Bởi lẽ nói tới ô nhiễm công nghiệp, trước hết nên lưu ý rằng ở trong mọi trường hợp, tất cả các nguồn tài nguyên khai thác từ môi trường tự nhiên một phần được chuyển đổi thành sản phẩm
Trang 1mình và ngay chính bản thân mình [2]
Bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững, hiện nay trở thành nhiệm vụ cấp bách, mang tính toàn cầu
Như ta đã biết môi trường được cấu tạo bởi 3 thành phần: môi trường khí quyển, môi trường thuỷ quyển và môi trường thạch quyển; chúng có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Do đặc điểm, thành phần và cấu trúc từng môi truờng mà mức độ lan truyền các chất khác nhau, mức độ lan truyền các chất trong môi trường thuỷ quyển và môi trường khí quyển là lớn nhất Vì vậy
ô nhiễm môi trường không khí và môi trường nước gây mối lo ngại cho con người do tác dụng độc hại của nó Các chất gây ô nhiễm môi trường rất đa dạng về loại chất cũng như về dạng tồn tại, do đó nó gây ảnh hưởng rộng và nhanh chóng đến con người, động thực vật trên trái đất [3]
Có rất nhiều nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, trong đó sự ảnh hưởng của môi trường công nghiệp là rất lớn Bởi lẽ nói tới ô nhiễm công nghiệp, trước hết nên lưu ý rằng ở trong mọi trường hợp, tất cả các nguồn tài nguyên khai thác từ môi trường tự nhiên một phần được chuyển đổi thành sản phẩm có ích còn một phần sẽ quay lại môi trường tự nhiên dưới dạng chất thải công nghiệp Bản thân sản phẩm là có ích tại giai đoạn này nhưng tới một lúc nào đó cũng bị biến đổi, mất dần giá trị sử dụng và cũng quay về môi trường dưới dạng chất thải Như vậy xét cho cùng trong mối quan hệ sản xuất công
Trang 2Nhận thức được vấn đề nêu trên, để thực hiện nghiêm chỉnh luật bảo vệ môi trường của Nhà nước, việc khảo sát đánh giá môi trường tại các xí
nghiệp, các nhà máy là rất cần thiết Vì vậy chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên
cứu khảo sát đánh giá sự tác động của sản xuất đến môi trường tại Công ty
cổ phần Dệt Kim Hà Nội năm 2008” để thực hiện khoá luận tốt nghiệp
Công ty Dệt Kim Hà Nội là một đơn vị quốc doanh mới được thành lập
từ tháng 10/1996, là doanh nghiệp chuyên sản xuất bít tất các loại phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Trong quá trình sản xuất tại công ty có thể thải ra môi trường các chất gây ô nhiễm, các chất này có khả năng ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến đời sống cán bộ và công nhân trong xí nghiệp, cũng như đời sống của nhân dân xung quanh khu vực Công ty Vì vậy, việc xác định và định lượng các yếu tố gây độc là hết sức cần thiết
Trang 31.1 MÔI TRƯỜNG VÀ VẤN ĐỀ GÂY Ô NHIỄM, HỦY HOẠI MÔI TRƯỜNG
“Môi trường” của một vật thể hoặc một một sự kiện là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới vật thể và sự kiện đó Bất cứ một vật thể, một sự kiện nào cũng diễn biến trong một môi trường nhất định [1]
Môi trường, sức khoẻ và sự phát triển của con người phụ thuộc rất nhiều vào những gì mà chúng ta làm hôm nay Nếu con người không thay đổi phương thức khai thác, sản xuất và thậm chí cả những nền nếp sinh hoạt thì trái đất vẫn tiếp tục bị tổn thương và môi trường mà sự sống của chúng ta đang lệ thuộc vào sẽ tiếp tục bị huỷ hoại
Các vấn đề trên đang ngày càng trầm trọng hơn và nó đang ảnh hưởng tới mọi quốc gia cho dù đó là quốc gia có nền kinh tế đã hay đang phát triển Chúng ta thấy rằng vấn đề môi trường tự nó đã gây nên mối quan hệ phụ thuộc rất lớn giữa các quốc gia trên thế giới, nó không thể được giải quyết một cách tách biệt với các tình trạng kinh tế, xã hội và những hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức
Những vấn đề chung nhất về tình trạng môi trường liên quan đến mọi quốc gia được thể hiện qua các hiện tượng sau:
1.1.1 Tình trạng tầng ôzôn bị phá huỷ
Với ý nghĩa như lưới lọc, tầng ôzôn có tác dụng ngăn các luồng bức xạ
có hại của mặt trời để bảo vệ trái đất
Trang 4Cơ chế của quá trình phân huỷ ôzôn chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng,
