1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những nét tương đồng trong nghệ thuật truyện ngắn trước cách mạng của thạch lam và nam cao

68 549 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 608,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một lý do nữa là xuất phát từ thực tế, chúng tôi nhận thấy Thạch Lam và Nam Cao là hai tác giả được giảng dạy trong chương trình từ THCS, THPT đến Cao đẳng, Đại học nên việc nghiên cứu “

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

*************

NGUYỄN THỊ HẠT

NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG TRONG NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN

TRƯỚC CÁCH MẠNG CỦA

THẠCH LAM VÀ NAM CAO

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

HÀ NỘI – 2009

Trang 2

Lêi c¶m ¬n

T«i xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy giáo – Th.S Thành Đức Bảo Thắng đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian vừa qua và cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong tổ Văn học Việt Nam – khoa Ngữ văn - trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận này

Hµ Néi, th¸ng 5 n¨m 2009 Sinh viªn

Nguyễn Thị Hạt

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong khoá luận này là thành quả của riêng tôi Kết quả này không trùng với bất cứ công trình nào

đã được công bố trước đó Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 05 năm 2009

Sinh viên

Nguyễn Thị Hạt

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quãng đời cầm bút ngắn ngủi của mình, Thạch Lam đã để lại một khối lượng tác phẩm không mấy đồ sộ Song bằng tài năng và lòng nhiệt tình yêu nghề của mình, Thạch Lam đã khẳng định được vị trí và tài năng của mình trên văn đàn văn học Việt Nam 1930 - 1945 Cùng với Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Thạch Lam đã trở thành một trong bốn cây bút bậc thầy về truyện ngắn

Nếu như các tác phẩm của các cây bút đàn anh trong Tự lực văn đoàn như: Hồn bướm mơ tiên, Gánh hàng hoa, Nửa chừng xuân vừa mới ra đời đã

được đông đảo độc giả nồng nhiệt đón đọc thì các tác phẩm của Thạch Lam khi ra đời không có cái may mắn ấy Không chiều theo thị hiếu của độc giả đương thời, ông hướng tới tìm hiểu, khám phá thế giới tâm hồn tinh tế, trong sáng, mong manh…của con người bằng tình thương và tấm lòng nhân hậu

Đó là nguyên nhân cơ bản tạo nên giá trị đặc sắc và làm cho các tác phẩm của Thạch Lam sống mãi trong lòng bạn đọc

Bên cạnh Thạch Lam, Nam Cao - cây bút xuất sắc của chủ nghĩa hiện thực phê phán có nét tương đồng với Thạch Lam ở sự khẳng định mình ấy Xuất hiện khi chủ nghĩa hiện thực phê phán đã đạt tới đỉnh cao với các tên tuổi lớn như: Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan… Có thể nói, Nam Cao xuất hiện lúc này như đứng trước một thử thách nghiệt ngã tưởng chừng không thể vượt qua Nhưng bằng trái tim tâm huyết đối với văn chương, bằng con mắt quan sát hiện thực sắc xảo và nhất là bằng tài năng nghệ thuật của mình, Nam Cao đã vượt lên và trở thành cây bút xuất sắc nhất ở chặng cuối của trào lưu này Với ý nghĩa đó, các nhà nghiên cứu coi Nam Cao là đại diện

Trang 5

xứng đáng nhất, tiêu biểu nhất đã đưa văn học hiện thực phê phán phát triển đến đỉnh cao

Đã có không ít nhà nghiên cứu về truyện ngắn Thạch Lam và Nam Cao trên nhiều phương diện cả nội dung và hình thức và đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận Song với ý thức tập làm khoa học, với mong muốn có được một cái nhìn tương đối đầy đủ và hệ thống về thế giới nghệ thuật của hai

cây bút bậc thầy về truyện ngắn, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Những nét tương đồng trong nghệ thuật truyện ngắn trước cách mạng của Thạch Lam

và Nam Cao”

Một lý do nữa là xuất phát từ thực tế, chúng tôi nhận thấy Thạch Lam

và Nam Cao là hai tác giả được giảng dạy trong chương trình từ THCS,

THPT đến Cao đẳng, Đại học nên việc nghiên cứu “Những nét tương đồng trong nghệ thuật truyện ngắn trước cách mạng của Thạch Lam và Nam

viên dạy văn trong tương lai

2 Lịch sử vấn đề

Văn Thạch Lam chính là tâm hồn, là con người của nhà văn, bởi thế mà các sáng tác của ông đã làm say mê tâm hồn bạn đọc nhiều thế hệ bất chấp sự thử thách của thời gian nó vẫn trường tồn mãi mãi Cũng cùng với thời gian thì các nhà nghiên cứu cũng đã có những đánh giá xác đáng, toàn diện và sâu sắc về nghệ thuật truyện ngắn Thạch Lam

Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan, người dành nhiều tâm huyết nghiên cứu về Thạch Lam đã phát biểu: “Thạch Lam có một ngòi bút lặng lẽ và điềm tĩnh vô cùng, ngòi bút chuyên tả tỉ mỉ những cái rất nhỏ và rất đẹp, những tình cảm và cảm giác con con nảy nở và biểu lộ ở đủ hạng người mà ông tả một

Trang 6

cách rất tinh vi (…) Tỉ mỉ và sâu sắc đó là hai đặc tính của truyện ngắn Thạch Lam”.[15]

Nguyễn Tuân - người bạn cùng thời với Thạch Lam cho rằng: “Thạch Lam hay đi vào những cảnh ngộ nghịch trái mà đồng thời cũng là đi sâu vào những tâm trạng, tâm tình, cảm xúc, cảm giác”.[18]

Cả hai ý kiến trên đều nhấn mạnh đến nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật trong truyện ngắn của Thạch Lam

Trong cuốn Từ điển văn học, giáo sư Nguyễn Hoành Khung cũng đồng

tình với Vũ Ngọc Phan và Nguyễn Tuân khi ông cho rằng: “Ngòi bút Thạch Lam thường hướng vào thế giới bên trong của cái tôi với sự phân tích cảm giác tinh tế” Ngoài ra giáo sư còn khẳng định: “Thạch Lam sở trường về viết truyện ngắn (…) Dường như ông là người đầu tiên khai thác chất thơ trong cuộc sống hàng ngày (…), nhiều truyện dường như không có cốt truyện song vẫn có sức hấp dẫn riêng (…) Thạch Lam góp phần nâng cao truyện ngắn Việt Nam lên một bước” [8]

Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đã có lần nhận xét nghệ thuật truyện ngắn Thạch Lam như sau: “Thạch Lam ít sử dụng những cốt truyện giàu hành động

và kịch tính (…) Ngòi bút Thạch Lam đi sâu vào thế giới bên trong của tâm hồn con người đặc biệt là thế giới của ấn tượng và cảm giác”.[3] Sau này Nguyễn Đăng Mạnh cũng khẳng định: “Thạch Lam sở trường về truyện ngắn (…) Ông đã sáng tạo ra lối truyện ngắn riêng, loại truyện tâm tình không có cốt truyện đặc biệt Ông chú trọng đi vào nội tâm nhân vật với tình cảm, cảm xúc, cảm giác mơ hồ mong manh”.[14]

Như vậy, việc đi sâu khám phá về nghệ thuật truyện ngắn Thach Lam

đã diễn ra và dường như chưa kết thúc Nó vẫn đề tài hấp dẫn bút mực của nhiều nhà nghiên cứu

Trang 7

Bên cạnh Thạch Lam cũng như một số nhà văn khác thì Nam Cao, con người và sáng tác của ông cũng luôn là đề tài hấp dẫn, tập chung bút mực của các nhà nghiên cứu Họ không chỉ tìm hiểu những vấn đề về cuộc đời và thời đại mà còn khai thác giá trị nghệ thuật truyện ngắn của ông từ nhiều góc độ

Nguyễn Hoành Khung trong cuốn Từ điển văn học đã viết: “Nghệ thuật

viết truyện của Nam Cao có nhiều đặc sắc độc đáo và đa dạng, tác phẩm của ông vừa chân thực, vừa ý vị triết lý, một ý nghĩa khái quát sâu xa”.[8]

Phong Lê trong cuốn Nam Cao nhìn cuối thế kỷ khẳng định: “Nam

Cao một nhà văn có văn… văn Nam Cao Ngôn ngữ Nam Cao cũng như Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài… Quả là đối tượng còn nhiều khám phá Để nói về cái giàu cái hay của tiếng Việt và để nói, trong tay một nhà văn tài năng, tiếng Việt đã phát huy được sức mạnh và ưu thế như thế nào Để thấy chỉ sau vài chục năm (…), văn quốc ngữ đã đạt tới trình độ Nam Cao, và từ Nam Cao đến nay, sau hơn nửa thế kỷ bất chấp mọi biến động xã hội, ngôn ngữ Nam Cao vẫn cập được bến bờ thời sự” Nhận xét đó đã nhấn mạnh đến khả năng cũng như tài năng sử dụng ngôn ngữ của Nam Cao.[14]

