Bởi trong khi những cây bút đương đại đua nhau đi tìm cho thơ mình những hình thức thể hiện riêng, mới lạ thì Đồng Đức Bốn lại thực hiện quá trình “lội ngược dòng” tìm về với những nguồn
Trang 1Lời cảm ơn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo
TS Nguyễn Thị Tuyết Minh - người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo
để tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy, cô giáo trong Khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Văn học Việt Nam đã giúp đỡ
và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận
Hà Nội, tháng 5 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Đỗ Thanh Huyền
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo - TS Nguyễn Thị Tuyết Minh Khóa luận này không trùng với bất kì công trình nghiên cứu của tác giả nào
đã được công bố trước đó Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Đỗ Thanh Huyền
Trang 34 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
NỘI DUNG
1.1 Quan niệm về thế giới nghệ thuật 9
1.2 Tác giả Đồng Đức Bốn và sự nghiệp thơ ca 9
1.2.1 Tác giả Đồng Đức Bốn 9
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác
11
1.3 Vị trí tập thơ Trở về với mẹ ta thôi trong đời sống văn học
Chương 2: Thế giới nghệ thuật trong tập thơ Trở về với mẹ
2.1 Nội dung cảm xúc của tập thơ 13 2.1.1 Nỗi niềm cô đơn, bơ vơ, xót xa 13 2.1.2 Nỗi đau bị người tình lìa bỏ 17 2.1.3 Nỗi niềm suy tư, chiêm nghiệm về cuộc đời 24 2.2 Hình tượng nhân vật trữ tình 28 2.3 Thế giới hình ảnh của tập thơ 30
Trang 5có nhiều tìm tòi, cách tân mạnh mẽ với nhiều phong cách nghệ thuật mới mẻ, độc đáo trong tiến trình phát triển của thơ hiện đại Việt Nam
Đồng Đức Bốn là nhà thơ đương đại nổi bật Tuy tác phẩm của ông chưa được đưa vào giảng dạy ở trường THPT, nhưng tên tuổi đã được nhiều nhà phê bình và đông đảo độc giả chú ý, đánh giá cao Bởi trong khi những cây bút đương đại đua nhau đi tìm cho thơ mình những hình thức thể hiện riêng, mới lạ thì Đồng Đức Bốn lại thực hiện quá trình “lội ngược dòng” tìm về với những nguồn mạch trong trẻo của thể thơ lục bát truyền thống, với những hình ảnh thơ gần gũi, bình dị trong đời sống hàng ngày nhưng vẫn toát lên hơi thở rất “hiện đại”, vẫn thấy bên cạnh “chất tình trong trẻo” là cả một “nỗi đau đáu với đời và
cả cái ngông của một thi sĩ” Tất cả đã làm nên một thế giới nghệ thuật rất riêng, mang đậm phong cách thơ lục bát Đồng Đức Bốn
Một điều đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa với tác giả khoá luận - cũng
là một giáo viên tương lai nữa đó là thông qua việc nghiên cứu thế giới nghệ
thuật thơ Đồng Đức Bốn qua tập thơ Trở về với mẹ ta thôi, người viết sẽ có
cơ hội tốt để rèn luyện, nâng cao trình độ tư duy và các thao tác phân tích tác phẩm học văn học Đây có thể coi là phần việc quan trọng hàng đầu đối với người học văn và dạy văn Bởi chỉ khi có năng lực tư duy nhạy bén và thực sự
Trang 6thành thục đối với các thao tác giảng dạy người giáo viên mới có thể giúp học sinh đến được với cái hay, cái đẹp của mỗi tác phẩm văn chương
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Về thơ Đồng Đức Bốn, đã có khá nhiều các nhà nghiên cứu, độc giả chú ý đến nhưng chỉ dừng lại ở những bài viết riêng lẻ xoay quanh một vài khía cạnh khác nhau của thơ Đồng Đức Bốn hay những cảm nhận chung về thơ Đồng Đức Bốn, chứ chưa có một chuyên luận hay một bài nghiên cứu nào
đi sâu tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Đồng Đức Bốn nói chung và tập thơ
Trở về với mẹ ta thôi nói riêng
Đầu tiên, có thể kể đến một số bài phê bình của các tác giả:Vương Trí Nhàn, Nguyễn Huy Thiệp, Đỗ Minh Tuấn, Lê Quang Trang, Nguyễn Đăng Điệp, Đoàn Hương, Nguyễn Văn Quân, Phạm Tiến Duật được viết trước khi Đồng Đức Bốn qua đời, mà chủ yếu là trong thời gian nhà thơ đang lâm bệnh
nặng Các bài viết này đã được tập hợp và in trong tuyển tập Chuông chùa kêu
trong mưa (2002) và Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc (2006) của Đồng Đức Bốn
Ngoài ra, còn có một số bài được viết sau khi nhà thơ qua đời, đã được đăng tải trên các tạp chí, các website Có thể kể đến như: bài viết "Đồng Đức Bốn và trận mưa cuối cùng" của Nguyễn Văn Thọ trên báo điện tử Vietbao.vn, Chủ nhật, ngày 26-02-2006; bài viết "Nhớ bạn Đồng Đức Bốn" của Nguyễn Huy Thiệp trên báo Tiền Phong, số ra mồng 3 Tết Đinh Hợi,
2007
Các bài viết đã ít nhiều đề cập đến một vài khía cạnh nổi bật trong thế giới nghệ thuật thơ Đồng Đức Bốn như: giọng điệu thơ, ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ, Đó là những tư liệu rất có ý nghĩa đối với tác giả khoá luận trong quá trình tiến hành nghiên cứu đề tài này
Trang 7Riêng về tập thơ Trở về với mẹ ta thôi, cho đến nay cũng chỉ có một
vài ý kiến nhận xét trong bài viết của các tác giả: Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Huy Thiệp
