địa với côn trùng nhập nội.Trong 225 trường hợp nhập nội thiên địch để trừ sâu hại cây trồng trên thế giớithì có 51 trường hợp sử dụng bọ rùa (De Bach, 1964) (dẫn theo Phạm QuỳnhMai, 2010) [14].

Tại Trung Á đã sử dụng thành công bọ rùa 11 chấm ( Semiadalia 11-notata)

và bọ rùa 8 chấm (Brumus octosignatus) trừ rệp hại bông ở châu Âu, các nhà sinh

học đã tiến thêm một bước trong việc sử dụng phức hệ bọ rùa địa phương có

nhiều đặc tính sinh học khác nhau; bọ rùa 7 chấm (Coccinella septempunctata),

bọ rùa 2 chấm (Adalia bipunctata), bọ rùa sặc sỡ ( Adonia variegata), bọ rùa 14 chấm (Harmonia 14-punctata) và bọ rùa mập (Harmonia conglobata) trong công

tác phòng trừ rệp củ cải đường (Hoàng Đức Nhuận, 1982) [15]

Đặc điểm sinh học và khả năng ăn mồi của loài bọ rùa chữ nhân Coccinellda

transversalis được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm ở Ấn độ trong điều kiện

28,3 ± 1,1oC và 57,9 ± 10,4% RH, nuôi bằng rệp muội loài Aphis craccivora, các

pha trứng kéo dài 2,03 ngày; bọ rùa non kéo dài 8,23 ngày; giai đoạn tiền nhộng,nhộng của bọ rùa chữ nhân tương ứng là 0,61; 2,48 ngày Khả năng ăn mồi của

bọ rùa non tuổi 1,2,3,4 tương ứng là 11,4; 20,7; 29,2; 41,2 rệp/ngày và của bọ rùatrưởng thành là 65,3 rệp/ngày ( Nguyễn Hồng Thanh, 2010) [19]

Bọ rùa Harmonia axyridis có 5 thế hệ trong một năm ở điều kiện phòng thí

nghiệm Ở nhiệt độ 24oC, một thế hệ kéo dài trung bình 31,37 ngày Trong đó,thời gian phát dục của các pha trứng, bọ rùa non, nhộng và trước đẻ trứng tương

ứng là 3,02; 9,76; 5,29 và 13,3 ngày Nuôi bằng rệp muội Aphis gosspii ở

14,5-18,1oC, bọ rùa trưởng thành đực sống trung bình 90,25 ngày và bọ rùa trưởngthành cái sống được 86,9 ngày Một bọ rùa trưởng thành cái đẻ trung bình 751

trứng Một bọ rùa non của loài Harmonia axyridis trong cả thời kỳ phát triển có

thể tiêu diệt trung bình 561 cá thể rệp muội (He et al., 1996) (dẫn theo PhạmQuỳnh Mai, 2010) [14]

Ở Trung Quốc trong các năm 1978-1981, các nhà khoa học đã tiến hành

nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của bọ rùa Propylea japonica và

Trang 31

Harmonia axyridis được nghiên cứu Cả 2 loài bọ rùa này đều qua đông ở pha

trưởng thành (Fan et al., 1984; Wei et al., 1984; Zhong et al., 1984 ) (dẫn theoNguyễn Hồng Thanh, 2010) [19]

Một số thành tựu về nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và sử dụng bọ rùa trong phòng trừ sinh học sâu hại trên cây trồng

Các nghiên cứu sử dụng bọ rùa trong đấu tranh sinh học bảo vệ cây trồngtrước đây đã được Puttarudriah (1962, 1966), Smirnoff (1957); Iperti (1971,

1977, 1986) nghiên cứu (dẫn theo Phạm Quỳnh Mai, 2010) [14]

Omkar et all (2005) [13] sử dụng 3 loài rệp Aphis craccivora, Aphis

gosypii, Rhopaloosiphum maidis làm thức ăn cho 2 loài bọ rùa Coeleophora biplagiata và Micraspis discolor để nghiên cứu đặc điểm sinh học như: giai đoạn

phát triển, sự sống sót của ấu trùng, sự vũ hóa ra trưởng thành của nhộng, chỉ số

về sự phát triển, tốc độ phát triển và tỷ lệ giới tính phụ thuộc vào tỷ lệ cá thể cáicủa 2 loài

Kuznetsov (2000, 2002) đã nghiên cứu khả năng tiêu diệt rệp của ấu trùng

loài bọ rùa Leis demidiata và Lemnia biplagiata Tỷ lệ bọ rùa ăn thịt/ vật mồi là

1/20, khi đó bọ rùa ăn thịt tiêu diệt tới 85-90% rệp [30]

Zhang (1985) đã nghiên cứu tỷ lệ của bọ rùa và rệp bông trên cánh đồng

của Trung Quốc và đưa ra kết luận: nếu tỷ lệ rệp bông Aphis gosypii/ thiên địch

nhỏ hơn 80/1 sẽ không cần phun thuốc hóa học, ông cho rằng các loài bọ rùa

Coccinella septempunctata và Propylea japonica có khả năng tiêu diệt số lượng

đáng kể rệp bông (dẫn theo Phạm Quỳnh Mai, 2010) [14]

