Bản thân người nghiên cứu cảm thấy rất thích thú với việc so sánh, vì so sánh đòi hỏi sự tìm tòi phát hiện, tư duy phân tích - đối chiếu nên đã chọn đề tài “So sánh nhân vật kỳ ảo trong
Trang 1Trường đại học sư phạm hà nội 2
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà nội- 2009
Trang 2Lời cảm ơn
Khoá luận này được hoàn thành dưới sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của Th.S Nguyễn Thị Tính Tác giả khoá luận xin gửi tới cô lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất.
Tác giả khoá luận xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Tổ bộ môn Văn học Việt Nam và các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn - trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình làm khoá luận
Trang 3Lêi cam ®oan
T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c luËn
®iÓm vµ kÕt qu¶ nghiªn cøu nªu trong khãa luËn cha tõng ®îc c«ng bè trong bÊt cø c«ng tr×nh nghiªn cøu khoa häc nµo
Hµ Néi, ngµy 09 th¸ng 05 n¨m 2009
T¸c gi¶ khãa luËn
§Æng ThÞ Thoan
Trang 4MụC LụC
Trang
Mở đầu……… ……….… 1
1 Lý do chọn đề tài……… 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ……… 2
3 Mục đích nghiên cứu ……… 7
4 Nhiệm vụ nghiên cứu.……… 7
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.……… 7
6 Phương pháp nghiên cứu.……… 7
7 Đóng góp của khóa luận……… 8
8 Bố cục khóa luận.……… 8
Nội dung……… 9
Chương 1: Khái quát chung về nhân vật kỳ ảo……… 9
1.1 Khái niệm nhân vật.……… 9
1.2 Khái niệm nhân vật kỳ ảo.……… 10
1.3 Đặc điểm của nhân vật kỳ ảo.……… 12
1.3.1 Nguồn gốc, hành trạng khác thường……… 12
1.3.2 Ngoại hình, diện mạo khác thường.……… 14
1.3.3 Khả năng phi thường ……… 15
Chương 2: So sánh nhân vật kỳ ảo trong “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ và truyện cổ tích Việt Nam ……… 18
2.1 Sự tương đồng giữa nhân vật kỳ ảo trong “Truyền kỳ mạn lục” và truyện cổ tích Việt Nam.……… ……… 18
2.1.1 Tương đồng về phương thức xây dựng nhân vật kỳ ảo……… 18
2.1.1.1 Dùng môtíp giấc mộng.……….…… 18
2.1.1.2 Dùng môtíp con người gặp gỡ thần tiên……… 22
2.1.1.3 Dùng môtíp con người sống với ma quỷ……… 27
Trang 5Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
2.1.1.4 Dùng môtíp “vạn vật hữu linh”.……… 30
2.1.2 Tương đồng về vai trò của nhân vật kỳ ảo.……… 32
2.2 Sự khác biệt giữa nhân vật kỳ ảo trong “Truyền kỳ mạn lục” và truyện
cổ tích Việt Nam.……… ……… 36
2.2.1 Sự khác biệt trong hệ thống nhân vật kỳ ảo.……… 36
2.2.1.1 Kiểu nhân vật kỳ ảo là loài vật hoặc đội lốt loài vật………… 36
2.2.1.2 Kiểu nhân vật đạo sỹ, pháp sư.……… 41
2.2.1.3 Đặc tính của nhân vật kỳ ảo trong hệ thống……… 45
2.2.2 Sự khác biệt về vị trí của nhân vật kỳ ảo trong tác phẩm………… 53
2.2.2.1 Vị trí của nhân vật kỳ ảo trong tác phẩm của truyện cổ tích
dân gian.……….……… 53 2.2.2.2 Vị trí của nhân vật kỳ ảo trong tác phẩm của “Truyền kỳ mạn
lục”.……….……… 56
2.2.3 Sự khác biệt trong bút pháp xây dựng nhân vật kỳ ảo……… 59
2.2.3.1 Bút pháp thần thánh hóa nhân vật kỳ ảo trong truyện cổ tích
Việt Nam ……….……… 59 2.2.3.2 Bút pháp trần tục hóa nhân vật kỳ ảo trong “Truyền kỳ mạn
Trang 6Nhân vật kỳ ảo là nhân vật đặc trưng của thể loại truyền kỳ và xuất hiện rất nhiều trong thần thoại, truyền thuyết, cổ tích Việt Nam (nhất là truyện cổ tích thần kỳ), trong các truyện chí, quái, u linh và cả trong văn xuôi hiện đại
Nó có vai trò vô cùng quan trọng: là sợi dây gắn kết giữa VHDG và văn học trung đại, là “tấm gương” để phản ánh hiện thực và tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm Xuất phát từ vai trò này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu so sánh
nhân vật kỳ ảo trong “Truyền kỳ mạn lục” và truyện cổ tích Việt Nam là để
khẳng định lại vai trò của nhân vật kỳ ảo
Nguyễn Dữ với “Truyền kỳ mạn lục” có vị trí rất quan trọng trong lịch
sử văn học dân tộc (ông được coi là “cha đẻ” của thể loại truyền kỳ và chủ nghĩa nhân văn trong văn học Việt Nam trung đại) Viết “Truyền kỳ mạn lục”, ngoài việc tiếp thu, kế thừa, sử dụng những truyền thống tốt đẹp từ
VHDG (theo quy luật chung của văn học trung đại), Nguyễn Dữ còn tưởng
tượng, hư cấu để tạo nên áng “thiên cổ kỳ bút” đặc sắc “Truyền kỳ mạn lục”
Vì thế, với đề tài này, chúng tôi so sánh là để thấy được tài năng và sự sáng tạo của Nguyễn Dữ
Bản chất của việc so sánh không phải là để đánh giá sự vật hiện tượng này hơn hay kém sự vật hiện tượng kia, mà so sánh là để tìm ra sự độc đáo,
mới lạ Do vậy, so sánh nhân vật kỳ ảo trong “Truyền kỳ mạn lục” và trong
truyện cổ tích dân gian cũng nhằm khám phá sức hấp dẫn riêng của mỗi thể loại Qua so sánh, thấy được sự tương đồng và khác biệt giữa VHDG và văn học viết, thấy được mối liên hệ giữa chúng qua một “cầu nối” tiêu biểu là nhân vật kỳ ảo
Theo chương trình SGK Ngữ văn THPT hiện nay học sinh được tiếp cận
cả với tác phẩm VHDG (Tấm Cám) và “Truyền kỳ mạn lục” (Chuyện chức phán sự đền Tản Viên) Cho nên, với đề tài này, so sánh là để giúp học sinh
thấy được sự gắn bó liền mạch và cả “chuyển hóa” giữa VHDG và văn học
Trang 7viết, thấy được tác dụng, vai trò của nhân vật kỳ ảo với cả hai thể loại (truyền
kỳ và truyện cổ tích) và với văn học nói chung
Bản thân người nghiên cứu cảm thấy rất thích thú với việc so sánh, vì so sánh đòi hỏi sự tìm tòi phát hiện, tư duy phân tích - đối chiếu nên đã chọn đề
tài “So sánh nhân vật kỳ ảo trong “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ và truyện cổ tích Việt Nam”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn học Việt Nam gồm hai bộ phận cấu thành cơ bản là VHDG và văn học viết Giữa VHDG và văn học viết luôn có mối liên hệ chặt chẽ, gắn bó mật thiết Mối liên hệ này là một vấn đề rất thu hút các nhà nghiên cứu quan tâm
GS TS Kiều Thu Hoạch trong “Mối quan hệ giữa văn học viết và văn học dân gian trong thời kỳ trung đại” khẳng định rằng: “Từ những cốt truyện dân gian như vậy, các tác giả truyền kỳ đã hư cấu thành những câu chuyện hoàn chỉnh, vừa có yếu tố lãng mạn, vừa có tính tư tưởng sâu sắc, vừa có giá trị nghệ thuật cao” [50, tr 253] và “mối quan hệ giữa nguồn truyện kể dân gian với các thể loại tự sự văn xuôi” là tất yếu
Tác giả Bùi Văn Nguyên với bài viết “Bàn về yếu tố dân gian trong
“Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ” trên Tạp chí Văn học, số 11/1968
cũng khẳng định về sự tiếp thu cốt truyện và các môtíp từ VHDG để viết
“Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ Sự tiếp thu này là “không thể tránh khỏi” nhưng cũng “hoàn toàn hợp lý” và đầy sáng tạo
Riêng tác giả Trần ích Nguyên với “Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục” thì ngoài việc khẳng định “Truyền kỳ mạn lục” “cải biên từ thần thoại, chí quái Việt Nam” và “ghi chép lại truyền thuyết dân gian địa phương” còn cho rằng: “ảnh hưởng của “Tiễn đăng tân
Trang 8thoại” mới thực sự rõ rệt và sâu đậm đối với “Truyền kỳ mạn lục”” [35, tr
201]
Ta thấy, cả ba tác giả này mặc dù cùng đề cập sâu đến một vấn đề: mối
quan hệ giữa VHDG và văn học viết (“đại biểu” là “Truyền kỳ mạn lục”)
nhưng mới chỉ chỉ ra mối quan hệ trên cơ sở của sự tiếp thu cốt truyện và các
môtíp dân gian (của “Truyền kỳ mạn lục”) chứ chưa đề cập cụ thể, tỉ mỉ về mối quan hệ ấy qua một “kênh” khá đặc sắc và lý thú đó là nhân vật kỳ ảo
Riêng về nhân vật kỳ ảo và truyện kỳ ảo: GS Đỗ Bình Trị (trong giáo
trình “Văn học dân gian Việt Nam”, tập 1, NXB GD,1991) có đề cập đến
nhân vật thần kỳ (nhân vật kỳ ảo), yếu tố kỳ ảo và phương thức kỳ ảo Tác giả
Hoàng Tiến Tựu cũng kể đến các “lực lượng thần kỳ” trong truyện cổ tích
Song, cả hai tác giả mới chỉ dừng lại ở việc “đề cập”, “điểm qua” về nhân vật thần kỳ chứ chưa khơi sâu và thể hiện nó thành một nội dung lớn Họ chỉ xem
nó là một thành phần trong truyện cổ tích
Tác giả Đinh Phan Cẩm Vân đã có một bài viết quan trong cho việc
định hướng tìm hiểu về nhân vật kỳ ảo, từ đó, tạo cơ sở để so sánh giữa nhân
vật kỳ ảo trong “Truyền kỳ mạn lục” và truyện cổ tích Việt Nam ở bài viết
“Cái “kỳ” trong tiểu thuyết truyền kỳ” (Tạp chí Văn học, số 10/2005), tác giả cho rằng cái “kỳ” là hạt nhân cơ bản của truyền kỳ Bởi yều tố kỳ không
xuất hiện một cách ngẫu nhiên mà tham gia vào cốt truyện, thúc đẩy diễn biến cốt truyện Hơn thế, cái kỳ còn ở sâu hơn chi phối vào tư duy nghệ thuật của