Tác giả Nguyễn Đăng Điệp, trong bài viết "Đồng Đức Bốn - phiêu du
vào lục bát" in trong tuyển tập Chuông chùa kêu trong mưa (2002) của Đồng Đức Bốn, đã dành một phần riêng để nói về tập thơ Trở về với mẹ ta
thôi Đó là phần 3: “Trở về với mẹ ta thôi Có hay không sự cách tân trong
thơ Đồng Đức Bốn?” Trong đó tác giả có đưa những nhận xét như sau: “Sự
khác lạ trong thơ Đồng Đức Bốn là những cựa quậy trong những thể loại đã quen, đặc biệt là lục bát ở lục bát Đồng Đức Bốn nó không mềm, ướt mà ấm lòng người là cái đọng lại ở phần sau, chìm xuống, được bọc ngoài bởi một
vẻ đắng đót, tái tê, giông gió, gãy gập, buồn đau Nó được phơi trải bằng sự hồn nhiên, bằng cách nói tưởng như không đâu, rất vu vơ ” [7; 116]
Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Huy Thiệp trong bài viết "Khổ câu thơ cứ
đến rồi lại đi" in trong tuyển tập Chuông chùa kêu trong mưa (2002), của
Đồng Đức Bốn cũng đã đưa ra những cảm nhận chung về một số bài thơ ông
cho là “cực hay, tài tử vô địch” trong tập thơ này
Như vậy, qua khảo sát chúng tôi thấy rằng chưa có một công trình nào
đi sâu khai thác một cách có hệ thống về thế giới nghệ thuật thơ Đồng Đức
Bốn qua tập thơ Trở về với mẹ ta thôi Vì vậy, trên cơ sở kế thừa những phát hiện của các tác giả, người viết đi sâu tìm hiểu thế giới nghệ thuật tập thơ Trở
về với mẹ ta thôi
3 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơ Đồng Đức Bốn qua
tập thơ Trở về với mẹ ta thôi, người viết muốn cắt nghĩa, lí giải những đặc
điểm nghệ thuật thơ Đồng Đức Bốn nói chung và về thế giới nghệ thuật trong
Trang 8tập thơ Trở về với mẹ ta thôi nói riêng Từ đó, giúp bản thân người viết cũng
như người đọc có thể hiểu thêm về thơ Đồng Đức Bốn - một cây bút đương đại với những vần thơ lục bát truyền thống nhưng lại mang đầy hơi thở hiện đại
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đồng Đức Bốn sáng tác nhiều và ở mỗi tập thơ đều có những nét đặc sắc riêng trong thế giới nghệ thuật Tuy nhiên, trong khuôn khổ khoá luận, người viết chỉ đi sâu khai thác thế giới nghệ thuật thơ Đồng Đức Bốn thể hiện
qua tập thơ Trở về với mẹ ta thôi
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp phân tích văn học
- Phương pháp so sánh
6 Đóng góp của khoá luận
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống khoa học về
thế giới nghệ thuật trong tập thơ Trở về với mẹ ta thôi của Đồng Đức Bốn
Qua đó, thấy được sự đóng góp của Đồng Đức Bốn cho nền thơ ca Việt Nam đương đại Đồng thời, đây cũng là một bài tập nghiên cứu khoa học rất hữu ích cho việc học tập và giảng dạy của bản thân tác giả khoá luận sau này
7 Bố cục của khoá luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của khoá luận được chia thành 2 chương:
Chương 1: Giới thuyết chung
Chương 2: Thế giới nghệ thuật trong tập thơ Trở về với mẹ ta thôi của
Đồng Đức Bốn
Trang 9NỘI DUNG
Chương 1 GIỚI THUYẾT CHUNG 1.1 Quan niệm về thế giới nghệ thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: "Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ
tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác tác giả, một trào lưu) Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con người, mặc dù nó phản ánh thế giới ấy Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lí riêng chỉ xuất hiện một cách có ước lệ trong sáng tác nghệ thuật Mỗi thế giới nghệ thuật ứng với một quan niệm về thế giới, một cách cắt nghĩa về thế giới Khái niệm "thế giới nghệ thuật" giúp ta hình dung tính độc đáo về tư duy nghệ thuật của sáng tác nghệ thuật, có cội nguồn trong thế giới quan, văn hoá chung, văn hoá nghệ thuật và cá tính sáng tạo của nghệ sĩ" [16; 302]
Như vậy "thế giới nghệ thuật" là một phạm vi rộng, thể hiện qua nhiều phương diện: nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu, không gian, thời gian nghệ thuật, quan điểm nghệ thuật… Các yếu tố này được thể hiện đan xen vào nhau trong các tác phẩm, phụ thuộc vào tư duy nghệ thuật của nhà văn, nó góp phần tạo nên tính sinh động của cái được miêu tả
1.2 Tác giả Đồng Đức Bốn và sự nghiệp sáng tác thơ ca
1.2.1 Tác giả Đồng Đức Bốn (1948 - 2006)
Nhà thơ Đồng Đức Bốn sinh ngày 30/3/1948 trong một gia đình thuần nông nghèo tại thôn Song Mai, xã An Hồng, huyện An Hải - Hải Phòng Ông là hội viên Hội nhà văn Việt Nam và hội viên Hội nhà văn của thành phố Hải Phòng
Trang 10Mẹ Đồng Đức Bốn là một phụ nữ chân đất lam lũ, tần tảo nhưng bà thuộc rất nhiều ca dao, tục ngữ và những khúc hát ru Cha ông từng một thời say mê theo đuổi mộng thơ ca nhưng không thành Đồng Đức Bốn chính là sự kết tinh và hoàn thiện của hai tâm hồn ấy
Tuổi thơ của Đồng Đức Bốn là những buổi chiều lang thang trên đồng
cỏ vàng hoe đuổi bắt châu chấu về nướng ăn hay những buổi chiều tát cá mang ra chợ bán
