MỞ ĐẦUNỘI DUNG Chương 1 Cơ sở lý luận về đổi mới cơ chế quản lý các trường đại học công lập 7 1.2.2 Quản lý, quản lý giáo dục; cơ chế quản lý và giải pháp đổi mới cơ chế quản lý giáo dụ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2hỗ trợ giúp đỡ; lãnh đạo cùng cán bộ quản lý Phòng ban chức năng các trườngĐại học Sư phạm, Đại học Kinh tế, Đại học Sư phạm Kỹ thuật, Đại học Luật,Đại Sư phạm TDTT, Đại học Mở, Đại học Nông Lâm, Cao đẳng Sư phạmTrung ương tại Tp.Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi được điều tra, khảosát để có dữ liệu viết luận văn Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắcnhất đến PGS.TS.Thái Văn Thành, người hướng dẫn khoa học đã quan tâm,tận tình giúp đỡ hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu vàhoàn thành luận văn.
Tuy bản thân đã rất cố gắng nhưng chắc chắn luận văn vẫn còn nhữngkhiếm khuyết Kính mong nhận được sự góp ý kiến chân tình của quý thầygiáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và những ai quan tâm
Xin trân trọng cảm ơn!
Nghệ An, tháng 8 năm 2013
Tác giả
Đỗ Hữu Tuyết BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 3GDĐH : Giáo dục đại học
CĐ, ĐH : Cao đẳng, đại họcĐHCL : Đại học công lập
GD – ĐT : Giáo dục và đào tạo
CBVC : Cán bộ, viên chứcQLNN : Quản lý nhà nướcQLNNGDĐH : Quản lý nhà nước giáo dục đại họcQLHCNN : Quản lý hành chính nhà nước
KT – XH : Kinh tế - xã hộiLĐ-TB-XH : Lao động - Thương binh-Xã hộiUBND : Ủy ban nhân dân
KĐCLĐH : Kiểm định chất lượng đại học
Trang 4MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Chương 1 Cơ sở lý luận về đổi mới cơ chế quản lý các trường đại học công lập 7
1.2.2 Quản lý, quản lý giáo dục; cơ chế quản lý và giải pháp đổi mới cơ chế quản lý giáo dục đại học 21
1.3 Một số vấn đề lý luận của cơ chế quản lý các trường đại học công lập. 291.3.1 Sự cần thiết phải đổi mới cơ chế quản lý các
1.3.2 Nội dung đổi mới cơ chế quản lý các trường đại
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc đổi mới cơ chế
Chương 2
Thực trạng công tác quản lý và đổi mới cơ chế quản lý các trường đại học công lập trực thuộc Bộ GD-ĐT tại THCM
36
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và giáo dục đại học tại TP HCM 36
Trang 52.1.2 Kinh tế - xã hội 37
2.2 Toàn cảnh hệ thống các trường đại học, cao đẳng tại thành phố Hồ Chí Minh 402.2.1 Hệ thống các trường đại học, cao đẳng tại Tp.Hồ Chí Minh 402.2.2 Các trường đại học công lập trực thuộc Bộ GD-ĐTtại thành phố Hồ Chí Minh 43
2.3.1 Khái quát về khảo sát thực trạng 47
2.4
Kết quả khảo sát công tác quản lý giáo dục thông qua ý kiến của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa, Trưởng, phó phòng ban
49
2.5
Thực trạng đổi mới cơ chế quản lý các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo tại thành phố Hồ Chí Minh
68
2.5.3 Về liên kết đào tạo, nghiên cứu khoa học, công tácbồi dưỡng CB-GV 71
2.6
Đánh giá chung về đổi mới cơ chế quản lý của các trường ĐH, CĐ trực thuộc Bộ GD-ĐT tại thành phố Hồ Chí Minh
74
Chương 3 Một số giải pháp đổi mới cơ chế quản lý các trường đại học công lập trực thuộc Bộ tại TP Hồ Chí Minh 81
3.2 Các giải pháp đổi mới cơ chế quản lý các
trường đại học công lập trực thuộc Bộ GD-ĐT
