Giai đoạn sáng tác sau năm 1978 các tác phẩm của ông chuyển sang cảm hứng thế sự, sinh hoạt đời thường, Nguyễn Khải đã đi sâu vào đời sống con người, hướng ngòi bút của mình vào đời sống
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nguyễn Khải là một trong những nhà văn lớn của văn học Việt Nam nửa sau thế kỉ XX Ông sinh ra trong một gia đình quan lại phong
kiến nhưng lại ở thân phận “vợ lẽ con thêm” mà trong xã hội trước “vợ
lẽ con thêm” là những thân phận bèo bọt, bị rẻ rúng nên ông đã sớm
nếm trải những đắng cay khi còn là một đứa trẻ Chính vì vậy trong rất nhiều tác phẩm của mình, Nguyễn Khải không ngần ngại phơi bày bản thân mình trước bạn đọc Giai đoạn sáng tác sau năm 1978 các tác phẩm của ông chuyển sang cảm hứng thế sự, sinh hoạt đời thường, Nguyễn Khải đã đi sâu vào đời sống con người, hướng ngòi bút của mình vào đời sống thế sự, nhân sinh thường ngày với những chi tiết đời thường với cái hàng ngày bình dị, từ đó nhà văn cũng bày tỏ thái độ của mình đối với cuộc đời, cuộc sống hôm nay Là nhà văn tâm huyết suốt đời trăn trở, băn khoăn như ngọn nến tự đốt thân mình, Nguyễn Khải đã có những thay đổi mạnh bắt kịp với sự đổi mới của nền văn học Bên cạnh
sự thay đổi đề tài ông còn có những khám phá sâu sắc về nghệ thuật con người Vì thế cùng với Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu… Nguyễn Khải được xem là một trong những cây bút tiên phong có đóng góp to lớn vào sự đổi mới nền văn học Việt Nam
Trước bao biến động, thay đổi của cuộc sống, những cơn lốc dữ dội của nền kinh tế thị trường đã cuốn đi nhiều nét đẹp của quá khứ và phủ dần đi những cái nhỏ bé trong cuộc sống thì Nguyễn Khải lại tìm về cái
đã qua, tìm về những cái ẩn sâu trong tâm hồn con người, tìm về với những số phận nhỏ bé, những kiếp người trong cuộc sống thường nhật
Trang 2Tập truyện Một người Hà Nội ra đời có ý nghĩa to lớn trong sự đổi mới
văn học những năm 1990, tập truyện cho người đọc thấy được những điều mới mẻ trong nghệ thuật thể hiện con người ở bề sâu, bề xa, những ngóc ngách của cuộc đời Nghiên cứu về tập truyện đặc sắc của ông, người viết mong muốn tiếp tục định vị và nhận thức sâu sắc hơn về những đóng góp nghệ thuật của nhà văn đối với nền văn học đương đại
2 Lịch sử vấn đề
Cùng với tiểu thuyết, truyện ngắn là một thể loại chiếm vị trí tiêu biểu trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khải, đặc biệt là những tác phẩm truyện ngắn sau năm 1978 Nghiên cứu về các tác phẩm của
Nguyễn Khải sau năm 1978 nói chung và tập truyện Một Người Hà Nội
nói riêng đã có những công trình nghiên cứu như :
Tác giả Bích Thu trong bài viết: Giọng điệu trần thuật trong truyện
ngắn Nguyễn Khải những năm 80 đến nay trên Tạp chí Văn học số 10,
1997 đã nêu khái quát những vấn đề có liên quan đến giọng điệu trong các sáng tác của Nguyễn Khải sau 1975, tác giả nhận định: “Trong cấu trúc các sáng tác sau năm 1975 nói chung, truyện ngắn Một người Hà Nội và Nắng chiều nói riêng, Nguyễn Khải đã có ý thức đặt nó ở những điểm nhìn khác nhau, đặt vào những cuộc thoại sinh động đã tạo nên một giọng điệu nhẹ nhàng mà dí dỏm, đôi lúc có thâm trầm, sâu lắng đọng lại trong những lời bình luận tinh tế chứa đựng nhiều ý nghĩa nhân văn”
Tác giả Nguyễn Thị Tuyết Hạnh trong bài viết: Một vài phương
pháp tiếp cận truyện ngắn sau năm 1975 trên Diễn đàn Văn học(
google.com.vn) ngày 4/3/2010 đã nghiên cứu truyện ngắn Một người
Trang 3Hà Nội ở phương diện điểm nhìn trần thuật, tác giả đã chỉ ra những
điểm nhìn khác nhau trong truyện ngắn này
Tác giả Phan Huy Dũng trong bài viết: Cảm nghĩ về truyện ngắn
Một người Hà Nội trên Diễn đàn văn học(google.com.vn) lại khai thác
truyện ngắn này ở phương diện chiều sâu văn hoá con người đất kinh kì
Tác giả Nguyễn Văn Kha trong bài viết: Con người cá nhân trong
truyện Việt Nam từ 1975 – 1990 trên Diễn đàn văn học(google.com.vn)
đã coi truyện ngắn Một người Hà Nội là cuộc hành trình trở về nguồn
về với chiều sâu văn hoá của một thời vàng son
Nhìn chung các ý kiến đánh giá về tập truyện Một người Hà Nội chỉ