Đồng Đức Bốn làm thơ từ rất sớm, 17 tuổi đã có sáng tác đầu tay nhưng dường như mối duyên với thơ ca chưa đến Ông phải tạm gác việc viết lách lại vì những mối lo của cuộc sống mưu sinh Đồng Đức Bốn tự nhận thấy mình không thể vẩn vơ mãi cùng gió trăng mà phải lao vào cuộc sống đầy cam go nghiệt ngã để tồn tại Ông sớm phải vật lộn với cuộc sống, từng làm rất nhiều nghề: từ thợ gò, thợ sửa chữa ô tô đến cả kí kết những hợp đồng kinh tế Chính cuộc sống đầy nghiệt ngã đó đã hun đúc ở con người này sự
từng trải và dạn dày kinh nghiệm Bản thân ông cũng tự nhận: "trong ông tồn
tại hai con người, một con người mạnh mẽ, quyết liệt và độc đoán, sẵn sàng
"choảng" nhau lúc cần thiết; một con người thơ thì dịu dàng, đằm thắm nhân hậu và đa tình" [8; 680] Con người thứ nhất bươn trải với sóng gió, chịu
nhiều bấp bênh của số phận vì vậy quá tường tận mọi "mánh khoé" của cuộc đời Con người ấy có thể mang trong mình những bộ mặt khác nhau, có thể xoay vần theo sự chuyển biến của xã hội Con người thứ hai đến già vẫn hồn
nhiên như thuở ban đầu: "Tôi lấy trăng liềm làm bím tóc cho"
Thơ ca với Đồng Đức Bốn giống như một mối duyên thiên định Có lẽ
vì vậy mà sau mấy chục năm gác lại sự nghiệp thơ ca để bươn trải trong đường đời, vào cái tuổi gần xế chiều, Đồng Đức Bốn lại tìm về với sự nghiệp làm thơ Và chính trong thời gian này, tên tuổi Đồng Đức Bốn đã nhanh chóng được khẳng định trên thi đàn Việt Nam đương đại Đồng Đức Bốn viết
Trang 11nhiều và viết khoẻ, có lúc làm thơ với ông như một nhu cầu để giải toả Ông
nói "đó là những khoảnh khắc tôi hoá thân vào trời đất, làm thơ giúp tôi nghĩ
về cuộc đời tốt đẹp hơn"
Hơn 10 năm sáng tác, liên tục không ngừng nghỉ, khi tên tuổi của mình
đã được khẳng định trong làng thi ca Việt Nam thì cũng là lúc nhà thơ phát hiện ra mình bị ung thư phổi Dù đau đớn vì bệnh tật hành hạ, nhưng Đồng Đức Bốn luôn gắng gượng dành trọn vẹn những giây phút cuối cùng của cuộc
đời mình cho thơ ca Ông luôn động viên mình "Mệt thì mình làm thơ, mỗi
bài thơ để giải một độc tố ra khỏi cơ thể"
Khi tuyển tập Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc ra đời (1/2006) cũng là lúc
Đồng Đức Bốn không thể chống cự được nữa Nhà thơ từ trần tại nhà riêng thôn Song Mai - An Hồng - An Hải - Hải Phòng vào 10h30' ngày 14/2/2006
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác
Đồng Đức Bốn làm thơ từ rất sớm 17 tuổi ông đã có những sáng tác đầu tay, nhưng nghiệp thơ của ông chỉ được bắt đầu và khẳng định vào khoảng hơn chục năm còn lại cuối đời
Năm 1992, Đồng Đức Bốn xuất bản tập thơ đầu tay Con ngựa trắng và
rừng quả đắng Tập thơ gồm 57 bài, chủ yếu làm theo thể lục bát
Năm 1993, ông cho in tập thơ Chăn trâu đốt lửa Tập thơ vừa ra mắt
đã được đông đảo bạn đọc đón nhận và tìm đến như một nguồn cảm xúc quen
mà rất lạ, rất hấp dẫn
Năm 2000, ông xuất bản liền 2 tập: Trở về với mẹ ta thôi (gồm 45 bài)
và Chuông chùa kêu trong mưa (45 bài)
Năm 2002, ông xuất bản tập thơ: Cuối cùng vẫn còn dòng sông (45 bài) Năm 2006, xuất bản tập thơ Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc (50 bài)
Trang 12Nhà thơ dự định năm 2006 nếu khoẻ lên sẽ ra liền hai tập thơ mỏng
nữa, dự định tên là Ngắm em qua gai rừng và Đi chơi dưới vực cô hồn
Nhưng ý nguyện đã không thành
Đồng Đức Bốn đã từng được một số giải thưởng văn học như:
Giải thưởng cuộc thi thơ của Báo văn nghệ - Hội Nhà văn Nam, năm 1995 Giải thưởng thơ hay nhất của Tạp chí Văn nghệ quân đội, năm 1998 Giải thưởng cuộc thi thơ của Tạp chí Văn nghệ quân đội, năm 1998 - 2000 Giải thưởng "Tầm nhìn thế kỷ" do Báo Tiền phong tổ chức
Giải A của Uỷ ban liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam Nhưng có lẽ giải thưởng lớn nhất dành cho ông chính là lòng yêu mến
và hâm mộ của độc giả dành cho thơ ông
1.3 Vị trí tập thơ Trở về với mẹ ta thôi trong đời sống văn học đương đại
Việt Nam
Đồng Đức Bốn tự nhận xét Trở về với mẹ ta thôi là thời kỳ đỉnh cao
của mình Quả thực như vậy, ít có nhà nghiên cứu hay độc giả nào biết đến thơ Đồng Đức Bốn mà lại không "ấn tượng" trước những bài thơ, vần thơ
trong tập Trở về với mẹ ta thôi Bởi qua tập thơ, người ta không chỉ thấy được
những giai điệu cảm xúc, những suy nghĩ tư, chiêm nghiệm của nhân vật trữ tình - Đồng Đức Bốn - mà dường như còn thấy chính mình trong đó Giữa cuộc sống hiện thực đầy lo toan bộn bề, sôi động ồn ã, những vần thơ trong
Trở về với mẹ ta thôi vừa giống như lời giãi bày chia sẻ lại vừa giống như lời
nhắc nhở của một người đã từng nếm trải biết bao gió bụi của cuộc đời Và nó
có sức khơi sâu vào lòng người, đưa người đọc tìm về với những giá trị đạo đức truyền thống, tìm lại chính mình giữa dòng đời đua chen, giữa cuộc sống
mà đồng tiền lên ngôi còn những giá trị đạo đức và tình cảm giữa người - người đang dần mất đi
Trang 13Như vậy, có thể nói, Trở về với mẹ ta thôi xuất hiện trên thi đàn đương