Những thí nghiệm của Artokhin (1981) cho thấy ấu trùng bọ rùa

Coccinella septempunctata L.có thể tiêu diệt 300 rệp Rhopalosiphum padi L.

trong một ngày và toàn bộ pha ấu trùng có thể tiêu thụ tới 1000 rệp non và rệptrưởng thành (dẫn theo Phạm Quỳnh Mai, 2010) [14]

Theo Ghanim (1984), các loài ăn rệp quan trọng trên lúa mỳ vào mùa

đông ở Mansoura Ai Cập là Coccinella undecimpunctata và một số côn trùng ăn

thịt thuộc các họ khác đã tích cực kìm hãm sự bùng phát dịch rệp muội (dẫn theoPhạm Quỳnh Mai, 2010) [14]

Trang 32

1.4.2 Tình hình nghiên cứu bọ rùa bắt mồi ở Việt Nam

Ở Việt Nam, nghiên cứu về hệ họ bọ rùa Coccinellidae có Hoàng Đức Nhuận (1982, 1983, 1987, 2007) đã công bố nhiều tài liệu về bọ rùa, đặc biệt nghiên cứu về hệ bọ rùa ở Việt Nam đã hệ thống 256 loài thuộc 6 phân họ: Sticholotidinae, Chilocorinae, Coccidulinae, Coccinellinae, Scymninae,

Epilachninae Trong đó phân họ Epilachninae gồm các loài ăn thực vật, 5 phân

họ còn lại gồm các loại bọ rùa bắt mồi, ăn nấm (dẫn theo Phạm Quỳnh Mai, 2010) [14]

Kết quả điều tra cơ bản côn trùng Miền Bắc Việt Nam giai đoạn

1960-1970 đã được Mai Quý và nnk (1981) thống kê, nhóm bọ rùa bắt mồi có 23 loài(dẫn theo Phạm Quỳnh Mai,2010) [14]

Phạm Văn Lầm (1992) [13] đã nghiên cứu thành phần, đánh giá vai trò cólợi của thiên địch trong hạn chế số lượng sâu hại và nghiên cứu các điều kiện ảnhhưởng tới sự tích lũy thiên địch trong tự nhiên Khu hệ thiên địch của rầy nâu ởmột số nơi trồng lúa từ năm 1981-1991 được điều tra và xác định tên Kết quảđiều tra ở 4 tỉnh: Hà Nội, Hà Tây, Thái Bình, Tiền Giang đã phát hiện họ

Coccinellidae có 3 loài Harmonia octomaculata, Micraspis discolor, Micraspis

vincta là thiên địch của rầy nâu.

Phạm Văn Lầm (1984, 1993) [14] đã điều tra thu thập các thiên địch của

sâu hại đậu tương Tác giả đã xác định được 8 loài thuộc họ bọ rùa: Coccinella

trasversalis, Cryptogonus orbiculus,Harmonia octomaculata, Lemnia biplagiata, Menochilus sexmacuta, Miscraspis discolor, Propylea japonica và Scymnus hoffmanni.

Trên cây đậu tương, Vũ Quang Côn và nnk (1990) [8], thống kê ở vùngngoại thành Hà Nội có 22 loài côn trùng bắt mồi, trong đó họ bọ rùa có tới 11loài Trương Xuân Lam (2002) [14], điều tra thiên địch sâu hại đậu tương vụ hèthu 1998 tại Quốc Oai, Hà Tây thu được 10 loài bọ rùa bắt mồi thuộc họ bọ rùaCoccinellinae Hà Quang Hùng và nnk (1996) [13], đã ghi nhận ở vùng Hà Nội

có 9 loài bọ rùa là kẻ thù tự nhiên của sâu hại đậu tương

Trên cây bông, Phạm Văn Lầm (1993, 1996) [14] đã xác định được 9 loài

bọ rùa là thiên địch của sâu hại bông Trên cây ngô, Phạm Văn Lầm (1996) [14]

Trang 33

đã thu thập được 10 loài bọ rùa là thiên địch của sâu hại ngô Trong đó, có 3 loài

thường xuyên xuất hiện và phổ biến là Coccinella trasversalis, Menochilus

sexmaculatus, Miscraspis discolor

Trong thời gian 1996-1998, Phạm Văn Lầm và nnk đã nghiên cứu về thiênđịch trên rau họ hoa thập tự ở vùng rau huyện Từ Liêm (Hà Nội) và Mê Linh(Vĩnh Phúc) Trong năm 1998 đã thu thập được 5 loài bọ rùa là thiên địch tíchcực của sâu hại trên rau họ hoa thập tự Cũng trên rau họ hoa thập tự Hồ Thị ThuGiang (2002) [6] đã xác định thành phần loài bọ rùa, thiên địch của sâu hại rau

họ hoa thập tự có 11 loài, trong đó bọ rùa đỏ Micraspis discolor, bọ rùa 6 vằn

Menochilus sexmaculatus có tần số bắt gặp tương đối phổ biến ngoài ruộng rau

từ đầu vụ đến cuối vụ, thức ăn của sâu non và trưởng thành bọ rùa chủ yếu là rệpmuội, ngoài ra chúng có thể ăn rầy Phạm Văn Lầm (1999) [10] đã xác định tênkhoa học của 3 loài bọ rùa diệt sâu hại rau họ hoa thập tự và khả năng ăn rệp của

