MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TOÁN ĐIỂN HÌNH Ở LỚP 4 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI VNEN 2.1.. Một số biện pháp tổ chức các hoạt động dạy toán điển hình lớp 4 theo mô hình
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
- -ĐOÀN THỊ HUỲNH HẠNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC HỌC
VINH, 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
- -ĐOÀN THỊ HUỲNH HẠNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học (bậc tiểu học)
Mã số: 60.14.01.01
Người hướng dẫn khoa học:
TS PHAN QUỐC LÂM
VINH, 2014 LỜI CẢM ƠN
Trang 3Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tác giả đãnhận được sự động viên, giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện thuận lợi của các cấplãnh đạo, nhiều thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và gia đình.
Tác giả xin chân thành cảm ơn:
- Hội đồng đào tạo, Hội đồng khoa học trường Đại học Vinh; Lãnh đạoPhòng Giáo dục và Đào tạo huyện Củ Chi
- Đồng thời, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, các bạn đồngnghiệp trường Tiểu học Tân Thông, huyện Củ Chi, đã nhiệt tình cộng tác,cung cấp thông tin, số liệu, cho ý kiến và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giảtrong quá trình nghiên cứu thực tế để làm luận văn
- Đặc biệt, tác giả xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy
giáo - TS Phan Quốc Lâm - Người hướng dẫn khoa học đã tận tâm bồi
dưỡng kiến thức, phương pháp nghiên cứu và trực tiếp giúp đỡ, động viên tácgiả hoàn thành luận văn này
Mặc dầu tác giả đã nỗ lực cố gắng rất nhiều trong quá trình nghiêncứu, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả kính mong nhậnđược những lời chỉ dẫn của các thầy giáo, cô giáo, ý kiến đóng góp trao đổicủa các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Tác giả xin chân thành cảm ơn !
Vinh, tháng 5 năm 2014Tác giả luận văn
MỤC LỤC
Trang 4Trang phụ bìa
Trang Lời cảm ơn Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các sơ đồ, các bảng MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 7
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.2 Các khái niệm cơ bản 11
1.3 Một số vấn đề về dạy học toán lớp 4 17
1.4 Một số vấn đề về tổ chức dạy học theo chương trình tiểu học mới 19
1.4.1 Mục tiêu của mô hình trường tiểu học mới (VNEN) 19
1.4.2 Đặc điểm của mô hình trường tiểu học mới (VNEN) 20
1.4.3 Các bước tổ chức dạy học của mô hình trường tiểu học mới (VNEN) 21
1.4.4 Một số yêu cầu 24
1.4.5 Các yếu tố ảnh hưởng hoạt động dạy học 25
1.5 Một số vấn đề về học sinh lớp 4 26
1.6 Định hướng tổ chức hoạt động dạy toán điển hình lớp 4 theo mô hình trường học mới VNEN 29
1.6.1 Mục đích của việc tổ chức hoạt động dạy học toán điển hình lớp 4 theo mô hình VNEN 29
1.6.2 Tổ chức các hoạt động dạy toán điển hình lớp 4 theo mô hình VNEN 30
Trang 51.7 Thực trạng của việc tổ chức hoạt động dạy toán điển hình ở lớp 4 theo
mô hình trường học mới VNEN 32
1.7.1 Mục đích khảo sát thực trạng 32
1.7.2 Nội dung khảo sát thực trạng 32
1.7.3 Đối tượng khảo sát thực trạng 33
1.7.4 Phương pháp khảo sát thực trạng 33
1.7.5 Kết quả khảo sát thực trạng 33
Kết luận chương 1 45
Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TOÁN ĐIỂN HÌNH Ở LỚP 4 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI VNEN 2.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 46
2.2 Một số biện pháp tổ chức các hoạt động dạy toán điển hình lớp 4 theo mô hình trường học mới VNEN 49
2.2.1 Biện pháp 1 Phân nhóm HS dựa vào trình độ, năng lực và sở thích của HS 48
2.2.2 Biện pháp 2 Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề 54
2.2.3 Biện pháp 3 Linh hoạt thay đổi yêu cầu, nội dung các bài toán trong SGK cho phù hợp với khả năng của từng đối tượng học sinh trong lớp 60
2.2.4 Biện pháp 4 Tổ chức trò chơi trong học tập môn toán 73
Kết luận chương 2 79
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 81
3.1 Khái quát về tổ chức thực nghiệm 81
3.2 Tổ chức thực nghiệm 83
3.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm 84
Trang 63.4 Kết quả thực nghiệm và phân tích kết quả 85
3.5 Kết luận chung về thực nghiệm 99
Kết luận chương 3 100
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 108
Trang 8DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1 Nhận thức của GV về sự cần thiết thực hiện DH theo
mô hình VNEN trong môn Toán điển hình lớp 4
30
Bảng 1.2 Mức độ, hiệu quả GV thực hiện DH theo mô hình
VNEN trong môn Toán điển hình lớp 4
31
Bảng 1.3 Cách thức GV tổ chức luyện tập nội dung toán điển
hình
31
Bảng 1.4 Những khó khăn của GV khi tổ chức luyện tập nội
dung toán điển hình theo mô hình VNEN
của HS
39
Bảng 3.2 Kết quả xếp loại học lực đầu vào của HS 82Biểu đồ 3.1 Biểu đồ biểu diễn kết quả xếp loại học lực đầu vào
của HS
83
Bảng 3.3 Kết quả điểm số bài thực nghiệm 1 của HS 83Bảng 3.4 Kết quả xếp loại học lực bài thực nghiệm 1 của HS 84Biểu đồ 3.2 Biểu đồ biểu diễn kết quả xếp loại học lực bài thực
nghiệm 1 của HS
85
Bảng 3.5 Kết quả điểm số bài thực nghiệm 2 của HS 86Bảng 3.6 Kết quả xếp loại học lực bài thực nghiệm 2 của HS 86Biểu đồ 3.3 Biểu đồ biểu diễn kết quả xếp loại học lực bài thực 87
Trang 9nghiệm 2 của HSBảng 3.7 Kết quả điểm số bài thực nghiệm 3 của HS 88Bảng 3.8 Kết quả xếp loại học lực bài thực nghiệm 2 của HS 89Biểu đồ 3.3 Biểu đồ biểu diễn kết quả xếp loại học lực bài thực
Trang 10những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tưduy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề" Luật Giáo dục 2005,chương II,mục 2, điều 28 có ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tínhtích cực, tự giác, chủ động tư duy sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặcđiểm từng lớp học, từng môn học, bồi dưỡng năng lực tự học, rèn luyện kỹnăng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềmvui hứng thú học tập cho học sinh”.
Một trong những định hướng của đổi mới PPDH hiện nay là tạo điềukiện giúp người học phát huy tính tích cực, độc lập, phát triển năng lực tựhọc, năng lực tìm tòi, phát hiện, giải quyết vấn đề Việc tìm tòi những môhình tạo cơ hội thuận lợi hơn cho việc đổi mới cách dạy, đổi mới cách họcqua đó nâng cao chất lượng dạy học nói chung, dạy học môn Toán nói riêngluôn được quan tâm nghiên cứu
Trong trường tiểu học, môn Toán là một môn học độc lập, cùng vớicác môn học khác góp phần tạo nên một con người phát triển toàn diện MônToán cũng là một môn học cần số thời gian lớn và cung cấp lượng kiến thứcrộng, đòi hỏi phải chính xác và luôn mang tính cập nhật theo thực tế nhu cầucuộc sống đặt ra Trong thực tế dạy học môn Toán hiện nay, chúng ta gặpkhông ít những khó khăn khiến cho nhiều giáo viên “ngại dạy”, nhiều họcsinh “ngại học” Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng này
là do hạn chế về kiến thức cơ sở và phương pháp dạy Toán của giáo viên
Mô hình "Trường học mới VNEN" là một trong các mô hình nhàtrường hướng tới việc đáp ứng các yêu cầu của đổi mới PPDH, thể hiện ởchỗ: HS được học theo tốc độ phù hợp với trình độ nhận thức của cá nhân;Nội dung học thiết thực, gắn kết với thực tiễn đời hàng ngày của HS; Kếhoạch dạy học được bố trí linh hoạt; Môi trường học tập thân thiện, phát huytinh thần dân chủ, ý thức tập thể; Tài liệu học có tính tương tác cao và là tài
Trang 11liệu hướng dẫn HS tự học; Chú trọng kĩ năng làm việc theo nhóm hợp tác;Phối hợp chặt chẽ giữa phụ huynh, cộng đồng và nhà trường; Tăng quyền chủđộng cho GV và nhà trường, phát huy vai trò tích cực, sáng tạo của các cấpquản lí giáo dục địa phương.