tác giả Và “kỳ” khiến cho câu chuyện không chỉ dừng lại ở việc ghi ghép mà
thành sản phẩm của hư cấu tưởng tượng Qua đó, người viết nhận thấy tác giả
Đinh Phan Cẩm Vân đã phát hiện và nhấn mạnh đến nhiệm vụ nghệ thuật của yếu tố kỳ ảo, coi đó vừa là yếu tố của hình thức, vừa là yếu tố của nội dung Tuy vậy, tác giả cũng chưa đi sâu hơn phân tích về nhân vật kỳ ảo - nhân tố nòng cốt và nền tảng chứa đựng mọi vấn đề nội dung và nghệ thuật mà
“Truyền kỳ mạn lục” đưa ra
Trang 9Tương đồng với ý kiến của tác giả Đinh Phan Cẩm Vân có: GS Đặng
Anh Đào với bài viết “Vai trò của cái kỳ ảo trong truyện và tiểu thuyết Việt Nam” (Nghiên cứu Văn học số 8/2006); Lê Huy Bắc: “Cái kỳ ảo và văn học huyễn ảo” (Nghiên cứu Văn học số 8/2006); Lê Nguyên Long: “Về khái niệm cái kỳ ảo và văn học kỳ ảo trong nghiên cứu văn học” (Nghiên cứu
Văn học số 9/2006)
PGS TS Vũ Thanh với chuyên luận “Thể loại truyện kỳ ảo Việt Nam trung đại - quá trình nảy sinh và phát triển đến đỉnh điểm” có thể coi là một
“luận điểm cơ sở” quan trọng để chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này
Tác giả đã “rất có lý” khi cho rằng: “Cái “kỳ” không những không mất đi mà trở thành hạt nhân cơ bản của cốt truyện, thành đối tượng nghệ thuật của nhà văn, được sử dụng như một bút pháp nghệ thuật mang tính đặc trưng của thể loại Hiện thực cuộc sống dưới ngòi bút của các nhà văn được phản ánh qua cái kỳ lạ” và “ảnh hưởng của văn học dân gian là hết sức sâu sắc”, “liên kết gữa văn học bác học và văn học dân gian cũng nổi bật như một âm hưởng chủ
đạo” của thể loại truyền kỳ Vì thế: “Văn học dân gian sẽ tác động đến suốt quá trình hình thành và phát triển của thể loại, khiến cho nhà văn trong khi sáng tác khó mà thoát ra khỏi những tác động mọi mặt của nó (từ kết cấu, ngôn ngữ, hành động cho đến việc mô tả ngoại hình nhân vật ) ở giai đoạn
đầu của sự phát triển, các nhân vật của truyện kỳ ảo đều có nguyên mẫu từ văn học dân gian Những hình tượng gần gũi và quen thuộc nhất của nhà văn trong thời kỳ này chính là các hình tượng trong các chuyện thần thoại, truyền thuyết, cổ tích thần kỳ ” [50, tr 742] Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở
việc đưa ra nhận xét chứ chưa có những kiến giải cụ thể (Do bài viết tập trung vào nghiên cứu sự nảy sinh, hình thành và phát triển của thể loại truyện kỳ ảo Việt Nam)
Trang 10Về so sánh “Truyền kỳ mạn lục”, có thể kể tới các bài viết như: “So sánh văn học và văn hóa - Nguyễn Dữ và Tiên thoại của Trung Quốc qua truyện “Từ Thức lấy vợ tiên” (GS Trần Đình Sử, Tạp chí Văn học, số 5/2000); “Nghiên cứu so sánh một tiểu thuyết truyền kỳ trong Kim ngao tân thoại (Hàn Quốc), Truyền kỳ mạn lục (Việt Nam) và Tiễn đăng tân thoại (Trung Quốc)” (Toàn Tuệ Khanh, Nghiên cứu Văn học, số 2/2005); ““Chinh phụ ngâm” trong “Truyền kỳ mạn lục”?” (Nguyễn Nam, Tạp chí Hán Nôm,
số 3(44)/2000); “Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục” (Trần ích Nguyên(Trung Quốc), NXB Văn học - Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, 2000); “Truyền kỳ mạn lục dưới giác độ so sánh” (GS
Nguyễn Đăng Na, Tạp chí Hán Nôm, số 6(73)/2005) Nhưng hầu hết, các
nhà nghiên cứu và các tác giả mới chỉ so sánh “Truyền kỳ mạn lục” trên quy
mô tác phẩm với các tác phẩm, các truyện khác Còn so sánh nhân vật kỳ ảo - quy mô bộ phận thì bản thân người viết cũng chưa nhận thấy có đề tài nào nghiên cứu
Ngoài ra, chúng ta còn có thể kể tới một số bài viết như: “Người con gái Nam Xương - một bi kịch của con người” (GS Nguyễn Đăng Na),
“Người con gái Nam Xương và dòng sông kỳ ảo” (GS Đặng Anh Đào), “Cái bóng và những khoảng trống trong văn chương (đọc truyện “Người con gái Nam Xương”)” (Nguyễn Nam); “Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong
“Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ” (Nguyễn Phạm Hùng) Các tác giả trong các bài viết trên đều kiến giải rất sâu sắc về “Truyền kỳ mạn lục” mà tiêu biểu là “Người con gái Nam Xương” - tác phẩm được đưa vào giảng dạy
ở trường phổ thông nhiều năm nay
Hay như: “Truyện thần linh ma quái và vấn đề giáo dục con người” (Vũ Ngọc Khánh, Tạp chí Văn học, số 10/2001); “Quan niệm về thần và việc văn bản hóa truyền thuyết trong văn xuôi trung đại” (Trần Thị An, Tạp chí Văn học, số 3/2003); “Nhân vật chức năng trong cổ tích thần kỳ” (Nguyễn
Trang 11Xuân Đức, Tạp chí Văn học, số 2/2003); “Người mang lốt - môtíp đặc trưng của kiểu truyện cổ tích về nhân vật xấu xí mà tài ba” (Nguyễn Thị Huế, Tạp
chí Văn học, số 3/1997) tuy không nghiên cứu so sánh về nhân vật kỳ ảo
trong “Truyền kỳ mạn lục” và trong truyện cổ tích Việt Nam nhưng cũng là
cơ sở, tư liệu quan trọng để chúng tôi thực hiện đề tài
Từ việc điểm lại lịch sử nghiên cứu vấn đề chúng ta có thể đi tới kết
luận sau: chỉ riêng về tác phẩm “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ đã có
nhiều bài viết đề cập về nội dung, khuynh hướng sáng tác, đặc biệt là vấn đề
số phận và hạnh phúc của người phụ nữ trong xã hội cũ, về quyền được sống
và quyền tự do yêu đương của con người ở xã hội phong kiến vô cùng khắt khe nghiệt ngã Tuy nhiên, các bài viết trên còn nhiều vấn đề bỏ ngỏ cho nhiều hướng nghiên cứu tiếp theo
Trên cơ sở các nguồn tư liệu và tham khảo trên, chúng tôi không có
kiến giải gì thêm về số phận cá nhân trong “Truyền kỳ mạn lục”, về mối liên
hệ giữa VHDG và văn học viết, về truyện cổ tích mà chỉ đi sâu vào nghiên
cứu so sánh nhân vật kỳ ảo trong “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ và
truyện cổ tích Việt Nam để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt trong hai loại tác phẩm này Qua đó, người viết muốn mang một đóng góp nhỏ khẳng
định vai trò của “cái nôi văn học dân gian” và khẳng định thành công, sức sáng tạo, tài năng của Nguyễn Dữ khi viết “Truyền kỳ mạn lục” Và hơn hết,
qua đề tài này, tác giả khóa luận sẽ có cái nhìn sâu sắc, toàn diện, đầy đủ và chính xác những khía cạnh về nội dung và nghệ thuật mà tác giả đặt ra trong tác phẩm để phục vụ tốt hơn cho công việc giảng dạy sau này ở trường phổ thông
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của chúng tôi khi nghiên cứu đề tài này là nhằm thấy được sự
tương đồng và khác biệt giữa nhân vật kỳ ảo trong “Truyền kỳ mạn lục” so
Trang 12với truyện cổ tích Việt Nam Qua đó, khẳng định sự độc đáo, hấp dẫn của mỗi thể loại và khẳng định sự sáng tạo của Nguyễn Dữ
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khi tiến hành đề tài này, người viết cần phải nghiên cứu những vấn đề cơ bản sau:
Chương 1: Khái quát chung về nhân vật kỳ ảo
Chương 2: So sánh nhân vật kỳ ảo trong “Truyền kỳ mạn lục” và
truyện cổ tích Việt Nam
2.1 Sự tương đồng giữa nhân vật kỳ ảo trong “Truyền kỳ mạn lục” và
truyện cổ tích Việt Nam
2.1 Sự khác biệt giữa nhân vật kỳ ảo trong “Truyền kỳ mạn lục” và
truyện cổ tích Việt Nam
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu: Nhân vật kỳ ảo trong 20 truyện ở tác phẩm
“Truyền kỳ mạn lục” và kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
5.2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu so sánh về nhân vật kỳ ảo trong
“Truyền kỳ mạn lục” và truyện cổ tích Việt Nam ở hai phương diện sau:
- Sự tương đồng giữa nhân vật kỳ ảo trong “Truyền kỳ mạn lục” và
truyện cổ tích Việt Nam
- Sự khác biệt giữa nhân vật kỳ ảo trong “Truyền kỳ mạn lục” và
truyện cổ tích Việt Nam
Trang 13- Về mặt lý luận: Người thực hiện khóa luận mong muốn mang một
đống góp nhỏ khẳng định thêm về vai trò của nhân vật kỳ ảo trong tác phẩm, khẳng định sự thành công, độc đáo của mỗi thể loại và sức sáng tạo của Nguyễn Dữ
- Về mặt thực tiễn: Qua đề tài này, tác giả khóa luận sẽ có cái nhìn toàn
diện, sâu sắc, đầy đủ và chính xác những khía cạnh về nội dung và nghệ thuật
mà tác giả đặt ra trong tác phẩm thông qua nhân vật kỳ ảo để phục vụ tốt hơn cho công việc giảng dạy sau này ở trường phổ thông
8 Bố cục khóa luận
Trang 14chương 1
khái quát chung về nhân vật kỳ ảo
1.1 Khái niệm nhân vật
Khái niệm nhân vật được bắt nguồn từ từ “persone” trong tiếng Latinh
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”: “Nhân vật văn học là con người cụ thể
được miêu tả trong tác phẩm văn học” [15, tr 235] Nhân vật văn học có thể