3 loài bọ rùa này Lê Văn Trịnh (1999) [22] cũng xác định loài bọ rùa là côntrùng ăn sâu hại rau họ hoa thập tự ở vùng đồng bằng Sông Hồng rất tích cực

Kết quả điều tra tài nguyên thiên địch của sâu hại ở nhiều nơi trong cảnước, trên các cây lúa, ngô, đậu tương, đậu ăn quả, rau họ hoa thập tự, chè càphê, cây ăn quả có múi Phạm Văn Lầm (2002) [11] đã xác định được có 26 loài

bọ rùa bắt mồi

Nguyễn Kim Oanh (1996) [14] đã nghiên cứu về kẻ thù tự nhiên của rệpmuội Kết quả ghi nhận được 20 loài, trong đó có 11 loài bọ rùa bắt mồi VũQuang Côn, Hà Quang Hùng (1990) [8] cũng đã ghi nhận có 14 loài côn trùngbắt mồi thuộc bộ cánh cứng, trong đó bọ rùa 6 loài Nguyễn Công Thuật (1996)[21] đã thống kê 21 loài côn trùng và nhện lớn bắt mồi, bọ rùa có 7 loài Nghiêncứu về kẻ thù tự nhiên của rệp muội ở vùng đồng bằng Sông Hồng năm 1980-

1985 Nguyễn Viết Tùng (1992) cho biết có 13 loài bọ rùa thường xuyên có mặttrên đồng ruộng Chúng là thiên địch chính của rệp muội không chỉ ở trên câyđậu tương mà cả trên các cây trồng khác nhau (dẫn theo Phạm Quỳnh Mai, 2010)[14]

Trang 34

Quách Thị Ngọ (2000) đã đề cập đến thiên địch của rệp và vai trò của côntrùng bắt mồi ăn thịt với quần thể rệp Nhóm bắt mồi ăn thịt rệp chính là bọ rùaCoccinellidae Tác giả cũng đã thu thập được 29 loài thiên địch của rệp muội(dẫn theo Phạm Quỳnh Mai, 2010) [14].

Một số thành tựu nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và sử dụng

bọ rùa trong phòng trừ sinh học sâu hại trên cây trồng

Một số tác giả đã bước đầu đi vào nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinhthái của một số loài bọ rùa điển hình như:

Phạm Văn Lầm (1999) [10] đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh

thái cơ bản của bọ rùa 2 vệt đỏ Lemnia biplagiata Swarzt

Phạm Văn Lầm (2002) [11], đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh

thái của bọ rùa 6 vệt đen Menochilus sexmaculatus Fabr

Nguyễn Thị Thanh, Trịnh Thị Thanh (2007) [17] đã nghiên cứu đặc điểm

sinh học, sinh thái của ấu trùng bọ rùa chữ nhân Coccinellia transversalis Fabr.,

kết quả cho thấy khả năng ăn mồi của loài bọ rùa này cao, khả năng sinh sản ởđiều kiện phòng thí nghiệm cũng như ngoài đồng ruộng là rất tốt

Phạm Quỳnh Mai (2003) [18] đã xác định được biến động số lượng loài

bọ rùa Harmonia sedecimnotata phổ biến trên cây vải vùng Sóc Sơn, Hà Nội và

đưa ra một số nhận xét về đặc điểm hình thái và tập tính của loài bọ rùa này

Hồ Thị Thu Giang (2005) đã nghiên cứu một số đặc điểm hình thái học

của bọ rùa đỏ Micraspis discolor Tác giả đã tiến hành thí nghiệm nuôi bọ rùa đỏ

ở 2 mức nhiệt độ và độ ẩm không khí khác nhau (29,8 oC, 83,5% và 25,3oC,

80,6%) với 3 loại thức ăn khác nhau (rệp đậu Aphis glycines, rệp ngô

Rhopalosiphum maidis) Kết quả đã thu được gồm: kích thước ở các pha phát

triển, thời gian phát dục ở các pha phát triển, khả năng đẻ trứng, tuổi thọ, vòngđời và khả năng ăn rệp của loài bọ rùa này trong điều kiện nuôi phòng thí nghiệm(dẫn theo Phạm Quỳnh Mai, 2010) [14]

Nguyễn Thành Vĩnh và nnk (2005) đã nghiên cứu đặc điểm sinh vật học

của 2 loài bọ rùa được xác định là phổ biến trên cây ăn quả là loài Stethorus sp.và loài bọ rùa Harmonia sedeccimnotata Nhóm tác giả đã xác định được một số chỉ

Trang 35

tiêu sinh học liên quan đến bảng sống của 2 loài (dẫn theo Phạm Quỳnh Mai,2010) [14].

