1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu áp dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng và dạy học theo góc trong dạy học chương nhóm halogen hoá học 10 cơ bản

107 735 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì những lí do trên và mong muốn được tìm hiểu, nắm vững nét đặc thù về các phương pháp trên và để vận dụng trong hoạt động dạy học với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA HÓA HỌC -o0o -

NGUYỄN THANH PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP

DẠY HỌC THEO HỢP ĐỒNG VÀ DẠY

HỌC THEO GÓC TRONG DẠY HỌC

CHƯƠNG “NHÓM HALOGEN” - HÓA

HỌC 10 CƠ BẢN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học hóa học

Người hướng dẫn khoa học

TS ĐÀO THỊ VIỆT ANH

HÀ NỘI, 2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian nghiên cứu cùng với sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ của TS Đào Thị Việt Anh, các thầy, cô giáo khoa Hóa học – Trường ĐHSP Hà Nội 2, các thầy cô giáo, các em học sinh trường THPT Mỹ Lộc – Tỉnh Nam Định, gia đình và bạn bè tôi đã hoàn thành đề tài của mình

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Đào Thị Việt Anh, cô

đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình xây dựng và hoàn thiện khóa luận này

Xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô trong khoa hóa học, các thầy cô trong tổ phương pháp dạy học trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp

đỡ tôi hoàn thành bản khóa luận này

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn đã dành thời gian và công sức sửa chữa, đóng góp ý kiến để luận văn của tôi được hoàn chỉnh hơn

Qua đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn giáo viên tổ Hóa và học sinh trường THPT Mỹ Lộc - Nam Định đã tạo điều kiện cho tôi làm thực nghiệm

sư phạm

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, ủng hộ

và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm khóa luận này

Hà Nội, Ngày 08 tháng 05 năm 2012

Sinh viên

Nguyễn Thanh Phương

Trang 4

MỤC LỤC

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

I Lí do chọn đề tài 1

II Mục đích, nhiệm vụ của đề tài 2

1 Mục đích 2

2 Nhiệm vụ 2

III Giả thuyết khoa học 3

IV Giới hạn của đề tài 3

V Phương pháp nghiên cứu 3

1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết 3

2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3

3 Phương pháp thống kê toán học 4

Phần 2: NỘI DUNG 5

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học 5

1.1.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học 5

1.1.1.1 Sự phát triển của xã hội, kinh tế đòi hỏi sự đổi mới giáo dục 5

1.1.1.2 Đặc điểm tâm - sinh lí của người học đòi hỏi sự đổi mới giáo dục 7

1.1.2 Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học 8

1.2 Phương pháp dạy học tích cực 8

1.2.1 Tính tích cực và tính tích cực học tập 9

1.2.2 Phương pháp dạy học tích cực và những dấu hiệu đặc trưng 10

1.2.2.1 Phương pháp dạy học tích cực là gì? 10

1.2.2.2 Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực 11

Trang 5

1.2.3 Những phương pháp dạy học tích cực cần được phát triển ở trường

phổ thông 14

1.2.3.1 Phương pháp trực quan 15

1.2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 15

1.2.3.3 Phương pháp thực hành 16

1.2.3.4 Phương pháp đàm thoại tìm tòi 17

1.2.3.5 Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề 17

1.2.3.6 Phương pháp dạy học theo nhóm nhỏ 18

1.2.3.7 Phương pháp dạy học theo dự án 19

1.2.3.8 Phương pháp dạy học theo hợp đồng 20

1.2.3.9 Phương pháp dạy học theo góc 21

1.3 Phương pháp dạy học theo hợp đồng 22

1.3.1 Khái niệm 22

1.3.2 Bản chất của phương pháp dạy học theo hợp đồng 23

1.3.3 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học theo hợp đồng 23

1.3.4 Một số chú ý khi sử dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng 25

1.4 Phương pháp dạy học theo góc 26

1.4.1 Khái niệm 26

1.4.2 Bản chất của phương pháp dạy học theo góc 27

1.4.3 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học theo góc 27

1.4.4 Một số chú ý khi sử dụng phương pháp dạy học theo góc 28

1.5 Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng và dạy học theo góc ở trường phổ thông 29

Chương 2: ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HỢP ĐỒNG VÀ DẠY HỌC THEO GÓC TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “NHÓM HALOGEN”- HÓA HỌC 10 CƠ BẢN 32

2.1 Phân tích đặc điểm nội dung kiến thức chương “Nhóm halogen”- Hóa học 10 cơ bản 32

Trang 6

2.1.1 Vị trí của chương 32 2.1.2 Đặc điểm về nội dung của chương 32 2.2 Áp dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng trong dạy học chương

“Nhóm halogen” - Hóa học 10 cơ bản 34 2.2.1 Quy tắc lựa chọn nội dung kiến thức có thể áp dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng 34 2.2.2 Quy trình thiết kế kế hoạch bài học 35 2.2.3 Cách tổ chức dạy học theo hợp đồng 39 2.2.4 Điều kiện để thực hiện có hiệu quả phương pháp dạy học theo hợp đồng 42 2.2.5 Áp dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng thiết kế hoạt động dạy học của một số bài chương “Nhóm halogen” - Hóa học 10 cơ bản 43 2.2.5.1 Giáo án: Bài 21: Khái quát về nhóm halogen 43 2.2.5.2 Giáo án: Bài 26: Luyện tập nhóm halogen 48 2.3 Áp dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học chương “Nhóm halogen” - Hóa học 10 cơ bản 55 2.3.1 Nguyên tắc lựa chọn nội dung kiến thức có thể áp dụng phương pháp dạy học theo góc 55 2.3.2 Quy trình thiết kế kế hoạch bài học 55 2.3.3 Cách tổ chức dạy học theo góc 57 2.3.4 Điều kiện để thực hiện có hiệu quả phương pháp dạy học theo góc 58 2.3.5 Áp dụng phương pháp dạy học theo góc thiết kế hoạt động dạy học của một số bài chương “Nhóm halogen” - Hóa học 10 cơ bản 58 2.3.5.1 Giáo án: Bài 22: Clo 59 2.3.5.2 Giáo án: Bài 23: Hiđro clorua- Axit clohiđric và muối clorua .62 Chương 3: THỰC NHIỆM SƯ PHẠM 66

Trang 7

3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 66

3.3 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm sư phạm 66

3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 66

3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 69

3.6 Nhận xét về kết quả thực nghiệm sư phạm 71

Phần 3: KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHỤ LỤC 75

Phụ lục 1: Các nhiệm vụ, phiếu hỗ trợ và đáp án cho các nhiệm vụ trong các bài dạy thực nghiệm 75

Phụ lục 2: Đề kiểm tra 92

Phụ lục 3: Kết quả kiểm tra và bảng xử lí số liệu tron

Phần 1: MỞ ĐẦU

I Lí do chọn đề tài

Đất nước ta đang trong giai đoạn đổi mới, giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa để trở thành một nước công nghiệp, hội nhập với khu vực và thế giới Do vậy nhiệm vụ hàng đầu đặt ra cho ngành giáo dục và đào tạo là xây dựng một nền giáo dục Việt Nam hiện đại, khoa học, dân tộc, làm nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thích hợp với nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, hướng tới một xã hội học tập, có khả năng hội nhập quốc tế, nền giáo dục này phải đào tạo ra những con người Việt Nam có năng lực tư duy độc lập và sáng tạo, có khả năng thích ứng, hợp tác và năng lực giải quyết vấn đề, có kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp Để đạt được điều đó thì cần có sự chuyển biến cơ bản toàn diện, mạnh mẽ trong việc đổi mới giáo dục (GD) và đào tạo (ĐT)

Trang 8

Do đó ngành giáo dục và đào tạo nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện về mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học (PPDH) ở các cấp học và ngành học

Định hướng đổi mới giáo dục đã được xác định trong dự thảo chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020, đại hội X và đại hội XI được thể chế hóa trong các chỉ thị của Bộ giáo dục và đào tạo

Đại hội Đảng X chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ PPGD, phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học, khắc phục lối truyền thụ một chiều” [11]

Đại hội Đảng XI đã nêu: “Đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học theo định hướng coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh” [11]

Luật GD điều 28.2 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng cấp học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú cho học sinh” [11]

Như vậy, điểm cốt lõi của việc đổi mới PPDH ở trường trung học phổ thông (THPT) là thay đổi PPDH theo hướng dạy học tích cực nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn thói quen và khả năng tự học cho học sinh

