1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thành phần sâu hại và thiên địch trên cây lạc; đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsinhham) hại lạc vụ xuân 2014 ở hu

103 774 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 8,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy đối với sâu cuốn lá đầu đen nói riêng và các loài sâu hại lạc nói chung nên trồng xen lạc với cây trồng khác họ để hạn chế sự gia tăng mật độ của chúng; hơn nữa xen canh còn làm

Trang 1

PHẠM THỊ LOAN

THÀNH PHẦN SÂU HẠI VÀ THIÊN ĐỊCH TRÊN CÂY LẠC; ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ SÂU CUỐN LÁ ĐẦU ĐEN

(Archips asiaticus Walsinhham) HẠI LẠC VỤ XUÂN

2014 Ở HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Trang 2

NGHỆ AN, 2014

Trang 3

PHẠM THỊ LOAN

THÀNH PHẦN SÂU HẠI VÀ THIÊN ĐỊCH TRÊN CÂY LẠC; ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ SÂU CUỐN LÁ ĐẦU ĐEN

(Archips asiaticus Walsinhham) HẠI LẠC VỤ XUÂN

2014 Ở HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trương Xuân Lam

NGHỆ AN, 2014

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài “ Thành phần sâu hại và thiên địch trên cây lạc; đặc điểm sinh học,

sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsinhham) hại lạc vụ xuân 2014 ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An” được thực

hiện từ tháng 01 năm 2014 đến tháng 09 năm 2014 là sản phẩm của quá trình laođộng khoa học không mệt mỏi của tôi Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôithực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Trương Xuân Lam Những kếtquả đạt được đảm bảo tính chính xác và trung thực về khoa học

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Nghệ An, ngày 20 tháng 09 năm 2014

Học viên

Phạm Thị Loan

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡcủa các nhà khoa học, thầy cô giáo khoa Nông Lâm Ngư, chính quyền các xã nơiđiều tra, nghiên cứu, gia đình và bạn bè

Nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS

TS Trương Xuân Lam đã mang lại cho tôi niềm đam mê khoa học Đồng thời đãtận tình hướng dẫn và chỉ bảo tôi trong quá trình thực hiện đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ khoa Nông Lâm Ngư, Trung tâmthực hành thí nghiệm trường Đại Học Vinh đã tạo điều kiện giúp đỡ về thời giancũng như cơ sở vật chất, thiết bị thí nghiệm cho tôi hoàn thành tốt đề tài

Xin cảm ơn chính quyền địa phương các xã của huyện Nghi Lộc đã tạo điềukiện cho tôi trong quá trình điều tra thu thập vật mẫu

Xin chân thành cảm ơn gia đình và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôihoàn thành khóa luận này

Nghệ An, ngày 20 tháng 09 năm 2014

Học viên

Phạm Thị Loan

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

3.3.1 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) trên

lạc L14 ở các chân đất trồng khác nhau, vụ Xuân 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 3.3.2 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá lạc đầu đen (Archips asiaticus W.)

trên lạc L14 vụ Xuân sớm và Xuân chính vụ năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 3.3.3 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) trên

các giống lạc khác nhau, vụ Xuân năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 48

Hình 3.3 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.)

trên các giống lạc khác nhau, vụ Xuân năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Kết quả Bảng 3.7 cho thấy: cả ba giống sâu cuốn lá đầu đen đều xuất

hiện khi cây lạc bắt đầu phân cành với mật độ tương ứng trên các giống L14 (2,8 con/m2), Sen lai (3,6 con/m2) và L26 (3,4 con/m2) Nhìn chung, trên đồng ruộng có 2 lứa sâu chính phá hại, một lứa gây hại khi lạc có 5 lá và phân cành, tuy nhiên mật

độ sâu lứa này không cao; lứa thứ 2 gây hại mạnh nhất vào lúc lạc ra hoa rộ - đâm tia hình thành quả, đây là lứa gây hại chính

và đạt đỉnh cao mật độ tương ứng trên giống L14 (14,2 con/m2), Sen lai (14,8 con/m2) và L26 (15,4 con/m2) Sau đó chúng chuyển sang phá hại trên các ruộng lạc trồng muộn Trên 3 giống lạc có sự khác nhau về mật độ trung bình, giống L26 có mật độ sâu cuốn lá đầu đen cao nhất (5,48 con/m2), tiếp đến là

Trang 7

giống Sen lai (4,92 con/m2) và giống L14 có mật độ sâu cuốn lá thấp nhất (4,55 con/m2) 3.3.4 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus ) trên lạc

L14 trồng thuần và trồng xen ngô, vụ Xuân năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Kết quả Bảng 3.8 và Hình 3.4 cho thấy: ở giai đoạn đầu từ khi mọc đến

khi lạc phân cành, diễn biến mật độ của sâu cuốn lá đầu đen trên các công thức trồng thuần, trồng xen đều thấp Trên ruộng lạc trồng thuần mật độ sâu cuốn lá đầu đen cao nhất 14,2 con/m2 vào giai đoạn cây lạc bắt đầu hình thành quả Trong khi đó ruộng trồng xen ngô mật độ cao nhất đạt 12,0 con/m2 cũng ở giai đoạn cây lạc bắt đầu hình thành quả Mật độ sâu cuốn lá đầu đen trung bình ở ruộng lạc trồng thuần (4,55 con/m2) cũng cao hơn ở công thức trồng xen ngô (3,09 con/m2) Như vậy đối với sâu cuốn lá đầu đen nói riêng và các loài sâu hại lạc nói

chung nên trồng xen lạc với cây trồng khác họ để hạn chế sự gia tăng mật độ của chúng; hơn nữa xen canh còn làm tăng sự đa dạng thực vật trên đồng ruộng, từ đó làm phong phú thêm sinh quần đồng ruộng, tạo điều kiện thuận lợi cho kẻ thù tự nhiên phát triển và tăng tính ổn định của cân bằng sinh học 3.3.5 Mối quan hệ giữa mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus

W.) với một số loài côn trùng ký sinh, bắt mồi phổ biến trên lạc trồng vụ Xuân năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Cây trồng – sâu cuốn lá – côn trùng ký sinh, bắt mồi là những mắt xích

không thể thiếu được trong mạng lưới dinh dưỡng Sự cân bằng sinh học trên đồng ruộng được bảo vệ, tồn tại và phát triển là nhờ sự đóng góp tích cực giữa mối quan hệ cây trồng – sâu cuốn

lá – côn trùng ký sinh, bắt mồi

Trang 8

Từ lâu sự cân bằng động trong tự nhiên đã được thiết lập đảm bảo cho sự

tồn tại và phát triển của các loài sinh vật, song sự cân bằng này

đã dần bị phá hủy bởi những tác động tiêu cực của con người, chỉ vì lợi ích kinh tế, như việc lạm dụng thuốc trừ sâu hóa học

đã phá vỡ sự cân bằng tự nhiên vốn có, gây ra các hậu quả to lớn như việc kháng thuốc của các loại sâu hại, việc xuất hiện và lây lan dịch hại , không những thế còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái đồng ruộng khi tác động mạnh đến thành phần, kết cấu đất, nước

Sự cân bằng trên sinh quần có thể được khôi phục lại khi mà con người

biết tác động vào đó một cách hợp lý phù hợp với các quy luật

tự nhiên, đảm bảo các mối quan hệ sinh thái trong sinh quần ruộng lạc

Để làm được việc đó trước hết chúng tôi tiến hành nghiên cứu Mối quan

hệ giữa mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) với một số loài côn trùng ký sinh, bắt mồi phổ biến trên lạc Để từ

đó có các biện pháp tác động có ích cho sinh quần ruộng lạc phù hợp với các quy luật tự nhiên, tìm ra các tác động thích hợp hạn chế được sự phá hoại của sâu hại, tăng năng suất cây trồng và bảo vệ môi trường sinh thái một cách có hiệu quả Chính vì vậy muốn sử dụng các loài thiên địch nói chung và các loài ong

ký sinh nói riêng trong việc hạn chế số lượng sâu hại thì việc nghiên cứu mối quan hệ giữa mật độ sâu hại – thiên địch là điều quan trọng và là điều đầu tiên cần chú ý đến, bởi từ đó có thể biết được diễn biến của sâu hại trên đồng ruộng, đồng thời biết được các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển của các loài thiên địch để tạo điều kiện cho các nghiên cứu sâu hơn về việc nhân nuôi và lây thả các loài thiên địch trong tự nhiên

Trang 10

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

BVTV Bảo vệ thực vật

Ctv Cộng tác viên

ICRISAT Viện nghiên cứu cây có dầu quốc tế Ấn Độ

IPM Quản lý dịch hại tổng hợp (Integrated Pest Management)

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Trang

3.3.1 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) trên

lạc L14 ở các chân đất trồng khác nhau, vụ Xuân 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 3.3.2 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá lạc đầu đen (Archips asiaticus W.)

trên lạc L14 vụ Xuân sớm và Xuân chính vụ năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 3.3.3 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) trên

các giống lạc khác nhau, vụ Xuân năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 48

Hình 3.3 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.)

trên các giống lạc khác nhau, vụ Xuân năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Kết quả Bảng 3.7 cho thấy: cả ba giống sâu cuốn lá đầu đen đều xuất

hiện khi cây lạc bắt đầu phân cành với mật độ tương ứng trên các giống L14 (2,8 con/m2), Sen lai (3,6 con/m2) và L26 (3,4 con/m2) Nhìn chung, trên đồng ruộng có 2 lứa sâu chính phá hại, một lứa gây hại khi lạc có 5 lá và phân cành, tuy nhiên mật

độ sâu lứa này không cao; lứa thứ 2 gây hại mạnh nhất vào lúc lạc ra hoa rộ - đâm tia hình thành quả, đây là lứa gây hại chính

và đạt đỉnh cao mật độ tương ứng trên giống L14 (14,2 con/m2), Sen lai (14,8 con/m2) và L26 (15,4 con/m2) Sau đó chúng chuyển sang phá hại trên các ruộng lạc trồng muộn Trên 3 giống lạc có sự khác nhau về mật độ trung bình, giống L26 có mật độ sâu cuốn lá đầu đen cao nhất (5,48 con/m2), tiếp đến là

Trang 12

giống Sen lai (4,92 con/m2) và giống L14 có mật độ sâu cuốn lá thấp nhất (4,55 con/m2) 3.3.4 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus ) trên lạc

L14 trồng thuần và trồng xen ngô, vụ Xuân năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Kết quả Bảng 3.8 và Hình 3.4 cho thấy: ở giai đoạn đầu từ khi mọc đến

khi lạc phân cành, diễn biến mật độ của sâu cuốn lá đầu đen trên các công thức trồng thuần, trồng xen đều thấp Trên ruộng lạc trồng thuần mật độ sâu cuốn lá đầu đen cao nhất 14,2 con/m2 vào giai đoạn cây lạc bắt đầu hình thành quả Trong khi đó ruộng trồng xen ngô mật độ cao nhất đạt 12,0 con/m2 cũng ở giai đoạn cây lạc bắt đầu hình thành quả Mật độ sâu cuốn lá đầu đen trung bình ở ruộng lạc trồng thuần (4,55 con/m2) cũng cao hơn ở công thức trồng xen ngô (3,09 con/m2) Như vậy đối với sâu cuốn lá đầu đen nói riêng và các loài sâu hại lạc nói

chung nên trồng xen lạc với cây trồng khác họ để hạn chế sự gia tăng mật độ của chúng; hơn nữa xen canh còn làm tăng sự đa dạng thực vật trên đồng ruộng, từ đó làm phong phú thêm sinh quần đồng ruộng, tạo điều kiện thuận lợi cho kẻ thù tự nhiên phát triển và tăng tính ổn định của cân bằng sinh học 3.3.5 Mối quan hệ giữa mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus

W.) với một số loài côn trùng ký sinh, bắt mồi phổ biến trên lạc trồng vụ Xuân năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Cây trồng – sâu cuốn lá – côn trùng ký sinh, bắt mồi là những mắt xích

không thể thiếu được trong mạng lưới dinh dưỡng Sự cân bằng sinh học trên đồng ruộng được bảo vệ, tồn tại và phát triển là nhờ sự đóng góp tích cực giữa mối quan hệ cây trồng – sâu cuốn

lá – côn trùng ký sinh, bắt mồi

Trang 13

Từ lâu sự cân bằng động trong tự nhiên đã được thiết lập đảm bảo cho sự

tồn tại và phát triển của các loài sinh vật, song sự cân bằng này

đã dần bị phá hủy bởi những tác động tiêu cực của con người, chỉ vì lợi ích kinh tế, như việc lạm dụng thuốc trừ sâu hóa học