có nhiều tài liệu đưa ra những ý kiến khác nhau Nhiều tác giả cho rằng tầng ôzôn bị phá huỷ do 4 nguyên nhân cơ bản: Do các nguyên tử oxi (O), các gốc hiđrôxyl hoạt động (HO), các oxit nitơ (NOx) và quan trọng là các hợp chất của clo
Tầng ôzôn bị phá huỷ nhiều sẽ làm ảnh hưởng tới sức khoẻ của con người gây huỷ hoại thuỷ tinh thể Nó cũng gây tác động đến đời sống cây trồng, tới quá trình quang hợp và gây ảnh hưởng lâu dài cho các sản phẩm công nghiệp
1.1.2 Tình trạng nóng dần lên của trái đất
Sự nóng dần lên của trái đất hay “hiệu ứng nhà kính” là hiện tượng nóng dần lên của khí quyển do sự gia tăng của một số loại khí, trong đó chủ yếu là khí cacbonic (CO2), mêtan (CH4) và một số loại khí phá huỷ tầng ôzôn Như chúng ta đã biết, nhiệt độ bề mặt trái đất được tạo thành bởi sự cân bằng giữa năng lượng mặt trời chiếu xuống trái đất và năng lượng bức xạ nhiệt của mặt đất phát vào không gian vũ trụ Bức xạ mặt trời là bức xạ sóng ngắn nó dễ dàng xuyên qua các lớp khí CO2, CH4, hơi nước và tầng ôzôn chiếu xuống trái đất, ngược lại bức xạ nhiệt từ mặt đất phản xạ vào khí quyển
là bức xạ sóng dài, nó không có khả năng xuyên qua các lớp khí CO2 và lại bị khí CO2 và hơi nước hấp thụ, do đó nhiệt độ của khí quyển bao quanh trái đất tăng lên Hiện tượng này được gọi là “hiệu ứng nhà kính” vì lớp khí CO2,
CH4, hơi nước bao quanh trái đất có tác dụng tương tự như lớp kính giữ nhiệt của nhà kính trồng rau xanh mùa đông, chỉ khác là nó quy mô toàn cầu
Trang 5Nhiệt độ trái đất tăng lên sẽ là nguyên nhân làm tan lớp băng ở Bắc Cực
và Nam Cực, làm cho mực nước biển dâng cao và dẫn đến làng mạc, thành phố và các vùng đồng bằng thấp ở ven biển bị chìm dưới nước biển
Có thể còn nhiều nguyên nhân khác ảnh hưởng đến sự nóng dần lên cuả bầu khí quyển Sự nóng dần lên của trái đất là một nguy cơ môi trường rất khó kiểm soát vì nó liên quan đến việc sử dụng các nguồn năng lượng, các quá trình sản xuất công nghiệp, canh tác nông nghiệp và bảo vệ rừng [7]
1.1.3 Sự mất cân bằng sinh thái
Sự đa dạng của quần thể là một trong những yếu tố cơ bản nhất để hệ sinh thái dễ thích nghi với những thay đổi môi trường Một hệ sinh thái được coi là cân bằng khi tất cả các hoạt động của hệ đó đều ở trạng thái cân bằng Các hệ sinh thái có khả năng thực hiện một sự tự điều chỉnh nhất định trong giới hạn xác định, nhưng nếu vượt quá giới hạn này thì chúng không còn khả năng hoạt động bình thường nữa, lúc đó có thể sẽ phải chịu sự thay đổi nào
đó, hoặc bị tổn thương hay bị phá hoại Do vậy, việc quản lí sinh thái nhằm mục đích duy trì một trạng thái cân bằng tự nhiên hay nhân tạo, trong đó sản phẩm cuối cùng là có lợi cho con người và những sự mất cân bằng có thể kiểm soát được [7]
1.1.4 Ô nhiễm không khí
Ô nhiễm môi trường khí quyển là hiện tượng làm cho không khí sạch thay đổi thành phần và tính chất do bất cứ một nguyên nhân nào, có nguy cơ gây tác hại đến thực vật và động vật, đến môi trường xung quanh, đến sức khoẻ con người
Ước tính khoảng 1/5 dân số thế giới đang phải hít thở bầu không khí ô nhiễm do các khí thải độc hại vượt quá mức giới hạn cho phép mà tổ chức y
tế thế giới (WHO) đã quy định [7]
Quá trình gây ô nhiễm không khí xảy ra qua các bước sau:
Trang 6- Nguồn phát sinh chất gây ô nhiễm (tác nhân ô nhiễm)
- Quá trình phát tán, lan truyền trong khí quyển được xem như môi trường trung gian
- Bộ phận tiếp nhận là thực vật, động vật, con người, các công trình xây dựng, đồ vật chịu sự tác động có hại của tác nhân gây ô nhiễm
Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh ô nhiễm, người ta chia tác nhân ô nhiễm làm 2 loại: nguồn thiên nhiên và nguồn nhân tạo
- Nguồn thiên nhiên: Núi lửa phun (Sunfua, mêtan …), cháy rừng, bão bụi, các quá trình thối rữa các xác động thực vật (NH3, H2S, CH4 …)
- Nguồn nhân tạo: Nguồn ô nhiễm nhân tạo rất đa dạng nhưng chủ yếu
do hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải, đốt nhiên liệu hoá thạch, hoạt động nông nghiệp và các hoạt động khác