Ở Nghệ An, Trần Thị Diệu Thu (2004) [20] nghiên cứu sự trú đông củacác quần thể cánh cứng trên đồng ruộng Hưng Dũng, thành phố Vinh, ghi nhận

15 loài cánh cứng ăn thịt thuộc 3 họ trong đó có họ Coccinellidae có 6 loài

Trần Thị Hoài Phương (2006) [18] nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinhthái của một số cánh cứng ăn thịt ở Nghệ An Đã xác định được phổ thức ăn vàsức ăn của 12 loài cánh cứng ăn thịt phổ biến và có ý nghĩa ở Nghệ An bao gồm

8 loài thuộc họ chân chạy (Carabidae), 3 loài thuộc họ bọ rùa (Coccinellidae), 1loài thuộc họ Staphylinidae

Kết quả điều tra thành phần loài bọ rùa trên các cây trồng nông nghiệptrong 2 năm 2009-2010 cho thấy trên đồng ruộng vùng đồng bằng Nghệ An có

19 loài bọ rùa trên các loại cây trồng nông nghiệp, trong số đó có 15 loài bọ rùabắt mồi và 4 loài bọ rùa ăn thực vật; có 4 loài bọ rùa có ích phổ biến là

Coccinella transversalis (Fabricius), Propylea japonica (Thunberg), Menochilus sexmaculatus (Fabricius), Micraspis discolor (Fabricius), Lemnia biplagiata

(Mulsant) Trên cây đậu tương có 15 loài, cây ngô có 12 loài, cây đậu đen có 12loài, cây mía có 9 loài, cây rau cải có 9 loài, cây lạc có 7 loài, cây mướp có 7loài, cây khoai có 5 loài và cây lúa có 5 loài Có 4 loài bọ rùa thuộc nhóm bọ rùa

bắt mồi Coccinella transversalis, Menochilus sexmaculatus, Micraspis discolor,

Propylea japonica bắt gặp trên cả 9 loại cây trồng nông nghiệp (dẫn theo Nguyễn

Thị Thanh, 2012) [18]

Ở Việt Nam điều kiện thiên nhiên nhiệt đới nóng ẩm, các loài bọ rùa cóích hầu như tồn tại và phát triển quanh năm Các loài thuộc nhóm bọ rùa bắt mồi

là những loài tạp thực, có phổ thức ăn rộng, tiêu diệt rệp hại và các loài sâu hại

có kích thước nhỏ Triển vọng sử dụng các loài bọ rùa trong đấu tranh sinh họcbảo vệ cây trồng là rất lớn Do tính chất chuyên hóa không quá hẹp mà mỗi loài

có thể khống chế sự phát triển, hạn chế sự lan rộng một số sâu hại cây trồng Vàtrên một loại sâu hại thường có vài loài bọ rùa cùng tấn công Với một hệ bọ rùaphong phú và hoạt động tích cực như vậy nên rất thuận lợi để tập hợp một số loàigần nhau lại trong cùng một khu vực, nâng cao hiệu quả khống chế sâu hại

Trang 36

Nghiên cứu phối hợp một cách hợp lí tác dụng đồng thời của nhiều loài bọ rùatrong cùng một thời gian ở cùng một nơi hoặc tác dụng xen kẽ của nhiều loàitrong những thời gian khác nhau ở cùng một khu vực canh tác sẽ tạo ra khả năngkhống chế sâu hại một cách chủ động.

1.5.Tổng quan nghiên cứu chế phẩm thảo mộc phòng trừ sâu hại cây trồng nông nghiệp ở trên thế giới và Việt Nam

1.5.1.Tổng quan nghiên cứu chế phẩm thảo mộc phòng trừ sâu hại cây trồng nông nghiệp ở trên thế giới

Từ những năm trước công nguyên, người cổ trung hoa và Ai Cập đã biếtdùng một số cây cỏ để diệt ruồi muỗi, sâu bệnh

Đến thế kỷ XVII, người ta đã dùng dung dịch nước ngâm lá cây thuốc lá có

chứa Nicotin để phun diệt sâu, hoặc Strychnin có trong hạt cây Strychro

nuxmomicađể trừ chuột Sang thế kỷ XIX, chất roteron chiết từ rễ cây Derris eliptica và Pyrethrum từ hoa cúc Crysanthe mum đã được sử dụng như thuốc trừ

sâu Hiện nay, nghiên cứu, sản xuất và sử dụng chế phẩm thảo mộc phòng trừ sâuhại cây trồng ngày càng được nhiều nước quan tâm

Trên thế giới có 866 loài cây cho sản phẩm có khả năng phòng trừ sâu hạicây nông nghiệp (Rahman G K., Mustafizur M., Motoyama N, 2000) [46], chếphẩm từ hoa cúc (Pyrethrum) có tác dụng phòng trừ nhiều loại sâu hại và an toànvới môi trường (Casida J.E., 1980) [33].; sử dụng nhiều loại thảo mộc để phòngtrừ các loại sâu hại rau cải (PAN Germany, 2008) [45] Theo Katsvanga C.A.T.,

Chigwaza S (2004) [46], chế phẩm từ cây Lippia javanica, Tagestes minuta có tác dụng như là thuốc trừ rệp Brevicoryne brassicae hại rau cải.