có tên riêng (Tấm, Cám, Chị Dậu, anh Pha ), cũng có thể không có tên riêng
như “bà hàng nước”, “mụ dì ghẻ”, “vua” (Tấm Cám) , “thằng bán tơ”, “một
mụ nào”(Truyện Kiều - Nguyễn Du) Trong các truyện cổ tích, ngụ ngôn,
đồng thoại, nhân vật thần được đưa ra để nói chuyện con người
Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ là con người cụ thể nào đó mà còn để chỉ một hiện tượng nổi bật trong tác
phẩm Chẳng hạn có thể nói: “đồng tiền” là nhân vật chính trong “Ơgiêni Grăngđê” của Banzắc hay “nhân dân” là nhân vật chính trong “Đất nước
đứng lên” của Nguyên Ngọc Do vậy, khái niệm nhân vật trong tác phẩm
văn học không chỉ dừng lại ở con người mà còn ở cả những hiện tượng liên
quan đến con người Với cách hiểu này, ta có thể coi “thời gian” trong truyện của A.Sêkhốp là nhân vật; “cái quan tài” trong truyện ngắn của Nguyễn Công
Hoan hay các loài động vật (Dế Mèn, Dế Choắt, Châu Chấu, Bọ Ngựa ) trong
“Dế Mèn phiêu lưu ký” của Tô Hoài là những nhân vật văn học Bởi chúng
được nhà văn “giao nhiệm vụ” thể hiện quan niệm sống, ý tưởng của con người và thể hiện tư tưởng của tác phẩm Vì thế, nhân vật văn học là một đơn
vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong cuộc sống (Tức là, nhân vật thường được thể hiện qua những dấu hiệu nổi bật như về tiểu sử, tính cách, nghề nghiệp, đặc điểm, hoàn cảnh chứ nó không phải là sự sao chụp y nguyên của hiện thực ngoài đời)
Trang 15Nhân vật vừa là yếu tố thuộc về nội dung, vừa là yếu tố thuộc về hình thức bởi vậy nó có vai trò vô cùng quan trọng đối với tác phẩm văn học và đối với bản thân văn học: nhân vật là phương tiện để khái quát hiện thực (nhân vật
là công cụ để tạo nên thế giới nghệ thuật, là phương tiện để tái hiện con người với các đặc điểm về tính cách, số phận, chiều hướng con đường đời); là phương tiện để khái quát tư tưởng của tác phẩm và quyết định hình thức của tác phẩm Trong tác phẩm văn xuôi tự sự, nhân vật và cốt truyện giữ vai trò chủ đạo Nhân vật sẽ xâu chuỗi các sự kiện, tình tiết của tác phẩm; là nơi chủ yếu để nhà văn thể hiện tư tưởng của mình đồng thời góp phần tạo nên giá trị, sức hấp dẫn và sự thành công của tác phẩm
Tựu chung lại, “nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm văn học
Nó là tiêu điểm để bộc lộ chủ đề và đến lượt mình, nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc họa Nhân vật do đó là nơi tập trung giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm” [2, tr 186]
1.2 Khái niệm nhân vật kỳ ảo
Nhân vật kỳ ảo là khái niệm để khu biệt nó với các kiểu nhân vật khác như: nhân vật hiện thực, nhân vật trần thường
Theo từ điển Tiếng Việt:
- Kỳ: Lạ đến mức làm người ta phải ngạc nhiên
- ảo: Giống như thật nhưng không có thật
- Kỳ ảo: Kỳ lạ, tựa như không có thật mà chỉ có trong tưởng tượng [37,
tr 518]
- “kỳ ảo” là hư ảo, lạ kỳ [4, tr 233]
ở đây, “kỳ” là yếu tố cốt lõi, là hạt nhân tư tưởng thẩm mĩ còn “ảo” là
biểu hiện, là tính chất của thể loại “Kỳ ảo” cần phải được hiểu khác với viễn tưởng, huyễn hoặc, huyền ảo, huyễn tưởng Vì “kỳ” trong “kỳ ảo” gắn với
thế giới thần tiên, ma quỷ có từ lâu đời trong dân gian Các yếu tố khác (viễn
Trang 16tưởng, huyễn tưởng v v ) là những tưởng tượng của cá nhân trong một lúc
đột khởi nào đó của tâm thức, thuộc về tương lai
Vì thế, “Nhân vật kỳ ảo” được hiểu là những nhân vật kỳ lạ, vừa lạ thường, kỳ quái lại vừa giống như có thật, nó là sản phẩm của trí tưởng tượng gắn với những quan niệm tâm linh được người nghệ sĩ hư cấu, sáng tạo ra
Nhân vật kỳ ảo là kiểu nhân vật tiêu biểu trong các truyện dân gian, các truyện chí, quái, u linh, thể loại truyền kỳ và ở cả các tác phẩm hiện đại Dù xuất hiện ở thời đại nào, loại hình nào và dưới hình thức nào thì các nhân vật
kỳ ảo đều là hiện thân hoặc gián tiếp phản ánh cuộc sống hiện thực
Đối với “Nhân vật kỳ ảo”, yếu tố “kỳ ảo”, cái “kỳ” là cốt lõi, tạo nên
bản chất đặc trưng cho nhân vật Nếu không có “kỳ”, không thể có nhân vật
kỳ ảo Đặc biệt, ở thể loại truyền kỳ, nhân vật kỳ ảo xuất hiện trong tác phẩm không chỉ làm cho tác phẩm lạ thường, không chỉ mở ra cho độc giả một thế giới khác - thế giới của những yêu ma, quỷ quái hay thánh thần mà quan trọng hơn, khi xuất hiện, nhân vật kỳ ảo còn ít nhiều tạo ra một trạng thái hoang mang, bất ổn, hồ nghi giữa mộng và thực khi đó, nhân vật kỳ ảo mới
đạt hiệu quả nghệ thuật thật sự
Khi tiếp cận với kiểu nhân vật kỳ ảo nếu quan niệm đó chỉ là sự hoang
đường, mê tín dị đoan, phi hiện thực thì hoàn toàn sai lầm Bởi, bất cứ một tác phẩm văn học đích thực nào ra đời cũng luôn thể hiện những tư tưởng - quan niệm, lý tưởng xã hội - thẩm mĩ nhất định Văn học chân chính là văn học vì con người, hướng con người tới những khát vọng và giá trị cao đẹp Việc nhân vật kỳ ảo xuất hiện từ rất sớm trong văn học (VHDG) và vẫn tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của mình chứng tỏ nhân vật kỳ ảo được xây dựng là hoàn toàn có dụng ý nghệ thuật chứ không phải là một hiện tượng gắn với mê
tín dị đoan “Trong truyện truyền kỳ, các tác giả sử dụng yếu tố kỳ không phải chỉ với chức năng là vỏ bọc che giấu dụng ý sâu xa của nhà văn mà còn với tư cách một bút pháp nghệ thuật mang tính đặc trưng của thể loại Các tác giả
Trang 17phản ánh hiện thực qua cái kỳ lạ” [50, tr 744].“ở đây, cái “kỳ” không những không mất đi mà trở thành hạt nhân cơ bản của cốt truyện, thành đối tượng nghệ thuật của nhà văn” [50, tr 744] Nhu cầu về chuyện thần linh ma quái là
nhu cầu tất nhiên của nhân loại Các nhà nghiên cứu về tâm lý học, về nhân loại học gọi đây là một hiện tượng về lòng say mê lý tưởng của con người và
có thể dựa vào đó mà giáo dục con người trong cuộc sống Rõ ràng, giữa truyện thần linh ma quái và vấn đề giáo dục con người có mối liên hệ rất khăng khít Cái quái đản, kỳ lạ của nhân vật kỳ ảo không những làm cho chúng ta ngạc nhiên, lo sợ hay thích thú mà còn có tác dụng giáo dục về thế
giới quan và nhân sinh quan Vì “quái đản, kỳ lạ, đọc nó khiến lòng người rộng mở trí tưởng tượng” [40, tr 133], đồng thời góp phần tạo nên một kiểu
nhân vật đặc biệt trong văn học và tạo nên sức sống lâu bền của tác phẩm 1.3 Đặc điểm của nhân vật kỳ ảo
Nhân vật kỳ ảo vốn là sản phẩm của trí tưởng tượng và sáng tạo, trong
đó yếu tố kỳ ảo, hoang đường được sử dụng như một “hạt nhân” để xây dựng
và tạo nên bản chất cho nhân vật Do vậy, nhân vật kỳ ảo sẽ có những đặc
điểm nổi bật mang tính kỳ dị, khác thường có thể coi đó là những đặc trưng để phân biệt nó với những nhân vật bình phàm, hiện thực
1.3.1 Nguồn gốc, hành trạng khác thường
Nguồn gốc, hành trạng của nhân vật là đặc điểm xuất thân và những hành động của nhân vật Không giống như các kiểu nhân vật khác, nguồn gốc, hành trạng của nhân vật kỳ ảo luôn luôn “bất bình thường”
Trong “Thần thoại Hy Lạp” - sản phẩm đầu tiên của văn học Hy Lạp
cổ đại, các vị thần đều có nguồn gốc, hành trạng kì lạ Thần Dớt - vị thần tối cao, trị vì của tất cả các thần và Hạ giới, Âm phủ khi sinh ra được các tiên nữ nuôi dưỡng Để trốn khỏi bị bố nuốt vào bụng, thần Dớt đã ở một mình trên
đảo vắng, chỉ làm bạn với chú dê Nữ thần Trí Tuệ Atêna lại được sinh ra từ
đầu của thần Dớt: “Sọ của Dớt nứt toác ra và từ kẽ nứt nhảy ra ngoài một
Trang 18người thiếu nữ nhung y võ phục ngọn ngàng, tay kiếm tay cung, mắt sáng như gương, tiếng to như sấm.” [24, tr 149] Còn nữ thần Tình Yêu và Sắc Đẹp
Aphrôđitơ lại được sinh ra từ biển và khí trời, khi nàng từ biển đi lên thì sóng
và gió dịu hiền bao phủ quanh nàng, các nữ thần chào đón nàng
Trong truyện dân gian Việt Nam, nguồn gốc và hành trạng của nhân vật
kỳ ảo cũng đặc biệt, lạ kỳ theo trí tưởng tượng của người Việt xưa Thánh Gióng ra đời do mẹ dẫm vào một vết chân rất lớn ở ngoài đồng Sọ Dừa được sinh ra do bà mẹ vào rừng uống nước mưa trong một sọ đầu lâu
ở văn học Việt Nam thời trung đại, các thể loại truyện chí, quái, u linh
và truyền kỳ phát triển mạnh mẽ Yếu tố kỳ ảo, chi tiết kỳ ảo, hoang đường
được sử dụng như chất liệu chính để xây dựng tác phẩm, xây dựng nhân vật kỳ
ảo khiến nó trở thành nhân vật đặc trưng, phổ biến trong văn xuôi tự sự giai
đoạn này Khi miêu tả nguồn gốc, sự ra đời, hành trạng của nhân vật kỳ ảo, các tác giả cũng luôn tô đậm tính chất kỳ lạ khác thường:
Hai tác phẩm “Thiền uyển tập anh ngữ lục” và “Tam tổ thực lục” dù
là “ngữ lục”, “thực lục”nhưng khi miêu tả về nguồn gốc, hành trạng (ra đời -
tu luyện - tịch diệt) của các nhà sư thì vẫn lấy cái kỳ ảo, hoang đường, khác lạ
làm “chất liệu” chính: thiền sư Huyền Quang (Tam tổ thực lục) khi chào đời,
ánh sáng bừng lên trong phòng, hương thơm bay ngào ngạt, thiền sư chính là
An Nam Tôn Giả từ trên thiên đình thác sinh; thiền sư Ngộ ấn (Thiền uyển tập anh ngữ lục) là con của khỉ, do mẹ của thiền sư vào rừng kiếm củi bị khỉ
ôm, về nhà thụ thai và sinh ra thiền sư Cái chết của các thiền sư cũng rất khác thường: thiền sư Giới Không sau khi đọc kệ xong, sư cười lớn một tiếng rồi chắp tay mà viên tịch; thiền sư Trường Nguyên cũng đọc kệ xong thì quy tịch Nếu cái chết đối với người trần tục được miêu tả thường nặng nề, đau
đớn, khó khăn thì đối với các nhân vật kỳ ảo, nhất là các thiền sư, cái chết rất nhẹ nhàng thanh thản, chết là sự hoá thân vào cõi Niết bàn Đối với các loài yêu quái như Ngư tinh, Hồ tinh, các nhân vật quái dị như Thần Sông Tô Lịch
Trang 19(trong “Lĩnh Nam chích quái lục” - Trần Thế Pháp) cũng có nguồn gốc,
hành trạng kỳ quái khác hẳn với những nhân vật trần thực (Hồ tinh vốn là con cáo chín đuôi hoá thành, Ngư tinh là con cá lớn hoá thành, Thần Sông Tô Lịch sống ở trong lòng sông )
Rõ ràng, với các nhân vật kỳ ảo, việc sử dụng bút pháp tả chân là rất hiếm Với nguồn gốc, hành trạng khác thường, các nhân vật kỳ ảo đã tạo cho
độc giả hứng thú, cảm xúc đặc biệt, tạo nên cái “kỳ” đầu tiên của nhân vật kỳ
ảo Nguồn gốc, sự ra đời sẽ báo hiệu những hành động, khả năng và cuộc đời
khác thường của nhân vật kỳ ảo, tô đậm thêm tính chất “không có thật mà chỉ
có trong tưởng tượng” của cái “kỳ”
1.3.2 Ngoại hình, diện mạo khác thường
Trí tưởng tượng, sáng tạo của con người vô cùng phong phú nên ngoại hình, diện mạo của nhân vật kỳ ảo cũng “muôn hình vạn trạng” Mỗi loại nhân vật kỳ ảo có một kiểu ngoại hình khác nhau Ngoại hình, diện mạo là yếu tố
dễ hình dung và dễ tưởng tượng, gây ấn tượng Vì thế, cách xây dựng ngoại hình, diện mạo của nhân vật kỳ lạ, hoang đường tuỳ theo cảm hứng sáng tạo
cũng là cách để khắc sâu thêm cái “kỳ” trong nhân vật kỳ ảo Hơn nữa, do dùng cái “kỳ” để miêu tả ngoại hình (để cho nhân vật khác với người bình
thường) nên ở hầu hết các nhân vật kỳ ảo, vẻ bề ngoài luôn dị dạng, khác thường:
Quỷ Tiphông (Thần thoại Hy Lạp) “cao chót vót tựa trời, lưng rộng mênh mông tưởng chừng như sông dài biển cả, tiếng nói ầm ầm tựa sấm đổ thác rền” [24, tr 51]; Thần Trụ Trời được miêu tả là người khổng lồ, chân dài
không thể tả xiết, bước một bước từ vùng này đến vùng nọ; Sọ Dừa là một cục thịt tròn lông lốc, có đủ mắt mũi, mồm miệng nhưng không có mình mẩy chân tay gì
Nhân vật kỳ ảo ở các truyện chí, quái, u linh và thể loại truyền kỳ cũng tương tự như vậy Yếu tố kỳ ảo vẫn được tô đậm nhưng được dùng có chủ ý
Trang 20chứ không phải là sư tưởng tượng ngây thơ như trong văn học dân gian Ví dụ,
Thần sông Tô Lịch (Lĩnh Nam chích quái lục) mặc áo vàng, đầu đội mũ tím, tay cầm hốt vàng; Long Quân (“Đổng Thiên Vương” - Lĩnh Nam chích quái lục) là một cụ già thân cao hơn sáu xích, mặt đen, bụng to, mày râu trắng xoá
ngồi giữa ngã ba đường nói cười hát múa (khác hẳn với thần Lạc Long Quân trong VHDG: vốn là một con rồng sống ở biển); Nàng Mộng Trang trong
truyện “Duyên lạ xứ hoa” (trích“Thánh Tông di thảo” - Lê Thánh Tông?)
thì xinh đẹp tuyệt trần, có ngấn ở bụng (Mộng Trang vốn là bướm); Thần
Thuồng Luồng trong truyện “Đối tụng ở Long cung” (“Truyền kỳ mạn lục”
- Nguyễn Dữ) là một con rắn dài mười trượng
Việc khắc hoạ diện mạo nhân vật bằng bút pháp kỳ ảo không chỉ có tác dụng gây ấn tượng và để cho nhân vật kỳ ảo khác hẳn với ngươi thường mà
qua ngoại hình kì dị ấy, thần thái “kỳ ảo” của nhân vật sẽ được tô đậm hơn
Ngoại hình này cũng chính là một phương diện đặc trưng để chúng ta nhận diện nhân vật kỳ ảo
cưới của phú ông và từ một cục thịt, chàng biến thành một chàng trai khôi ngô
tuấn tú Chàng Đăm-san trong sử thi “Đăm-San” thì dám chặt cả cây thần,
chiến thắng nhiều kẻ thù và trở thành tù trưởng giàu mạnh nhất, vượt qua rừng
đen Sun-y-rít đầy nguy hiểm để định bắt Nữ Thần Mặt Trời Tất cả các việc
Trang 21làm, hành động đó không chỉ thể hiện khả năng đặc biệt của nhân vật mà còn thể hiện khát vọng, mơ ước của nhân dân: chinh phục tự nhiên, muốn có những phép lạ để làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn
Tác phẩm “Thiền uyển tập anh ngữ lục” cũng dùng “hạt nhân kỳ ảo”
để miêu tả tài năng phi thường của các thiền sư Thiền sư Không Lộ bay được trên không; thiền sư Từ Đạo Hạnh có phép thuật cao cường: vứt gậy xuống
dòng nước chảy xiết mà gậy trôi ngược dòng, “có thể khiến rắn rết, muông thú đến chầu phục, đốt ngón tay cầu mưa, phun nước phép chữa bệnh, không việc gì không ứng nghiệm”, đặc biệt là khả năng thác sinh của Từ Đạo Hạnh
để trở thành vua Lý Thần Tông; thiền sư Đạo Huệ chuyên sâu phép Tam ma
địa, khi đọc kinh cảm hoá khỉ vượn trong núi, kéo nhau hàng đàn đến nghe kinh, chính thiền sư cũng là người chữa bệnh cho hoàng phi v v
Đối với các nhân vật kỳ ảo là Tiên, Phật hoặc ma, quỷ khả năng biến hoá, phép thuật được thể hiện càng rõ Những khả năng đặc biệt, kì diệu phi thường này của nhân vật kỳ ảo lại được thực hiện chủ yếu ở thế giới hiện thực nên cái kỳ ảo trong nhân vật càng đươc đẩy lên tới mức tột đỉnh Khi thể hiện tài năng phi thường cho nhân vật, các tác giả chỉ nhằm mục đích nhấn mạnh vào cái kỳ lạ và làm nổi bật nhân vật nhưng thực chất, khi nhân vật kỳ ảo tham gia vào cốt truyện, nhân vật đã giúp người đọc bước vào một thế giới khác hẳn với trần thế: thế giới của phép thuật và của cái kỳ ảo
Văn xuôi tự sự thế kỉ 18-19 tiếp tục xây dựng những nhân vật có khả năng phi thường, đặc biệt như: có sức khoẻ phi thường, ăn khoẻ khác thường
và trí tuệ khác thường Các nhân vật trong “Công dư tiệp kí” của Vũ Phương
Đề được tả rất rõ về những khả năng phi thường ấy: Lê Như Hổ một mình phạt
cỏ ruộng, một mình gặt lúa, đến chơi nhà người bạn ở Thanh Hoá ăn hết năm sáu mâm thức ăn cùng ba nồi mười cơm Trí tuệ của Như Hổ cũng khác thường, khi học hay viết xong một tờ giấy, đọc xong đốt ngay Đi thi đỗ ngay Tiến sĩ, được phong Lưỡng quốc Thượng thư Đi sứ Trung Quốc, biết ngay
Trang 22món đầu cá người, vượt qua nhiều thử thách của vua Trung Quốc (từ tiên cầu
đảo đến việc dạy hoàng tử Trung Quốc ); hay như chuyện Lương Hữu Khánh
ăn khoẻ, làm khoẻ và thông minh; chuyện Trạng nguyên Lê Nại ăn khoẻ Thực chất, những khả năng phi thường đặc biệt của các nhân vật kể trên hoàn toàn không giống như nhân vật kỳ ảo Tác giả Vũ Phương Đề cố gắng tô đậm nhân vật (để cho nhân vật có những khả năng đặc biệt) bằng bút pháp cường
điệu, phóng đại chứ không phải bằng cách mượn cái “kỳ ảo” làm chất liệu
Khả năng phi thường của nhân vật kỳ ảo khác hẳn với sự phi thường của con người bởi khả năng ấy của nhân vật kỳ ảo luôn gắn với phép lạ và không bao giờ có trong thực tế đời sống (mang tính hoang đường)
Từ ba đặc điểm cơ bản trên của nhân vật kỳ ảo, chúng ta có thể khẳng
định rằng: yếu tố kỳ ảo luôn luôn bao chiếm nhân vật, màu sắc thần kỳ là bút pháp chủ đạo để vẽ nên nguồn gốc, diện mạo và khả năng kỳ lạ của nhân vật
Dù vậy, đằng sau nhân vật kỳ ảo vẫn là thế giới hiện thực, là xã hội và cuộc
sống con người Nhân vật kỳ ảo dù có kỳ đến đâu thì cuối cùng vẫn là “nhân”
- vẫn gắn với con người, hướng tới cuộc sống con người, thể hiện tư tưởng mà nhà văn muốn nói
Chương 2
Trang 23so sánh nhân vật kỳ ảo trong
“truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ
và truyện cổ tích Việt Nam
2.1 Sự tương đồng giữa nhân vật kỳ ảo trong “Truyền kì mạn lục” và truyện cổ tích Việt Nam
Giữa văn học dân gian và văn học viết luôn luôn có mối quan hệ tất yếu: văn học dân gian chính là nền tảng để văn học viết hình thành và phát
triển Đặc biệt, trong thời kỳ trung đại, mối quan hệ ấy lại càng gắn bó “Suốt trong mười thế kỷ của thời kỳ Đại Việt độc lập, tự chủ, kho tàng truyện kể dân gian vẫn cứ luôn luôn như là một tác nhân mạnh mẽ, chẳng những đã góp phần vào sự sinh thành của các thể loại văn học tự sự mà còn luôn giữ vai trò cơ sở tư tưởng - thẩm mỹ trong các thể loại đó” [50, tr 244]