Nghiên cứu về phương diện nghệ thuật truyện ngắn Nam Cao cũng phải kể đến ý kiến của Nguyên Hồng, ông viết: “Nghệ thuật vững chãi và sâu sắc của Nam Cao gây thêm lòng tin ở khả năng tiềm tàng thật tươi tốt và ở sức phát triển của dòng văn học hiện thực đi vào đây, chiến đấu ở đây có bao nhiêu cây bút chật vật, gian khổ và cố gắng không ngừng, ngòi bút của Nam Cao đã đem đến một thế giới thật đặc sắc Có lẽ trong văn học Việt Nam, với ngòi bút của Nam Cao, ta bắt đầu thấy sự sống thật trong truyện ngắn” Đây là nhận xét về ngôn ngữ và nghệ thuật miêu tả thế giới nội tâm nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao

Điểm lại lịch sử vấn đề chúng tôi nhận thấy đã có nhiều bài nghiên cứu

Trang 8

Các bài viết ít nhiều đã nói đến nét tương đồng trong nghệ thuật truyện ngắn trước cách mạng của Thạch Lam và Nam Cao hoặc thông qua những bài viết

ấy ta nhận thấy nét tương đồng trong nghệ thuật truyện ngắn của hai nhà văn này Tuy nhiên, gần như cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào tìm hiểu về “Những nét tương đồng trong nghệ thuật truyện ngắn trước cách mạng của Thạch Lam và Nam Cao” Trên cơ sở đó khoá luận này chúng tôi xin bước đầu đi tìm hiểu vấn đề trên một cách có hệ thống

3 Mục đích của khóa luận

Khóa luận chú trọng làm nổi bật nét tương đồng trong nghệ thuật truyện ngắn trước cách mạng của Thạch Lam và Nam Cao Từ đó thấy được sự kế thừa, sáng tạo và phát triển theo hướng hiện đại hóa và quy luật phát triển của văn học

4 NhiÖm vô nghiên cứu

Tìm ra những nét tương đồng trong nghệ thuật truyện ngắn trước cách mạng của Thạch Lam và Nam Cao

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Những yếu tố tương đồng trong nghệ thuật truyện ngắn của Thạch Lam và Nam Cao

- Phạm vi nghiên cứu:

Về tư liệu: để giải quyết vấn đề mà đề tài đặt ra chúng tôi giới hạn phạm

vi nghiên cứu là những tác phẩm tiêu biểu của Thạch Lam và Nam Cao trước cách mạng

Trong quá trình phân tích tìm và tìm hiểu, để có sự đánh giá thỏa đáng

và toàn diện, chúng tôi cũng có sự so sánh, đối chiếu giữa các tác phẩm của hai ông nói chung và một số tác phẩm của các nhà văn khác

6 Phương pháp nghiên cứu

Trang 9

Với đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

Phương pháp phân tích văn học

Phương pháp đối chiếu so sánh

Trang 10

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Truyện ngắn và cỏc yếu tố nghệ thuật truyện ngắn

1.1.1 Truyện ngắn

1.1.1.1 Khái niệm

Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”- NXB Giỏo dục, Lờ Bỏ Hỏn, Trần

Đỡnh Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biờn, thể truyện ngắn được định nghĩa như sau: Truyện ngắn là tỏc phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trựm hầu hết cỏc phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hoặc sử thi, nhưng cỏi độc đỏo của nú là ngắn Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi khụng nghỉ”

1.1.1.2 Đặc trưng

Đặc trưng của truyện ngắn:

+ Truyện ngắn thường gắn với một số biến cố hoặc một vài biến cố xoay quanh cuộc đời nhõn vật

+ Thể hiện một khớa cạnh nào đú trong xó hội

+ Biểu hiện một mặt nào đó của tính cách nhân vật

Nhưng cỏi chớnh của truyện ngắn khụng phải là hệ thống sự kiện, mà ở cỏi nhỡn tự sự đối với cuộc đời Truyện ngắn trung đại cũng là truyện ngắn nhưng cũng gần với truyện vừa Truyện ngắn hiện đại khỏc hẳn Đú là một kiểu tư duy khỏ mới, vỡ vậy núi chung, truyện ngắn đớch thị xuất hiện muộn trong lịch sử văn học

Ở một số nước trờn thế giới, truyện ngắn gắn liền với bỏo chớ: khuụn khổ của bỏo chớ khụng cho phộp dài Truyện ngắn núi chung khụng phải vỡ

“truyện” của nú “ngắn” mà vỡ cỏch nắm bắt cuộc sống của thể loại

Trang 11

Tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống nội tâm con người Chính

vì vậy truyện ngắn thường rất ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp

1.1.1.3 Qu¸ tr×nh ph¸t triÓn

Thể loại truyện ngắn trong lịch sử văn học Việt Nam chỉ thực sự định hình và phát triển trong thế kỉ XX Đây là thời kỳ cùng một lúc các nhà văn viết truyện ngắn có thể tung hoành trên các loại văn tự: chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc Ngữ

Truyện ngắn Việt Nam phát triển qua các giai đoạn:

Giai đoạn từ 1900 – 1930 (ba thập niên đầu)

Đây là giai đoạn văn học đang chuyển hướng theo xu hướng hiện đại hoá Trong thời kỳ này, truyện ngắn được hình thành một cách rõ rệt và tách dần thi pháp trung đại nh­ truyện ngắn của Nguyễn Ái Quốc, Phan Châu Trinh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Công Hoan

Cảm hứng của truyện ngắn thời kì này hướng tới phê phán, đả kích xã

hội: Phan Châu Trinh có “Người nông dân”, Phan Bội Châu có “Nhà sư ăn rau”, “Sống trở lại”, Nguyễn Ái Quốc có “Con rùa”, “Những trò lố hay là Vazen và Phan Bội Châu”, “Vi hành”,

Về nghệ thuật, truyện ngắn phát triển mạnh mẽ, trở thành một thể loại mới có sự thay đổi mới về chủ đề truyện ngắn: Trước kia là những câu chuyện

về nhân vật lịch sử, những câu danh ngôn thì nay xu hướng vào khám phá phản ánh hiện thực xã hội trên nhiều phương diện; Truyện ngắn có sự biến đổi về chữ viết, linh hoạt trong cách sử dụng ngôn từ, ngôn ngữ hiện đại gần gũi với ngôn từ đời thường của người nông dân Tuy nhiên có một số truyện ngắn viết theo lối văn học biền ngẫu

Giai đoạn 1930 - 1945

Trang 12

Thời kì này truyện ngắn phát triển nổi bật với nhiều thành tựu rực rỡ, cùng với tiểu thuyết nó đưa văn xuôi bước vào thời kì hiện đại Thời kì này xuất hiện những cây bút bậc thầy về truyện ngắn

Truyện ngắn chủ yếu viết bằng chữ quốc ngữ rất đa dạng, phong phú trong cách biểu hiện, độc đáo sinh động trong ngôn ngữ Nó đã tạo nên phong cách độc đáo của truyện ngắn như Nguyễn Công Hoan là cây bút truyện ngắn trào phúng được coi là vô tiền khoáng hậu, Nam Cao cây bút hiện thực tâm lí Nội dung tư tưởng cuả truyện ngắn thời kì này hướng tới xã hội và đặt ra những vấn đề lớn trong x· héi Đặc biệt truyện ngắn thời kì này hướng tới miêu tả sâu sắc đời sống nội tâm con người

Truyện ngắn thời kì này đạt đến độ mẫu mực, cổ điển, phản ánh nhiều mặt của đời sống xã hội Kết cấu đa dạng, đặc biệt là kết cấu tâm lý, ngôn ngữ phong phú sinh động, làm giàu cho ngôn từ chữ viết: diễn đạt được mọi biến thái tinh vi nhất trong đời sống con người

Trong quá trình phát triển, truyện ngắn đã phát triển thành hai dòng đó

là dòng truyện ngắn trữ tình và dòng truyện ngắn hiện thực

Thứ nhất là dòng truyện ngắn trữ tình:

Nói tới dòng truyện ngắn trữ tình 1930 - 1945 là nói đến những cây bút của truyện ngắn hiện thực như Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh Đã có ý kiến cho rằng: “Ta không nên đối lập truyện ngắn trữ tình và truyện ngắn hiện thực”, không nên đối lập như sự đối lập của hai ý thức hệ, hai thế giới quan, hai lập trường giai cấp Vì đó là hai khuynh hướng thẩm mĩ khác nhau, đáp ứng yêu cầu khác nhau của đời sống tâm hồn Một nhà văn trong một thời điểm có thể sáng tác theo hai khuynh hướng lãng mạn và hiện thực như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân

Trang 13

Song nếu như Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng Phụng, chỉ thành công trong truyện ngắn hiện thực thì Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh lại thành công trong cả hai khuynh hướng hiện thực và trữ tình

Thạch Lam khẳng định tính chất đằm thắm trong sáng tác: Truyện ngắn nào hay đều có chất thơ, bài thơ nào hay đều có cốt truyện Người ta khẳng định trong thế giới nghệ thuật của của ba cây bút Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, có sự khác nhau: Thạch Lam hướng ngòi bút của mình vào những người nghèo khổ, bé nhỏ ở cùng quê nào đó gần xe lửa Hồ Dzếnh chỉ viết về những chuyện của bản thân, gia đình, Thanh Tịnh viết về tình cảm gần gũi trong gia đình Song sở trường chung của họ có nét tương đồng: Diễn tả rất đạt đời sống nội tâm, tâm hồn nhân vật với những cảm giác hết sức tinh vi, những ước mơ hết sức nhỏ bé nhưng hiền lành của những con người bé nhỏ ở nông thôn