Tác nhân ô nhiễm phát thải ra bao gồm bụi và các khí như CO, CO2,
SOx, hyđrocacbon, NOx, bụi kim loại nặng [1]
1.1.5 Ô nhiễm nước
Nước là cội nguồn chính yếu trong mọi sự sống và bản thân nó cũng là môi trường sống cho mọi động thực vật sinh tồn Các nguồn nước và đại dương đã từ lâu cũng được sử dụng như một nơi để thải bỏ các chất thải [6]
Ô nhiễm nước là sự làm thay đổi bất lợi cho môi trường nước, hoàn toàn hay tại bộ phận do các hoạt động khác nhau của con người tạo nên Những hoạt động gây tác động trực tiếp hay gián tiếp đến những thay đổi về các mặt năng lượng, mức độ bức xạ mặt trời, thành phần vật lí hoá học của nước, và sự phong phú của các loài sinh vật sống trong nước
Về nguồn nước gây ô nhiễm nước có thể là tự nhiên hoặc nhân tạo Sự
ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên là do mưa, tuyết tan Nước mưa rơi xuống mặt đất, mái nhà, đường phố, khu công nghiệp,… kéo theo các chất bẩn xuống sông, hồ hoặc các sản phẩm của các hoạt động phát triển sinh vật, vi sinh vật
Trang 7Nước là môi trường có mức độ lan truyền các chất nhanh và ảnh hưởng
ở một vùng rộng lớn do đó nếu môi trường nước bị ô nhiễm thì con người và sinh vật phải chịu những hậu quả của nó một cách nặng nề và nhanh chóng Hiện nay mọi nguồn nước đều có sự báo động về sự ô nhiễm, ô nhiễm về nước ngầm cũng là vấn đề nan giải và việc giải quyết rất tốn kém, ô nhiễm duyên hải biển và đại dương cũng là vấn đề đáng quan tâm, đặc biệt là nạn chảy dầu và sự cố các giàn khoan đã gây hậu quả lớn về môi sinh
1.1.6 Ô nhiễm môi truờng đất
Ô nhiễm môi trường đất là tất cả các hiện tượng, các quá trình làm ô nhiễm bẩn đất, thay đổi các tính chất vật lí hóa học tự nhiên của đất do các tác nhân gây ô nhiễm dẫn đến làm giảm độ phì nhiêu của đất Đất là một môi trường sinh thái rất đa dạng, trong đó luôn luôn xảy ra mối quan hệ lẫn nhau giữa các thành phần cấu tạo đất rất phức tạp
Trong thực tế, nhiều tác nhân gây ô nhiễm có nguồn gốc khác nhau nhưng lại gây tác hại như nhau Để thuận lợi cho việc giám sát môi trường người ta thường phân loại theo tác nhân: ô nhiễm do tác nhân hoá học, lí học
và sinh học Ngày nay cùng với sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật thì môi trường đất cũng trở nên bị ô nhiễm bởi con người đã đưa vào sản xuất những ứng dụng khoa học nhằm mục đích nâng cao đời sống phát triển kinh tế đất nước như việc con người sử dụng phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, chất kích thích sinh trưởng…, sử dụng các hoá chất trong công nghiệp, giao thông vận tải, nghiên cứu khoa học,…
Trang 81.1.7 Sự phá huỷ nguồn tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên được hiểu như là một dạng vật chất hữu ích có sẵn trong thiên nhiên để cung cấp cho nhu cầu kinh tế xã hội loài người và sinh vật Tài nguyên thiên nhiên như là một thành phần của môi trường và bao gồm: rừng, đất, nguồn nước, các loài động thực vật, các chất khoáng, các nhiên liệu hoá thạch, nhân lực và thông tin,… [1]
Sự gia tăng dân số, tình trạng di dân đang dẫn đến nhu cầu khai thác sử dụng tài nguyên ngày càng cao Tài nguyên bị cạn kiệt làm cho các chu trình vật chất trong tự nhiên bị phá huỷ, cấu trúc sinh quyển bị thay đổi Việc khai thác gỗ và các loại sinh vật của rừng dẫn đến sự tàn phá rừng, thay đổi cấu trúc thảm thực vật trên hành tinh
Các ngành công nghiệp khai khoáng, khai thác dầu mỏ,… đã đưa một lượng phế thải lớn các chất độc hại từ lòng đất vào sinh quyển Ví như: Hàng năm có trên 10 triệu tấn dầu mỏ đổ vào đại dương, các loại nước chứa axit phenol của quá trình khai thác dầu mỏ vào nguồn nước mặt, gây ô nhiễm phá huỷ cân bằng sinh thái
1.2 TÁC ĐỘNG CỦA SẢN XUẤT ĐẾN MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÍ
1.2.1 Tác động của sản xuất công nghiệp đến môi trường
Dân số tăng và sự tiến bộ của khoa học là nguyên nhân cơ bản của quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá ở tất cả các nước tiên tiến trên thế giới dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường đến mức báo động Thật vậy, công