đã phá vỡ sự cân bằng tự nhiên vốn có, gây ra các hậu quả to lớn như việc kháng thuốc của các loại sâu hại, việc xuất hiện và lây lan dịch hại , không những thế còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái đồng ruộng khi tác động mạnh đến thành phần, kết cấu đất, nước

Sự cân bằng trên sinh quần có thể được khôi phục lại khi mà con người

biết tác động vào đó một cách hợp lý phù hợp với các quy luật

tự nhiên, đảm bảo các mối quan hệ sinh thái trong sinh quần ruộng lạc

Để làm được việc đó trước hết chúng tôi tiến hành nghiên cứu Mối quan

hệ giữa mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) với một số loài côn trùng ký sinh, bắt mồi phổ biến trên lạc Để từ

đó có các biện pháp tác động có ích cho sinh quần ruộng lạc phù hợp với các quy luật tự nhiên, tìm ra các tác động thích hợp hạn chế được sự phá hoại của sâu hại, tăng năng suất cây trồng và bảo vệ môi trường sinh thái một cách có hiệu quả Chính vì vậy muốn sử dụng các loài thiên địch nói chung và các loài ong

ký sinh nói riêng trong việc hạn chế số lượng sâu hại thì việc nghiên cứu mối quan hệ giữa mật độ sâu hại – thiên địch là điều quan trọng và là điều đầu tiên cần chú ý đến, bởi từ đó có thể biết được diễn biến của sâu hại trên đồng ruộng, đồng thời biết được các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển của các loài thiên địch để tạo điều kiện cho các nghiên cứu sâu hơn về việc nhân nuôi và lây thả các loài thiên địch trong tự nhiên

Trang 14

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

3.3.1 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) trên

lạc L14 ở các chân đất trồng khác nhau, vụ Xuân 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 3.3.2 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá lạc đầu đen (Archips asiaticus W.)

trên lạc L14 vụ Xuân sớm và Xuân chính vụ năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 3.3.3 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) trên

các giống lạc khác nhau, vụ Xuân năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 48

Hình 3.3 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.)

trên các giống lạc khác nhau, vụ Xuân năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Kết quả Bảng 3.7 cho thấy: cả ba giống sâu cuốn lá đầu đen đều xuất

hiện khi cây lạc bắt đầu phân cành với mật độ tương ứng trên các giống L14 (2,8 con/m2), Sen lai (3,6 con/m2) và L26 (3,4 con/m2) Nhìn chung, trên đồng ruộng có 2 lứa sâu chính phá hại, một lứa gây hại khi lạc có 5 lá và phân cành, tuy nhiên mật

độ sâu lứa này không cao; lứa thứ 2 gây hại mạnh nhất vào lúc lạc ra hoa rộ - đâm tia hình thành quả, đây là lứa gây hại chính

và đạt đỉnh cao mật độ tương ứng trên giống L14 (14,2 con/m2), Sen lai (14,8 con/m2) và L26 (15,4 con/m2) Sau đó chúng chuyển sang phá hại trên các ruộng lạc trồng muộn Trên 3 giống lạc có sự khác nhau về mật độ trung bình, giống L26 có

Trang 15

mật độ sâu cuốn lá đầu đen cao nhất (5,48 con/m2), tiếp đến là giống Sen lai (4,92 con/m2) và giống L14 có mật độ sâu cuốn lá thấp nhất (4,55 con/m2) 3.3.4 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus ) trên lạc

L14 trồng thuần và trồng xen ngô, vụ Xuân năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Kết quả Bảng 3.8 và Hình 3.4 cho thấy: ở giai đoạn đầu từ khi mọc đến

khi lạc phân cành, diễn biến mật độ của sâu cuốn lá đầu đen trên các công thức trồng thuần, trồng xen đều thấp Trên ruộng lạc trồng thuần mật độ sâu cuốn lá đầu đen cao nhất 14,2 con/m2 vào giai đoạn cây lạc bắt đầu hình thành quả Trong khi đó ruộng trồng xen ngô mật độ cao nhất đạt 12,0 con/m2 cũng ở giai đoạn cây lạc bắt đầu hình thành quả Mật độ sâu cuốn lá đầu đen trung bình ở ruộng lạc trồng thuần (4,55 con/m2) cũng cao hơn ở công thức trồng xen ngô (3,09 con/m2) Như vậy đối với sâu cuốn lá đầu đen nói riêng và các loài sâu hại lạc nói

chung nên trồng xen lạc với cây trồng khác họ để hạn chế sự gia tăng mật độ của chúng; hơn nữa xen canh còn làm tăng sự đa dạng thực vật trên đồng ruộng, từ đó làm phong phú thêm sinh quần đồng ruộng, tạo điều kiện thuận lợi cho kẻ thù tự nhiên phát triển và tăng tính ổn định của cân bằng sinh học 3.3.5 Mối quan hệ giữa mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus

W.) với một số loài côn trùng ký sinh, bắt mồi phổ biến trên lạc trồng vụ Xuân năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Cây trồng – sâu cuốn lá – côn trùng ký sinh, bắt mồi là những mắt xích

không thể thiếu được trong mạng lưới dinh dưỡng Sự cân bằng sinh học trên đồng ruộng được bảo vệ, tồn tại và phát triển là

Trang 16

nhờ sự đóng góp tích cực giữa mối quan hệ cây trồng – sâu cuốn

lá – côn trùng ký sinh, bắt mồi

Từ lâu sự cân bằng động trong tự nhiên đã được thiết lập đảm bảo cho sự

tồn tại và phát triển của các loài sinh vật, song sự cân bằng này

đã dần bị phá hủy bởi những tác động tiêu cực của con người, chỉ vì lợi ích kinh tế, như việc lạm dụng thuốc trừ sâu hóa học

đã phá vỡ sự cân bằng tự nhiên vốn có, gây ra các hậu quả to lớn như việc kháng thuốc của các loại sâu hại, việc xuất hiện và lây lan dịch hại , không những thế còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái đồng ruộng khi tác động mạnh đến thành phần, kết cấu đất, nước

Sự cân bằng trên sinh quần có thể được khôi phục lại khi mà con người

biết tác động vào đó một cách hợp lý phù hợp với các quy luật

tự nhiên, đảm bảo các mối quan hệ sinh thái trong sinh quần ruộng lạc

Để làm được việc đó trước hết chúng tôi tiến hành nghiên cứu Mối quan

hệ giữa mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) với một số loài côn trùng ký sinh, bắt mồi phổ biến trên lạc Để từ

đó có các biện pháp tác động có ích cho sinh quần ruộng lạc phù hợp với các quy luật tự nhiên, tìm ra các tác động thích hợp hạn chế được sự phá hoại của sâu hại, tăng năng suất cây trồng và bảo vệ môi trường sinh thái một cách có hiệu quả Chính vì vậy muốn sử dụng các loài thiên địch nói chung và các loài ong

ký sinh nói riêng trong việc hạn chế số lượng sâu hại thì việc nghiên cứu mối quan hệ giữa mật độ sâu hại – thiên địch là điều quan trọng và là điều đầu tiên cần chú ý đến, bởi từ đó có thể biết được diễn biến của sâu hại trên đồng ruộng, đồng thời biết được các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển của các

Trang 17

loài thiên địch để tạo điều kiện cho các nghiên cứu sâu hơn về việc nhân nuôi và lây thả các loài thiên địch trong tự nhiên

Trang 18

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp ngắn ngày có nguồn gốc từ

Nam Mỹ Lạc là cây đứng thứ 2 trong tổng số các loại cây lấy dầu thực vật, nó chỉđứng sau cây đậu tương, là cây có giá trị kinh tế cao đã và đang được nhiều nướctrên thế giới quan tâm [30]

Cây lạc có giá trị dinh dưỡng cao, là nguồn lipit và protein quan trọng đối vớicon người Thân lá lạc còn là nguồn cung cấp thức ăn cho gia súc; tỷ lệ các chấtđường, đạm trong thân lá khá cao, đặc biệt trong khô dầu lạc có chứa tới 50%protein có thể cung cấp đầy đủ thức ăn cho gia súc Dầu lạc cũng được dùng trongnhiều ngành công nghiệp Trong số các cây trồng hằng năm thì lạc có khối lượngxuất khẩu đứng thứ 2 sau cây lúa [33]

Tuy nhiên năng suất và sản lượng lạc ở nước ta nói chung còn chưa ổn định doảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh, sâu bệnh, các biện pháp kỹ thuật, giống ,trong đó sâu hại cũng là 1 trong những nguyên nhân rất quan trọng Cho đến thờiđiểm từ năm 2005 đến 2007 năng suất lạc của nước ta mới chỉ dừng lại ở mức trungbình (1,77 tấn – 1,80 tấn/ha); trong khi đó năng suất lạc của Trung Quốc đạt từ 3,04– 3,21 tấn ha, của Mỹ từ 3,21 – 3,51 tấn/ha, Ixrael 6,7 tấn/ha [32] Bởi thế, việc đẩynăng suất lạc ở nước ta lên ngang tầm với các nước nói trên đang là một thách thứclớn đối với các nhà khoa học

Theo thống kê của FAO thì Việt Nam là một trong mười quốc gia đứng hàngđầu thế giới về sản xuất lạc, sản lượng lạc đạt 533,8 nghìn tấn [52] Hiện nay khuvực Bắc Trung Bộ là nơi có diện tích lạc lớn nhất cả nước (107,2 nghìn ha), tiếp đến

là khu vực trung du miền núi phía Bắc (50,8 nghìn ha) và đồng bằng sông Hồng(34,5 nghìn ha)

Nghệ An được coi là vùng trồng lạc có truyền thống lâu đời, là tỉnh có diệntích gieo trồng lạc lớn nhất cả nước (24,1 nghìn ha và sản lượng là 48,5 nghìn tấn)chủ yếu tập trung tại một số huyện ven biển như Nghi Lộc (4300 ha), Diễn Châu( 3800 ha), và chủ yếu sản xuất trong vụ xuân [3]

Trang 19

Nghi Lộc là 1 trong những huyện có diện tích lớn, phẩm chất lạc tốt, năng suấtcao 20 – 22 tạ/ha và đạt tỷ lệ xuất khẩu 60 - 70 %, song năng suất lạc thường không

ổn định qua các năm, một trong những nguyên nhân chủ yếu là do sâu bệnh phá hại

Ở các vùng trồng Lạc thuộc Huyện Nghi Lộc thì xu hướng chính trong phòng trừsâu hại lạc là quản lý tổng hợp dịch hại trên cây lạc, trong đó việc lợi dụng, duy trìcác loài thiên địch của sâu hại lạc, nhằm giảm thiểu thấp nhất việc sử dụng thuốchóa học trên cánh đồng lạc đang được ưu tiên, quan tâm và ứng dụng rộng rãi Tuynhiên việc điều tra các loài thiên địch sâu hại lạc ở Nghi Lộc vẫn chưa được tiếnhành một cách có hệ thống Hơn nữa, để phát triển biện pháp sinh học trong phòngchống sâu hại lạc ngoài việc xác định thành phần sâu hại lạc thì cần phải quan tâmtới thành phần thiên địch của chúng, đặc biệt là những nghiên cứu sinh học, sinhthái các loài sâu hại chính và tập hợp các loài côn trùng ký sinh và bắt mồi củachúng trên lạc

Vì vậy, xuất phát từ tình hình thực tế của sản xuất, góp phần tìm hiểu tác hạicủa sâu hại lạc, từ đó đề xuất biện pháp phòng chống để nâng cao năng suất vàphẩm chất lạc ở Nghệ An nói chung và Nghi Lộc nói riêng, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài: “Thành phần sâu hại và thiên địch trên cây lạc; đặc điểm

sinh học, sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá đầu đen (Archips

asiaticus Walsinhham) hại lạc vụ xuân 2014 ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An”.

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở xác định được thành phần sâu hại lạc và thiên địch của chúng, một

số đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus

Walsinhham) từ đó đề xuất biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá hại lạc một cách hợp lý

để tăng năng suất cây lạc, giảm thiểu việc sử dụng thuốc hóa học trên cánh đồng ởhuyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

3 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

- Các loài sâu hại trên lạc và thiên địch của chúng

- Sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) hại lạc.