Thứ hai là dòng truyện ngắn hiện thực:

Nói đến dòng truyện ngắn này là nói đến dòng truyện ngắn của các nhà văn theo khuynh hướng hiện thực phê phán Dòng truyện ngắn này phát triển mạnh mẽ do các nguyên nhân sau: Do quan niệm của nhà văn khi hướng tới phản ánh hiện thực Do đặc trưng về thể loại: ngắn gọn, cỡ nhỏ nên phản ánh được một cách nhanh gọn kịp thời, phản ánh nhanh đáp ứng được tính thời sự

Các tác giả của dòng văn học này tiểu biểu như Nguyễn Công Hoan có hàng trăm truyện ngắn khác nhau Ông là người khai phá mở đường không chỉ cho dòng văn học hiện thực mà còn cho cả truyện ngắn hiện đại Việt Nam Tiếp đó là hàng loạt các tên tuổi như Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài, Kim Lân và đặc biệt là Nam Cao Nam Cao là người đến sau nhưng lại là người đặc biệt nhất, ông đã nâng truyện ngắn Việt Nam lên tầm cao mới

Trang 14

Từ sau 1945 đến nay truyện ngắn Việt Nam tiếp tục phỏt triển và cú những thành tựu đỏng kể nhưng trong phạm vi của khoỏ luận chỳng tụi chỉ đi tỡm hiểu qua hai giai đoạn trờn

1.1.2 Cỏc yếu tố nghệ thuật của truyện ngắn

1.1.2.1 Cốt truyện và tỡnh huống truyện

Cốt truyện là hệ thống sự kiện cụ thể, được tổ chức theo yờu cầu tư tưởng

và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hỡnh

thức động của tỏc phẩm văn học thuộc cỏc loại tự sự và kịch (Từ điển thuật ngữ văn học, Lờ Bỏ Hỏn, Trần Đỡnh Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biờn),

Nhà xuất bản Giỏo dục )

Cốt truyện khụng phải là yếu tố tất yếu của mọi loại tỏc phẩm văn học Trong cỏc loại tỏc phẩm trữ tỡnh, cốt truyện (với ý nghĩa chặt chẽ nhất của khỏi niệm này) khụng tồn tại vì loại tỏc phẩm trữ tình, tỏc giả biểu hiện sự diễn biến của tỡnh cảm, tõm trạng

Cốt truyện của truyện ngắn thường có hai phương diện gắn bó hữu cơ với nhau: một mặt cốt truyện bộc lộ nhõn vật, nhờ cốt truyện mà nhà văn thể hiện sự tỏc động qua lại giữa cỏc tớnh cỏch nhõn vật; mặt khỏc, cốt truyện là phương tiện để nhà văn tỏi hiện cỏc xung đột xó hội Cốt truyện vừa gúp phần bộc lộ cú hiệu quả đặc điểm mỗi tớnh cỏch, tổ chức hệ thống tớnh cỏch, lại vừa trỡnh bày hệ thống sự kiện phản ỏnh hiện thực xung đột xó hội, cú sức mạnh lụi cuốn và hấp dẫn người đọc

Theo Nguyễn Đăng Mạnh: “Tỡnh huống truyện như một tứ thơ…nú giống như một thứ nước rửa ảnh sẽ làm nổi hỡnh, nổi sắc nhõn vật, làm nổi bật vấn

đề tư tưởng của tỏc phẩm”

Vớ dụ như tỡnh huống nhặt vợ trong Vợ nhặt của Kim Lõn, tỡnh huống nhầm lẫn của đụi trai gỏi người Phỏp trong Vi hành của Nguyễn Aớ Quốc…

Trang 15

1.1.2.2 Nhân vật

Trong văn học có rất nhiều quan niệm khác nhau về nhân vật:

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: Nhân vật văn học là những con người cụ

thể được miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể là tên riêng (Tấm, Cám, chị Dậu, anh Pha, Hộ, ),cũng có thể không có tên riêng như

thằng bán tơ, một mụ nào trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Trong truyện cổ

tích, ngụ ngôn, đồng thoại, thần được đưa ra như một ẩn dụ để nói chuyện con người Khái niệm nhân vật có khi đươc sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ con người cụ thể nào, mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm

Từ điển văn học định nghĩa về nhân vật như sau: Nhân vật là yếu tố cơ

bản nhất trong tác phẩm văn học, là tiêu điểm để bộc lộ chủ đề và đến lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc hoạ Nhân vật do đó là nơi tâp trung giá trị tư tưởng nghệ thuậ của tác phẩm.[8]

Theo Giáo sư Phùng Minh Hiến: Nhân vật là đối tượng được miêu tả tâp trung đến mức có sức sống riêng nào đó bên trong tuỳ theo nhiệm vụ nghệ thuật mà tác giả trao cho nó

Như vậy, tất các quan niệm trên giúp chúng ta hiểu rõ thế nào là nhân vật văn học và vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn chương trong truyện ngắn, nhân vật được xem như một yếu tố không thể thiếu, là yếu tố quan trọng nhất của truyện ngắn

1.1.2.3 Ngôn ngữ nghệ thuật

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: Ngôn ngữ là công cụ, là chất liệu cơ bản

của văn học, vì vậy văn học được gọi là loại hình nghệ thuật ngôn từ

Tính chính xác, tính hàm xúc, tính đa nghĩa, tính tạo hình và tính biểu cảm

là những thuộc tính chung của ngôn ngữ văn học Các đặc tính ấy biểu hiện qua các loại văn với những sắc thái khác nhau Ngôn ngữ của tác phẩm trữ

Trang 16

tình là ngôn ngữ được tổ chức trên cơ sở nhịp điệu, hết sức cô đọng hàm súc

và đặc biệt gợi cảm Ngôn ngữ của tác phẩm tự sự trong đó có truyện ngắn là ngôn ngữ của nhiều loại tính cách (nhân vật) và nó có một thứ ngôn ngữ nữa

là ngôn ngữ của người kể chuyện giữ vai trò quyết định đối với toàn bộ cấu trúc ngôn ngữ của tác phẩm

Như vậy đến đây ta có thể hiểu ngôn ngữ nghệ thuật nói chung và ngôn ngữ nghệ thuật truyện ngắn nói riêng Qua đó sẽ góp phần giúp chúng ta đi tìm hiểu những nét tương đồng trong nghệ thuật truyện ngắn trước cách mạng của Thạch Lam và Nam Cao

1.2 Những yếu tố tác động đến tư duy nghệ thuật của Thạch Lam và Nam Cao

Trong cuộc sống nói chung, trong văn chương nói riêng để có một cái nhìn toàn vẹn, sâu sắc và chính xác nhất về một đối tượng, một vấn đề, một sự việc…chúng ta cần xem xét chúng trên nhiều phương diện Vì vậy khi nghiên cứu “Những nét tương đồng trong nghệ thuật truyện ngắn trước cách mạng của Thạch Lam và Nam Cao” chúng ta cùng đi vào tìm hiểu các yếu tố tác động đến tư duy nghệ thuật của Thạch Lam và Nam Cao Hai yếu tố luôn được giới nghiên cứu đưa ra xem xét đó là hoàn cảnh xã hội và hoàn cảnh riêng

1.2.1 Hoàn cảnh xã hội

Mỗi người sống trong một môi trường xã hội nhất định, không thể không chịu sự tác động của môi trường Trong hoàn cảnh ấy: “Người ta bao giờ cũng chịu rất sâu xa ảnh hưởng của hoàn cảnh và trước hết là được tạo nên để sống với hoàn cảnh” (Thạch Lam) Vì vậy để tìm hiểu về nghệ thuật truyện ngắn Thạch Lam và Nam Cao trước hết chúng ta phải biết được hoàn cảnh xã hội có tác động đến tư duy nghệ thuật của Thạch Lam và Nam Cao

Trang 17

Xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng tám là xã hội thực dân nửa phong kiến, kinh tế lạc hậu, sản xuất trì trệ, xã hội rối ren điên đảo, đời sống của mọi tầng lớp nhân dân vô cùng cực khổ Đặc biệt là giai đoạn 1930 - 1945 trước phong trào cách mạng vô sản vừa nhóm lên Bọn đế quốc thực dân đã

sử dụng mọi thủ đoạn để đối phó, đàn áp các phong trào đó trên mọi mặt: Quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa…

Về kinh tế chúng ra sức bóc lột nhân dân ta và vơ vét của cải nhân dân

ta rơi vào tình cảnh “một cổ hai tròng” luôn trong ngoi ngóp đói nghèo đến cùng cực cả về vật chất lẫn tinh thần

Về chính trị và quân sự chúng dìm các cuộc khởi nghĩa của ta trong biển máu, bằng các cuộc “ khủng bố trắng”