Đổi mới phương pháp dạy học phải được bắt đầu ngay từ tiểu học vìđây là cấp học nền tảng Mỗi môn học ở cấp học này có mục tiêu, nhiệm vụriêng Trong đó, môn Toán có vai trò khá quan trọng, chiếm thời lượng nhiềuhơn hẳn so với các môn khác, chỉ đứng sau môn Tiếng Việt Môn Toán lớp 4
có vị trí đặc biệt quan trọng vì toán 4 củng cố kĩ năng giải toán với các bàitoán hợp (toán có lời văn), nâng số lượng phép tính để giải bài toán Các emđược học thêm các dạng toán điển hình (Tìm hai số khi biết tổng và hiệu củahai số đó; Tìm số trung bình cộng; Tìm hai số khi biết tổng (hiệu) và tỉ số củahai số đó)
Khi học các loại toán điển hình, HS biết cách trình bày bài giải đầy đủgồm các câu lời giải, các phép tính và đáp số Ta nói toán điển hình vì mỗiloại toán trên có tên gọi riêng và phương pháp giải tổng quát riêng cho từngloại Việc dạy tốt toán điển hình là vấn đề quan trọng đang được quan tâm, vàngoài việc củng cố kĩ năng thực hiện phép tính số học, ta cần phải củng cố kĩnăng tiến hành các bước giải toán, rèn khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ nói
và viết, nó còn có vị trí quan trọng đối với môn toán nói chung và môn toánlớp 4 nói riêng Bởi lẽ khi giải các loại toán này, HS phải huy động toàn bộcác tri thức, kĩ năng, phương pháp về giải toán tiểu học đối với thực tế cuộcsống Việc giải dạng toán này là một hoạt động trí tuệ hết sức khó khăn vàphức tạp Việc hình thành cho học sinh kĩ năng giải toán bằng phương pháp
số học còn khó khăn hơn kĩ năng tính, vì những loại toán này là sự kết hợpnhiều khái niệm, nhiều quan hệ, đòi hỏi HS phải độc lập suy nghĩ
Trang 12Lứa tuổi HS lớp 4 đã có khả năng suy luận, tư duy trừu tượng, kháiquát hoá cao hơn hẳn so với các lớp 1, 2, 3 Vấn đề đặt ra là cần đổi mớiphương pháp dạy học nội dung toán điển hình ở lớp 4 như thế nào để pháthuy tính tích cực người học?
Thành tựu tâm lí học đã chỉ ra rằng, mỗi người học có đặc điểm riêng
về tính cách, nhu cầu, hứng thú, khả năng nhận thức,… Chính các yếu tố đóchi phối quá trình và kết quả học tập Dạy học chỉ mang lại hiệu quả cao khidựa trên sự tác động vào vùng phát triển gần nhất của người học Muốn vậy,người giáo viên cần tiến hành dạy học dựa trên đặc điểm tâm sinh lý, trình độ
và khả năng tiếp thu của người học Để đáp ứng yêu cầu trên, mô hình trườnghọc mới VNEN ra đời, giải quyết đồng thời việc đảm bảo mục tiêu bài dạytrên cơ sở và tính đến đặc điểm của từng cá nhân học sinh trong lớp
Những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo không ngừng cải tiến,đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm giúp cho hiệu quả đào tạo cao hơn,theo kịp với xu thế phát triển của thời đại Đặc biệt, việc triển khai mô hìnhtrường học mới VNEN đã được tiến hành thử nghiệm ở 6 tỉnh năm học 2011-
2012, đến thời điểm năm học 2012-2013 thực hiện trên 63 tỉnh, thành phố và
ở 1447 trường tiểu học Dự án thực hiện trong 3 năm 9/2012 – 9/2015: Nămhọc 2012 – 2013: Thí điểm lớp 2, lớp 3; Năm học 2013 – 2014: Thí điểm lớp
2, lớp 3, lớp 4; Năm học 2014 – 2015: Thí điểm lớp 2, lớp 3, lớp 4, lớp 5.Tuy nhiên, cho đến thời điểm nghiên cứu, dự án trên vẫn chưa được tiến hànhvận dụng đại trà tại Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh Do đó, giáo viên tạicác trường tiểu học Quận 12 sẽ hoàn toàn lúng túng khi tiếp cận với mô hìnhtrường học mới VNEN, cũng như khó khăn trong việc vận dụng mô hình nàyvào quá trình dạy học toán, đặc biệt dạng toán điển hình lớp 4
Trang 13Từ những yêu cầu về khoa học và thực tiễn đó, chúng tôi mạnh dạn đi
sâu vào nghiên cứu đề tài: “Tổ chức các hoạt động dạy học toán lớp 4 theo
mô hình trường tiểu học mới (VNEN)”.
2 Mục đích nghiên cứu
- Một số biện pháp tổ chức các hoạt động dạy học môn Toán lớp 4 theo
mô hình VNEN nhằm phát huy những thế mạnh ưu việt và khắc phục nhữnghạn chế ở các nơi khác đã triển khai trước đó
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
- Hoạt động dạy học toán lớp 4
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Một số biện pháp tổ chức hoạt động dạy học toán lớp 4 theo mô hìnhtrường tiểu học mới (VNEN)
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và thực hiện được các biện pháp có tính khoa học, hợp lí
và khả thi sẽ nâng cao được chất lượng và hiệu quả dạy học môn Toán lớp 4theo mô hình trường tiểu học mới (VNEN)
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực trạng của việc tổ chức hoạt động dạyhọc toán lớp 4 theo mô hình VNEN
- Đề xuất các biện pháp tổ chức tổ chức hoạt động dạy học toán lớp 4theo mô hình VNEN
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệuquả của các biện pháp đã đề xuất
6 Phạm vi nghiên cứu
- Hoạt động dạy học toán điển hình
Trang 14- Hoạt động dạy học toán lớp 4 tại trường tiểu học Tân Thông huyện
Củ Chi, Tp Hồ Chí Minh
7 Các phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, cụ thể hóa líthuyết để xây dựng cơ sở lí luận của đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng phương pháp điều tra, tổng kết kinh nghiệm giáo dục, nghiêncứu sản phẩm hoạt động, thử nghiệm sư phạm nhằm xây dựng cơ sở thực tiễncủa đề tài và kiểm chứng tính đúng đắn của các biện pháp đề xuất
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Nhằm xử lí số liệu thu được về mặt định lượng
8 Đóng góp mới của đề tài
- Góp phần sáng tỏ cơ sở lí luận của việc tổ chức hoạt động dạy họctoán điển hình lớp 4 theo mô hình VNEN
- Làm rõ thực trạng của việc tổ chức hoạt động dạy học toán điển hìnhlớp 4 theo mô hình VNEN
- Đề xuất các biện pháp tổ chức hoạt động dạy học toán điển hình lớp
4 theo mô hình VNEN
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính hiệu quả củacác biện pháp được đề xuất
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn được bố trí trong 3 chương như sau:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
Chương 2 Biện pháp tổ chức chức hoạt động dạy học toán điển hình
lớp 4 theo mô hình VNEN
Trang 15Chương 3.Thực nghiệm sư phạm
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Ngoài nước
Trang 16Tư tưởng dạy học phù hợp với đối tượng đã có từ thời Khổng Tử (551
- 479 TCN) Theo ông, người thầy cần tìm hiểu đặc điểm nhân cách của từnghọc trò để sử dụng phương pháp dạy cho phù hợp Cùng một vấn đề nhưngvới mỗi người học, ông lại có cách dạy khác nhau Đồng thời, cũng xuất phát
từ người học mà Khổng Tử chia ra một phần gọi là công truyền nói về luânthường dạo lí dạy cho mọi người; một phần gọi là tâm truyền nói về nhữngđiều cao xa, khó hiểu hơn dành cho người có tư chất đặc biệt
J.A.Comenxki (1592-1670), nhà giáo dục lỗi lạc thời cận đại, đã kháiquát kinh nghiệm dạy học của loài người và nâng lên thành một hệ thống cácnguyên tắc chỉ đạo dạy học đến nay vẫn còn nguyên giá trị Trong đó, phải kểđến nguyên tắc phát huy tính tích cực người học và dạy học vừa sức Ông đãviết: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán, pháttriển nhân cách… hãy tìm ra phương pháp cho phép GV dạy ít hơn, HS họcnhiều hơn”
Năm 1975, tại một thời điểm khi Colombia được biết đến nhiều hơncho cuộc xung đột ý thức hệ và bạo lực chính trị, bà Vicky Colbert đặt ra đểdẫn cuộc cách mạng yên tĩnh của riêng mình Thuyết phục rằng nếu không cógiáo dục cơ bản cho tất cả, không có gì có thể đạt được, bà đã đưa cuộc sốngcủa người dân bình thường ở nông thôn Colombia bằng cách đặt sức mạnhcủa giáo dục chất lượng trong tay của họ