PPDH theo hợp đồng và PPDH theo góc là một trong nhiều nội dung về dạy và học tích cực trong khuôn khổ của Dự án giáo dục Việt - Bỉ, đang triển khai có hiệu quả ở 14 tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam trong tất cả các môn học, nội dung của các PPDH sẽ triển khai tiếp trên phạm vi toàn quốc tới các đối tượng dạy - học Tuy nhiên việc tiếp cận với các phương pháp này còn hạn chế, những phương pháp này chưa phát huy được hết tác dụng của nó

Trang 9

Hóa học là một môn khoa học có sự kết hợp chặt chẽ giữa thực nghiệm

và lí thuyết nên đòi hỏi HS phải có khả năng tự khám phá, tìm tòi chiếm lĩnh tri thức

Chính vì những lí do trên và mong muốn được tìm hiểu, nắm vững nét đặc thù về các phương pháp trên và để vận dụng trong hoạt động dạy học với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn hóa học tôi chọn đề

tài: “Nghiên cứu áp dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng và dạy học theo góc trong dạy học chương “Nhóm halogen” – Hóa học 10 cơ bản”

II Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

1 Mục đích

Nghiên cứu cơ sở lí luận PPDH theo hợp đồng, dạy học theo góc, từ đó xem xét khả năng áp dụng các PPDH này trong dạy học “Nhóm halogen”- Hóa học 10 cơ bản nhằm tích cực hóa hoạt động của HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường THPT

2 Nhiệm vụ

- Nghiên cứu xu hướng đổi mới PPDH

- Nghiên cứu cơ sở luận của PPDH tích cực, PPDH theo hợp đồng và PPDH theo góc

- Từ cơ sở lí luận tìm ra các nguyên tắc áp dụng, xây dựng, tổ chức dạy học theo hợp đồng, dạy học theo góc

- Sử dụng PPDH theo hợp đồng, PPDH theo góc Thiết kế hoạt động dạy học một số nội dung trong chương “Nhóm halogen” - Hóa học 10 cơ bản

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm: Dạy một số bài trong chương nhóm halogen đã thiết kế, kiểm tra, chấm bài kiểm tra, phát phiếu thăm dò, phân tích, đánh giá các số liệu thực nghiệm

III Giả thuyết khoa học

Nếu áp dụng PPDH theo hợp đồng, PPDH theo góc một cách hợp lí, có phối hợp với các PPDH tích cực khác sẽ góp phần tích cực hóa hoạt động của

Trang 10

HS, giúp HS chủ động, sáng tạo chiếm lĩnh tri thức mới, hình thành các kĩ năng Từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học hóa học ở trường THPT

IV Giới hạn của đề tài

Nghiên cứu áp dụng PPDH theo hợp đồng, PPDH theo góc trong dạy học chương “ Nhóm halogen”- Hóa học 10 cơ bản

V Phương pháp nghiên cứu

1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Phân tích, tổng hợp tài liệu

2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát: Tham gia dự giờ các tiết học của giáo viên hóa học có kinh nghiệm trong đó có sử dụng PPDH theo hợp đồng, PPDH theo góc phối hợp với các PPDH tích cực khác

- Phương pháp phỏng vấn, phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia: Tham khảo ý kiến của một số giáo viên có kinh nghiệm

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Dạy một số tiết học trong chương

“Nhóm halogen” - Hóa học 10 cơ bản có sử dụng PPDH theo hợp đồng, PPDH theo góc kết hợp với một số PPDH tích cực khác

3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục để đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm

Trang 11

Phần 2: NỘI DUNG

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học

1.1.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học

1.1.1.1 Sự phát triển của xã hội, kinh tế đòi hỏi sự đổi mới giáo dục [8][11]

Hiện nay, nước ta đang trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa phấn đấu đến năm 2020 về cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại

Để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đòi hỏi đất nước cần có nguồn nhân lực có trình độ học vấn rộng, có thể thực hiện được nhiều nhiệm vụ và chuyên môn hóa nhằm đảm bảo chất lượng công việc với hiệu quả cao

Muốn đáp ứng được yêu cầu trên, người lao động phải năng động, sáng tạo, có kiến thức và kĩ năng mang tính chuyên nghiệp, sẵn sàng gánh vác trách nhiệm Những phẩm chất đó không phải có sẵn ở mỗi người mà nó được hình thành và phát triển trong quá trình giáo dục Như vậy, đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho phát triển

Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, tri thức không còn là tài sản riêng của trường học Tri thức là yếu tố kiến tạo nên xã hội hiện đại, xã hội tri thức Vậy thế nào là xã hội tri thức?

Xã hội tri thức là xã hội trong đó khoa học công nghệ đóng vai trò là lực lượng sản xuất trực tiếp Xã hội tri thức được đặc trưng bởi các đặc điểm sau:

- Tri thức là yếu tố then chốt của lực lượng kiến tạo xã hội hiện đại, lực lượng sản xuất và tăng trưởng kinh tế

- Thông tin và tri thức tăng lên nhanh chóng và kéo theo sự lạc hậu nhanh của tri thức và công nghệ cũ

Trang 12

- Sự trao đổi thông tin và tri thức được toàn cầu hóa nhờ sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

- Cơ cấu xã hội thay đổi theo hướng đa dạng và linh hoạt

- Tổ chức và tính chất lao động nghề nghiệp được thay đổi, người lao động luôn phải thích nghi với những tri thức mới, công nghệ mới

- Con người là yếu tố trung tâm trong xã hội tri thức, là chủ thể kiến tạo

đã đặt ra cho giáo dục những yêu cầu cơ bản cần đạt được, cụ thể là:

- Giáo dục cần giải quyết mâu thuẫn: Tri thức ngày càng tăng nhanh mà thời gian thì có hạn nên luôn có sự đòi hỏi đổi mới nội dung và đổi mới PPDH chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học

- Giáo dục cần đào tạo con người đáp ứng đòi hỏi của thị trường lao động và nghề nghiệp cũng như cuộc sống, có khả năng hòa nhập và cạnh tranh quốc tế

- Các phẩm chất của con người lao động mà giáo dục đào tạo cần đặc biệt chú ý là: Năng lực hành động, tính tự lực và trách nhiệm, năng lực cộng tác làm việc, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, khả năng học tập suốt đời

Như vậy, sự phát triển của xã hội tri thức đã đặt ra yêu cầu đổi mới giáo dục để phù hợp với xu thế chung của sự phát triển mọi mặt của đất nước, bắt kịp với xu hướng phát triển mang tính toàn cầu của thế giới

Trang 13

Từ các yêu cầu trên mà giáo dục nước ta xác định cần có sự đổi mới toàn diện về mục tiêu, nội dung, PPDH, phương tiện hình thức tổ chức dạy học

1.1.1.2 Đặc điểm tâm - sinh lý của người học đòi hỏi sự đổi mới giáo dục [8]

Ngày nay cùng với sự phát triển của xã hội công nghệ thông tin cũng ảnh hưởng tới cuộc sống xã hội của HS Công nghệ thông tin không chỉ có chức năng cung cấp thông tin mà nó còn là công cụ hỗ trợ tích cực trong dạy

và học, là phương tiện dạy học hiện đại, hữu ích và hiệu quả

HS ngày nay thu lượm thông tin rất nhanh và chia sẻ thông tin trong xã hội với tốc độ chóng mặt, mỗi HS có khả năng tìm kiếm thông tin theo cách khác nhau Việc sử dụng công nghệ mới khiến trẻ có khả năng giải quyết vấn

đề và xử lý nhiều thông tin trong một lúc Đây là đặc điểm khác biệt của HS Việt Nam ngày nay với HS Việt Nam cách đây vài thập kỷ Những nghiên cứu được thực hiện ở nhiều quốc gia trong một phần tư thế kỷ qua chứng minh rằng mỗi HS đều có cách học theo sở thích riêng hay còn gọi là phong cách học Có HS thích học theo cách nghiên cứu tài liệu, phân tích dựa trên lý thuyết, có HS thích học qua trải nghiệm, khám phá, làm thử, có HS thích học qua thực hành, áp dụng, có HS thích học qua quan sát…

Trong dạy học nếu không quan tâm đến đặc điểm của người học, GV truyền thụ một chiều, dạy kiến thức mang tính thông báo đồng loạt thì sẽ hạn chế khả năng tiếp thu của người học, người học hoàn toàn thụ động trong việc lĩnh hội kiến thức đồng thời cũng sẽ thụ động trước những thách thức khó khăn của cuộc sống Chính vì vậy, một trong các yếu tố quan trọng là cần quan tâm đến đặc điểm của người học hay nói cách khác là phong cách của người học Đó chính là yếu tố thúc đẩy sự phát triển tối đa năng lực của người học

Trang 14

Ở mỗi quốc gia, mục tiêu giáo dục thường được thay đổi trong từng giai đoạn phát tiển Ở nước ta, mục tiêu giáo dục với quan điểm toàn diện, chú trọng bốn mặt: trí, đức, thể, mĩ nhằm đào tạo những người lao động mới

có khả năng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Do đó, việc thay đổi mục tiêu giáo dục cần phải có những PPDH phù hợp để đạt được mục tiêu