Về văn hóa chúng thực hiện chính sách ngu dân: không cho nhân dân ta tiếp thu với những nền văn hóa tiến bộ, chúng lập nhà tù nhiều hơn trường học Chúng đầu độc các tầng lớp học sinh, sinh viên bằng những học thuyết của chủ nghĩa siêu hình, chủ nghĩa biện chứng, chủ nghĩa hoài nghi…hay lôi kéo thanh niên vào sòng bạc, ma túy, mại dâm…nhằm tiêu diệt tinh thần yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc

Đặc biệt là năm 1940, khi phát xít Nhật tấn công Đông Dương thực dân Pháp càng bóp nghẹt khai thác nhân dân Việt Nam chúng bắt tay cấu kết với nhau để hai bên cùng có lợi làm cho đời sống của nhân dân đã cùng cực, điêu đứng nay lại càng rơi vào thảm cảnh hơn Một xã hội Tây - Tàu lẫn lộn, phải - trái, trắng - đen cũng bị đảo lộn

Chính hoàn cảnh xã hội ấy đã tác động sâu sắc đến tầng lớp văn nghệ

sĩ, đến tư duy nghệ thuật của các nhà văn Trong thời kỳ này có sự xuất hiện

và pha trộn hai khuynh hướng: khuynh hướng lãng mạn và khuynh hướng hiện thực Tuy nhiên đây không phải là sự “phát triển vội vã” từ chủ nghĩa lãng mạn sang chủ nghĩa hiện thực như một vài nhận định Mà hai dòng văn

Trang 18

học này ở nước ta cùng ra đời và phát triển song song Tiêu biểu cho khuynh

hướng lãng mạn chủ nghĩa là nhóm Tự lực văn đoàn và các tác giả: Xuân

Diệu, Thế Lữ, Nguyễn Bính… Tiêu biểu cho dòng văn học hiện thực chủ nghĩa mà ở giai đoạn 1930 - 1940 là hiện thực phê phán với các tác giả: Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng và đỉnh cao là Ngô Tất Tố

Tự lực văn đoàn được sáng lập năm 1933 và phát triển trong vòng

mười năm (1933-1942) Đây là tổ chức có tôn chỉ, mục đích riêng gồm mười điểm nhưng cốt lõi là bốn vấn đề sau: Chủ trương viết theo lối văn chương giản dị, đặc tính cách An Nam; chủ trương học theo phương Tây; chỉ ra tư tưởng của Khổng giáo đã lạc hậu, lỗi thời, đề cao con người cá nhân, tình yêu hôn nhân tự do, chống lễ giáo phong kiến Như vậy, từ tôn chỉ, mục đích cho

thấy Tự lực văn đoàn đã chủ trương đổi mới văn chương cả về nội dung và

hình thức nghệ thuật

Là thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn nhưng Thạch Lam không

theo cái lối đã đinh sẵn ấy mà ông tìm hướng đi cho riêng mình Hướng đi ấy

có được là do hoàn cảnh xã hội trên tác động đến tư duy nghệ thuật của Thạch

Lam Sự tác động này hoàn toàn khác với các nhà văn trong Tự lưc văn đoàn

Nó hình thành trong tư duy nghệ thuật Thạch Lam một hướng viết mới - hiện thực trữ tình

Còn đối với Nam Cao, nhà văn xuất sắc của trào lưu hiện thực phê phán 1930 - 1945, bước vào nghề khi xã hội thực dân phong kiến thối nát, ngột ngạt, đen tối như đã nói ở trên có tác động lớn đến tư duy nghệ thuật của nhà văn, Nam Cao dần đoạn tuyệt với khuynh hướng lãng mạn để đến với khuynh hướng hiện thực, làm nên Nam Cao một nhà văn hiện thực phê phán Việt Nam

1.2.2 Hoàn cảnh sống của Thạch Lam và Nam Cao

1.2.2.1 Hoàn cảnh sống của Thạch Lam

Trang 19

Trong ba anh em (Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam) và cả văn phái

Tự lực văn đoàn nói chung, Thạch Lam là người sống cuộc đời ngắn ngủi

nhất, tác phẩm bán ra chậm nhất nhưng lại chính là người tài hoa nhất và viết hay nhất Có được điều này chính là do quan điểm viết truyện ngắn chi phối

Thạch Lam sinh ngày 7 tháng 7 năm 1910 (tức ngày 1 tháng 6 năm Canh Tuất) tại ấp Thái Hà, Hà Nội Hồi nhỏ ông có tên là Sáu Khi bắt đầu đi học tại trường huyện Cẩm Giàng, gia đình làm khai sinh mới đặt tên là Nguyễn Tường Vinh Đến 15 tuổi vì cần tăng thêm tuổi để đi học vượt cấp, ông làm lại giấy khai sinh, đổi tên thành Nguyễn Tường Lân và giữ tên này cho đến lúc chết

Thạch Lam mồ côi cha từ năm lên bảy tuổi Cảnh nhà khó khăn, bà mẹ phải tần tảo nuôi các con ăn học Các anh của Thạch Lam đi Hà Nội thỉnh thoảng mới về Thạch Lam và chị Thế ở nhà trông coi hàng tạp hóa cho mẹ

Những kỉ niệm thời thơ ấu đã đi theo ông suốt cuộc đời sáng tác Chính những kỉ niệm êm đềm, trong sáng nơi phố huyện nhỏ đã nuôi dưỡng tâm hồn lãng mạn của Thạch Lam và có ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy nghệ thuật của Thạch Lam và đã in dấu đậm nét trong những sáng tác của ông

15 tuổi Thạch Lam đã khai tăng bốn tuổi để được đi học bậc Thành chung, đỗ trường Cao đẳng tiểu học trường Canh nông, nhưng sau một năm ông xin thôi học trường trung học Albert sarraut để thi tú tài Sau khi đỗ tú tài phần thứ nhất ông thôi học ở trường về học ở nhà với mấy người anh.Sau đó, ông theo người anh Hoàng Đạo vào Sài Gòn, ở với anh thứ hai là Nguyễn Tường Cẩm đang làm tại sở canh nông Được khoảng hai năm, Thạch Lam trở ra Hà Nội sống với gia đình để chuẩn bị sang Pháp du học thì Thạch Lam

bỏ tú tài phần hai, mặc những lời trách cứ của các anh

Thạch Lam lấy vợ năm 25 tuổi Vợ ông là bà Nguyễn Thị Sáu người tỉnh Ninh Bình Thạch Lam lấy vợ hoàn toàn vì tình yêu Vợ ông là người

Trang 20

hiền lành, đảm đang Bà luôn tạo điều kiện thuận lợi cho công việc sáng tác của Thạch Lam

Thạch Lam là người “thông minh nhất và cũng lãng mạn nhất nhà” (Thế Uyên) Trong cuộc sống, Thạch Lam là một con người khiêm nhường, bình dị Ông không thích cuộc sống ồn ào, náo nhiệt ở đô thị, mà sống ở một ngôi nhà tranh vách gỗ bên hồ Tây Ngôi nhà của Thạch Lam nhỏ nhắn, đơn

sơ nhưng sạch sẽ và sáng sủa Đây là nơi bạn bè ông đến nói chuyện văn chương Đây cũng là nơi tư duy nghệ thuật trưởng thành và cũng là nơi rất nhiều tác phẩm của ông đã ra đời

Chính những yếu tố của hoàn cảnh riêng, của chính cuộc đời và con người đã tác động lớn đến sự hình thành tư duy nghệ thuật của Thạch Lam Thạch Lam có tâm hồn lãng mạn, yêu cái đẹp, hướng tới cái đẹp, “chắt chiu cái đẹp” và sáng tác của ông chính là “sự tìm kiếm cái đẹp đã bị đánh mất” Thạch Lam cho rằng một nhà văn thực sự có tài phải là người có thể cảm nhận được

vẻ đẹp man mác khắp vũ trụ Ông viết “Công việc của nhà văn là phát biểu cái đẹp ở chính chỗ mà không ai ngờ tới, tìm cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật, ông cho người đọc một bài học trông nhìn và thưởng thức” Đây chính là quan điểm nghệ thuật khi viết văn của nhà văn

1.2.2.2 Hoàn cảnh sống của Nam Cao

Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, sinh ngày 29 tháng 10 năm 1917 tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Sinh ra trong một gia đình trung nông, ở một vùng chiêm chũng giữa đồng bằng Bắc Bộ Đây là miền quê của sự nghèo đói quanh năm, đời sống người dân khổ cực, dân cư thưa thớt vắng vẻ, tiêu điều “hẻo lánh tựa bãi tha ma” Và gia đình Nam Cao cũng nghèo đói - cái nghèo đói kéo dài đến ba đời Do đó cái đầu tiên đập vào mắt ông chính là những khó khăn gian truân vất vả của gia đình Vì cảnh nhà đông con (ba

Trang 21

người con gái, năm người con trai) cha mẹ Nam Cao đã vất vả làm ăn, tần tảo sớm hôm nhưng vẫn không đủ ăn Cảnh nhà ngày càng sa sút, chỉ riêng Nam Cao được đến trường, còn các em không ai được đến trường cả, mà phải ở nhà gánh thuê, làm mướn kiếm sống Trong cái gia đình ấy, Nam Cao và các anh chị em của mình thường được cha kể cho nghe về lịch sử quê nhà: chuyện

ba vị Thành hoàng, chuyện con gái nuôi của Trần Hưng Đạo, chuyện ông Tiên Quân….Thêm vào đó là hình ảnh người mẹ hiền thục, nhân hậu, hay giúp đỡ người khó khăn Chính những câu chuyện của người cha và đức tính của người mẹ đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng của các con mà đặc biệt là Trần Hữu Tri