Sự ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học viết sẽ là cơ sở tạo nên sự tương đồng của nhân vật kỳ ảo trong truyện cổ tích Việt Nam và
“Truyền kì mạn lục”
2.1.1 Tương đồng về phương thức xây dựng nhân vật kỳ ảo
Xây dựng nhân vật kỳ ảo, tất yếu cả văn học dân gian lẫn “Truyền kỳ mạn lục” đều sử dụng cái kỳ ảo Cụ thể, đó là sự tương đồng các môtíp nghệ thuật giữa truyện cổ tích Việt Nam và “Truyền kỳ mạn lục” Điều này được
thể hiện ở việc:
2.1.1.1 Dùng môtíp giấc mộng
Đây là môtíp xuất hiện từ khá lâu trong truyện cổ tích dân gian, đến
“Truyền kỳ mạn lục”, nó vẫn là môtíp phổ biến và được Nguyễn Dữ thể hiện
Trang 24ở các truyện: “Câu chuyện ở đền Hạng Vương”, “Chức phán sự đền Tản Viên”, “Lý Tướng Quân”, “Yêu quái ở Xương Giang” Khi sử dụng môtíp
giấc mộng, tác giả dân gian và Nguyễn Dữ đã làm “hợp lý hoá” sự xuất hiện của nhân vật kỳ ảo Mặt khác, môtíp này còn có tác dụng mở rộng không gian
và thời gian của nhân vật kỳ ảo: đó có thể là nơi Thiên đình, Địa phủ hay Long cung; là buổi đêm, ban ngày, một ngày, một tháng, một năm hay một
đời người
Song, hơn thế, khi nhân vật kỳ ảo xuất hiện qua môtíp giấc mộng, ranh giới giữa mộng ảo và thực tại dường như bị xoá nhoà Mộng chỉ là cái cớ để tác giả thể hiện mục đích, tư tưởng Bởi tất cả những điều thấy trong mộng, những điều báo trong mộng đều phần nào ứng nghiệm ở cuộc sống thực, khiến nhân vật bâng khuâng khi trở về với thực tại Thế giới kỳ ảo mà giấc mơ của nhân vật phản ánh cũng chính là thế giới thực tại của con người
Truyện cổ tích “Sự tích cây huyết dụ” kể chuyện bác đồ tể chuyên giết
lợn để bán thịt Nhà bác ở cạnh ngôi chùa làng, hàng ngày cứ nghe tiếng chuông chùa đánh là bác sửa soạn giết lợn Một đêm, sư cụ nằm mộng thấy một người đàn bà dắt năm đứa con nhỏ đến trước mặt mình rồi vái lấy vái để,
miệng nói “xin cứu mạng, xin cứu mạng” rối rít Người đàn bà đó xin ngày mai “hoà thượng hãy cho đánh chuông chậm lại, mẹ con chúng tôi xin rất đội
ơn” Nhà sư tỉnh dậy không hiểu thế nào, nhưng theo báo mộng, sư cụ cũng
không đánh chuông Hôm đó, bác đồ tể ngủ quên, dậy muộn không kịp buổi chợ nên không giết lợn nữa Bác sang trách sư cụ vì không đánh chuông Sư cụ
đã kể lại chuyện nằm mộng để phân trần với bác Trở về nhà, xuống chuồng lợn thăm, bác đồ tể ngạc nhiên thấy con lợn cái mua ngày hôm qua toan giết thịt sáng đó đã đẻ được năm con lợn con Vừa mừng vừa sợ, bác nghĩ rằng
“đúng là linh hồn người đàn bà ẩn trong con lợn cái đã tìm cách cứu con mình khỏi chết” Bác hối hận vì nghề đồ tể của mình, bác cắm con dao của
mình trước sân chùa, thề từ nay giải nghệ Con dao của bác hoá thành một loại
Trang 25cây có lá đỏ như máu và nhọn như lưỡi dao bầu - cây huyết dụ Chuyện không chỉ có mục đích kể về sự tích cây huyết dụ mà như một lời nhắc nhở muốn con người sống lương thiện - lương thiện để để lại ân đức cho đời sau ;
Truyện “Cái cân thuỷ ngân” kể hai vợ chồng nhà nọ làm ăn buôn bán âm
mưu chế ra một cái cân rỗng, trong đổ thuỷ ngân để làm lợi cho mình Sau khi giàu có lại sinh được hai con khôi ngô, họ sám hối, cúng Phật, quay về con
đường chính nghĩa Nhưng hai đứa con bỗng lăn ra chết “Một đêm, hai vợ chồng cùng nằm mơ thấy có ông Bụt đến bảo rằng: Trời đã sai hai con quỷ xuống làm con cứ ăn ở ngay lành trời lại đến cho hai đứa con khác” Quả
nhiên, sau lại sinh được hai đứa con khác văn hay chữ tốt, hiền lành tử tế Lời của nhân vật Bụt không chỉ dừng lại ở lời của một người trong giấc mộng mà
còn thể hiện quan niệm dân gian “gieo gió gặp bão”, hướng con người “tu nhân tích đức”
Cũng tiếp thu quan niệm “ác giả ác báo”, kẻ gieo gió tất có ngày gặp bão, “ở hiền” thì sẽ “gặp lành” từ truyện cổ tích dân gian Trong “Truyền
kỳ mạn lục”, Nguyễn Dữ dùng môtíp giấc mộng để nhân vật kỳ ảo của mình
truyền tải những tư tưởng, quan niệm thẩm mĩ - đạo đức đó!
“Câu chuyện ở đền Hạng Vương” kể việc quan thừa chỉ Hồ Tông Thốc có đề thơ giễu cợt ở ngôi đền Hạng Vương rồi: “Ông Hồ chiêm bao”,
được đưa đến nơi “cung điện nguy nga, quan hầu đứng hàng răm rắp, Hạng Vương ngồi chờ sẵn, bên cạnh có cái giường lưu ly” Ông được ngồi trò
chuyện với hồn ma của Hạng Vương về các đấng minh quân và về việc cai trị thiên hạ
Truyện “Chức phán sự đền Tản Viên” cũng kể Ngô Tử Văn đi xuống
cõi âm để đối chất với hồn ma tên tướng giặc bại trận qua một giấc mơ ở đó, chàng được gặp cả Diêm Vương, Quỷ Dạ Xoa, Thổ Địa - gặp những nhân vật
kỳ ảo, những người không phải của thế giới thực mà họ thuộc về thế giới kỳ
ảo, thế giới trong mơ Cũng giống như những truyện khác trong tác phẩm
Trang 26“Truyền kỳ mạn lục”, ẩn sau thế giới nhân vật kỳ ảo ấy là tư tưởng sâu xa mà
nhà văn muốn gửi gắm: người cương trực, thẳng thắn (như Ngô Tử Văn) tất sẽ chiến thắng, chính nghĩa sẽ thắng gian tà Còn những kẻ ác độc, bất nhân như tên tướng giặc và hồn ma hắn sẽ bị trừng trị
Truyện “Lý Tướng quân” cũng là một ví dụ tiêu biểu Trong giấc mơ,
Thúc Khoản được đưa xuống âm phủ, tận mắt chứng kiến người cha của mình
bị trừng phạt vì tội ác đã gây ra Trước mắt Thúc Khoản là nhân vật của thế
giới địa phủ: “Trên điện có một vị vua, bên cạnh đều là người mặc áo sắt, mũ
đồng, tay cầm phủ việt đồng mác, dàn ra hàng lối đứng chầu chực nghiêm túc”; các hình phạt rùng rợn như “lấy nước sôi rửa ruột”, “rạch bụng moi hết tim gan”, sau mỗi hình phạt lại cho sống lại để chịu đau đớn Qua đây, lẽ công bằng của cuộc đời cũng vẫn được truyền bá: “ác giả ác báo”, “gieo gió gặp bão” Quan trọng hơn, ẩn sau tư tưởng ấy là tầng nghĩa mới: hướng con
người sống tốt đẹp, nhân nghĩa hơn Với ý nghĩa này, tác phẩm của Nguyễn Dữ không chỉ dừng lại ở mô hình một tác phầm truyền kỳ với thế giới của ma quỷ, của cái kỳ ảo, phi thường mà đã đạt tới một tác phẩm nghệ thuật thực sự khi nó lên tiếng vì con người
Hay như truyện “Yêu quái ở Xương Giang”, viên quan họ Hoàng
đương ban ngày nằm chơi thấy hai người lính bắt đi đến “một chỗ chung quanh có tường bao bọc, trong có cung điện trang nghiêm, duy mãi hành lang bên tả bị xiêu đổ Trên điện có một người đầu đội mũ miện quát to ” Hoàng
lại được gặp Diêm Vương, được thấy cả hồn ma của thị Nghi - người từng biến thành người làm vợ Hoàng Hoàng viết tờ trình cung lên Diêm Vương, Diêm Vương sai hai tên lính đưa Hoàng về nhà Hoàng vươn vai bừng tỉnh, mồ hôi toát ra đầy mình Sau mấy năm, nhân đi việc quan đến Tam Giang, Hoàng
trông thấy cảnh đền Phong Châu “đền đài tường vách, tượng thần và cái hành lang sụt đổ, đúng như trong chiêm bao trông thấy, mới biết dạo trước mình bị
đòi đến đây” Đọc câu chuyện ta thấy rằng, thế giới kỳ ảo và nhân vật kỳ ảo
Trang 27hiện lên qua giấc mộng của quan Hoàng sinh động như thật, đến khi tỉnh dậy -
đó là cảnh trong chiêm bao Nhưng cuối truyện, chi tiết Hoàng gặp lại “cảnh xưa” thì lại là hiện thực Như vậy, dụng ý dùng cái mộng để nói thực, dùng
“kỳ” để nói “chân” của Nguyễn Dữ rất rõ Dù lời bình và kết quả Hoàng bị tội “bỏ nết cương thường, theo đường tà dục, giảm thọ một kỷ” thể hiện thái
độ “ngoảnh lưng” lại với những truyện ma quái, quỷ thần, phê phán bậc chí nhân quân tử bị ma quỷ mê hoặc Nhưng thực chất, theo chúng tôi đó chỉ là
“cái vỏ” của nhà nho Nguyễn Dữ, còn thẳm sâu bên trong chính là tấm lòng nhân đạo của nhà văn - thương cho kiếp sống của những người phụ nữ nhỏ bé trong xã hội phong kiến Thị Nghi dù được miêu tả là quỷ quái, yêu ma, dối trá từng bước mê hoặc và gạt lừa họ Hoàng, nhưng trái tim Nguyễn Dữ không
hề ghét bỏ, trách móc nàng ông coi nàng là đối tượng, là một kiểu số phận cần
được phản ánh và cần phải tìm cho nàng một thế giới mà ở đó nàng được hạnh phúc Câu hỏi ấy, Nguyễn Dữ đặt ra nhưng hoàn toàn bất lực Dù vậy, đọc tác phẩm này, người đọc vẫn luôn trân trọng và cảm phục trước tấm lòng và tình cảm mà tác giả dành cho nhân vật được hiện lên qua thế giới kỳ ảo
Qua đây, ta thấy rằng hiệu quả của môtíp giấc mộng trong phương thức thể hiện nhân vật kỳ ảo là rất lớn Chỉ qua một môtíp (môtíp giấc mộng) nhưng người đọc có thể gặp gỡ cả thần, tiên lẫn ma, quỷ với đủ kiểu, đủ loại khác nhau Từ đó, thế giới hiện thực ẩn sau những nhân vật kỳ ảo này cũng