đại Việt Nam giống như một làn gió mới, nhẹ nhàng mà sâu sắc nhưng lại có sức thanh lọc tâm hồn lớn lao
Trang 14Chương 2 THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TẬP THƠ
TRỞ VỀ VỚI MẸ TA THÔI CỦA ĐỒNG ĐỨC BỐN
2.1 Nội dung cảm xúc của tập thơ
Lê Quý Đôn đã từng nói: "Thơ khởi phát từ trong lòng người ta" Quả
thực như vậy Đến với những trang thơ Đồng Đức Bốn, ta có thể nhận thấy rõ những tiếng lòng chất chứa trong từng câu thơ, ý thơ - Đó là những câu thơ
mà theo Nguyễn Văn Thọ là "những câu thơ lẻ loi, mồ côi, lơ ngơ nhưng
chứa chan cái tình, kể cả sự tri tình một cách đắng cay của Đồng Đức Bốn"
[8; 45] Chính vì vậy, có thể thấy mạch cảm xúc bao trùm toàn bộ tập thơ Trở
về với mẹ ta thôi nói riêng và toàn bộ năm tập thơ của ông nói chung chính là
nỗi niềm cô đơn, xót xa, bơ vơ của một kẻ luôn mang trong mình mặc cảm về
thân phận của "một kẻ xa nhà, kẻ thất tình, kẻ báng bổ thần linh và lãng quên
mẹ cha" [7; 103] Bên cạnh đó là những suy tư chiêm nghiệm về cuộc đời, về
kiếp người của người thi sĩ đất cảng
2.1.1 Nỗi niềm cô đơn, bơ vơ, xót xa
Đỗ Minh Tuấn đã so sánh Đồng Đức Bốn "Giống như chàng Rimbaud
chà đạp lên tất thảy những thiêng liêng hiện hữu để rồi từ đó trở thành nô lệ của hư vô, của cội nguồn thiêng liêng, Đồng Đức Bốn đã cố tỏ ra ngạo nghễ vượt thoát để rồi cuối cùng đổ gục trong niềm uất hận và bất lực trước cảnh ngộ của kẻ thất tình, kẻ báng bổ thần linh và lãng quên mẹ cha" [7; 103] Sau
những dấn thân trải nghiệm, cái tôi Đồng Đức Bốn cảm thấy cô đơn và mất đi điểm tựa tinh thần Con người ấy bỗng trở nên trơ trọi giữa cuộc đời và luôn
mang trong mình mặc cảm về thân phận mồ côi Trở về với mẹ ta thôi xoáy
sâu vào lòng ta những nỗi niềm xót xa, đắng đót tái tê của "một kẻ du ca" đã
Trang 15từ bỏ gia đình, người thân đi tìm những khát vọng, để đến phút cuối cùng phải mang trong mình bao niềm ân hận:
Đời tôi tan nát bơ vơ Nhớ thương là đợi còn chờ là yêu Đời tôi như một con diều Đứt dây để trống cả chiều ngẩn ngơ
(Đời tôi) Những câu thơ giống như một lời tổng kết đầy chua chát của nhà thơ
về chính đời mình Đi suốt cả cuộc đời, nhân vật trữ tình chỉ thấy toàn buồn đau, thất bại, trống trải, chỉ toàn những đổ vỡ "tan nát", chỉ là sự "bơ vơ" không nơi bấu víu nương tựa Có "nhớ", "thương", có "yêu" có mơ mộng, nhưng cũng chỉ tồn tại trong "chờ, "đợi" Kết quả cuối cùng của cuộc dấn thân tìm kiếm đó vẫn là sự cô đơn, trống vắng - "kẻ du ca" đó chẳng khác nào một con diều đứt dây, bơ vơ, "ngẩn ngơ" trong buổi xế chiều của cuộc đời
Nỗi niềm mặc cảm về thân phận cô đơn, lẻ loi còn trở đi trở lại rất nhiều lần trong rất nhiều bài thơ của Đồng Đức Bốn Có khi nỗi niềm mặc cảm ấy lại trỗi dậy mạnh mẽ trong những đêm một mình ngắm trăng:
Tôi là một kẻ không quê Nửa đêm Đà Lạt bốn bề trăng rơi
(Nửa đêm Đà Lạt) Nhà thơ tự nhận mình là một kẻ không quê để rồi cứ mãi chơi vơi trong cái mênh mang của không gian, cái thăm thẳm của trời đêm Và, cuối cùng lại một lần nữa phải cất lên tiếng ca đầy chua xót:
Tôi là một kẻ mồ côi Thế gian mắc tội còn tôi nợ tình
(Nửa đêm Đà Lạt)
Lúa đeo những quả chuông vàng
Có người thổi sáo lang thang bên trời
Trang 16(Nhà quê) Trong nỗi niềm bơ vơ, trong sự cô đơn, mặc cảm của một kẻ mồ côi
như thế, nhà thơ tìm đến bạn bè Nhưng bạn bè cũng chia xa, "rượu ngon
uống một mình không cạn":
Bạn bè chả có cho nhau Lầm than tới lúc bạc đầu mới hay Đời người gần tới chia tay Tỉnh ra mới thấy đời này rỗng không
(Ở quán thịt chó về chiều) Đồng Đức Bốn tìm đến tình yêu, những mong có được một chỗ dựa tinh thần, tìm thấy một niềm an ủi trong cõi đời mênh mông Nhưng, dường như chỉ càng chua chát ngậm ngùi hơn Chàng thi sĩ ấy đã yêu hết mình,
nhưng cái mà Đồng Đức Bốn nhận lại vẫn chỉ là: "Tôi giờ giường vẫn nằm
không một mình", người tình bỏ đi, chỉ còn lại nhà thơ lang thang, cô đơn:
Bây giờ em đã sang sông
Để tim tôi búp sen hồng bỏ rơi
Vớt buồn trên mặt sông trôi Bây giờ vẫn chỉ mình tôi giữa dòng
(Đời tôi) Ngay cả khi tìm về với chốn linh thiêng, Đồng Đức Bốn vẫn chỉ là một
kẻ bơ vơ, luôn mang trong mình những mặc cảm về thân phận:
Hồn tôi là một lá bùa Lửng lơ treo giữa cơn mưa đặc trời
Trang 17Đó là tiếng lòng sám hối đầy xa xót của kẻ đã có lúc bất cần, báng bổ thần linh, nhưng sau những dấn thân trải nghiệm, cho đến cuối đời bỗng nhận
ra mình là kẻ có tội với tổ tiên, thần thánh Đúng như nhà phê bình Nguyễn
Đăng Điệp đã nói: "Nhà thơ đã đi tìm một vòng từ sự chối bỏ cái thiêng liêng
để rồi tìm lại cái thiêng liêng" [7; 104]
Gia đình chính là điểm tựa thiêng liêng nhất đối với mỗi con người, là cái nơi cuối cùng để mỗi con người tìm về sau những dấn thân trải nghiệm Với Đồng Đức Bốn cũng vậy Trong tận cùng nỗi cô đơn, bơ vơ, xót xa, Đồng Đức Bốn không còn biết đi đâu ngoài con đường tìm về với cội nguồn - mà người mẹ chính là hiện thân, là linh hồn của nguồn cội đó Thế nhưng, tất cả