Tuổi thơ Nam Cao đi học ở Nam Định, sau đó vì bệnh tật ông đã không tiếp tục học tập được nữa Năm 1935 ông về quê lấy vợ, rồi vì cảnh nhà khó khăn, Nam Cao đã lăn lộn vào Sài Gòn kiếm sống Đây là những ngày tháng

cơ cực nhất của Nam Cao Rồi một trận ốm thập tử nhất sinh đã ném Nam Cao trở về nơi chôn rau cắt rốn của mình Ông học lại rồi thi lại đỗ bậc Thành chung, rồi trở thành một ông giáo khổ trường tư

Chính những khó khăn vất vả, những bôn ba của mình trong cuộc đời

đã khiến Nam Cao am hiểu sâu sắc cảnh sống nghèo khổ của những người dân Chính là một giáo khổ trường tư trong cảnh sống nhàm chán cơm rau gõ đầu trẻ bấy giờ cũng giúp Nam Cao am hiểu sâu sắc thân phận của người trí thức trong xã hội ngột ngạt bế tắc lúc đó Đó là những yếu tố ảnh hưởng đến

tư duy nghệ thuật Nam Cao

Một điểm nữa là bản thân Nam Cao là một con người nhân hậu, trầm lặng, bề ngoài có vẻ nhút nhát khinh khỉnh lạnh lùng đến khó gần Nhưng bên trong con người có bề ngoài ấy lại là một tâm hồn nhân hậu, một trái tim chứa chan yêu thương Ông rất ân tình với người nghèo khổ đặc biệt là người nông dân Chính những yếu tố của bản thân về cuộc đời và con người như đã nói ở

Trang 22

trên đã có tác động sâu sắc đến tư duy nghệ thuật của một nhà văn hiện thực Nam Cao

1.3 Quan niệm về nghề văn và người nghệ sĩ của Thạch Lam và Nam Cao 1.3.1 Quan niệm về nghề văn và người nghệ sĩ của Thạch Lam

Zantonxki một nhà nghiên cứu Liên Xô trước đây trong một công trình nghiên cứu mang tên “Nghệ thuật tiểu thuyết thế kỉ XX” đặc biệt đề cao xu hướng phát triển tiểu thuyết mà ông tạm gọi là tiểu thuyết hướng nội Thạch Lam cũng bắt đầu đi vào cái mạch ấy ngay từ những năm 30 của thế kỉ XX Hướng đi vào tâm lí của truyện ngắn của Thạch Lam là một hướng rất hiện đại Với ông, tâm lý trở thành cái bí mật lớn nhất cần được tìm hiểu Những động thái tâm lý phức tạp là những bằng chứng của sự tiến triển trong trình độ làm người

Thạch Lam tha thiết với công việc xây đắp nền văn chương phong phú

về cá tính sáng tạo giàu bản sắc dân tộc Việt Nam Ông buồn sầu trước tình trạng những tác phẩm viết ra một cách vội vàng, một cách cẩu thả, một cách khinh rẻ vô cùng hoặc những sáng tác dập khuôn theo những “khuôn sảo sẵn”, “vay mượn đem của người khác đi mua một chút danh hão cho mình”, những tác phẩm đó sẽ đem lại sự thất vọng cho người đọc Muốn khắc phục nguy cơ đó theo Thạch Lam nhà văn phải phát huy tận độ cái bản ngã của mình, sự thành thực với mình để diễn tả cái đúng nhất ý tưởng của mình sao cho có “con mắt linh hồn” và cách quan sát bề trong để diễn đạt đúng và thấu đáo cái tâm lý uyển chuyển của con người

Chính quan niệm về nghề văn và người nghệ sĩ của Thạch Lam như trên

mà hầu hết truyện ngắn của Thạch Lam đều lấy chất liệu từ đời sống hàng ngày Ông không thiên về khai thác những câu chuyện có tình tiết li kì, gay cấn, giật gân câu khách Trung thành với quan niệm viết truyện đã đề xuất, ông tập trung

Trang 23

soi rọi vào thế giới bên trong của con người, giãi bày trước người đọc những cảm động thầm kín trong tâm tư, tình cảm của con người

Với Thạch Lam thế giới nghệ thuật là thế giới hồi ức, của kỉ niệm từ một ký vãng chưa mấy xa xôi - một ký vãng đẹp, trong trẻo ngọt ngào mà ai cũng có ký vãng của ngày hôm qua thậm chí ngày hôm nay, một ký vãng không hoàn toàn thuộc về quá khứ, nó có cả ở hiện tại

Nói đến Tự lực văn đoàn, người đọc nhắc ngay đến Nhất Linh, Khái

Hưng, Hoàng Đạo và không thể không nhắc tới Thạch Lam Là một trong

“thất tinh” của Tự lực văn đoàn, viết theo tuyên ngôn của nhóm nhưng dường

như Thạch Lam vẫn lặng lẽ tìm kiếm cho mình một lối đi riêng Lối đi ấy thể hiện bản lĩnh và cá tính của nhà văn chứ không chạy theo thời thượng để rồi phải chịu một sự thật phũ phàng là sách của ông “bán ế” nhất là trong những

văn phẩm của Tự lực văn đoàn thời bấy giờ

Là người có trách nhiệm cao trong từng trang viết của mình, Thạch Lam có quan niệm dứt khoát về thiên chức của văn chương: “Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên, trái lại văn chương là một thứ thế giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta

có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho

người đọc thêm trong sạch và phong phú hơn” (Lời tựa, Gió lạnh đầu mùa)

Theo quan niệm này, có lẽ cả hai phương diện, vừa tố cáo - vừa xây dựng đều được Thạch Lam chú ý

Ở tư cách của một nhà văn, Thạch Lam đòi hỏi rất cao phẩm chất trung thực ở người nghệ sĩ Ông viết: “Sự thành thực chưa đủ cho nghệ thuật Có thể, nhưng một nhà văn không thành thực không bao giờ trở nên một nghệ sĩ Nhưng một nghệ sĩ không thành thực chỉ là một người thợ khéo tay mà thôi”

Đối với Thạch Lam, văn chương là văn chương Tất cả mọi giá trị mà văn chương có thể lại phải được tạo nên từ chính giá trị văn chương Có lẽ

Trang 24

đây là chỗ phân biệt Thạch Lam với ba cây bút chủ chốt của Tự lực văn đoàn:

Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo

Bằng lương tâm của một nhà văn và tài năng của một nghệ sĩ, cả cuộc đời cầm bút của mình, ông đã sáng tạo ra những tác phẩm sống mãi với thời

gian Trong tiểu luận “Theo dòng”, Thạch Lam đã từng viết: “Những nhà văn

nào ồ ạt theo thời chỉ tạo ra những tác phẩm có số phận mong manh Bởi họ chỉ nghe theo tiếng gọi của sự háo hức, lòng hám danh, sự chiều lòng công chúng Nhưng cũng không phải là nhà văn nên đi tìm sự bất tử vì chính đi tìm thì không bao giờ thấy”

Thạch Lam luôn “đào sâu”, “khơi những nguồn” từ chính cuộc sống này để rồi đi đến chỗ bất tử mà tự mình không biết Đúng như một nhà văn Pháp đã từng nói: “Tác phẩm nào cho ta một bức hoạ của thời đại đúng nhất

là tác phẩm đó tỏ ra ít được chú ý đến thời đại nhất Nói thế không phải là nhà văn những vấn đề gì thì viết, nhà văn cốt nhất phải đi sâu vào trong tâm hồn mình, tìm những tình hình và cảm giác thành thực: Tức là tìm thấy tâm hồn mọi người qua tâm hồn của chính mình, đi đến chỗ bất tử mà không tự biết” Thạch Lam là một người như thế

Từ khoảng cách trên nửa thế kỉ phát triển của văn học, cho đến hôm nay, bao nhiêu giá trị đã chìm vào quên lãng, bên cạnh những giá trị đang

sống lại Sự sống lại các giá trị văn học tiền chiến, trong đó có Tự lực văn đoàn, là hiện tượng chúng ta đang chứng kiến nhưng không phải tất cả những

gì Tự lực văn đoàn sản sinh đều cần được khôi phục lại Nhiều giá trị mà Tự lực văn đoàn xây dựng đã bị thời gian vượt qua, có bộ phận đã bị vượt qua từ

trước năm 1945 Còn Thạch Lam thì vững tin ở sự tồn tại, nếu không phải là tất cả thì cũng là phần lớn những gì ông đã viết Điều này được thực tế chứng minh Khi độc giả không khỏi thấy có phần nhàm chán khi đọc những tác phẩm của Khái Hưng, Nhất Linh thì họ lại càng phát hiện ra vẻ đẹp vĩnh hằng

Trang 25

trong viết hôm qua của Thạch Lam Sự hướng tới một thế giới tinh thần trong sáng, giàu tính thiện của con người qua sự miêu tả của Thạch Lam, sẽ không bao giờ là những giá trị lỗi thời ở mọi thời đại