82
Trang 6tại Tp.Hồ Chí Minh
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện, ban hành các văn bản pháp luật quản lý giáo dục đại học 823.2.2 Giải pháp tăng cường giao quyền tự chủ, từng bước phân cấp quản lý cho các trường đại học 863.2.3 Giải pháp tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo 913.2.4 Giải pháp đổi mới cơ chế quản lý tài chính, giao ngân sách cho các trường đại học 933.2.5 Giải pháp đẩy mạnh 3 công khai trong giáo dục đại học 963.2.6
Giải pháp xây dựng cơ chế cho các trường đại học chủ động trong hợp tác quốc tế về đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ
97
3.2.7 Giải pháp đổi mới công tác đánh giá trường đại học 101
3.3 Thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất. 102
Trang 7Sau gần 30 năm thực hiện đổi mới, đất nước ta đã và đang thu đượcnhững thành tựu to lớn, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị,văn hoá xã hội và giáo dục đào tạo Thực hiện chủ trương đường lối của đảng
và nhà nước, hiện nay cả nước và toàn ngành giáo dục và đào tạo đang tiếptục thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo nói chungcũng như giáo dục đại học nói riêng Những năm gần đây, công tác đổi mớigiáo dục mà trọng tâm là đổi mới quản lý về giáo dục đại học được đề cập rấtnhiều thông qua các văn bản quản lý nhà nước như: Nghị quyết số50/2010/QH12 ngày 19/6/2010 của Quốc hội khóa XII về việc thực hiệnchính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và bảo đảm chất lượng đàotạo đối với giáo dục đại học; Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giaiđoạn 2006 - 2020; Chỉ thị số 296/CT - TTg ngày 27/2/2010 của Thủ tướngChính phủ về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 - 2012;Chương trình hành động của Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện Nghị quyết số
05 - NQ/BCSĐ ngày 06/01/2010 của Ban cán sự Bộ Giáo dục - Đào tạo vềđổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 – 2012 … đã cho thấy giáodục đại học đang là một nội dung ưu tiên trong sự nghiệp đổi mới căn bản vàtoàn diện nền giáo dục của nước nhà
Mục tiêu của đổi mới quản lý giáo dục đại học là nhằm nâng cao hơnnữa chất lượng giáo dục đại học, cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực đủ cảchất và lượng phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướccũng như công cuộc đi lên chủ nghĩa xã hội Chất lượng và hiệu quả hoạtđộng giáo dục đại học phụ thuộc rất lớn vào công tác quản lý về giáo dục đạihọc Giáo dục đại học trong gần 30 năm qua đã đóng vai trò quan trọng làcung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế Từ khi ra đời, giáodục đại học đã giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ hệ thống giáo dục, trực tiếp
Trang 8tác động đến trình độ phát triển của khoa học và công nghệ, góp phần quantrọng vào sự tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội, đảm bảo an ninh quốc gia,quốc phòng và hội nhập quốc tế thắng lợi Rõ ràng là sau khi Chiến lược pháttriển giáo dục được triển khai thực hiện từ năm 2001 đến năm 2010, giáo dụcđại học nước ta đã có sự khởi sắc, phát triển, huy động nhiều hơn các nguồnlực xã hội và đạt được nhiều kết quả tích cực.