đã quá muộn màng:
Trở về với mẹ ta thôi Giữa bao la một khoảng trời đắng cay
Mẹ không còn nữa để gầy Gió không còn nữa để say tóc buồn
Người không còn dại để khôn Nhớ thương rồi cũng vùi chôn đất mềm
(Trở về với mẹ ta thôi)
Đã có rất nhiều nhà thơ viết về mẹ rất hay như Nguyễn Duy, Trúc Thông, Nguyễn Đức Mậu, Hoàng Phủ Ngọc Tường Nhưng nếu hình ảnh người mẹ trong thơ Nguyễn Duy dấy lên trong lòng người đọc những cảm xúc, những kỉ niệm về người mẹ hiền lành, tần tảo, lam lũ suốt đời hy sinh cho con:
Mẹ ta không có yếm đào Nón mê thay nón quai thao đội đầu
Rối ren tay bí tay bầu Váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa
Trang 18thì Đồng Đức Bốn nghĩ và viết về người mẹ gắn với những mặc cảm mồ côi của đứa con chưa làm tròn bổn phận Đứa con ấy sau bao năm tháng chối từ bổn phận với gia đình, quê hương, dấn thân theo những khát vọng, đến khi quay đầu trở lại thì mẹ đã đi xa mất rồi:
Con vừa vượt núi băng ngàn Cúi đầu lạy mẹ con đi về trời
(Trở về với mẹ ta thôi) Mất đi điểm tựa thiêng liêng nhất, Đồng Đức Bốn rốt cục vẫn là một kẻ
mồ côi, luôn bị giày vò trong mặc cảm thân phận:
Con vẫn là đứa trẻ mồ côi
Mồ côi cả thơ trước cuộc đời hoang dại
(Mẹ ơi) Như vậy, có thể nói, nỗi niềm cô đơn, bơ vơ và sự mặc cảm về thân
phận chính là mạch cảm xúc xuyên suốt tập thơ Trở về với mẹ ta thôi Nỗi
mặc cảm đó là hệ quả tất yếu của một cái tôi tài tử bất đắc chí đã từng chối bỏ
thân phận để thực hiện khát vọng cho mình, “cuối cùng đổ gục trong niềm uất
hận” [7; 103] Cái tôi mặc cảm thân phận của Đồng Đức Bốn đã nói hộ tiếng
lòng của biết bao số kiếp vì thế nó mang một giá trị nhân văn sâu sắc
2.1.2 Nỗi đau bị người tình lìa bỏ
Thơ Đồng Đức Bốn không chỉ thể hiện nỗi mặc cảm về thân phận của cái tôi cá nhân tác giả mà một nội dung quan trọng và nổi bật không thể không nhắc đến - đó chính là mảng thơ ông viết về tình yêu, nhưng là thứ tình yêu gắn liền với sự lỡ dở, với nỗi đau bị người tình lìa bỏ
Trong tập thơ Trở về với mẹ ta thôi, Đồng Đức Bốn rất nhiều lần nhắc
đến nhân vật trữ tình là "em" - là người tình ông đem lòng thương mến Và ở bài nào cũng thấy một Đồng Đức Bốn yêu hết mình, muốn dành cho người mình yêu tất cả Vì vậy mới có những câu thơ thật ngông ngạo
Cánh hoa sắc một lưỡi dao
Trang 19Vì yêu tôi cứ cầm vào như không
(Hoa dong riềng) Hay:
Dù cho tát cạn bể dâu Cho dù ngâm giữa vạc dầu đang sôi Yêu em nếu phải đốt trời Cũng vui vẻ chết như chơi vườn đào
(Gửi Tân Cương)
Nhà phê bình Nguyễn Đăng Điệp đã từng nói: "Trong tình yêu, cái
ngông ngạo ấy tự nhận mình là bão, là giông gió đi vào đời em bứt em ra khỏi hệ luỵ để đi vào cõi yêu Đó là cách chiếm đoạt của Đồng Đức Bốn Con ngựa hoang ấy cũng tự nhận "Tôi là bão không làm em tơi tả" Yêu như thế là yêu tới bến mà vẫn trọng người, thương người lắm" [7; 114]
Ta bắt gặp trong tập thơ, một Đồng Đức Bốn thật hồn nhiên chân thật
mà cũng không kém phần tha thiết, sâu sắc và lãng mạn:
Em bán gì đấy em ơi
Để tôi mua một nụ cười làm duyên
Nếu không trả được bằng tiền Tôi lấy trăng liềm làm bím tóc cho
(Nhà quê)
Từ khi yêu "em", cuộc sống dường như cũng trở nên thay đổi, đẹp đẽ
và có ý nghĩa hơn Cái tôi yêu đương khi này chỉ còn biết đắm say trong thế giới của "em", chỉ biết đến mình "em" mà thôi:
Tôi còn một chút duyên quê Yêu em nên phố bốn bề đều hoa Nói gì thì kệ người ta Không em phố chẳng còn là phố đâu
(Nhà quê) Khi yêu, cái tôi Đồng Đức Bốn cũng đầy nhớ nhung, mong chờ:
Trang 20Bên nhau sà sã suốt ngày Vừa đi nửa bước đã đầy nhớ thương
(Đêm sông Cầu)
Ước gì mưa mãi chẳng tan
Để cho sấm cứ râm ran khắp trời
Để cho em nép vào tôi
Ôm chung một giọt mưa rơi xuống lòng
(Phố Nối mưa rào) Nhưng, càng yêu, càng mong chờ, khát khao, càng tin bao nhiêu thì Đồng Đức Bốn càng hụt hẫng, cô đơn bấy nhiêu khi tình duyên lỡ dở Đó hình như là quy luật tất yếu mà những kẻ đam mê nào khi dấn thân vào tình yêu cũng phải chấp nhận Và Đồng Đức Bốn đã nói hộ rất đúng, rất sâu sắc tiếng lòng của biết bao kẻ như thế Thi sĩ nói nhiều đến nỗi cô đơn, sự thất bại, đắng cay và cảm giác của người tình bỏ đi Trong cái thế giới không "em"
ấy, mọi vật dường như đều sống trong tâm trạng đổ nát: Con tàu chết chìm trên sông, cốc thủng, đường lầy, lúa nghẹn đòng, dây tơ hồng héo, mặt trời vỡ nát, nắng mưa, gió gầy, trăng đứt thành hai mảnh, sông sâu, cầu gẫy Mọi vật trong thế giới bỗng chốc hiện lên thật đáng thương và tội nghiệp:
Khổ thân cho cả bờ rào Dây tơ hồng héo quắt vào mùa thu
(Cơn mưa dừng ở Sóc Sơn) Mọi vật đều như rạn vỡ khi thế giới này vắng em:
Tôi nghe nẫu cả những chiều Câu thơ ngã xuống đổ xiêu mái chùa
(Cuốc kêu) Không gian và thời gian buổi chiều vốn đã gợi nỗi buồn, nay lại nhuốm đầy tâm trạng u sầu ảo não khi thiếu vắng "em" Cả đến câu thơ cũng như