đó

1.1.2 Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học

Với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực và xu thế hội nhập quốc tế hiện nay thì đổi mới dạy học theo các hướng sau:

- Cải tiến hoàn thiện các PPDH đang sử dụng để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học

- Bổ sung, phối hợp nhiều PPDH để khắc phục hạn chế của các PPDH đang sử dụng nhằm đạt được mục tiêu dạy học đề ra

- Thay đổi PPDH đang sử dụng bằng PPDH mới tối ưu, kết hợp với việc sử dụng phương tiện truyền thông đa phương tiện, từ đó hình thành nên các “kiểu” dạy - học mới với mong muốn đem lại hiệu quả cao hơn

Định hướng đổi mới giáo dục đã được pháp chế trong luật giáo dục Phương hướng đổi mới được cô đọng ở hai nội dung sau:

- Đổi mới giáo dục hướng đến việc phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo trong nhận thức học tập của HS Phát huy tính tích cực học tập của học sinh là nguyên tắc nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học

- Trong dạy học, HS được coi là chủ thể hoạt động, GV là người tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ HS trong quá trình tìm tòi thu thập kiến thức

Nguyên tắc này đã được nghiên cứu, phát triển trên thế giới và được xác định là một trong những phương hướng đổi mới giáo dục phổ thông Việt Nam

Trang 15

1.2.1 Tính tích cực và tính tích cực học tập

Tính tích cực là một phẩm chất của con người trong đời sống xã hội Con người luôn sáng tạo trong công việc để tạo ra những của cải vật chất nhằm nâng cao chất lượng đời sống xã hội mà không chỉ tiếp nhận những gì

có sẵn trong tự nhiên

Như vậy, tính tích cực là điều kiện, là kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục

Tính tích cực học tập thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Tính tích cực học tập ở HS được biểu hiện ở những dấu hiệu như: Hăng hái trả lời các câu hỏi của GV, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra, hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa hiểu rõ, chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới, tập trung chú ý vào vấn đề đang học, kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước các tình huống khó khăn…

Tính tích cực học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp lên cao như:

- Bắt chước: Gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy của bạn…

- Tìm tòi: Độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau về một số vấn đề…

- Sáng tạo: Tìm ra cách giải quyết vấn đề mới, độc đáo, hữu hiệu

Mục đích cuối cùng của quá trình dạy học là để người học vươn tới mức độ cao nhất của tính tích cực học tập, đó là sáng tạo

Nếu học tập tích cực đến một trình độ nào đó thì học tập sẽ mang tính nghiên cứu khoa học và người học có thể phát hiện ra những tri thức mới cho khoa học

Hình thành và phát triển tính tích cực học tập nói riêng và tính tích cực

xã hội nói chung là một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục nước nhà Để đạt được những điều ấy, không ai hết chính là người thầy, người dạy

Trang 16

phải có những PPDH phù hợp phát huy được hết tính tích cực, sáng tạo chủ động của HS

1.2.2 Phương pháp dạy học tích cực và những dấu hiệu đặc trưng

1.2.2.1 Phương pháp dạy học tích cực là gì?

Phương pháp dạy học tính cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những PPDH, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hoá, tích cực hoá hoạt động nhận thức của người học Trong đó, các hoạt động học tập được tổ chức, được định hướng bởi GV, người học không thụ động, chờ đợi mà tự lực, tích cực tham gia vào quá trình tìm kiếm, khám phá, phát hiện kiến thức, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong thực tiễn, qua đó lĩnh hội nội dung học tập và năng lực sáng tạo

Trong dạy và học tích cực, hoạt động học tập được thực hiện trên cơ sở hợp tác và giao tiếp ở mức độ cao Phương pháp dạy và học tích cực đem lại cho người học hứng thú, niềm vui trong học tập Việc học đối với HS đã trở thành niềm hạnh phúc sẽ giúp các em tự khẳng định mình và nuôi dưỡng lòng khát khao sáng tạo

Bản chất của dạy và học tích cực là:

- Khai thác động lực học tập ở người học để phát triển chính họ

- Coi trọng lợi ích, nhu cầu của cá nhân để chuẩn bị tốt nhất cho họ thích ứng với đời sống xã hội

Trong bối cảnh của thời kỳ đổi mới, giáo dục cần phải phát triển để đáp ứng yêu cầu của xã hội, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các tiêu chí quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy và học như sau:

- Tiêu chí hàng đầu của việc dạy và học là dạy cách học

- Phẩm chất cần phát huy mạnh mẽ là tính chủ động của người học

- Công cụ cần khai thác triệt để là công nghệ thông tin và đa phương

Trang 17

1.2.2.2 Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực

a Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh

Trong PPDH tích cực, người học - đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được GV sắp đặt

Hoạt động học tập của HS được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn

đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp “thu nhận” kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo Như vậy theo hướng này GV không chỉ truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn, tổ chức điều khiển hoạt động nhận thức ở HS Chương trình dạy học phải giúp cho từng HS biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động

b Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

Để đạt được mục tiêu này người GV phải dạy cho HS phương pháp học tập thế nào cho tốt, cốt lõi của phương pháp học đó chính là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người

ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường THPT, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của GV Điều này rất quan trọng vì con người cần phải học tập suốt đời

c Tăng cường học tập cá nhân, phối hợp với học tập hợp tác

Trang 18

Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, khả năng tư duy của HS không thể đồng đều tuyệt đối, luôn có những mức độ khác nhau thì khi áp dụng PPDH tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hoá về cường độ, tiến độ làm việc, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi các công tác độc lập Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng rõ rệt Do đó đòi hỏi mỗi cá nhân HS phải thực sự cố gắng, tự giác, nỗ lực đánh giá đúng mức tư duy của bản thân để hoạt động cá thể đạt hiệu quả tốt

Tuy nhiên, trong học tập không phải mọi kiến thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá thể Có những nhiệm

vụ sẽ gặp khó khăn khi giải quyết đơn lẻ Bởi vậy, những nhiệm vụ đó nên đưa ra thảo luận trước cả lớp Thông qua thảo luận, tranh luận trước lớp, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập

Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác chính là một PPDH tích cực tiêu biểu cho đặc trưng thứ ba này Phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, đặc biệt là giải những quyết vấn đề phức tạp, lúc cần phối hợp thực sự giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung

Hiện nay, nền kinh tế thị trường đang phát triển mạnh mẽ, đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia, năng lực hợp tác phải trở thành mục tiêu giáo dục mà nhà trường cần chuẩn bị cho HS

d Dạy và học chú trọng đến sự quan tâm và hứng thú của học sinh

Theo dấu hiệu này của dạy và học tích cực, dưới sự hướng dẫn của

Trang 19

tiến hành nghiên cứu giải quyết vấn đề và trình bày kết quả Đó là đặc trưng lấy HS làm trung tâm Việc nghiên cứu có thể tiến hành theo cá nhân hoặc nhóm nhỏ

Dạy và học chú trọng đến sự quan tâm và hứng thú của HS, nhu cầu lợi ích của xã hội nhằm phát huy cao độ tính tích cực, tự lực, rèn luyện cho HS cách làm việc độc lập, phát triển tư duy sáng tạo, kĩ năng tổ chức công việc, trình bày kết quả

Nhấn mạnh đến sự quan tâm, hứng thú cũng như lợi ích của người học,

GV cần thiết kế các tình huống học tập sao cho kích thích lôi cuốn được sự tham gia tích cực của người học và đảm bảo nguyên tắc phân hoá trong dạy học

e Kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò

Trong dạy học thụ động đánh giá là nhiệm vụ của GV, HS là đối tượng được đánh giá Đánh giá tập trung vào kết quả học tập của HS qua điểm của các bài kiểm tra, thi cử Cách đánh giá như vậy dẫn đến cách học thụ động, học “vẹt”, học “tủ” đối phó với kiểm tra, thi cử dẫn đến kết quả giáo dục yếu kém không đáp ứng được yêu cầu của xã hội

Trong dạy và học tích cực, đánh giá không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học tập của HS mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và hoạt động dạy của GV

Tự đánh giá là một hình thức đánh giá mà HS tự liên hệ phần nhiệm vụ

đã thực hiện với mục tiêu của quá trình học tập HS sẽ học cách đánh giá các

nỗ lực và tiến bộ, nhìn lại quá trình và phát hiện những điểm cần thay đổi để hoàn thiện bản thân Tự đánh giá không chỉ đơn thuần là tự mình cho điểm số

mà là đánh giá những nỗ lực, quá trình và kết quả, mức độ cao hơn là HS có thể phản hồi lại quá trình học của mình Qua các tiêu chí đánh giá, HS nhìn lại quá trình học tập của mình và biết được mức độ hoàn thành đã đạt yêu cầu chưa Tự đánh giá giúp HS trở nên ý thức hơn về quá trình học tập, đồng thời