Nghiên cứu của Moyo M và cs (2006) [44], chế phẩm thảo mộc từ Derris

elliptica, Capsicum frutescens và Tagestes minuta phòng trừ có hiệu quả đối với

rệp Brevicoryne brassicae hại rau cải

Thuốc trừ sâu Pyrethroid được sản xuất thương mại từ loài Pyrethrum là các loài cây Tanacetum cinerariifolium, Pyrethrum cinerariifolium và

Chrysantheum cinerariifolium được sử dụng rộng rãi trên thế giới Lượng

Pyrethrum sản xuất hiện nay ước tính khoảng 15000 tấn hoa khô mỗi năm Các loài hoa được sấy khô chứa khoảng 1 - 2% Pyrethrum về trọng lượng, trung bình

Trang 37

khoảng 1,3%, nên việc sản xuất Pyrethrin khoảng 150-200 tấn mỗi năm Hiện nay năng suất được khoảng 560kg hoa khô/ha/năm (dẫn theo Nguyễn Văn Duy, 2008) [5].

Từ thế kỷ XIX, Pyrethrin bắt đầu được sử dụng trừ sâu ở Đan Mạch Tronghoa cúc Pyrethrum có hàm lượng 25 - 30% Pyrethrin an toàn với con người,động vật máu nóng và cây trồng nhưng lại rất độc với sâu hại Pyrethrin là chấtđộc tiếp xúc, khi xâm nhập vào gây tê liệt thần kinh, chất nhiễm sắc bị kết hạt lạitạo thành hốc nhỏ trong hạch thần kinh, gây hại men lipaza Khi sử dụng nghiềnthành bột chứa 0,1 - 0,3% Pyrethrin phun trừ sâu hại rau và cây ăn quả (dẫn theoNguyễn Văn Duy, 2008) [5]

Một số nơi sử dụng cây nghể, tỏi, gừng, hành, rau mùi,… để kiểm soát vàđẩy lùi các loài sâu gây hại cho cây trồng Củ tỏi và dịch chiết từ tỏi cho thấyhiệu lực xua đuổi rệp vừng xanh do chất alixin có trong tỏi dễ bay hơi tạo nênmùi hôi (Rahman G K., Mustafizur M., Motoyama N, 2000) [47]

Theo Idra P S và Kamini V (2003), đã thử nghiệm dịch chiết của 6 loài

cây khác nhau (Acorus calamus, Ageratum conyzoides, Azadirachta indica,

Duranta repens, Spilanthes acmella và Urtica dioca với nước tiểu động vật (trâu

và bò) tác động lên đối tượng Phyllotreta nemurum Kết quả được đối chiếu với

hiệu lực của chế phẩm Neem (hạt Neem) qua tỷ lệ bọ bị chết.Cây ký chủ được sử

dụng để nghiên cứu là cây cải củ (Rhaphanus sativus).Tập trung nghiên cứu ở 3

nồng độ của dịch chiết cây (1kg/5l, 1kg/10l, 1kg/20l nước), với 3 hàm lượng nướctiểu động vật (20%, 15% và 10%) và 2 hàm lượng hạt neem (0,1% và 0,01%) tiến

hành thử nghiệm theo 3 lần nhắc lại Kết quả các hỗn hợp của A.calamus,

A.indica và U.dioca đều có hiệu lực tác động đối với Phyllotreta nemurum (P <

0,05) Trong đó hỗn hợp của S.acmelan, nước tiểu trâu và nước tiểu bò đạt cho

hiệu quả tác động cao nhất trong tất cả hỗn hợp được thử nghiệm (P < 0,05) (Dẫntheo Rahman G K., Mustafizur M., Motoyama N, 2000) [47])

Theo Trung tâm thực vật học trường đại học Ottawa, Ontario, Canada, dịch

chiết từ 2 loài cây Piper nigrum L và P.tuberculatum Jacq thuộc họ hồ tiêu đã được sử dụng có hiệu lực trên ấu trùng và trưởng thành của đối tượng Colorado

Potato Beetle Leptinotara (Say) Liều gây chết trung bình LD50 của dịch chiết cây

Trang 38

P.tuberculatum đối với ấu trùng 4 ngày tuổi được xác định là 0,064% và của dịch

chiết từ P nigrum là 0,05%, đã làm giảm lượng ấu trùng sống sót trên 70% trong khoảng thời gian 1 tuần sau xử lý trên khoai tây Solanum tuberosum Giai đoạn nhộng và trưởng thành ít bị tác động của dịch chiết của P.nigrum; liều gây chết