dừng lại ở một truyện ngắn mà tiêu biểu là truyện ngắn Một người Hà
Nội hay những nhận định mang tính khái quát mà chưa đi sâu nghiên cứu
cụ thể Tiếp thu gợi ý của các nhà nghiên cứu, khoá luận đi vào tìm hiểu một cách hệ thống thế giới nghệ thuật trong toàn bộ tập truyện Một người Hà Nội của Nguyễn Khải
3 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài Thế giới nghệ thuật trong tập truyện Một người
Hà Nội của Nguyễn Khải người viết muốn làm rõ những đóng góp của
nhà văn trong việc kiến tạo thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn- một thể loại quan trọng trong văn xuôi Từ đó khẳng định rõ hơn vị trí văn học sử của nhà văn Nguyễn Khải đối với nền văn học hiện đại Việt Nam
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu nhân vật trong tập truyện Một người Hà Nội
Tìm hiểu các phương thức tổ chức thế giới nghệ thuật trong tập
Trang 4truyện Một người Hà Nội
Từ hai phương diện đó, khoá luận đi sâu vào nghiên cứu thế giới
nghệ thuật trong tập truyện Một người Hà Nội
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là tập truyện Một người Hà Nội của Nguyễn Khải Cụ thể là ba truyện :
Một người Hà Nội
Nắng chiều
Một giọt nắng nhạt
Phạm vi nghiên cứu của khoá luận tập trung vào làm rõ vấn đề thế
giới nghệ thuật trong tập truyện Một người Hà Nội Cụ thể là các
phương diện sau:
Loại hình nhân vật tư tưởng và nhân vật thế sự
Con người trong cuộc sống đời thường
Con người mang chứa vẻ đẹp trong chiều sâu tâm hồn tính cách
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong khoá luận này, người viết chủ yếu sử dụng những phương pháp sau:
Phương pháp phân tích- tổng hợp
Phương pháp hệ thống
Phương pháp so sánh
7 Đóng góp của khoá luận
Với đề tài này, khoá luận góp phần làm rõ hơn những đặc sắc về thế giới nghệ thuật trong tập truyện Một người Hà Nội
Trang 5Khoá luận cũng là một tư liệu thiết thực và có ý nghĩa trong học tập
và giảng dạy truyện ngắn Một người Hà Nội và những tác phẩm có liên
quan đến Nguyễn Khải ở môn Ngữ văn THPT
8 Bố cục của khoá luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Nội dung chính của khoá luận được chia thành những chương sau:
Chương 1 Giới thuyết chung
Chương 2 Nhân vật trong tập truyện Một người Hà Nội
Chương 3 Các phương thức tổ chức nghệ thuật trong tập truyện
Một người Hà Nội
Trang 6NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 GIỚI THUYẾT CHUNG
1.1 Khái quát cuộc đời và sự nghiệp nhà văn Nguyễn Khải
1.1.1 Khái quát cuộc đời
Nhà văn Nguyễn Khải tên thật là Nguyễn Mạnh Khải, sinh ngày 3/2/1930 ở phố Hàng Cót - Hà Nội trong một gia đình quan lại phong kiến Ông của Nguyễn Khải là tri phủ, bố Nguyễn Khải là tri huyện
nhưng Nguyễn Khải lại là thân phận của cảnh “vợ lẽ con thêm” Trong
xã hội phong kiến trước đây, “vợ lẽ con thêm” là những thân phận bèo
bọt bị rẻ rúng thậm chí là bị từ bỏ, cha và mẹ cả đã đối xử rất bất công với mẹ con ông Suốt thời thuở nhỏ, Nguyễn Khải sống trong cảnh buồn tủi, lúc ở với mẹ đẻ, lúc ở với mẹ cả, khi sống đậu ở nhà anh (cùng cha khác mẹ) ở Hải Phòng Nhiều lần bị lăng nhục, bị đổ oan là thằng ăn cắp, cho nên Nguyễn Khải đã có một tuổi thơ đầy cay đắng và nhiều nước mắt Cha ông đã không nhìn nhận đứa con do chính mình sinh ra
vì thế khi nghĩ về cha đối với Nguyễn Khải là một quá khứ nhiều đau buồn
Năm 12 tuổi, Nguyễn Khải từ Hải Phòng lên Hà Nội trú trong căn gác chật hẹp Ba mẹ con sống chật vật, đã có lúc bà mẹ nghĩ đến việc chết với hai con cho đỡ khổ Mãi về sau này nhà văn vẫn không sao quên được cảm giác bị tổn thương và nỗi hờn giận đã gặm nhấm tâm
hồn ông những tháng năm đó: “Tưởng là con cha cháu ông hoá ra
không phải, chỉ là con thêm con thừa”.[7, 125] Bao nhiêu của tuổi thơ
chốc lát mất sạch, cái sự thật về thân phận qua mỗi tháng mơ mộng lại
Trang 7tuột ra một lớp vỏ, rút lại cái lõi của nó không đáng một xu Nhưng chính trong hoàn cảnh cay đắng ấy đã làm bùng cháy ở ông về ý thức
thân phận và ý chí sống để khẳng định mình: “Vậy thì phải sống, sống