Đó là điều giải thích tại sao tác phẩm của Thạch Lam đã vượt thời gian, cho dù ở thời điểm nào đó, nó chưa được công chúng đón nhận đúng lúc

Có thể nói với Thạch Lam, Tự lực văn đoàn là mảnh đất ươm, là nơi

sinh thành để Thạch Lam xác định giá trị riêng cho mình Giá trị riêng ấy có được là do quan niệm về nghề văn và người nghệ sĩ một cách đúng đắn mới

mẻ và tiến bộ Và chính do quan niệm về nghề văn và người nghệ sĩ ấy mà Thạch Lam đã đứng vững trên đôi chân của mình - “một nghệ sĩ”

1.3.2 Quan niệm về nghề văn và người nghệ sĩ của Nam Cao

Nhà văn Nam Cao không trực tiếp phát biểu tuyên ngôn nghệ thuật của mình Người đọc chỉ nhận ra những tuyên ngôn nghệ thuật ấy qua các tác phẩm của ông Song quan niệm về nhà văn và người nghệ sĩ của Nam Cao thật mới mẻ, tiến bộ

Lận đận trong cuộc đời và cũng không gặp may mắn trên con đường văn chương Nam Cao viết văn từ năm 1936 và thử nghiệm qua nhiều thể loại khác nhau: thơ, kịch, truyện ngắn… nhưng đều không thành công Đã có lúc Nam Cao thất vọng và nghi ngờ khả năng văn chương của mình

Cũng giống như Nguyên Hồng, những sáng tác đầu tay của Nam Cao chịu ảnh hưởng khá rõ của văn học lãng mạn Tâm hồn mơ mộng của tuổi trẻ cùng với những tác động của văn chương lãng mạn đương thời đã khiến ông hướng tới xu hướng “nghệ thuật vị nghệ thuật” thoát ly thực tế Nhưng chính cuộc đời mình và sự chứng kiến cả một xã hội lúc bấy giờ và sự cảm thông sâu sắc trước tình cảnh đối với những người xung quanh bằng trái tim nhân hậu của mình đã khiến Nam Cao không dừng lại lâu ở thế giới mơ mộng, ảo tưởng mà nhanh chóng quay trở về với cuộc đời thực, sớm từ bỏ thứ “nghệ

Trang 26

thuật vị nghệ thuật” để đến với “nghệ thuật vị nhân sinh” trong cuộc đấu tranh

gay gắt giữa hai trường phái đó Điều này thể hiện rõ qua truyện ngắn “Trăng sáng”: “Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa

dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng kêu đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than”

Sự chuyển biến của Nam Cao từ xu hướng nghệ thuật lãng mạn đến quan điểm hiện thực là cả một quá trình phấn đấu gian khổ nhưng dứt khoát

Để xác định cho mình một quan điểm sống và viết đúng đắn, Nam Cao đã trải

qua không ít dằn vặt và băn khoăn Truyện Trăng sáng là truyện tiêu biểu

Nhân vật chính trong truyện ngắn là Điền, một nhà văn có xu hướng văn chương lãng mạn Mặc dù phải sống trong cảnh khốn khó, nghèo túng, lo chạy ăn từng bữa, nhưng anh ta thèm muốn vươn tới cuộc sống giàu sang, sung sướng Điền bỏ nhà ra đi tìm nơi yên tĩnh mà viết, ngòi bút của Điền khơi ngợi cho những tình cảm đầy thơ mộng Điền muốn dùng cái đẹp của nghệ thuật để che phủ lên những cái xấu xa trong cuộc sống thực tại, như ánh trăng làm cho tất cả trở nên huyền ảo Nhưng thực tế cuộc sống không cho phép Điền lạc bước quá xa dù chỉ là trong mộng tưởng Điền không thể tìm hạnh phúc ích kỉ cho mình Giờ đây anh tự xác định: “Điền chẳng cần đi đâu

cả Điền chẳng cần trốn tránh Điền cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang vọng của đời”

Truyện “Trăng sáng” có giá trị như một bản “tuyên ngôn nghệ thuật”

Nó đánh dấu sự chuyển biến trong quan niệm về nghề văn và người nghệ sĩ của Nam Cao Nam Cao quan niệm nghệ thuật phải bắt nguồn từ đời sống và người nghệ sĩ phải là người khám phá được bản chất chân thực của đời sống

Quan điểm về nghề văn và người nghệ sĩ ở thời kì này là nhân tố cho sự ra

đời của hàng loạt truyện ngắn khác như: Truyện tình, Trăng sáng, Mua nhà…

Trang 27

Bên cạnh đó, Nam Cao là người ý thức sâu sắc và có trách nhiệm cao trong nghề nghiệp - nghề văn của người nghệ sĩ Ông coi văn chương là một nghề nhưng nó không phải là một nghề đơn thuần: “ Văn chương không cần những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có” Câu văn ngắn gọn nhưng đã thâu tóm những yêu cầu gắt gao, nghiêm túc của văn chương Ông đặc biệt phê phán, phản đối thứ văn chương khuôn sáo, hời hợt Bởi theo ông: “Cái nghề văn kị nhất là lối thấy người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào” Và ông còn nhắc nhở người nghệ sĩ phải “biết cách dùng những câu chuyện chẳng có gì để nói những cái sâu sắc” Ông còn đưa ra triết lí “sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là sự bất lương rồi Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện ”

Theo ông: “Một tác phẩm thật có giá trị, phải vượt lên trên tất cả bờ cõi

và giới hạn, phải là tác phẩm chung cho cả loài người Nó phải chứa đựng được một cá gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình…Nó làm cho người gần người hơn”

Từ đó, Nam Cao đòi hỏi rất cao trong mỗi người nghệ sĩ: người nghệ sĩ phải

có cái nhìn và thái độ đúng đắn

Như vậy, ta thấy quan điểm về nghề văn và người nghệ sĩ của Thạch Lam và Nam Cao có điểm tương đồng Điểm tương đồng ấy không phải xuất hiện trong cùng một thời gian mà nó có sự kế thừa từ Thạch Lam đến Nam Cao Tuy nhiên điểm tương đồng ấy không rập khuôn máy móc mà có sự sáng tạo riêng làm nên phong cách truyện ngắn của hai nhà văn lớn Thạch Lam bậc thầy về truyện ngắn hiện thực trữ tình, Nam Cao bậc thầy truyện ngắn hiện thực phê phán Chính điều này đã làm cho diện mạo văn học Việt Nam

1930 - 1945 phát triển đa dạng và phong phú

Trang 28

1.4.Quan niệm niệm về con người của Thạch Lam và Nam Cao

Quan niệm nghệ thuật là hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, làm thành thước đo của hình

thức văn học và là cơ sở của tư duy nghệ thuật (Từ điển thuật ngữ văn học, Lê

Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên, NXB Giáo dục)

Quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người thể hiện ở điểm nhìn nghệ thuật, ở chủ đề cảm nhận đời sống được hiểu như những hằng số tâm lí của chủ thể, ở kiểu nhân vật và biến cố mà tác phẩm cung cấp ở cách xử lý các biến cố và quan hệ nhân vật Khác với tư tưởng, tác phẩm văn học tập trung thể hiện một thái độ đối với cuộc sống trong bình diện quan hệ giữa hiện thực và lý tưởng, khẳng định cuộc sống nào, phê phán cuộc sống nào, quan niệm nghệ thuật chỉ cung cấp một mô hình nghệ thuật về thế giới có tính chất công cụ để thể hiện những cuộc sống cần phải có mang tính khuynh hướng khác nhau Chẳng hạn tình yêu nam nữ cao đẹp thời nào cũng đều đáng yêu, và được khẳng định nhưng tình yêu trong văn học dân gian, trong hiệp sĩ trung đại, trong tiểu thuyết lãng mạn, trong tiểu thuyết hiện thực, trong văn học cách mạng… được khẳng định khác nhau rất nhiều Với tính chất công cụ đó, quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người chẳng những cung cấp một điểm xuất phát để tìm hiểu nội dung của tác phẩm văn học cụ thể, mà còn cung cấp một cơ sở để nghiên cứu sự phát triển, tiến hóa của văn học Bởi

lẽ, điều chủ yếu trong sự tiến hóa của nghệ thuật và của xã hội nói chung, là đổi mới cách tiếp cận và chiếm lĩnh thế giới và con người

1.4.1 Con người gắn với sự tác động của ngoại cảnh

Con người gắn với hoàn cảnh là vấn đề được nhiều nhà văn quan tâm Thạch Lam cũng quan niệm con người gắn với hoàn cảnh và chịu sự tác động của hoàn cảnh Điều này xuất phát từ việc Thạch Lam muốn đưa văn chương

Trang 29

gần với đời sống con người, muốn tái hiện cuộc đời như nó vốn có Và cũng chính vì ý thức được con người gắn với hoàn cảnh mà ông nhận ra rằng con người là nạn nhân của hoàn cảnh

