Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các nhà chọn giống đã nghiên cứu và tạo ra nhiều giống đậu tương mới có giá trị cao trong sản xuất.. Mặc dù đậu tương có
Trang 1KHOA SINH - KTNN
======
NGÔ THỊ CHIÊN
KHẢO SÁT MỘT SỐ DÕNG, GIỐNG ĐẬU TƯƠNG
ÚC TRONG ĐIỀU KIỆN VỤ HÈ THU NĂM 2013
TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kỹ thuật Nông nghiệp
HÀ NỘI - 2014
Trang 2KHOA SINH - KTNN
======
NGÔ THỊ CHIÊN
KHẢO SÁT MỘT SỐ DÕNG, GIỐNG ĐẬU TƯƠNG
ÚC TRONG ĐIỀU KIỆN VỤ HÈ THU NĂM 2013
TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kỹ thuật Nông nghiệp
Người hướng dẫn khoa học
TS VŨ ĐÌNH CHÍNH
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, ngoài
sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể và cá nhân
Trước hết tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm khoa cùng các thầy, cô trong khoa Sinh - KTNN, và các thầy cô trong bộ môn Cây công nghiệp, khoa Nông học, trường Đại Học Nông nghiệp Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ và có nhiều ý kiến quý báu giúp tôi xây dựng và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Vũ Đình Chính đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ công nhân viên của Bộ môn Cây công nghiệp đã giúp đỡ và chia sẻ nhiều kinh nghiệm quý báu và tạo nhiều điều kiện tốt nhất để tôi hoàn khóa luận tốt nghiệp
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014 Sinh viên
Ngô Thị Chiên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Để đảm bảo tính trung thực của đề tài tôi xin cam đoan nhƣ sau:
1 Đề tài của tôi không hề sao chép từ bất cứ đề tài nào có sẵn
2 Đề tài của tôi không trùng với đề tài nào khác
3 Kết quả thu đƣợc trong đề tài là do nghiên cứu thực tiễn, đảm bảo tính khách quan, chính xác, trung thực
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Ngô Thị Chiên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích, yêu cầu 2
2.1 Mục đích 2
2.2 Yêu cầu 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới 4
1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trong nước 11
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 22
2.2 Thời gian nghiên cứu 22
2.3 Địa điểm nghiên cứu 22
2.4 Bố trí thí nghiệm 22
2.5 Quy trình kỹ thuật áp dụng trong thí nghiệm 23
2.5.1 Thời vụ 23
2.5.2 Mật độ, khoảng cách 23
2.5.3 Phân bón 23
2.5.4 Chăm sóc 23
2.6 Các chỉ tiêu theo dõi 24
2.6.1 Các chỉ tiêu hình thái 24
2.6.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển 24
2.6.3 Các chỉ tiêu sinh lý 25
2.6.4 Khả năng chống chịu 25
2.6.5 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 26
2.7 Phương pháp xử lý kết quả 26
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
Trang 63.1 Đặc điểm hình thái của một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện vụ
hè thu 2013 27
3.1.1 Đặc điểm thân, cành, lá 27
3.1.2 Đặc điểm hoa, quả và hạt 30
3.2 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các dòng, giống đậu tương trong vụ hè thu 2013 30
3.2.1 Các thời kỳ sinh trưởng, phát triển của các dòng, giống đậu tương 30
3.2.2 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của một số dòng, giống đậu tương 35
3.2.3 Đặc điểm sinh trưởng bộ rễ của một số dòng, giống đậu tương 37
3.2.4 Một số chỉ tiêu sinh lý của các dòng, giống đậu tương thí nghiệm 39
3.2.5 Khả năng tích lũy chất khô của một số dòng, giống đậu tương 43
3.3 Khả năng chống chịu của một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện vụ hè thu 2013 45
3.3.1 Khả năng chống đổ của các dòng, giống 45
3.3.2 Mức độ nhiễm sâu, bệnh hại của các dòng, giống 46
3.4 Một số chỉ tiêu sinh trưởng liên quan đến năng suất của các dòng, giống đậu tương 48
3.5 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của một số dòng, giống đậu tương vụ hè thu năm 2013 51
3.5.1 Các yếu tố cấu thành năng suất 51
3.4.2 Năng suất của các dòng, giống 53
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
1 Kết luận 56
2 Kiến nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 62
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương trên thế giới 4
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương 5
của một số nước trên thế giới 5
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của Việt Nam 12
Bảng 1.4 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương 14
của một số tỉnh trong cả nước 14
Bảng 3.1 Đặc điểm hình thái của các dòng, giống đậu tương thí nghiệm 28
Bảng 3.2 Tỷ lệ mọc mầm và thời gian sinh trưởng32của các dòng, giống đậu tương 32
Bảng 3.3 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các dòng, giống đậu tương thí nghiệm (cm) 35
Bảng 3.4 Số lượng và khối lượng nốt sần hữu hiệu của các dòng, giống đậu tương thí nghiệm 38
Bảng 3.5 Diện tích lá và chỉ số diện tích lá của các dòng, giống đậu tương thí nghiệm 40
Bảng 3.6 Chỉ số diệp lục của các dòng, giống đậu tương thí nghiệm 42
Bảng 3.7 Khối lượng chất khô của các dòng, giống đậu tương 44
thí nghiệm (g/cây) 44
Bảng 3.8 Mức độ nhiễm sâu bệnh, khả năng chống đổ của các dòng, giống đậu tương thí nghiệm 46
Bảng 3.9 Một số chỉ tiêu sinh trưởng liên quan đến năng suất đậu tương 49
Bảng 3.10 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng, 52
giống đậu tương 52
Trang 8DANH MỤC ĐỒ THỊ
Biểu đồ 1: Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của một số dòng, giống đậu tương thí nghiệm 36Biểu đồ 2: Năng suất thực thu của một số dòng, giống 55
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Cây đậu tương (Glycine Max (L) Merrill) là loại cây họ đậu