Tuy vậy, trong quá trình phát triển giáo dục đại học cũng đã bộc lộnhiều hạn chế và yếu kém như hệ thống văn bản pháp quy phục vụ quản lýgiáo dục đại học vừa thiếu vừa không đồng bộ và không theo kịp thực tiễn.Đặc biệt, kỷ cương trong quản lý chưa nghiêm Việc quản lý giáo dục đại học
bị phân tán, có quá nhiều đầu mối Việc phân cấp, phân công lại chậm trễ; vấn
đề xử lý công việc hành chính đối với các cơ sở giáo dục đại học, những đánhgiá chỉ mang tính định tính, bình quân và thiếu tính khuyến khích … Nguyênnhân căn bản, sâu xa của các yếu kém của hệ thống giáo dục đại học chính là
sự yếu kém trong quản lý nhà nước về giáo dục đại học và yếu kém trongquản lý của bản thân các trường đại học, cao đẳng Đây là hai nguyên nhân cơbản làm cho công tác quản lý nhà nước về giáo dục chưa được như mongmuốn, dẫn đến chất lượng đào tạo đại học còn thấp và chưa theo kịp với thựctiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Hiện nay giáo dục đại học đangđứng trước mâu thuẫn lớn giữa yêu cầu phát triển toàn diện về quy mô, đadạng về loại hình với việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Việc đổimới cơ chế quản lý, nâng cao chất lượng hiệu quả quản lý đối với giáo dục đạihọc là một yêu cầu cấp thiết nhằm góp phần đổi mới căn bản, toàn diện sựnghiệp giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cho sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đúng như Nghị quyết Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Phát triển giáo dục là quốc sáchhàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng
Trang 9chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong
đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộquản lý là khâu then chốt” [24; tr.130 ]
Thực hiện chủ trương về đổi mới quản lý giáo dục đại học như đã nói ởtrên, những năm qua cùng với các trường ĐH-CĐ trong cả nước, các trườngĐH-CĐ công lập trực thuộc Bộ GD-ĐT tại Tp.Hồ Chí Minh cũng đã khôngngừng được đổi mới về mọi mặt: Quản lý, đào tạo, nghiên cứu khoa học, xâydựng cơ sở vật chất… Tuy nhiên, để có thể góp phần cung ứng nguồn nhânlực chất lượng cao cho cả nước cũng như cho Tp.Hồ Chí Minh và xa hơn nữa
là cho nhu cầu xuất khẩu về dịch vụ giáo dục đào tạo trong khu vực và thếgiới đòi hỏi công tác quản lý các trường ĐH-CĐ nói chung, cũng như côngtác quản lý các trường ĐH-CĐ công lập trực thuộc Bộ GD-ĐT tại Tp.Hồ ChíMinh nói riêng cần phải tiếp tục được đổi mới tích cực và toàn diện hơn nữa,trong đó then chốt nhất vẫn là vấn đề đổi mới về cơ chế quản lý
Với lý do trên tác giả chọn đề tài: “ Một số giải pháp đổi mới cơ chế
quản lý các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo tại thành phố Hồ Chí Minh”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải phápnhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý các trường đại học công lập trựcthuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo tại thành phố Hồ Chí Minh
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Vấn đề đổi mới cơ chế quản lý các trường đại học công lập trực thuộc
Bộ GD-ĐT
Trang 103.2 Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp đổi mới cơ chế quản lý các trường đại học công lập trựcthuộc Bộ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được các giải pháp đổi mới cơ chế quản lý có cơ sở khoahọc và có tính khả thi thì có thể nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý cáctrường đại học công lập trực thuộc Bộ GD-ĐT tại thành phố Hồ Chí Minh