bằng cái nhẫn nhục, cái chịu đựng chịu thương chịu khó, không giây phút nào được buông lơi, không giây phút nào được huyễn họăc Sống cho hết cái có thể của mình rồi đời sẽ giúp mình sau”[7, 126]
Cách mạng Tháng Tám đến với ông như một ân huệ lớn, ông đã tìm được niềm hạnh phúc lớn nhất đời mình, được trả lại tư cách làm người, được chọn con đường viết văn để thực hiện cách sống tạo dựng uy tín, danh dự Đây là con đường để ông đền đáp ơn nghĩa cách mạng và rửa sạch nỗi hờn tủi bị chính những người ruột thịt hắt hủi Năm 16 tuổi ông học xong năm thứ ba ở một trường trung học ở Hà Nội, đến đầu năm 1949 ông tham gia kháng chiến ở Hưng Yên, gia nhập đội quân tự
vệ ở thị xã rồi trở thành chiến sĩ một đơn vị bộ đội ở địa phương Một thời gian ông làm y tá, sau đó ông lại trở thành phóng viên báo của tỉnh Hưng Yên Từ đây ông dốc một lòng dùng cuộc đời mình để đền đáp
cách mạng, ông đã từng nói: “Nếu không có cách mạng thì tôi chỉ là
một con người bình thường cũng khó” Cách mạng đã cho ông được làm
người và ông đã chọn văn chương để trả ơn cách mạng
Từ cuối năm 1950, Nguyễn Khải được cử đi tham dự lớp nghiên cứu văn nghệ do Hội văn nghệ Trung ương và chi hội văn nghệ Khu IV
tổ chức tại Vĩnh Lộc – Thanh Hoá
Bước ngoặt lớn nhất vào tháng 5/1951, ông được cử đi dự trại viết của hai chi hội văn nghệ Liên khu III và Liên khu IV tổ chức tại Kim
Tân – Thanh Hoá “Đó là mốc quan trọng trên đường dẫn đến nghề văn
Trang 8của tôi”- Nguyễn Khải đã nói như vậy về lớp học mà nhờ đó lần đầu
tiên ông được tiếp xúc với các thần tượng văn học của ông: Nguyễn Tuân; Xuân Diệu… cuối khoá học Nguyễn Khải bắt đầu có truyện ngắn đăng báo
Năm 1955 ông về dự trại toàn quân để viết truyện anh hùng Mạc
Thị Bưởi Kết thúc trại viết ông có tác phẩm Người con gái quang vinh
Năm 1956 ông chuyển công tác về tạp chí Văn nghệ quân đội, ở đây ông làm việc cùng nhiều nhà văn nổi tiếng lúc bấy giờ như Thanh Tịnh, Phùng Quán, Chính Hữu, Nguyên Ngọc…
Năm 1957 ông trở thành một trong những thành viên trẻ nhất tham gia thành lập Hội nhà văn Việt Nam Tại đây ông đã phát biểu quan
niệm nghệ thuật của mình như sau: “Nghệ thuật là khoa học thể hiện
lòng người, là lịch sử của lòng người” Quan niệm này đã chi phối trực
tiếp phương hướng tiếp cận hiện thực của ông trong các sáng tác: lấy thế giới tinh thần, tư tưởng các trạng thái tâm lí con người làm đối tượng khám phá, để cuộc sống hiện lên trong tác phẩm như những dòng chảy, những sự va xiết của các nền tư tưởng, các lối sống và một nghệ thuật giàu màu sắc chính luận Từ đại hội lần thứ hai Nguyễn Khải trở thành uỷ viên ban chấp hành, uỷ viên thường vụ về sau ông còn giữ nhiều trọng trách quan trọng đối với quá trình phát triển của Hội nhà văn
Sau năm 1975 ông đã cùng gia đình chuyển vào sinh sống ở Sài Gòn
Trang 9Với những đóng góp của mình cho nền văn học nước nhà, năm
2000 ông đã được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về nghệ thuật và giải thưởng ASEAN cùng năm đó
Năm 2008 nhà văn qua đời tại thành phố Hồ Chí Minh
1.1.2 Khái quát sự nghiệp
Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khải vận động qua hai chặng đường chính: chặng trước năm 1978 và chặng sau năm 1978
Chặng trước năm 1978
Ở chặng này nhà văn tập trung đi sâu vào hai đề tài chính: đề tài nông thôn và công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc Bên cạnh đó ông còn khai thác đề tài chiến đấu trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc
Ở đề tài nông thôn và xây dựng CNXH tác giả tập trung khẳng định vẻ đẹp của những con người lao động mới , những con người gắn kết cộng đồng trở thành nhu cầu máu thịt của mỗi cá nhân như nhân vật
cô Đào ( Mùa lạc); Tấm (Đứa con nuôi);… Nguyễn Khải đã miêu tả bộ
mặt đầy sức sống của nông thôn miền Bắc với những vẻ đẹp mới mẻ trong các mối quan hệ đầy tin cậy giữa tập thể với cá nhân, giữa cấp trên và cấp dưới, tình đồng chí, tình bạn bè… vừa tỏ thái độ không khoan nhượng với những biểu hiện tiêu cực không mang tinh thần CNXH như lối thu va hà vén, lối làm ăn kiểu phường hội như Tuy Kiền
trong (Tầm nhìn xa); Mơ trong (Chủ tịch huyện) Bằng ngòi bút nghiên