(Fabaceae), đặc điểm của hạt đậu tương giàu hàm lượng protein, chính vì vậy
nó là cây thực phẩm quan trọng cho người và gia súc Trên thế giới có trên
1000 loại đậu tương với nhiều đặc điểm khác nhau, hạt đậu tương có kích thước nhỏ nhất như hạt đậu Hà Lan cho tới lớn nhất giống trái anh đào, hạt đậu có nhiều màu sắc như đỏ, vàng, xanh, nâu và màu đen
Trong nền nông nghiệp thế giới, đậu tương đứng thứ 5 sau lúa mỳ, lúa nước, ngô, cao lương, song lượng đạm lại đứng đầu (Nguyễn Đức Cường, 2009) [4] Về hàm lượng ptotein, đậu tương chiếm vị trí hàng đầu so với những cây cho hạt khác (28,5 – 56%) và hàm lượng dầu cũng khá cao (13,3 – 27%) Trong hạt đậu tương còn có khá nhiều vitamin, đặc biệt các loại vitamin B1 và B2, ngoài ra còn có các vitamin PP, A, E, D, C… và các loại muối khoáng (Hà Đức Hồ và cs, 2005) [8] Theo Bahtnagar P.S, S.P Tiwari (1990) [19] hàm lượng protein của đậu tương cao hơn rất nhiều so với ngũ cốc: gấp 5 lần lúa nước, gấp 4 lần ngô; thậm chí còn cao hơn các loại đậu đỗ khác (như đậu xanh, lạc, đậu mỏ két…) Chất lượng protein trong đậu tương cũng gần với đạm động vật nhất, trong đậu tương có các axit amin cần thiết đặc biệt là có 8 axit amin không thay thế được Hàm lượng chất béo trong đậu tương rất lớn cho nên đã được dùng làm dầu thực vật Lipit của đậu tương chứa một lượng rất lớn các axit béo không no có hệ số đồng hóa cao, mùi vị thơm ngon vì vậy dùng dầu đậu tương thay mỡ động vật có thể tránh được các bệnh về tim mạch như xơ vữa động mạch, máu nhiễm mỡ
Ngoài ra, trồng cây đậu tương còn có tác dụng cải tạo đất Điều này có được là do hoạt động cố định N2 của loài vi khuẩn Rhizobium cộng sinh trên
rễ cây họ Đậu Hàng năm trên thế giới có khoảng 120 – 160 triệu tấn nitơ trong khí quyển được cố định và chuyển hóa thành nguồn đạm dưới các dạng
Trang 10khác nhau thông qua quá trình có định đạm sinh học Lượng đạm này ước tính gấp 2 lần lượng phân nitơ hóa học được sản xuất ra hàng năm trên toàn thế giới Đây là một nguồn phân bón có ý nghĩa rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi mà con người đã quá mức lạm dụng phân hóa học làm cho đất đai trở nên xấu hơn
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các nhà chọn giống đã nghiên cứu và tạo ra nhiều giống đậu tương mới có giá trị cao trong sản xuất Tuy nhiên, nhu cầu của con người về đậu tương và các sản phẩm của nó ngày càng cao như năng suất và phẩm chất cao, thời gian sinh trưởng phù hợp điều kiện thời tiết và vùng canh tác, nên công tác chọn tạo giống phù hợp với các yêu cầu của con người trong tình hình mới cần được chú trọng Các giống nhập nội là một trong những nguồn nguyên liệu phục vụ cho công tác chọn giống mà thông qua đó các giống cây trồng mới nhanh chóng được tạo ra Trong quá trình đó, khảo sát giống là một bước rất quan trọng và không thể bỏ qua để tạo được những giống và phù hợp với điều kiện sinh thái của các vùng khác nhau Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Khảo sát một số dòng, giống đậu tương Úc trong điều kiện vụ hè thu năm
2013 tại Gia Lâm – Hà Nội”
2 Mục đích, yêu cầu
2.1 Mục đích
Đánh giá khả năng sinh trưởng, khả năng chống chịu và năng suất của các dòng, giống đậu tương, từ đó đề xuất một số dòng, giống có triển vọng đưa vào so sánh giống chính quy
2.2 Yêu cầu
- Tìm hiểu một số đặc điểm hình thái của các dòng, giống đậu tương trong vụ hè thu 2013 tại Gia Lâm – Hà Nội
Trang 11tương trên đất Gia Lâm – Hà Nội
- Đánh giá được khả năng chống chịu và mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các dòng, giống đậu tương trong vụ hè thu 2013
- Xác định được các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng, giống đậu tương
- Đề xuất một số dòng, giống triển vọng đưa vào so sánh giống chính quy
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới
Đậu tương là một trong 8 cây lấy dầu quan trọng , chiếm 97% sản lượng cây lấy dầu trên thế giới (Ngô Thế Dân và cộng sự, 1999) [5] Do giá trị nhiều mặt của đậu tương và do nhu cầu sử dụng dầu, protein thực vật ngày càng cao, đồng thời cây đậu tương có khả năng thích ứng khá rộng nên đậu tương được trồng phổ biến trên thế giới Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương của thế giới không ngừng tăng lên trong những năm gần đây Tình hình sản suất đậu tương của thế giới trong những năm gần đây được trình bày ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương trên thế giới
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Nguồn: FAOSTAT, june, 2013
Nhìn vào bảng 1.1 ta thấy từ năm 2005 đến năm 2012 thì diện tích, năng suất cũng như sản lượng đậu tương không ngừng tăng
Về diện tích: Qua bảng trên ta thấy diện tích trồng đậu tương trên thế
giới từ năm 2005 đến năm 2011 tăng mạnh Năm 2005 thì diện tích trồng đậu tương là 91,42 triệu ha và đến năm 2011 thì diện tích trồng đậu tương trên thế
Trang 13giới đã có sự thay đổi rõ rệt, diện tích trồng đậu tương trên thế giới vào năm
2011 là 125,17 triệu ha, nhưng đến năm 2012 diện tích đậu tương chỉ tăng nhẹ
ở mức 125,23 triệu ha
Về năng suất: Ngày nay do đã ứng dụng các thành tựu kỹ thuật mới
trong công tác chuyển gen và chọn tạo giống đậu tương nên năng suất đậu tương ngày càng tăng Vào năm 2005 năng suất đậu tương trên thế giới đạt 23,45 tạ/ha và đến năm 2012 năng suất đậu tương đạt được là 24,84 tạ/ha tăng 1,39 tạ/ha
Về sản lượng: Cùng với sự tăng lên về diện tích và năng suất, sản lượng
