Trên đồng ruộng lại xuất hiện một số loài dịch hại trong những năm gần đây đã trở thành loài dịch hại chủ yếu, như sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân, rầy nâu, rầy nâu nhỏ, rầy lưng trắng, bệ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN -
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kỹ thuật Nông nghiệp
Người hướng dẫn khoa học:
TS Dương Tiến Viện
HÀ NỘI, 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ
nhiệt tình của các thầy cô, gia đình và bạn bè
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đến TS
Dương Tiến Viện, khoa Sinh – KTNN, Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã
trực tiếp, tận tình hướng dẫn vá giúp đỡ tạo điều kiện tốt cho tôi thực hiện đề
tài nghiên cứu và hoàn chỉnh khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô khoa Sinh –
KTNN, Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi
hoàn thành chương trình học tập và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa
luận tốt nghiệp
Cuối cùng, tôi xin được chân thành cảm ơn, lòng biết ơn tới gia đình,
bạn bè và những người đã luôn góp ý, động viên tôi trong suốt quá trình học
tập và khóa luận tốt nghiệp
Xuân Hòa, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Vi Văn Ba
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Bản khóa luận tốt nghiệp này đƣợc hoàn thành bằng sự cố gắng, nhận thức của bản thân
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chƣa từng đƣợc sử dụng để bảo vệ bất
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thành phần sâu đục thân lúa vụ mùa 2013 tại xã Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc……… 30 Bảng 3.2 Diễn biến mật độ sâu đục thân 2 chấm trên giống lúa Khang dân 18
vụ mùa 2013 tại xã Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc……… 31 Bảng 3.3 Diễn biến mật độ sâu đục thân 2 chấm trên giống lúa Bắc Thơm số
7 vụ mùa 2013 tại xã Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc ……… 33 Bảng 3.4 Diễn biến mật độ sâu đục thân 2 chấm trên giống lúa VS1 vụ mùa
2013 tại xã Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc……… 34 Bảng 3.5 Hiệu quả phòng trừ sâu đục thân 2 chấm trên giống lúa Bắc Thơm
số 7 vụ mùa 2013 tại Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc ……… 38
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Sâu đục thân cú mèo Sesamia inferens Walker: 28 Hình 3.2 Sâu đục thân 2 chấm Scirpophaga incertulas Walker: 29
Hình 3.3 Tỉ lệ dảnh, héo bông bạc (%) trên 3 giống lúa Khang dân 18, Bắc thơm
số 7 và VS1 vụ mùa năm 2013 tại Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc 35 Hình 3.4 Diễn biến mật độ sâu đục thân 2 chấm trên 3 giống lúa Khang dân 18, Bắc thơm số 7 và VS1 vụ mùa năm 2013 tại Cao Minh, Phúc Yên,Vĩnh
Phúc……… 36
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 3
2.1 Mục đích 3
2.2 Yêu cầu 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2 Một số nghiên cứu ngoài nước 5
1.2.1 Thành phần sâu đục thân lúa 5
1.2.2 Mức độ và triệu chứng gây hại 6
1.2.3 Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của sâu đục thân lúa 2 chấm 7
1.2.3.1 Đặc điểm về hình thái 7
1.2.3.2 Thời gian phát dục các pha và vòng đời 7
1.2.3.3 Khả năng đẻ trứng của trưởng thành cái 8
1.2.3.4 Số thế hệ trong một năm của sâu đục thân lúa bướm 2 chấm 9
1.2.3.5 Tập tính hoạt động của sâu đục thân hai chấm 9
1.2.3.6 Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện sinh thái 9
1.2.4 Nghiên cứu các biện pháp phòng trừ 10
1.2.4.1 Biện pháp sử dụng pheromone giới tính 10
1.2.4.2 Biện pháp canh tác 11
Trang 71.2.4.3 Sử dụng giống lúa kháng sâu hại 12
1.2.4.4 Biện pháp sinh học 12
1.2.4.5 Biện pháp hóa học 13
1.3 Nghiên cứu ở trong nước 14
1.3.1 Thành phần loài và biến động thành phần loài sâu đục thân lúa 14
1.3.2 Phân bố của sâu đục thân lúa hai chấm 15
1.3.3 Mức độ gây hại của sâu đục thân lúa 15
1.3.4 Đặc điểm sinh vật học sinh thái của sâu đục thân lúa hai chấm 17
1.3.4.1 Đặc điểm hình thái 17
1.3.4.2 Thời gian phát dục các pha và vòng đời 17
1.3.4.3 Khả năng đẻ trứng của bướm cái sâu đục thân lúa 2 chấm 18
1.3.4.4 Ký chủ của sâu đục thân lúa hai chấm 18
1.3.4.5 Nghiên cứu về ảnh hưởng của điều kiện sinh thái 19
1.3.5 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ sâu đục thân lúa ở Việt Nam 19
1.3.5.1 Biện pháp kỹ thuật canh tác 19
1.3.5.2 Biện pháp thủ công 20
1.3.5.3 Biện pháp sử dụng giống lúa kháng sâu hại 20
1.3.5.4 Biện pháp sử dụng pheromone giới tính 20
1.3.5.5 Biện pháp sinh học 22
1.3.5.6 Biện pháp hoá học 23
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
2.3 Nội dung nghiên cứu 25
2.4 Phương pháp nghiên cứu 25
Trang 82.4.1 Điều tra thành phần sâu đục thân hại lúa vụ mùa năm 2013
tại Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc 25
2.4.2 Phương pháp điều tra diễn biến số lượng sâu đục thân hai chấm 25
2.4.3 Khảo sát biện pháp phòng trừ sâu đục thân lúa hai chấm bằng thuốc hoá học 26
2.5 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu 27