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài
- Đề xuất một số giải pháp đổi mới cơ chế quản lý các trường đại học cônglập trực thuộc Bộ GD-ĐT tại thành phố Hồ Chí Minh
5.2 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi các trường cao đẳng vàđại học công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo tại thành phố Hồ ChíMinh
6 Phương pháp nghiên cứu:
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này nhằm thu tập các thông tin lý luận để xây dựng
cơ sở lý luận của Đề tài Trong nhóm này có các phương pháp cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích-tổng hợp tài liệu;
- Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập
Trang 116.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin từ thực tiễn đểxây dựng cơ sở lý luận thực tiễn của Đề tài Trong nhóm này có các phươngpháp cụ thể sau đây:
- Phương pháp điều tra;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn;
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động;
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia;
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Để xử lý số liệu, thông tin thu được
7 Đóng góp của luận văn
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văngồm 3 chương:
Trang 12Chương 1 Cơ sở lý luận về đổi mới cơ chế quản lý các trường đại học
công lập
Chương 2 Thực trạng quản lý và đổi mới cơ chế quản lý các trường đại
học công lập trực thộc Bộ Giáo dục - Đào tạo tại thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 Một số giải pháp đổi mới cơ chế quản lý các trường đại học
công lập trực thuộc Bộ Giáo dục - Đào tạo tại thành phố Hồ Chí Minh
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG
ĐẠI HỌC CÔNG LẬP
Trang 131.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước
1.1.1.1 GDĐH ở Hoa Kỳ
GDĐH Hoa Kỳ là một hệ thống GDĐH đồ sộ, đa dạng và phức tạpnhất thế giới Nếu chưa thâm nhập lâu dài vào nền GDĐH nước này, người ta
sẽ khó hiểu biết sâu sắc về nó Để có thể học tập những gì từ hệ thống nàynhằm áp dụng vào phục vụ quản lý GDĐH Việt Nam cần phải hiểu đượcnhững đặc trưng quan trọng nhất, bản chất nhất của nền GDĐH Hoa Kỳ qualịch sử phát triển và hiện trạng của nó
Đặc điểm cơ bản nhất và rất riêng biệt của nền đại học Hoa Kỳ là vaitrò quản lý trực tiếp mờ nhạt của nhà nước và quyền tự chủ các trường được
Một số bài học kinh nghiệm từ mô hình GDĐH Hoa Kỳ:
- Vai trò của Nhà nước trong điều hành hệ thống GDĐH: Vận hành của
hệ thống GDĐH nước ta còn kém năng động so với hệ thống GDĐH Hoa Kỳ.Điều này được lý giải là do ở Hoa Kỳ, tính thị trường tác động mạnh mẽ lênmọi khía cạnh vận hành của hệ thống Sự điều chỉnh của Nhà nước, nếu có,thường chỉ là gián tiếp Còn ở nước ta, thói quen theo cơ chế kế hoạch hóa tậptrung và bao cấp vẫn còn khá nặng nề, và tác động của Nhà nước trong điềuhành GDĐH vẫn thường là áp đặt trực tiếp
Trang 14- Đại chúng hóa GDĐH nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đờisống văn hoá và nguồn nhân lực trình độ cao, điều này đặc biệt cần thiết trongđiều kiện hiện nay ở nước ta
Việc tăng quy mô GDĐH ở Việt Nam là một chủ đề gây nhiều tranhluận vì nhiều học giả cho rằng tăng quy mô GDĐH là nguyên nhân của tìnhtrạng “thừa thầy thiếu thợ” Tuy nhiên, GDĐH Hoa Kỳ cho thấy sự tăngnhanh quy mô phải đồng thời với đảm bảo chất lượng GDĐH Và không phảibao giờ chất lượng cũng tỷ lệ nghịch với quy mô