Nếu như các tác phẩm văn xuôi lãng mạn trong thời kì này tác phẩm

như: Đoạn tuyệt, Nửa chừng xuân, Đời mưa gió, Đẹp, Hồn bướm mơ tiên, Thoát ly, Gia đình, Đôi bạn, Con đường sáng đều xoay quanh câu chuyện về

tình yêu, hôn nhân và hạnh phúc lứa đôi Các tác giả đều đề cao tình yêu hôn nhân tự do, chống lễ giáo phong kiến Nhân vật thường sống vật chất đầy đủ, không phải từng ngày lo miếng cơm manh áo, họ hướng sự quan tâm của mình đến đời sống tinh thần Họ quan niệm tự do là tất cả Vì vậy, họ hành động, yêu đương xuất phát từ rung động trái tim, chống lại mọi sự sắp đặt của gia đình nên nhân vật thường tách rời hoàn cảnh hoặc không chịu sự chi phối của hoàn cảnh nếu có thì rất ít mà họ hành động theo rung động của trái tim thì nhân vật của Thạch Lam chịu tác động trực tiếp của hoàn cảnh nhưng không tuân theo hoàn cảnh

Trong truyện ngắn Nhà mẹ Lê, hình ảnh con người nghèo khổ quanh

năm suốt tháng phải vật lộn với miếng cơm manh áo hiện lên khá chân thực

Mẹ Lê, phải một mình lo miếng ăn cho mười đứa con của mình nhưng đến khi không cầm lòng được khi nhìn những đứa con “khóc lả đi vì không có ăn”, mẹ Lê đến nhà cụ Bá để vay gạo Không vay được gao, mẹ Lê trở về với vết thương máu chảy ròng ròng (vì nhà cụ Bá thả chó ra đuổi), mẹ Lê lên cơn sốt nặng rồi qua đời Trong cơn mê man, mẹ Lê thấy lại cả cuộc đời mình từ

bé đến giờ toàn khổ sở “ cái nghèo không biết từ bao giờ đã vào nhà bác, sinh

ra bác đã thấy nó rồi và từ đấy nó cứ theo liền bác mãi” Như vậy, Thạch Lam

đã đặt mẹ Lê trong hoàn cảnh cái đói Để từ đó cái chết của mẹ Lê là lời buộc tội sâu sắc xã hội đói nghèo và những kẻ cường hào ác bá Lời văn của Thạch Lam nhẹ nhàng nhưng sức gợi của nó thật sâu sắc

Trang 30

Trong truyện Đói, Thạch Lam đã tái hiện lại nhân vật Sinh - một trí

thức tư sản bị rơi vào bi kịch tinh thần đau đớn giữa sự sống và nhân phẩm Khi biết được việc làm của vợ mình hằng yêu mến, tin tưởng, Sinh cảm thấy đau khổ tủi nhục, trong lòng nguội lạnh một cảm giác lạ lùng như thắt lấy ruột gan Sinh cảm thấy mình bị phản bội, bị lừa dối Trong cơn tức giận anh đã hất tất cả đồ ăn Mai mua xuống đất và đuổi Mai ra khỏi nhà Nhưng sau đó Sinh không thể chống lại cái đói đang hoành hành trong người mình Sinh đã đầu hàng một cách thảm hại Anh đã ăn một cách vụng trộm những miếng bánh mì và thịt ướp mà trước đó ánh đã hất đi và nguyền rủa nó Ở đây đã xuất hiện một dấu hiệu mong manh báo hiệu quá trình tha hóa của con người trước sự tác động của hoàn cảnh Trong hoàn cảnh nào đó, nhân cách của con người có thể bị quật ngã bởi hoàn cảnh, bởi cái đói, cái nghèo

Còn đối với nhà văn hiện thực phê phán, họ luôn đứng vững trên quan điểm, lập trường nhân đạo chủ nghĩa, với tuyên ngôn “tiểu thuyết là sự thực ở đời”, các cây bút hiện thực đã dựng lên bức tranh chân thực, sinh động về xã hội Việt Nam trước cách mạng Quan tâm đến tình trạng xã hội của con người, các tác giả văn xuôi hiện thực phê phán hướng ngòi bút của mình vào những số phận nghèo khổ, bất hạnh trong xã hội Vì thế mà nhân vật luôn được các nhà văn đặt trong mối quan hệ với hoàn cảnh

Trong bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX, đặc biệt là giai đoạn từ 1930 - 1945, nhân vật thường là những người nông dân bị bần cùng

hóa, bị tha hóa Số phận của chị Dậu (Tắt đèn của Ngô Tất Tố), anh Pha (Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan), Chí Phèo, Hộ, Điền ….(Nam

Cao) luôn phải gánh chịu những tai họa của nạn đói, sự bất công… của xã hội thực dân phong kiến Những con người ấy đều phải vật lộn với hoàn cảnh - môi trường để thử nghiệm mình, để sống và tồn tại Tuy nhiên mỗi nhân vật

có một môi trường hoàn cảnh riêng không lẫn vào nhau và đạt tới độ khái

Trang 31

quát, điển hình Còn đọc Thạch Lam chúng ta không thể thấy những tính cách điển hình như thế

Đều là đi khai thác con người gắn với sự tác động của ngoại cảnh nhưng nhân vật của Thạch Lam chưa đạt được tính điển hình trong hoàn cảnh điển hình Nó xuất hiện trong khoảng thời gian rất ít và hoàn cảnh mới chỉ đủ

để nhân vật bộc lộ tính cách chứ chưa được đặt trong mối tương quan rộng lớn Nam Cao - thường miêu tả diễn biến tâm lí của cả cuộc đời hoặc đoạn đời của nhân vật vì vậy mà hoàn cảnh, ngoại cảnh có tác động lớn đối với nh©n vật, thể hiện rõ trong cả hai đề tài sáng tác của Nam Cao

Ở đề tài trí thức tiểu tư sản Hộ là nhân vật tiêu biểu Hộ là một văn sĩ mang trong mình một hoài bão lớn về sự nghiệp văn chương Và bản thân Hộ

là người coi trọng lẽ sống, tình thương và luôn đề cao nó Vậy mà chính hoàn cảnh cái nghèo, cái đói và sự tù túng đã bóp méo con người làm cho một người có ý thức cao về sứ mệnh của một nghệ sĩ - của một nhà văn có ước mơ khát vọng cao cả giờ đây lại chà đạp lên chính nguyên tắc ấy Một người luôn coi trọng tình thương coi đó là nguyên tắc sống của mình lại vi phạm vào nguyên tắc ấy Có thể nói hoàn cảnh môi trường đã có tác động lớn đến con người buộc con người phải lựa chọn, quyết định con đường đi cho mình khiến

Hộ trở thành một nhà văn tồi, một người chồng vũ phu

Ở đề tài người nông dân, Nam Cao cũng miêu tả con người gắn với hoàn cảnh và chịu tác động sâu sắc của yếu tố ngoại cảnh Vì miếng ăn con người phải đổi nỗi khổ về vật chất lấy nỗi khổ về tinh thần, bỏ cả danh dự,

lòng tự trọng và nhân cách của con người (Một bữa no), vì miếng ăn mà con người ta bị đẩy xuống hàng cầm thú (Trẻ con không được ăn thịt chó)

Điều dễ dàng nhận thấy cả Thạch Lam và Nam Cao điều quan niệm con người gắn với hoàn cảnh Quan niệm này chi phối đến sáng tác của cả hai nhà văn này Dù viết ở đề tài nào thì nhân vật của hai ông cũng gắn bó trực

Trang 32

tiếp với hoàn cảnh Đặc biệt trong các tác phẩm viết về đề tài người trí thức của Nam Cao là dù trong hoàn cảnh nào họ cũng cố gắng vùng vẫy để vươn lên bảo vệ nhân phẩm, lòng tự trọng, mặc dù cũng bị họa áo cơm hành hạ, giày vò không kém Trong khi đó người trí thức của Thạch Lam nghèo đến mức chỉ có nhu cầu để tồn tại Trước hoàn cảnh khắc nghiệt của cái đói, họ đã đánh mất lòng tự trọng và nhân phẩm của con người Cả hai nhà văn đều đã

có ý thức xây dựng những con người chịu sự tác động của ngoại cảnh nhưng trong mỗi nhà văn thì mức độ có khác nhau

Như vậy, cả Thạch Lam và Nam Cao đều quan niệm con người gắn với hoàn cảnh Ở Nam Cao việc thể hiện con người gắn với hoàn cảnh là sự phát triển của những mầm mống, những dấu hiệu đã có từ trước đó ở Thạch Lam Vì thế mà con người gắn với sự tác động của ngoại cảnh được phản ánh sấu sắc hơn trong các tác phẩm của Nam Cao mà trước đó trong tác phẩm của Thạch Lam nó chỉ là dấu hiệu

1.4.2 Con người gắn với đời sống bên trong (con người trong con người)

Trong quan niệm về con người của Thạch Lam thì ngoài việc quan niệm con người gắn với hoàn cảnh, Thạch Lam và Nam Cao còn quan niệm con người gắn với đời sống bên trong (con người trong con người)

Với Thạch Lam việc hướng ngòi bút vào thế giới nội tâm của con người trước hết là yêu cầu của cuộc sống, yêu cầu của nghề viết Trong cuốn tiểu luận, Thạch Lam đã đưa ra quan niệm: “cái đời sống cần là cái đời sống bên trong, cái đời sống trong tâm hồn”