Trang 9Ví dụ: Hàng năm, các nước công nghiệp lớn trên thế giới thải ra 115 triệu tấn SO2 và 30 triệu tấn NO2 gây nên hiện tượng mưa axit huỷ diệt ao hồ
và rừng cây [4]
Ở nước ta riêng thành phố Hồ Chí Minh, nhiều khu công nghiệp như vùng kênh Tham Lương, kênh Lò Gốm, khu Tăng Nhơn Phú - Thủ Đức, nước
và không khí chứa nhiều chất độc như Hg, chất hữu cơ, hàm lượng khí CO2,
NO2,… đã vượt xa tiêu chuẩn vệ sinh cho phép
Một lượng đáng kể khí CO, CO2 được thải ra từ quá trình sản xuất gang thép đã gây ra ô nhiễm không khí rất nghiêm trọng, trong đó còn có khí cũng được thải ra như SO2, H2S,…
Trong công nghiệp sản xuất axit sunfuric khí SO2, SO3, bụi, các oxit asen, selen và các hợp chất flo cũng tương đối nhiều
Khi tổng hợp amôniac và axit nitric thì chủ yếu là thải ra các hợp chất của nitơ như NO, NO2,… ngoài ra còn có khí CO, CO2
Như vậy tác nhân gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là các hợp chất cacbon, hợp chất nitơ, hợp chất lưu huỳnh
1.2.1.1 Các hợp chất có chứa lưu huỳnh
Các hợp chất có chứa lưu huỳnh chủ yếu có trong khí quyển là SO2,
SO3, H2S, H2SO4 và các muối sunfat Trong đó tác nhân gây ô nhiễm môi trường quan trọng nhất là H2S, SO2, SO3
● Hyđrôsunfua (H2S)
Trang 10Trong khí quyển H2S được hình thành do quá trình phân huỷ các chất hữu cơ, thực vật, cỏ cây bị thối rữa nhất là ở những hồ đầm cạn nước Nó còn sinh ra ở những vùng núi lửa, ở nơi khai thác các mỏ than [1]
● Lưu huỳnh (IV) ôxit (SO2) và lưu huỳnh (VI) ôxit (SO3)
Trong khí quyển, khí sunfua điôxit (SO2) là một chất độc hại, gây ô nhiễm đứng thứ 2 sau khí cacbon ôxit (CO) Nó chiếm 20% khối lượng của tất cả các tác nhân gây ô nhiễm không khí
Khí SO2 là khí không màu, có vị cay và mùi khó chịu Nó gây đau đầu nhức mắt và cảm giác nóng trong cổ họng Khi nồng độ của khí SO2 trong khí quyển không quá 1 ppm thì gây cay mắt, nhưng khi nồng độ của nó khoảng 3 ppm thì có mùi vị gây kích thích phát cáu
Khí SO2 được sinh ra từ các hợp chất có chứa lưu huỳnh, hoạt động của núi lửa, quá trình lưu hoá cao su, các phương tiện giao thông vận tải
Trong khí quyển khí SO2 bị ôxi hoá thành SO3 theo quá trình ôxi hoá xúc tác hay ôxi hoá quang hoá Trong điều kiện độ ẩm cao, SO2 dễ bị các giọt nước xúc tác (muối của Fe2+, Mn2+,…), NH3 có trong không khí cũng làm cho phản ứng tăng nhanh và làm tăng độ tan SO2 trong các hạt nước [1]
Hơi SO3 phản ứng rất mạnh với nước tạo thành các hạt sa mù axit sunfuric rất nhỏ bé, gặp mưa nó rơi xuống mặt đất Khi nồng độ axit sunfuric cao vào khoảng pH từ 5,4 – 2,5 được gọi là mưa axit
SO2 và axit H2SO4 gây tác hại đến sức khoẻ và con người, động vật Nó gây tổn hại đến cây trồng các hệ sinh thái nước, ăn mòn các công trình xây dựng,…
Trang 11ra môi trường, chúng là các tác nhân gây ra ô nhiễm môi trường lớn
● Cacbon ôxit (CO)
Khí CO là chất gây ô nhiễm phổ biến trong phần dưới của tầng khí quyển Nguồn CO nhân tạo chủ yếu được phát từ quá trình cháy không hoàn toàn các nhiên liệu hoá thạch [1]
CO là một chất khí không màu, không mùi, không vị Nó hoá lỏng ở nhiệt độ - 1920C và không tan trong nước
Nhiễm độc bởi CO cơ thể thường bị đau đầu, ù tai, chóng mặt, buồn nôn, mệt mỏi, co giật rồi bị hôn mê Chính khí CO tác động với hemoglobin trong máu Nó tác động với hemoglobin 250 lần so với ôxi Khí CO chiếm ôxi của hemoglobin tạo thành cacboxy hemoglobin (HbCO) làm mất khả năng vận chuyển ôxi của máu và gây ra ngạt [6]
Hb.O2 + CO ↔ Hb CO + O2
● Cacbon điôxit (CO2)
Khí CO2 là sản phẩm của quá trình đốt các nhiên liệu rắn như than, củi
và do quá trình hô hấp của động vật
CO2 là một khí không màu có mùi và vị hơi chua, ở áp suất 60 atm và ngay ở nhiệt độ thường nó biến thành chất lỏng không màu và linh động Khi được làm lạnh đột ngột chất lỏng đó biến thành khối rắn màu trắng giống như tuyết gọi là tuyết cacbonic [6]
Tuy không có tác dụng độc nhưng với nồng độ CO2 trên 3% ở trong không khí, trung ương thần kinh của người đã bị rối loạn và đến 10% người