- Có cơ chế tăng cường mở rộng việc áp dụng học chế tín chỉ:
GDĐH ở nước ta hiện đã có nhiều thay đổi Học chế “học phần” đã ra
đời và được triển khai trong toàn bộ hệ thống các trường ĐH, CĐ từ năm
1988 đến nay Học chế học phần được xây dựng trên tinh thần tích lũy dần
kiến thức theo các môđun trong quá trình học tập, tức là cùng theo ý tưởng
của học chế tín chỉ xuất phát từ Mỹ Tuy nhiên, về một số phương diện, họcchế học phần chưa thật sự mềm dẻo như học chế tín chỉ của Mỹ Nói cáchkhác chúng ta chưa tận dụng triệt để các ý tưởng làm mềm dẻo quy trình đàotạo của học chế tín chỉ của Mỹ
- Chính sách thu hút nhân tài: Các đại học ở Hoa kỳ tuyển sinh rất chặtchẽ, thu hút học sinh giỏi trên thế giới thông qua học bổng và sau khi họcxong nếu xuất sắc thì thu hút ở lại trường (không ít người được giải thưởngNobel tuy thuộc quốc tịch Hoa Kỳ nhưng vốn là người nhập cư) Đây là hiệntượng mà người ta gọi là “chất xám của thế giới chảy về Hoa Kỳ”
1.1.1.2 GDĐH ở Anh
Trang 15Mô hình giáo dục đại học ở xứ sở sương mù được nêu lên như một tấmgương sáng về một hệ thống giáo dục bậc cao được hưởng sự tự trị về thể chếrất rộng rãi Trước năm 1992, Nhà nước quản lý các trường đại học thông quaviệc ban hành, kiểm soát thi hành điều lệ và cấp phát tài chính Các trường đạihọc ở đây thực hiện cơ chế quản lý dựa vào hai Hội đồng là, Hội đồng điềuhành và Hội đồng học thuật và hoàn toàn có quyền sử dụng kinh phí đã đượccấp mà không có sự can thiệp hay kiểm tra của nhà nước Sinh viên ở đây bắtbuộc phải ở trong ký túc xá, hợp thành một cộng đồng sinh hoạt và học tậpdưới sự quản lý của nhà trường Tuy nhiên, hạn chế của giáo dục đại học ởAnh so với các nước khác chi phí trung bình 15.000 USD một năm đối vớimột sinh viên là quá cao, chỉ có những gia đình khá giả mới có khả năng chitrả khoản tiền khổng lồ này Hiện nay, có thể thấy rằng, giáo dục đại học ởAnh dường như chỉ mở cửa đối với tầng lớp giàu có ở trong và ngoài nước.
1.1.1.3 GDĐH ở Cộng hòa Pháp
Nền giáo dục đại học của Pháp đã có một lịch sử lâu đời, rất cởi mở ỞPháp không hề có sự phân biệt giữa sinh viên nước ngoài với sinh viên Pháp,cùng một tiêu chuẩn xét tuyển, cùng một loại bằng cấp Luật pháp của Phápquy định như vậy Là đất nước của quyền con người và quyền công dân, Phápkhông chấp nhận bất cứ hình thức phân biệt đối xử nào
Đào tạo đại học của Pháp vừa hiện đại vừa năng động, nền giáo dụcnày đào tạo ra đội ngũ các cán bộ thực thi của một quốc gia đi tiên phongtrong khoa học, quản lý và văn hóa Ngày nay, Pháp là cường quốc kinh tếlớn thứ tư và là nước xuất khẩu dịch vụ lớn thứ hai trên Thế giới
Trong hệ thống giáo dục của Cộng hòa Pháp, Nhà nước sử dụng đạihọc như một công cụ để hiện đại hoá xã hội Các trường đại học ở pháp cóquyền chủ động xây dựng chương trình, nội dung và phương pháp giảng dạy
Trang 16cũng như nghiên cứu khoa học Năm 1968, Pháp tiến hành cải cách giáo dục,quyền tự trị của các trường đại học được mở rộng thêm về lĩnh vực tài chính,nhân sự,…Mô hình giáo dục đại học Pháp được hình thành trong cơ chế thịtrường, do đó có thể khuyến khích sự cạnh tranh về nhân lực và chất lượnggiữa các trường đại học Giáo dục đại học Pháp được chia thành hai hệ là đàotạo tổng quát và đào tạo nghề nghiệp Hai hệ này không tách rời nhau-giữahai hệ thường có cầu nối để sinh viên có thể chuyển từ hệ này sang hệ kia.