đậu tương trên thế giới cũng không ngừng tăng lên.Vào năm 2005 sản lượng đậu tương trên thế giới đạt 214,35 triệu tấn thì đến năm 2012 sản lượng đậu tương trên thế giới đã tăng lên thành 311,11 triệu tấn tức là tăng 96,76 triệu tấn
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương
của một số nước trên thế giới
Tên
nước
Diện tích
(triệu
ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(triệu
tấn)
Diện tích
(triệu
ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(triệu
tấn)
Diện tích
(triệu
ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
80,99 71,15 46,9 17,16
37,92 27,31 14,87 11,42
28,60 23,14 22,00 18,14
108,45 63,20 32,71 20,72
33,65 27,01 16,24 10,72
28,72 21,92 27,28 17,79
96,64 59,21 44,31 19,10
Nhìn chung trên thế giới đậu tương chủ yếu được sản xuất ở các nước như: Mỹ, Braxin, Trung Quốc và Achentina (Phạm Văn Thiều, 2006) [16]
Trang 14Mặc dù đậu tương có nguồn gốc từ Trung Quốc, nhưng khi được đưa sang
Mỹ do có sự thích nghi cao với điều kiện thời tiết, khí hậu và đất đai mà cây đậu tương đã được phát triển nhanh và Mỹ đã trở thành một trong những nước sản xuất đậu tương đứng đầu thế giới cả về diện tích lẫn sản lượng Tuy rằng so với năm 2012 diện tích, sản lượng trồng đậu tương giảm hơn so với
2011 nhưng nhờ áp dụng toàn diện khoa học kỹ thuật, kỹ thuật thâm canh hiện đại, tập trung vào công tác chọn giống đặc biệt là công nghệ cấy, chuyển gen mà năng suất trung bình của Mỹ cũng khá cao Năm 2012 diện tích của Mỹ là 33,65 triệu ha cao gấp 3,1 lần so với diện tích Trung Quốc và với sản lượng là 96,64 triệu tấn cao gấp 5,1 lần so với sản lượng của Trung Quốc
Mỹ là quốc gia đứng đầu thế giới về sản xuất đậu tương, đồng thời cũng là nước có nhiều thành tựu về nghiên cứu đậu tương Nhờ áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật như lai tạo giống, gây đột biến, kỹ thuật di truyền, chọn lọc các dòng nhập nội,…mà các nhà khoa học Mỹ đã chọn tạo ra được nhiều dòng, giống đậu tương có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu được với điều kiện bất thuận và thích ứng rộng như Amsoy71, Lec 36,…Đặc biệt một nhóm các nhà nghiên cứu tại Mỹ lần đầu tiên đã phác thảo chuỗi genome đậu tương và hứa hẹn mở ra một kỷ nguyên mới trong cải tiến nông học đối với đậu tương Mặt khác, các nhà nghiên cứu Mỹ đang đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển tìm phương pháp sử dụng đậu tương cho các mục đích không thuộc lĩnh vực thực phẩm như làm chất kết dính, nhựa thân thiện môi trường, vật liệu composit sinh học (Cục thông tin khoa học và công nghệ Quốc Gia) Hiện nay, ở Mỹ có khoảng trên 40 cơ quan nghiên cứu về đậu tương, lưu giữ khoảng 10000 mẫu giống, đưa vào sản xuất nhiều dòng có khả năng chống chịu tốt với bệnh Phytopthora và thích ứng rộng như AmSoy 71, Lec 36…Hướng chủ yếu trong công tác nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Mỹ là
Trang 15với vùng sinh thái Mục tiêu hướng vào việc chọn những giống có khả năng thâm canh cao, phản ứng yếu với quang chu kỳ, chống chịu tốt với điều kiện bất thuận, hàm lượng protein cao, dễ bảo quản và chế biến (Johnson H.W,Bernard, 1967) [22]
Đứng sau Mỹ, Brazil là cường quốc đứng thứ 2 về sản xuất đậu tương tính đến năm 2012.Sản xuất đậu tương ở Brazil tăng lên cả về diện tích, năng suất và sản lượng Về diện tích đạt 21,07 triệu ha, sản lượng đạt khoảng 59,21 triệu tấn, không chỉ là nước sản xuất lớn mà còn có nhiều thành tựu trong công tác chọn tạo giống Năm 1976 đã có gần 1500 dòng đậu tương đã được trung tâm nghiên cứu quốc gia chọn tạo trong đó có một số dòng có năng suất cao thích hợp với vùng đất vĩ độ thấp ở trung tâm Brazil như: Numbaira, IAC-8, Cristalina Trong tương lai, Brazil tập trung vào việc chọn ra những giống đậu tương có năng suất cao, chất lượng tốt và kháng sâu bệnh như BR79 - 1098, BR10… (Deloyche, J C.,1953) [21]
Trên thế giới, Trung Quốc là nước đứng thứ 4 và là nước đứng đầu châu Á về sản xuất đậu tương, năm 2012 chiếm 8,2% về diện tích và 6,14% sản lượng đậu tương thế giới, nhưng sản xuất đậu tương của Trung Quốc đang
có xu hướng giảm mạnh cả về diện tích và sản lượng khiến cho Trung Quốc phải nhập khẩu một lượng lớn đậu tương Nguyên nhân là do sự phát triển của các ngành kinh tế khác làm thu hẹp diện tích đất nông nghiệp Bên cạnh đó, việc sản xuất đậu tương ở trong nước không đem lại năng suất và chất lượng cao như sản xuất đậu tương ở nước ngoài, đó cũng là nhân tố thúc đẩy Trung Quốc tăng cường nhập khẩu đậu tương từ các nước khác Qua bảng trên cho thấy năng suất đậu tương của Trung Quốc còn thấp, thấp hơn khoảng 5 – 12 tạ/ha so với các nước Mỹ, Brazil, Argentina Hơn nữa, Trung Quốc còn là một quốc gia rất quan tâm đến công tác chọn tạo giống cho nên nước này đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác chọn tạo giống đậu tương Trung Quốc
đã thu thập được nhiều nguồn gen khác nhau từ nhiều quốc gia trên thế giới,
Trang 16đồng thời không ngừng ứng dụng các tiến bộ khoa học để cải tạo các giống
cũ Kết quả đã chọn tạo ra nhiều giống mới mang nhiều ưu điểm như CN001, CN002, HTF18, YAT12…cho năng suất trung bình từ 34 - 42 (tạ/ha) trên nhiều vùng sản xuất Gần đây, Trung Quốc đã tạo ra một số giống có năng suất cao nhập khẩu vào Việt Nam như giống Tạp Hoàng Số 4, năng suất 40 -
45 (tạ/ha) trên diện tích đại trà (Dương Đình Tường, 2006) [18]