Trang 20

cũng ý thức rõ hơn về điểm mạnh, điểm yếu và cách học của mình để tiến bộ trong giai đoạn sau

Như vậy tự đánh giá giữ vai trò quan trọng trong quá trình đánh giá vì

tự đánh giá là người học tự xem xét lại quá trình, kết quả học tập của mình, để

tự điều chỉnh cách học, xác định động cơ học tập và lập kế hoạch để tự nâng cao kết quả học tập Tự đánh giá và điều chỉnh kịp thời là năng lực cần thiết cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS Đây cũng chính là sự khác biệt giữa dạy học tích cực và dạy học thụ động

Cùng với tự đánh giá, GV cũng cần tổ chức cho HS đánh giá lẫn nhau hay còn gọi là đánh giá “đồng đẳng” Đánh giá đồng đẳng là một quá trình trong đó các nhóm HS cùng độ tuổi hoặc cùng lớp sẽ đánh giá kết quả học tập lẫn nhau Phương pháp đánh giá này không chỉ được dùng như một biện pháp đánh giá kết quả, mà chủ yếu dùng để hỗ trợ HS trong quá trình học Như vậy, đánh giá đồng đẳng không chỉ giúp HS đánh giá kết quả học tập của bạn

mà thông qua đó còn có sự so sánh nhìn nhận lại kết quả của chính mình, từ

đó có sự điều chỉnh cách giải quyết vấn đề, cách học chia sẻ kinh nghiệm của mình và của bạn, thúc đẩy kết quả học tập ngày một tốt hơn

Kết quả đánh giá của thầy và đánh giá của trò không những giúp HS nhìn nhận chính mình để điều chỉnh cách học mà GV cũng có điều kiện nhìn nhận chính mình để điều chỉnh cách dạy

Dạy học tích cực nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo người lao động năng động, sáng tạo thích nghi với mọi hoàn cảnh trong đời sống xã hội Do vậy, kiểm tra đánh giá không chỉ dừng ở yêu cầu ghi nhớ tái hiện kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải phát triển ở người học tư duy logic, tư duy phê phán, khả năng phân tích, tổng hợp, đánh giá, giải quyết các vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đặt ra

1.2.3 Những phương pháp dạy học tích cực cần được phát triển ở

Trang 21

Thực hiện dạy học tích cực không có nghĩa là phải gạt bỏ những phương pháp truyền thống mà phải biết kết hợp các phương pháp truyền thống với các phương pháp khác một cách phù hợp, có kế thừa các mặt mạnh của phương pháp truyền thống, đồng thời học hỏi, vận dụng một số phương pháp mới, phù hợp với từng hoàn cảnh Dưới đây là một số phương pháp dạy học tích cực cần được khai thác, phát triển ở trường THPT

1.2.3.1 Phương pháp trực quan

Phương pháp trực quan là PPDH trong đó GV sử dụng các đồ dùng dạy học, gọi chung là các phương tiện trực quan

Trong dạy học hoá học, thường sử dụng các phương pháp trực quan:

- Đối tượng và quá trình: Mẫu các chất, dụng cụ, máy móc thiết bị, các quá trình vật lí hoá học

- Đồ dùng trực quan tạo hình: Mô hình, hình mẫu các máy móc, thiết

bị, tranh ảnh, hình vẽ, băng hình, phim giáo khoa…

- Đồ dùng trực quan tượng trưng: Biểu đồ, sơ đồ, đồ thị…

Trong nhóm các phương pháp trực quan thì phương tiện trực quan được

sử dụng làm “nguồn” chủ yếu dẫn đến kiến thức mới, lời nói của GV chỉ đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn sự tri giác các tài liệu trực quan (mẫu vật, tranh ảnh, thí nghiệm, băng hình…) và khái quát hoá các kết quả quan sát HS dùng các giác quan để tri giác tài liệu do GV trình diễn và dùng tư duy để rút ra kiến thức mới

1.2.3.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu: Trong phương pháp nghiên cứu, HS không tiếp thu kiến thức đã được chuẩn bị sẵn mà phải tự giành lấy kiến thức tư duy độc lập, tích cực, sáng tạo có tính chất sinh sản và không chỉ hướng vào việc nắm vững kiến thức mà cả phương pháp đi tới kiến thức đó

Phương pháp nghiên cứu thường được áp dụng để giúp HS phát hiện một tính chất mới, hoặc dẫn đến một khái niệm mới… gọi là phương pháp

Trang 22

nghiên cứu từng phần Nó cũng có thể áp dụng nghiên cứu một nội dung hoặc một vấn đề trọn vẹn dưới dạng một bài tập nghiên cứu

Các bước tiến hành phương pháp nghiên cứu:

- Bước 1: Đặt vấn đề, xác định mục đích nghiên cứu

- Bước 2: Lập kế hoạch nghiên cứu

- Bước 3: Thực hiện kế hoạch giải theo giả thuyết

- Bước 4: Kết luận về kết quả nghiên cứu

Muốn cho HS giành lấy kiến thức mới một cách tích cực, tự giác, tự lực cần gây được nhu cầu nhận thức, động cơ, hứng thú học tập của họ Mâu thuẫn khách quan luôn luôn chứa đựng trong các tài liệu học tập nhưng không phải bao giờ nó cũng biến thành mâu thuẫn chủ quan, nội tại của HS Muốn biến mâu thuẫn chủ quan thành mâu thuẫn nội tại ta phải dùng đến các biện pháp sư phạm Kết luận rút ra được từ sự nghiên cứu là kiến thức mới, là điều chỉ có HS chưa biết còn khoa học và GV đã biết từ lâu

1.2.3.3 Phương pháp thực hành

Phương pháp thực hành là một phương pháp quan trọng vì phương pháp này giúp cho quá trình khám phá, lĩnh hội tri thức của HS trở nên sinh động hơn, nhẹ nhàng hơn và đạt hiệu quả cao hơn

Phương pháp thực hành được thực hiện thông qua các thí nghiệm hoá học Có hai hình thức thí nghiệm hoá học:

- Thí nghiệm biểu diễn của GV: Thường được tiến hành khi dạy bài mới nhưng cũng có thể tiến hành khi ôn tập, củng cố hệ thống hoá kiến thức

- Thí nghiệm tự làm của HS: HS được tự làm thí nghiệm trong các bài thực hành, nhưng cũng có thể được làm khi học bài mới hoặc khi ôn tập, củng

cố hệ thống hoá kiến thức

Thí nghiệm làm cho HS dễ hiểu, hiểu chính xác, hiểu sâu nhớ lâu, và vận dụng tốt các kiến thức hoá học Nó giúp HS có lòng tin vào khoa học,

Trang 23

kích thích hứng thú học tập bộ môn, tạo ra động cơ và thái độ học tập tích cực, đúng đắn Như vậy, thí nghiệm là cầu nối giữa lí thuyết và thực hành

1.2.3.4 Phương pháp đàm thoại tìm tòi

Đàm thoại là phương pháp trong đó GV đặt ra những câu hỏi để HS trả lời, hoặc có thể tranh luận với nhau và với cả GV qua đó HS lĩnh hội được nội dung bài học Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt 3 phương pháp vấn đáp:

- Đàm thoại tái hiện: Là phương pháp GV đặt câu hỏi chỉ yêu cầu HS nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận

- Đàm thoại giải thích minh hoạ: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó, GV lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để

HS dễ hiểu, dễ nhớ

- Đàm thoại tìm tòi (đàm thoại ơrixtic): GV dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lí để hướng HS từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết

GV tổ chức thảo luận ý kiến - kể cả tranh luận - giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định Trong đó, GV giống như người hướng dẫn, tổ chức sự tìm tòi còn HS giống như người tự lực hoạt động tìm ra kiến thức mới

Trong ba dạng đàm thoại trên thì phương pháp đàm thoại tìm tòi là phương pháp có hiệu quả cao nhất Nhưng hiện nay đa số GV phổ thông chỉ dừng lại ở hai phương pháp đàm thoại tái hiện và đàm thoại giải thích minh hoạ do phương pháp đàm thoại tìm tòi đòi hỏi rất nhiều kĩ năng ở GV và HS

và cơ sở vật chất Do đó, GV cần khắc phục và sử dụng phương pháp này nhiều hơn nữa để HS có cơ hội tìm tòi, phát triển tư duy để tìm ra tri thức mới một cách tích cực