cứu, Nguyễn Khải chỉ ra rằng đầu óc tư hữu và tâm lí nông dân gia trưởng thâm căn cố đế dưới nhiều biến tướng tinh vi đang cản trở con đường tiến lên sản xuất lớn
Trang 10Ở đề tài chiến tranh và cách mạng, Nguyễn Khải đã khắc họa nổi bật vẻ đẹp của con người Việt Nam: Lòng yêu nước, tinh thần kỉ luật, niềm khát khao khẳng định phẩm giá trước kẻ thù, tỉnh táo trong nhận thức, thông minh tháo vát trong hành động và đức tính kiên nhẫn, khiêm nhường Ông ít diễn tả khía cạnh mất mát hay mặt trái của chiến tranh mà khám phá sức mạnh tinh thần tiềm ẩn trong mỗi con người, đặt họ vào các tình huống thử thách để họ bộc lộ tài trí, nhân cách Các tác phẩm đều ít nhiều tạo được không khí nhờ các chi tiết đặc sắc và nhờ giọng kể sôi nổi, hóm hỉnh giàu màu sắc hùng biện Tuy nhiên nhiệt hứng ngợi ca khẳng định rõ ràng đã làm cho các trang viết về chiến tranh thiếu cái chân thực, góc cạnh, cái dữ dội khốc liệt của những số phận làm nên chiều sâu đời sống
Các tác phẩm tiêu biểu ở chặng này: Tiểu thuyết Xung đột (in báo năm 1957), in thành sách năm 1959, tập 2 in năm 1960; Mùa lạc (tập
truyện ngắn, 1960); Một chặng đường (truyện ngắn, 1962); Tầm nhìn
xa (truyện, 1963); Hãy đi xa hơn nữa (tiểu thuyết, 1963); Người trở về (1964); Họ sống và chiến đấu (1966); Hoà vang (1967); Đường trong mây (tiểu thuyết, 1970); Ra đảo (tiểu thuyết, 1970); Chủ tịch huyện (truyện, 1972); Chiến sĩ (tiểu thuyết, 1973);…
Chặng sau năm 1978
Do đòi hỏi của hoàn cảnh lịch sử và thị hiếu công chúng, văn học sau năm 1975 có nhiều biến đổi, chủ nghĩa đề tài mất ý nghĩa khi quan niệm về hiện thực được mở rộng Thay vì coi trọng biến cố lịch sử, văn học lấy con người làm tâm điểm khám phá, ngòi bút Nguyễn Khải trẻ
lại với niềm say mê “cái hôm nay ngổn ngang, bề bộn” Ông chiếm
Trang 11lĩnh nhiều vùng đất mới mà vùng đất nào cũng để ông không ngừng trăn trở về số phận con người, về giá trị làm người Bên cạnh đó thì cái tôi tiểu sử của tác giả cũng xuất hiện đậm đặc đem lại hiệu quả thẩm
mỹ cao góp phần vào việc đổi mới văn học Tiểu thuyết và truyện ngắn
là hai thể loại tiêu biểu cho sáng tác ở giai đoạn này của ông
Các tác phẩm tiêu biểu ở chặng này: Cha và con và … (tiểu
thuyết, 1979); Gặp gỡ cuối năm (tiểu thuyết, 1982); Tầm nhìn xa (truyện ngắn, 1983); Thời gian của người (tiểu thuyết, 1985) Một cõi
nhân gian bé tí (truyện ngắn, 1989); Một người Hà Nội (tập truyện
ngắn, 1990); Một thời gió bụi (truyện ngắn, 1993); Sư già chùa thắm và
viên đại tá về hưu; Hà Nội trong mắt tôi (tập truyện, 1995); Sống ở đời
(truyện ngắn, 2002); Thượng đế thì cười (tiểu thuyết, 2004);…
Với số lượng tác phẩm của mình Nguyễn Khải xứng đáng trở thành một trong những cây bút hàng đầu của văn xuôi Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 Ông đã đóng góp những tiếng nói mới mẻ, những khám phá về chiều sâu của cuộc sống cho sự đổi mới của văn học Hành trình sáng tác của Nguyễn Khải tiêu biểu cho quá trình vận động của văn học hơn nửa thế kỷ qua
1.2 Vị trí của tập truyện Một người Hà Nội trong đời sống văn học đương đại Việt Nam
Quan sát sự vận động của văn học Việt Nam từ sau 1975 chúng ta thấy văn xuôi có những biến đổi mạnh mẽ sâu sắc, hàng loạt các tên tuổi đã tạo nên diện mạo, sự khởi sắc của văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới như Chu Lai, Bảo Ninh, Dương Hướng, Tạ Duy Anh, Ma Văn Kháng… Trong rất nhiều tên tuổi ấy có Nguyễn Khải, ông được đánh
Trang 12giá là: “Nhà văn đương đại Việt Nam xuất sắc nhất” (Hữu Thỉnh);
“Người tài năng nhất của thế hệ chúng tôi” (Nguyên Ngọc) Xuyên
suốt cuộc đời văn nghiệp của mình Nguyễn Khải đã không ngừng suy nghĩ kiếm tìm những cách thể hiện mới, đặc biệt là những tác phẩm sau
1978 ông đã bình tĩnh, mạnh dạn đi vào những vấn đề phức tạp, những ngóc ngách của cuộc sống, nẻo sâu kín trong tâm hồn con người ở đề tài thế sự, ông đã gặt hái được rất nhiều thành công mà tập truyện Một người Hà Nội là tiêu biểu
Tập truyện Một người Hà Nội gồm ba truyện ngắn khác nhau: Một