Mô hình Escuela Nueva bắt đầu như một cách tiếp cận từ dưới lênbằng cách đưa cùng một đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm từ các khu vựcnông thôn để tối đa hóa tác động của giáo dục cả hai, trên mặt đất và ở mứccao nhất Đặt trẻ em ở trung tâm của quá trình học tập, giáo viên trở thànhngười hỗ trợ, làm việc với cộng đồng, gia đình, cơ quan nghiên cứu và cácnhà hoạch định chính sách
Trang 17Mô hình sư phạm độc đáo này đã trở thành một chính sách quốc gia tạiColombia trong những năm 1980 và đã được nhân rộng ở các vùng khác nhautrên khắp đất nước, mở rộng để người dân đô thị và di dời Với một tác độngthể hiện trên thành tích học tập, các mô hình đã được công nhận là một trongnhững cải cách chính sách công cộng thành công nhất trong số các nước đangphát triển của các tổ chức bao gồm cả Ngân hàng Thế giới và Liên HợpQuốc Cho đến nay, Escuela Nueva đã được triển khai trên khắp châu MỹLatinh và vùng Caribê, Đông Timor và Việt Nam, đạt hơn năm triệu trẻ emtrên toàn cầu
Được thành lập vào năm 1987, được quốc tế công nhận, Tổ chứcEscuela Nueva hoạt động để giảm bớt sự bất bình đẳng và nghèo thông quahọc tập chương trình giáo dục hợp tác tại quê hương Colombia của bàColbert Chương trình cung cấp đào tạo giáo viên hiệu quả, cải thiện chươngtrình giảng dạy và nuôi dưỡng môi trường lớp học là hấp dẫn và hấp dẫn chosinh viên Mô hình Escuela Nueva di chuyển ra khỏi truyền thống môi trường
"giáo viên làm trung tâm", thường nhấn mạnh học thuộc lòng chỉ dẫn củagiáo viên, và thay vì khuyến khích "trẻ làm trung tâm", môi trường mà họcsinh tham gia đầy đủ và cho phép họ học theo tốc độ của riêng mình
Escuela Nueva là một mô hình giáo dục được thiết kế ở Colombia vàogiữa năm 1970 bởi Vicky Colbert, Beryl Levinger, và Óscar Mogollón đểnâng cao chất lượng, phù hợp và hiệu quả của các trường học trong cả nước.Chương trình bước đầu đã được nhắm vào trường cấp đa nông thôn, nơi mộthoặc hai giáo viên đồng thời dạy cho tất cả các lớp Các trường này thườngtồn tại trong các khu vực có mật độ dân số thấp ở các nước phát triển và đangphát triển cả Escuela Nueva ngày nay là một sự đổi mới xã hội trên toàn cầucông nhận và đã được chứng minh để cải thiện chất lượng giáo dục Nó manglại lợi ích cho trẻ em, giáo viên, các quản trị viên, gia đình và cộng đồng
Trang 18thông qua bốn thành phần liên quan đến nhau: chương trình giảng dạy và lớphọc, cộng đồng, đào tạo và quản lý.
Escuela Nueva thúc đẩy một môi trường lớp học, nơi học sinh tích cựchọc tập, tham gia, phối hợp; và tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường vàcộng đồng Nó là một mô hình giáo dục linh hoạt phù hợp để đáp ứng cácnhu cầu của mỗi con cá nhân, cho phép sinh viên hoàn thành các đơn vị vàtiến tới các cấp lớp cao hơn tốc độ của riêng của họ Mô hình Escuela Nuevatập trung vào trẻ em Nó cải thiện lưu giữ và thành tích học tập, làm giảm tỷ
lệ học sinh bỏ học và lưu ban lớp, và phát triển các giá trị và kỹ năng xã hộicủa công dân, hành vi dân chủ và chung sống hoà bình
Trong thập niên tám mươi và chín mươi, Escuela Nueva đã có một tácđộng đáng kể về giáo dục ở Colombia Theo một nghiên cứu so sánh quốc tếcủa UNESCO tiến hành vào năm 1998, trừ Cuba, Colombia cung cấp giáodục tiểu học tốt nhất trong tất cả các châu Mỹ La tinh cho trẻ em sống ở cácvùng nông thôn Ngoài ra, với ngoại lệ của một số thành phố lớn, Colombia
đã trở thành quốc gia duy nhất trong đó các trường nông thôn thực hiện tốthơn so với các trường ở khu vực đô thị
Năm 1989, mô hình Escuela Nueva được công nhận bởi Ngân hàngThế giới là một trong ba sáng kiến thành công nhất đã tác động chính sáchcông trên toàn thế giới Ngoài ra, năm 2000, Báo cáo phát triển con người củaLiên Hợp Quốc lựa chọn mô hình Escuela Nueva là một trong ba thành tựulớn nhất trong cả nước
1.1.2 Trong nước
Hồ Chí Minh (1890 – 1969), vị chủ tịch nước đã dành nhiều tâm huyếtcho sự nghiệp trồng người của đất nước Khi bàn về giáo dục, Người đặc biệtnhấn mạnh vai trò của người học, nhất là với HS tiểu học Xuất phát từ đặcđiểm người học mà có phương pháp dạy cho phù hợp Người viết: “cách dạy
Trang 19trẻ phải giữ toàn vẹn cái tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung củachúng” “Trong lúc học, cũng cần cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làmcho chúng học Ở trong nhà, ở trường học, ở xã hội, chúng đều vui, đều học”[26, tr.1393]
Đáp ứng điều mong mỏi đó, dự án Mô hình trường học mới (Dự ánGPE – VNEN, Global Partnershop for Education – Viet Nam Escuela Nueva– viết tắt là VNEN) được vận dụng tại Việt Nam Đây là một Dự án về sưphạm nhằm xây dựng và nhân rộng một kiểu mô hình nhà trường tiên tiến,hiện đại, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm của giáo dục Việt Nam
Đây là một mô hình còn non trẻ, hiện nay vẫn chưa triển khai rộng rãitrên toàn quốc, nên việc vận dụng triển khai mô hình VNEN ở một số tỉnh,thành đến nay vẫn chỉ là vận dụng thí điểm Do đó, chỉ có thể thực hiện báocáo tổng kết sau một năm thực hiện, đúc kết ra những ưu điểm và hạn chế của
mô hình VNEN, chứ chưa thể tiến hành thực hiện nghiên cứu khoa học vàoviệc khắc phục những nhược điểm và phát huy những thành tựu đạt được Vìvậy, việc nghiên cứu một số biện pháp tổ chức các hoạt động dạy học chươngtrình toán lớp 4 theo mô hình VNEN tại trường tiểu học Tân Thông huyện CủChi là một bước rút ngắn thời gian, giúp giáo viên tại các trường tiểu họcquận 12 tiếp cận mô hình mới một cách nhanh chóng, dễ dàng và hiệu quảhơn trong những năm học sau
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Dạy học
Nhiều tác giả cho rằng: “Dạy học là toàn bộ các thao tác có mục đíchnhằm chuyển các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các giá trị văn hoá mà nhân
Trang 20loại đã đạt được hoặc cộng đồng đã đạt được vào bên trong một con người”.Quan niệm này lí giải đầy đủ cách mà nền giáo dục đang cố gắng đào tạonhững con người thích ứng với nhu cầu hiện tại của xã hội Tuy nhiên, quanniệm này làm cho nền giáo dục luôn đi sau sự phát triển của xã hội Bởi vì,
nó chỉ có nhiệm vụ tái hiện lại các giá trị tinh thần xã hội đã được vật chấthoá bằng cách nào đó để trở lại giá trị tinh thần bên trong người học Quanniệm đó đi ngược lại quan niệm của Socrate về giáo dục, trong đó giáo dục cónhiệm vụ “đỡ đẻ” các ý niệm vốn có trong mỗi con người, để cho ý niệm đóđược khai sinh và trở thành giá trị tinh thần chung của nhân loại Quan niệm
đó cũng hạn chế nền giáo dục hướng đến một phương pháp giáo dục giúp chongười giúp cho người học trở thành những con người sáng tạo, vượt qua đượcnhững giá trị tinh thần hiện có của xã hội Thời đại của chúng ta, và hơn nữa
xã hội chúng ta đang hướng đến một xã hội tri thức Một xã hội mà tri thứccủa con người đang được số hoá với một tốc độ cực lớn, làm cho tri thức dễdàng và nhanh chóng trở thành tài sản chung Tuy nhiên, xã hội tri thứckhông chỉ có nhiệm vụ tích hợp các kiến thức của con người đã đạt đượctrong những phương tiện lưu trữ dung lượng cực lớn, trong các cơ sở dữ liệukhổng lồ mà còn có nhiệm vụ từ đó nhân lên khối lượng kiến thức này thànhcác kiến thức mới có chất lượng cao hơn nữa
Triết học Mác nói rằng: “Lượng đổi thì chất đổi Lượng thay đổi mộtcách tiệm tiến còn chất thì thay đổi một cách nhảy vọt” Phạm trù về mốitương quan giữa lượng và chất này hoàn toàn đúng trong các hoạt động giáodục Người ta đã tính ra rằng khối lượng kiến thức hiện nay của nhân loạitrong vòng 20 năm trở lại đây đã tăng bằng tổng khối lượng kiến thức mànhân loại đạt được trong toàn bộ lịch sử trước đó của nó Sự tăng về khốilượng kiến thức đó nhất thiết phải kéo theo sự thay đổi về chất tri thức củacon người Sự thay đổi về chất đó là gì?