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều nước trồng đậu tương, nhưng không phải nước nào cũng tự túc được đậu tương để đảm bảo nhu cầu đậu tương trong nước mà phần lớn là phải nhập khẩu Các nước nhập khẩu đậu tương lớn gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Đài Loan…Trước năm 1945 Trung Quốc từng là nước sản xuất chính và xuất khẩu đậu tương, nhưng những năm sau đó và cho đến hiện nay thì Trung Quốc lại là nước nhập khẩu đậu tương, nguyên nhân là do chăn nuôi ngày càng phát triển trong nền nông nghiệp Trung Quốc Năm 2000, Trung Quốc nhập khoảng 10 triệu tấn đậu tương, tương đương với 177% sản lượng đậu tương trong nước và Trung Quốc hiện nay đã trở thành cường quốc nhập khẩu đậu tương lớn nhất thế giới Theo thống kê Hải quan Trung Quốc cho biết 7 tháng đầu năm 2009 Trung Quốc đã tiến hành nhập khẩu 26,48 triệu tấn đậu tương, tăng tới 27,73% so với cùng
kỳ năm 2008 (Hồng Lê, Hồng Liên, 2009) [25]
Mặt khác, theo chuyên gia cao cấp Ma Wenfeng thuộc công ty Beiling Orient Agribusiness Consultant Ltd, trong bối cảnh chênh lệch giữa giá đậu tương trong và ngoài nước cao, nhập khẩu đậu tương có thể là một hoạt động sinh lời lớn Năm 2012, lượng đậu tương nhập khẩu của Trung Quốc tăng 11,2% so với niên vụ trước đó và lên 58,4 triệu tấn Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự báo Trung Quốc sẽ nhập khẩu 59 triệu tấn đậu tương trong niên
vụ 2012/2013 Con số này sẽ tăng lên 69 triệu tấn trong niên vụ 2013/1014 (Theo Trung Tâm Khuyến Nông Quốc Gia, 20/05/2013) [31]
Trang 17gần đây phát triển rất mạnh do giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế của nó mang lại Năng suất và sản lượng đậu tương tăng là do nhiều yếu tố mà yếu tố tác động nhiều nhất là giống, đó là lý do vì sao mà từ xưa đến nay con người rất chú trọng và phát triển bộ giống đậu tương
Trên thế giới, có rất nhiều công trình nghiên cứu về giống đậu tương được các nhà khoa học công bố như các nghiên cứu về phương sai di truyền, các mô hình tương tác, mô hình ưu thế lai của Gates (1960), Croisant và Torrie (1970), Baker (1978), Socol và Baker (1977),…Nghiên cứu về hệ số di truyền của năng suất hạt Brim (1973) đã thu được kết quả là hệ số này dao động khoảng
3 – 58%, cũng theo Brim và cộng sự (1983) cho rằng tỷ lệ dầu và đạm trong hạt đậu tương có tương quan nghịch với nhau, từ đó các ông đưa ra các hướng chọn giống phù hợp với mục đích sử dụng (Ngô Thế Dân, Trần Đình Long, 1999) [5]
Về nguồn gen đậu tương thì đến nay khá phong phú, được lưu trữ ở nhiều quốc gia trong đó chủ yếu ở 15 nước: Đài Loan, Úc, Trung Quốc, Pháp, Nigeria, Ấn
Độ, Mỹ, Inđônexia, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Nam Phi, Thụy Điển, Thái Lan, Liên Xô (cũ) có khoảng 45.038 mẫu giống
Gần đây, một số nước có nền nông nghiệp tiên tiến đã ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn tạo giống Mỹ đã nghiên cứu thành công chuyển gen tạo ra vật liệu chọn giống mới ở đậu tương Úc đã áp dụng kỹ thuật công nghệ tế bào để phân lập được gen chịu hạn thành công
Mục tiêu chọn tạo giống đậu tương của các nước trên thế giới hiện nay tập trung theo các hướng chủ yếu như tạo ra giống có năng suất hạt cao, khả năng chống chịu sâu bệnh tôt, thời gian sinh trưởng ngắn, kháng gỉ sắt, kháng thuốc trừ cỏ Đặc biệt công nghệ chuyển gen được nghiên cứu ứng dụng và thu được những thành tựu đáng kể trong việc chọn giống đậu tương mới Công tác chọn tạo giống trên thế giới tập trung vào các nội dung sau:
- Nhập nội giống và thử nghiệm với các vùng sinh thái
- Thu thập nguồn vật liệu lai tạo giống mới, chọn tạo những dòng lai có
Trang 18vô nhị Chỉ có khoảng 10% mẫu giống dại được xem là mẫu giống đậu tương
có thể dùng được vì đâu tương dại rất khó kết hợp thành công trong các chương trình lai tạo giống
Tại Indonesia các nhà khoa học đã nghiên cứu, chọn tạo giống đậu tương Wilis 2000 từ giống Wilis Giống này đã cải thiện được các đặc tính nông sinh học như thời gian sinh trưởng, dạng cây và đặc điểm của hạt; đặc biệt năng suất tăng 5% so với giống gốc (Takashi Sanbuichi và Muchlish Adie, 2002) [24]
Năm 1963, Ấn Độ bắt đầu khảo nghiệm các giống địa phương và nhập nội tại trường Đại học Tổng hợp Pathaga, năm 1967 thành lập chương trình đậu tương toàn Ấn Độ với nhiệm vụ lai tạo và thử nghiệm giống mới và họ đã tạo ra được một số giống mới có triển vọng như Birsasil, DS74 – 24 – 2, DS73 – 16, tổ chức AICRPS và NRCS đã tập trung nghiên cứu về genotype phát hiện ra 50 tính trạng phù hợp với khí hậu nhiệt đới, đồng thời phát hiện
ra những giống chống chịu cao với bệnh khảm virus (Brown D.M, 1960) [20]
Ngân hàng gen Quốc gia Ấn Độ đang lưu giữ 3472 mẫu giống đậu tương bảo quản ở -18 0
C bao gồm 4 loại dạng hình sinh trưởng, 120 giống đã
Trang 19công nhận và 2 mẫu giống đã được đăng ký quốc tế (J Radhamani and Kalyani Srinivasan, 2009) [23]
Đến nay công tác nghiên cứu về đậu tương trên thế giới đã được tiến hành với quy mô lớn Nhiều tập đoàn giống đậu tương đã được các tổ chức Quốc tế khảo nghiệm ở rất nhiều vùng sinh thái khác nhau nhằm thực hiện một số nội dung chính như: Thử nghiệm tính thích nghi của giống ở từng điều kiện môi trường khác nhau tạo điều kiện so sánh giống địa phương với giống nhập nội, đánh giá phản ứng của các giống trong những môi trường khác nhau, đã có được nhiều thành công trong việc xác định các dòng, giống tốt, có tính ổn định và khả năng thích ứng khác nhau với các điều kiện môi trường khác nhau