Trang 21mang trong mình sức nặng tâm trạng ấy Vì vậy mà "câu thơ ngã xuống đổ xiêu mái chùa"
Cả một thời Đồng Đức Bốn đi tìm tình yêu, bất chấp tất cả để yêu Nhưng cái nhà thơ nhận lại chỉ là một khoảng "không em", chỉ là nỗi buồn, sự
cô đơn đến héo hắt cả cõi lòng:
Tôi đi tìm một tình yêu Trên dòng sông chứa rất nhiều ban mai
Tôi đi trên dòng sông gai Lốt chân chim đậu trên vai thành hồ Không em từ bấy đến giờ Bàn tay vẫn héo như cờ chịu tang
(Ngày không em) Dường như Đồng Đức Bốn luôn mang trong mình mặc cảm tình duyên
lỡ dở không thành, nhà thơ luôn thấy mình là kẻ sang sông đắm đò, cứ lênh đênh giữa dòng, đi mãi mà không tới bến bờ hạnh phúc Vì vậy, dòng sông không còn êm đềm, đẹp đẽ "chứa rất nhiều ban mai" nữa mà đã "hoá lưỡi cưa" để cho nhà thơ "đi sớm về trưa nát lòng", để cho thế giới của "tôi" chỉ còn lại sự bơ vơ, lạc lõng, nỗi mặc cảm bị bỏ rơi và nỗi buồn ngập đầy giăng mắc khắp không gian sông nước:
Nhưng em đã bỏ đi rồi Cái mênh mông ấy vừa rơi vừa chìm Bây giờ sông hoá lưỡi cưa
Để tôi đi sớm về trưa nát lòng Bây giờ em đã sang sông
Để tim tôi búp sen hồng bỏ rơi Vớt buồn trên mặt sông trôi Bây giờ vẫn chỉ mình tôi giữa dòng
Trang 22Sao rơi cháy cả đôi bờ
Mà anh thì cứ bơ vơ giữa dòng Sông sâu nước cả em ơi
Từ trong câu hát ai người biết cho Rút trăng buộc lại con đò Thu lời em hát chỉ cho riêng mình
(Đêm sông Cầu)
Dẫu vẫn biết cuộc vui nào rồi cũng sẽ đến lúc tàn, dẫu vẫn biết: "Ngày
mai trong đám xuân xanh ấy/Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi" (Hàn Mặc Tử),
nhưng người nghệ sĩ ấy vẫn không sao hết hụt hẫng, ngỡ ngàng:
Anh xa để lạnh đôi bờ
Đò em cứ chảy lơ thơ giữa dòng
Đừng buông giọt mắt xuống sông Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm
(Đêm sông Cầu) Một sự mất mát không gì bù đắp được trong cảm giác "anh về dẫu chỉ
đò không cũng chìm" Cảm giác hụt hẫng đến mức "đò không cũng chìm" có
lẽ chỉ có ở riêng Đồng Đức Bốn
Tiếp theo là những cảm giác cô đơn một mình trên đường về, trời nổi giông bão, đò đã sang ngang, sông sâu gió nổi - được nhà thơ nhắc đến thường xuyên như một ám ảnh nghệ thuật:
Trang 23Một hôm bến bỗng vắng teo Anh xa đò cũng xa theo mất rồi
(Đêm sông Cầu)
Nhưng em đã bỏ đi rồi Cái mênh mông ấy vừa rơi vừa chìm
(Viết ở bờ sông) Trong thơ Đồng Đức Bốn rất nhiều lần nhà thơ nhắc đến cái khoảnh khắc thời gian "đêm ấy", "cái đêm em ở với chồng", cái đêm anh là con đò bơ
vơ, là kẻ thất tình bên sông chờ đợi người yêu nhưng người đã qua sông và không bao giờ trở lại:
Cái đêm em ở với chồng
Để ai hoá đá bên sông đợi chờ Cái đêm hôm ấy gió mùa
Tơ nhện giăng đến cồng chùa thì tan
(Cái đêm em ở với chồng)
Cái đêm lành lạnh gió mùa
Em trong chăn ấm có đùa với ai
Ngang trời tiếng vạc mảnh mai Chém trăng đã đứt thành hai mảnh rồi
(Cái đêm em ở với chồng)
Có lẽ chỉ có Đồng Đức Bốn mới có những cảm nhận tinh tế và mới lạ
về âm thành tiếng vạc như thế Một tiếng vạc mà "mảnh mai" đến nỗi "chém trăng" "đứt thành hai mảnh" - tiếng vạc ấy chắc hẳn phải cô đơn, lạc lõng đến
vô cùng Có cảm giác thứ âm thanh ấy vang lên còn khứa sâu hơn vào nỗi niềm cô đơn, chua xót của nhà thơ trong cảnh "Em trong chăn ấm có đùa với ai"
Trong đường đời, cái tôi Đồng Đức Bốn có lúc ngạo nghễ, khinh đời là thế, nhưng đã rất nhiều lần cái tôi ấy gục ngã trên bến sông tình đã rất nhiều lần nhà thơ phải ngồi đợi người yêu trên bến sông ngày mưa Nhưng người
Trang 24đợi thì cứ hoá đá tạc vào bên con sông, mà người đi thì đã đi là không bao giờ trở lại Sông mưa tầm tã hay cõi lòng người cũng nát tan như thế:
Sông mưa tầm tã trong chiều Tôi ngồi tôi đợi người yêu tôi về
Tôi ngồi đợi chán đợi chê Người yêu tôi vẫn chưa về sông mưa
Có lẽ vì thế mà thế giới thơ tình của ông đều là những mảnh tình lỡ làng, trái ngang Ở đó, thi nhân luôn là kẻ chiến bại, là kẻ "ngang sông đứng đợi đò"
Thế nhưng, dù thất bại, lỡ dở, dù đau xót, ngậm ngùi khi tình yêu không thành, Đồng Đức Bốn không bao giờ tuyệt vọng:
Ra giêng anh lại đi tìm Những câu quan họ của Lim ngày nào
(Ra Giêng anh lại đi tìm) Với tác giả, nỗi buồn ấy nhiều khi cũng chính là một niềm an ủi:
Buồn thì tôi vẫn làm thơ
Trang 25(Ra Giêng anh lại đi tìm)
Dù cho bến vắng, đò đã sang ngang, dù anh vẫn chỉ là kẻ bơ vơ lạc lõng "giữa phiên chợ tình", dù yêu em, anh chỉ nhận lại là ngậm ngùi, chua xót, đắng cay thì anh vẫn chấp nhận tất cả, vẫn bất chấp tất cả để yêu và đã yêu thì sẽ không bao giờ tuyệt vọng:
Yêu em nếu phải đốt trời Cũng vui vẻ chết như chơi vườn đào
(Gửi Tân Cương) Đồng Đức Bốn còn sống thì còn yêu Và đã yêu thì luôn yêu hết mình Cái tôi ấy yêu mà không một lời khen chê, oán trách Được yêu hay bị từ chối
cũng là số phận định trước rồi Vậy thế nên nhà thơ sẵn sàng "đem thơ đổi lấy