Trang 21Thời đại của máy tính và mạng internet đã làm cho mọi biên giới vănhoá, kinh tế dần bị xoá nhoà Nếu trước đây, việc tìm kiếm sở hữu tri thức làquan trọng hàng đầu trong cuộc đấu tranh sinh tồn, việc tích luỹ kiến thức(nhớ) là ưu tiên 1 thì giờ đây, khi mà các phương tiện lưu trữ đã quá đầy đủ,quá sẵn sàng cho việc truy cập và xử lý thì ưu tiên 1 lại là khả năng nhanhchóng tiếp cận tri thức mới, khả năng vận dụng tri thức mới và khả năng
“đẻ” ra tri thức mới Con người phải có khả năng thích ứng liên tục và nhanhchóng – chẳng những về tri thức mà còn về kĩ năng – với một tốc độ cực cao
Vậy có lẽ hợp lí hơn nếu cho rằng: “Dạy học là một quá trình gồm toàn
bộ các thao tác có tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước cónăng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trịtinh thần, các hiểu biết, các kĩ năng, các giá trị văn hoá mà nhân loại đã đạtđược; trên cơ sở đó, có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ratrong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học”
1.2.2 Hoạt động dạy học
Theo tác giả Phan Trọng Ngọ, quá trình dạy học là chuỗi liên tiếp các hànhđộng của người dạy và người học đan xen và tương tác với nhau trong khoảngkhông gian và thời gian nhất định, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học
Theo tác giả Thái Duy Tuyên, quá trình dạy học là một bộ phận của quátrình giáo dục (nghĩa rộng), là quá trình tác động qua lại giữa GV và HSnhằm truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người(kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo…) để phát triển những năng lực và phẩm chất củangười học theo mục đích giáo dục
Theo tác giả Cibeknetic, quá trình dạy học là quá trình điều khiển,trong đó GV đóng vai trò điều khiển và HS đóng vai trò tự điều khiển
Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và Phó Đức Hoà, dạy học là một quá trình, dướitác dụng chủ đạo của GV, người học tự giác, tích cực, độc lập: nắm vững những tri
Trang 22thức và những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, đặcbiệt là năng lực tư duy, đồng thời hình thành được những phẩm chất hoạt động trí tuệ(tính định hướng, bề rộng, bề sâu, tính dộc lập, tính mềm dẻo, tính linh hoạt, tínhnhất quán, tính phê phán, tính khái quát, v v…); trên cơ sở đó, hình thành và pháttriển thế giới quan khoa học, những phẩm chất đạo đức của người công dân, ngườilao động
Như vậy, dạy học là một quá trình thống nhất gồm hoạt động dạy của GV vàhoạt động học của HS GV với vai trò chủ đạo: truyền đạt và điều khiển quá trìnhnhận thức của HS HS với vai trò tự giác, chủ động: lĩnh hội và tự điều khiển nhậnthức của bản thân Hoạt động của GV và HS đan xen, tác động lẫn nhau và cùnghướng đến thực hiện thành công mục đích dạy học Trong quá trình đó, chính HSlàm ra sản phẩm giáo dục, GV chỉ có thể can thiệp, tổ chức, định hướng chứ khôngthể làm thay Vì vậy, dạy học càng phát huy tính tích cực, phát huy tối đa tiềm năngcủa HS càng mang lại hiệu quả cao
1.2.3 Tổ chức hoạt động dạy học
Những thành tựu mới của tâm lý học và những phương tiện mới được
áp dụng vào dạy học đã thúc đẩy các nhà giáo dục Hoa Kỳ nghiên cứu, theonhững triết lý khác nhau, để tìm ra những loại hình tổ chức dạy học (thườngđược gọi tắt là các kiểu dạy học) mới, nhằm nâng cao hiệu quả học tập củahọc sinh Mỗi loại hình tổ chức đều mang ý nghĩa của phương pháp dạy học
và bao gồm những phương pháp thích hợp Từ thập niên 70 của thế kỷ trướccho đến nay, các kiểu dạy học chủ yếu sau đây đã được thực hiện trongtrường học:
Dạy học cá thể hoá (Individualized Instruction):
Dạy học cá thể hoá là loại hình dạy học chú trọng đến những đặc điểmriêng biệt trong sự phát triển trí tuệ và tâm lý của mỗi người; từ đó thực hiệnviệc dạy học cho từng cá nhân học sinh, sao cho phù hợp với đặc điểm riêng
Trang 23biệt, nhằm đạt kết quả học tập tốt nhất theo khả năng của mỗi cá nhân Kiểudạy học này thường được thực hiện theo mô hình một thầy-một trò, hoặc mộthọc sinh một máy tính Trong quá trình học tập, mỗi học sinh có thể điềuchỉnh mục tiêu và tiến độ học tập một cách linh hoạt hoặc được hướng dẫn để
tự nghiên cứu Thực tiễn dạy học ở nhà trường cho thấy loại hình dạy học nàymang lại hiệu quả tích cực
Dạy học hợp tác (Cooperation Instruction):
Dạy học hợp tác là loại hình dạy học nhằm đạt hiệu quả tốt bằng cáchhạn chế sự cạnh tranh và tăng cường sự hợp tác giữa học sinh với nhau Ởmọi lớp học thông thường, sự đua tranh (tức cạnh tranh) về thành quả học tậpthường xuyên diễn ra giữa học sinh với nhau Với những hoàn cảnh học tậpnhư nhau, sự khác nhau về khả năng trí tuệ và trí thông minh sẽ quyết định kẻ
“thắng”và người “thua”trong sự đua tranh đó
Sự hợp tác trong học tập không chỉ giúp khắc phục những tác dụng tiêucực của cạnh tranh, mà còn tạo ra nhiều tác dụng tích cực đối với học sinh.Theo David W.Johnson (1982), sự hợp tác trong học tập giúp cho học sinhxây dựng “tính cách chân thực và rõ ràng, khả năng tự thể hiện và sức khoẻtinh thần, sự hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau, và bồi dưỡng tốt các mối quan
hệ làm giảm sự xung đột” [tr.556] Sự hợp tác học tập có hiệu quả hơn nhiềutrong việc xây dựng các kỹ năng giao tiếp giữa hai người và trong xã hội, sovới sự cạnh tranh hoặc những nỗ lực cá nhân
Dạy học theo trình độ (Mastery Instruction):
Dạy học theo trình độ là loại hình dạy học theo kế hoạch được lập ra,dựa trên trình độ ban đầu, khả năng nhận thức và đặc điểm tâm lý của họcsinh, nhằm đưa hầu hết học sinh đạt đến trình độ mới tương đương với nhausau khi hoàn thành nhiệm vụ học tập
Trang 24John Carroll (1963) khẳng định rằng nếu các học sinh bình thườngđược phân chia theo khả năng hay năng khiếu đối với một số môn học, vàđược dạy học thích ứng với đặc điểm cá nhân của mình, thì đa số các em cóthể đạt kết quả cao trong học tập bộ môn Nhưng muốn đạt được kết quả đó,mỗi học sinh phải có đủ thời gian cần thiết để học tập Trong cùng một mônhọc, tổng số thời gian cần thiết (dựa trên đặc điểm tâm lý của từng cá nhân)rất khác nhau đối với mỗi học sinh
Phát triển khả năng và kỹ năng tư duy (Developing Thinking Abilities andSkills):
Một quan điểm mới về giáo dục đã hình thành, như phát biểu của B.S.Bloom (1956): “Không thể truyền thụ cho mỗi cá nhân tất cả những tri thứcngười đó sẽ cần trong mọi hoàn cảnh mới mà người đó sẽ gặp Tuy nhiên, cóthể giúp mỗi cá nhân tiếp thu tri thức mà người ta nhận thấy có ích nhất trongquá khứ, và giúp người đó phát triển những khả năng và kỹ năng trí tuệ để cóthể áp dụng tri thức này vào hoàn cảnh mới” [14, tr.69]
Xuất phát từ quan điểm này, một loại hình dạy học mới đã ra đời: dạyphát triển khả năng và kỹ năng tư duy (Developing Thinking Abilities andSkills) Vì các khả năng và kỹ năng tư duy được đề cập chủ yếu là tư duy phêphán và tư duy sáng tạo, nên loại hình dạy học này còn được gọi là dạy tưduy phê phán và sáng tạo (Teaching Critical and Creative Thinking) Mộttrong những người đề xướng kiểu dạy học này là Mathew Lipman (1984) đãtuyên bố: “Trẻ em có thể và cần phải học để suy nghĩ cho chính mình, đểthăm dò những sự lựa chọn cho những quan điểm riêng của mình, để xem xétbằng chứng, tiến hành việc phân tích và nêu ra những kết luận”
Tư duy phê phán và tư duy sáng tạo được thể hiện chủ yếu trong khảnăng giải quyết vấn đề, phát hiện và khám phá tri thức Do đó, loại hình dạyhọc này được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp dạy học dựa trên vấn đề
Trang 25(Problem-based learning), trong đó quan trọng nhất là phương pháp giảiquyết vấn đề (Problem-solving method), và các phương pháp phát hiện vàkhám phá Theo Bloom (1956), đối với kiểu dạy học này: “Tri thức trở thànhtài liệu làm chỗ dựa cho việc giải quyết vấn đề, hoặc tri thức là thước đo củatính phức hợp và chính xác của cách giải quyết vấn đề” Do tác động tích cựccủa nó, kiểu dạy học này được áp dụng ngày càng rộng rãi.