1.2.3.5 Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề

Trang 24

Trong một xã hội đang phát triển nhanh, cạnh tranh gay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lí những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống Vì vậy cần dạy cho HS biết phát hiện, đặt ra và giải quyết các vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống Chính những tình huống có vấn đề làm nảy sinh ở người học động

Giải quyết vấn đề

Kết luận Đánh giá

1.2.3.6 Phương pháp dạy học theo nhóm nhỏ

Trong dạy học theo nhóm nhỏ, GV tổ chức cho HS hoạt động trong những nhóm nhỏ để HS cùng thực hiện một nhiệm vụ nhất định trong một thời gian nhất định Trong nhóm, dưới sự chỉ đạo của nhóm trưởng, HS kết hợp giữa làm việc cá nhân, làm việc theo cặp, chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác cùng nhau để giải quyết nhiệm vụ được giao

Trang 25

Những nhiệm vụ học tập giao cho HS cần khuyến khích sự phối hợp của các thành viên trong nhóm Cần hình thành thói quen cho HS Trong dạy học theo nhóm nhỏ, HS học cách chia sẻ, giúp đỡ tôn trọng lẫn nhau, tăng cường sự tham gia và nâng cao hiệu quả học tập

PPDH theo nhóm nhỏ là một trong các phương pháp dạy học tích cực mang lại hiệu quả cao và đã được sử dụng rất nhiều trong dạy học ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phương Tây Ở Việt Nam, đây là một trong các PPDH tích cực cần được phát triển theo định hướng đổi mới PPDH

1.2.3.7 Phương pháp dạy học theo dự án

Học theo dự án là một hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho HS tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống

Trong dạy học theo dự án, các hoạt động học tập được thiết kế mang tính thiết thực, liên quan đến nhiều kiến thức, lấy người học làm trung tâm và gắn kiến thức nhà trường với những vấn đề thực tiễn của thế giới thực tại Xuất phát từ nội dung học, GV đưa ra một chủ đề với những gợi ý hấp dẫn kích thích người học tham gia thực hiện Dự án là một bài tập tình huống mà người học phải giải quyết bằng các kiến thức theo nội dung bài học Học theo tình huống đặt người học vào tình huống có vấn đề nhưng việc giải quyết có vấn đề đòi hỏi sự tự lực cao của người học Khi người học được tự lựa chọn nội dung, tiểu chủ đề và tự đặt ra vấn đề cần tìm hiểu nghiên cứu người học sẽ hoàn toàn chủ động tích cực trong công việc lập kế hoạch nghiên cứu, tìm kiếm, tổng hợp, xử lí thông tin để giải quyết vấn đề được đặt ra

Đặc điểm của dạy học dự án:

- Định hướng hành động: Hoạt động thi hành có tính chất nhiệm vụ

- Định hướng người học: Người học tham gia các giai đoạn dạy học, cả việc lựa chọn nhiệm vụ làm việc theo nhóm

- Mang tính tích hợp: Nhiệm vụ phức hợp, gắn với thực tiễn

Trang 26

- Định hướng kết quả: Kết quả dự án là sản phẩm hoặc hoạt động cụ thể

- Mở rộng kinh nghiệm: Đánh giá theo kết quả dự án

Với những đặc điểm này, phương pháp dự án luôn gắn liền với hoạt động nhóm, nhóm trở thành một phần không thể thiếu, là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của phương pháp này Môn hoá học là môn mang tính thực tiễn cao, gắn liền với môi trường cao, với ngành công nghiệp hoá chất…, trên

cơ sở đó, môn hoá học cho phép sử dụng phương pháp dự án kết hợp với các PPDH tích cực khác để nâng cao hiệu quả trong quá trình dạy học

1.2.3.8 Phương pháp dạy học theo hợp đồng

Học theo hợp đồng là cách tổ chức học tập, trong đó người học làm việc theo một gói các nhiệm vụ trong một khoảng thời gian nhất định Học theo hợp đồng cho phép phân hóa trình độ người học, tạo điều kiện cho người học thực hiện nhiệm vụ và có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ theo khả năng phù hợp với trình độ phát triển của cá nhân người học Người dạy, xây dựng nội dung học tập theo hình thức phiếu học tập - hợp đồng có cam kết, gồm các nhiệm vụ bắt buộc (theo chuẩn kiến thức, kỹ năng) và nhiệm vụ tự chọn (nội dung mở rộng và nâng cao) nhằm phát huy tính sáng tạo và khả năng tự học của HS Học theo hợp đồng hướng tới củng cố tính độc lập và tăng cường hợp tác trong học tập của người học, đồng thời tạo điều kiện cho người học được tham gia hoạt động và lựa chọn nội dung học tập đa dạng, đảm bảo học

sâu và hiệu quả

Học theo hợp đồng có thể tổ chức 2 hình thức: Hợp đồng cá nhân và hợp đồng nhóm Hợp đồng cá nhân - các cá nhân kí kết hợp đồng với người dạy Tuy nhiên, trong hợp đồng cá nhân có nhiệm vụ cá nhân và nhiệm vụ làm việc theo cặp hoặc theo nhóm, nhưng nhiệm vụ chủ yếu là cá nhân hoàn thành sau đó có sự trao đổi, kiểm tra chéo theo cặp hoặc theo nhóm Hợp

Trang 27

đồng nhóm - đại diện nhóm kí kết hợp đồng Trong hợp đồng nhóm có nhiệm

vụ cá nhân và nhiệm vụ của nhóm

Trong học theo hợp đồng các nhiệm vụ cần có đáp án và các phiếu hỗ trợ theo các mức độ khác nhau để người học thực hiện đáp ứng các trình độ, khả năng thực hiện nhiệm vụ Đáp án và phiếu hỗ trợ chỉ cho phép người học nhận khi đã hoàn thành gói hợp đồng theo kí kết để đối chiếu, so sánh, trao đổi và đánh giá kết quả nhiệm vụ

Học theo hợp đồng trong dạy học hoá học sẽ khuyến khích được năng lực, sở trường và hứng thú học tập của từng cá nhân trong các nhiệm vụ học tập cụ thể Điều này sẽ tránh sự gò bó, rập khuôn, máy móc trong học tập, đảm bảo cho người học phát huy được năng lực phù hợp với khả năng, nhận thức của cá nhân

1.2.3.9 Phương pháp dạy học theo góc

Học theo góc là một hình thức tổ chức hoạt động học tập theo đó người

học thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại vị trí cụ thể trong không gian lớp học, đáp ứng nhiều phong cách học khác nhau Học theo góc người học được lựa chọn hoạt động và phong cách học: Cơ hội “Khám phá”, “Thực hành”; cơ hội mở rộng, phát triển, sáng tạo, cơ hội đọc hiểu các nhiệm vụ và hướng dẫn bằng văn bản của người dạy, cơ hội cá nhân tự áp dụng và trải nghiệm Do vậy, học theo góc kích thích người học tích cực thông qua hoạt động Mở rộng sự tham gia, nâng cao hứng thú và cảm giác thoải mái, đảm bảo học sâu, hiệu quả bền vững, tương tác mang tính cá nhân cao giữa thầy và trò, tránh

tình trạng người học phải chờ đợi

Dạy học theo góc có những điểm tương đồng với dạy học theo nhóm,

theo cặp và một số phương pháp, kỹ thuật, thủ thuật dạy học khác Ưu điểm của học theo góc trong dạy học là người dạy có thể giao nhiều nhiệm vụ với các mức độ và năng lực khác nhau theo từng nội dung học tập, mỗi cá nhân tự hoàn thành nhiệm vụ với sự tương tác của người dạy và thành viên trong

Trang 28

nhóm Mỗi góc phải chuẩn bị đầy đủ các phương tiện đáp ứng nội dung học tập và nhiệm vụ các góc cùng hướng tới mục tiêu bài học Dạy học theo góc

có thể áp dụng ở hầu hết các dạng bài học và các bài tập tích hợp kiến thức nhiều môn học

1.3 Phương pháp dạy học theo hợp đồng [3][8]

1.3.1 Khái niệm

Học theo hợp đồng là một hoạt động học tập trong đó mỗi HS được giao một hợp đồng trọn gói bao gồm các nhiệm vụ hay bài tập bắt buộc và tự chọn trong một khoảng thời gian nhất định HS chủ động và độc lập quyết định về thời gian cho mỗi nhiệm vụ hay bài tập và thứ tự thực hiện các nhiệm

vụ hay bài tập đó theo khả năng của mình

Trong học theo hợp đồng: GV là người thiết kế xây dựng các nhiệm vụ trong hợp đồng, tổ chức hướng dẫn HS nghiên cứu hợp đồng, kí kết hợp đồng

và thực hiện hợp đồng theo năng lực, trình độ và nhịp độ học tập của mỗi cá nhân nhằm đạt được mục tiêu dạy học