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Thành phần loài sâu đục thân hại lúa vụ mùa 2013 tại Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc 28
3.2 Diễn biến mật độ sâu đục thân 2 chấm Scirpophaga incertulas Walker tại xã Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc 31
3.3 Biện pháp phòng trừ sâu đục thân 2 chấm Scirpophaga incertulas Walker bằng thuốc hóa học 37
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40
1 Kết luận 40
2 Đề nghị 40
PHỤ LỤC 42
TÀI LIỆU KHAM KHẢO 45
Trang 9(Oryza sativa L.) là cây ngũ cốc quan trọng nhất thế giới và cũng là cây
lương thực quan trọng ở Việt Nam, đồng thời cũng là nguồn cung cấp thức
ăn cho dân số thế giới Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, sản lượng thóc cả nước năm 1986 là khoảng 21 triệu tấn, đến năm 2000
đã tăng lên 31,5 triệu tấn, đặc biệt năm 2009 sản lượng đạt 38,9 triệu tấn Đến năm 2012 tổng diện tích trồng lúa có khoảng 7,75 triệu ha, năng suất đạt 56 tạ/ha, sản lượng đạt 43,4 triệu tấn.Lúa cung cấp bình quân 80% cacbonhydrat
và 40% lượng protein cho khẩu phần ăn người Việt Nam Với việc áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, hàng năm sản lượng lúa vẫn không ngừng tăng góp phần đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới Trong những năm gần đây thì diện tích gieo trồng, sản lượng lúa và xuất khẩu gạo vẫn tiếp tục tăng Sản lượng lúa năm 2010 có diện tích trồng lúa cả năm đạt 7.513,7 nghìn ha, tăng 76,5 nghìn ha (+1,0%), năng suất lúa cả năm đạt 53,2 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha (+1,6%) so với năm trước [23] Năm 2011 có diện tích trồng lúa cả năm đạt 7.651,4 nghìn ha, tăng 162,0 nghìn ha (+2,2%), năng suất lúa cả năm đạt 55,3 tạ/ha, tăng 1,9 tạ/ha (+3,6%) [24] Còn năm 2012 diện tích trồng lúa đạt 7.753,2 nghìn ha, tăng 98.000 ha (+1,3%), năng suất đạt 56,3 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha (+1,7%) đưa sản lượng lúa cả
năm tăng 1,26 triệu tấn [25] Có nhiều giống lúa có năng suất, chất lượng cao
đã được đưa vào gieo trồng với diện tích lớn ở các tỉnh phía Bắc như Khang dân 18, Bắc thơm 15, giống lúa thuần VS1, Nhị ưu 903… Nhưng hầu hết mức
Trang 102
độ nhiễm sâu bệnh thường nặng hơn các giống khác Trên đồng ruộng lại xuất hiện một số loài dịch hại trong những năm gần đây đã trở thành loài dịch hại chủ yếu, như sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân, rầy nâu, rầy nâu nhỏ, rầy lưng trắng, bệnh đạo ôn, bệnh khô vằn, bệnh bạc lá… Trong đó có sâu
đục thân lúa 2 chấm Scirpophaga incertulas Walker là một đối tượng có
nguy cơ gây hại, ảnh hưởng đến năng suất lúa một số tỉnh phía Bắc Diện tích nhiễm sâu đục thân năm 2007 là 108.964 ha, năm 2008 tăng lên 267.000 ha Đến năm 2010 thì tổng diện tích nhiễm 111.496 ha, giảm 50%
so với năm 2009, trong đó diện tích nhiễm nặng là 2.723 ha [23] Năm
2012 diện tích nhiễm 33.320 ha, tăng 33% so với năm 2011 [25] Sâu tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc, chủ yếu tại vụ mùa, do thời tiết bị đẩy lùi, giai đoạn lúa trỗ trùng với cao điểm của sâu ra rộ; diện tích lúa mùa bị nhiễm sâu tại tỉnh phía Bắc là 23,7 ngàn ha, tăng 162% so với năm 2011, trong đó diện tích nhiễm nặng 2.867 ha, tăng 11 lần so với năm 2011 Hiện tại chưa có giống lúa nào được coi là có tính chống chịu với sâu đục thân lúa hai chấm nhưng đã có nhiều biện pháp được sử dụng nhằm ngăn chặn và giảm thiểu tác hại của sâu đục thân lúa hai chấm như: thay đổi cơ cấu mùa
vụ, đưa vào sản xuất những giống ngắn ngày, trỗ tập trung, cày lật đất sau khi thu hoạch, ngắt ổ trứng, sử dụng thuốc hoá học… và đã mang lại hiệu quả rõ rệt
Trước tình hình trên để giúp cho công tác chỉ đạo phòng trừ sâu đục thân, đảm bảo sức khỏe cho người lao động và tạo ra sản phẩm an toàn đối
với người tiêu dùng, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sự phát sinh
gây hại của sâu đục thân hai chấm (Scirpophaga incertulas Walker) hại lúa vụ mùa 2013 và biện pháp phòng trừ tại Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc”
Trang 113
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
Điều tra sự phát sinh, phát triển và gây hại của sâu đục thân lúa 2 chấm
Scirpophaga incertulas Walker tại Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc vụ mùa
2013 Trên cơ sở đó đề xuất biện pháp phòng trừ để đem lại hiệu quả kinh tế
2.2 Yêu cầu
Điều tra thành phần, diễn biến mật độ sâu đục thân hại lúa trên các giống lúa chính vụ mùa 2013 tại Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc
Thực hiện biện pháp phòng trừ sâu đục thân lúa 2 chấm Scirpophaga
incertulas Walker hại lúa
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài cung cấp những dẫn liệu về thời gian phát sinh, diễn biến mật độ gây hại của sâu đục thân lúa hai chấm trên các giống lúa lai, lúa thuần được gieo trồng tại xã Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc
Đề tài cung cấp một số dẫn liệu khoa học về biện pháp phòng trừ sâu đục thân hai chấm các loại thuốc bảo vệ thực vật mới có hiệu quả cao, an toàn cho môi trường sinh thái cũng như an toàn đối với con người
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá được khả năng và mức độ gây hại của sâu đục thân hai chấm
Scirpophaga incertulas Walker đối với lúa vụ mùa 2013 tại Cao Minh, Phúc
Yên, Vĩnh Phúc
Đề xuất biện pháp phòng trừ sâu đục thân lúa hai chấm một cách hợp
lý và có hiệu quả cao nhất
Trang 124
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Từ ngàn đời nay cây lúa đã gắn bó với con người, làng quê Việt Nam
và đồng thời trở thành tên gọi cho nền văn minh lúa nước Cây lúa không chỉ mang lại sự ấm no mà còn trở thành một nét đẹp trong đời sống văn hoá và tinh thần Hạt lúa và người nông dân cần cù, mộc mạc là mảng màu không thể thiếu trong bức tranh của đồng quê Việt Nam hiện nay và mãi mãi về sau
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, là trung tâm phát sinh cây lúa nên đã tạo cho Việt Nam hệ thực vật phong phú và đa dạng đặc biệt là côn trùng nông nghiệp Trong những năm gần đây nông nghiệp Việt Nam đã từng bước chuyển sang nền sản xuất hàng hoá, tức là sản xuất với quy mô lớn, quy mô trang trại ở các nông hộ, là sản xuất ra những gì mà thị trường cần, từ
đó đã tạo ra sức ép về mùa vụ, về đầu tư, về kỹ thuật canh tác, về năng suất Các dòng lúa năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn đã đồng loạt đưa vào sản xuất, trong đó đa phần là các giống lai được nhập khẩu hoặc chuyển giao
từ Trung Quốc sang Các giống lúa lai này có tiềm năng, năng suất cao, chịu thâm canh và tính thích ứng rộng nó đã tạo nên cuộc cách mạng về năng suất Song cũng chính từ đây mà nhiều loại sâu hại trước đây là thứ yếu nay đã trở thành chủ yếu như: sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân hai chấm, rầy nâu,… Theo thống kê của Cục Bảo vệ thực vật diện tích lúa của toàn miền Bắc năm 2008
là 1.725.962 ha Diện tích nhiễm sâu đục thân hai chấm là 267.673 ha (bằng 15,5% diện tích) Trong đó diện tích nhiễm nặng là 20.824 ha (bằng 1,2% diện tích) và cao hơn so với năm 2007 từ 1,5 - 2,4 lần Sang vụ Đông Xuân
2009, sâu đục thân lúa hai chấm lại có chiều hướng gia tăng Tổng diện tích nhiễm là 11.792 ha, khi đó vụ Đông Xuân 2008 diện tích nhiễm 6.104 ha (cao gấp 1,93 lần) Đến năm 2010 thì tổng diện tích nhiễm 111.496 ha, giảm
Trang 135
50% so với năm 2009, trong đó diện tích nhiễm nặng là 2.723 ha, năm 2012 diện tích nhiễm 33.320 ha, tăng 33% so với năm 2011 Những giống lúa mới có năng suất cao, chịu thâm canh cao, đẻ nhánh khoẻ là những giống mẫn cảm với sâu đục thân hai chấm
` Để hạn chế tác hại của sâu, xu hướng ngày nay trong sản xuất nông
nghiệp là phải xây dựng được hệ thống “Nông nghiệp bền vững”, trong đó
biện pháp phòng trừ tổng hợp đóng vai trò quan trọng Áp dụng quan điểm sinh thái vào việc phòng trừ sâu bệnh với mục đích là hạn chế quần thể sinh vật gây hại dưới ngưỡng gây hại kinh tế
Từ những cơ sở khoa học trên, với mục đích nghiên cứu, tìm hiểu mối quan hệ giữa cây lúa - các yếu tố sinh thái - sâu đục thân 2 chấm trên đồng ruộng
để từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý sâu đục thân hai chấm hiệu quả nhằm làm giảm thiệt hại do chúng gây ra góp phần nâng cao năng suất lúa, đảm bảo chất lượng sản phẩm, góp phần đưa ngành nông nghiệp nước nhà nói chung và nền Nông nghiệp an toàn và bền vững, đảm bảo chương trình an ninh lương thực của quốc gia
1.2 Một số nghiên cứu ngoài nước
1.2.1 Thành phần sâu đục thân lúa
Trên thế giới đã tìm ra hơn 800 loài sâu hại lúa (Dale, 1994 [30] Trên cây lúa ở Trung Quốc đã phát hiện được hơn 200 loài sâu hại (Chiu, 1980) [29] Còn ở các nước trồng lúa Đông Nam Á có khoảng hơn 100 loài sâu hại lúa đã được phát hiện (Norton et al., 1990) [34]
Dựa vào đặc điểm gây hại trên các bộ phận của cây lúa, tất cả sâu hại lúa có thể chia thành các nhóm: sâu hại rễ cây lúa, sâu hại thân lúa, sâu hại
lá lúa, sâu hại bông và hạt lúa
Theo Pathak (1975) [35], trên thế giới đã phát hiện được 24 loài sâu đục
thân lúa Trong đó, ở châu Phi có 4 loài gồm Chilo agamemnon Blez., Chilo
Trang 146
zacconius Blez, Maliarpha separatella Rog và Sesamia calamistis Hamp
Ở Châu Mỹ đã ghi nhận được 6 loài sâu đục thân lúa gồm Chilo loftini Dyar,
Chilo plejadellus Zink, Diatraea saccharalis Fabr, Elasmopalpus lignosellus
Zell, Rupela albinella Cramer và Zeadiatraea lineolata Walker Lúa ở châu Úc
đã phát hiện có 2 loài sâu đục thân gây hại là Niphadoses palleucus Com và
Phragmatiphila sp Tại các nước Châu Á có số loài sâu đục thân lúa đã phát
hiện nhiều nhất, đạt tới 9 loài Đó là các loài Ancylolomia chrysographella Koll, Chilo auricilius Dudg, Chilo partellus Swin, Chilo polychrysus Meyr,
Chilosuppressalis Walk, Niphadoses gilviberbis Zell, Scirpophaga incertulas
Walker, Scirpophaga innotata Walker, Sesamia inferens Walker
Riêng vùng trồng lúa Đông Nam Á có 7 loài sâu đục thân sau:
Ancylolomia chrysographella Koll, Chiloauricilius Dudg, Chilo polychrysus