những chiều tương tư" để tìm cho mình một niềm an ủi
Viết về cuộc tình lỡ dở của mình, Đồng Đức Bốn đã giãi bày lòng mình đồng thời cũng nói hộ tâm sự của bao kẻ đã, đang và sẽ dấn thân vào chốn
"vườn tình" Trong nỗi đau của tình yêu lỡ nhịp thất bại, Đồng Đức Bốn không hề tuyệt vọng bi quan Thi nhân buồn nhưng luôn gắng gượng để vượt lên trên nỗi buồn ấy để tìm cho mình một niềm an ủi Vì thế mà nội dung thơ tình của Đồng Đức Bốn luôn mang một giá trị nhân văn sâu sắc
2.1.3 Nỗi niềm suy tư, chiêm nghiệm về cuộc đời
Đồng Đức Bốn từng nói ông làm thơ vì buồn đời Đời ông có quá nhiều cái buồn đến nỗi tưởng như sẽ gục ngã Với sự ra đi lần lượt của hai đứa con cùng nỗi đau của bạn bè xung quanh chia xa, Đồng Đức Bốn dường như đổ gục trong nỗi niềm cô đơn, luôn sống trong sự mặc cảm về thân phận mồ côi Đồng Đức Bốn tự nhận: Trong ông tồn tại hai con người, một con người mạnh mẽ, quyết liệt, độc đoán, sẵn sàng "choảng" nhau nếu thấy cần thiết Một con người thơ dịu dàng, đằm thắm, nhân hậu và đa tình Con người thứ nhất bươn trải với sóng gió, chịu nhiều bấp bênh của số phận, vì vậy quá tường tận "mánh khoé" của cuộc đời, thấu hiểu sâu sắc mọi nghiệt ngã phũ
Trang 26phàng của nhân tình thế thái Con người thứ hai đem đến cho Đồng Đức Bốn một trái tim đa cảm để bắt nhạy với nỗi đau của nhân tình Và chính sự kết hợp của một trái tim đa cảm của một thi sĩ và con mắt quan sát tinh tường sau nhiều trải nghiệm ấy đã giúp Đồng Đức Bốn nhìn ra thực trạng của xã hội còn nhiều buồn đau Vì vậy, nhắc đến thơ Đồng Đức Bốn, bên cạnh nỗi mặc cảm
về thân phận mồ côi và nỗi đau đớn của người tình bị lìa bỏ, ta không thể không nhắc đến mảng thơ thể hiện những suy tư chiêm nghiệm của tác giả về cuộc đời
Ta bắt gặp trong thơ Đồng Đức Bốn hình ảnh của một "kẻ du ca" lang thang đang chăm chú quan sát cuộc sống xung quanh:
Người thì áo rách áo nâu Người thì xe cúp đua nhau từng hàng Tôi thì xe đạp lang thang Nhìn dọc đã chán nhìn ngang lại buồn
(Chiều mưa trên phố Huế) Hiện thực cuộc sống với đầy những mâu thuẫn, đối nghịch: "áo rách áo nâu", "xe cúp từng hàng" cứ hiện ra trước mắt một thi sĩ đa cảm khiến trái tim
đã đầy đau thương lại càng xót xa hơn:
Chiều mưa phố Huế một mình Biết đâu là chỗ ân tình đến chơi
(Chiều mưa trên phố Huế) Cái buồn của nhà thơ và trước cuộc sống thiếu vắng tình người không còn chỉ là cái buồn của một cá nhân mà đã trở thành cái buồn của rất nhiều người giữa xã hội đang từng ngày thay đổi này
Với trái tim đa cảm, Đồng Đức Bốn còn chỉ ra cho chúng ta thấy: Trong nhịp sống ồn ào vội vã của hôm nay, bên cạnh cái gọi là văn minh, vẫn chưa hết những cảnh đời đáng thương bất hạnh Vẫn còn rất nhiều những em nhỏ lang thang cơ nhỡ không nơi nương tựa:
Trang 27Khói nhà ai cứ mọc ngang Con nhà ai cứ lang thang chợ chiều
(Chờ đợi tháng ba) hay những người già xin ăn đầy tội nghiệp:
Ngậm ngùi thịt chó bánh đa Chiều nay lại thấy bà già xin ăn
(Ở quán thịt chó về chiều) hoặc những người mù hát rong với tiếng đàn não nùng:
Chợt đâu có tiếng ca ru Nhìn ra lại bác sẩm mù hát rong
(Cơn mưa dừng ở Sóc Sơn) Những gì mà Đồng Đức Bốn đưa ra cũng chính là những vấn đề đầy nhức nhối của mọi xã hội, mọi thời đại Và, còn đáng buồn hơn, khi nhận ra rằng: trong xã hội hiện đại, khi con người càng mải mê chạy theo công danh, tiền tài, tham vọng lớn bao nhiêu thì cái tình - phần cốt lõi nhất của cuộc sống lại phai nhạt đi bấy nhiêu Đồng Đức Bốn đã thấu hiểu sâu sắc điều đó, vì thế
mà có những câu thơ thấm đẫm nỗi đau nhân tình như:
Sướng thì không được một lần Đau thì chẳng phải đau ngần ấy đâu Bạn bè chả có cho nhau
Lầm than tới lúc bạc đầu mới hay Đời gần tới phút chia tay Tỉnh ra mới thấy đời này rỗng không
(Ở quán thịt chó về chiều) Hay:
Ở đời có vạn nỗi lo Nông sâu ai biết ai dò được ai
Có đi đến những đền đài
Trang 28Mới hay đường đến chông gai còn nhiều
(Vẫn còn viết ở Tân Cương) Dường như ở Đồng Đức Bốn, niềm tin vào con người, vào cuộc sống
đã bị đổ vỡ Cuộc sống hiện tại với đầy những vấn đề nhức nhối không thể đem lại cho nhà thơ niềm vui Vì vậy, có những lúc, Đồng Đức Bốn đã tìm về với quá khứ để tìm mối đồng cảm, tri âm Nhưng hiện tại phũ phàng mà quá khứ thì cũng đáng buồn không kém Bởi, vẫn còn đó nỗi oan khiên của người xưa với tấn bi kịch mang tầm thời đại:
Sáu trăm năm đã trôi qua Vẫn là Nguyễn Trãi thơm hoa bốn mùa Lỗi lầm cả một triều vua
Người nay còn giống người xưa không nào
Từ đất tôi hỏi trời cao
Từ em tôi hỏi ca dao vọng về