Ngoài yếu tố giống thì thời vụ cũng là yếu tố được cho là có liên quan đến năng suất đậu tương Trên thế giới cũng có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về ảnh hưởng của thời vụ đến sinh trưởng và phát triển của đậu tương Baihaki và cộng sự khi nghiên cứu về ảnh hưởng của thời vụ đến 4 giống và
44 dòng đậu tương đã thu được kết quả là thời vụ có tương tác chặt với 12 tính trạng nghiên cứu trong đó có năng suất hạt (Baihaki A, 1976 – trích theo Ngô Thế Dân, Trần Đình Long, 1999) [5]
Tóm lại mỗi khu vực, mỗi quốc gia, mỗi vùng sinh thái đều có thời vụ trồng và giống thích hợp Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chọn được giống và thời vụ thích hợp với giống đó cho mỗi vùng sinh thái, vì thế việc khảo sát và đưa các giống vào trồng thử nghiệm là vấn đề rất quan trọng trong công tác chọn giống đậu tương
1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trong nước
Cây đậu tương đã được trồng ở Việt Nam từ rất lâu đời Đến nay cây đậu tương đã trở thành cây trồng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và trong đời sống kinh tế xã hội ở nước ta Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, ngành Nông nghiệp nói chung và cây đậu tương nói riêng đã có những bước tiến đáng kể, đặc biệt cây đậu tương đã
Trang 20phát triển rất mạnh về cả diện tích, năng suất và sản lượng Tình hình sản xuất đậu tương của Việt Nam trong những năm gần đây được tổng hợp ở bảng 1.3
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của Việt Nam
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam năm 2013
Dựa vào bảng 1.3 cho thấy diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của Việt Nam liên tục tăng trong những năm gần đây Về diện tích từ 158,6 nghìn ha năm 2002 đến năm 2010 đã lên tới 197,8 nghìn ha, tăng gần 1,3 lần
so với năm 2002 Năm 2005 diện tích đậu tương đạt cao nhất (204,1 nghìn ha) nhưng sau đó lại giảm mạnh vào các năm tiếp theo, do việc đô thị hóa diễn ra ngày càng mạnh và việc thành lập những công ty phục vụ sản xuất công nghiệp đã làm mất một lượng đất nông nghiệp rất lớn Mặc dù những năm tiếp theo diện tích đậu tương của Việt Nam có tăng nhưng vẫn chưa đạt bằng diện tích của năm 2005 Về năng suất và sản lượng thì vẫn liên tục tăng kể từ năm 2002 đến nay, đạt chỉ số cao nhất về sản lượng và năng suất vào năm
Trang 212010 (năng suất đạt 15,09 tạ/ha và sản lượng đạt 298,8 nghìn tấn) Năm 2012, sản xuất đậu tương ở nước ta giảm mạnh cả về diện tích và sản lượng Điều này do nhiều nguyên nhân: điều kiện khí hậu, thiên tai (lũ lụt, hạn hán), diện tích đất nông nghiệp ngày bị thu hẹp do sử dụng vào nghành công nghiệp, quy
mô sản xuất không tập trung, manh mún…Những năm gần đây diện tích đậu tương, năng suất và sản lượng có tăng nhưng không ổn định Điều đó cho thấy rằng khoa học kỹ thuật, giống và kỹ thuật canh tác đối với đậu tương của nước ta có ảnh hưởng rất lớn tới sản xuất
Ở Việt Nam, đậu tương được trồng ở hầu hết các địa phương do đậu tương là cây công nghiệp ngắn ngày dễ trồng, trồng được nhiều thời vụ và cho giá trị kinh tế cao Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của một số tỉnh được thể hiện ở bảng 1.4
Trang 22Bảng 1.4 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương
2010 Tuy nhiên diện tích đậu tương của Hà Nội năm 2011 lại giảm so với năm 2010 do tốc độ đô thị hóa mạnh, đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Một số tình như Sơn La, Đăk Lăk diện tích đậu tương cũng đang bị thu hẹp
do nông dân chuyển sang trồng các cây trồng khác như ngô…Về năng suất thì Đắk Nông là tỉnh có năng suất cao nhất cả nước nhưng lại có xu hướng giảm dần qua các năm do diện tích bị thu hẹp để sử dụng vào các mục đích khác Riêng Thanh Hóa lại có xu hướng tăng mạnh cả về diện tích và sản lượng đậu tương Năm 2009, Thanh hóa có 4,7 nghìn ha trồng đậu tương và sản lượng đạt 7,4 nghìn tấn thì đến năm 2011 đã tăng lên 9,6 nghìn ha trồng đậu tương
Trang 23và đạt sản lượng 14,3 nghìn tấn
Nhìn chung năng suất đậu tương của Việt Nam còn thấp hơn rất nhiều
so với đậu tương thế giới, nguyên nhân là do nước ta chưa có những bộ giống thích hợp cho từng vùng sinh thái, đồng thời chế độ thâm canh còn thấp, chưa
áp dụng được những biện pháp kỹ thuật làm tăng năng suất; mặt khác tập đoàn giống địa phương đã bị lẫn tạp, thoái hóa nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng
Xuất phát từ những mục tiêu cơ bản trên, nhiệm vụ hàng đầu của những nhà chọn tạo giống đậu đỗ Việt Nam là phải nhanh chóng chọn tạo ra những
bộ giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, phù hợp với từng điều kiện sinh thái, từng mùa vụ khác nhau để bổ sung vào tập đoàn giống địa phương đang bị lẫn tạp, thoái hóa hiện nay
Công tác nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương ở nước ta phần lớn tập trung ở các Viện nghiên cứu, các trường đại học, các trung tâm hay các trạm, trại nghiên cứu đậu đỗ Từ những năm 1945 Việt Nam đã xây dựng được các trại nghiên cứu, thí nghiệm về đậu đỗ nói chung và đậu tương nói riêng như ở Định Tường – Thanh Hóa, Mai Nham – Vĩnh Phú, Thất Khê – Lạng Sơn, Pú Nhung – Lai Châu Trong đó trại đậu đỗ Định Tường – Thanh Hóa trong những năm 1957 – 1965 đã tiến hành thí nghiệm với 52 giống địa phương và một số giống nhập nội (chủ yếu của Trung Quốc), kết quả đã chọn được hai giống tốt đưa vào sản xuất đại trà, đó là giống V70 (Hoa Tuyển), thích hợp cho vụ xuân hè ở miền Bắc Việt Nam, và giống V74 còn gọi là giống “Cao quả địa” thích hợp cho vụ đông ở miền Bắc Việt Nam