Dạy học vi tính hoá (Computerized Instruction)
Việc áp dụng máy tính điện tử với mạng Internet vào giáo dục ngàycàng phổ biến, với hiệu quả ngày càng cao, tất yếu dẫn tới loại hình dạy học
vi tính hoá, tức dạy học bằng máy tính điện tử Theo nhận định của JohnCook (1985), loại hình này được phát triển qua 3 cấp độ khác nhau:
- Thứ nhất, máy tính là một công cụ ở cấp độ này, máy tính được sửdụng như một công cụ trợ giúp cho cá nhân làm phong phú thêm các hoạtđộng dạy học ở trường và ở nhà Việc dạy học vẫn diễn ra trong quan hệ chủyếu giữa thầy và trò, có sử dụng máy tính hay không là việc hoàn toàn do cánhân tự ý quyết định
- Thứ hai, dạy học với máy tính trợ giúp ở cấp độ này, máy tính được
sử dụng một phần trong dạy học, tập trung vào các chương trình phụ đạo vànâng cao kiến thức, hoặc các chương trình luyện tập thực hành những kỹnăng cơ bản của các bộ môn, chuẩn bị tiến tới những trình độ học vấn caohơn
- Thứ ba, dạy học bằng máy tính Đây là cấp độ cao nhất mà việc dạyhọc hầu hết các chương trình đều sử dụng máy tính Mọi việc tổ chức, điềuhành, kiểm tra được thực hiện một cách có hệ thống qua một mạng nội bộ(Intranet) với một máy chủ ở trung tâm Được lập trình đúng và nhập đủ các
dữ liệu thông tin cần thiết, máy tính sẽ trắc nghiệm khả năng học tập, cungcấp kiến thức, ra chỉ lệnh để học sinh thực hiện
Trang 26Tương lai sẽ thuộc về loại hình dạy học vi tính hoá Các phương pháp
và tổ chức dạy học mới sẽ được hình thành từ loại hình dạy học này
Dạy học lấy học sinh làm trung tâm (Student-Centered Instruction) Các lý thuyết về loại hình dạy học hiện hành vẫn chưa giải quyết đượcđầy đủ các vấn đề đặt ra cho giáo dục trong thời đại văn minh tin học Dựatrên các tri thức hiện đại về tâm lý học và những hiệu quả rõ ràng của việc vitính hoá hoạt động dạy học, vào năm 1995 Hiệp Hội Tâm Lý Học Hoa Kỳ đãthiết lập một lý thuyết về giáo dục lấy người học làm trung tâm, khẳng địnhrằng: người học thành công là người có thể diễn đạt tốt những tri thức đã học,liên kết tốt những thông tin mới với thông tin sẵn có, đồng thời có thể tạo rahoặc sử dụng những cách tư duy và phương pháp lý luận để đạt mục tiêu họctập
Vậy giáo dục lấy người học làm trung tâm có tầm phổ quát rất rộng.Cách thức tổ chức dạy học của loại hình này rất đa dạng, có thể áp dụng theocách thức tổ chức của các loai hình dạy học khác hiện có Nhưng chươngtrình dạy học cần được thiết kế theo hướng lấy người học làm trung tâm(Student - Centered Curriculum) Loại chương trình này nhấn mạnh về những
sở thích và nhu cầu của người học, để kích thích động cơ học tập Đặc trưngchủ yếu của loại hình dạy học này được thể hiện trong mối quan hệ giữa thầy
và trò ở vị trí trung tâm của quá trình dạy học, học sinh có vai trò độc lập,chủ động của người tự học, tự nghiên cứu để giải quyết các vấn đề nhằm pháthiện và tiếp thu những tri thức cần đạt tới Giáo viên có vai trò của ngườihướng dẫn, trợ lực và đánh giá thành quả học tập của học sinh
Tóm lại, các loại hình dạy học lấy học sinh làm trung tâm trở thànhloại hình dạy học chủ yếu trong nền văn minh hiện đại Các phương pháp tiêubiểu của loại hình này cũng trở thành những phương pháp dạy học hiện đạinhất, ngày càng phát triển mạnh trong tương lai
Trang 271.3 Một số vấn đề về dạy học toán lớp 4 (toán điển hình)
1.3.1 Mục tiêu: Dạy giải toán điển hình ở lớp 4 nhằm giúp HS:
- Kĩ năng nhận dạng toán điển hình từ những yếu tố đề toán cung cấp
- Vận dụng quy tắc giải toán điển hình thích hợp để giải
- Cung cấp những hiểu biết ban đầu về mối liên kết giữa giải toán và nhữngtình huống, sự vật thực tiễn trong cuộc sống
- Góp phần phát triển ngôn ngữ và tư duy: biết diễn đạt một số nhận xét,quy tắc, tính chất, bằng ngôn ngữ (nói và viết) ở dạng khái quát; phát triểnnăng lực phân tích, tổng hợp, khái quát hoá và cụ thể hoá
1.3.2 Nội dung dạy học toán điển hình ở lớp 4:
- Các loại toán điển hình nằm xen kẽ 4 phép tính với số tự nhiên là:
+ Tìm số trung bình cộng
+ Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó
- Loại toán điển hình nằm trong phần phân số tỉ số và các bài toán về tỉ số:+ Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó
+ Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó
Nhìn chung, các bài học về toán điển hình được trình bày trong chươngtrình là hợp lí, khoa học Mỗi loại bài đều có lí thuyết và thực hành, củng cốkhắc sâu kiến thức Nhưng mỗi loại toán điển hình đều có những cách làmhoàn toàn khác nhau Đối với các em học sinh, phải nhớ nhiều quy tắc đồngthời với những dạng bài xen kẽ gây nhiễu khác là một vấn đề hết sức khókhăn
1.3.3 Khái quát về môn toán lớp 4 được thiết kế theo mô hình trường tiểu học mới (VNEN)
Nội dung chương trình Toán 4 VNEN được phân chia thành các bài học,tổng cộng cả năm học lớp 4 có 110 bài học (Toán 4 hiện hành có 175 tiết) Mỗibài học có thể gồm 1 hoặc 2 tiết học thông thường Kết cấu như vậy sẽ tạo điều
Trang 28kiện để GV và HS chủ động điều tiết thời gian hoàn thành bài học, đồng thờigiúp tăng cường hoạt động thực hành cho HS
Quán triệt tinh thần dạy học trên cơ sở tổ chức các hoạt động học tập của
HS, vì vậy trong mỗi bài học, từng đơn vị kiến thức, kĩ năng cơ bản tối thiểuđược lấy làm nền tảng để xác định các hoạt động học tập tương thích, phù hợpvới trình độ nhận thức của HS Quá trình dạy học được tổ chức thông quamột chuỗi các hoạt động khuyến khích HS trải nghiệm, khám phá, phát hiện và
tự học một cách tích cực
Thời lượng tối thiểu để dạy học Toán 4 VNEN bảo đảm đúng như quyđịnh của chương trình Toán 4 hiện hành (bố trí theo tiết học thông thường),thể hiện cụ thể trong bảng sau:
1.4 Một số vấn đề về tổ chức dạy học theo chương trình tiểu học mới (VNEN)
1.4.1 Mục tiêu của mô hình trường tiểu học mới (VNEN)
Trong mô hình dạy học theo VNEN, hướng vào việc chuẩn bị cho HSsớm thích ứng với đời sống xã hội, hòa nhập và phát triển cộng đồng, tôntrọng nhu cầu, lợi ích, tiềm năng của HS, giúp HS phát triển toàn diện nhân
cách “Dạy cho HS những gì các em cần, không dạy cho các em những gì
GV có” Chuyển đổi mô hình nhà trường truyền thống sang mô hình nhà
trường kiểu mới tại Việt Nam lại gặp phải những khó khăn sau: chất lượnggiáo dục chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển, chương trình giáo dục lạchậu, chậm đổi mới Do đó, mô hình trường học kiểu mới phải đảm bảo: Nângcao chất lượng giáo dục và năng lực sáng tạo, khả năng lập nghiệp cho họcsinh, phương pháp dạy-học theo hướng hiện đại
1.4.2 Đặc điểm của mô hình trường tiểu học mới (VNEN):