đa dạng, đầy đủ, độc đáo và hấp dẫn hơn Mộng đã qua nhưng những dư âm, cảm xúc từ những điều thấy trong mộng vẫn mãi là nỗi ám ảnh khôn nguôi trong tâm trí độc giả
2.1.1.2 Dùng môtíp con người gặp gỡ thần tiên
Đây là môtíp quen thuộc dùng để thể hiện kiểu nhân vật thần, tiên, phật ,thánh Ngoài việc gặp gỡ thần tiên qua môtíp giấc mộng, con người còn
có thể gặp trực tiếp, sống cùng những nhân vật kỳ ảo này Nếu làm phép so sánh giữa hai môtíp: môtíp giấc mộng và môtíp con người gặp gỡ thần tiên, có
Trang 28thể thấy môtíp con người gặp gỡ thần tiên dường như phi lý hơn môtíp giấc mộng nhưng nó vẫn được chấp nhận Bởi, khi xây dựng nhân vật kỳ ảo qua
môtíp này, người nghệ sỹ vẫn luôn bám sát bản chất của cái “kỳ” Cái kỳ cho
phép sự hư cấu và tưởng tượng được “chắp cánh” để đạt được mục đích sáng tác
ở môtíp này, tác giả đã dựng lên thế giới tiên cảnh gắn với nhân vật kỳ
ảo là Thần, Tiên, Phật, Thánh Để đến được thế giới ấy, con người có thể được
“may mắn” đưa tới hoặc phải trải qua nhiều gian nan, thử thách
Trong truyện cổ tích, chuyện con người gặp gỡ và sống với thần, tiên thường để diễn tả: mong ước, khát vọng của con người đã được đáp ứng hay con người sẽ được phù hộ, được ban phúc
Theo trí tưởng tượng của dân gian, cuộc sống nơi tiên cảnh được quan niệm là cuộc sống miền cực lạc, được hưởng thụ Bởi vậy, thế giới thần tiên luôn luôn là thế giới mà con người khao khát vươn tới Các truyện cổ tích như:
“Người dân nghèo và Ngọc Hoàng”, “Nàng tiên ốc”, “ả Chức - Chàng Ngưu”, “Tấm Cám”, “Sự tích chim tu hú”, “Cây tre trăm đốt”, “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, “Thạch Sanh” là những truyện rất tiêu biểu cho
môtíp con người gặp gỡ thần tiên Với môtíp này, độc giả có thể gặp gỡ với các nhân vật kỳ ảo là thần, tiên, phật, thánh như: Ngọc Hoàng, Thần Mặt
trời, Thần Mặt trăng, các chư tiên, tiên nữ (truyện “ả Chức - Chàng ngưu”;
“Từ Thức lấy vợ tiên”); các Đức phật: Phật Thích Ca, Phật Như Lai, Quan
Âm Bồ Tát; Ông Bụt, bà Tiên ; Long Vương ở Long cung, vua Thuỷ Tề; các
quan trông coi sổ sách của Thiên đình như Nam Tào, Bắc Đẩu (truyện “Hồn Trương Ba da hàng thịt” )
Nhân vật kỳ ảo trong truyện cổ tích dân gian Việt Nam xuất hiện qua môtíp con người gặp gỡ thần tiên thường có hai kiểu:
Trang 29Một là, kiểu Thần, Tiên hiện lên giúp đỡ, ban phúc cho người lương thiện, chí tâm và trừng trị kẻ ác độc, lười nhác Ví dụ, trong truyện “Tấm Cám”, ông Bụt đã hiện lên để giúp đỡ, ban phúc khi cô Tấm gặp hoạn nạn do
gì ghẻ - kẻ độc ác rắp tâm làm hại nàng như: Tấm được ông Bụt an ủi khi mất giỏ cá, dạy cách nuôi cá bống, được nhận quần áo đẹp… Tương tự, các truyện
“Cây tre trăm đốt”, “Sự tích chim tu hú”, “Sự tích con khỉ” đều xuất hiện
kiểu nhân vật thần tiên hiện lên ban phúc ở kiểu này, các thần, tiên, phật, thánh xuất hiện trong thời gian rất ngắn (chỉ trong chốc lát) Sự xuất hiện của
họ đúng là “kỳ ảo”
Hai là, nhân vật Thần, Tiên sống với con người (ví dụ truyện “ả Chức - Chàng Ngưu”, “Nàng Tiên ốc”, “Sọ Dừa”, “Lấy vợ Cóc”, “Từ Thức lấy vợ Tiên” ) Người đọc có thể nhận thấy rõ lý do xuất hiện của các nhân vật kỳ
ảo là thần, tiên, phật ,thánh… là: họ vốn là thần tiên thác sinh hoặc là người trần được thành tiên Dù xuất hiện từ lý do nào thì họ cũng từng có một giai
đoạn của cuộc sống gắn với con người, sống như con người bình thường Vì thế, khi tiếp xúc với nhân vật kỳ ảo này dường như chúng ta thấy gần gũi hơn,
thấy chất “thực” nhiều hơn!
Một trong những đặc trưng của văn học dân gian là tính thực hành ứng dụng (tức là sáng tác là để nhằm đáp ứng một yêu cầu, nhu cầu nào đó mà cuộc sống sinh hoạt hàng ngày đặt ra) Vì vậy, mọi sự kiện, mọi nhân vật xuất hiện trong tác phẩm đều được lý giải rất rõ ràng, dù sự lý giải đó còn ở cấp độ quan niệm và trí tưởng tượng Với nhân vật kỳ ảo là thần tiên thác sinh, tác giả dân gian cho rằng đó là do họ phạm tội trên thiên đình hoặc được thiên đình phái xuống giao một nhiệm vụ nào đó (cứu giúp nhân dân, thử lòng con
người) Ví dụ, nhân vật Nàng Tiên ốc trong truyện “Nàng tiên ốc” vốn là
con thứ mười của nhà Trời được phái xuống giúp chàng trai nghèo; Thạch
Sanh (Truyện “Thạch Sanh”) vốn là thái tử con Ngọc Hoàng xuống cõi trần
Trang 30đầu thai vào nhà họ Thạch, năm 13 tuổi đã được Tiên ông dạy cho các phép võ nghệ thần thông để làm việc hiệp nghĩa
Với nhân vật kỳ ảo là người trần gian được thành tiên thì lại được tác giả dân gian lý giải khác: đó là do Ngọc Hoàng hoặc phật, bụt sắc phong Người trần được sắc phong thành Tiên, Thần trước đó phải có công tích lớn lao hoặc có ý chí, tiết hạnh cao đẹp Khi thành Tiên, Phật, Thần tức là họ đã trở thành những nhân vật kỳ ảo Chẳng hạn, công chúa nước Việt do lòng hiếu
thảo đã được hoá thành Phật Bà nghìn mắt nghìn tay (truyện “Phật Bà nghìn mắt nghìn tay”); ba Thần Táo Quân trông coi việc bếp núc nhà cửa là do sự
chung thuỷ, tình nghĩa của họ lúc sống đã làm Ngọc Hoàng cảm động và sắc
phong cho họ (truyện “Ba ông đầu rau”); hay chàng Chử Đồng Tử và Nàng
Tiên Dung sau khi chết cũng được hoá thân thành tiên bay lên trời (truyện
“Chử Đồng Tử”) v v
Kế thừa và tiếp thu những truyền thống của văn học dân gian, “Truyền
kỳ mạn lục” (Nguyễn Dữ) đã sử dụng môtíp con người gặp gỡ thần tiên để thể hiện các nhân vật kỳ ảo Các truyện như: “Đối tụng ở Long cung”, “Từ Thức lấy vợ tiên”, “Phạm Tử Hư lên chơi Thiên Tào”, “Gã Trà Đồng giáng sinh” đều sử dụng môtíp này
Trong truyện “Đối tụng ở Long cung”, nhà văn đã miêu tả cuộc gặp
gỡ của quan Thái thú họ Trịnh - người trần thế với “vị thần mưa” Bạch Long Hầu một cách ngẫu nhiên: “Trịnh mỗi khi lên lầu đứng trông, thường thấy có
ông cụ già đeo một cái bao đỏ đựng tiền, sớm đi tối về” Con mắt tò mò của Thái thú khi thấy ông già đi ra từ một “bến sông sâu thẳm” - nơi không nhà không cửa Và quan Thái thú biết mình may mắn được gặp vị “tiên khách trong áng thiên hà” khi “thấy ông già thủng thỉnh từ dưới đi lên” Từ việc gặp
gỡ này, Nguyễn Dữ đã dựng lên hình tượng nhân vật kỳ ảo Bạch Long Hầu
đầy sức hấp dẫn và kì bí Bạch Long Hầu là thần mưa của thượng giới - một vị thần chỉ có trong truyền thuyết của dân gian, chỉ xuất hiện trong tưởng tượng
Trang 31của con người vậy mà đã xuất hiện ngay giữa dương gian này Thần biến thành một ông thầy bói, có mặt ở giữa nơi đông người qua lại - chợ - nơi mà cuộc sống con người diễn ra nhộn nhịp nhất Hơn thế, vị thần này đã giao tiếp,
đã nói chuyện với những người trần Thần đã giúp quan Thái thú họ Trịnh phát
đơn kiện thần Thuồng Luồng, cứu Dương thị vợ mình
Phạm Tử Hư được theo thầy mình lên chơi ở Thiên Tào (“Phạm Tử Hư lên chơi Thiên Tào”) Chàng được “đi chơi khắp các toà”, được biết chốn thần tiên ở khác với hạ giới như thế nào: “Có tường bạc bao quanh, cửa lớn khảm trai lộng lẫy ”, “hai bên có những toà lầu châu điện ngọc, vằng vặc sáng như ban ngày, sông Ngân bến sao, ôm ấp sau trước, gió thơm phưng phức, đượm ngát quanh hiên, hơi lạnh thấu da, ánh sáng chói mắt ” Chàng
còn được gặp các vị tiên thuở sống là người bình thường nhưng có đức, có phẩm hạnh như Tô Hiến Thành, Chu Văn An Cõi tiên có nhiều điều lạ lùng
mà thế gian không có được, đặc biệt là những người có phẩm hạnh được thành tiên, được tới thăm chốn Bồng lai, cung nước
Từ Thức trong “Từ Thức lấy vợ tiên” còn có phần may mắn hơn
Chàng được sống và chứng kiến cuộc sống diễn ra nơi tiên cảnh, cùng vợ mình là một nàng tiên xinh đẹp sống chung một mái nhà Song, cho dù chốn tiên cảnh đẹp, thơ mộng, giàu sang hơn gấp nhiều lần chốn trần gian thì con người cũng không thể lãng quên đi quê hương của mình Từ Thức không phải
là người ngoại lệ, chính nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương đã thôi thúc chàng trở lại
trần gian sau “80 năm” chàng đặt chân tới nơi cảnh trời…
Có thể nói, môtíp con người gặp gỡ thần tiên là một trong những phương thức hữu hiệu để các tác giả (tác giả dân gian và Nguyễn Dữ) xây dựng nên những nhân vật kỳ ảo sinh động, hấp dẫn Sự tương đồng trong việc dùng môtíp này cũng góp phần khẳng định sự gắn kết liền mạch “không thể tách rời” giữa VHDG và văn học viết
2.1.1.3 Dùng môtíp con người sống với ma quỷ