1.1.1.4 GDĐH ở CHLB.Đức
Mô hình giáo dục đại học Đức do Uyn-hem Vôn Hăm-bôn sáng lập từthế kỷ XIX với mục đích xây dựng những trung tâm nghiên cứu đại học hiệnđại để “đẩy lùi những biên giới của kiến thức” Mô hình này không coi trọng
sự can thiệp của chính trị và quyền lực nhà nước đối với giáo dục đại học Nóđảm bảo tính độc lập, tự quyết của các trường đại học và quyền tự do của cácthành viên được theo đuổi việc nghiên cứu mà không có sự can thiệp củachính quyền Chính phủ liên bang và các bang chỉ có quyền hạn quản lý mộtphần công việc của các trường đại học, thông qua việc cấp phát tài chính vàqua Hội đồng đại học để bàn bạc đánh giá công việc của các trường Cáctrường đại học ở Đức có toàn quyền tuyển dụng, trả lương và thưởng-phạtnhân sự của mình
1.1.1.5 GDĐH ở Nhật Bản
Nhật Bản đã chú trọng xây dựng một nền GDĐH hiện đại ngay từnhững năm 1950 Hiện nay, Nhật bản đã bước vào giai đoạn đại chúng hóaGDĐH với tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học bậc cao vào các trường caođẳng, đại học khoảng 60% (2009) Trong các kỳ đánh giá của khối OECD vềchất lượng giáo dục đã phần nào cho thấy tính đúng đắn và hiệu quả của cácchính sách phát triển GDĐH của Nhật bản trong nhiều thập kỷ qua
Trang 17Hệ thống GDĐH mới, hiện đại của Nhật Bản được hình thành từ saukhi kết thúc Thế chiến thứ II theo mô hình Mỹ (America model) với hệ thốngđào tạo 4 cấp ở bậc đại học: Cao đẳng, cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ Đến nay,Nhật Bản đã có hơn một nghìn trường đại học và cao đẳng với hơn 3 triệusinh viên trong đó phần lớn là ở loại hình trường tư
* Bài học kinh nghiệm:
Qua hơn nửa thế kỷ tái cấu trúc hệ thống GDĐH (1945) và đặc biệt làcác chính sách và biện pháp cải cách GDĐH từ 1984 cho đến nay, hệ thốngGDĐH Nhật Bản đã có những thay đổi cơ bản cả về cấu trúc hệ thống, loạihình, quy mô và trình độ đào tạo Nhật Bản đã có một hệ thống GDĐH có quy
mô tương xứng với chất lượng và khả năng cạnh tranh quốc tế, đáp ứng nhucầu phát triển của xã hội Những kinh nghiệm của Nhật Bản rất có giá trị và ýnghĩa đối với Việt Nam, đó là:
- Cải cách GDĐH là một công việc khó khăn, lâu dài, do đó cần có tầmnhìn xa, sáng suốt trong hoạch định chính sách và sự nỗ lực không ngừngcũng như sự kiên quyết, tâm huyết trong tổ chức thực hiện
- Từng bước bãi bỏ cơ chế bao cấp nhà nước cho GDĐH (công lập) Ápdụng mô hình và phương pháp quản lý doanh nghiệp phù hợp với đặc điểmcủa đại học (doanh nghiệp tri thức) nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và chấtlượng đào tạo, nghiên cứu và hiệu quả đầu tư
- Cân đối, hài hòa giữa chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa quốc tế
- Đề cao vai trò và thực quyền quyết định các vấn đề cốt lõi cải cáchGDĐH của Chính phủ và Bộ Giáo dục - Đào tạo Bên cạnh đó, không nênxem nhẹ các khuyến nghị của các tổ chức tư vấn, các chuyên gia, các nhàkhoa học, nhà quản lý, nói chung là đội ngũ trí thức
Trang 18- Đổi mới mô hình quản lý GDĐH phải tiến hành song song với đổimới quản lý trên các ngành, lĩnh vực khác và của cả nền hành chính.