có thể bị mất trí và đi đến chết vì sự hô hấp dừng lại
Trang 12Nhiệt độ trái đất tăng lên thì khả năng hoà tan CO2 sẽ bị giảm xuống, một số lượng lớn CO2 sẽ thoát vào khí quyển, làm cho hiệu ứng nhà kính tăng lên gấp bội Nếu toàn bộ các khối băng bị tan nước biển sẽ dâng lên từ 75 –
79 m, 1/5 đất đai phần lớn là vùng đông dân, phì nhiêu, kinh tế phát triển sẽ bị vùi ngập dưới nước đại dương [4]
1.2.1.3 Các hợp chất của nitơ
Các hợp chất chứa nitơ quan trọng trong khí quyển là N2O, NO, NO2,
NH3 và các muối nitrat, nitrit và amoni
● Nitơ ôxit (NO)
Nitơ ôxit là khí được tạo ra cả từ nguồn tự nhiên và nhân tạo qua quá trình đốt cháy nhiên liệu hoá thạch ở nhiệt độ cao và sấm sét trong không khí
NO là chất gây ô nhiễm không khí
Nitơ ôxit là một khí không màu rất độc, khó hoá rắn và khó hoá lỏng, ít tan trong nước
Khí NO kết hợp với oxi và nước trong không khí góp phần vào hiện tượng mưa axit Mặt khác, khí NO cùng với những hyđrocacbon chưa cháy của nhiên liệu, dưới tác dụng của tia tử ngoại của ánh sáng mặt trời, gây nên khói mù quang hoá, có hại đối với sức khoẻ con người Nitơ ôxit cũng như
CO tác dụng mạnh với hemoglobin, nhưng NO tác dụng với hemoglobin mạnh gấp 1500 lần so với khí CO làm ảnh hưởng đến khí hô hấp, viêm phổi cấp, phù,… [1]
● Nitơ điôxit (NO2)
Trang 13● Amoniac (NH3)
Amoniac chủ yếu tạo ra từ nguồn tự nhiên, là một khí không màu, mùi khai xốc, nhẹ hơn không khí và tan tốt trong nước Amoniac được coi là một chất gây ô nhiễm sinh ra với những lượng lớn đủ để tạo ra những nồng độ cục
bộ lớn hơn nồng độ khác xung quanh [4]
1.2.1.4 Các loại bụi
Bụi là tập hợp nhiều hạt vật chất vô cơ hoặc hữu cơ có kích thước nhỏ
bé, tồn tại trong không khí dưới dạng bụi bay, bụi lắng và các thể khí dung gồm hơi, khói mù
Căn cứ vào tác hại của bụi, người ta chia làm 5 loại bụi:
● Bụi gây nhiễm độc chung: Pb, Hg, C6H6,
● Bụi gây dị ứng, viêm mũi, hen, nổi ban: bụi bông gai, phấn hoa,
phân hoá học,…
● Bụi gây ung thư: bụi quặng, bụi phóng xạ, hợp chất crôm,…
● Bụi gây nhiễm trùng: lông, tóc,…
● Bụi gây xơ phổi: bụi amiăng, bụi thạch anh
1.2.2 Các phương pháp xử lí
1.2.2.1 Xử lí khí thải
Trang 14Căn cứ vào tình hình thực tế khu vực, chúng ta phải chịu phương pháp
xử lí ô nhiễm khả thi cho từng nhà máy xí nghiệp
● Xử lí bụi
Có nhiều phương pháp xử lí bụi:
- Với phương pháp trọng lực, các hạt bụi lơ lửng được tách ra bởi trọng trường bằng thiết bị là phòng tắm bụi Khi hạt bụi bị rơi xuống nó chịu sự tác dụng của 2 lực: trọng lực và trở lực của môi trường
- Lắng bụi li tâm là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp vì hiệu suất của nó lớn Hạt bụi chịu 3 lực tác dụng: lực li tâm, lực cản môi trường và trọng lực của hạt
- Phương pháp lọc điện khí thải cho qua hệ thống tạo điện trường mạnh Các hạt bụi được tích điện và giữ lại trên các điện cực có điện tích trái dấu
Phương pháp này cho phép lọc được các loại bụi có kích thước khác nhau
có hiệu suất 85 – 99 %, ngoài ra còn cho phép hấp thụ một phần khí thải [5] ● Xử lí các chất ô nhiễm dạng khí
Phương pháp hấp thụ
Nguyên tắc cơ bản của phương pháp này là hấp thụ khí thải bằng nước, dung dịch xút, hoặc axit trong tháp hấp thụ, sau đó tái sinh hoặc không tái sinh dung dịch đã hấp thụ
Trang 16* Khí ôxit của nitơ (NOx)
Có 2 phương pháp xử lí khô và xử lí ướt
- Phương pháp khô là phân huỷ các NOx thành O2 và N2 trên xúc tác Pt
- Phương pháp ướt được sử dụng rộng rãi, có hiệu quả cao Người ta dùng nước hoặc các dung dịch muối để chuyển tất cả NOx thành dạng muối thương phẩm
2NO2 + M2CO3 → MNO3 + MNO2 + CO2
N2O3 + M2CO3 → 2MNO2 + CO2
Các muối gốc nitrit thường độc nên phải chuyển chúng thành muối nitrat Có thể thay thế các muối bằng dung dịch NaOH 20% Ngoài ra có thể dùng dung dịch axit H2SO4 hoặc axit HNO3 để hấp thụ khí NOx [1]
* Với khí CO2
Có thể dùng nước, etanolamin để hấp thụ, hoặc hấp thụ bằng zeolit
- Dùng etanolamin để hấp thụ: kí hiệu chung của etanolamin là RNH2