Tuy vậy quá trình nghiên cứu và phát triển cây đậu đỗ nói chung và cây đậu tương nói riêng ở nước ta trước những năm 1975 còn rất hạn chế Từ những năm 1980 trở lại đây, các cơ sở nghiên cứu khoa học như: Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Viện nghiên cứu ngô, Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam, các trường đại học về nông nghiệp,… cùng nhiều cơ sở nghiên cứu khoa học khác đã tập trung đi sâu
Trang 24và nghiên cứu những bộ giống đậu tương cho năng suất cao, phẩm chất tốt thích hợp cho từng vùng sinh thái, từng mùa vụ khác nhau ở nước ta, nhằm phá vỡ thế độc canh hóa ở các vùng trồng và cải tạo các vùng đất hoang hóa, bạc màu
Bằng nhiều phương pháp chọn giống khác nhau như xử lý đột biến, chọn lọc cá thể, lai hữu tính hay con đường nhập nội… các nhà chọn giống nước ta đã chọn được nhiều giống đậu tương cho năng suất cao, phẩm chất tốt đưa vào sản xuất đại trà
Trong 20 năm từ 1985 đến 2005 chương trình nghiên cứu đậu đỗ thông qua đề tài thu thập, nhập nội trên 5000 giống trong đó có 3000 mẫu giống địa phương Khảo sát đánh giá 4188 mẫu dòng, giống đậu tương chủ yếu nhập nội từ Viện nghiên cứu cây trồng Liên Xô cũ, một số giống thu thập từ Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau châu Á (AVRDC), Úc, Nhật, Mỹ, và Viện nghiên cứu cây trồng quốc tế (IITA) Phân lập các dòng có tính trạng khác nhau như thời gian sinh trưởng, chịu hạn, chịu rét, kháng gỉ sắt…phục vụ công tác chọn giống (Trần Đình Long và Nguyễn Thị Chinh, 2005) [11]
Những năm qua, Trung tâm tài nguyên di truyền thực vật đã thu thập được 688 nguồn gen đậu đỗ trong đó có đậu tương (Lưu Ngọc Trình, 2009) [17] Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp duyên hải Nam Trung Bộ đã thu thập, lưu giữ và đánh giá được trên 100 dòng/giống đậu tương (Hoàng Minh Tâm, 2009) [14] Giai đoạn 2006 - 2008, Viện nghiên cứu ngô đã thu thập được 35 mẫu giống đậu tương từ các địa phương trong nước và nhập nội từ nước ngoài để bổ sung vào tập đoàn đậu tương của Viện Hiện nay, tập đoàn đậu tương với 230 mẫu giống được trồng mới trên đồng ruộng hàng năm, thơì gian còn lại các mẫu giống được bảo quản cất giữ trong kho lạnh, các chỉ tiêu nông học cơ bản được theo dõi, đo đếm cẩn thận và lưu giữ làm cơ sở để chọn cặp bố mẹ trong công tác lai tạo (Nguyễn Thị Thanh và cs, 2009) [15]
Giống đậu tương ĐT22 dùng phương pháp đột biến nhân tạo từ dòng lai (DT95/ ĐT12), giống được công nhận chính thức năm 2006 Giống có thời
Trang 25lượng 100 hạt: 14 - 15 gam Chống chịu sâu bệnh khá, chống đổ tốt, năng suất 15
- 27 tạ/ha, có thể trồng trong vụ xuân, vụ hè, vụ đông
Giống Đậu tương ĐT2000 là giống nhập nội do Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam chọn lọc Giống có thời gian sinh trưởng 100 - 110 ngày, kháng bệnh gỉ sắt và phấn trắng khá, chống đổ tốt Số quả trên cây 30 - 37 quả, khối lượng hạt 170 - 175 g/1000 hạt Năng suất 20 - 30 tạ/ha Giống thích hợp cả vụ xuân và vụ thu đông trên các chân đất có độ phì khá (Nguyễn Thị Bình và cộng sự, 2008) [1]
Năm 2008 Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm đã chọn tạo thành công 2 giống đậu tương ĐT26 và Đ2101 Hai giống đã được công nhận cho sản xuất thử Năng suất trung bình của giống trong vụ xuân đạt 21-24 tạ/ha Các giống hiện đang dược phát triển tại một số tỉnh đồng bằng sông Hồng như Hà Tây cũ, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam… Năm 2010 giống ĐT26 đã được Hội đồng Khoa học Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận chính thức ĐT26 có thời gian sinh trưởng trung bình 90-95 ngày, nhiễm nhẹ đến trung bình đối với 1 số bệnh hại chính, thích hợp vụ xuân,vụ đông, khối lượng 100 hạt 18-19g, tỷ lệ quả 3 hạt cao (Trần Đình Long và cs, 2007) [10]
Vũ Đình Chính (1995) [2] khi nghiên cứu tập đoàn đậu tương đã phân lập các chỉ tiêu thành 3 nhóm theo mức độ quan hệ của chúng với năng suất hạt Nhóm thứ nhất gồm 18 chỉ tiêu không liên quan chặt chẽ với năng suất như: thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, số đốt /thân…Nhóm thứ hai gồm
15 chỉ tiêu có liên quan chặt chẽ với năng suất: số quả/cây, tỷ lệ quả chắc, số đốt mang quả, diện tích lá, khối lượng vật chất tích lũy chất khô… Nhóm thứ
ba có 5 chỉ tiêu tương quan nghịch với năng suất: tỷ lệ quả một hạt, tỷ lệ quả lép, tỷ lệ bệnh virus, tỷ lệ bệnh đốm vi khuẩn và tỷ lệ sâu đục quả Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra mô hình cây đậu tương có năng suất cao: số quả/cây nhiều, tỷ lệ quả chắc cao, khối lượng 1000 hạt lớn, tỷ lệ quả 2 - 3 hạt cao, diện tích lá thời kỳ hoa rộ và quả mẩy lớn, trọng lượng tươi thời kỳ hoa rộ và quả mẩy cao, số nốt
Trang 26sần trên cây nhiều
Trần Đình Long, Hồ Huy Cường và cộng tác viên (2008) [26] thực hiện nghiên cứu xác định giống đậu tương có triển vọng của vùng Tây Nguyên tại huyện Cư Jut tỉnh Đắc Nông cho biết ở vụ hè thu gieo 20/5, thu hoạch tháng 7-8 và vụ thu đông gieo 5/8 thu hoạch tháng 10- 11, giống đậu tương M103
có thời gian sinh trưởng trung bình (82- 83 ngày) tương đương so với giống DT84, năng suất thực thu đạt từ 26,7 tạ/ha trở lên, cao hơn đối chứng là 16,5% - 22,5% trong điều kiện thời tiết thuận lợi; giống ĐT12 đạt năng suất thực thu trên 20,0 tạ/ha tương đương đối chứng, có ưu thế là kiểu hình thấp cây và thời gian sinh trưởng ngắn (dưới 75 ngày) thích hợp cho xen canh gối
vụ và canh tác nhờ nước trời Từ đó kiến nghị bổ sung giống đậu tương M103
và ĐT12 vào cơ cấu giống cây trồng tại địa phương