Hợp đồng là một gói các nhiệm vụ thống nhất và khả thi giữa hai bên

GV và cá nhân HS, theo đó có cam kết của HS sẽ hoàn thành nhiệm vụ trong một khoảng thời gian xác định

Mỗi HS có thể thực hiện nội dung học tập theo khả năng của mình: HS

có thể quyết định nhiệm vụ nào cần thực hiện trước và có thể dành bao nhiêu thời gian cho nhiệm vụ đó HS phải tự giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình học tập với sự hỗ trợ của GV hay HS khác

Học theo hợp đồng là một hình thức tổ chức dạy học mang tính cá thể hoá, tạo điều kiện phân hoá trình độ của HS, khuyến khích HS phát triển tối

đa năng lực học tập và tự kiểm soát, tự đánh giá kết quả học tập của mình PPDH này khác với việc dạy học mang tính đồng loạt cho toàn thể lớp học, cho phép GV có thể quản lí và kiểm soát, đánh giá được năng lực học tập của

Trang 29

mỗi HS PPDH này tạo cơ hội học tập cho tất cả HS theo trình độ, nhịp độ và theo năng lực

GV có thể chắc chắn rằng mỗi HS đã kí hợp đồng tức là đã nhận một trách nhiệm rõ ràng và sẽ hoàn thành các nhiệm vụ trong hợp đồng

1.3.2 Bản chất của phương pháp dạy học theo hợp đồng

PPDH là cách thức hoạt động của GV trong việc tổ chức chỉ đạo các hoạt động học tập nhằm giúp HS chủ động đạt các mục tiêu dạy học

PPDH theo hợp đồng là PPDH tích cực nhằm phát huy tính hoạt động cao của người học, tính nhân văn cao của giáo dục Bản chất của phương pháp

là khai thác động lực học tập của người học để phát triển chính họ, coi trọng lợi ích nhu cầu của cá nhân người học đảm bảo họ thích ứng với đời sống xã hội

Học theo hợp đồng là một hình thức tổ chức hoạt động học tập theo đó

HS được giao một tập hợp các nhiệm vụ được miêu tả cụ thể trong một văn bản chính quy theo dạng hợp đồng Trong thời khóa biểu hàng tuần, HS có một khoảng thời gian nhất định để thực hiện các nhiệm vụ của mình một cách tương đối độc lập HS sẽ là người chủ động trong từng hoạt động cần thực hiện

1.3.3 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học theo hợp đồng

a Ưu điểm

Học theo hợp đồng là một phương pháp tổ chức dạy học khác với dạy học truyền thống Thay vì GV giảng bài giao nhiệm vụ cho cả lớp cùng hoàn thành trong một thời gian quy định, HS được kí kết hoàn thành các nhiệm vụ học tập một cách chủ động, tích cực, độc lập thực hiện và có trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình Do đó, học theo hợp đồng có những

ưu điểm sau:

- Cho phép phân hoá trình độ của HS: Cá nhân HS được phép tự quyết định về thứ tự thực hiện nhiệm vụ, chọn nhiệm vụ tự chọn, thời gian thực

Trang 30

hiện… theo khả năng của mình, phù hợp với nhịp độ và trình độ phát huy tối

đa khả năng của mỗi cá nhân

- Rèn luyện khả năng làm việc độc lập của mỗi HS: HS có thể độc lập thực hiện nhiệm vụ cần hoặc không cần sự hỗ trợ của GV hoặc HS khác

- Tạo điều kiện cho HS được hỗ trợ cá nhân: Sự hỗ trợ của GV qua các phiếu hỗ trợ được xây dựng phù hợp với trình độ HS Nhu cầu hỗ trợ ít với

HS khá, nhu cầu hỗ trợ nhiều với HS yếu, kém Do đó phát huy được tính chủ động, sáng tạo của HS giỏi và tạo điều kiện cho HS yếu có cơ hội phát triển, hoàn thành nhiệm vụ học tập tốt hơn

- Hoạt động của HS đa dạng, phong phú hơn: Do hình thức nhiệm vụ

đa dạng phong phú và cách thực hiện phần lớn do HS tự quyết định tạo nên sự

đa dạng trong hoạt động của HS

- Tạo điều kiện cho HS được lựa chọn phù hợp với năng lực: HS có thể chọn nhiệm vụ tự chọn hoặc chọn mức độ trợ giúp phù hợp với năng lực của mình

- Tăng cường trách nhiệm học tập đối với HS: HS đã kí kết hợp đồng với GV nên có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ theo hợp đồng đã kí kết

- Tăng cường sự tương tác giữa HS- HS, HS- GV: GV có thời gian hỗ trợ cá nhân HS nên chắc chắn tăng cường sự tương tác giữa GV và HS HS giỏi sau khi hoàn thành nhiệm vụ của mình có thể hỗ trợ các HS yếu có nhu cầu cần sự trợ giúp

b Hạn chế

Học theo hợp đồng có những hạn chế sau:

- Cần thời gian nhất định để làm quen với phương pháp: Đây là một phương pháp mới, một cách học tập mới không giống với học tập truyền thống nên cần hướng dẫn để HS biết cách học theo hợp đồng HS cần được làm quen với cách làm việc đặc biệt là cách làm việc độc lập và thực hiện cam

Trang 31

- Không phải mọi nội dung đều có thể tổ chức học theo hợp đồng: PPDH này phù hợp với các nội dung ôn tập, luyện tập thực hành Với các bài hình thành kiến thức mới GV cần nhắc kĩ trước khi áp dụng

- Thiết kế hợp đồng học tập đòi hỏi đầu tư nhiều thời gian đối với GV nhất là GV mới bắt đầu làm quen với phương pháp này

- Đồi tượng HS có thể áp dụng phương pháp này ngay từ tiểu học trong các môn Toán, Tự nhiên - xã hội Tuy nhiên chỉ khả thi đối với HS có khả năng đọc hiểu và thực hiện các nhiệm vụ một cách tương đối độc lập

1.3.4 Một số chú ý khi sử dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng

Các PPDH có ý nghĩa to lớn trong quá trình dạy học Vì vậy, khi lựa chọn PPDH theo hợp đồng cần đảm bảo một số các nguyên tắc sau:

Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu, chương trình dạy học: Mục tiêu dạy học

là những gì HS cần đạt được khi học xong một bài, một chương hay một môn học nên khi sử dụng PPDH theo hợp đồng GV cần thiết kế hợp đồng một cách hợp lí, đưa ra các nhiệm vụ học tập thật chính xác nhằm giúp HS đạt được những mục tiêu đã đề ra hoàn thành chương trình dạy học

Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học: Khi sử dụng PPDH theo hợp đồng,

GV cần thiết kế các nhiệm vụ trong hợp đồng một cách hợp lí, khoa học, logic giúp HS lĩnh hội tri thức một cách dễ dàng, phát triển năng lực nhận thức đặc biệt là năng lực tư duy

Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống cấu trúc: Bất cứ PPDH nào cũng cần có hệ thống cấu trúc nhất định PPDH theo hợp đồng trong quá trình dạy học phản ánh hoạt động tổ chức, điều khiển của GV và cách thức tiến hành của HS Hai hoạt động này có mối quan hệ biện chứng với nhau, để đảm bảo mối quan hệ biện chứng đó, đồng thời cũng phải đảm bảo tính hệ thống cấu trúc Tính hệ thống cấu trúc được thể hiện ở quy trình thực hiện một tiết học

Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn: Thực tiễn là cơ sở, mục đích, động

cơ và là nơi kiểm nghiệm tính sát thực, khoa học, hợp lí của lí thuyết Vì vậy,

Trang 32

PPDH theo hợp đồng phải được vận dụng một cách linh hoạt, phù hợp với đặc điểm thực tiễn như những điều kiện cơ sở vật chất ở trường THPT, trình độ, đặc điểm của đội ngũ GV và năng lực của HS

Nguyên tắc bảo đảm tính toàn diện trong quy trình tổ chức dạy học theo hợp đồng Tính toàn diện thể hiện:

- Phải tác động tới tất cả các thành tố của quá trình dạy học, làm cho các thành tố ấy vận động và phát triển nhằm tạo ra hiệu quả dạy học cao trên nhiều phương tiện

- Hiệu quả về giáo dục: Phải giúp người học chủ động lĩnh hội tri thức,

kĩ năng với hiệu suất cao nhất, sâu sắc nhất đồng thời phát triển ở họ những phẩm chất trí tuệ, những kĩ năng xã hội cần thiết

- Hiệu quả kinh tế: Sử dụng phương pháp này không đòi hỏi sự đầu tư tốn kém của nhà nước nhưng góp phần đào tạo con người mới với những kĩ năng đáp ứng đòi hỏi phục vụ sự phát triển của nền kinh tế