2RNH2 + CO2 + H2O ↔ (RNH3)2CO3
- Dùng zeolit:
Zeolit là một chất hấp phụ hiệu quả nhất để hấp phụ chọn lọc khí
CO2 ra khỏi hỗn hợp khí thải công nghiệp
* Với khí H2S:
- Dùng dung dịch Na2CO3
H2S + Na2CO3 ↔ NaHCO3 + NaHS NaHS + 1/2 O2 → NaOH + S↓
- Dùng hợp chất của Asen hoá trị V
NaAsS5O2 + H2S → NaAs2S6O + H2O NaAs2S6O + 1/2O2 → Na4AsS5O2 + S ↓
- Dùng phương pháp hiđroquinon - kiềm
Trang 17- Dùng ADA (anthraquinon đisunfonic axit) kèm theo Na2CO3:
H2S + Na2CO3 + ADA S + Na2CO3 + muối natri của axit 9,10 – anthraquinon – 2,6 – đisunfonic
- Dùng than hợp tính để hấp thụ
Phương pháp ôxi hoá khử:
Theo phương án xử lí chất ô nhiễm không khí, đặc biệt chất có mùi hôi của Công ty công nghệ và hoá chất Châu Á (ACE) Trước hết người
ta cho luồng khí thải qua dung dịch axit sunfuric để hấp thụ amin và amoniac, rồi cho luống khí tiếp tục đi qua dung dịch kiềm để hấp thụ axit cacboxylic mercaptan, axit béo, phenol Sau mỗi giai đoạn đều cho luồng khí qua dung dịch natri hipoclorit để ôxi hoá anđêhit, H2S, xeton,…
Theo phương pháp này thì cần phải làm lạnh khí thải đến 40 – 50 0C để tăng cường khả năng hấp thụ các chất khí trong dung dịch nước
Hg + Cl2 → HgCl2 2Hg + Cl2 → Hg2Cl2
Nếu dư Cl2: HgCl2 + Cl2 → 2HgCl2
xt,t0
Trang 18§k th-êng
Trang 19Có 2 phương pháp chính là trung hoà và oxi hoá khử để xử lí nước thải
- Phương pháp trung hoà dựa trên nguyên tắc:
Trộn lẫn nước thải có môi trường axit với nước thải có môi trường kiềm Lọc nước thải axit qua lớp vật liệu có tác dụng trung hoà Hấp thụ khí axit bằng nước thải kiềm hoặc hấp thụ NH3 bằng nước thải axit
- Phương pháp ôxi hoá khử:
Sử dụng các chất ôxi hoá mạnh để xử lí nước thải như Cl2, clorua vôi, thuốc tím, kali bicromat, oxi già, ôzôn,…
- Phương pháp sinh học:
Dựa vào khả năng hoạt động của các vi sinh học để phân huỷ, bẻ gãy các phân tử hợp chất hữu cơ gây ô nhiễm nước thải thành các hợp chất đơn giản [5]
1.2.2.3 Xử lí phế thải rắn
Tất cả các sinh vật trong quá trình phát sinh phát triển và tồn tại đề đưa vào môi trường các chất phế thải Nó gây ô nhiễm cho môi trường, vì vậy cần được xử lí
● Xử lí các phế thải rắn sinh hoạt:
Quá trình xử lí bao gồm thu gom, vận chuyển, tập trung, xử lí
Hiện nay việc xử lí các chất thải rắn theo phương pháp công nghệ được chia ra làm các phương pháp sau:
- Xử lí sơ bộ (tách, phân loại)
- Phương pháp sinh học (ủ hiếu khí)
Trang 20● Xử lí các phế thải rắn công nghiệp
Phế thải rắn công nghiệp rất đa dạng do đó phương pháp xử lí cũng không đơn nhất Hiện nay người ta sử dụng các phương pháp như phân hủy, hiếu khí, yếm khí, khử độc, đốt các phế thải dễ cháy trong lò đốt và chôn cất các phế thải công nghiệp độc hại trong các thiết bị chuyên dụng Ngoài ra một phần không nhỏ người ta tái sử dụng làm nguyên liệu trong công nghiệp [5]
1.3 GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Khi con người có nhận thức đúng, đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng, nội dung bảo vệ môi trường thì tạo ra cho con người có những ứng xử, những hành động đúng đắn phù hợp với thực tế khách quan Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ chung của toàn nhân loại, không riêng ai Bởi vậy giáo dục môi trường là cả một quá trình lâu dài, kể từ khi con người biết nhận thức được thế giới vật chất khách quan cho tới lúc từ bỏ thế giới này Giáo dục môi
Trang 21Do đó việc đưa giáo dục môi trường vào nội dung của quá trình giáo dục là tất yếu khách quan
1.3.2 Nội dung kiến thức về giáo dục bảo vệ môi trường đưa vào hệ thống
giáo dục quốc dân
1.3.2.1 Trang bị cho người học những hiểu biết về môi trường
● Các kiến thức về hệ sinh thái, cấu trúc và chức năng, các hệ sinh thái chính, cân bằng sinh thái
● Các kiến thức về môi trường và các thành phần cấu tạo môi trường như: địa chất, địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, sinh vật và tính đa dạng sinh học, các cảnh quan thiên nhiên và các nguồn tài nguyên, các kiến thức về dân