Trang 32Trên thực tế, chuyện con người sống với thần tiên hay ma quỷ là hoàn toàn phi lý Nhưng theo trí tưởng tượng của người xưa, điều đó lại được chấp nhận và xảy ra bình thường cũng bởi do quan niệm: khi con người chết đi, linh hồn vẫn còn tồn tại (trong truyền thuyết, các vị anh hùng khi chết đi đều hiển linh phù trợ cho đời sau ) Nguyễn Dữ đã kế thừa và tiếp thu môtíp này từ văn học dân gian để từ đó nhân vật kỳ ảo (là ma quỷ) tồn tại một cách hợp lý Trong truyện cổ tích, môtíp con người sống với ma quỷ được sử dụng để dựng lên thế giới nhân vật kỳ ảo là ma, quỷ nhằm thể hiện lý tưởng đạo đức xã hội: thiện nhất định thắng ác, chính nhất định thắng tà Và ma, quỷ luôn luôn
là kẻ đại diện cho “phe ác”, là những thế lực cản trở con người, hung yêu tác
quái, làm hại con người tất sẽ bị tiêu diệt để thoả mãn nhu cầu, nguyện vọng
của nhân dân thời cổ tích (“Thạch Sanh”, “Sự tích cây Nêu ngày tết”, “Ba cây kim” ) Yêu ma, quỷ quái trong truyện cổ tích luôn được đặt trong thế
đối lập với con người, với con người dù chúng có nhiều phép thuật, phép ma
đến đâu cuối cùng cũng bị con người đánh bại Kiểu tiêu diệt ma, quỷ và thế lực tà ác nhất định sẽ phải thua, con người nhất định sẽ giành được phần thắng
là kiểu kết thúc có hậu của truyện cổ tích
Truyện “Sự tích cây Nêu ngày Tết” miêu tả cuộc “sống chung” của
con người với Quỷ: Quỷ tham lam, độc ác, bóc lột Người và hại Người Bằng trí thông minh và giúp sức của Phật, Người đã chiến thắng Quỷ, Quỷ bị đày ra biển đông, hàng năm chỉ được về đất liền vào ba ngày Tết Trong truyện cổ
tích “Thạch sanh”, Trăn tinh và Đại bàng tinh chính là những nhân vật kỳ ảo
được xây dựng từ môtíp con người sống với ma quỷ Theo triết lý “ở hiền gặp lành” và ước mơ công lý, dân gian đã để chàng Thạch Sanh tài giỏi tiêu diệt
chúng Trăn tinh, Đại bàng tinh dù có rất nhiều yêu phép và gian giảo nhưng vẫn không bao giờ thắng được chính nghĩa (mà Thạch Sanh là đại diện)
Tiếp thu quan niệm và môtíp của dân gian, Nguyễn Dữ đã dựng lên một
thế giới ma quỷ trong tác phẩm “Truyền kỳ mạn lục” ở đó, ông tạo nên hình
Trang 33tượng của ma, của quỷ, của Diêm Vương nơi địa phủ và cả trần gian vô cùng rùng rợn Những nhân vật ấy không chỉ hiện diện trong tác phẩm mà chúng
xuất hiện ngay từ tiêu đề của truyện: “Yêu quái ở Xương Giang”, “Tướng Dạ Xoa” Chính những nhân vật ấy đã khơi dậy trí rò mò và gây ấn tượng đối với
người đọc
Trong “Truyền kỳ mạn lục”, có 4 truyện sử dụng môtíp này đó là:
“Cây gạo”, “Nghiệp oan của Đào thị”, “Yêu quái ở Xương Giang”, “Tướng Dạ Xoa”
Nhân vật kỳ ảo của Nguyễn Dữ hiện lên trong 4 truyện trên với những tầng lớp khác nhau, hoàn cảnh sống khác nhau, cách ứng xử khác nhau nhưng tất cả đều chịu chung một bi kịch: chết biến thành ma Từ một cô gái chết trẻ, (Nhị Khanh) chết đi biến thành ma lôi kéo Trình Trung Ngộ (một tay lái buôn
đất Bắc) để làm bầu bạn ở thế giới âm tà (truyện “Cây gạo”); Đào Hàn Than
từ một cô gái đẹp, văn chương hay, được vua yêu quý cuối cùng chết đi thành
ma tác oai tác quái (truyện “Nghiệp oan của Đào Thị”); ngay một người phụ nữ bình thường như Thị Nghi cũng có chung số phận với họ (truyện “Yêu quái Xương Giang”) Song, dù họ có chết đi, có biến thành ma thì trong họ
vẫn luôn luôn khao khát được sống, khao khát được yêu, được hạnh phúc Cho nên hồn ma của họ vẫn vương vấn nơi trần gian, vẫn “vùng vẫy” trong cuộc sống trần tục này Họ những mong được thay đổi số kiếp được sống ở cõi khác
để có hạnh phúc, có tình yêu đích thực nhưng cuối cùng, họ vẫn phải chết và chết lần thứ hai - một cái chết trong khổ cực và đớn đau mãi mãi, họ không bao giờ với tới được khát vọng bình dị mà họ vẫn hằng mơ ước
Khác với ba truyện trên, “Tướng Dạ Xoa” lại không miêu tả những hồn
ma nữ tác oai tác quái Tác phẩm xuất hiện những hồn ma biết nghe lời, biết phân biệt điều phải trái đúng sai Cuối đời Trùng Quang, ma quỷ hành hoành rất dữ vì có quá nhiều người chết Những hồn ma, bóng quỷ ấy lấn át cả thế giới loài người Chúng quấy phá đời sống của nhân dân Văn Dĩ Thành - một
Trang 34người trần gian đã mắng mỏ chúng Kỳ lạ thay “chúng quỷ bùi ngùi nói: đó là chúng tôi bất đắc dĩ chứ không muốn như thế” Yêu ma ở đây đã biết nhận lỗi
về phần mình, chúng biết hành động của mình là sai trái nhưng vì “bất đắc dĩ” mà thôi Không ngại ngần, Dĩ Thành nhận làm chủ soái của chúng Kể từ
đó, chúng đã có tổ chức và hoạt động có người hướng dẫn chỉ đường Những yêu ma ấy không còn lang thang quấy phá đời sống của nhân dân nữa, nhờ thế
mà chúng cũng không bị đói nữa Chúng tôn Dĩ Thành là Tướng Dạ Xoa và
được làm quan ở âm phủ Ma, quỷ hay yêu quái đều là những nhân vật kỳ ảo
mà Nguyễn Dữ dụng công xây dựng lên Nhà văn đã dựa vào đời sống tín ngưỡng dân gian để tạo nên thế giới cõi âm rùng rợn, lạ lùng kỳ quái và đầy
ám ảnh
ở môtíp này, có thể thấy sự “gặp gỡ” khá nhiều giữa Nguyễn Dữ và Bồ
Tùng Linh (Trung Quốc) - tác giả của “Liêu trai chí dị” “Ma là một môtíp nghệ thuật kỳ ảo quen thuộc trong văn chương; là sản phẩm của trí tưởng tượng sáng tạo của nghệ sỹ thể hiện ngay từ sự vay mượn chính hình ảnh của con người ma là phản vật chất của con người” [5, tr 232] Nhờ vậy mà “thế giới được tạo ra ngay trong lòng bản thân thế giới hiện thực, đến mức nếu phải tách khói thế giới kỳ ảo khoác áo ma quái này đi thì các truyện không còn tồn tại như là những chỉnh thể nghệ thuật được nữa Kiểu thế giới kỳ ảo này cũng gặp trong “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ” [5, tr 234] Chính
GS Nguyễn Đăng Na đã khẳng định: “Truyện truyện kỳ về cơ bản được xây dựng trên cở những cốt truyện, nhân vật, môtíp dân gian Trong lý thuyết văn học sử, người ta gọi hiện tượng này là quá trình dân gian hoá truyện dân gian Cho nên, những cốt truyện, nhân vật, môtíp truyện truyền kỳ các nước giống nhau hoặc na ná giống nhau là điều chẳng có gì lạ, bởi chúng đều có nguồn gốc dân gian” [30, tr 5 - 6]
Trang 35Ma, quỷ vốn là sản phẩm của trí tưởng tượng của dân gian xưa gắn với những quan niệm tâm linh thần bí Đến Nguyễn Dữ, môtíp này vẫn được kế thừa và sử dụng rất hiệu quả để những nhân vật kỳ ảo là ma, quỷ tồn tại một cách hợp lý và được “nghiễm nhiên” chấp nhận Sự tương đồng ở việc dùng môtíp này cũng góp phần làm cho thế giới nhân vật kỳ ảo của truyện cổ tích
và “Truyền kỳ mạn lục” thêm phong phú, sinh động và truyền tải “tích cực”
được những nội dung tư tưởng mà nghệ sỹ muốn thể hiện
2.1.1.4 Dùng môtíp “vạn vật hữu linh”
Dân gian quan niệm rằng: vạn vật đều có linh hồn và thể xác Khi chết
đi, phần thể xác có thể tan biến nhưng linh hồn vẫn luôn tồn tại Từ quan niệm này, tác giả dân gian và tác giả Nguyễn Dữ đã xây dựng nên thế giới nhân vật
kỳ ảo qua việc để cho nhân vật được hoá thân hay linh hồn của nhân vật luôn toả sáng
ở môtíp này, ta có thể thấy trong cổ tích Việt Nam có các truyện như:
“Tấm Cám”, “Trương Chi”, “Trầu cau”, “Sự tích con sam”, “Dã Tràng”,
“Sự tích con muỗi”, “Sự tích chim tu hú”, “Sự tích chim hít cô”, “Sự tích sao Hôm, sao Mai”, “Ba ông đầu rau”, “Đá vọng phu” Người đọc sẽ thấy
ẩn đằng sau con chim vàng anh, cái khung cửi, cây thị là linh hồn của cô Tấm
hiền thảo, nết na (“Tấm Cám”); ẩn trong chén nước kia là chàng Trương Chi với mối tình đơn phương sầu khổ (“Trương Chi”); hay kiếp sống của con muỗi (“Sự tích con muỗi”), con sam (“Sự tích con sam”), con dã tràng (“Dã Tràng”), chim tu hú (“Sự tích chim tu hú”), chim hít cô (“Sự tích chim hít cô”) cũng là một cách biểu hiện của môtíp “vạn vật hữu linh” khi tác giả
dân gian để cho linh hồn con người hoá thân thành kiếp sống loài vật nhằm giải thích và nói lên những ngụ ý nhân sinh sâu sắc Người Việt Nam mỗi khi
ăn miếng trầu không thể không nhớ tới câu chuyện “Trầu cau” và mối tình
vừa thuỷ chung vừa ngang trái của anh em nhà họ Cao với cô gái họ Lưu xưa
Họ chết đi, linh hồn của họ đã hoá thành cây cau, dây trầu, hòn đá mãi mãi
Trang 36quấn quýt, hoà quyện vào nhau như chưa bao giờ phải chia lìa, xa cách Mối tình thuỷ chung của người vợ với người chồng - người em với người anh cũng
khiến tác giả dân gian xúc động viết nên chuyện “Đá vọng phu” mà ngày
nay, ai lên Đồng Đăng - Lạng Sơn, nhìn thấy một tượng đá ôm con cũng biết
đó là hồn của nàng Tô Thị hoá thành !