Meyr, Chilo suppresalisn Walker, S.incertulas Walker, Scirpophaga innotata
Walker, Sesamia inferens Walker (Pathak, 1975) [35]
1.2.2 Mức độ và triệu chứng gây hại
Sâu đục thân lúa Scirpophaga incertulas Walker chuyên gây hại cho
cây lúa nước, sâu non sống và hoạt động trong thân cây lúa Sâu đục thân hai chấm gây hại suốt giai đoạn sinh trưởng của cây lúa, nhưng gây hại nặng nhất ở giai đoạn đòng trỗ vì đây là giai đoạn quyết định năng suất cây lúa
Sâu đục thân đục vào thân cây lúa làm thân cây lúa bị rỗng và hỏng, khi cây lúa còn non thì dảnh nõn bị chết, ở giai đoạn cuối của lúa thì làm bông lúa bị bạc trắng và khô
Ở Philipine sâu đục thân gây hại khoảng 5 - 10% năng suất Còn ở Ấn
Độ khoảng 1 - 19% năng suất mất khi bị hại ở giai đoạn đẻ nhánh và 38 - 40% năng suất bị mất khi bị hại ở giai đoạn trỗ
Trang 15có 1 đốm màu đen, mép ngoài mỗi cánh trước có 9 chấm nhỏ, màu đen
Trứng sâu đục thân lúa có hình oval chiều dài 0,6 mm và chiều rộng là 0,4 mm, ban đầu có màu trắng sau chuyển thành màu vàng và khi nở có màu đen Trứng đẻ thành ổ, dài từ 3,5 – 6 mm, được che phủ bởi lớp lông mịn
Sâu non tuổi 1 mới nở có chiều dài 1,5 mm, đầu đen và có màu xanh vàng Sâu non đẫy sức dài 25 mm, đầu màu nâu vàng và cơ thể màu trắng hơi vàng
Nhộng nằm trong lớp kén mỏng như lụa, khi còn non có màu trắng sau chuyển màu vàng nâu, nâu nhạt, chiều dài nhộng khoảng 11 – 13,5 mm
Theo Dale (1994) [30], trưởng thành đực và trưởng thành cái loài sâu đục thân lúa bướm hai chấm có thời gian sống không giống nhau Trưởng thành đực thường có thời gian sống ngắn hơn tuổi thọ của trưởng thành cái
và tương ứng kéo dài 4,5 – 8,6 ngày và 5,3 – 8,8 ngày
1.2.3.2 Thời gian phát dục các pha và vòng đời
Sâu đục thân lúa hai chấm là côn trùng thuộc bộ cánh vảy Lepidoptere
Do đó, vòng đời của nó có 4 pha phát dục là pha trứng, pha sâu non, pha nhộng và pha trưởng thành
Pha trứng: Trứng của sâu đục thân lúa 2 chấm được đẻ thành ổ ở gần ngọn lá lúa Thời gian phát dục của pha nhộng khoảng 6 – 10 ngày, nếu thời
Trang 168
tiết lạnh có thể dài hơn (Dale, 1994) [30]
Phâu sâu non: tuổi sâu non của sâu đục thân 2 chấm cũng khác nhau Theo (Dale, 1994) [30], thì sâu non có 5 tuổi Theo Pathak (1969) [36], sâu non đục thân lúa hai chấm có 4 – 7 tuổi Trong điều kiện thức ăn hạn chế và
ở các cá thể qua đông thì thường có nhiều tuổi hơn Sâu non tuổi 1 khi mới
nở có chiều dài cơ thể khoảng 1,5 mm, thân màu vàng nhạt Sâu non mới nở
có xu hướng phát tán rất mạnh Sâu non tuổi 5 thành thục có chiều dài cơ thể khoảng 25 mm với màu trắng hơi vàng Thời gian phát dục của pha sâu non kéo dài khoảng từ 30 ngày, đến 35 - 46 ngày (Dale, 1994 [30]
Pha nhộng: Nhộng sâu đục thân lúa 2 chấm lúc mới có màu sáng nhạt, sau đó có màu nâu tối hơn Nhộng làm trong một kén hơi mỏng màu trắng
ở trong thân cây lúa Thời gian phát dục của pha nhộng khoảng 6 - 10 ngày, nếu thời tiết lạnh có thể dài hơn (Dale, 1994) [30]
Pha trưởng thành: Theo Dale (1994) [30] trưởng thành đực và trưởng thành cái loài sâu đục thân bướm hai chấm có tuổi thọ không giống nhau Trưởng thành đực có tuổi thọ ngắn hơn tuổi thọ của con cái và tương ứng kéo dài 4,5 – 8,6 ngày và 5,3 – 8,8 ngày Trưởng thành sâu đục thân lúa 2 chấm chỉ giao phối 1 lần Đẻ trứng từ đêm thứ 5 kể từ khi vũ hóa, đẻ trứng vào ban đêm, mỗi đêm đẻ 1 ổ trứng (Pathak, 1969) [36]
Như vậy vòng đời của sâu đục thân lúa hai chấm cần 46 - 54 ngày (Dale, 1994) [30]
1.2.3.3 Khả năng đẻ trứng của trưởng thành cái
Theo Pathak (1969) [36], một trưởng thành cái sâu đục thân lúa 2 chấm
Scirpophaga incertulas Walker có thể đẻ được 100 - 200 trứng Dale (1994)
[30] cho rằng một trưởng thành cái đẻ được lượng trứng ít hơn, chỉ là 100 -
150 trứng.Kết quả nghiên cứu khả năng đẻ trứng của trưởng thành cái cũng không giống nhau
Trang 179
1.2.3.4 Số thế hệ trong một năm của sâu đục thân lúa bướm 2 chấm
Số thế hệ của sâu đục thân lúa bướm 2 chấm phụ thuộc vào điều kiện sinh thái của từng vùng và thay đổi từ 2 đến 6 thế hệ Ở Nhật Bản sâu đục thân lúa bướm 2 chấm có 3 thế hệ trong một năm Ở Trung Quốc, Đài Loan
có 6 thế hệ trong một năm (Dale, 1994) [30]
1.2.3.5 Tập tính hoạt động của sâu đục thân hai chấm
Trưởng thành loài sâu đục thân lúa hai chấm Scirpophaga incertulas
Walker ưa hoạt động ban đêm, thích ánh sáng đèn, đặc biệt là ánh sáng màu vàng Ban ngày chúng đậu trên thân hoặc lá lúa Trưởng thành thường vũ hóa
và giao phối vào thời gian 7 - 9 giờ tối Cả trưởng thành đực và trưởng thành cái đều thích hoạt động trong khoảng thời gian 8 - 10 giờ tối Trưởng thành cái cũng thường đẻ trứng vào ban đêm trong khoảng thời gian 7 - 10 giờ tối Trứng được đẻ thành ổ Sâu non mới nở có xu hướng phát tán ngay, chúng bò lên ngọn cây lúa, sau đó nhả tơ thả mình cho gió đưa sang cây khác Chúng bò vào giữa bẹ lá và thân cây lúa, sống ở đó khoảng 3 - 7 ngày Sau thời gian này sâu non mới đục vào thân cây lúa ở nơi gốc bẹ lá lúa Sâu non lớn dần thì di chuyển xuống phía phần gốc rạ Nhộng sâu đục thân lúa hai chấm thường ở trong thân phần gốc cây lúa (Dale, 1994; Pathak, 1969) [30], [36]