Trang 20

* Phạm vi và nội dung nghiên cứu

- Thu thập và xác định thành phần sâu hại lạc và thiên địch của chúng (côntrùng ký sinh sâu hại lạc và côn trùng bắt mồi)

- Xác định đặc điểm sinh học của sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.)

trong điều kiện phòng thí nghiệm

- Xác định diễn biến mật độ của sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) và

mối quan hệ của nó với một số loài côn trùng ký sinh, bắt mồi phổ biến trên cây lạctại Nghi Lộc, Nghệ An

- Khảo nghiệm hiệu lực của một số loại thuốc sinh học trừ sâu cuốn lá lạc và

đề xuất biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá lạc một cách hợp lý

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

* Ý nghĩa khoa học

Kết quả điều tra nghiên cứu góp phần bổ sung thành phần sâu hại lạc vàthiên địch của chúng ở vùng nghiên cứu, bổ sung những dẫn liệu về đặc điểm sinh

học, sinh thái học của sâu cuốn lá (Archips asiaticus W.) Đây là những tài liệu

khoa học để tập huấn, giúp người sản xuất lạc nhận biết về sâu hại lạc và thiên địchcủa chúng trên đồng ruộng nhằm bảo vệ và duy trì tập hợp thiên địch sâu hại lạc

trên cánh đồng Hơn nữa, các dẫn liệu về diễn biến mật độ của sâu cuốn lá (Archips

asiaticus W.) cũng giúp cho các nhà dự tính, dự báo xác định thời điểm tốt nhất để

phòng trừ sâu cuốn lá lạc nhưng vẫn bảo vệ được các loài côn trùng ký sinh, bắt

mồi, đồng thời đề xuất biện pháp phòng chống sâu hại lạc có hiệu quả

* Ý nghĩa thực tiễn

Trên cơ sở kết quả điều tra bức tranh sinh thái của hệ sinh thái ruộng lạc,người nông dân bước đầu chủ động đề xuất biện pháp phòng chống sâu cuốn lá

(Archips asiaticus W.) hại lạc một cách hợp lý, giảm thiểu chi phí sử dụng thuốc

hóa học mà vẫn tăng năng suất cây lạc

Các dẫn liệu được trình bày trong luận văn sẽ là cơ sở để góp phần vào việc

áp dụng có hiệu quả biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) sâu hại lạc tạihuyện Nghi Lộc nói riêng và của tỉnh Nghệ An nói chung

Trang 21

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

* Dịch hại cây trồng là trạng thái tự nhiên của hệ sinh thái nông nghiệp

Các hệ sinh thái tự nhiên đều có khả năng tự điều chỉnh riêng Đó là khả năng

tự lập lại cân bằng, cân bằng giữa các quần thể trong hệ sinh thái (ăn thịt - vật mồi,

ký sinh - vật chủ), cân bằng các vòng tuần hoàn vật chất và dòng năng lượng giữacác thành phần của hệ sinh thái Sự cân bằng này cũng có nghĩa là sự cân bằng giữacác vật sản xuất, vật tiêu thụ và vật phân hủy Sự cân bằng này cũng được gọi là sựcân bằng sinh thái Nhờ có sự điều chỉnh này mà các hệ sinh thái tự nhiên giữ được

sự ổn định mỗi khi chịu tác động của các nhân tố ngoại cảnh

Hệ sinh thái là một hệ thống sống có khả năng tự điều chỉnh Đó là khả năng

tự lập lại sự cân bằng giữa các quần thể sinh vật sống cùng nhau, trong đó là sự điềuchỉnh mối quan hệ khác loài trong quần xã như mối quan hệ giữa vật ăn thịt vớicon mồi, giữa ký sinh với vật chủ và đó chính là cơ sở tạo nên sự cân bằng sinh thái.Tuy nhiên, khả năng tự lập lại cân bằng của hệ sinh thái là cũng có giới hạn và chịu

sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường trong đó có sự tác động của con người.Con người đôi khi vì muốn thu lợi nhuận kinh tế cao nên bằng nhiều hoạt động đãlàm cản trở khả năng tự điều chỉnh của hệ sinh thái, dẫn tới mất cân bằng sinh thái,gây suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường Muốn quản lý tốt các hệ sinh tháithì nguyên lý cơ bản cần tuân thủ đó là giữ cho các hệ sinh thái này không nằmngoài khả năng tự điều chỉnh của nó

Nói về tác hại của một loài sinh vật nào đó, thực ra là xét dưới góc độ lợi íchcủa nó đối với con người Trong tự nhiên không có loài sinh vật gây hại cũng không

có loài sinh vật nào hoàn toàn có lợi Thực ra, mỗi loài sinh vật đều có một vị trínhất định trong tự nhiên, chúng thực hiện những chức năng riêng trong chu trìnhchu chuyển hóa vật chất của tự nhiên

Trang 22

Ở vòng tuần hoàn vật chất các loài sinh vật tồn tại hài hòa với nhau khi hệ sinhthái hoạt động bình thường Do đó, đảm bảo cho hệ sinh thái tồn tại và phát triển.Trên cơ thể cây trồng và xung quang các loài cây trồng có rất nhiều loài sinh vậtkhác nhau cùng tồn tại Trong số đó, có loài cần thiết cho hoạt động sống của câytrồng, thiếu chúng cây không thể sống được một cách bình thường Bên cạnh đó, cóloài sinh vật lấy cây trồng làm thức ăn (đây là các loài sinh vật gây hại - dịch hạicây trồng) Thế nhưng không phải tất cả các sinh vật lấy cây trồng làm thức ăn đều

là dịch hại đối với con người: Côn trùng ăn cỏ dại trở thành có ích Côn trùng bắtmồi, ký sinh là yếu tố điều hòa quần thể dịch hại, tạo điều kiện cho dịch hại giữđược số lượng thích hợp trong hệ sinh thái

Như vậy “Sinh vật có lợi hay có hại không phải là thuộc tính của một sinh vật

nào đó mà là đặc tính của loài đó trong mối quan hệ nhất định của mỗi hệ sinh thái” Các loài sinh vật vừa là điều kiện tồn tại của nhau vừa là yếu tố hạn chế nhau

trong mỗi chuỗi dinh dưỡng của chu trình tuần hoàn vật chất (Hà Quang Hùng,1998) [8]

* Cấu trúc và tính ổn định của quần xã sinh vật

Tính ổn định và năng suất quần thể của một loài được xác định bởi rất nhiềuyếu tố, một phần các yếu tố đó là cấu trúc của quần xã sinh vật (Watt, 1976) Cấutrúc của quần xã sinh vật bao gồm 3 nhóm yếu tố:

a Mạng lưới dinh dưỡng trong quần xã (thể hiện quan hệ dinh dưỡng trongquần xã sinh vật)

b Sự phân bố không gian của sinh vật

c Sự đa dạng của quần xã

Cũng như các hệ sinh thái khác trong hệ sinh thái đồng ruộng luôn luôn tồn tạimối quan hệ về mặt dinh dưỡng và đó là mối quan hệ tất yếu trong quần xã sinh vậtcũng như hệ sinh thái, mỗi loài sinh vật thường là thức ăn là điều kiện tồn tại chomỗi loài sinh vật khác Quan hệ phổ biến giữa các loài sinh vật là quan hệ phụ thuộclẫn nhau vô cùng phức tạp, nhưng có quy luật, đặc biệt là quan hệ dinh dưỡng (Thểhiện qua chuỗi và lưới thức ăn)

Trang 23

* Quan hệ dinh dưỡng

Một tập hợp các sinh vật cùng sống trong một vùng hoặc sinh cảnh xác địnhđược hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, liên hệ với nhau do những đặc trưngchung về sinh thái học mà các thành phần cấu thành quần xã (quần thể, các cá thể)không co Sự tập hợp này không phải là một con số cộng đơn thuần mà giữa cácloài đó có mối quan hệ rất chặt chẽ, trước hết là mối quan hệ về dinh dưỡng và nơi

ở Quan hệ này có thể là tương hổ hoặc đối địch, cạnh tranh

Trong quần xã, các loài có quan hệ mật thiết với nhau, mối quan hệ đó thể hiện

rõ nhất ở quan hệ dinh dưỡng với mọi thành viên của quần xã đều tham gia vào mộttrong ba pha của vòng tuần hoàn vật chất: pha sản xuất, pha tiêu thụ, và phân hủy.Kết gắn sinh vật với nhau là dây chuyền dinh dưỡng, mỗi loài là một mắt xích củadây chuyền dinh dưỡng ấy, mối quan hệ giữa các mắt xích thức ăn rất phức tạp, nóảnh hưởng đến tương quan số lượng của nhau Chỉ một mắt xích thay đổi thì toàn

bộ chuỗi, thậm chí toàn bộ mạng lưới thức ăn bị thay đổi theo Các chuỗi thức ănđều là tạm thời và không bền vững như mọi mối quan hệ sinh học khác

* Biến động số lượng côn trùng

Trên cơ sở xem xét hàng loạt dẫn liệu về sự biến đổi số lượng và các dạng cơchế điều hòa số lượng, Viktorov (1967) đã tổng hợp khái quát thành sơ đồ chungcủa biến động số lượng côn trùng Một trong những đặc trưng của quần thể là mật

độ cá thể trong quần thể được xác định bởi sự tương quan giữa các quá trình bổsung thêm và giảm bớt số lượng cá thể Tất cả là các yếu tố gây biến động đều tácđộng đến quá trình này khi chúng làm thay đổi sức sinh sản, tỷ lệ tử vong của quầnthể và sự di cư của các cá thể Các yếu tố vô sinh mà trước hết là điều kiện thời tiết,khí hậu tác động đến côn trùng một cách trưc tiếp hoặc gián tiếp thông qua thức ăn,thiên địch Sự điều hòa thông qua các mối quan hệ tác động qua lại đó đã phản ánhảnh hưởng của mật độ lên sức sinh sản, tỷ lệ tử vong và di cư, trong đó tồn tại mốiquan hệ trong loài và bằng sự thay đổi tích cực của thiên địch và đặc điểm của thức

ăn Sự tồn tại của các mối quan hệ này đảm bảo những thay đổi đền bù cho sự bổsung và giảm bớt số lượng cá thể của quần thể Chính sự tác động thuận nghịch đó

Trang 24

đã san bằng những sai lệch ngẫu nhiên trong mật độ quần thể (Hà Quang Hùng,1998) [8].

Số lượng của côn trùng đặc biệt là các loài sâu hại thường có sự dao động từthế hệ này sang thế hệ khác Số lượng lần sau gia tăng có khi đến hàng trăm lần vàkéo dài một thời gian rồi lại đột ngột giảm xuống đến mức thấp nhất, duy trì ở mức

độ đó trong một thời gian Sự sinh sản hàng loạt của các loài sâu hại phần lớnkhông tiếp diễn theo tiến trình tự nhiên Qúa trình biến đổi xảy ra do tác động củacác yếu tố môi trường, chủ yếu là các yếu tố thời tiết, khí hậu và mối quan hệ vật ănthịt - vật mồi

Ở côn trùng ăn thịt, sự điều chỉnh số lượng quần thể quan trọng là sự cạnhtranh trong loài Hiện tượng ăn thịt lẫn nhau thường xuất hiện trong quần thể chủyếu do thiếu thức ăn Sự tác động đó dẫn đến sự ổn định không bền vững của sốlượng quần thể Vai trò quan trọng của vật ăn thịt được coi là yếu tố điều hòa sốlượng côn trùng và được thể hiện ở hai phản ứng đặc trưng là phản ứng số lượng vàphản ứng chức năng

Hiện nay có hàng loạt dẫn liệu thực tế xác nhận khả năng điều hòa của các cơchế điều hòa ở các mức độ khác nhau của quần thể Cơ chế đó được thưc hiện liêntục kế tiếp nhau tham gia tác động khi mật độ quần thể được điều hòa vượt ra khỏigiới hạn hoạt động của yếu tố điều hòa trước đó

Phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại cây trồng (IPM) dựa trên mối quan hệ tương

hỗ giữa cây trồng – sâu hại – thiên địch trong hệ sinh thái nông nghiệp, các nguyêntắc sinh thái và đa dạng sinh học của hệ sinh thái nông nghiệp

1.2 Tình hình nghiên cứu sâu hại và thiên địch của chúng trên sinh quần ruộng lạc ở thế giới và Việt Nam

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.2.1.1 Tình hình nghiên cứu sâu hại lạc

Trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển, cây lạc bị rất nhiều loại sâu pháhại Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm giảm năng suất, phẩm chất

và tăng chi phí đầu tư cho sản xuất lạc

Trang 25

Kết quả nghiên cứu của Wynnigor (1962) [52] cho thấy ở vùng nhiệt đới, câylạc bị 37 loài sâu phá hại từ hạt giống đến tất cả các bộ phận của cây, thiệt hại dosâu gây ra làm giảm 17,1 % sản lượng lạc, bệnh hại làm giảm 15 %, cỏ dại làmgiảm 11,5 % Như vậy thiệt hại do sâu hại gây ra là lớn hơn cả.