- Chú trọng phát triển các trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực nhưngphải tổ chức, sắp xếp lại hợp lý đồng thời tăng cường giao quyền tự chủ,
tự chịu trách nhiệm cho họ
- Nâng cao vai trò của các tổ chức chuyên môn, tổ chức xã hội, tổ chức
xã hội - nghề nghiệp, các tổ chức đánh giá độc lập trong đánh giá và kiểmđịnh chất lượng GDĐH thông qua đánh giá 3 bên
- Tăng cường liên kết với đại học quốc tế (mời giáo sư sang nghiêncứu và giảng dạy, quốc tế hóa chương trình đào tạo, liên kết đào tạo )
1.1.1.6 Quản lý giáo dục đại học Thái Lan
Chỉ trong vòng 50 năm phát triển, Thái Lan đã có một hệ thống GDĐHtương đối hoàn chỉnh Một số ĐH Thái Lan đã trở thành những trung tâm giáodục có uy tín ở châu Á, thu hút được nhiều sinh viên nước ngoài đến học
Trong công cuộc cải cách GDĐH, Uỷ ban Điều hành Cải cách GDĐHđược thành lập với người đứng đầu là một Phó Thủ tướng Uỷ ban chịu trách
nhiệm ra các quyết định liên quan đến định hướng của cải cách giáo dục, xây dựng kế hoạch làm việc cũng như giám sát việc thực hiện các giải pháp cải cách kể cả hình thành chiến lược cần thiết Để tạo điều kiện cho sự hoạt động của uỷ ban, 9 nhóm chuyên trách được thành lập Trong số này, có 3 nhóm
chịu trách nhiệm về cải cách GDĐH là:
- Nhóm chuyên trách về Tài chính GDĐH
- Nhóm chuyên trách về Hành chính và Quản lý GDĐH
- Nhóm chuyên trách về Luật GDĐH của các chuyên gia, các học giả,
tổ chức
Trang 19Bài học kinh nghiệm: Tổng quan về cách thức và nội dung chương
trình cải cách GDĐH ở Thái Lan như trên cho thấy quyết tâm và nỗ lực cũngnhư sự táo bạo của Chính phủ trong việc tìm tòi, thử nghiệm và áp dụng cácphương pháp quản lý mới
Thái Lan xây dựng một nền giáo dục toàn diện, tích cực cải cách chínhsách, thiết kế lại hệ thống giáo dục đại học quốc gia một cách bài bản, có hệthống, qua đó cho phép công dân của mình phát huy kiến thức, sức sáng tạo
và tiềm năng của họ
Thái Lan đã áp dụng triết lý giáo dục đại học và học tập nhiều mô hìnhGDĐH từ một số quốc gia phương Tây Tuy nhiên trong thực tế, các yếu tốtinh hoa văn hóa dân tộc cũng luôn được đề cao
Tóm lại: học tập kinh nghiệm công cuộc cải cách GDĐH ở hai quốc
gia Á châu như Thái Lan, Nhật Bản và giáo dục đại học Hoa Kỳ sẽ đem lạinhững giá trị không nhỏ đối với giáo dục đại học nước ta trong thời kỳ mới.GDĐH các quốc gia này đã phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành quả.Vậy Việt Nam có thể học tập được gì từ hệ thống này? Đây là câu hỏi không
dễ trả lời Để có giải đáp đúng đắn, trước tiên chúng ta phải có những hiểubiết sâu sắc về các hệ thống giáo dục này So sánh với nền GDĐH nước nhà
để từ đó rút ra những điểm tương đồng và khác biệt, sau đó có những giảipháp phù hợp
Nhận xét: Qua một số thông tin về hệ thống giáo dục và giáo dục đại
học của một số nước, chúng ta thấy một số vấn đề cần quan tâm sau đây:
1 Tất cả chương trình giáo dục nói chung và giáo dục đại học nóiriêng của các nước trên thế giới đều hướng đến mục tiêu đào tạo nguồn nhânlực có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu cụ thể của quá trình phát triển đấtnước
Trang 202 Chính phủ luôn có cơ chế, chính sách quản lý và quan tâm đến hoạtđộng giáo dục đại học thông qua chính sách đầu tư ngân sách, phân quyềnquản lý cho địa phương, giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho cơ sở,