người Hà Nội, Nắng chiều và Một giọt nắng nhạt Ở tập truyện này bạn
đọc sẽ tìm thấy sự mới mẻ trong nội dung và tư duy nghệ thuật về giá trị con người và cuộc sống đời thường Đặc biệt là yếu tố tự truyện được nhà văn sử dụng trong tập truyện, đó là một phương thức nghệ mới trong văn học đổi mới: Nhà văn tự kể truyện mình thuật lại cuộc đời mình Mỗi truyện chỉ khoảng vài chục trang giấy nhưng đã góp phần tôn vinh tên tuổi của ông trên văn đàn thời đổi mới
Hoà chung trong dòng chảy văn học “từ cuộc chiến đấu cho quyền
sống của cả dân tộc” chuyển sang “cuộc chiến đấu cho quyền sống cho từng người”, Nguyễn Khải đã có những cách tiếp cận cuộc sống mới
bằng việc đi sâu vào những vấn đề mang tính thế sự, đời thường Những vấn đề tưởng chừng như rất đơn giản để từ đó phân tích, khám phá, chiêm nghiệm ở bề sâu, bề xa và nâng vấn đề lên thành những vấn
đề chung, vấn đề đáng phải quan tâm Cùng với Bến quê, Chiếc thuyền
ngoài xa của Nguyễn Minh Châu; Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn
Kháng, Nguyễn Khải có Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người và đặc
Trang 13biệt là tập truyện Một người Hà Nội Cùng viết về đề tài thế sự nhưng ở
Nguyễn Khải vẫn có những nét rất riêng biệt Ông đã đi sâu vào đời sống thế tục, cuộc sống hàng ngày của con người với biết bao ngổn ngang Đó là những con người trong cuộc sống thường ngày, một lát cắt của cuộc sống, dừng lại ở những số phận như bà Bơ trong Nắng chiều hay một tuổi thơ đầy cay đắng trong Một giọt nắng nhạt Dù cuộc đời chỉ là những hạt nắng cuối chiều hay những giọt nắng nhạt thì nó vẫn có giá trị, tuy nhỏ bé nhưng không tầm thường
Sinh thời Nguyễn Khải tự nhận mình chỉ là người gặp thời như
“rồng gặp mây, cá gặp nước”, “tôi chỉ là người có chí nhưng kém tài,
may mà gặp thời rồi gặp được thầy mà nên sự nghiệp” Nhưng bao
nhiêu năm đã trôi qua các sáng tác của Nguyễn Khải vẫn được công chúng mến mộ và hưởng ứng, các sáng tác của ông vẫn còn nguyên giá trị trong cuộc sống hôm nay, điều đó chứng tỏ ông là một cây bút tài năng Với những đổi mới trong phương thức tiếp cận đời sống ở đề tài thế sự, đời tư, ông đã mang đến cho văn học giai đoạn này những trang viết mới mẻ và sâu sắc Đặc biệt tập truyện Một người Hà Nội của ông
đã trở thành tập truyện tiêu biểu ở mảng đề tài thế sự trong nền văn xuôi đương đại Việt Nam Đồng thời tập truyện cũng khẳng định được tài năng và vị trí của Nguyễn Khải trên văn đàn Việt Nam thời đổi mới
1.3 Quan niệm thế giới nghệ thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học của các tác giả Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi: “Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính
chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm; một loại hình tác phẩm; sáng tác của tác giả; một trào lưu)”[17, 125]
Trang 14Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lý của con người, mặc dù nó phản ánh các thế giới ấy Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lý riêng
Mỗi thế giới nghệ thuật có một mô hình nghệ thuật trong việc phản ánh thế giới Sự hiện diện của thế giới nghệ thuật không cho phép đánh giá và lý giải tác phẩm văn học theo lối đối chiếu đơn giản giữa các yếu
tố hiện tượng với các thực tại đời sống riêng lẻ xem có “giống” hay không, “thật” hay không, mà phải đánh giá trong chỉnh thể của tác phẩm so với chỉnh thể hiện thực Các yếu tố của hình tượng chỉ có ý nghĩa trong thế giới nghệ thuật của nó
Mỗi thế giới nghệ thuật ứng với một quan niệm về thế giới, một cách cắt nghĩa về thế giới
Như vậy, khái niệm thế giới nghệ thuật giúp ta hình dung tính độc đáo về “tư duy nghệ thuật” của sáng tác nghệ thuật, có cội nguồn trong thế giới quan, văn hoá chung, văn hoá nghệ thuật và cá tính sáng tạo của nghệ sĩ Chúng ta biết rằng, mỗi tác phẩm văn học đều được lấy chất liệu từ hiện thực khách quan nhưng được phản chiếu qua lăng kính tâm hồn nghệ sĩ Mỗi nhà văn có cách nhận thức riêng về hiện thực, chính vì vậy mỗi tác phẩm sẽ là một thế giới nghệ thuật riêng, nhiệm
vụ của người tiếp nhận là phải tìm mã khoá để bước vào thế giới nghệ thuật đó