Tuy nhiên hiện nay thiệt hại do các đối tượng gây ra còn phụ thuộc vào nhiềuyếu tố như: vùng địa lý, điều kiện sinh thái, mùa vụ Nhiều loại trước đây gây hạithứ yếu nay lại trở thành đối tượng gây hại nghiêm trọng; ở Ấn Độ trước đây giòiđục lá chỉ có ở vùng phía Nam nay đã lan đến miền Trung, thiệt hại hàng năm dochúng gây ra ước tính khoảng 160 triệu USD (Ranga Rao, Shanower, 1988) [44] Tại Thái Lan đã có hơn 30 loài sâu hại trên các ruộng trồng đậu đỗ, trong đó

có 10 loài gây hại nghiêm trọng làm giảm năng suất (Aphirat Arunin,1978) [34] Ởvùng Bắc Mỹ, thành phần sâu hại đậu đỗ gồm 33 loài, vùng trung và Nam Mỹ có 30loài và các nước phương Đông có 26 loài Theo Gazzoni (1994) [36] thì trên tất cảcác loại đậu đỗ vùng nhiệt đới có 81 loài sâu hại, trong đó 34 loài sâu hại mầm vàthân, 25 loài hại lá, 22 loài hại quả và hạt Tùy theo vùng địa lý khac nhau mà cácloài sâu hại chính cũng khác nhau

Theo Turnipseed and Kogan (1976) [49] thì sâu hại đã tấn công vào tất cả các

bộ phận trên cây đậu đỗ như rễ, nốt sần, mầm, thân, lá, hoa, quả và hạt Nhóm hạitrong đất thường gây ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lạc như: mối, rệp sáp, kiến,sùng trắng Nhóm sâu gây hại trên mặt đất cũng rất nghiêm trọng, bao gồm một sốloài thuộc bộ cảnh vảy như sâu xám cắn cây con, sâu xanh, sâu khoang, sâu cuốn lá,rầy, rệp, bọ trĩ Ngoài ra còn có nhện đỏ, sâu róm chỉ đỏ (Mohamed, 1981) [41].Ghosh and Dray (1981) [37] khi nghiên cứu về sâu hại lạc đã kết luận rằng rệp

muội đen (Aphis craccivora Koch) là loài gây hại chủ yếu trên cây họ Đậu ở quanh

vùng Calcutta, làm giảm năng suất và chất lượng quả một cách nghiêm trọng

Theo Smith and Barfield (1982) [48], có 360 loài sử dụng cây lạc làm thức ăn,khoảng 6 % số loài gây hại quan trọng Các loài này được phân thành các nhóm:nhóm hại trong đất và nhóm hại trên mặt đất Trong đó nhóm sâu chích hút khoảng

100 loài nhưng ảnh hưởng đến năng suất chủ yếu là các loài rệp muội đen (Aphis

Trang 26

craccivora Koch), rầy xanh (Empoasca flavescens Fabr.), bọ trĩ (Caliothrips inducus Bagnall).

Hill and Waller (1985) [38] cho biết ở vùng nhiệt đới có 8 loài sâu hại lạc chủyếu và 40 loài gây hại thứ yếu, những loài gây hại đặc biệt nguy hiểm như: rệp

muội đen (Aphis craccivora Koch), sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.), sâu xám (Agrotis ypsilon Rott), sâu xanh (Helicoverpa armigera Hubner), ban miêu (Epicauta impressiconnis Pic), sâu cuốn lá lạc đầu đen (Archips asiaticus

Walsinhham) và một số loài khác thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera) Các loài sâu hạinày được mô tả chi tiết về phổ ký chủ, phạm vi phân bố, triệu chứng, tác hại Một

số đặc điểm hình thái, sinh học và các biện pháp phòng trừ ngoài đồng ruộng

Nghiên cứu của Wallis and Byth (1986) [50] đã xác định trên cây lạc chỉ tínhriêng sâu đục củ và sâu hại rễ đã có tới 15 loài, thuộc 12 họ, 9 bộ côn trùng Đó làcác họ Kiến (Formicidae), họ Bọ hung ( Scarabaeidae), họ Ngài đèn (Arctiidae), họNgài độc (Lymantridae), họ Ngài đục lá (Phyllocnistidae), họ Ngài cuốn lá(Tortriccidae), họ Ngài sáng (Pyralidae), rầy nhảy (Cicadelidae), họ Ngài đêm(Noctuidae), bọ trĩ (Thiripidae), mối ( Termitidae)

Tại Trung Quốc, các loài gây hại ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế của

sản xuất lạc bao gồm: sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.), sâu keo da láng (Spodoptera exigua), sâu xanh (Helicoverpa armigera Hubner); tổng giá trị

phòng trừ các loài sâu hại này ước tính khoảng 5 tỷ nhân dân tệ (Ching TiengTseng, 1991) [35]

Bên cạnh việc gây hại trực tiếp trên cây lạc thì một số loài sâu còn gây hạigián tiếp thông qua con đường truyền lan bệnh virus, thiệt hại do bệnh virus đôi khicòn lớn hơn Tại Nigeria, chỉ tính riêng thiệt hại do bệnh virus gây ra cho sản xuấtlạc trong năm 1975 đã lên tới 250 triệu đôla Họ bọ rầy (Jassidae) truền 48 loạivirus, họ bọ phấn (Aphididae) truyền 48 loại virus, họ bọ phấn (Aleyrodidae) truyền

18 loại virus Riêng bệnh chết chồi ( Bud necroisdisease) truyền lan nhờ bọ trĩ vàrầy xanh đã gây thiệt hại mỗi năm lên tới 90 triệu đô la ở một số nước Châu Á nhưTrung Quốc, Ấn Độ (Ranga Rao, Wightman, 1993) [45]

Trang 27

Ở vùng Tây Nam Thái Bình Dương, Waterhouse and Noris (1987) [51] xácđịnh được 157 loài sâu hại trên lạc, trong đó có 46 loài quan trọng và có ít nhất 25loài được đầu tư nghiên cứu tỷ mỉ và đã có biện pháp phòng trừ một số loài có hiệuquả Tại vùng Đông Nam Á đã thu thập được 37 loài sâu hại lạc, trong đó có 19 loài

có mức độ phố biến cao

Richar (2002) [47] cho rằng ở Florida các loài sâu hại lạc chính bao gồm bọtrĩ, bọ phấn, sâu xám, sâu khoang, sâu xanh, sâu cuốn lá, sâu đục ngọn, bọ xít.Phillip and Richard (2005) [43] khi nghiên cứu về biện pháp phòng chống cácloại sâu hại lạc ở Oklahoma đã kết luận rằng loài sâu xám gây hại chủ yếu ở giaiđoạn cây con, ít khi gây hại trên diện tích lớn; nên sử dụng biện pháp xử lý khi mật

độ sâu ≥ 2-3 con/hàng ở cả vùng đất khô và đất ẩm Còn các loài chích hút lá di cưvào ruộng lạc trong tháng 6 và tháng 7, chúng có thể tiếp tục tồn tại cho đến tậntháng 9 và gây hại làm cho lá bị biến màu, cây còi cọc không phát triển được Đốivới sâu xanh, sâu khoang và sâu cuốn lá thì nguy cơ bị giảm năng suất là rất lớn ởgiai đoạn sau trồng từ 60-90 ngày, bởi vì lúc này sâu ăn trụi lá ảnh hưởng lớn đếnkhả năng quang hợp tích lũy chất khô Cần phải theo dõi và kiểm tra thường xuyêntrên đồng ruộng trong suốt tháng 7 và tháng 8, nếu mật độ sâu vượt quá 3-5con/hàng ở vùng đất khô và 6-8 con/hàng ở vùng đất ẩm thì cần thiết phải dùngthuốc hoá học

1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu thiên địch của sâu hại lạc

Thiên địch cũng là một yếu tố quan trọng góp phần làm giảm mật độ sâu hạitrên đồng ruộng Chúng điều hòa số lượng chủng quần dịch hại, giữ dịch hại ởdưới ngưỡng và duy trì như những mắt xích trong mạng lưới dinh dưỡng Sự thiếuvắng kẻ thù tự nhiên là một trong những yếu tố làm cho sâu hại gia tăng nhanh vềmặt số lượng và dễ phát sinh thành dịch

Ở Ấn Độ, loài sâu xanh (Helicoverpa armigera) bị 37 loài ký sinh,

trong đó 8 loài có vai trò quan trọng trong việc hạn chế số lượng sâu xanh Ở ChâuPhi, sâu xanh bị 23 loài ký sinh, trong đó có 20 loài thuộc bộ cánh màng, 3 loài

Trang 28

thuộc bộ hai cánh; sâu khoang bị 46 loài ký sinh, gồm 36 loài thuộc bộ cánh màng

và 10 loài thuộc bộ hai cánh (Waterhouse and Norris, 1987) [51]

Ranga Rao and Shanower (1988) [44] đã xác định được 67 loài thiênđịch của sâu hại lạc tại vùng Andhra Pradesh (Ấn Độ), trong đó có 44 loài côn trùng

và nhện lớn bắt mồi, 23 loài côn trùng ký sinh Trên sâu khoang tìm thấy 6 loài kýsinh, 7 loài ký sinh trên sâu xanh, 3 loài ký sinh sâu đo, 4 loài ký sinh sâu cuốn lá.Trong giai đoạn 1984-1993, trung tâm ICRISAT đã nghiên cứu về ký sinh sâunon của sâu vẽ bùa và sâu khoang hại lạc cho thấy tỷ lệ sâu bị ký sinh trung bìnhtrong mùa mưa là 34% và sau mùa mưa là 40%, nhờ đó đã làm giảm đáng kể mật

độ sâu vẽ bùa Đối với sâu khoang, khi điều tra đã bắt gặp ong ký sinh trứng

Trichogramma spp., tuy nhiên tỷ lệ ký sinh thấp Kết quả điều tra qua 17 vụ cho

thấy sâu khoang bị ký sinh chủ yếu ở giai đoạn sâu non, tỷ lệ chết do ký sinh biếnđộng từ 10-36%, trung bình là 15% Tuy nhiên sự xuất hiện và hiệu quả của ký sinhphụ thuộc vào thời vụ (ICRISAT, 1993)[39]

Ở Ấn Độ, từ lâu người nông dân đã biết áp dụng biện pháp canh tác trongphòng trừ sâu hại lạc, chẳng hạn như trồng cây thầu dầu để thu hút trưởng thành sâukhoang đến đẻ trứng, sau đó gom lại và tiêu diệt trứng trước khi sâu nở Ngoài ra,trồng cây hướng dương trên ruộng lạc có tác dụng dẫn dụ trưởng thành sâu khoang

và sâu xanh đến đẻ trứng rồi tiêu diệt trứng, đây cũng là nơi đậu của những loàichim đến bắt sâu (Ranga Rao and Wightman, 1994) [46]

Khi nghiên cứu về mật độ và thời vụ trồng lạc, Lynch (1986) [40] cho rằngkhoảng cách trồng lạc dày, trồng sớm giúp cho lạc tránh được sự gây hại của bọ trĩ

và bệnh chết chồi Mặt khác, việc thu hoạch lạc sớm hoặc đúng thời vụ có tác dụnghạn chế sự tấn công của mối và một số loài sâu đục quả

Để góp phần nâng cao năng suất lạc, trong những năm qua các nhàchọn tạo giống đã nghiên cứu và đưa ra các giống lạc có năng suất cao, ổn định quacác vụ Trung tâm ICRISAT tại Ấn Độ đã lai tạo ra trên 6000 giống và dòng lạcnhằm tìm ra các giống có tính chống chịu sâu như rầy xanh, bọ trĩ, sâu vẽ bùa, sâukhoang, rệp…; đã tìm ra khoảng 100 giống lạc có biểu hiện kháng sâu, một số

Trang 29

dòng, giống có khả năng kháng đồng thời nhiều loại sâu như ICG5420,NCAC343… Trong bộ giống khảo nghiệm thì giống lạc hoang dại Arachis có khảnăng kháng cao đối với sâu khoang, sâu vẽ bùa, rệp và sâu đục rễ (ICRISAT, 1993)[39] Những thí nghiệm gần đây về đánh giá tác hại nhân tạo và tự nhiên cũng chothấy dòng lạc ICGV86301 có mức kháng cao với sâu vẽ bùa và sâu khoang.