Trong “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ có thể kể đến các tác phẩm: “Cuộc kỳ ngộ ở Trại Tây”, “Bữa tiệc đêm ở Đà Giang”, “Cái chùa hoang ở huyện Đông Triều”, “Người con gái Nam Xương”, “Người nghĩa phụ ở Khoái Châu”, “Lệ Nương”, “Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa”,
“Nàng Tuý Tiêu” đã sử dụng môtíp “vạn vật hữu linh” để thể hiện nhân vật
kỳ ảo Nhờ môtíp này mà độc giả cũng có thể tiếp xúc với “đủ kiểu đủ loại” nhân vật kỳ ảo ở những thế giới khác nhau (có thể là cõi âm, cõi trần hay cõi mộng) Việc kế thừa và sử dụng chung môtíp với tác giả dân gian (môtíp “vạn vật hữu linh”) không chỉ có tác dụng giúp Nguyễn Dữ tạo nên thế giới kỳ ảo
một cách hợp lý mà còn “khiến cho tác phẩm của mình mang cốt cách chung
và tham dự vào tiến trình phát triển trong toàn khu vực của thể loại truyền kỳ vùng văn học Đông á”, đó là “cốt cách”: khởi nguồn từ văn học dân gian, lấy
văn học dân gian làm nền tảng
Truyện “Cái chùa hoang ở huyện Đông Triều”, Nguyễn Dữ gây ấn
tượng mạnh với người đọc khi miêu tả những pho tượng - vốn là tượng Phật ở ngôi cao chí tôn đêm đêm hiện nguyên hình là con người đi quấy phá con
người; hay trong “Cuộc kỳ ngộ ở Trại Tây”, linh hồn của các loài hoa lại biến
thành người Đó là linh hồn của cây liễu, cây đào, kim tiền, tường vi Tinh cây đào và cây liễu biến thành Đào Hồng Nương và Liễu Nhu Nương Họ có khả năng mê hoặc con người (hai nàng đã khiến cho Hà Nhân vì sắc dục, bỏ
bê việc học mà quên đi sự nghiệp của mình, chỉ mải mê chơi đùa cùng các
nàng) ; con cáo và con vượn trong “ Bữa tiệc đêm ở Đà Giang” cũng được
Nguyễn Dữ cho hiện diện trong kiếp người Họ biến thành tú tài họ Viên và sử
Trang 37sĩ họ Hồ đến đối diện, đấu lý với tướng quốc Hồ Quý Ly bằng những lời nói
đầy sức thuyết phục và triết lý
Ngoài kiểu nhân vật kỳ ảo được hoá thân trong 3 truyện kể trên, ở môtíp
“vạn vật hữu linh”, độc giả còn được gặp gỡ với những người phụ nữ đảm
đang, thuỷ chung, tiết hạnh Khi chết đi, linh hồn của họ được tác giả để cho
toả sáng vĩnh hằng Đó là nàng Nhị Khanh (truyện “Người nghĩa phụ ở Khoái Châu”), Vũ Thị Thiết (“Người con gái Nam Xương”), Ngô Chi Lan (“Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa” ở những hình mẫu nhân vật kỳ ảo này,
chúng ta vẫn nhận thấy sự ảnh hưởng rất sâu sắc từ văn học dân gian của Nguyễn Dữ, bởi phẩm hạnh của họ đã được lưu truyền, được ngợi ca trước khi
có “Truyền kì mạn lục”: “Một số cốt truyện trong “Truyền kỳ mạn lục” chủ yếu lấy từ những câu chuyện lưu truyền trong dân gian, có trường hợp xuất phát từ truyền thuyết kể về các vị thần mà đền thờ hiện vẫn còn (đền thờ Văn
Dĩ Thành ở Đan Phượng - Hà Nội, đền thờ Vũ Thị Thiết ở Hà Nam, đền thờ Nhị khanh ở Hưng Yên ) [50, tr 755]
“Vạn vật hữu linh” - quan niệm này không chỉ tồn tại trong thế giới cổ
tích và trong “Truyền kỳ mạn lục” mà còn có cả trong đời sống tâm linh của
con người hiện đại ngày nay Sự tương đồng về việc cùng dùng môtíp “vạn vật hữu linh” để thể hiện nhân vật kỳ ảo cũng chính là một trong những lý do
để chúng tôi nghiên cứu đề tài này Và chứng tỏ, dù ở hai thời đại khác xa nhau, hoàn cảnh khác nhau nhưng hai tác giả (tác giả dân gian và Nguyễn Dữ) dường như rất “gắn bó” với nhau khi cùng “tri ngộ” ở một môtíp để thể hiện nhân vật kỳ ảo
2.1.2 Tương đồng về vai trò của nhân vật kỳ ảo
ở truyện cổ tích dân gian Việt Nam và “Truyền kỳ mạn lục”, vai trò của nhân vật kỳ ảo có sự gặp gỡ, tương đồng với nhau Nguyên nhân của sự tương đồng này cũng vẫn chủ yếu là do đặc điểm của văn học trung đại Việt
Trang 38Nam (văn học trung đại Việt Nam có sự kế thừa những truyền thống tốt đẹp từ văn học dân gian, lấy văn học dân gian làm nền tảng), và một phần là do những đặc điểm của nhân vật kỳ ảo
Với truyện cổ tích dân gian, tất cả các nhân vật kỳ ảo (từ Bụt, Tiên, Thần, Thánh, nhân vật anh hùng cho đến yêu ma, quỷ quái ) đều hướng tới mục đích chung là thể hiện những khát vọng của nhân dân (nhân dân mơ ước một xã hội công bằng, hạnh phúc, ở đó mọi ước nguyện của con người đều có thể thực hiện được) Đồng thời còn thể hiện lý tưởng thẩm mĩ - đạo đức xã hội
của con người thời đại cổ tích: “ở hiền gặp lành”, “ác giả ác báo”, cái thiện
luôn luôn chiến thắng cái ác v v Vì thế, mới có những ông Bụt, bà Tiên,
Đức Phật, Đức Thánh, Bồ Tát xuất hiện với những phép lạ để ban phúc cho người nghèo khổ, cứu con người lúc gặp hiểm nguy Những thế lực bạc ác,
đen tối (dì ghẻ, cha dượng, phú ông, địa chủ ; yêu tinh, con quỷ, chim dữ ) với những uy quyền và phép lạ chuyên bóc lột, làm hại người lương thiện thì cũng cần bị tiêu diệt bởi sức mạnh kỳ lạ của phép thần, của người anh hùng, của ông Bụt, bà Tiên (bởi người bình thường không có những khả năng ấy) Ví
dụ, các truyện: “Tấm Cám”, “Thạch Sanh”, “Sọ Dừa”, “Cây khế”, “Núi cười”, “Cái cân thuỷ ngân” v v ; hướng tới nội dung kể về nguồn gốc, sự
tích của sự vật hiện tượng trong đời sống, nhân vật kỳ ảo cũng giữ vai trò chủ
chốt (truyện “Sự tích chim tu hú”, “Sự tích con sam”, “Sự tích con muỗi”,
“Dã Tràng”, “Sự tích cây Nêu ngày Tết” ) Nói chung, nhân vật kỳ ảo xuất
hiện trong truyện cổ tích làm cho cái phi lý, khó chấp nhận thành cái có thể chấp nhận và tồn tại ở thế giới cổ tích, mọi ước mơ, nguyện vọng và lý tưởng của con người chỉ có thể thực hiện và lý giải được thông qua các nhân vật kỳ ảo Dẫu biết rằng đó là những nhân vật chỉ có trong mơ, trong trí tưởng tượng nhưng con người vẫn tin, vẫn chấp nhận, độc giả vẫn thấy hay, thấy
cuốn hút “Độc giả của văn học kỳ ảo bước vào cuộc chơi khi biết rằng mình bước vào một thế giới hư cấu, nhưng là một thế giới chưa từng được biết đến