Trang 29Mô hình "Trường học mới VNEN" là một trong các mô hình nhà trườnghướng tới việc đáp ứng các yêu cầu của đổi mới PPDH , thể hiện ở chỗ : HSđược học theo tốc độ phù hợp với trình độ nhận thức của cá nhân; Nội dunghọc thiết thực, gắn kết với thực tiễn đời hàng ngày của HS; Kế hoạch dạy họcđược bố trí linh hoạt ; Môi trường học tập thân thiện, phát huy tinh thần dânchủ, ý thøc tập thể ; Tài liệu học có tính tương tác cao và là tài liệu hướngdẫn HS tự học; Chú trọng kĩ năng làm việc theo nhóm hợp tác; Phối hợp chặtchẽ giữa phụ huynh, cộng đồng và nhà trường; Tăng quyền chủ động cho GV
và nhà trường, phát huy vai trò tích cực, sáng tạo của các cấp quản lí giáo dụcđịa phương
Mô hình trường học mới VNEN là một mô hình được triển khai từ nămhọc 2012 – 2013 cho khối 2 và khối 3; sẽ kết thúc vào năm học 2014 – 2015.Sau hơn một năm thực hiện, qua ghi nhận bước đầu của các trường thực hiện
dự án, việc dạy học theo mô hình VNEN đã giúp học sinh tự tin; không khíhọc tập trong lớp tự nhiên, nhẹ nhàng và thân thiện; giáo viên và học sinhtương tác với nhau nhiều hơn và kết quả học tập, chất lượng giáo dục bướcđầu được cải thiện tốt hơn Tuy nhiên, việc thực hiện dạy học theo mô hìnhtrường học mới VNEN ở các trường đã thực hiện cũng gặp phải những khókhăn như: sức ì của giáo viên, hạn chế về năng lực chuyên môn, thiếu lòngtin đối với học sinh, cơ chế quản lý chưa đủ sức mạnh
Điểm nổi bật của mô hình này là đổi mới về các hoạt động sư phạm,một trong những hoạt động đó là đổi mới về cách thức tổ chức lớp học Theo
mô hình của trường học mới, quản lí lớp học là “Hội đồng tự quản học sinh”,các “ban” trong lớp, do HS tự nguyện xung phong và được các bạn tín nhiệm
Sự thành lập cũng như hiệu quả hoạt động của “Hội đồng tự quản học sinh”,các “ban” rất cần sự tư vấn, khích lệ, giám sát của GV, phụ huynh, sự tíchcực, trách nhiệm của HS “Hội đồng tự quản học sinh” là một biện pháp giúp
Trang 30HS được phát huy quyền làm chủ quá trình học tập, giáo duc HS có điềukiện hiểu rõ quyền và trách nhiệm trong môi trường giáo dục, được rèn các kĩnăng lãnh đạo, kĩ năng tham gia, hợp tác trong các hoạt động.
1.4.3 Các bước tổ chức dạy học của mô hình trường tiểu học mới (VNEN)
a Năm bước giảng dạy theo mô hình VNEN
Có nhiều kiểu cấu trúc một bài học, trong đó thường dùng nhất là kiểucấu trúc gồm ba bước: Nghe giảng lí thuyết - Theo dõi bài tập mẫu - Luyệntập Tuy nhiên, nếu GV sử dụng không hợp lí sẽ dẫn đến lối dạy học mangtính áp đặt, bình quân, đồng loạt
Để góp phần tích cực hóa hoạt động học tập của HS, người ta thườngkhuyến khích sử dụng kiểu dạy học thông qua các hoạt động trải nghiệm,khám phá, phát hiện của HS, gồm 5 bước chủ yếu:
Gợi động cơ, tạo hứng thú Trải nghiệm Phân tích, khám phá, rút
ra bài học Thực hành Vận dụng (kiểu quy trình 5 bước)
a) Trải nghiệm: Để nhận thức được về một đối tượng, một sự việc hay
một vấn đề nào đó, người học phải dựa trên vốn kiến thức, vốn kinh nghiệm
đã có từ trước Nếu HS không có vốn kiến thức cần thiết (có liên quan đếnkiến thức mới), hoặc không có những trải nghiệm nhất định thì không thểhình thành được kiến thức mới Hơn nữa, trong dạy học môn toán, kiến thứchình thành trước thường là cơ sở để hình thành, phát triển những kiến thứctiếp theo
Do đó, trong dạy học, người GV cần phải tìm hiểu vốn kinh nghiệm vànhững hiểu biết sẵn có của HS trước khi học một kiến thức mới và tổ chứccho HS trải nghiệm Sự định hướng và tổ chức các hoạt động của GV là quantrọng, nhưng vốn kiến thức của HS, những trải nghiệm của HS vẫn là yếu tốquyết định trong việc hình thành kiến thức mới
Trang 31b) Phân tích, khám phá: Là quá trình xem xét, nhìn nhận, tìm hiểu đối
tượng, sự việc, phát hiện đặc điểm, ý nghĩa của chúng, trên cơ sở đó tìm tòi,khám phá ý tưởng mới
c) Rút ra bài học: Đúc rút thành bài học, khái niệm, quy tắc lí thuyết
hay thực hành mới
d) Thực hành, vận dụng: Vận dụng điều đã học để giải quyết các tình
huống trong thực hành hoặc thay đổi cách làm cũ
Dạy học thông qua trải nghiệm là cách thức tổ chức quá trình dạy học thông qua một chuỗi các hoạt động trải nghiệm của người học.
Dạy học thông qua trải nghiệm khuyến khích tổ chức các hoạt độngđộc lập, tự học hoặc nhóm hợp tác của HS, đòi hỏi GV thiết kế, đạo diễn cáchoạt động học tập giúp HS tự phát hiện, phân tích và vận dụng kiến thức GV
sẽ thành công hơn nếu có khả năng sử dụng kiểu quy trình 5 bước
b Mười bước học tập theo mô hình VNEN
Trong mô hình VNEN tiến trình tự học của HS được tổ chức thông quacác hoạt động chủ yếu: Hoạt động cơ bản; Hoạt động thực hành; Hoạt độngứng dụng Tuy nhiên, để HS dễ nhớ, dễ vận dụng và thuận tiện cho GV trong
tổ chức hoạt động tự học của HS, ở các lớp thử nghiệm đã gợi ý một quytrình gồm 10 bước học tập cụ thể như sau:
1) Nhóm trưởng lấy tài liệu và đồ dùng học tập cho cả nhóm
2) Em đọc Tên bài học rồi viết tên bài học vào vở
3) Em đọc Mục tiêu của bài học
4) Em bắt đầu Hoạt động cơ bản (nhớ xem phải làm việc cá nhân haytheo nhóm)
5) Kết thúc Hoạt động cơ bản em tự đánh giá rồi báo cáo với thầy/côgiáo kết quả những việc em đã làm được để thầy/ cô xác nhận
6) Em thực hiện Hoạt động thực hành:
Trang 32+ Đầu tiên em làm việc cá nhân;
+ Em chia sẻ với bạn ngồi cùng bàn (giúp nhau sửa chữa những bàilàm còn sai sót);
+ Em trao đổi với cả nhóm Chúng em sửa cho nhau, luân phiên nhauđọc (lưu ý không làm ảnh hưởng đến nhóm khác)
7) Chúng em đánh giá cùng thầy/ cô giáo
8) Em thực hiện Hoạt động ứng dụng (với sự giúp đỡ của gia đình, củangười lớn)
9) Kết thúc bài, em viết vào Bảng đánh giá (nhớ suy nghĩ kĩ khi viết vàlưu ý về đánh giá của thầy/ cô giáo)
10) Em đã học xong bài mới hoặc em phải ôn lại phần nào
Trong mỗi phòng học đều treo một tấm bìa khổ lớn (xem ảnh minhhọa), HS ngồi trong lớp đều có thể nhìn thấy rõ, trên đó nêu lên 10 bước họctập (cùng với những lưu ý)
Trong mô hình "Trường học mới", mỗi HS đến trường luôn ý thứcđược mình phải bắt đầu và kết thúc hoạt động học tập như thế nào, không cầnchờ đến sự nhắc nhở của GV Ở mỗi bài học, các hoạt động học tập nóichung và tự học nói riêng đều được chỉ dẫn cụ thể và chi tiết
Như chúng ta đã biết, mọi ý tưởng canh tân hay đổi mới phương phápdạy học, suy cho cùng đều tìm cách tạo điều kiện giúp người học phát huytính tích cực, độc lập, biết cách tự học, tự tìm tòi, phát hiện, giải quyết vấn
đề Trong đó, sự trải nghiệm và tự kiến tạo kiến thức cho bản thân của người
học có vai trò hàng đầu Những nỗ lực cá nhân của HS là trung tâm của quátrình giáo dục Người học phải tự tạo dựng sự hiểu biết của riêng mình là chủyếu chứ không chỉ đơn giản là tiếp thu một cách thụ động từ môi trường bênngoài Người GV phải biết cách khéo léo đặt vấn đề và tổ chức môi trường sư