1.2.3.6 Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện sinh thái
Sự phát triển của sâu đục thân lúa hai chấm S incertulas Walker phụ
thuộc rất nhiều vòa điều kiện khí hậu Đây là yếu tố sinh thái đặc biệt quan trọng
Trứng sâu đục thân lúa 2 chấm S incertulas Walker bắt đầu phát triển ở
13oC, sâu non nở từ trứng bình thường thấy ở nhiệt độ cao hơn 16oC Nhiệt
độ tối thích cho pha trứng phát triển là 24 – 29oC Ở nhiệt độ 35oC sự phát triển của trứng có thể hoàn thành, nhưng sâu non chết trong trứng Ẩm độ cần để trứng phát triển là 90 – 100% (Dale, 1994; Pathak, 1969) [30], [36]
Trang 1810
Ngưỡng nhiệt độ của sâu non đục thân lúa 2 chấm S incertulas Walker
là 16oC Khi nuôi ở nhiệt độ 12oC sâu non tuổi 2, tuổi 3 không lột xác và chết Tỷ lệ phát triển của sâu non rõ ràng tỷ lệ thuận với nhiệt độ từ 17 –
35oC Nuôi ở nhiệt độ thấp 23 – 29oC hầu hết sâu non đục thân lúa 2 chấm
có 5 tuổi, nuôi ở nhiệt độ cao hơn 29 – 35oC sâu non đục thân lúa 2 chấm phát dục nhanh hơn và chỉ có 4 tuổi (Pathak, 1969) [36]
Pha nhộng sâu đục thân lúa hai chấm có ngưỡng nhiệt độ phát triển là
15 – 16oC (Pathak, 1969) [36]
1.2.4 Nghiên cứu các biện pháp phòng trừ
1.2.4.1 Biện pháp sử dụng pheromone giới tính
Pheromone là chất hóa học được trưởng thành cái tiết ra để thu hút trưởng thành đực đến giao phối Bombykol là chất Pheromone của con tằm lần đầu tiên được tổng hợp Cho đến nay đã tổng hợp được Pheromone của khoảng 400 loài côn trùng Chất Pheromone được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới với 2 mục đích là : dự tính, dự báo loài côn trùng hại và phòng chống dịch hại bằng cách “gây nhiễu” làm cho con đực không định hướng được con cái dẫn đến con cái không được thụ tinh, giảm mật độ thế hệ sau
Trên thế giới, các nhà khoa học đã nghiên cứu và hiểu rõ thành phần hóa học của nhiều loại pheromone, đa số là những chất ester, acid, rượu hoặc những chuỗi acetate dài, thẳng với một nối đôi Sau đây là công thức hóa học
số pheromone dục tính ở 1 số loài côn trùng: Ngài Argyrotaenia velutinana Tortricidae: Cis-11-Tetradecenylacetate, Sâu đo cải bắp Trichoplusiani
Hubner: Cis-7-dodecen-1-ol acetate
Tại Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Đức, nhiều sản phẩm pheromone tổng hợp đã được công nghiệp hóa từ gần 20 năm nay, chủ yếu là để phát hiện và dự tính
dự báo Riêng tại Pháp, pheromone tổng hợp đã được sử dụng để dự tính dự báo cho trên 25 loài côn trùng gây hại phổ biến cho nhiều loài cây trồng
Trang 1911
Nói riêng về pheromone của sâu đục thân 2 chấm S.incertulas Walker
Từ những năm 80 của thế kỷ trước, đã có nhiều nhà khoa học bắt tay vào nghiên cứu thành phần hóa học pheromone của loài này Năm 1985, Sadahiro Tatsuki và cộng sự đã phân tích thành công một số thành phần hóa học chính
của pheromone giới tính sâu đục thân 2 chấm S incertulas Walker bằng phép
đo phổ khối lượng mao mạch sắc ký khí (GC-MS) và mao dẫn sắc ký khí (GC) Pheromone của loài này gồm 5 chất (Z)-9 hexadecenal, (Z)-11 hexadecenal, hexadecanal, (Z)-11 hexadecen-1-ol, (Z)-9 octadecenal theo tỉ
lệ 15:60:10:10:06 Hai chất (Z)-9 hexadecenal, (Z)-11 hexadecenal là thành phần chủ yếu và quan trọng nhất trong pheromone của ngài cái sâu đục thân hai chấm
Đầu năm 2009, tổ chức PCI (Ấn Độ) và Exosect (Vương Quốc Anh
đã tổ chức một cuộc hội thảo tại Habitat Delhi - Ấn Độ giới thiệu sản phẩm mới “Exosex YSBTab” chất dẫn dụ giới tính để phòng chống sâu đục thân 2
chấm S incertulas Walker Sử dụng chất dẫn dụ giới tính để phòng trừ sâu
đục thân thật đơn giản, dễ làm, bảo vệ môi trường, tiết kiệm môi trường, tiết kiệm chi phí sản xuất, mang lại lợi ích cho người nông dân Sản phẩm đã được tặng giải thưởng INOFEL tại Maroc, tặng danh hiệu “Sản phẩm mới nhất” tại London – Vương Quốc Anh tháng 12 năm 2008
1.2.4.2 Biện pháp canh tác
Điều khiển lớp nước ruộng lúa: Tháo nước ruộng lúa khô 1 - 2 ngày sẽ làm giảm số lượng của sâu đục thân lúa hai chấm (Litsinger, 1994) [33] Làm ngập nước ruộng lúa để diệt nhộng trong gốc rạ
Bón phân: Việc bón phân cần thực hiện đúng thời gian và lượng phân đem bón, đặc biệt là phân đạm Bón phân chứa silica, kali sẽ làm tăng tính chống chịu sâu đục thân của cây lúa (Dale, 1994) [30]
Việc điều chỉnh thời gian gieo cấy đồng loạt, đúng thời vụ, khi thu
Trang 2012
hoạch lúa phải cắt sát gốc rạ, cày lật gốc rạ, tiêu hủy lúa chét và thu ngắt ổ trứng trên đồng ruộng đều đạt hiệu quả
1.2.4.3 Sử dụng giống lúa kháng sâu hại
Ở Ấn Độ bắt đầu lai tạo giống lúa kháng sâu đục thân lúa bướm hai
kháng sâu đục thân (TKM6, CB1 và CB2) với các giống mới năng suất cao
và giống địa phương Kết quả không có dòng lai nào có tính kháng cao đối với sâu đục thân (Heinrichs, 1994) [31]
Các thí nghiệm đánh giá về tính kháng sâu đục thân lúa bướm 2 chấm
Scirpophaga incertulas Walker của tập đoàn giống lúa ở IRRI được bắt đầu
từ năm 1962 Chỉ có 40 dòng thuộc loài Oryza sativa và 80 dòng của các loài