1.4 Phương pháp dạy học theo góc [2][8]

1.4.1 Khái niệm

Học theo góc là một PPDH theo đó HS thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại các vị trí cụ thể trong không gian lớp học nhưng cùng hướng tới chiếm lĩnh một nội dung học tập theo các phong cách khác nhau

Mỗi HS thường có phong cách học khác nhau, có HS thích học qua phân tích (nghiên cứu tài liệu, đọc sách để rút ra kết luận hoặc thu nhận kiến thức), có HS thích học qua quan sát (quan sát người khác làm, quan sát hình ảnh để rút ra kết luận hoặc thu nhận kiến thức), có HS thích học qua trải nghiệm (khám phá, làm thử để rút ra kết luận), có HS thích học qua thực hành

áp dụng (học thông qua hành động để rút ra kết luận)

Học theo góc thể hiện sự đa dạng, do đó HS có sở thích và năng lực khác nhau, nhịp độ học tập và phong cách học khác nhau đều có thể tự tìm

Trang 33

cách để thích ứng và thể hiện năng lực của mình Điều này cho phép GV giải quyết vấn đề đa dạng trong hoạt động học tập của HS

Khi thực hiện nhiệm vụ tại góc, HS sẽ bị cuốn hút vào việc học tập tích cực, không chỉ với việc thực hành các nội dung học tập mà còn khám phá các

cơ hội học tập mới mẻ Việc trải nghiệm và khám phá trong học tập sẽ có nhiều cơ hội để phát huy hơn HS sẽ có cảm giác gần gũi hơn với tư liệu học tập Mỗi HS đều có cơ hội để phát triển năng lực cá nhân theo những cách khác nhau

HS được thực hành, khám phá tại các góc khác nhau với cùng một nội dung học tập giúp học sâu, học thoải mái

1.4.2 Bản chất của phương pháp dạy học theo góc

PPDH theo góc là PPDH tích cực tạo một môi trường học tập với cấu trúc được xác định cụ thể nhằm kích thích HS tích cực học thông qua hoạt động PPDH theo góc đa dạng về nội dung và hình thức hoạt động với mục đích để HS được thực hành, khám phá và trải nghiệm qua mỗi hoạt động

Đối với PPDH theo góc sẽ tạo ra môi trường học tập lành mạnh, tích cực hơn Đặc biệt, phương pháp này sẽ không bắt buộc, gò bó HS vào một khuôn khổ nhất định, mà tạo ra cho các em một không khí học tập thoải mái,

tự học hỏi, tìm tòi kiến thức của bài học theo cảm hứng thông qua các góc nhỏ Phương pháp này còn giúp cho HS hiểu bài được sâu hơn, tổng quát hơn

và nhớ bài lâu hơn

Học theo góc thể hiện sự đa dạng, do đó HS có sở thích và năng lực khác nhau, nhịp độ học tập và phong cách học khác nhau đều có thể tự tìm cách để thích ứng và thể hiện năng lực của mình Mỗi HS đều có cơ hội để phát triển năng lực cá nhân theo những cách khác nhau

1.4.3 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học theo góc

a Ưu điểm

Học theo góc có ưu thế khác biệt với các PPDH truyền thống:

Trang 34

- Tăng cường sự tham gia, nâng cao hứng thú và cảm giác thoải mái cho HS: HS được chọn góc theo sở thích và tương đối độc lập trong cách thực hiện các nhiệm vụ nên tạo được hứng thú và sự thoải mái cho HS

- HS được học sâu và hiệu quả bền vững: HS được tìm hiểu một nội dung theo các cách khác nhau: nghiên cứu lí thuyết, thí nghiệm, quan sát và

áp dụng do đó HS hiểu sâu, nhớ lâu hơn so với phương pháp thuyết trình, HS nghe GV giảng bài một cách thụ động

- Học theo góc sẽ tạo nhiều không gian hơn cho những thời điểm học tập mang tính tích cực Các nhiệm vụ và hình thức học tập được thay đổi tại các góc tạo hứng thú và kích thích tính tích cực của HS

- GV có nhiều thời gian để hỗ trợ cá nhân HS có nhiều cơ hội để trợ giúp do đó tạo ra sự tương tác tích cực giữa GV với HS, giữa HS với HS

- GV cần nhiều thời gian cho chuẩn bị: GV cần thiết kế nhiệm vụ học tập, đồ dùng phương tiện học tập cho mỗi góc

1.4.4 Một số chú ý khi sử dụng phương pháp dạy học theo góc

Khi áp dụng PPDH theo góc cần đảm bảo các tiêu chí sau:

Thứ nhất là tính phù hợp: Nhiệm vụ và cách tổ chức hoạt động học tập thực sự là phương tiện để đạt mục tiêu, tạo ra giá trị mới chứ không phải là hình thức Nhiệm vụ giàu ý nghĩa, thiết thực mang tính kích thích, thúc đẩy đối với HS

Trang 35

Thứ hai là sự tham gia: Nhiệm vụ và cách tổ chức dạy học mang lại hoạt động trí tuệ ở mức độ cao HS tham gia vào hoạt động một cách chủ động, tích cực Biết áp dụng kiến thức vào thực tế

Thứ ba là tương tác và sự đa dạng: Tương tác giữa GV và HS, HS với

HS được thúc đẩy đúng mức Tạo cơ hội cho HS áp dụng những kinh nghiệm

sinh làm trung tâm”

Trong số đó, phải kể đến một số nhà giáo dục tiến bộ đi tiên phong ở thời Hi Lạp cổ đại, thời phục hưng họ đã có những tiến bộ đề cập đến những yếu tố tích cực trong hoạt động dạy học Năm 1971, phương pháp học tập Ta- Lây- Răng ra đời rất chú trọng đến việc phát huy óc sáng tạo, cá tính độc lập suy nghĩ của HS

Đến giai đoạn thế kỉ XIII- XIX cũng có nhiều nhà giáo như: Giăng- giac- rut- xô (Pháp), Pextalozi, Disxtecvec, Usinxki, Fourrier, Cousinet, Dewey…đề cập đến việc giáo dục, giảng dạy hướng vào hoạt động tích cực, chủ động của người học

Theo nhà giáo dục Dewey thì ảnh hưởng của môi trường đến sự đào tạo của con người, từ đó phải tạo cho HS một môi trường học tập càng thoải mái,

đa phong cách, phù hợp với trình độ, nhịp độ của HS càng tốt

Trong thực tiễn dạy học ở phổ thông, dạy học theo hợp đồng và dạy học theo góc được nhiều chuyên gia như: Chuyên gia thuộc đại học Leuven- Vương quốc Bỉ, chuyên gia giáo dục của Hông Kông…nghiên cứu và áp dụng

ở nhiều quốc gia

Trang 36

Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về PPDH theo hợp đồng, PPDH theo góc của giáo sư, tiến sĩ cũng như các nhà giáo quan tâm đến các PPDH này Trong tài liệu “Dự án Việt – Bỉ” cũng đề cập đến hai phương pháp trên là hai trong các PPDH tích cực cần được phát huy ở trường phổ thông Một số luận văn thạc sĩ cũng đã nghiên cứu về hai phương pháp này Hầu hết các tác giả đều cho rằng PPDH theo góc và PPDH theo hợp đồng là PPDH tích cực, đem lại hiệu quả cao Tuy nhiên, số lượng các tác giả nghiên cứu sâu về hai phương pháp trên còn chưa nhiều và quan tâm ở những bình diện, ở những mức độ khác nhau

Trong các trường phổ thông hiện nay, đã có một số GV trên giờ lên lớp

đã cố gắng tổ chức cho HS hoạt động tích cực chiếm lĩnh kiến thức Nhìn chung, đa số GV vẫn sử dụng các phương pháp truyền thống, các phương pháp tích cực trong đó có PPDH theo hợp đồng và PPDH theo góc hầu như chưa được sử dụng hoặc nếu có thì việc sử dụng chưa được hợp lí, chưa khai thác được hiệu quả cũng như chưa phát huy được ưu điểm và khắc phục được nhược điểm của hai phương pháp này

Ngoài ra, vấn đề kết hợp các PPDH với nhau và sử dụng chúng một cách phù hợp còn chưa được quan tâm đúng mức, trong đó có cả việc kết hợp PPDH theo hợp đồng và PPDH theo góc với các PPDH khác Tình trạng này

có rất nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu do các nguyên nhân sau:

- GV chưa thực sự hiểu rõ bản chất, biện pháp và cách tổ chức các PPDH học tích cực nói chung và PPDH theo hợp đồng và PPDH theo góc nói riêng

- Một số GV năng lực, kinh nghiệm còn hạn chế hoặc chưa thực sự đầu

tư cho việc chuẩn bị kế hoạch dạy học

- Cơ sở vật chất còn hạn chế, bàn ghế chưa đồng bộ, không cơ động, không gian lớp học chật trội, phương tiện dạy học còn thiếu nhiều gây trở

Trang 37

- HS chưa thực sự yêu thích môn học, chưa có hứng thú với phương pháp mới

Thực trạng này cho thấy, phải chăng việc sử dụng các PPDH tích cực mới chỉ dừng lại ở sự biến đổi về lượng? Vậy làm thế nào để biến đổi về chất?