Như vậy, Thạch Lam đã coi đối tượng tâm hồn con người để khám phá

và thể hiện ngòi bút của mình Dưới cái nhìn của Thạch Lam con người xã hội với tư cách cá nhân là chính chứ không mang tính xã hội Song có điều khi nhà văn hướng tới miêu tả đời sống con người ông thường hướng tới những cảm xúc, cảm giác khác nhau trong một hoàn cảnh cụ thể Thạch Lam không

Trang 33

hề chủ động đi vào những cảm xúc, cảm giác - trong một thời điểm nào đó Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng cái hiện thực mà Thạch Lam quan tâm và đặt lên hàng đầu là “hiện thực tâm trạng” con người được miêu tả trong tác phẩm của Thạch Lam không phải là “con người mà là con người tâm hồn” Thạch Lam từng cho rằng: “Nhà văn phải cốt đi sâu vào tâm hồn mình, tìm thấy những tính tình và cảm giác thành thực, nghĩa là tìm thấy tâm hồn của mọi người qua tâm hồn của chính mình, đi đến chỗ bất tử mà không tự biết” Ở những năm đầu thế kỷ XX, trong khi các nhà văn hiện thực quan tâm chủ yếu đến tình trạng xã hội của con người thì phần

lớn các nhà văn Tự lực văn đoàn trong đó có Thạch Lam lại quan tâm chủ yếu

đến thế giới nội tâm con người Thế giới nhân vật của ông là thế giới tâm trạng, là những biến đổi tinh vi trong đời sống đời sống tâm hồn của con người, trước sự thay đổi của ngoại cảnh Đó là cảm giác lâng lâng lạ lùng trước sự thay đổi bất ngờ của thiên nhiên, thời tiết được cảm nhận qua tâm

hồn trẻ thơ gắn với lòng trắc ẩn hồn nhiên, trong trẻo của chúng (Gió lạnh đầu mùa, Tiếng chim kêu) Đó là cái “rung động khẽ như cánh bướm non”

dấu hiệu báo trước một tình cảm lớn lao, thiêng liêng đang nảy nở ở người

đầu tiên làm cha (Đứa con đầu lòng)

Trong truyện ngắn Đứa con đầu lòng Tân hờ hững khi vợ đẻ con gái Sự

hờ hững này có căn nguyên của nó từ thái độ “trọng nam khinh nữ” khá phổ biến Nhưng hơn nữa, chàng chưa làm bố Cả hai lý do đó gộp lại làm cho Tân cảm thấy xa lạ với đứa con - giọt máu của mình Nhưng rồi nhờ cảm nhận của tâm hồn chàng mới nhận ra cái sinh vật nhỏ nhoi kia một phần máu thịt của chàng, nó vô tư lự, đòi hỏi được che chở, nâng đỡ Đúng lúc ấy, chàng mới thấy “trong lòng rung động khẽ như cánh bướm non một tình cảm xâu xa và mới mẻ chưa từng thấy”

Trang 34

Cái đẹp mà Thạch Lam chăm chú phát hiện chính là cái đời sống bên trong, đời sống tâm hồn - đó là tình thương, lòng trắc ẩn, sự vị tha giữa người với người, giữa người với loài vật Còn gì cảm động hơn tình thương của lũ trẻ

với con chim non rũ cánh trong trận giông tố (Tiếng chim kêu) Chúng yên ấm

trong chăn nệm song thổn thức với tiếng chim khắc khoải trong mưa gió Một

người cảm thấy “lòng mình thắt lại” khi bạn ốm (Người bạn trẻ) Một người

khác sám hối vì hành vi độc ác của mình làm người khác gian truân suốt đời

(Một cơn giận)… Những hành vi tình nghĩa ấy chính là nền móng của lương tri

con người mà nhà văn thấy cần bảo tồn, vun xới Và đây nữa, một em bé đã

“lấy trộm” áo của nhà mang cho bạn nghèo khi trời rét…(Gió lạnh đầu mùa)

Những con người bé nhỏ tầm thường ấy bỗng chốc vụt lên trong tác phẩm của Thạch Lam vì họ sống như CON NGƯỜI ( chữ dùng của Gorky)

Ngòi bút thiên về cảm giác của Thạch Lam luôn tỏ ra tinh tế khi miêu

tả những trạng thái đa đoan, phức tạp, của tâm hồn con người Thạch Lam đã sâu vào thế giới bên trong của nhân vật để thấy được những biến đổi tinh vi trong tâm hồn nhân vật Ông đã thấu hiểu và tái hiện chính xác bi kịch tinh

thần mà Sinh (trong truyện ngắn Đói) - một tri thức tiểu tư sản - đang lâm

vào Đó là mâu thuẫn giữa nhân phẩm, lòng tự trọng và miếng ăn Sự đấu tranh giằng xé diễn ra trong tâm hồn người trí thức không gay gắt, quyết liệt như trong các truyện ngắn hiện thực mà đặc biệt là của Nam Cao, mà nó âm ỉ, dai dẳng và đầy xót xa Thạch Lam miêu tả sự đấu tranh giằng co trong tâm hồn Sinh bằng ngòi bút thật điềm tĩnh Ông đã đặt nhân vật của mình vào ranh giới mong manh của sự sống và nhân phẩm, sự ý thức về lòng tự trọng đã khiến Sinh thấy đau khổ, tủi nhục trước việc làm của vợ mình Nhưng rồi sự dày vò của cái đói khiến chàng phải đánh đổi lòng tự trọng để lấy miếng ăn mặc dù chàng cũng ý thức được rằng đó là hành động nhục nhã và hèn mạt vô cùng Sinh không đại diện cho một kiểu người nào nhưng bi kịch tinh thần mà

Ngày đăng: 31/10/2015, 10:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nam Cao ( 2005), Tuyển tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 2005
2. Nam Cao (2005), Sống mòn, Nhà xuất bản văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống mòn
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nhà xuất bản văn học
Năm: 2005
4. Phan Cự Đệ,…(2005), Văn học Việt Nam (1900 - 1945), Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (1900 - 1945)
Tác giả: Phan Cự Đệ,…
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2005
5. Hà Minh Đức (1996), Văn xuôi lãng mạn Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi lãng mạn Việt Nam
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1996
6. Hà Minh Đức (2003), Tuyển tập Nam Cao, Nhà xuất bản Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nam Cao
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 2003
7. Đỗ Kim Hồi (2004), Thạch Lam đôi điều cảm nhận, Văn học tuổi trẻ, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thạch Lam đôi điều cảm nhận, Văn học tuổi trẻ
Tác giả: Đỗ Kim Hồi
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2004
8. Nguyễn Hoành Khung (1984), Từ điển Văn học, Tập 2, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Văn học
Tác giả: Nguyễn Hoành Khung
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1984
9. Thạch Lam (2005), Tuyển tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn
Tác giả: Thạch Lam
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 2005
10. Thạch Lam (2000), Theo dòng, Thạch Lam và văn chương, Nhà xuất bản Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theo dòng, Thạch Lam và văn chương
Tác giả: Thạch Lam
Nhà XB: Nhà xuất bản Hải Phòng
Năm: 2000
11.Thạch Lam (2001), Lời nói đầu gió lạnh đầu mùa, Nhà xuất bản Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời nói đầu gió lạnh đầu mùa
Tác giả: Thạch Lam
Nhà XB: Nhà xuất bản Đồng Nai
Năm: 2001
12. Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên) (1998), Sách giáo khoa Văn 11, phần văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Văn 11
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1998
13. Nguyễn Đăng Mạnh (2001), Nhà tư tưởng và phong cách, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà tư tưởng và phong cách
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
14. Phong Lê (1998), Lời giới thiệu tuyển tập Thạch Lam Nhà xuất bản văn hoá Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời giới thiệu tuyển tập Thạch Lam
Tác giả: Phong Lê
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hoá Hà Nội
Năm: 1998
15.Vũ Ngọc Phan (1942), Nhà văn hiện đại, Quyển 4, tập 3, Nhà xuất bản Tân Dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn hiện đại
Tác giả: Vũ Ngọc Phan
Nhà XB: Nhà xuất bản Tân Dân
Năm: 1942
16. Trần Đăng Suyền (2008), Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao
Tác giả: Trần Đăng Suyền
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2008
17. Lê Dục Tú (2000), Thạch Lam - Người đi tìm cái đẹp trong văn chương và cuộc đời, Thạch Lam tác gia và tác phẩm, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thạch Lam - Người đi tìm cái đẹp trong văn chương và cuộc "đời", Thạch Lam tác gia và tác phẩm
Tác giả: Lê Dục Tú
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2000
18.Nguyễn Tuân (1982), Tuyển tập Nguyễn Tuân, tập 2, Nhà xuất bả văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nguyễn
Tác giả: Nguyễn Tuân
Năm: 1982
19. Nguyễn Văn Tùng (2003), Phân tích tác phẩm Nam Cao trong nhà trường, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tác phẩm Nam Cao trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Văn Tùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2003
20. Thế Uyên (2003), Tìm kiếm Thạch Lam, Thạch Lam tác gia và tác phẩm, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm kiếm Thạch Lam
Tác giả: Thế Uyên
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w