Mức độ thiệt hại kinh tế do sâu hại gây ra cũng phụ thuộc rất nhiều yếu tố như:giai đoạn sinh trưởng của cây trồng, điều kiện môi trường, mật độ dịch hại… Tronghơn 90 loài côn trùng gây hại trên lạc thì chỉ có ít loài gây hại có ý nghĩa kinh tếtrên diện rộng Một số loài trước đây chỉ là loài gây hại thứ yếu như rệp muội, bọtrĩ, nhện thì nay chúng đã và đang trở thành những loài quan trọng

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1.2.2.1 Tình hình nghiên cứu sâu hại lạc

Cây lạc được du nhập vào trồng ở nước ta từ lâu đời và được trồng phổ biến ởmọi miền đất nước Do có giá trị kinh tế cao nên diện tích trồng lạc ngày càng được

mở rộng, trình độ sản xuất và thâm canh ngày càng được nâng cao

Cùng với việc đưa các giống lạc mới năng suất cao, áp dụng công nghệ phủnilon, trong nhiều năm qua các cơ quan khoa học nông nghiệp đầu ngành như ViệnKhoa học Nông nghiệp Việt Nam, Trung tâm Khuyến nông - khuyến ngư Quốc gia,Trung tâm Nghiên cứu và phát triển đậu đỗ và các Trung tâm khuyến nông, khuyếnlâm cấp tỉnh đã dày công nghiên cứu xây dựng nhiều quy trình sản xuất lạc khoahọc đồng thời đầu tư kinh phí, thời gian, công sức triển khai hàng trăm mô hìnhtrình diễn tại hầu khắp các tỉnh có diện tích lạc lớn để chuyển giao các tiến bộ kỹthuật cho bà con nông dân nên năng suất, sản lượng lạc của nhiều địa phương đãđược cải thiện đáng kể Một số tỉnh như Nam Định đạt năng suất bình quân 37,7tạ/ha, Nghệ An 29 tạ/ha, Hưng Yên 27,7 tạ/ha, TP Hồ Chí Minh 28,7 tạ/ha, TràVinh 28,8 tạ/ha, Khánh Hoà 26 tạ/ha (Võ Thanh Mai, 2008) [31]

Bên cạnh đó cũng đã có rất nhiều nghiên cứu về cây lạc nhằm nâng cao năngsuất, sản lượng và phẩm chất lạc Trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đãtập trung vào các lĩnh vực như lai và chọn tạo giống lạc, ảnh hưởng của các biện

Trang 30

pháp canh tác đến năng suất và phẩm chất lạc, các nghiên cứu về sâu hại và các biệnpháp phòng chống sâu hại để tăng hiệu quả kinh tế, ít gây ô nhiễm môi trường Tuynhiên vẫn còn không ít khó khăn gây trở ngại cho việc sản xuất lạc ở nước ta nhưkiến thức canh tác của nông dân còn hạn chế, chưa xác định rõ được vị trí của câylạc trong cơ cấu cây trồng, giá thành trên thị trường còn thấp, chưa có hệ thống tiêuthụ và chế biến ổn định Đồng thời những khó khăn về điều kiện thời tiết, khí hậu

và sâu bệnh phá hại cũng là nguyên nhân chính cản trở sự phát triển sản xuất lạc ởnước ta, làm cho diện tích trồng lạc của cả nước trong những năm qua tăng chậm;năng suất, sản lượng lạc thường không ổn định và chênh lệch giữa các vùng, miền.Một số tác giả đã đi sâu nghiên cứu về thành phần sâu hại lạc, mô tả đặc điểm sinhvật học, sinh thái học của từng loài côn trùng, đi sâu vào tìm hiểu đặc điểm phátsinh gây hại của sâu hại lạc để có cơ sở đề xuất biện pháp phòng trừ

Kết quản ghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật (1968) [22] đã ghi nhận 57loài sâu hại lạc, 5 loài gây hại quan trọng là dế mèn lớn, rệp muội đen, bọ xítdài, sâu cuốn lá, sâu đục lá; 9 loài gây hại tương đối nghiêm trọng, 11 loài ítquan trọng Ở mỗi thời kỳ phát triển của cây lạc đều có những loài sâu hạinghiêm trọng như: Thời kỳ hạt mới nảy mầm, cây còn nhỏ thường bị hại bởi cácloài kiến nâu nhạt, kiến vàng, mối, dế mèn lớn, bọ hung cánh cam đậm, sâuthép Đến thời kỳ phân cành thì chủ yếu là các loài cào cào, rệp muội, sâukhoang, sâu xanh, ban miêu đen, ban miêu đen sọc trắng, ban miêu khoang vàngnhỏ, sâu cuốn lá, sâu róm, bọ phấn, bọ trĩ…

Theo Lương Minh Khôi (1990, 1991) [12], [13] trên ruộng lạc vùng Hà Nội

có 21 loài sâu hại thường xuyên xuất hiện gây hại, 10 loài gây hại ảnh hưởng đáng

kể đến hiệu quả kinh tế là: sâu xám, bọ trĩ, rệp muội đen, sâu cuốn lá đầu đen, sâukhoang, sâu xanh, ban miêu đen sọc trắng, rầy xanh, câu cấu, sâu róm chỉ đỏ Trong

vụ lạc xuân, chủng loại sâu nhiều hơn và thường xảy ra dịch Các loài thường gâythành dịch là sâu khoang (ở thời kỳ lạc đâm tia và phát triển củ), sâu cuốn lá, câucấu, sâu róm Vụ xuân 1989 sâu khoang đã phát triển thành dịch khi lạc bắt đầuđâm tia, vào vụ xuân 1990 sâu cuốn lá có mật độ cao 1,2 con/cây; sâu xám 0,06con/cây; gây hại chủ yếu từ khi cây mọc đến 5 lá thật Ngược lại, trong vụ hè thu

Trang 31

các loài rầy xanh, bọ trĩ, rệp muội đen thường phát sinh mạnh ở đầu vụ, vào trungtuần tháng 4-5 mật độ sâu hại đạt đỉnh cao nhất Bọ trĩ thường có cao điểm vàotháng 4, mật độ đạt 1,1-1,7 con/cây; rệp muội đen thường có mật độ cao vào giaiđoạn trước khi lạc ra hoa; mật độ sâu xanh đạt đỉnh cao vào cuối tháng 3 - cuốitháng 4 và cuối tháng 5 - đầu tháng 6 Vào cuối vụ thì sâu róm thường phát triểnmạnh Thời vụ muộn thường bị sâu hại nặng hơn vụ sớm.

Tại Nghệ An, Hà Bắc, Hà Tây đã ghi nhận được 46 loài sâu hại trên ruộng lạc

và 4 loài gây hại trong kho, bổ sung thêm 14 loài mới so với kết quả điều tra cơ bảncủa Viện Bảo vệ Thực vật (1967-1968), đó là các loài sâu non bổ củi, bọ hung, bọ

trĩ (Caliothrips inducus Bagnall), ruồi đục lá (Lyriomyza sativae Blanchard), mối (Odontotermes sp.) Trong đó 5 loài mới ghi nhận thuộc nhóm chích hút, gồm 1 loài rầy xanh (Empoasca motti Pruthi), 3 loài bọ trĩ hại lá lạc (Scirtothrip

dorsalis Hood, Frankliniella schultizei Trybom, Thrips palmi Karny) và 1 loài bọ

trĩ hại hoa (Megalurothrips usitatus Bagrall) Các loài sâu ăn lá phổ biến nhất là

sâu khoang, sâu xanh, sâu đục quả đậu đỗ và sâu cuốn lá (Phạm Thị Vượng vàctv, 1995) [25] Kết quả điều tra theo dõi biến động và tác hại của chúng trong một

số năm cho thấy chúng thường phát sinh cao vào lúc lạc 4 lá tới ra hoa và vào chắc(từ trung tuần tháng 4 đến trung tuần tháng 5) Điều này cũng phù hợp với đặc điểmcủa các loài sâu hại lá khác Kết quả bẫy sâu khoang bằng pheromone tại 2 vùng HàTây và Hà Nội cho thấy có 2 đỉnh cao vào đầu tháng 4 và đầu tháng 5

Riêng tại huyện Diễn Châu (Nghệ An), trên nền luân canh lúa - lạc đã xác địnhđược 23 loài sâu hại lạc (Phạm Thị Vượng, 2000) [28] Trong đó nổi bật lên một sốloài sâu hại chính như rệp muội đen, sâu khoang, sâu xanh, sâu cuốn lá đầu đen,

bọ trĩ, rầy xanh lá mạ, sâu róm chỉ đỏ Đặc biệt là loài rệp muội đen đã trở thànhmối lo ngại lớn cho người nông dân trồng lạc tại Nghệ An

Nguyễn Văn Cảm (1993) [4] đã ghi nhận được 43 loài côn trùng hại lạc ở một

số tỉnh trồng lạc của miền Nam Nguyễn Thị Chắt (1996) [5] cũng cho biết, tại một

số vùng chuyên canh lạc như Tràng Bảng, Gò Dầu - Tây Ninh, Đức Hoài - Long

An, Củ Chi - TP Hồ Chí Minh, trong vụ xuân (1995-1996) diện tích lạc bị hại tới81% và năng suất bị giảm 18% do sâu khoang gây nên Nông dân ở đây thường

Trang 32

phun 10-15 lần thuốc hóa học trừ sâu cho một vụ, bằng các loại thuốc có độ độccao mà nhà nước cấm sử dụng.

Cũng ở một số tỉnh miền Nam, Nguyễn Thị Chắt (1998) [6] đã xác định thànhphần sâu hại lạc bao gồm khoảng 55 loài Trong đó có 21 loài thường xuyên xuấthiện từ mức trung bình cho đến nhiều Các loài xuất hiện nhiều nhất là sâu khoang,sâu xanh, sâu cuốn lá, rầy xanh, rệp muội đen, bọ trĩ Đặc biệt, sâu khoang xuất hiệngây hại ngay từ khi cây mọc mầm và kéo dài cho đến khi thu hoạch Trong điềukiện thời tiết và môi trường thay đổi như hiện nay thì những loài xuất hiện ở mứctrung bình nếu gặp điều kiện thuận lợi cũng có thể phát sinh thành dịch

Ngô Thế Dân (2000) [7] cũng đã ghi nhận trên cây lạc ở miền Nam có 30 loàisâu hại khác nhau; các loài quan trọng nhất là sâu khoang, sâu xanh, sâu cuốn lá vàsâu đục quả đậu đỗ

Theo đánh giá của Bùi Công Hiển và Trần Huy Thọ (2003) [9] thì nhómsâu hại trong đất như ấu trùng bọ dừa nâu, bọ cánh cam có thể gây thiệt hại 40%năng suất, đặc biệt là ở những vùng đất cát ven sông Phạm Thị Vượng và ctv(2003) [29] cũng cho rằng đất trồng lạc có thành phần cơ giới nhẹ thì nhóm sâu hạitrong đất như mối, dế, đặc biệt là bọ hung là những đối tượng làm giảm năng suấtđáng kể Thiệt hại do chúng gây ra nhiều khi còn cao hơn nhiều so với nhóm gâyhại trên mặt đất

Trong các năm 1995-1996, các chuyên gia trung tâm ICRISAT đã phối hợpvới cán bộ nghiên cứu của nước ta tiến hành điều tra, giám định thành phần sâuhại lạc và nghiên cứu các biện pháp phòng trừ Kết quản ghiên cứu cho thấy ở miềnBắc có tới 51 loài sâu hại, trong đó 47 loài gây hại trên đồng ruộng và 4 loài gây hạitrong kho Các loài gây hại đáng kể là sâu khoang, sâu đục quả đậu đỗ, sâu xanh, bọphấn, bọ trĩ, rệp muội đen, sâu cuốn lá Còn ở miền Nam thu được 30 loài sâu hạilạc trong đó có 28 loài gây hại trên đồng ruộng và 2 loài gây hại trong kho, nhữngloài gây hại chủ yếu là sâu khoang, sâu xanh, sâu róm, sâu keo da láng, sâu đục quảđậu (Viện Khoa học KTNN Việt Nam, 2000) [24]