số, mối quan hệ giữa dân số và môi trường và hoạt động kinh tế - xã hội của con người
● Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển, phát triển bền vững, kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam
● Các kiến thức về những biến đổi tiêu cực của môi trường do hoạt động của con người gây ra và hậu quả của chúng như sự suy giảm, cạn kiệt các nguồn tài nguyên, sự ô nhiễm, suy thoái, huỷ diệt môi trường, sự suy giảm năng suất, sự thiếu lương thực thực phẩm, nạn nghèo đói, bệnh tật và suy giảm chất lượng cuộc sống, các vấn đề môi trường toàn cầu [8]
1.3.2.2 Trang bị cho người học những nội dung về sử dụng hợp lí tài
nguyên và biện pháp bảo vệ môi trường
● Sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên và duy trì cân bằng sinh thái ● Việc cải tạo, hồi phục các tài nguyên đã bị cạn kiệt
Trang 22● Bảo vệ tính đa dạng sinh học và vốn gen di truyền các loài
● Phòng chống và kiểm soát các sự cố môi trường
● Các biện pháp bảo vệ môi trường
● Chiến lược bảo vệ môi trường trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.2.3 Các vấn đề quản lí môi trường
● Quy hoạch môi trường
● Chính sách và luật pháp môi trường
● Đánh giá chất lượng môi trường
● Tổ chức các hoạt động, các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường ● Nghiên cứu và sử dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ vào các ngành sản xuất để tái chế chất thải, kiểm soát ô nhiễm môi trường, xử lí các hiện tượng ô nhiễm môi trường
● Thanh tra và kiểm soát môi trường
● Giáo dục môi trường trong trường học và cộng đồng, đào tạo cán bộ
để nghiên cứu về môi trường, công nghệ môi trường và đánh giá tác động môi trường
1.3.3 Phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường
Để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục nhà trường thì cần phải có phương pháp giáo dục hợp lí, phù hợp thực tiễn của đất nước
Việc đưa giáo dục môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân là vấn
đề cấp thiết, bằng cách thông qua môn học, các hoạt động tập thể,… mà từng người sẽ nhận thức được kiến thức về giáo dục bảo vệ môi trường
Trước tiên là đào tạo cán bộ nghiên cứu về môi trường, cán bộ giảng dạy cùng với những chính sách - luật pháp Nhà Nước ban hành, mỗi công dân
Trang 232.1 NGHIÊN CỨU NGUỒN GỐC CÁC CHẤT GÂY Ô NHIỄM
từ nhà vệ sinh Đặc trưng của nước thải loại này là có nhiều chất lơ lửng, dầu
mỡ, nồng độ chất hữư cơ cao
- Nước thải nhiễm dầu: Hiện nay công ty sử dụng dầu FO để chạy lò hơi Trong quá trình sử dụng dầu có thể rơi vãi ra ngoài khi xuất nhập dầu, hoặc rò rỉ từ chỗ ống nối, van dầu,…
2.1.2 Các chất gây ô nhiễm không khí
Theo dây chuyền công nghệ sản xuất của Công ty, có thể xác đinh các nguồn gây ô nhiễm không khí và các chất gây ô nhiễm chủ yếu là:
- Bụi sinh ra trong quá trình bốc dỡ nguyên liệu, các thuốc nhuộm
- Các chất thải trong phân xưởng dệt chủ yếu là các chất thải rắn như sợi vụn, vải vụn và bông bụi là các mảnh vụn có kích thước nhỏ phát sinh trong quá trình cắt xén
Trang 24- Nguồn gốc gây ô nhiễm không khí của Công ty chủ yếu do khí thải từ nồi hơi đốt dầu Khói đốt dầu có chứa bụi, SOx, NOx, COx, hiđrôcacbon
Để tính toán thành phần khí thải chúng ta cần biết thành phần và tính chất của dầu FO
Theo tài liệu nước ngoài, dầu FO có tính chất thành phần như sau:
Anđêhit : 22g/tấn nhiên liệu
Tổng hữu cơ : 48g/tấn nhiên liệu
Ngoài ra còn có khí thải phát sinh từ máy phát điện (dùng khi mất điện lưới) và khí thải do các phương tiện giao thông vận tải sử dụng tại Công ty
2.1.3 Chất thải rắn
Chất thải rắn của Công ty Dệt Kim Hà Nội bao gồm các loại sau:
- Sợi phế phẩm trong quá trình mắc, dệt
Trang 252.2.1 Tác động của các loại nước thải
● Nước thải công nghiệp
Ảnh hưởng của nước thải công nghiệp đến môi trường nước khi xả ra ngoài mà không được xử lí triệt để sẽ làm tăng lượng chất bẩn, tăng hàm lượng các chất lơ lửng, tăng độ màu nguồn nước tiếp nhận Độ màu làm mất khả năng truyền quang dẫn đến mất khả năng quang hợp của tảo Với độ pH cao, loại nước này sẽ làm mất khả năng tự làm sạch của nguồn nước tiếp nhận