Trang 33phạm cho học sinh tự tìm tòi, khám phá, phát hiện, trong đó coi trọng việc học hợp tác, làm việc theo nhóm để giải quyết vấn đề
- Môi trường học tập thân thiện, phát huy tinh thần dân chủ, hợp tác, ýthức tập thể
- HS luôn có cơ hội được GV chỉ dẫn khi cần thiết
b Nội dung, phương pháp và hình thức dạy học cần bảo đảm một số yêucầu:
- Nội dung thiết thực, gắn bó chặt chẽ với đời sống hằng ngày của HS
- Tài liệu học có tính tương tác cao và thực sự là tài liệu hướng dẫn HS
tự học (với sự trợ giúp hợp lí của GV hoặc của người hướng dẫn)
- Mỗi HS luôn được giao nhiệm vụ và mục tiêu học tập cụ thể, nhưngluôn có thể tự điều chỉnh hoạt động của chính mình để việc học phù hợp vớinhịp độ tiếp thu của bản thân
- Phát huy tác dụng tích cực của hình thức dạy học theo nhóm, theocặp HS trong từng nhóm cùng nhau trao đổi, bàn bạc để hoàn thành nhiệm
vụ được giao GV chỉ tập trung HS để giảng giải khi cần nhận xét, đánh giáchung hoặc hướng dẫn hoạt động cho toàn lớp
- Lối dạy học theo hướng tổ chức các hoạt động tự học của HS vừa rènluyện tính độc lập, tích cực của HS, đồng thời thúc đẩy sự tham gia hợp tác,tăng cường ý thức tập thể của HS
1.4.5 Các yếu tố ảnh hưởng hoạt động dạy học
Trang 34Điểm nổi trội của mô hình trường học mới là sách giáo khoa không chỉcung cấp thông tin, kiến thức mà còn chú trọng việc hướng dẫn HS phươngpháp học, tư duy, phát triển tính chủ động, sáng tạo, tự tin, năng lực học tập,năng lực giải quyết vấn đề, hợp tác nhóm, khả năng giao tiếp, thực hành…Các em tự tin hơn và luôn ở thế chủ động tham gia sôi nổi, hào hứng vào bàihọc Các em bước đầu hình thành ý thức “Khi đến trường mình phải bắt đầu
và kết thúc hành động như thế nào”, không phải chờ đến sự nhắc nhở củagiáo viên
Từ khi có chủ trương đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăngcường sự tham gia của HS, phát huy tối đa vai trò chủ động, tích cực của các
em thì dạy học theo nhóm đã được coi là phương pháp dạy học hữu hiệu vàbước đầu đã làm thay đổi bộ mặt phương pháp dạy học trong nhà trường phổthông GV đã thấy rõ tác dụng của dạy học theo nhóm trong việc phát huytính tích cực, chủ động, tăng cường sự tham gia của HS như: mọi HS đềuđược trình bày ý kiến, HS tự tìm ra tri thức, nắm bài chắc hơn, hứng thú vớihọc tập hơn.v.v và phát triển những kĩ năng xã hội cho HS, như biết lắngnghe và tôn trọng ý kiến của bạn, biết trình bày ý kiến của mình cho các bạnnghe và hiểu, biết thống nhất ý kiến,v.v ; Còn đối với GV thì dạy học nhómgiúp họ không phải nói nhiều trên lớp, nhưng chuẩn bị bài cần kỹ lưỡng hơn;hiểu khả năng của HS hơn.v.v GV đã có kiến thức và một số kỹ năng đểtiến hành dạy học theo nhóm
HS bước đầu đã có những kĩ năng làm việc theo nhóm: Các em đã biếtnhanh chóng gia nhập vào nhóm, bầu nhóm trưởng, thư kí; bước đầu biết bày
tỏ quan điểm, ý kiến và trình bày mạch lạc kết quả làm việc chung của cả
nhóm
1.5 Một số vấn đề về học sinh lớp 4
1.5.1 Tri giác
Trang 35Tri giác của HS tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết vàmang tính không chủ định Ở đầu bậc tiểu học, tri giác của HS thường gắnvới hành động, hoạt động thực tiễn của bản thân Càng về sau, những đặcđiểm này giảm dần đi HS lớp 4, 5 tri giác sự vật một cách có mục đích hơn,bước đầu phát hiện được những dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng.
Từ đặc điểm tri giác của HS, GV cần sử dụng yếu tố trực quan với mức
độ thích hợp Đó có thể là bài giải mẫu, lời giảng rõ ràng, mạch lạc của GV,hình vẽ minh hoạ, Mặt khác, nội dung BT cần hấp dẫn, khai thác những vấn
đề gần gũi cuộc sống của HS Đồng thời, GV chú ý phát triển tri giác cho HSthông qua việc dạy HS cách lắng nghe, xem xét, phát hiện ra thuộc tính bảnchất của đối tượng
1.5.2 Tư duy
Tư duy của HS đầu cấp tiểu học là tư duy cụ thể, mang tính hình thức.Trong một chừng mực nào đó, hành động trên các đồ vật, sự kiện bên ngoàicòn là chỗ dựa hay điểm xuất phát cho tư duy Nhờ ảnh hưởng của việc học,
tư duy của các em chuyển dần từ tính trực quan, cụ thể sang tính trừu tượng,khái quát
Khi tổ chức dạy học, GV cần chú ý phát triển tư duy cho HS Rènluyện thao tác phân tích-tổng hợp bằng cách đặt câu hỏi gợi mở, hoặc hướngdẫn HS sử dụng mô hình, hình vẽ để xác định dữ kiện, yêu cầu, mối liên hệgiữa các yếu tố trong bài toán; hay các bước giải bài toán thuộc dạng nào đó.Rèn luyện thao tác so sánh tìm nhiều cách tính rồi xem cách nào thuận tiệnnhất,… Rèn luyện thao tác trừu tượng hoá, khái quát hoá qua việc tóm tắt bàitoán; đặt bài toán thoả mãn yêu cầu cho trước; rút ra nhận xét từ một sốtrường hợp cụ thể,…
1.5.3 Tưởng tượng
Trang 36Tưởng tượng của HS tiểu học lúc đầu còn tản mạn, ít có tổ chức, hìnhảnh của tưởng tượng còn đơn giản, hay thay đổi, chưa bền vững Càng vềnhững năm cuối cấp tiểu học, tưởng tượng của HS càng gần hiện thực hơn.
Số lượng các chi tiết, các sự kiện trong hình ảnh tưởng tượng ngày càng tănglên và được sắp đặt một cách hợp lí Sự phát triển của tư duy, ngôn ngữ vàtính có chủ định giúp hình ảnh tưởng tượng dần chính xác, rõ ràng, giảm đinhững chi tiết thừa Tưởng tượng sáng tạo của HS cũng phát triển, HS biếthuy động trí tưởng tượng tái tạo để sáng tạo ra các ý tưởng, các hình ảnh mớimẻ
Tưởng tượng là một quá trình nhận thức quan trọng, chỉ có thể hìnhthành trên cơ sở những biểu tượng đã có Vì thế, GV cần chú ý giúp HS pháttriển trí tưởng tượng bằng cách hình thành biểu tượng cho các em qua sự mô
tả bằng lời nói, cử chỉ, điệu bộ
1.5.4 Trí nhớ
Ở HS tiểu học, trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển hơn trí nhớ từngữ lôgíc HS nhớ và giữ gìn những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh và tốthơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng HS có xu hướng ghinhớ máy móc tài liệu học tập mà đôi khi chưa hiểu ý nghĩa, mối liên hệ củatài liệu đó HS lớp 4, 5 bước đầu biết ghi nhớ có ý nghĩa, biết sử dụng sơ đồlôgíc và dựa vào điểm tựa để ghi nhớ, trí nhớ có chủ định cũng phát triển dần.Khi dạy học, để HS ghi nhớ tốt các quy tắc, biện pháp, quy trình,… tínhtoán, GV cần tạo cho HS tâm thế thích hợp và hướng dẫn HS hiểu mục đíchcủa ghi nhớ Đồng thời, giúp HS ghi nhớ trên cơ sở thông hiểu ý nghĩa nộidung, tránh học vẹt; biết liên hệ, so sánh, đối chiếu kiến thức cũ và mới; phátbiểu, diễn đạt lại tài liệu theo cách hiểu và ngôn ngữ của mình Đồng thời,
GV tổ chức cho HS vận dụng kiến thức đã học vào việc giải các bài toán cụ
Trang 37thể từ đơn giản đến phức tạp.