lúa dại được xác định có mức kháng khá đối với sâu đục thân lúa bướm 2 chấm.Một số dòng thuộc loài O.sativa đánh giá ở Ấn Độ có tính kháng sâu
đục thân lúa bướm 2 chấm là CO7, CO15, CO18, CO21, TKM6 (Heinrichs, 1994) [31]
Việc lai tạo giống kháng sâu đục thân lúa bướm 2 chấm được bắt đầu
ở IRRI từ năm 1972 Giống lúa đầu tiên của IRRI có tính kháng trung bình đối với sâu đục thân lúa bướm hai chấm được đưa vào sản xuất là IR20 Các giống lúa IR36, IR40 có tính kháng trung bình đối với sâu đục thân lúa bướm 2 chấm được đưa vào sản xuất năm 1976 Tiếp theo là các giống IR50, IR54 cũng được đưa vào sản xuất có tính kháng trung bình đối với sâu đục thân lúa bướm 2 chấm Kết quả nghiên cứu cho thấy tính kháng sâu đục thân lúa bướm hai chấm của các giống lúa chỉ đạt mức trung bình (Heinrichs, 1994) [31]
1.2.4.4 Biện pháp sinh học
Việc nhập nội một số ký sinh để trừ sâu hại lúa được tiến hành ở Ấn
Độ, Hawaii, Malaysia, Philippine, Nhật Bản Ong đen mắt đỏ Trichogramma
Trang 2113
japonicum được nhập nội về Philippine để trừ sâu đục thân lúa hai chấm S incertulas và về Ấn Độ để trừ sâu đục thân 5 vạch đầu đen Chilo auricilius
Ở Đảo Andama (Ấn Độ) đã nghiên cứu dùng ong mắt đỏ Trichogramma sp
để trừ sâu đục thân lúa hai chấm S incertulas Walker cho kết quả tốt Thiệt
hại do sâu đục thân lúa hai chấm giảm còn 1,6% ở nơi dùng ong mắt đỏ, trong khi đó ở đối chứng tỷlệ này đạt cao hơn và là 10,3%
Biện pháp sử dụng ong mắt đỏ trừ sâu hại lúa cũng được nghiên cứu nhiều ở Trung Quốc và Ấn Độ để trừ sâu cuốn lá nhỏ và sâu đục thân Tại
Karnataka (Ấn Độ) đã nghiên cứu thả ong mắt đỏ màu đen Trichogramma
japonicum định kỳ một tuần một lần để trừ sâu cuốn lá nhỏ và sâu đục thân
lúa hai chấm
Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu sử dụng vi khuẩn Bacillus
thusingiensis (Bt) để trừ sâu đục thân lúa Virus NPV cũng đã được nghiên
cứu sử dụng để trừ sâu đục thân bướm cú mèo Sesamia inferens (Chiu, 1980)
[29]
1.2.4.5 Biện pháp hóa học
Biện pháp hóa học rất quan trọng trong các biện pháp phòng chống sâu hại lúa nói chung và sâu đục thân lúa nói riêng Tuy vậy, ngày nay việc sử dụng thuốc hóa học trừ sâu hại lúa cần phải được cân nhắc thận trọng Việc
sử dụng thuốc hóa học phải dựa trên cơ sở dự báo quần thể sâu hại lúa, thiên địch của chúng, giai đoạn sinh trưởng của cây lúa (Heinrichs et al, 1981) [32]
Heinrichs và CTV (1981) [32] khuyến cáo cần dựa vào kết quả theo dõi bẫy đèn mà xác định thời điểm tốt nhất để phun thuốc trừ một số sâu hại lúa, trong đó có sâu đục thân lúa hai chấm S incertulas Walker, đã khuyến
cáo thời điểm phun thuốc đúng để trừ sâu đục thân lúa 2 chấm là 1- 2 ngày trước đỉnh cao sâu non nở rộ
Trang 2214
Sử dụng các hoạt chất Carbofuran, Isazofos, Diazinon, lượng 1,00 kg/ha, có thể phun Monocrotophos, Chlopyriphos và Quinalphos
Chọn đúng dạng thuốc để trừ sâu đục thân không chỉ cho hiệu lực cao
mà còn hạn chế những ảnh hưởng xấu tới thiên địch Phun thuốc nước để trừ sâu đục thân thường cho hiệu quả cao hơn phun thuốc bột Dùng thuốc viên rắc để trừ sâu đục thân lúa tốt hơn so với phun thuốc nước và thuốc bột (Chiu, 1980) [29]
Phải kết hợp sử dụng thuốc hóa học trừ sâu với các biện pháp khác cũng được khuyến cáo trong phòng trừ sâu hại lúa Thí dụ, kết hợp dùng chế phẩm sinh học Bt với lượng nhỏ thuốc hóa học cho hiệu quả cao trong phòng trừ sâu hại lúa thuộc bộ cánh vảy ở Quảng Đông, Trung Quốc (Chiu, 1980) [29]
1.3 Nghiên cứu ở trong nước
1.3.1 Thành phần loài và biến động thành phần loài sâu đục thân lúa
Từ sau hòa bình lập lại (1954) công tác nghiên cứu về sâu đục thân lúa
đã được đẩy mạnh với việc thành lập thêm hai Trạm dự tính dự báo ở Bích Sơn (Việt Yên - Hà Bắc) và Cổ Lễ (Nam Trực - Nam Định) Những kết quả nghiên cứu thời gian này đã được Nguyễn Văn Cảm (1977) tổng kết đã xác định được 4 loài sâu đục thân ở các tỉnh phía Bắc thường phát sinh và
gây hại là: Sâu đục thân lúa hai chấm Scirpophaga incertulas Walker, sâu đục thân 5 vạch đầu nâu Chilo suppressalis Walker, sâu đục thân 5 vạch đầu đen Chilo auricillus Dudgeon, sâu đục thân cú mèo Sesamia inferens Walker
Theo kết quả điều tra tại miền Nam Việt Nam của Viện Bảo vệ thực vật trong những năm 1977 - 1979 đã ghi nhận có 6 loài sâu đục thân lúa ở miền Nam [27] Trong đó, loài gây hại chủ yếu là sâu đục thân mình vàng
Scirpophaga incertulas Walker có tỷ lệ cá thể chiếm 40 - 80% tổng số các cá
thể sâu đục thân Sâu năm vạch đầu đen Chilo polychrysa Meyrisk có tỷ lệ
Trang 2315
cá thể chiếm 13 - 50%, sau đó là các loài khác (Nguyễn Văn Cảm, 1983) [3]
Sâu đục thân 5 vạch chiếm ưu thế về vị trí số lượng (có tỷ lệ cá thể chiếm 70 – 90%) vào những năm 1954 – 1958 và giảm dần (với 45,1% số lượng cá thể vào năm 1960 và 31,3% vào năm 1970) Trong khi đó, vị trí số lượng của sâu đục thân hai chấm tăng dần từ 0,5 - 20% (1954 – 1958) lên 42,8% (1960) và 63,6% (1970) (Viện Bảo vệ thực vật, 2008) [28]