Như đã nêu trên, thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng… Vì thế có thể nêu ra các yếu tố biểu hiện của thế giới nghệ
Trang 15thuật như: nhân vật, thời gian - không gian nghệ thuật, ngôn ngữ, giọng điệu
Trong bất cứ một tác phẩm nghệ thuật nào việc đi tìm hiểu tác phẩm thông qua việc tìm hiểu thế giới nghệ thuật là một điều cần thiết Đặc biệt đối với các tác phẩm truyện ngắn với đặc điểm là đi sâu vào đời sống con người, khám phá sự vật ở bề sâu bề xa thì việc đi tìm hiểu thế giới nghệ thuật là một việc cần thiết và có ý nghĩa
Trang 16CHƯƠNG 2 NHÂN VẬT TRONG TẬP TRUYỆN
MỘT NGƯỜI HÀ NỘI
2.1 Loại hình nhân vật tư tưởng và nhân vật thế sự trong tập
truyện Một người Hà Nội
Theo Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên): “Nhân vật văn học
là đối tượng (thường là con người) được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm nghệ thuật” [18, 771]
Giáo sư Hà Minh Đức trong cuốn Lí luận văn học định nghĩa:
“Nhân vật là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ Đó không
phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ
là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, tính cách và nhân vật không chỉ là con người mà có thể là những sự vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng tính cách của con người được dùng như một phương thức khác nhau để biểu hiện con người”[5, 159]
Như vậy văn học không thể thiếu nhân vật, vì nhân vật chính là phương diện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một vấn đề nào đó của hiện thực Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kì nhất định Thực chất đi tìm hiểu tác phẩm là tìm hiểu về nhân vật
Trong văn học có những nhân vật mà hạt nhân cấu trúc của nó không phải là cá tính, cũng không phải là các phẩm chất loại hình mà là một tư tưởng một ý thức, nhân vật loại này cũng thể hiện cá tính, một nhân cách nhưng cái chính là một hình tượng tự nhiên diễn ra trong đời
sống Nguyễn Khải đã từng quan niệm “nghệ thuật là khoa học thể hiện
Trang 17lòng người, là lịch sử của lòng người”, khoa học tức là coi trọng nhận
thức hơn cảm xúc, lòng người là nắm bắt đời sống bên trong của con người Quan niệm của Nguyễn Khải cho thấy cái nhìn sâu sắc và khẳng định một vùng hiện thực vô tận để văn chương phản ánh Nhà văn quan tâm đến diễn biến trong tư tưởng bên trong của con người nên nhân vật của ông không phải để cho con người ta có thể nhìn thấy tốt hay xấu
mà thường gắn với tư tưởng nhất định mà nhà văn gửi gắm vào đó Khi khám phá đời sống tinh thần của con người, ông luôn tỏ rõ khả năng phân tích tâm lý sắc sảo, am hiểu các ngõ ngách tâm lý con người Xem xét các hình tượng nhân vật của ông, người đọc nhận thấy những sáng tác trước năm 1978 các nhân vật chủ yếu là loại hình nhân vật tính cách, nhân vật số phận thì sau năm 1978 các nhân vật chủ yếu xuất hiện với tư cách con người lịch sử, con người của thời đại, con người cá nhân gắn với số phận, con người đời thường để lại nhiều dư vị và ám ảnh Đó là loại hình nhân vật tư tưởng và nhân vật thế sự
Nhân vật tư tưởng là loại hình nhân vật tập trung thể hiện một tư tưởng, một ý thức tồn tại trong đời sống tinh thần của xã hội Nhân vật
tư tưởng cũng có thể chứa đựng những phẩm chất, tính cách, các tính
và nhân cách Nhưng cá tính và tính cách không phải là hạt nhân tạo
nên cấu trúc của nhân vật tư tưởng Trong tập truyện Một người Hà Nội đặc biệt là ở truyện Một người Hà Nội loại hình nhân vật này được
Nguyễn Khải thể hiện khá rõ Toàn bộ diễn biến của truyện xoay quanh nhân vật bà Hiền - đây là hình tượng nhân vật mang trong mình vẻ đẹp của mảnh đất kinh kì hào hoa ngàn năm văn hiến Bà Hiền là một gương mặt đậm nét tiêu biểu cho văn hoá Hà Nội, một con người đã
Trang 18từng chứng kiến biết bao thay đổi của Hà Nội nhưng tất cả điều đó không thể làm thay đổi lòng yêu Hà Nội của bà, cùng với thời gian sự lịch lãm dường như đã tích tụ tinh hoa trong con người Hà Thành này Nguyễn Khải đã lí giải tính cách đặc biệt của bà Hiền từ gốc gác gia đình, miêu tả một cách tỉ mỉ nếp ăn nếp ở, sinh hoạt mang theo những phong thái kiểu cách sang trọng, luôn đề cao nếp sống gia đình Sống trong môi trường xã hội mới, khi những làn sóng qui chụp thành phần,