Đó là một vấn đề lớn đòi hỏi người GV phổ thông, những người trực tiếp vận dụng những lí luận dạy học tích cực vào công việc của mình hãy cùng chung sức vào công việc nghiên cứu cũng như sử dụng chúng, để những lí luận quý giá đó được trải nghiệm thực tế Nó đòi hỏi các em HS phải luôn luôn đào sâu tri thức để sẵn sàng tiếp nhận, hứng thú với các phương pháp mới Không chỉ những thế, nó còn đòi hỏi sự quan tâm của nhà trường, của các cấp, các ngành giáo dục, của toàn xã hội để tạo mọi điều kiện áp dụng PPDH theo hợp đồng, PPDH theo góc nói riêng và các PPDH tích cực nói chung được triệt tiêu và đạt hiệu quả cao

Trang 38

Chương 2: ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HỢP ĐỒNG VÀ DẠY HỌC THEO GÓC TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “NHÓM HALOGEN”- HÓA HỌC 10 CƠ BẢN

2.1 Phân tích đặc điểm nội dung kiến thức chương “Nhóm halogen” - Hóa học 10 cơ bản [9][10][11]

2.1.1 Vị trí của chương

Thuộc chương 5, SGK lớp 10 cơ bản Trước đó, HS đã được học các chương lí thuyết chủ đạo như: Nguyên tử, bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học và định luật tuần hoàn, liên kết hoá học, phản ứng oxi hoá - khử Nhóm halogen là nhóm nguyên tố được nghiên cứu đầu tiên sau phần lí thuyết chủ đạo

2.1.2 Đặc điểm về nội dung của chương

2.1.2.1 Phân phối chương trình

Theo chương trình hoá học lớp 10 THPT – cơ bản, chương 5: nhóm halogen có 8 bài, từ bài 21 đến bài 28 Thời lượng: 11 tiết (7 tiết lí thuyết + 2 tiết luyện tập + 2 tiết thực hành) Cụ thể như sau:

Lượng(tiết) Bài 21

Khái quát về

nhóm halogen

Vị trí, cấu hình e, cấu tạo nguyên tử của các nguyên tố, sự biến thiên tính chất vật lí, hoá học

1 tiết

Bài 22 Clo Tính chất vật lí, hoá học, ứng dụng,

điều chế, trạng thái tự nhiên 1 tiết Bài 23

oxi của clo

Sơ lược về nước gia- ven, clorua vôi

1 tiết Bài 25 Flo- Brom- Iot Trạng thái tự nhiên, tính chất vật lí, 2 tiết

Trang 39

hoá học, ứng dụng, điều chế flo, brom, iot

Bài 26 Luyện tập

Cấu tạo nguyên tử, tính chất của các đơn chất halogen

Tính chất của các hợp chất halogen Điều chế halogen

2 tiết

Bài 27 Bài thực hành Tính chất hoá học của khí clo và hợp

Bài 28 Bài thực hành Tính chất hoá học của brom, iot 1 tiết

2.1.2.2 Mục tiêu của chương

- Tính oxi hoá mạnh của các nguyên tố halogen

- Nguyên nhân làm cho các halogen có sự giống nhau về tính chất hoá học cũng như sự biến đổi có quy luật tính chất của đơn chất và hợp chất của chúng

- Nguyên tắc chung và phương pháp điều chế các halogen và một số hợp chất quan trọng

- Ứng dụng của các halogen và một số hợp chất

b Về kĩ năng: Tiếp tục hình thành và củng cố một số kĩ năng:

- Kĩ năng quan sát thí nghiệm và làm thí nghiệm

- Kĩ năng cân bằng PTHH của phản ứng oxi hoá - khử bằng phương pháp thăng bằng electron

- Rèn kĩ năng dựa vào cấu tạo phân tử để suy ra tính chất của chất

Trang 40

- Kĩ năng giải bài tập định tính và định lượng

c Về giáo dục tình cảm, thái độ

- Say mê học tập, yêu thích môn hoá học

- Ý thức bảo vệ và vận động mọi người cùng bảo vệ môi trường

2.2 Áp dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng trong dạy học chương “Nhóm halogen” - Hóa học 10 cơ bản [1] [3][8][9][10][11]

2.2.1 Nguyên tắc lựa chọn nội dung kiến thức có thể áp dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng

Giống như các PPDH khác, khi áp dụng PPDH theo hợp đồng cũng phải tuân theo các nguyên tắc chung trong dạy học như: Đảm bảo mục tiêu, chương trình môn học, đảm bảo tính khoa học, tính sư phạm, đảm bảo tính khả thi… Ngoài ra, phương pháp này còn có những đặc điểm riêng nên khi áp dụng cần tuân theo một số các nguyên tắc riêng sau:

a Nguyên tắc lựa chọn nội dung kiến thức

Trước hết, GV cần xác định nội dung nào của môn học có thể được tổ chức dạy học theo phương pháp này Để đảm bảo đúng đặc trưng của PPDH theo hợp đồng, HS được tự quyết định thứ tự thực hiện các nhiệm vụ được giao Vì vậy, các phương pháp này phù hợp với các bài ôn tập hoặc luyện tập Ngoài ra, cũng có thể áp dụng phương pháp này với các bài học kiến thức mới trong đó có thể thực hiện các nhiệm vụ không phải tuân theo thứ tự bắt buộc

Nhiệm vụ bắt buộc được xây dựng theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của bài học

Nhiệm vụ tự chọn là những nhiệm vụ mang tính chất củng cố, mở rộng, nâng cao hoặc liên hệ thực tế

b Nguyên tắc lựa chọn thời gian

Thời gian học theo hợp đồng tuỳ thuộc nội dung của bài học HS có thể thực hiện hoàn thành các nhiệm vụ bắt buộc trên lớp trong giờ học, các

Ngày đăng: 31/10/2015, 17:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  electron,  cấu - Nghiên cứu áp dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng và dạy học theo góc trong dạy học chương nhóm halogen   hoá học 10 cơ bản
nh electron, cấu (Trang 53)
Bảng báo cáo kết quả. - Nghiên cứu áp dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng và dạy học theo góc trong dạy học chương nhóm halogen   hoá học 10 cơ bản
Bảng b áo cáo kết quả (Trang 68)
Bảng báo cáo kết quả. - Nghiên cứu áp dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng và dạy học theo góc trong dạy học chương nhóm halogen   hoá học 10 cơ bản
Bảng b áo cáo kết quả (Trang 71)
Bảng 1: Bảng tổng hợp phân loại kết quả điều tra học sinh qua các bài kiểm  tra - Nghiên cứu áp dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng và dạy học theo góc trong dạy học chương nhóm halogen   hoá học 10 cơ bản
Bảng 1 Bảng tổng hợp phân loại kết quả điều tra học sinh qua các bài kiểm tra (Trang 75)
Bảng 2: So sánh điểm trung bình bài kiểm tra 15 phút giữa 2 lớp TN và ĐC - Nghiên cứu áp dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng và dạy học theo góc trong dạy học chương nhóm halogen   hoá học 10 cơ bản
Bảng 2 So sánh điểm trung bình bài kiểm tra 15 phút giữa 2 lớp TN và ĐC (Trang 75)
Bảng 3: So sánh điểm trung bình bài kiểm tra 1 tiết giữa 2 lớp TN và ĐC - Nghiên cứu áp dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng và dạy học theo góc trong dạy học chương nhóm halogen   hoá học 10 cơ bản
Bảng 3 So sánh điểm trung bình bài kiểm tra 1 tiết giữa 2 lớp TN và ĐC (Trang 76)
BẢNG TUẦN HOÀN - Nghiên cứu áp dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng và dạy học theo góc trong dạy học chương nhóm halogen   hoá học 10 cơ bản
BẢNG TUẦN HOÀN (Trang 81)
BẢNG XỬ LÍ SỐ LIỆU BÀI KIỂM TRA 15 PHÚT TRONG EXCEL - Nghiên cứu áp dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng và dạy học theo góc trong dạy học chương nhóm halogen   hoá học 10 cơ bản
15 PHÚT TRONG EXCEL (Trang 105)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w