Những kết quả nghiên cứu bổ sung về sâu đục thân của Bộ môn Côn trùng (Viện Bảo vệ thực vật, 2008) [28] từ những năm 1980 đến nay cho thấy tỷ lệ số lượng cá thể sâu đục thân lúa bướm hai chấm đã chiếm ưu thế tuyệt đối từ 63,6% (1970) tăng lên 98,5% (1985), 98,8% (1989) và 98,9% (1992)
Theo Nguyễn Công Thuật (1995) [18] sâu đục thân 2 chấm là một trong những loài gây hại chủ yếu trên lúa, còn sâu đục thân cú mèo và sâu đục thân 5 vạch chỉ là loài sâu hại thứ yếu
1.3.2 Phân bố của sâu đục thân lúa hai chấm
Sâu đục thân lúa hai chấm S incertulas Walker đã được ghi nhận có mặt
ở 44 tỉnh trong cả nước, từ miền núi đến đồng bằng đến các tỉnh ven biển (Phạm Văn Lầm, 2000) [12]
1.3.3 Mức độ gây hại của sâu đục thân lúa
Sâu đục thân lúa được phân bố khắp các vùng trồng lúa, tác hại của chúng những năm 60 – 70 của thế kỷ trước không dữ dội, nhưng tùy từng nơi, từng vụ, từng trà lúa mà sâu đục thân có thể gây thiệt hại đáng kể Theo dõi thiệt hại do sâu đục thân gây ra từ 1963 - 1970 tại Vĩnh Phú (cũ), tỷ lệ bông bạc trên lúa xuân từ 1,8 - 2,93%, trên lúa mùa 8,4%; tại Cổ Lễ (Nam Hà) từ 1960 - 1974 tỷ lệ bông bạc trung bình 3% trên lúa chiêm và 2,5% trên lúa mùa; tại vùng đồng bằng Bắc Bộ và khu 4 cũ hàng năm sâu đục thân gây hại
từ 3 - 15% bông bạc, sản lượng mất đi từ 35 - 175 kg/ha (Phạm Bình Quyền
Trang 2416
1976) [15]
Khả năng gây dảnh héo và bông bạc của sâu non từ 1 ổ trứng: 12 dảnh hại hoặc 4,2 dảnh héo khi lúa đẻ nhánh: 9,2 bông bị hại hay 3,1 bông bạc/m2 khi mật độ ổ trứng thấp hơn 5 ổ/m2 Cây lúa có khả năng phục hồi khi bị hại 15,9 – 17,6% trong giai đoạn đẻ nhánh
Trong các vụ lúa (chiêm xuân, hè thu, mùa) sâu đục thân lúa 2 chấm S
incertulas Walker phá hại nặng trên lúa hè thu, lúa mùa hơn lúa chiêm xuân
Trong mỗi vụ tỷ lệ hại giữa thời vụ sớm, đại trà và muộn có sự khác nhau
Vụ mùa năm 1988 sâu đục thân lúa phát sinh mạnh ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng Tại tỉnh Thái Bình có 34.889 ha lúa bị bông bạc với tỷ lệ 22,7% và 5.332 ha bị bông bạc với tỷ lệ 39,3% (Chi cục BVTV Thái Bình, 1989) [6] Tại Hải Phòng, sâu đục thân lúa đã gây tỷ lệ bông bạc trung bình toàn tỉnh là 13,6%; nơi cao là 28,4%; cá biệt tỷ lệ này đạt tới 48,2 - 56,8%
Vụ mùa năm 2002, tại Hải Phòng bị sâu đục thân lúa hai chấm gây hại trên diện tích 29.000 ha Toàn bộ diện tích được phun thuốc, trong đó có 16.400
ha đã phải phun thuốc 2 lần Tuy nhiên, vẫn còn khoảng 479,8 ha bị bông bạc với tỷ lệ 10 - 50% (Chi cục BVTV Hải Phòng, 1989, 2003) [4], [5]
Theo Nguyễn Đức Khiêm [11], kể từ năm 1961 trở về trước, tác hại của sâu đục thân lúa nói chung và sâu đục thân hai chấm nói riêng có thể gây thiệt hại biến động từ 3 – 20%, có nơi, có vụ thiệt hại còn cao hơn Vụ mùa 1988,
tỷ lệ hại trên lúa nếp và mộc tuyền ở Hải Phòng, Hải Hưng là 40 – 60% Năm
1999 diện tích bị nhiễm sâu đục thân trong vụ mùa là trên là 12.000 ha
Năm 2000 phân bố sâu đục thân rộng hơn các năm trước Tại các tỉnh Quảng Ninh, Ninh Bình, Vĩnh Phúc và thành phố Hà Nội, Hải Phòng trên trà lúa trỗ sau 20/9 tỷ lệ bông bạc phổ biến từ 6,1%, cao 30% và cá biệt có nơi không phòng trừ tới 80% Tổng diện tích nhiễm 73.435 ha, nhiễm nặng 12.727 ha (Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc 2000)
Trang 2517
1.3.4 Đặc điểm sinh vật học sinh thái của sâu đục thân lúa hai chấm
1.3.4.1 Đặc điểm hình thái
Trưởng thành: Ngài đực thân dài 8 - 9 mm, sải cánh rộng 18 – 22 mm
Đầu, ngực và cánh trước màu vàng nhạt, mắt kép to đen Cánh trước hình tam giác, giữa cánh có một chấm đen rõ Từ đỉnh cánh đến mép sau có một vệt xiên màu nâu đen, mép cánh ngoài có 9 chấm đen nhỏ Trưởng thành cái thân dài 10 – 13 mm, sải cánh rộng 23 – 28 mm Toàn thân màu trắng vàng hoặc vàng nhạt, phía cuối bụng có chùm lông màu vàng, giữa cánh trước có một chấm đen rất rõ
Sâu non đẫy súc dài 21mm, đầu màu nâu vàng, cơ thể màu trắng sữa Chân bụng ít phát triển Móc bàn chân bụng 28 cái, xếp thành hình elíp
Nhộng dài 10 – 15,5 mm, mầm chân sau dài tới hết đốt bụng thứ 5 ở nhộng cái, tới đốt bụng thứ 8 ở nhộng đực
Trứng hình bầu dục dài 0,8 – 0,9 mm, đẻ thành từng ổ Ổ trứng có hình bầu dục, ở giữa ổ hơi nhô lên, trên mạt ổ trứng có phủ lông màu vàng nhạt
1.3.4.2 Thời gian phát dục các pha và vòng đời
Những nghiên cứu chi tiết về thời gian phát dục từng pha của sâu đục
thân 2 chấm S incertulas Walker ở nước ta không nhiều Một số nghiên cứu
được tiến hành năm 1955 - 1956 ở Viện Khảo cứu Nông Lâm và vào thập niên 70 thế kỷ XX ở khoa Sinh Đại học Tổng hợp Hà Nội Các thí nghiệm nuôi sinh học sâu đục thân lúa 2 chấm được thực hiện trong nhiều điều kiện nhiệt độ khác nhau, biến động từ 15,8oC đến 28oC và ẩm độ là 75 - 80% Vì vậy kết quả thu được rất biến động
Pha trứng: Thời gian phát dục của pha trứng tùy theo điều kiện nhiệt
độ khi thí nghiệm biến động từ 6,2 – 20,4 ngày (Phạm Bình Quyền, 1976) [15]
Trang 26Thời gian sinh trưởng của sâu đục thân lúa bướm 2 chấm S.incertulas
Walker liên quan mật thiết với điều kiện nhiệt độ, độ ẩm Ở điều kiện nhiệt