sự đề cao đấu tranh giai cấp luôn là nỗi ám ảnh, tác động vào những
người trong gia đình: “Ăn cốt để sống, để làm việc, hay hớm gì cái thứ
lễ nghi rườm rà của giai cấp tư sản” “Đã là tư sản thì không thể tin được” [7, 7] thì bà vẫn sống đàng hoàng, sang trọng bởi bà tin tưởng:
“Tao có bộ mặt tư sản, nhưng lại không bóc lột ai thì làm sao thành tư
sản được” [7, 13] Đó là thái độ chủ động trước hoàn cảnh, vượt qua
mọi sự nghi kị thành kiến, dám tin vào sự lựa chọn cá nhân Bà nhìn nhận mọi chuyện theo quan điểm của mình, luôn phân tích và đưa ra những lí lẽ thuyết phục trong mọi hoàn cảnh Không phải mọi tính cách
Hà Nội đều là những giá trị, nhưng nhà văn đã khai thác mối quan hệ con người và hoàn cảnh theo một cách nhìn mới, không ngần ngại chỉ
ra những nét ấu trĩ trong quan niệm một thời, chẳng hạn cách thích nghi
hoàn cảnh chế độ mới, từ chồng đến con bà Hiền đều gọi “đồng chí”
với người cháu đến thăm nhà Hay thái độ ứng xử của bà Hiền cũng được diễn tả một cách rõ ràng, bà có một cách nhìn nhận chế độ mới
của riêng mình: “Chế độ này không thích cá nhân làm giầu, chỉ cần họ
đủ ăn, thiếu ăn một chút càng hay, thiếu ăn là vinh chứ không là nhục, nên tao cũng chỉ cần đủ ăn” [7, 15] Nguyễn Khải đã gửi gắm vào
Trang 19nhân vật bà Hiền như là một mẫu hình của người Hà Thành, một con người lịch lãm, khôn ngoan và giỏi tính toán, một người phụ nữ trí tuệ, sắc sảo Trong mọi hoàn cảnh bà Hiền luôn biết chủ động phải làm gì, luôn bình tĩnh trước mọi biến cố Khi chiến tranh nổ ra, đứa con trai đầu lòng của bà xin ra trận, trong cái giây phút ấy bà vẫn tỉnh táo để
nhận ra rằng: “Tao đau đớn và bằng lòng, vì tao không muốn nó sống
bám vào sự hi sinh của bạn bè Nó dám đi cũng là biết tự trọng” [7,
17] Đó cũng là lòng tự trọng của một người mẹ, một người ý thức rõ trách nhiệm công dân của mình trong thời điểm những năm đất nước có
“chung một tâm hồn, một gương mặt”, không chỉ có vậy, cả người con
trai thứ hai hừng hực khí thế thanh niên thời đại đòi lên đường, bà cũng
có cách ứng xử thể hiện rõ phẩm cách của một người mẹ hiểu rõ tâm tư
thế hệ con cháu: “Tao không khuyến khích, cũng không ngăn cản, ngăn
cản tức là bảo nó tìm đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết chết nó” [7, 18] Trong những giây phút như thế bà vẫn bình
tĩnh để biết rằng phải dạy con mình biết tự trọng, biết hi sinh chứ không được bám víu vào sự sống của người khác Trải qua nhiều năm tháng bà Hiền đã già, những biến động của xã hội cũng không làm mất
đi cái giá trị chân chính trong con người bà Bà vẫn giữ nề nếp gia phong của gia đình Có thể nói, giá trị văn hoá của một dân tộc đã được kết tụ trong một người phụ nữ vô danh, ngay cả khi cơn lốc dữ dội của nền kinh tế thị trường làm xói mòn đi nếp sống của Hà Nội ngàn năm văn vật thì cũng không thể làm lay chuyển ý thức của những con người luôn tin vào những giá trị văn hóa bền vững, đó thực chất cũng là cái
mà văn từng quan niệm: “Nói cho cùng, để sống được hàng ngày tất
Trang 20nhiên phải nhờ vào những “giá trị tức thời Nhưng sống cho có phẩm hạnh, có cốt cách nhất định phải dựa vào những giá trị bền vững
(Nguyễn Khải, Tuyển tập tiểu thuyết, Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà
Nội, 1999) Viết về bà Hiền, Nguyễn Khải đã đề cao nét đẹp văn hoá ẩn chứa bên trong con người bà từ lời ăn tiếng nói hàng ngày, cách giáo
dục con cái một cách nghiêm khắc và nền nã: “Chúng mày là người Hà
Nội thì cách đi đứng nói năng phải chuẩn, không được sống tuỳ tiện buông tuồng” [7, 16]; “Tao chỉ dạy chúng nó biết tự trọng, biết xấu hổ còn sau này ra sao thì tuỳ” [7, 17], đến cách sống biết tổ chức trật tự