1.5.5 Ngôn ngữ
Ngôn ngữ nói của HS tiểu học ngày càng hoàn thiện, ngôn ngữ viết bắtđầu hình thành và phát triển Vốn từ của các em tăng lên một cách đáng kể.Cùng với vốn từ có được từ trước tuổi đến trường, HS lớp 4 tích luỹ thêmkhoảng 1500 từ HS không chỉ hiểu nghĩa đen và mà còn có thể hiểu nghĩabóng của từ, nắm một số quy tắc ngữ pháp, chính tả, ngữ âm căn bản
Trong dạy học Toán, GV cần tạo điều kiện cho HS trao đổi, trình bày,diễn đạt ý tưởng của mình về một bài toán, vấn đề nào đó Giúp HS hiểuđúng các thuật ngữ, mệnh đề, kí hiệu dùng trong môn toán, có thói quen viếtbài làm sáng, rõ, mạch lạc khi làm toán
1.5.6 Chú ý
Chú ý có chủ định của HS tiểu học còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ýmột cách có ý chí chưa mạnh HS đầu bậc tiểu học thường chỉ chú ý khi cóđộng cơ gần (được điểm cao, GV khen) HS cuối bậc tiểu học đã có thể duytrì chú ý có chủ định ngay khi chỉ có động cơ xa như chú ý vào công việc khókhăn và không hứng thú vì biết chờ đợi kết quả trong tương lai; chú ý của HSchuyển dần sang chú ý có chủ định mặc dù vẫn còn mang màu sắc xúc cảm.Trong dạy học, GV thúc đẩy chú ý có chủ định cho HS bằng cách gâycho HS động cơ học tập đúng đắn, có trách nhiệm với kết quả học tập củabản thân Giao cho HS thực hiện những nhiệm vụ, BT trong khoảng thời giangiới hạn phù hợp với từng đối tượng đòi hỏi HS tập trung, nỗ lực hoàn thành.Đồng thời, giúp HS dần biết tự đặt ra những nhiệm vụ học tập cho bản thân,phát huy tính tự giác, vai trò chủ thể tự giáo dục của HS
Trang 381.6 Định hướng tổ chức hoạt động dạy toán điển hình lớp 4 theo mô hình trường học mới VNEN:
1.6.1 Mục đích của việc tổ chức hoạt động dạy học toán điển hình lớp 4 theo mô hình VNEN:
- Tổ chức hoạt động dạy học toán điển hình lớp 4 theo mô hình VNENnhằm thực hiện thành công mục tiêu dạy học nội dung toán điển hình nóiriêng, Toán 4 nói chung Dù là cứ nội dung dạy học nào, cũng có nhiều conđường, nhiều cách thức để đạt mục tiêu đề ra Bởi vậy, cần xem xét và lựachọn con đường tối ưu, hiệu quả Dạy toán theo mô hình VNEN với nhiều
ưu điểm như đảm bảo phù hợp với mọi đối tượng HS, tích cực hoá hoạt độngcủa HS, phát huy cao nhất tiềm năng của HS,… sẽ là con đường ngắn nhấtdẫn đến kết quả như mong đợi
- Dạy học toán điển hình lớp 4 theo mô hình VNEN nhằm mang lại kếtquả tốt nhất và sự phát triển tốt nhất cho từng HS Theo kiểu dạy học càobằng, đánh đồng khả năng, trình độ,… người học, buộc tất cả HS đều phảithực hiện cùng một nhiệm vụ, cùng một cách thức, hướng tới cùng một cáiđích như nhau thì kết quả và sự phát triển mà từng HS đạt được khi ấy sẽchưa phải là tốt nhất với chính bản thân HS Vì điều hiển nhiên là kết quả họctập cao nhất của HS yếu không phải là kết quả cao nhất đối với HS giỏi vàngược lại Đồng thời, sự phát triển tốt nhất của HS chính là sự phát triển vềnhận thức, tư duy, phương pháp học,… khi được so với xuất phát điểm củariêng HS ấy Dạy Toán 4 theo mô hình VNEN đảm bảo từng HS vừa đạt yêucầu chung về nội dung Toán ĐH, vừa đạt được kết quả và sự phát triển có ýnghĩa cá nhân như đã nói
- Dạy học toán điển hình lớp 4 theo mô hình VNEN nhằm góp phầnthực hiện mục tiêu đào tạo mô hình nhân cách theo đơn đặt hàng của xã hội,đảm bảo giáo dục và đào tạo gắn liền thực tiễn.Như vậy, dạy học toán điển
Trang 39hình lớp 4 theo mô hình VNEN góp phần giúp HS thích nghi với cuộc sống,làm cho nhà trường và cuộc sống xã hội gần nhau hơn.
1.6.2 Tổ chức các hoạt động dạy toán điển hình lớp 4 theo mô hình VNEN
1.6.2.1 Quy trình dạy học 5 bước theo mô hình VNEN
Bước 1 Gợi động cơ, tạo hứng thú cho HS
Kết quả cần đạt: Kích thích sự tò mò, khơi dậy hứng thú của HS về
chủ đề sẽ học; HS cảm thấy vấn đề nêu lên rất gần gũi với mình Không khílớp học vui, tò mò, chờ đợi, thích thú
Cách làm: Đặt câu hỏi; Đố vui; Kể chuyện; Đặt một tình huống; Tổ
chức trò chơi… Có thể thực hiện với toàn lớp, nhóm nhỏ, hoặc cá nhân từngHS
Bước 2 Tổ chức cho HS trải nghiệm
Kết quả cần đạt: Huy động vốn hiểu biết, kinh nghiệm có sẵn của HS
để chuẩn bị học bài mới HS trải qua tình huống có vấn đề, trong đó chứađựng những nội dung kiến thức, những thao tác, kĩ năng để làm nảy sinh kiếnthức mới
Cách làm: Tổ chức các hình thức trải nghiệm gần gũi với HS Nếu là
tình huống diễn tả bằng lời văn, thì câu văn phải đơn giản, gần gũi với HS
Có thể thực hiện với toàn lớp, nhóm nhỏ, hoặc cá nhân từng HS
Bước 3 Phân tích - Khám phá - Rút ra kiến thức mới
Kết quả cần đạt: HS rút ra được kiến thức, khái niệm hay quy tắc lí
thuyết, thực hành mới Nếu là một dạng toán mới thì HS phải nhận biết được
dấu hiệu, đặc điểm và nêu được các bước giải dạng toán này
Cách làm: Dùng các câu hỏi gợi mở, câu hỏi phân tích, đánh giá để
giúp HS thực hiện tiến trình phân tích và rút ra bài học Có thể sử dụng cáchình thức thảo luận cặp đôi, thảo luận theo nhóm, hoặc các hình thức sáng tạo
Trang 40khác nhằm kích thích trí tò mò, sự ham thích tìm tòi, khám phá phát hiện củaHS Nên soạn những câu hỏi thích hợp giúp HS đi vào tiến trình phân tíchthuận lợi và hiệu quả
Bước 4 Thực hành
Kết quả cần đạt: HS nhớ dạng cơ bản một cách vững chắc; làm được
các bài tập áp dụng dạng cơ bản theo đúng quy trình HS biết chú ý tránhnhững sai lầm điển hình thường mắc trong quá trình giải bài toán dạng cơbản
Cách làm: Thông qua việc giải những bài tập rất cơ bản để HS rèn
luyện việc nhận dạng, áp dụng các bước giải và công thức cơ bản GV quansát giúp HS nhận ra khó khăn của mình, nhấn mạnh lại quy tắc, thao tác, cáchthực hiện
Tiếp tục ra các bài tập với mức độ khó dần lên phù hợp với khả năngcủa HS GV tiếp tục giúp các em giải quyết khó khăn bằng cách liên hệ lạivới các quy tắc, công thức, cách làm, thao tác cơ bản đã rút ra ở trên Có thểgiao bài tập áp dụng cho cả lớp, cho từng cá nhân, hoặc theo nhóm, cặp đôi,theo tổ HS
Bước 5 Vận dụng
Kết quả cần đạt: HS củng cố, nắm vững các nội dung kiến thức trong
bài đã học HS biết vận dụng kiến thức đã học trong hoàn cảnh mới, đặc biệttrong những tình huống gắn với thực tế đời sống hàng ngày Cảm thấy tự tin
khi lĩnh hội và vận dụng kiến thức mới.
Cách làm: HS thực hành, vận dụng từng phần, từng đơn vị kiến thức
cơ bản của nội dung bài đã học GV giúp HS thấy được ý nghĩa thực tế củacác tri thức toán học, từ đó khắc sâu kiến thức đã học Khuyến khích HS diễnđạt theo ngôn ngữ, cách hiểu của chính các em Khuyến khích HS tập phátbiểu, tập diễn đạt bước đầu có lí lẽ, có lập luận