độ từ 19 – 25oC thời gian phát dục như sau: Trứng 8 – 13 ngày, sâu non 36 –
39 ngày, nhộng 12 – 16 ngày, bướm vũ hóa đẻ trứng 3 ngày Còn ở nhiệt độ
từ 26 – 30oC thời gian phát dục của giai đoạn trứng 7 ngày, sâu non 25 – 35 ngày, nhộng 8 – 10 ngày, bướm vũ hóa đẻ trứng 3 ngày (Giáo trình côn trùng chuyên khoa, nhà xuất bản Nông Nghiệp) [9]
Kết quả nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật (2008) [25] sâu đục thân lúa hai chấm có thời gian phát triển như sau: Pha trứng 6 – 7 ngày (29,2oC), 9 – 10 ngày (25 – 26o
C), và 13 – 14 ngày (21,3oC); pha sâu non 25 – 35 ngày (23 – 29oC), 21 ngày (29 – 35oC); pha nhộng 8 – 11 ngày
1.3.4.3 Khả năng đẻ trứng của bướm cái sâu đục thân lúa 2 chấm
Mỗi trưởng thành cái có thể đẻ từ 1 - 5 ổ trứng Những theo dõi ở Trạm Bảo vệ thực vật vùng đồng bằng Bắc Bộ cho thấy số quả trứng trung bình trong một ổ giao động từ 43,0 - 108,4 trứng (Hồ Khắc Tín, 1982) [20] Theo Đường Hồng Dật (2006) [7], mỗi ổ trứng có trung bình từ 100 – 150 quả trứng
1.3.4.4 Ký chủ của sâu đục thân lúa hai chấm
Sâu đục thân hai chấm Scirpophaga incertulas Walker là loài đơn thực
khá điển hình trên cây lúa Tuy nhiên nghiên cứu mới đây cho thấy chúng
còn phá hại trên 4 loài lúa dại và loài cỏ Leptochloa panicoides (Nguyễn Đức
Trang 2719
Khiêm, 2006) [11]
1.3.4.5 Nghiên cứu về ảnh hưởng của điều kiện sinh thái
Nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến thời gian phát dục các pha và thời gian vòng đời của sâu đục thân lúa bướm 2 chấm Scirpophaga incertulas
Walker Ở nhiệt độ 28oC, thời gian vòng đời của sâu đục thân lúa bướm 2 chấm là 41,5 ngày Ở nhiệt độ 20oC có thời gian vòng đời kéo dài tới 115,9 ngày Thời gian phát triển các pha trứng 6,2 – 20,4 ngày, sâu non 27,5 – 73,5 ngày, pha nhộng 6,6 – 22,0 ngày(Phạm Bình Quyền, 1976) [15]
Điều kiện thời tiết đầu năm ảnh hưởng lớn đến sự phát sinh của sâu đục thân lúa bướm hai chấm S incertulas Walker Nếu đầu năm rét muộn
kéo dài thì lứa 1 xuất hiện muộn và chỉ hoàn thành 6 lứa trong năm Nếu đầu năm ấm áp, lứa 1 xuất hiện ngay từ cuối tháng 2 thì sâu đục thân lúa bướm hai chấm hoàn thành 7 lứa trong năm (Mai Thọ Trung, 1979) [22]
1.3.5 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ sâu đục thân lúa ở Việt Nam
1.3.5.1 Biện pháp kỹ thuật canh tác
Các biện pháp canh tác trừ sâu đục thân lúa đã được tổng kết là: cày lật đất ngay sau thu hoạch để diệt nhộng sâu đục thân trong gốc rạ; luân canh lúa nước với cây trồng cạn; gieo cấy thời vụ sớm thích hợp với từng địa phương; dùng giống ngắn ngày và giống cực sớm trong vụ mùa để tránh sâu đục thân Vùng đồng bằng sông Hồng, lúa đông xuân trỗ bông vào đầu tháng 5, lúa mùa trỗ bông vào đầu tháng 9 hầu như không bị sâu đục thân gây hại nặng (Phạm Văn Lầm, 2000, 2006) [12], [13]
Các khu vực ruộng mạ nên gieo thành từng băng để tiện chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh nói chung và phòng trừ sâu đục thân nói riêng; điều chỉnh thời vụ để lúa trỗ lệch thời gian trưởng thành rộ; bón phân cân đối, tạo điều kiện lúa sinh trưởng phát triển và trỗ tập trung, hạn chế thiệt hại
Chế độ làm đất, ngâm nước có ảnh hưởng lớn đến tỉ lệ sống sót của
Trang 2820
sâu đục thân trong gốc rạ, ruộng ngâm nước tỉ lệ sâu chết tới 69,5%; ruộng cày ải nỏ tỉ lệ sâu chết trong gốc rạ tới 63,2% ; ruộng nước không cày tỉ lệ sâu chết 35,6%; ruộng khô không cày tỉ lệ sâu chết là 19,1%; ruộng cày càng sớm
tỉ lệ sâu chết càng cao 95%; ruộng ngâm rạ ngập nước hoàn toàn sâu chết 100% sau 20 ngày
1.3.5.2 Biện pháp thủ công
Theo dõi các đợt trưởng thành vũ hoá rộ, tổ chức bẫy đèn bắt bướm đồng loạt; tổ chức ngắt ổ trứng trên mạ, trên lúa; nhổ dảnh héo Vụ mùa 1988 tại Kiến Thụy (Hải Phòng) đã huy động các tổ chức đoàn thể đặt 5.056 bẫy đèn, thu được 0,5 triệu trưởng thành sâu đục thân hai chấm, tại Vĩnh Bảo (Hải Phòng)
đã cắt được trên 40 nghìn dảnh héo sâu đục thân Vụ mùa 2002 tại Hải Phòng thu được 23,5 triệu ổ trứng sâu đục thân lứa 5 (Chi cục Bảo vệ thực vật Hải Phòng, 1989, 2003; Phạm Văn Lầm, 2006; Hồ Khắc Tín, 1982) [4], [5], [13], [20]
1.3.5.3 Biện pháp sử dụng giống lúa kháng sâu hại
Giống kháng sâu hại được sử dụng rộng rãi và là biện pháp bảo vệ thực vật rất hiệu quả Lampe (1994) đã nhận định: “Giống kháng là hòn đá tảng để phòng trừ sâu bệnh có hiệu quả Kết hợp giống kháng với biện pháp sinh học
và biện pháp canh tác là chiến lược phòng trừ sâu bệnh hại lý tưởng đối với những nông dân nghèo ít vốn” (Phạm Văn Lầm, 2006) [13] Việc nghiên cứu sử dụng giống lúa kháng sâu hại cũng được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi ở Việt Nam Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu và ứng dụng này mới chỉ đối với rầy nâu, còn đối với sâu đục thân lúa nói chung và sâu đục thân lúa 2 chấm thì hầu như còn bỏ ngỏ
1.3.5.4 Biện pháp sử dụng pheromone giới tính
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu pheromone được bắt đầu từ những năm đầu của thập niên 70 (Bùi Công Hiển, 1970 - 1973) trên đối tượng mọt