Trang 33

Trên cây lạc, sự phát sinh gây hại của từng loại sâu cũng rất khác nhau, tùythuộc điều kiện sinh thái từng vùng, từng giống và giai đoạn sinh trưởng của cây.Nhóm sâu miệng chích hút trong những năm gần đây đã gây hại nghiêm trọng

ở một số vùng trồng lạc phía Bắc Kết quả điều tra sự gây hại của chúng trên đồngruộng theo giai đoạn sinh trưởng của cây lạc cho thấy: tỷ lệ cây bị hại ở giai đoạncây con là 23-39%, giai đoạn ra hoa 56-75%, giai đoạn vào chắc 45-77% Đáng longại là khi chúng gây hại ở giai đoạn cây lạc còn nhỏ, sau khi mọc khoảng 30-35ngày (Phạm Thị Vượng và ctv., 1995) [25] Khi mật độ nhóm sâu này cao thườnglàm cho cây còi cọc, không phát triển chiều cao, không đủ số cành, lá Tuy nhiên,trên thế giới cũng ít có những tài liệu công bố về thiệt hại năng suất do từng đốitượng gây ra

Kết quả nghiên cứu sinh học bọ trĩ (Scirtothrip dorsalis Hood) và rầy xanh (Empoasca motti Pruthi) hại lạc trong điều kiện phòng thí nghiệm ở nhiệt độ18-

30oC cho thấy: ấu trùng bọ trĩ (Scirtothrip dorsalis Hood) có 2 tuổi, rầy xanh

(mpoasca motti Pruthi) có 5 tuổi Thời gian của các tuổi đều giảm theo chiều tăng

nhiệt độ qua các lần nuôi Quan hệ giữa thời gian các tuổi và nhiệt độ nuôi là quan

hệ tuyến tính nghịch khá chặt (Phạm Thị Vượng và ctv., 1995) [25]

Cũng trong khoảng nhiệt độ nuôi 18-300C cho thấy: thời gian sống, thời giantrứng, thời gian đẻ trứng của trưởng thành rầy xanh và bọ trĩ hại lạc đều giảm theochiều tăng của nhiệt độ Khả năng đẻ trứng của bọ trĩ cao nhất ở nhiệt độ nuôi 26º

C (31,5 con/cặp); của rầy xanh cao nhất tại nhiệt độ 300 C (21,2 con/cặp) Nhóm sâuhại trong đất cũng hầu như ít được chú ý, bởi thiệt hại do chúng gây ra không phảiphổ biến khắp mọi nơi như sâu hại lá; song ở những vùng lạc bãi ven sông, vùngđất xốp có phân chuồng thì thiệt hại do chúng gây ra lại vô cùng nghiêm trọng.Chúng cắn cây làm khuyết mật độ cây, cắn củ đôi khi không được thu hoạch

Đặc biệt nguy hiểm là loài sùng trắng (Lepidiota signata, Amomala sp.), mật độ

sâu non 0,5-35 con/m2; tỷ lệ cây bị hại 1,0-27,3%; năng suất có nơi bị hại tới 40,8%như vùng đất bãi ven sông đáy (Hà Tây) và một số nơi của Hà Bắc (Phạm ThịVượng và ctv.,1995) [25]

Trang 34

Kết quả theo dõi của Lê Văn Ninh (2000) [20] trong điều kiện sản xuất lạc vụxuân hè 2002 tại Thanh Hoá đã thu được 24 loài sâu hại thuộc 17 họ của 7 bộ côntrùng Tại đây các loài gây hại trên mặt đất chiếm ưu thế Ở thời kỳ cây con, cácloài gây hại chính gồm sâu xám và dế dũi; ở giai đoạn sau thì sâu cuốn lá, sâukhoang, sâu xanh là những loài gây hại nặng hơn.

Nguyễn Đức Khánh (2002) [10] khi nghiên cứu về sâu hại trên lạc vụ xuân

2002 tại huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã thu được 36 loài sâu hại tập trung ở 5 bộ,

18 họ côn trùng Có 4 loài sâu hại chính xuất hiện với mức độ phổ biến từ trungbình đến cao, đó là sâu đục quả đậu đỗ, sâu cuốn lá đầu đen, sâu khoang, sâu xanh.Phần lớn các loài sâu hại có mức độ phổ biến cao vào tháng 4 và tháng 5 Trongtháng 3 khi cây lạc còn nhỏ, số lượng các loài côn trùng gây hại chưa nhiều,mức độ phổ biến thấp Đến tháng 4 khi cây lạc bắt đầu ra hoa và có củ non thì sốloài sâu hại nhiều hơn, mức độ phổ biến cao hơn, đặc biệt loài sâu đục quả đậu đỗ

(Maruca vitrata Fabr) xuất hiện nhiều Tháng 5 là tháng củ phát triển đến thu

hoạch, lúc này cây lạc đạt đỉnh cao về khối lượng thân lá, số lượng loài sâu hạikhông tăng, 3 loài có mức độ phổ biến cao nhất là châu chấu lúa, sâu đục quả đậu,sâu khoang Có những loài chỉ xuất hiện như những mắt xích trong dây chuyền dinhdưỡng như: bọ xít nâu vai nhọn, bọ xít gai, bọ xít nâu đùi to và một số loài sâu róm Hoàng Xuân Nghĩa (2006) [18] ghi nhận trong vụ lạc xuân 2006 tại huyệnHoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa có 27 loài sâu hại tập trung ở 9 bộ, 19 họ côn trùng.Các loài sâu hại chủ yếu là: sâu khoang, sâu xanh, sâu cuốn lá đầu nâu, sâu cuốn láđầu đen; các loài chích hút như: bọ trĩ, rầy xanh, rệp muội đen Sâu khoang

(Spodoptera litura) có 3 cao điểm trong vụ, đó là khi lạc 3-4 lá, lạc ra hoa rộ và khi lạc vào chắc; mật độ sâu cao nhất khi lạc ra hoa rộ Sâu xanh (Helicoverpa

armigera) xuất hiện từ khi lạc 3-4 lá cho đến thu hoạch, mật độ sâu đạt đỉnh cao

vào giai đoạn hoa bắt đầu héo và đâm tia - phát triển quả Sâu cuốn lá đầu nâu

(Hedylepta indicata Fabr) và sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsingham)

xuất hiện muộn hơn sâu xanh và sâu khoang nhưng mật độ và tỷ lệ lá bị hại caohơn, mật độ sâu tăng dần từ cuối tháng 2 cho tới cuối tháng 4

Trang 35

Trong số các loài chích hút thì bọ trĩ gây hại có ý nghĩa ở giai đoạn cây con;rệp muội đen gây hại nặng trên hoa và búp, làm giảm năng suất một cách nghiêmtrọng Cũng theo tác giả thì trong mô hình IPM, xử lý hạt giống bằng thuốc Rovral50WP và Gaucho 70WS có tác dụng làm giảm tỷ lệ chết cây con và giảm mật độcác loài chích hút giai đoạn mọc đến 3 lá Sử dụng biện pháp xử lý mầm và che phủnilon có tác dụng rút ngắn thời gian mọc, tăng tỷ lệ mọc, tạo cho cây lạc khỏe ngay

từ giai đoạn cây con, từ đó đảm bảo được mật độ cây/m2 và tỷ lệ quả chắc trên cây

Sử dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp đã làm tăng thêm thu nhập cho nông dân1.804.000 đồng/ha (Hoàng Xuân Nghĩa, 2006) [18]

Kết quả nghiên cứu của Trịnh Thạch Lam trong vụ lạc xuân 2006 tại Nghi Lộc

- Nghệ An trên các giống lạc L14, Sen lai đã thu được 35 loài sâu hại lạc thuộc 6 bộ

15 họ côn trùng Phổ biến là các loài rầy xanh, bọ trĩ vàng, sâu khoang, sâu xanh,sâu đục quả đậu, sâu róm, câu cấu xanh nhỏ (Trịnh Thạch Lam, 2006)[15]

Kết quả điều tra của Lê Anh Ngọc (2008) đã ghi nhận được 37 loài sâu hạilạc thuộc 6 bộ, 16 họ côn trùng tại Lộc Hà, Hà Tĩnh Các loài xuất hiện nhiều nhất

là cào cào xanh, ban miêu đen đầu đỏ, sâu cuốn lá đầu đen, sâu xanh, sâukhoang; một số loài xuất hiện ở mức trung bình như châu chấu xanh, châu chấunâu, rệp muội đen, rầy xanh, bọ lá 4 chấm trắng, sâu đo xanh, sâu róm

Từ những kết quả nghiên cứu trên có thể thấy rằng thành phần sâu hạitrên lạc rất phong phú, tuy nhiên ở mỗi vùng địa lý khác nhau thì thành phầnsâu hại cũng như số loài gây hại chính cũng có sự khác nhau Các loài thườngxuyên xuất hiện và gây hại có ý nghĩa kinh tế gồm có sâu khoang, sâu xanh,sâu cuốn lá, sâu đục quả đậu đỗ, bọ trĩ, rệp, ban miêu… đa số các loài sâu làloài đa thực, ngoài lạc chúng còn gây hại trên các cây trồng khác như đậu đỗ,bông, ngô, rau… Nếu không được quản lý tốt thì thiệt hại do sâu gây ra chosản xuất lạc trung bình từ 10-30% (Lương Minh Khôi, 1991) [13]

Hoạt động kinh tế của con người trong hệ sinh thái nông nghiệp tạo nên nhữngbiến đổi sâu sắc, ảnh hưởng trực tiếp đến côn trùng, bao gồm cả sâu hại cây trồng

và các loài kẻ thù tự nhiên của sâu hại Các hoạt động của con người có những

Trang 36

mặt tích cực như thực hiện các biện pháp điều khiển sinh quần theo hướng cólợi về hiệu quả kinh tế và cải biến điều kiện ngoại cảnh để thuận lợi cho các loài cóích Tuy nhiên cũng có nhiều hậu quả tiêu cực như việc sử dụng thuốc trừ sâu hoáhọc không hợp lý làm ô nhiễm môi trường, làm mất cân bằng sinh học trong tựnhiên, làm cho sâu hại xuất hiện tính chống thuốc (Ngô Thế Dân, 2000)[7]

1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu thiên địch của sâu hại lạc

Bên cạnh những nghiên cứu về thành phần sâu hại lạc, nguyên nhân và mức độgây hại của chúng thì nhiều tác giả cũng đã nghiên cứu về thành phần, vai trò của kẻthù tự nhiên và các biện pháp phòng trừ đối với một số sâu hại chính trên lạc Theođiều tra cơ bản của Viện BVTV trong năm 1983 trên vụ lạc xuân và hè thu vùng HàNội đã thu được 20 loài côn trùng ký sinh và bắt mồi của 8 loài sâu hại lạc(Nguyễn Đức Khiêm, 2006) [11]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Chắt (1996, 1998) [5], [6] tại Tràng Bảng - TâyNinh và Củ Chi - TP Hồ Chí Minh cho thấy trên ruộng lạc, các loài bắt mồi chủ yếu

là nhện lớn, bọ rùa tập trung vào thời gian nửa đầu của vụ Các loài ký sinh thì đadạng hơn, bao gồm ong kén trắng, ong kén vàng, nấm xanh lục, vi khuẩn gâythối nhũn, virus gây chết treo Ký sinh xuất hiện tập trung vào nửa sau của vụ lạc.Đến năm 1998 đã phát hiện được trên lạc vùng ven TP Hồ Chí Minh có 15 loàithiên địch có khả năng làm giảm mật độ sâu hại trong quần thể, do đó cần bảo tồn

và khích lệ các loài thiên địch phát triển nhằm hạn chế số lượng của sâu hại

Phạm Thị Vượng (2000) [28] cho biết ở một số vùng trồng lạc phía Bắc,thành phần thiên địch của sâu hại lạc khá phong phú Trên một số loài sâu hại như

bọ trĩ, rầy xanh, sâu xanh, sâu khoang, rệp và sâu cuốn lá lạc đã thu được 16 loàithiên địch, gồm 9 loài bắt mồi ăn thịt và 7 loài ký sinh, trong đó có tới 5 loài ký sinhtrên sâu khoang