LD50 24h là 0,5% (95% C.I 0.36, 0.65) Kết quả đạt được, cho thấy ở nồng độnhỏ hơn 0,1%, dịch chiết Piper (cây họ hồ tiêu) có thể sử dụng như tác nhân bảo

vệ thực vật, bảo vệ cây khoai tây, kiểm soát sự phát triển của ấu trùng

L.decemlinneata Sử dụng dịch chiết từ Piper kết hợp với các biên pháp quản lý

dịch hại tổng hợp (IPM) khác trong chiến lược kiểm soát côn trùng nông nghiệp

sẽ cho hiệu quả cao (Dẫn theo Rahman G K., Mustafizur M., Motoyama N,2000) [46])

1.5.2 Tổng quan nghiên cứu chế phẩm thảo mộc phòng trừ sâu hại cây trồng nông nghiệp ở Việt Nam

Rau an toàn là những sản phẩm rau tươi, có chất lượng đúng như đặc tínhgiống của nó, hàm lượng các hoá chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại

ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môitrường, được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là "rau antoàn" Sản xuất rau an toàn hiện đang gặp rất nhiều khó khăn mà nguyên nhânchính là người nông dân buộc phải dùng nhiều loại thuốc hóa học để phòng trừsâu bệnh hại rau, để lại dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong rau quả

Để có sản phẩm rau an toàn, thuốc thảo mộc bảo vệ thực vật được xem như

là một trong những giải pháp hữu ích Cho đến nay, ở Việt Nam đã có một sốcông trình nghiên cứu sử dụng chế phẩm thảo mộc phòng trừ sâu hại trong nôngnghiệp như nghiên cứu dùng dịch chiết từ hạt củ đậu trừ sâu tơ (Nguyễn DuyTrang và cs, 2002) (dẫn theo Phan Phước Hiền và cs, 2006) [7] Nghiên cứu sử

dụng hoạt chất abrin dạng kỹ thuật 4EC chiết từ hạt cây cam thảo dây (Abrus

precatorius L.) để trừ rầy nâu, tỷ lệ chết của rầy nâu hại lúa sau khi xử lý bằng

chế phẩm abrin 4EC nồng độ 3% là 88%, sau 1 ngày phun (Phan Phước Hiền và

cs, 2006) [7]

Viện BVTV đã nghiên cứu và sản xuất thành công chế phẩm hạt củ đậu dướihai dạng nước và bột để phòng trừ sâu hại rau có hiệu quả và hướng dẫn cho nông

Trang 39

dân tự sản xuất Chế phẩm ít độc hại với côn trùng có ích, tác động lên sâu hạibằng con đường tiếp xúc, ngoài ra khả năng gây ngán và xua đuổi cũng rất cao.Nghiên cứu của (Nguyễn Văn Duy, 2008) [5] về sử dụng chế phẩm từ câynghể để diệt trừ nhiều loài sâu miệng nhai và chích hút như rệp, nhện, sâu ăn lá,

…Thuốc có độ độc trung bình với người và động vật máu nóng, phân giải nhanh

và không để lại dư lượng trong nông sản

Thuốc trừ sâu Pyrethroid được sản xuất thương mại từ loài cúc Pyrethrum

đã được sử dụng nhiều nơi trên thế giới Ở nước ta nhiều nơi đã trồng các loạicúc này, nhất là ở Đà Lạt, Lâm Đồng nhưng chỉ để làm hoa cảnh mà hầu nhưchưa ai biết sử dụng hoa cúc để làm thuốc trừ sâu, mặc dù dân ta nhập một lượngrất lớn, khoảng hơn 100 tấn/năm thuốc trừ sâu Pyrethroid (tên thương mại làDecis) để làm thuốc trừ sâu hại rau cải, hoa màu,…

Trên thực tế, việc sử dụng chế phẩm sinh học trong trồng trọt, chăn nuôi

và nuôi trồng thủy sản là một trong những hướng giải quyết hiệu quả về việc đảmbảo an toàn sinh học, an toàn thực phẩm và an toàn môi trường Ta có thể nhậnthấy rằng, việc áp dụng sử dụng chế phẩm sinh học đang dần là một lối đi mớitrong nông nghiệp Cách đây vài năm sản phẩm này đã bắt đầu được sử dụngnhưng chưa thực sự rộng rãi Hiện nay, đây là sản phẩm đang được rất nhiềungười tìm đến bởi chúng có được nhiều ưu thế nổi bật trong việc giúp tăng năngsuất, chất lượng, ngăn chặn bớt dịch bệnh và điều đặc biệt chính là những ưuđiểm vượt trội, không gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người, cây trồng,vật nuôi và không gây ô nhiễm môi trường

1.6 Đặc điểm khu vực nghiên cứu

1.6.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Kim Liên, huyện Nam Đàn

Kim liên là xã đồng bằng, nằm ở trung tâm huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ

An, cách trung tâm huyện lỵ (Thị Trấn Nam Đàn 6 km) về phía Đông, cách thànhphố Vinh 15 km về phía Tây Phía Bắc giáp xã nam lĩnh, phí Đông giáp xã NamGiang, Nam Cát, phía Tây giáp xã Hùng Tiến và phía Nam giáp xã Xuân Lâm