Nguyễn Huy Hoàng (1992) [7] khi nghiên cứu và đánh giá khả năng chịu hạn của 1.004 mẫu giống đậu tương nhập nội từ năm 1988 – 1991 cho thấy: Những giống nguồn gốc từ Trung Quốc đều có khả năng chịu hạn tốt và thường thấp cây, phiến lá dày, nhỏ và nhọn, mật độ che phủ lông trên thân lá cao Tác giả còn cho biết khả năng chịu hạn của đậu tương có liên quan thuận
và chặt với mật độ lông phủ và mật độ khí khổng ở cả mặt trên và mặt dưới lá của cây
Giống đậu tương chịu hạn DT2008 do Viện Di truyền Nông nghiệp chọn tạo đã đánh dấu sự thành công về lĩnh vực chọn tạo giống đậu tương chịu hạn cho các tỉnh phía Bắc, đặc biệt cho vùng miền núi phía Bắc trong vụ đông xuân luôn thiếu nước Đây là giống đậu tương đột biến được thử nghiệm trên các vùng khô hạn thiếu nước trong nhiều năm và có nhiều đặc tính tốt như chịu hạn, chịu úng, chịu nóng và chịu lạnh cao Ngoài ra DT2008 còn có khả năng đề kháng với các bệnh chính như phấn trắng, gỉ sắt, sương mai, đốm
vi khuẩn Giống DT2008 có thể trồng được 3 vụ/năm Năng suất trong điều kiện bình thường đạt 18 – 30 tạ/ha, trong điều kiện khô hạn và khó khăn vẫn
Trang 27cho năng suất cao hơn các giống đậu tương bình thường 1,5 – 2 lần (Mai Quan Vinh, 2008) [29]
Thông qua quỹ phát triển từ Trung tâm nghiên cứu Nông nghiệp Quốc
tế (ACIR), các nhà khoa học từ trường Đại học James Cook, CSIRO, trường Đại học Thái Nguyên, Trung tâm nghiên cứu Hưng Lộc, Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội và Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) đã chọn ra một số giống thích hợp với điều kiện Việt Nam Giống tốt nhất là dòng 95389, đã được đăng ký với tên giống mới là ĐT21 Giống ĐT21 là giống có tiềm năng cho năng suất cao trong vụ đông ở vùng đồng bằng sông Hồng, nơi trồng ngô hoặc đất sau thu hoạch lúa Giáo sư Bob Lawn (trường Đại học James Cook – Australia) cho biết: “Năng suất trung bình của giống địa phương khoảng 1,3 – 1,5 tấn/ha thì giống ĐT21
có thể đạt tới 2,5 – 3,0 tấn/ha ĐT21 cũng là giống cứng cây hơn, và cố định đạm cao hơn (theo tin từ đại sứ quán Australia, 2006) [27]
Nghiên cứu xác định giống đậu tương thích hợp chân đất thâm canh màu hoặc 1 lúa + 1 màu ở vùng Nam Trung bộ, Viện KHKT nông nghiệp duyên hải Nam trung bộ đã xác định được 3 giống ĐT26, ĐVN5, ĐT22-4 vừa cho năng suất cao vừa thích hợp cơ cấu cây trồng Giống ĐT26 với thời gian sinh trưởng 85-95 ngày, năng suất 30-35 tạ/ha cao hơn giống MTD176
từ 7,6-25% Giống ĐVN5 với thời gian sinh trưởng 80-92 ngày, năng suất
23-31 tạ/ha Giống ĐT22-4 thời gian sinh trưởng 75-80 ngày, năng suất bình quân đạt 20 tạ/ha và thâm canh đạt 30 tạ/ha (Hoàng Minh Tâm, 2009) [14]
Về kết quả lai hữu tính: Tác giả Vũ Đình Chính và Đoàn Thị Thanh Nhàn (1993) [3] sử dụng các giống địa phương, giống nhập nội có thời gian sinh trưởng khác nhau và khối lượng hạt khác nhau làm vật liệu lai, bố trí ở các thời vụ khác nhau đã thu được kết quả:
- Ở vụ đông do hoa nở rải rác nên có thể lai hoa cả buổi sáng và buổi chiều đều cho kết quả như nhau Ở vụ xuân, vụ hè và vụ hè thu lai buổi sáng tốt hơn vào buổi chiều
Trang 28- Lai ở vụ xuân cho kết quả tốt nhất, sau đó đến vụ đông và vụ hè thu, thấp nhất là vụ hè
- Ở vụ đông kích thước hoa bé nên phương pháp khử đực không hoàn toàn cho năng suất lai cao và tỷ lệ đậu quả cao Trong vụ xuân, hè, hè thu, thu đông do hoa lớn, cuống chắc nên khử đực hoàn toàn cho năng suất cao
Bằng phương pháp lai hữu tính, Trung tâm tài nguyên di truyền thực vật đã chọn tạo thành công giống đậu tương ĐT2006 ĐT2006 có thân to, thấp cây, nhiều cành, nhiều quả, kháng bệnh gỉ sắt và bệnh phấn trắng Giống ĐT2006 đã được đưa khảo nghiệm tại Hà Tây cũ, Hà Nội, Hải Dương và Hưng Yên, tổng diện tích năm 2008 khoảng 50 ha ĐT2006 có thời gian sinh trưởng ngắn tương đương DT84, cho năng suất cao (3-5 tấn/ha), thích hợp cho vụ Hè và vụ Xuân (ngoài ra có thể gieo trong vụ thu-đông Nhược điểm của giống này là vỏ hạt bị nứt, tuy vậy có thể phát triển sản xuất làm thức ăn chăn nuôi (Lưu Ngọc Trình, 2009) [17]
Giống DT96 được lai tạo từ 2 giống đậu tương DT90 và DT84, là giống có năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt, thích hợp cho các vùng đất khô hạn, có thể trồng được 3 vụ/năm DT96 có đặc điểm hoa tím, lá hình tim nhọn, màu xanh, sáng, lông nâu, cây cao 45 – 58 cm, thân có 12 – 15 đốt, phân cành vừa phải, cây gọn, hình dáng đẹp, phù hợp trồng thuần, quả chín màu vàng, số quả chắc trên cây (25 – 35 quả), cao có thể đạt 180 quả Giống này có khả năng chống đổ rất khá, chống được các bệnh gỉ sắt, sương mai, đốm nâu vi khuẩn, lở cổ rễ Đặc biệt, tỷ lệ protein khá cao gần 43%, dầu béo 18,34% Thời gian sinh trưởng trung bình, 98 ngày (vụ xuân), 96 ngày (vụ hè thu) và 90 ngày (vụ đông) (Nguyễn Tấn Hinh và CTV, 1999) [6]
Nghiên cứu chuyển nạp gen ở đậu tương và tạo dòng đậu tương biến đổi gen kháng sâu ở Việt Nam, TS Trần Thị Cúc Hòa, Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long cho biết: trong 91 giống nghiên cứu đã xác định được các giống có tiềm năng sử dụng được trong chuyển nạp gen đậu tương, gồm 5
Trang 29giống đậu tương đang trồng ở Việt Nam và 3 giống nhập nội (theo Trung tâm nghiên cứu Khoa học nông vận – Hội nông dân Việt Nam, 2008) [28]
Với tập đoàn giống đậu tương phong phú như vậy cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đến nay cây đậu tương ở Việt Nam được trồng rất nhiều vụ trong năm với nhiều công thức luân canh khác nhau