Lê Văn Ninh (2002) [20] khi nghiên cứu về thiên địch của loài rệp muội đen

(Aphis craccivora Koch) đã thu thập được 19 loài; họ bọ rùa xuất hiện trong suốt quá trình sinh trưởng của cây lạc, bọ rùa đỏ (Micraspis discolor Fabr),

bọ rùa 2 mảng đỏ (Lemnia biplagiata Swartz) xuất hiện sớm từ tháng 2 đến tháng

Trang 37

5 với mật độ tăng dần; bọ rùa 6 vằn (Menochilus sexmaculatus Fabr), bọ rùa chữ nhân (Coccinella transversalis Fabr) và bọ rùa 8 chấm (Harmonia

octomaculata Fabr) xuất hiện ít hơn Một số loài khác như ruồi ăn rệp, bọ đuôi kìm,

bọ chân chạy cũng xuất hiện ở mức độ phổ biến Bọ cánh cộc nâu (Paederus

fuscipes Curt) bắt đầu xuất hiện từ cuối tháng 2 và phát triển mạnh khi mật độ rệp

tăng cao ở thời kỳ lạc ra hoa, tạo quả

Nghiên cứu của Lê Anh Ngọc (2008) [17] tại Lộc Hà, Hà Tĩnh cho thấy trong

vụ lạc xuân có 30 loài thiên địch của sâu hại lạc, các loài xuất hiện phổ biến là bọrùa đỏ, bọ chân chạy đuôi cánh 2 chấm trắng, bọ chân chạy lưng 2 vạch chéo, bọcánh cộc, nhện linh miêu, nhện sói, nhện nhảy Trong đó loài bọ chân chạy đuôi

cánh 2 chấm trắng (Chlaenius bioculatus Chaudoir) có vai trò hạn chế số lượng sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsingham), mật độ ấu trùng bọ chân

chạy đạt đỉnh cao vào giai đoạn lạc đâm tia - phát triển quả cùng với đỉnh caomật độ của sâu cuốn lá đầu đen

Nghiên cứu của Phạm Thị Vượng và ctv (2003) [29] cho thấy trồng xen hướngdương trên ruộng lạc để dẫn dụ sâu hại với mật độ 1 cây hướng dương/10m2

có tác dụng làm giảm thiệt hại, giúp nông dân giảm được số lần phun thuốc từ 1-3lần/vụ, bảo vệ được quần thể thiên địch, hạn chế ô nhiễm môi trường

Kết quả thử nghiệm ảnh hưởng của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đến cácloài thiên địch cho thấy các loại thuốc Peran 50EC, Kinalux 25EC, Match 50NDđều gây độc rất cao đối với trưởng thành bọ rùa đỏ; thuốc Kinalux 25EC cũng gâyđộc mạnh đến trưởng thành bọ cánh cộc và các loài nhện lớn bắt mồi (Trịnh ThạchLam, 2006) [15]

1.2.2.3 Các nguyên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng trừ

sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsinhham)

Kết quả điều tra của Lê Anh Ngọc (2008) [17] đã nguyên cứu về đặc điểm

sinh học, sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsinhham), tác giả cũng cho rằng loài sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus

Walsingham) xuất hiện từ khi cây lạc có 4-5 lá kép cho tới khi phát triển quả, mật

Trang 38

độ sâu đạt đỉnh cao vào giai đoạn đâm tia (9,8-13,2 con/m2) Vòng đời dao động từ

29 - 42 ngày, trung bình 34,72 ± 1,95 ngày

Sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsingham) bắt đầu xuất hiện từ khi

cây lạc phân cành đến khi quả vào chắc, đỉnh cao từ khi cây ra hoa đến đâm tia(17,8 con/m2) Trên lạc trồng thuần mật độ sâu cao hơn trên lạc trồng xen đậu Ởđiều kiện nhiệt độ trung bình 25,40C và ẩm độ74,8% vòng đời của sâu cuốn lá đầuđen dao động từ 31-38 ngày, trung bình 33,5 ± 2,44 ngày Trong đó pha trứng 5ngày, sâu non tuổi 1 phát triển trong 2-3 ngày, tuổi 2 từ 3-4 ngày, tuổi 3, 4, 5 trungbình 4-5 ngày, nhộng 7-8 ngày và trưởng thành đẻ trứng sau 2-3 ngày kể từ lúc vũhoá Thức ăn thêm có ảnh hưởng đến thời gian sống của trưởng thành và sức đẻtrứng; khi cho ăn thêm mật ong nguyên chất trưởng thành sâu cuốn lá đầu đensống được 9,5 ngày và đẻ 286,0 quả trứng (Nguyễn Đức Khánh, 2002) [10]

Trong vụ lạc xuân 2006 tại huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, các loài sâuhại chủ yếu là: sâu khoang, sâu xanh, sâu cuốn lá đầu nâu, sâu cuốn lá đầu đen;

các loài chích hút như: bọ trĩ, rầy xanh, rệp muội đen Sâu khoang (Spodoptera

litura) có 3 cao điểm trong vụ, đó là khi lạc 3-4 lá, lạc ra hoa rộ và khi lạc vào

chắc; mật độ sâu cao nhất khi lạc ra hoa rộ Sâu xanh (Helicoverpa armigera) xuất

hiện từ khi lạc 3-4 lá cho đến thu hoạch, mật độ sâu đạt đỉnh cao vào giai đoạn hoa

bắt đầu héo và đâm tia - phát triển quả Sâu cuốn lá đầu nâu (Hedylepta indicata Fabr) và sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsingham) xuất hiện muộn hơn

sâu xanh và sâu khoang nhưng mật độ và tỷ lệ lá bị hại cao hơn, mật độ sâu tăngdần từ cuối tháng 2 cho tới cuối tháng 4 (Hoàng Xuân Nghĩa, 2006) [18]

Theo Lương Minh Khôi (1991) [13] trên ruộng lạc vùng Hà Nội, vào vụ xuân

1990 sâu cuốn lá (Archips asiaticus Walsingham) có mật độ cao 1,2 con/cây, mật

độ đạt đỉnh cao vào cuối tháng 3 - cuối tháng 4 và cuối tháng 5 - đầu tháng 6 Vàocuối vụ thì sâu cuốn lá thường phát triển mạnh Thời vụ muộn thường bị sâu hạinặng hơn vụ sớm

Trong công tác phòng trừ sâu hại lạc đã có rất nhiều biện pháp phòng trừ đãđược tiến hành và đánh giá như biện pháp canh tác kỹ thuật, sử dụng chống chịu,

Trang 39

biện pháp hóa học, sinh học… Hiện nay biện pháp hóa học đang được sử dụng phổbiến hơn cả Tuy nhiên, so với nhiều nước trên thế giới, Việt Nam chưa phải lànước sử dụng quá nhiều thuốc hóa học bảo vệ thực vật, đó là mặt thuận lợi cho việcphát triển các biện pháp phòng trừ khác, đặc biệt là biện pháp sinh học, bởi vì thiênđịch thường mẫn cảm với thuốc bảo vệ thực vật hơn các loài sâu hại

Khi nghiên cứu về phản ứng của các giống lạc với sâu hại ngoài tựnhiên, Lương Minh Khôi (1991) [13] cho biết các giống lạc Sen Lai, Trạm Xuyên,B5000, K306 bị nhiễm sâu hại ở mức nhẹ và trung bình, đồng thời mức giảm năngsuất ít hơn so với các giống khác Thời vụ gieo trồng lạc tốt nhất trong vụ xuân là từ5/1-28/2, trong vụ thu là 10-25/7

Tại vùng trồng lạc Nam Thịnh (Diễn Châu-Nghệ An), các giống lạc ICGV

86031, 86182, 86510, 87453, 90224, 90227, 90228, 91172, 91173 có nguồn gốc từtrung tâm ICRISAT đều là những giống kháng vừa đến kháng cao đối với bọ trĩ vàrầy xanh so với các giống địa phương như Sen Lai và Sen Nghệ An Trong đó cácgiống ICGV 86510, 90224, 90228, 91173 có tiềm năng năng suất cao hơn 2 giốngđịa phương trên (Phạm Thị Vượng và ctv., 2003) [29]

Việc lai tạo các giống lạc có năng suất cao, thích ứng rộng và có phẩm chất tốt

đã được các trung tâm nghiên cứu về cây lạc quan tâm Từ năm 1991-1995, Trungtâm nghiên cứu đậu đỗ (Viện Khoa học kỹ thuật Việt Nam) đã hợp tác với trungtâm ICRISAT, trung tâm rau màu Châu Á (AVRDC) và Viện nhiệt đới quốctế(IITA) xây dựng được tập đoàn giống lạc bao gồm 52 mẫu giống trong nước và

919 mẫu giống nhập nội (Trần Văn Lài, 1993; Trần Đình Long và ctv, 1991) [14],[16]

Kết quả nghiên cứu các biện pháp phòng trừ sâu hại lạc ngoài đồng ruộngtrong giai đoạn 1991-1995 cho thấy: ở giai đoạn cây lạc 45 ngày tuổi nếu 100% sốcây bị hại và mật độ sâu hại miệng hút (rệp, bọ trĩ) đạt trên 30 con/búp thì việcphòng trừ mang lại hiệu quả kinh tế Nếu giai đoạn lạc 70 ngày tuổi có mật độ sâu

ăn lá > 2con/cây và 70% số cây bị hại thì công thức dùng thuốc hóa học thu đượchiệu quả kinh tế là 393.600 đồng/ha Còn khi mật độ sâu miệng hút < 10 con

Trang 40

rệp/búp và < 10 con bọ trĩ/búp < 40% số cây bị hại thì việc phun trừ chúng hoàntoàn không mang lại hiệu quả kinh tế Phun thuốc trừ sâu ăn lá khi < 70% số cây bịhại, mật độ sâu < 2 con/cây cũng không có hiệu quả kinh tế (Phạm Thị Vượng vàctv, 1995) [25] Thực tế phòng trừ sâu hại lạc không đúng của nông dân như hiệnnay đã làm tăng đầu tư lên 133.000 đồng/ha mà năng suất không tăng hơn so vớikhông phun thuốc

Việc phòng trừ sâu hại lạc bằng thuốc hoá học chỉ nên tiến hành 2 lần/vụ,vào lúc 45 ngày và 70 ngày sau khi mọc Chỉ phun vào giai đoạn 35-45 ngày saukhi lạc mọc để trừ nhóm miệng hút, khi 100% số cây bị hại và mật độ 10 con/búp,hay 10% diện tích lá bị hại Chỉ phun trừ sâu cắn lá ở giai đoạn 70 ngày sau khi mọcnếu có 100 bướm sâu khoang, sâu xanh vào bẫy trung bình 1 đêm trong 1 tuần liền[25], [27] Thêm vào đó, mật độ thiên địch (nhện lớn, bọ rùa…) ở những côngthức dùng thuốc trừ sâu đã giảm nhanh chóng sau lần phun đầu so với công thứckhông dùng thuốc trừ sâu Trồng cây dẫn dụ (hướng dương, đỗ đen, đỗ xanh) xenvới lạc nhằm thu hút trưởng thành đến đẻ trứng rồi thu gom cũng làm giảm được sốlần phun thuốc trừ sâu

Nghiên cứu của Phạm Thị Vượng và ctv (2003) [29] cho thấy trồng xen hướngdương trên ruộng lạc để dẫn dụ sâu hại với mật độ 1 cây hướng dương/10m2 có tácdụng làm giảm thiệt hại, giúp nông dân giảm được số lần phun thuốc từ 1-3 lần/vụ,bảo vệ được quần thể thiên địch, hạn chế ô nhiễm môi trường

Việc sử dụng thuốc trừ sâu phổ biến như hiện nay của nông dân trên ruộng lạcđang là nguy cơ phá huỷ môi trường sinh thái và làm tăng giá thành sản xuất lạc.Trong các nghiên cứu của mình, Phạm Thị Vượng (2000) [28] cho thấy: trên lạc, sựgây hại của sâu đục quả và bọ trĩ giữa các công thức phun thuốc và không phunthuốc không có sự sai khác một cách có ý nghĩa Cho dù nông dân phun tới 3 lần/vụbằng thuốc Wofatox thì thiệt hại do sâu khoang, rầy xanh, sâu đục quả cũng khôngkhác so với công thức trồng xen cây hướng dương Kết quả thử nghiệm hiệu lực

trừ sùng trắng (Lepidiota signata) - một trong những đối tượng gây hại nguy hiểm

cho sản xuất lạc bằng một số loại thuốc hoá học, sinh học cho thấy: sau 20ngày theo dõi, thuốc Basudin 10H (30 kg/ha) có hiệu quả cao nhất (100%), trong