(Thức với Côn Sơn) Nỗi oan khiên của con người sẽ chẳng bao giờ dứt được Thời gian vẫn lặng lẽ trôi làm phai nhạt những gì được gọi là quá khứ Nhưng cũng chính thời gian lại là tấm màng lọc nghiệt ngã nhất cho những gì đã trong và còn đục Nguyễn Trãi vẫn còn đó Lỗi lầm của cả một triều đại không thể sửa Nỗi oan giờ vẫn còn tái tê Đồng Đức Bốn cất tiếng hỏi trời cao về đâu phải chỉ bởi nỗi đau của quá khứ, mà dường như từ chính nỗi đau hiện tại: "Người nay còn giống người xưa không nào?" Từ câu hỏi ấy, người đọc nhận thấy một sự thật đầy xa xót: Người nay vẫn không khác người xưa, chuyện nay cũng còn đầy những trái ngang, oan khiên như chuyện xưa Cuộc sống vốn dĩ bất toàn và luôn luôn lầm lỗi:
Đời người còn lắm bể dâu Trắng đen còn một Mị Châu để buồn
(Cuốc kêu)
Trang 29Đó dường như đã là quy luật - quy luật của cuộc sống Và quy luật ấy không ngoại trừ một ai, không ngoại trừ một thời đại nào
Như vậy, từ những vấn đề còn nhiều đáng buồn ở thực tại, tác giả đã tìm lối thoát ở quá khứ Nhưng quá khứ cũng không nằm ngoài quy luật nghiệt ngã Chính vì vậy, Đồng Đức Bốn đã tìm cho mình một lối sống, một thái độ sống mang tính nhân văn của con người nhập cuộc Nhà thơ không chối bỏ hay phủ nhận cuộc sống dù nó có nghiệt ngã đến mấy Ông chỉ âm thầm quan sát hiện thực phũ phàng, đầy những nhức nhối ấy để rồi ân cần dịu giọng và tìm cho mình, cho nhân gian một ngã rẽ hợp tình hợp lí - vượt lên giông bão để khẳng định mình:
Vì người ta đã dìm thuyền Thì tôi phải biết vượt lên cả bờ
(Tưởng) Với nhà thơ, cuộc sống là đầy những bão tố Nhưng điều quan trọng là phải biết "tựa bão để sống", phải đứng dậy ngay từ chỗ đã vấp ngã, giữ vững niềm tin:
Tựa bão để sống làm người Tựa em để được nói lời tình yêu
(Tựa bão để sống làm người)
Và, từ sâu thẳm nhà thơ vẫn luôn mong mỏi:
Oán không nên trả bằng hờn
Ân còn giữ lại làm cơn mưa nguồn
(Tựa bão để sống làm người) Nỗi niềm mong mỏi ấy hướng tới mọi người chính là kết quả sau bao nhiêu trải nghiệm lăn lộn trong cuộc sống của Đồng Đức Bốn Đồng Đức Bốn buồn trước cuộc đời nhưng nhà thơ không bao giờ tuyệt vọng Cái buồn của nhà thơ là cái buồn rất thi sĩ, cái buồn của một khách văn chương vì quá nhạy cảm với thời cuộc nên càng nhận thức rõ hơn về bản chất cuộc sống, càng ý thức sâu
Trang 30sắc hơn về bản thân mình Cái buồn và những trăn trở của Đồng Đức Bốn về cuộc sống chính là những biểu hiện của ý thức trách nhiệm đối với cuộc đời và con người của nhà thơ Trái tim nhạy cảm của một thi sĩ và những trải nghiệm của một cuộc đời đầy đau khổ giúp nhà thơ nhận thức rõ hiện thực cuộc sống, khiến nhà thơ phải buồn, phải xót xa, nhưng vẫn gắn chặt nhà thơ với cuộc sống Đây cũng là một điều rất đáng quý, thấm đẫm giá trị nhân văn cao cả, tạo nên sức sống lâu bền của những vần thơ Đồng Đức Bốn trong trái tim độc giả
2.2 Hình tượng nhân vật trữ tình trong tập thơ
Thông qua việc tìm hiểu những nội dung cảm xúc của tập thơ Trở về
với mẹ ta thôi ta có thể nhận thấy rất rõ hình tượng của nhân vật trữ tình - cái
"tôi" tác giả trong đó
Đầu tiên, có thể thấy ngay đó là hình tượng một cái tôi cô đơn bơ vơ trước cuộc đời Cuộc đời Đồng Đức Bốn đầy những mất mát, đau thương Cả cuộc đời nhà thơ luôn sống trong mặc cảm về thân phận mồ côi: không người thân, không bạn bè, người yêu thì bỏ theo chồng, đứng trên quê hương mình
mà luôn có cảm giác của kẻ "không quê" Cái tôi nhà thơ không bao giờ nguôi nỗi khắc khoải trước cuộc đời
Suốt đời sống trên ngọn gai Chỉ khao khát chết xem ai thương mình
(Thơ viết gửi người tình khi tôi chết) Nhưng cái cuối cùng nhà thơ nhận về cũng chỉ là sự cô đơn, bơ vơ Nó giống như một mối duyên tiền định, một sự ám ảnh trong suốt cuộc đời nhà thơ Vì vậy, cho đến cuối đời, khi nhìn lại toàn bộ chặng đường đời đã qua của mình, nhà thơ không khỏi xót xa:
Đời tôi tan nát bơ vơ Nhớ thương là đợi còn chờ là yêu
(Đời tôi)
Trang 31Mặc dù vậy, ta không chỉ bắt gặp một cái tôi luôn ngập chìm trong mặc cảm thân phận, trong nỗi đau bị người tình lìa bỏ, trong sự cô đơn, bơ vơ
mà còn nhận thấy bóng dáng của "kẻ du ca" đầy ngông ngạo và cứng cỏi
Giữa cuộc sống bụi bặm, xô bồ - cuộc sống "Nhìn dọc đã chán nhìn
ngang lại buồn", tình nghĩa giữa người với người đã không còn như xưa:
"Bạn bè chẳng có cho nhau/Lầm than tới lúc bạc đầu mới hay", Đồng Đức
Bốn tìm đến những thú vui trong tang bồng chốn thôn quê dân dã
Chăn trâu đốt lửa xong rồi Thì ta trả bút cho trời làm hoa
Người đời không hái được ta Thì em đừng mộng ta là tình nhân
Ta đánh bạc với quỷ thần
Để cho người được sống gần ta thôi
(Trả bút cho trời) Nhưng đó không phải là thái độ thoát li với cuộc sống hiện tại Bởi hơn
ai hết, sau những đắng cay bất hạnh của cuộc đời, nhà thơ không lúc nào thôi nhủ với bản thân:
Vì người ta đã dìm thuyền Thì tôi phải biết vượt lên cả bờ
(Tưởng) Dường như chính những bão tố, những đắng cay trong cuộc đời đã tôi luyện nên một Đồng Đức Bốn kiên gan và cứng cỏi đến như thế:
Bàn chân đã xéo lên gai Máu chảy không sợ thì không sợ gì
(Đời tôi) Điệp từ "không sợ" điệp lại hai lần ở giữa dòng thơ như một sự khẳng định đinh ninh một lời thách thức của nhà thơ trước cuộc đời Con người ấy sẵn