Xã Kim Liên có đường quốc lô 46 nối với đường quốc lộ 1A với đường mòn HồChí Minh, có điều kiện địa lý thuận lợi để phát triển dịch vụ, chuyển đổi cơ cấucây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hang hóa phục vụ nhu cầu trong huyện,

Trang 40

thành phố vinh và các tỉnh bạn Phía Bắc của xã có con sông Đào và phía TâyNam có sông Lam Trà chảy qua Xã Kim Liên nằm trong vùng nhiệt đới giómùa, nhiệt độ trung bình 23-24oC, vùng nghiên cứu có lượng mưa trung bình,90% lượng nước tập trung vào mùa mưa, độ ẩm không khí từ 85-86% Tổng diệntích đất sản xuất nông nghiệp: 999,67 /1522,07 ha chiếm 65,68% diện tích tựnhiên Đất ở đây chủyếu là đất cát, thịtnhẹ và trung tính rất phù hợp cho các câytrồng phát triển đặc biệt là cây rau

Dân số toàn xã có 11343 người với 3046 hộ gia đình, trong đó có 1980 hộtham gia sản xuất nông nghiệp chiếm 65,00% Số hộ nghèo của xã là 126 hộchiếm 4,14% Số người trong độ tuổi lao động là 4500 người chiếm 39,67% dân

số Sản xuất nông nghiệp của xã chủ yếu tập trung vào trồng lúa, trồng rau vàchăn nuôi gia súc gia cầm Cơ cấu nông nghiệp của xã đang chuyển đổi sản xuấttheo hướng sản xuất hàng hóa nông sản thành vùng quy hoạch tập trung, giảmdiện tích thu nhập lúa sản xuất thấp chuyển sang sản xuất cây hàng hóa

1.6.2 Tình hình sản xuất rau tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn

Với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế thuận lợi đối với sảnxuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau an toàn nói riêng nên tình hình sảnxuất rau tại xã Kim Liên phát triển tốt

Cùng với xã Nam Anh, Nam Xuân, Kim Liên là khu vực sản xuất rauhàng năm lớn chủ yếu cung cấp cho thị trường tiêu thụ rau Thành phố Vinh vàcác vùng phụ cận Hiện tại, xã chú trọng sản xuất rau an toàn, tăng diện tích rautập trung Năm 2013, Kim Liên đã làm rau vụ Xuân với diện tích 51,42 ha, vụĐông với diện tích 85 ha và vụ Hè Thu với diện tích 42,5 ha, thu hoạch đượctổng sản lượng rau 2280,4 tấn/ha với năng suất bình quân đạt 127 tạ/ha

Các loại rau được trồng ở đây chủ yếu là rau ăn lá như rau cải, xà lách,bắp cải, cải cúc, hành, rau gia vị,… Ngoài ra, tùy từng mùa vụ còn xuất hiện cácloại rau ăn quả, củ như cà chua, dưa chuột, su hào, đậu đỗ, bầu bí, …(số liệu Bannông nghiệp xã Kim Liên)