Ngày đăng: 01/11/2015, 07:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2003). Quyết định số82/QĐ-BNN về việc ban hành Tiêu chuẩn ngành “Quy định về công tác điều tra phát hiện sinh vật hại cây trồng”, tr. 8-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số82/QĐ-BNN về việc ban hànhTiêu chuẩn ngành “Quy định về công tác điều tra phát hiện sinh vật hại câytrồng
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Năm: 2003
2. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2010). “Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng, hạn chế sử dụng và cấm sử dụng ở Việt Nam”, tr. 7-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục thuốc BVTV được phép sửdụng, hạn chế sử dụng và cấm sử dụng ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Năm: 2010
4. Nguyễn Văn Cảm (1993). Một số kết quả điều tra côn trùng hại cây công nghiệp ở miền Nam Việt Nam. Luận án Phó tiến sĩ, Viện KHKTNN Việt Nam, tr. 197- 199 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả điều tra côn trùng hại cây công nghiệpở miền Nam Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Cảm
Năm: 1993
5. Nguyễn Thị Chắt (1996). Một số kết quả nghiên cứu về sâu ăn tạp (Spodoptera litura Fabr.) trên đậu phộng tại Trảng Bàng - Tây Ninh và Củ Chi - TP Hồ Chí Minh trong vụ thu đông và đông xuân 1995-1996. Tạp chí BVTV, số4/1996, tr. 3-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Spodoptera litura" Fabr.) trên đậu phộng tại Trảng Bàng - Tây Ninh và Củ Chi- TP Hồ Chí Minh trong vụ thu đông và đông xuân 1995-1996
Tác giả: Nguyễn Thị Chắt
Năm: 1996
7. Ngô Thế Dân (2000). Kỹ thuật trồng lạc năng suất cao ở Việt Nam. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng lạc năng suất cao ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Thế Dân
Nhà XB: NXBNông nghiệp
Năm: 2000
8. Hà Quang Hùng (2005), Giáo trình dịch học BVTV, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình dịch học BVTV
Tác giả: Hà Quang Hùng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
9. Bùi Công Hiển, Trần Huy Thọ (2003). Côn trùng học ứng dụng. NXB Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn trùng học ứng dụng
Tác giả: Bùi Công Hiển, Trần Huy Thọ
Nhà XB: NXB Khoahọc và kỹ thuật
Năm: 2003
10. Nguyễn Đức Khánh (2002). Sâu hại chính trên lạc, một số đặc điểm hình thái sinh vật học của sâu cuốn lá đầu đen Archips asiaticus Walsingham và biện pháp phòng trừ vụ xuân 2002 tại Thạch Hà, Hà Tĩnh. Luận văn thạc sĩ nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sâu hại chính trên lạc, một số đặc điểm hình tháisinh vật học của sâu cuốn lá đầu đen Archips asiaticus "Walsingham" và biệnpháp phòng trừ vụ xuân 2002 tại Thạch Hà, Hà Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Đức Khánh
Năm: 2002
11. Nguyễn Đức Khiêm (2006). Giáo trình Côn trùng nông nghiệp, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Côn trùng nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Đức Khiêm
Nhà XB: NXBNông nghiệp
Năm: 2006
14. Trần Văn Lài (1993). Kỹ thuật trồng lạc, đậu, vừng. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng lạc, đậu, vừng
Tác giả: Trần Văn Lài
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1993
15. Trịnh Thạch Lam (2006). Nghiên cứu tình hình sâu hại lạc và biện pháp hóa học phòng chống chúng tại huyện Nghi Lộc, Nghệ An vụ xuân 2006. Luận văn thạc sĩ nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình sâu hại lạc và biện pháp hóahọc phòng chống chúng tại huyện Nghi Lộc, Nghệ An vụ xuân 2006
Tác giả: Trịnh Thạch Lam
Năm: 2006
16. Trần Đình Long (1991). Nguồn gen cây lạc ở Việt Nam. Tiến bộ kỹ thuật trồng lạc, đậu đỗ ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, tr. 43 - 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gen cây lạc ở Việt Nam". Tiến bộ kỹ thuậttrồng lạc, đậu đỗ ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp
Tác giả: Trần Đình Long
Nhà XB: NXB Nông nghiệp"
Năm: 1991
17. Lê Anh Ngọc (2008). Thành phần côn trùng, nhện lớn bắt mồi sâu hại lạc, diễn biến mật độ sâu hại chính thuộc bộ cánh vảy (Lepidoptera) trên vụ lạc xuân 2008 tại huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Luận văn thạc sĩ nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần côn trùng, nhện lớn bắt mồi sâu hại lạc,diễn biến mật độ sâu hại chính thuộc bộ cánh vảy ("Lepidoptera") trên vụ lạcxuân 2008 tại huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh
Tác giả: Lê Anh Ngọc
Năm: 2008
18. Hoàng Xuân Nghĩa (2006). Nghiên cứu thành phần sâu hại lạc và biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) sâu hại chính tại huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa vụ xuân 2006. Luận văn thạc sĩ nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thành phần sâu hại lạc và biện phápquản lý dịch hại tổng hợp (IPM) sâu hại chính tại huyện Hoằng Hóa,Thanh Hóa vụ xuân 2006
Tác giả: Hoàng Xuân Nghĩa
Năm: 2006
19. Đoàn Thị Thanh Nhàn (1996). Giáo trình Cây công nghiệp, NXB Nông nghiệp Hà Nội, tr. 7-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Cây công nghiệp", NXB Nông nghiệpHà Nội
Tác giả: Đoàn Thị Thanh Nhàn
Nhà XB: NXB Nông nghiệpHà Nội
Năm: 1996
20. Lê Văn Ninh (2002). Thành phần sâu hại lạc, đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài rệp muội đen (Aphis craccivora Koch) hại lạc vụ xuân hè 2002 tại Thanh Hóa. Luận văn thạc sĩ nông nghiệp, tr. 39 – 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần sâu hại lạc, đặc điểm sinh học, sinhthái học của loài rệp muội đen (Aphis craccivora" Koch) "hại lạc vụ xuân hè2002 tại Thanh Hóa." Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Tác giả: Lê Văn Ninh
Năm: 2002
23. Viện Bảo vệ thực vật (2000). Phương pháp nghiên cứu bảo vệ thực vật, tập 3.NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu bảo vệ thực vật, tập 3
Tác giả: Viện Bảo vệ thực vật
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
24. Viện Khoa học KTNN Việt Nam (2000). Các tiến bộ kỹ thuật về lạc và đậu tương. Báo cáo của Trung tâm nghiên cứu đậu đỗ, tr. 1-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tiến bộ kỹ thuật về lạc và đậutương." Báo cáo của Trung tâm nghiên cứu đậu đỗ
Tác giả: Viện Khoa học KTNN Việt Nam
Năm: 2000
31. Võ Thanh Mai (2008): Nâng cao năng suất lạc. http://www.nongnghiep.vn/nongnghiepvn/VN/61/158/2/20/20/14698/Default Link
33. Trung tâm Khuyến nông, khuyến ngư quốc gia (2008). Một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu chăm sóc lạc xuân. http://www.khuyennongvn.gov.vn/e-khcn/B. Tài liệu tiếng Anh Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2. Tỷ lệ các họ, loài sâu hại lạc vụ Xuân năm 2014 - Thành phần sâu hại và thiên địch trên cây lạc; đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsinhham) hại lạc vụ xuân 2014 ở hu
Bảng 3.2. Tỷ lệ các họ, loài sâu hại lạc vụ Xuân năm 2014 (Trang 53)
Bảng 3.3. Thành phần và mức độ phổ biến các loài thiên địch của sâu hại lạc - Thành phần sâu hại và thiên địch trên cây lạc; đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsinhham) hại lạc vụ xuân 2014 ở hu
Bảng 3.3. Thành phần và mức độ phổ biến các loài thiên địch của sâu hại lạc (Trang 56)
Bảng 3.4. Tỷ lệ các họ, các loài thiên địch của sâu hại lạc vụ Xuân 2014 tại - Thành phần sâu hại và thiên địch trên cây lạc; đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsinhham) hại lạc vụ xuân 2014 ở hu
Bảng 3.4. Tỷ lệ các họ, các loài thiên địch của sâu hại lạc vụ Xuân 2014 tại (Trang 58)
Bảng 3.5. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) trên lạc L14 ở các chân đất trồng khác nhau, vụ Xuân năm 2014 tại huyện - Thành phần sâu hại và thiên địch trên cây lạc; đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsinhham) hại lạc vụ xuân 2014 ở hu
Bảng 3.5. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) trên lạc L14 ở các chân đất trồng khác nhau, vụ Xuân năm 2014 tại huyện (Trang 59)
Hình 3.1.  Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.)  trên lạc L14 ở các chân đất trồng khác nhau, vụ Xuân năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, - Thành phần sâu hại và thiên địch trên cây lạc; đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsinhham) hại lạc vụ xuân 2014 ở hu
Hình 3.1. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) trên lạc L14 ở các chân đất trồng khác nhau, vụ Xuân năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, (Trang 60)
Bảng 3.6. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) trên lạc L14 vụ Xuân sớm và Xuân chính vụ năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, - Thành phần sâu hại và thiên địch trên cây lạc; đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsinhham) hại lạc vụ xuân 2014 ở hu
Bảng 3.6. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) trên lạc L14 vụ Xuân sớm và Xuân chính vụ năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, (Trang 61)
Hình 3.2. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) trên lạc L14  vụ Xuân sớm và Xuân chính vụ năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, - Thành phần sâu hại và thiên địch trên cây lạc; đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsinhham) hại lạc vụ xuân 2014 ở hu
Hình 3.2. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) trên lạc L14 vụ Xuân sớm và Xuân chính vụ năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, (Trang 62)
Bảng 3.7. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.)  trên các giống lạc  khác nhau, vụ Xuân năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An - Thành phần sâu hại và thiên địch trên cây lạc; đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsinhham) hại lạc vụ xuân 2014 ở hu
Bảng 3.7. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) trên các giống lạc khác nhau, vụ Xuân năm 2014 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An (Trang 65)
Bảng 3.8. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) trên lạc L14 ở ruộng trồng thuần và trồng xen ngô, vụ Xuân năm 2014 tại - Thành phần sâu hại và thiên địch trên cây lạc; đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsinhham) hại lạc vụ xuân 2014 ở hu
Bảng 3.8. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) trên lạc L14 ở ruộng trồng thuần và trồng xen ngô, vụ Xuân năm 2014 tại (Trang 66)
Hình 3.4. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.)  trên lạc L14 ở ruộng trồng thuần và trồng xen ngô, vụ Xuân năm 2014 tại huyện Nghi - Thành phần sâu hại và thiên địch trên cây lạc; đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsinhham) hại lạc vụ xuân 2014 ở hu
Hình 3.4. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) trên lạc L14 ở ruộng trồng thuần và trồng xen ngô, vụ Xuân năm 2014 tại huyện Nghi (Trang 67)
Bảng 3.9. Mối quan hệ giữa sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) với bọ đuôi kìm nâu đen  (E - Thành phần sâu hại và thiên địch trên cây lạc; đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsinhham) hại lạc vụ xuân 2014 ở hu
Bảng 3.9. Mối quan hệ giữa sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) với bọ đuôi kìm nâu đen (E (Trang 69)
Hình 3.5. Mối quan hệ giữa sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) với bọ đuôi kìm nâu đen  (E - Thành phần sâu hại và thiên địch trên cây lạc; đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsinhham) hại lạc vụ xuân 2014 ở hu
Hình 3.5. Mối quan hệ giữa sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus W.) với bọ đuôi kìm nâu đen (E (Trang 70)
Hình 3.6. Mối quan hệ giữa mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips - Thành phần sâu hại và thiên địch trên cây lạc; đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsinhham) hại lạc vụ xuân 2014 ở hu
Hình 3.6. Mối quan hệ giữa mật độ sâu cuốn lá đầu đen (Archips (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w