do các loại vi sinh vật tự nhiên có trong nước bị kìm hãm phát triển Hàm lượng BOD, COD cao sẽ làm giảm lượng ôxi hoà tan trong nước, làm giảm khả năng phát triển của các loại thuỷ sinh và tôm, cá Nếu loại nước thải này
bị ứ đọng ngoài môi trường, không những làm mất mỹ quan do màu đen, bẩn của nước thải gây nên, mà còn gây mùi khó chịu do sự phân huỷ kị khí của các chất hữu cơ Một số kim loại nặng, hợp chất thơm chứa hợp tố không những có thể tiêu diệt thuỷ sinh vật mà còn gây hại cho người sử dụng khi nước thải này đổ ra sông
Nước thải này khi ngấm vào đất sẽ làm ô nhiễm nguồn nước ngầm:
pH cao, chứa các chất hoạt động bề mặt, BOD, COD tăng cao,…
● Nước thải nhiễm dầu
Hiện nay Công ty sử dụng dầu FO để chạy lò hơi Trong quá trình sử dụng dầu có thể rơi vãi ra ngoài khi xuất, nhập khẩu, hoặc rò rỉ ở chỗ ống nối
từ van dầu,… Khi có sự cố chảy dầu, dầu sẽ chảy vào ống thải và đưa ra ngoài môi trường Dầu sẽ bao phủ bề mặt nguồn nước làm ngăn cản quá trình trao đổi
Trang 262.2.2 Tác động của chất gây ô nhiễm không khí
● Tác hại của khói bụi
Khói vào phổi gây kích thích cơ học và phát sinh phản ứng xơ hoá phổi gây nên những bệnh hô hấp Khói bụi than tạo thành trong quá trình đốt nhiên liệu có thành phần chủ yếu là cacbon vô định hình, một số hợp chất hiđrôcacbon (nhất là các hiđrôcacbon thơm là sản phẩm của quá trình cháy không hoàn toàn)
Trong khí thải lò hơi có chứa các thành phần khí: CO, NOx, SO2
● Tác hại của các khí CO, CO2, SO2, NH3,…
Như phần trước ta đã đề cập đến một số tác hại của các loại khí này đối với con người, động thực vật và môi trường tự nhiên
- Đối với khí CO làm giảm khả năng vận chuyển ôxi của máu đến các
tổ chức, tế bào ,… Làm cho cơ thể bị chóng mặt, mệt mỏi, hôn mê, …
- Khí CO2 gây rối loạn hô hấp ở phổi và tế bào do chiếm mất chỗ ôxi Ngoài ra CO2 còn gây hiệu ứng nhà kính, làm cho bầu khí quyển nóng lên Sự phát triển công nghiệp trên quy mô toàn cầu dẫn đến làm tăng hiệu ứng nhà kính
- Đối với khí SO2, NOx vào cơ thể qua đường hô hấp hoặc hoà tan vào nước bọt rồi vào đường tiêu hoá, các khí này còn gây nguy hại đối với vật liệu xây dựng và đồ dùng vì sự biến đổi thành axit làm tăng cường ăn mòn kim loại, phá huỷ vật liệu bê tông và các công trình xây dựng, nhà cửa
Một số hiđrocacbon cũng gây ảnh hưởng nhiều đến con người, nó thường ít gây nhiễm độc mãn tính mà chỉ gây nhiễm độc cấp tính với các triệu chứng như: suy nhược, chóng mặt, co giật, viêm phổi,…
Trang 27có thể gây ung thư phổi
2.2.4 Tác hại của tiếng ồn
Nguồn phát ra tiếng ồn trong Công ty chủ yếu từ các phân xưởng dệt Tiếng ồn ảnh hưởng nhiều tới sức khoẻ người lao động nơi họ trực tiếp tham gia sản xuất Độ ồn làm giảm năng suất lao động, gây ra trạng thái mệt mỏi, khó chịu, căng thẳng thần kinh, làm giảm khả năng tập trung dễ dẫn đến tai nạn lao động
Trang 29CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT KIM HÀ NỘI
3.1 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH
3.1.1 Phương pháp phân tích môi trường đất
3.1.1.1 Quy trình lấy mẫu đất
Mẫu đất dùng để phân tích là mẫu tổng hợp của khu vực nghiên cứu, nó được lấy đại diện theo các cạnh và đường chéo hình chữ nhật Đất được làm nhỏ, loại bỏ đá, rễ cây và các thành phần khác Khi đã chuẩn bị xong mẫu đất
Thành phần mất khi nung bao gồm: Nước ẩm, nước hiđrat, chất hữu cơ
và còn có sự biến đổi khối lượng trong thành phần của đất ở nhiệt độ khoảng
1000C thì có sự thoát hơi nước ẩm còn ở 1200C trở lên có sự mất nước hiđrat Các hợp chất hữu cơ cháy ở nhiệt độ 4000C và còn có sự chuyển hoá các hợp chất vô cơ trong thành phần của đất gây nên sự tăng hoặc giảm khối lượng
Ví dụ:
4FeO + O2 → 2Fe2O3
4FeS + 7O2 → 2Fe2O3 + 4SO2
3.1.1.4 Quy trình phá mẫu đất bằng phương pháp nung chảy với hỗn hợp
Na 2 CO 3 và K 2 CO 3
Sự phá huỷ mẫu đất bằng Na2CO3 và K2CO3 dựa trên sự tạo thành các muối kiềm của axit silicic và các hợp chất tan khác