Ở các tỉnh trung du, đồng bằng Bắc Bộ có thể trồng 3 vụ đậu tương trong năm: vụ xuân hè, vụ hè và vụ đông Các tỉnh miền núi phía Bắc có thể trồng các vụ đậu tương kế tiếp nhau: Vụ xuân hè có thể gieo từ tháng 5 - tháng 6, thu hoạch tháng 8 - tháng 9 (dương lịch) tùy theo giống chín sớm hay chín muộn, vụ đậu tương thu gieo tiếp trên đất thu hoạch ngô, thời vụ từ tháng 8-tháng 12
Các tỉnh miền Trung trồng một vụ đậu tương xuân chính vụ gieo từ 15/1 – 10/2 và thu vào tháng 4 - tháng 5 Vụ hè thu từ 15/5 – 15/10, vụ đông
Từ công tác chọn tạo giống đậu tương đưa ra sản xuất ở nước ta đã thu được những thành quả rất đáng khích lệ, đáp ứng phần nào về bộ giống đậu tương cho sản xuất trong những năm qua, đánh dấu bước trưởng thành cho các nhà chọn tạo giống đậu tương nói riêng và ngành chọn tạo giống cây trồng nói chung của cả nước
Trang 30CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu
Tiến hành khảo sát 10 dòng, giống đậu tương nhập nội từ Úc trong điều kiện vụ hè thu năm 2013 trên đất Gia Lâm – Hà Nội
Danh sách các dòng, giống khảo sát
1 ĐT22 Viện Khoa học Nông Nghiệp Việt Nam
2.3 Địa điểm nghiên cứu
- Thí nghiệm được bố trí tại khu thí nghiệm của bộ môn Cây Công nghiệp – trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội
- Đất có thành phần cơ giới nhẹ, tơi xốp, có pH = 6,5, chủ động tưới tiêu Đất được làm kỹ, sạch cỏ dại, san phẳng và lên luống theo quy định
2.4 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khảo sát dòng, giống không
Trang 31diện tích 3m2, tổng diện tích ruộng thí nghiệm rộng 100m2
Trang 32+ Lần 2: Trước khi ra hoa, xới sâu 5 – 7 cm, vun cao để chống đổ
- Tưới nước: Nếu khô hạn thì tưới nước bổ sung
- Phòng trừ sâu bệnh: Thường xuyên kiểm tra phòng trừ sâu bệnh kịp thời
2.6 Các chỉ tiêu theo dõi
2.6.1 Các chỉ tiêu hình thái
- Thân mầm: Màu sắc thân mầm, theo dõi sau mọc mầm
- Màu sắc lông phủ, mức độ phân cành
- Lá: Màu sắc, hình dạng lá, theo dõi sau mọc mầm
- Hoa: Màu sắc hoa theo dõi khi cây ra hoa
- Quả: Màu sắc vỏ quả, theo dõi khi chín
- Hạt: Màu sắc vỏ hạt, rốn hạt, theo dõi khi quả chín
- Chiều cao đóng quả, chiều cao cây
2.6.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển
ni: Là số cây mọc ngày theo dõi thứ i
xi: Là ngày theo dõi thứ i
∑n: Tổng số cây mọc
+ Tỷ lệ mọc mầm (%): Tính số hạt mọc mầm/số hạt gieo
- Thời gian mọc đến ra hoa (ngày): Từ 50% số cây mọc đến 50% số cây
ra hoa
- Thời gian sinh trưởng (ngày): Tính từ khi gieo đến khi thu hoạch
- Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính: Đo từ đốt 2 lá mầm đến đỉnh sinh trưởng, từ khi cây có 3 lá thật, 7 ngày đo 1 lần, theo dõi 5 cây/dòng, giống
Trang 33- Động thái ra hoa: Đếm số hoa/cây/ngày, 7 ngày đếm một lần, theo dõi 5 cây/dòng, giống
- Khả năng hình thành nốt sần: Đếm và cân khối lượng nốt sần 5 cây/dòng, giống lấy trung bình Đếm tổng số nốt sần và cân khối lượng nốt sần hữu hiệu
- Khả năng tích lũy chất khô (g/cây): Tính khối lượng cây tươi, sấy khô đến khối lượng không đổi và cân khối lượng cây khô trên 5 cây mỗi dòng, giống
Phương pháp: Các chỉ tiêu khối lượng chất khô, số lượng và khối lượng nốt sần tiến hành đo đếm vào 3 thời kỳ: Thời kỳ bắt đầu ra hoa, thời kỳ ra hoa
rộ và thời kỳ quả mẩy
Trang 34Mức độ nhiễm sâu bệnh trên đồng ruộng đƣợc đánh giá theo hệ thống thang điểm (1÷5) của trung tâm nghiên cứu và phát triển rau Châu Á AVRDC
Tỷ lệ (%) <1 1- 10 11 - 50 51 - 75 76 - 100
2.6.5 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
Mỗi dòng, giống theo dõi 5 cây vào lúc thu hoạch, tiến hành đo đếm các chỉ tiêu:
- Số cành cấp 1 trên thân chính
- Số đốt hữu hiệu / thân chính
- Tổng số quả trên cây
- Xác định khối lƣợng 1000 hạt (g): Đƣợc xác định ở độ ẩm hạt 12%, cân
3 mẫu, mỗi mẫu 1000 hạt và lấy trung bình
Khối lƣợng hạt trung bình của 5 cây
- Năng suất cá thể (g/cây) =
Trang 35CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm hình thái của một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện
vụ hè thu 2013
Cây đậu tương thích nghi với nhiều điều kiện sinh thái, môi trường và khí hậu khác nhau nên mang nhiều đặc điểm hình thái khác Đặc điểm hình thái của đậu tương bao gồm các đặc điểm như: Màu sắc thân mầm, màu sắc hoa, màu sắc và hình dạng lá, màu sắc của hạt và rốn hạt Đặc điểm hình thái của cây là chỉ tiêu quan trọng để phân biệt giống Đó là kết quả tác động giữa kiểu gen và điều kiện ngoại cảnh của môi trường, qua đó thể hiện được khả năng thích nghi của các dòng, giống Vì vậy, nắm được các đặc điểm hình thái đặc biệt là những đặc điểm có hệ số di truyền cao (màu sắc thân mầm, màu sắc hoa và màu sắc rốn hạt) sẽ giúp cho mọi người dễ dàng hơn trong việc nhận dạng giống, cũng như giúp cho các nhà chọn tạo giống dựa vào đó
để có thể chọn tạo ra nhiều giống mới thích nghi với nhiều mùa vụ và nhiều vùng sinh thái hơn
3.1.1 Đặc điểm thân, cành, lá
* Thân, cành
Cây đậu tương có dạng thân thảo, thân non có hai màu là màu xanh và tím; màu sắc thân non có tương quan chặt chẽ với màu sắc hoa, thân xanh mang hoa trắng và thân tím mang hoa tím Màu sắc thân non chỉ quan sát ở thời kỳ từ mọc đến 3 lá thật nên còn được gọi là thân mầm; khi cây trưởng thành, thân cây chủ yếu có màu xanh, khó phân biệt Khi vào giai đoạn chín thì thân chuyển sang màu vàng đến nâu với độ đậm nhạt khác nhau tùy giống Qua theo dõi chúng tôi nhận thấy trong 10 dòng, giống nghiên cứu, dòng giống có thân màu tím là dòng AU2, còn lại là các dòng, giống có thân màu xanh Đây cũng là một chỉ tiêu để có thể đánh giá độ thuần của dòng, giống đậu tương