CHƯƠNG II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 01/11/2015, 08:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.13.   Hiệu lực phòng trừ SXBT hại rau họ HTT của chế phẩm từ dịch  Error: Reference source not found - Sử dụng bọ rùa đỏ (Micraspis discolor Fabr.) và chế phẩm làm từ cây cúc (Bidens pilosa L.), lá cà chua (Lycopersicum esculentum Mill.) phòng trừ sâu hại sâu bọ hoa thập tự tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn năm 2013  2014
Bảng 3.13. Hiệu lực phòng trừ SXBT hại rau họ HTT của chế phẩm từ dịch Error: Reference source not found (Trang 8)
Bảng 3.1.Thành phần loài sâu hại trên sinh quần ruộng rau họ hoa thập tự ở Nam - Sử dụng bọ rùa đỏ (Micraspis discolor Fabr.) và chế phẩm làm từ cây cúc (Bidens pilosa L.), lá cà chua (Lycopersicum esculentum Mill.) phòng trừ sâu hại sâu bọ hoa thập tự tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn năm 2013  2014
Bảng 3.1. Thành phần loài sâu hại trên sinh quần ruộng rau họ hoa thập tự ở Nam (Trang 48)
Bảng 3.2. Thành phần loài côn trùng bắt mồi trên sinh quần ruộng rau - Sử dụng bọ rùa đỏ (Micraspis discolor Fabr.) và chế phẩm làm từ cây cúc (Bidens pilosa L.), lá cà chua (Lycopersicum esculentum Mill.) phòng trừ sâu hại sâu bọ hoa thập tự tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn năm 2013  2014
Bảng 3.2. Thành phần loài côn trùng bắt mồi trên sinh quần ruộng rau (Trang 51)
Hình 3.2. Đa dạng loài côn trùng bắt mồi trên rau họ HTT ở xã Kim Liên, - Sử dụng bọ rùa đỏ (Micraspis discolor Fabr.) và chế phẩm làm từ cây cúc (Bidens pilosa L.), lá cà chua (Lycopersicum esculentum Mill.) phòng trừ sâu hại sâu bọ hoa thập tự tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn năm 2013  2014
Hình 3.2. Đa dạng loài côn trùng bắt mồi trên rau họ HTT ở xã Kim Liên, (Trang 55)
Bảng 3.4. Hiệu lực phòng trừ rệp hại rau họ HTT của bọ rùa đỏ ngoài đồng - Sử dụng bọ rùa đỏ (Micraspis discolor Fabr.) và chế phẩm làm từ cây cúc (Bidens pilosa L.), lá cà chua (Lycopersicum esculentum Mill.) phòng trừ sâu hại sâu bọ hoa thập tự tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn năm 2013  2014
Bảng 3.4. Hiệu lực phòng trừ rệp hại rau họ HTT của bọ rùa đỏ ngoài đồng (Trang 56)
Bảng 3.5. Hiệu lực phòng trừ rệp hại rau họ HTT của bọ rùa đỏ mật độ 8 - Sử dụng bọ rùa đỏ (Micraspis discolor Fabr.) và chế phẩm làm từ cây cúc (Bidens pilosa L.), lá cà chua (Lycopersicum esculentum Mill.) phòng trừ sâu hại sâu bọ hoa thập tự tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn năm 2013  2014
Bảng 3.5. Hiệu lực phòng trừ rệp hại rau họ HTT của bọ rùa đỏ mật độ 8 (Trang 58)
Hình 3.4.Kỹ thuật sản xuất chế phẩm dạng bột khô từ cây cúc (B.pilosa) - Sử dụng bọ rùa đỏ (Micraspis discolor Fabr.) và chế phẩm làm từ cây cúc (Bidens pilosa L.), lá cà chua (Lycopersicum esculentum Mill.) phòng trừ sâu hại sâu bọ hoa thập tự tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn năm 2013  2014
Hình 3.4. Kỹ thuật sản xuất chế phẩm dạng bột khô từ cây cúc (B.pilosa) (Trang 61)
Bảng 3.6. Hiệu lực phòng trừ SXBT của chế phẩm dạng dịch chiết nồng độ - Sử dụng bọ rùa đỏ (Micraspis discolor Fabr.) và chế phẩm làm từ cây cúc (Bidens pilosa L.), lá cà chua (Lycopersicum esculentum Mill.) phòng trừ sâu hại sâu bọ hoa thập tự tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn năm 2013  2014
Bảng 3.6. Hiệu lực phòng trừ SXBT của chế phẩm dạng dịch chiết nồng độ (Trang 64)
Bảng 3.7. Hiệu lực phòng trừ SXBT của chế phẩm dạng bột khô từ cây cúc (B. - Sử dụng bọ rùa đỏ (Micraspis discolor Fabr.) và chế phẩm làm từ cây cúc (Bidens pilosa L.), lá cà chua (Lycopersicum esculentum Mill.) phòng trừ sâu hại sâu bọ hoa thập tự tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn năm 2013  2014
Bảng 3.7. Hiệu lực phòng trừ SXBT của chế phẩm dạng bột khô từ cây cúc (B (Trang 65)
Bảng 3.12. Hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng hại rau họ HTT của chế - Sử dụng bọ rùa đỏ (Micraspis discolor Fabr.) và chế phẩm làm từ cây cúc (Bidens pilosa L.), lá cà chua (Lycopersicum esculentum Mill.) phòng trừ sâu hại sâu bọ hoa thập tự tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn năm 2013  2014
Bảng 3.12. Hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng hại rau họ HTT của chế (Trang 69)
Bảng 3.13. Hiệu lực phòng trừ SXBT hại rau họ HTT của chế phẩm từ dịch - Sử dụng bọ rùa đỏ (Micraspis discolor Fabr.) và chế phẩm làm từ cây cúc (Bidens pilosa L.), lá cà chua (Lycopersicum esculentum Mill.) phòng trừ sâu hại sâu bọ hoa thập tự tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn năm 2013  2014
Bảng 3.13. Hiệu lực phòng trừ SXBT hại rau họ HTT của chế phẩm từ dịch (Trang 70)
Bảng 3.14. Hiệu lực phòng trừ SXBT tuổi 1, 2, 3, 4 hại rau họ HTT của chế - Sử dụng bọ rùa đỏ (Micraspis discolor Fabr.) và chế phẩm làm từ cây cúc (Bidens pilosa L.), lá cà chua (Lycopersicum esculentum Mill.) phòng trừ sâu hại sâu bọ hoa thập tự tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn năm 2013  2014
Bảng 3.14. Hiệu lực phòng trừ SXBT tuổi 1, 2, 3, 4 hại rau họ HTT của chế (Trang 71)
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của chế phẩm làm từ dịch chiết cây cúc, lá cà chua - Sử dụng bọ rùa đỏ (Micraspis discolor Fabr.) và chế phẩm làm từ cây cúc (Bidens pilosa L.), lá cà chua (Lycopersicum esculentum Mill.) phòng trừ sâu hại sâu bọ hoa thập tự tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn năm 2013  2014
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của chế phẩm làm từ dịch chiết cây cúc, lá cà chua (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w