và làm sang trọng con người từ ăn, mặc, ở, hàng ngày đến những thú chơi tỉ mẩn như gọt tỉa thuỷ tiên đón giao thừa của người Hà Nội từng được Nguyễn Tuân ca ngợi Bà Hiền là biểu tượng không chỉ của một thời vàng son đã qua mà còn là hiện thân của văn hoá Tràng An đứng vững trong bao thay đổi thường nhật Bà Hiền chính là nhân vật mà nhà văn gửi gắm tư tưởng, gửi gắm niềm tin vào những giá trị đích thực của mảnh đất kinh kì, dù năm tháng có qua đi nhưng những giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc thì không bao giờ bị đánh mất Bà Hiền là nhân vật trung tâm mang trong mình nét đẹp thanh lịch hào hoa của đất kinh kì Nguyễn Khải đã xây dựng lên cốt cách tinh thần đẹp đẽ của con người hội tụ ở những nhân vật cao niên, những cây cao bóng cả dù trải qua nhiều thăng trầm biến động của thời cuộc vẫn giữ được truyền thống gia phong, giữ được nhân cách cao cả và nét đẹp của một người Hà Nội chân chính
Nếu nhân vật bà Hiền mang trong mình nét đẹp văn hoá của cả một
dân tộc thì những con người như bà Bơ, ông Phúc trong Nắng chiều lại
Trang 21mang trong mình vẻ đẹp của tình yêu tuổi già, của hạnh phúc giản dị
trong cuộc sống đời thường Nguyễn Khải đã gửi gắm tư tưởng của mình vào những điều bình dị trong cuộc sống
Khác với nhân vật tính cách là sản phẩm của sự quan sát, nhân vật
tư tưởng là kết quả của cảm hứng chiêm nghiệm, vì thế các tác phẩm của Nguyễn Khải sau năm 1978 nói chung và tập truyện Một người Hà Nội nói riêng, nhà văn đã không tập trung khắc họa ngoại hình nhân vật
mà tập trung vào những chi tiết tiêu biểu ở mỗi khía cạch để làm nổi bật lên tư tưởng của tác phẩm
Bên cạnh nhân vật tư tưởng thì nhân vật thế sự cũng hiện lên rõ nét Nhân vật thế sự là những con người trong đời sống thường ngày, những câu chuyện đời thường không mang tính điển hình Nhưng từ đó nhà văn vẫn tìm ra các khía cạnh của thế thái nhân tình, tìm ra một thứ triết học nhân sinh, tìm ra con người trong sự vận động của cuộc sống bình thường đúng như nó có
Trong tập truyện Một người Hà Nội, nhà văn thuần miêu tả những
gì rất đỗi đời thường Diện mạo con người hiện lên bình dị chân thực Những con người với toan tính cuộc sống, với những mơ ước mộc mạc,
đó là bà Hiền, bà Bơ, ông Phúc…Thời gian trong tập truyện là thời gian của cuộc sống đời thường với những câu chuyện của cuộc đời con người, không gian trong tập truyện gần gũi, xác định: không gian gia đình, không gian của xóm nghèo trong Một giọt nắng nhạt, không gian của Hà Nội, Hải phòng… Mỗi truyện là một triết lí sâu sắc về cuộc sống, con người Những con người hiện diện trong thế giới gắn với
Trang 22những qui luật tồn tại vĩnh hằng và cũng có khi là cái ngẫu nhiên, bất ngờ trong dòng chảy cuộc sống
2.2 Con người trong cuộc sống đời thường
Sau năm 1975 là thời kì độc lập của dân tộc, chiến tranh đã qua, đất nước bước vào thời kì đổi mới, thời kì hoà bình độc lập Cùng với
sự đổi mới của đất nước là sự đổi mới của văn chương Trước hiện thực ngổn ngang, biết bao vấn đề đặt ra trước mắt, Nguyễn Khải cũng như nhiều nhà văn khác cũng tìm cho mình một hướng đi, một hướng tiếp cận đời sống mới Đã qua một thời người ta chỉ biết ca ngợi những thứ lớn lao, hoành tráng, giờ đây con người trở về với cuộc sống hiện tại Trước cái phong phú của cuộc sống vốn đa dạng, Nguyễn Khải đã tìm
về với con người ngay trong chính bản thân họ để khám phá chiêm nghiệm Đó là thế giới phong phú của những cảnh ngộ cá biệt, những hành trình sống đầy nhọc nhằn do bao hệ lụy thường tình, những cuộc vật lộn kiên cường của con người với hoàn cảnh để bảo vệ niềm tin cá nhân Ông đã đặt con người vào các mối quan hệ đời thường để quan sát, để nhận ra cái đa đoan, đa sự trong số phận, trong bản chất tinh thần của con người làm nên vẻ đẹp của cuộc sống
Trong tập truyện Một người Hà Nội, những con người hàng ngày được tác giả miêu tả một cách chân thực Con người trong tập truyện không phải là những vĩ nhân, những anh hùng mang trên mình chiến công hiển hách vang dội mà là những số phận nhỏ bé, những mảnh đời vẫn còn đang hiện diện ở cuộc sống ngoài kia Chẳng hạn trong truyện ngắn Nắng chiều, tác giả đã đưa bạn đọc đến với một số phận trong cuộc đời đó là bà Bơ Cuộc đời người phụ nữ này là những ngày dài cô