đa dạng hóa hoạt động giáo dục đại học đáp ứng thiết thực mục tiêu đào tạonguồn nhân lực
3 Giáo dục đại học luôn là nội dung chính trong các cuộc cải cáchgiáo dục hoặc các chiến lược phát triển giáo dục của các nước, trong đó yếu
tố con người và yếu tố tài chính luôn luôn được đề cập
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
1.1.2.1 Thời kỳ trước đổi mới
* Giai đoạn trước 1975 ở miền Bắc
Vào năm 1070 Vua Lý Thánh Tông đã thành lập Văn Miếu tại Thủ đôThăng Long (Hà Nội) Khoa thi đầu tiên được tổ chức vào năm 1075 Đếnthời Vua Lý Nhân Tông, “Quốc Tử Giám” được thành lập để con vua và concác đại thần học Đây là trường Đại học đầu tiên của Việt Nam với hơn 4000năm văn hiến
Vào năm 1902, hệ Đại học được thiết lập đầu tiên ở Việt Nam khi Phápthành lập trường đại học Y-Dược tại Hà Nội Năm 1938, trường này có cảthảy 208 sinh viên Trong đó, tổng số sinh viên Việt Nam của 3 kỳ (Bắc-Trung-Nam) là 176 sinh viên, chiếm 85% Số sinh viên còn lại là Pháp (25SV), Lào (2 SV), Trung quốc (3 SV), Cămbốt (1 SV), và Ấn độ(1 SV)
Trải qua các thời kỳ Phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc cho đến trước khiCách mạng tháng Tám thành công năm 1945, nền giáo dục cao đẳng và đạihọc chuyên nghiệp do Pháp để lại vô cùng nghèo nàn và lạc hậu; cả ĐôngDương chỉ có một trường đại học duy nhất, với số sinh viên năm cao nhất
Trang 21khoảng 800 sinh viên và đào tạo ra lực lượng chỉ để phục vụ cho mục đích caitrị của thực dân Pháp Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, trên cơ sởtrường Đại học Đông Dương (Université Indochinoise) thời Pháp thuộc chúng
ta đã xây dựng lại thành trường Đại học Quốc gia Việt Nam , với hơn 1.100sinh viên ghi danh Lúc đó, trường có năm ban: Y khoa, Khoa học, Văn khoa,Chính trị xã hội, và Mỹ thuật; Xây dựng Trường Đại học Luật thành TrườngĐại học Chính trị Xã hội, đến năm 1948 thì gọi là Trường Pháp chính HệCao đẳng có trường Cao đẳng khoa học, Cao đẳng mỹ thuật, Cao đẳng côngchính, Cao đẳng canh nông, Cao đẳng chuyên môn thú y
Ngày 6 tháng 3 năm 1956 Chính phủ có Nghị định tổ chức lại cấp đạihọc và lập ra năm trường đại học theo mô hình mới của các nước XHCNgồm: Bách khoa, Nông lâm, Sư phạm, Tổng hợp (Văn khoa và Khoa học), và
Y dược Cũng kể từ đó giáo trình đại học bỏ mô hình của Pháp và theochương trình học của Liên Xô (cũ) chú tâm đến mặt thực dụng Học sinh phảichọn một chuyên môn rất sớm và rẽ theo học trình đó Cũng theo mô hình củaLiên Xô thì mỗi trường cũ đứng riêng thành trường độc lập, giao cho từng bộquản lý Bộ Xây dựng nắm Đại học Kiến trúc, Bộ Nông lâm điều khiển Đạihọc Nông lâm,… Hệ thống giáo dục đại học bị phân tán đơn lẻ Bộ Giáo dụckhông giữ vai trò quản lý mà chỉ là cơ quan liên lạc giữa các trường sở Bậcđại học của Việt Nam lúc đó không đào tạo tiến sĩ mà được gửi đi đào tạo ởLiên Xô và Đông Âu
Trường Đại học Y khoa Hà Nội: trước thuộc Viện Đại học Hà Nộinhưng theo nghị định năm 1956 thì tách riêng Trường Y khoa bị cắt khỏi BộGiáo dục và chuyển sang Bộ Y tế và học trình rút bỏ từ bảy năm thành sáunăm Ngoài ra Bộ Y tế mở một chương trình hai năm học bắt đầu từ năm
1960 ở Thanh Hóa, Nghệ An (Vinh), Nam Định, Vĩnh Phúc, Thái Bình, HàNam, Hà Đông và Phú Thọ để đào tạo hàng ngàn y sĩ trung cấp trong khi học
Trang 22trình bác sĩ y khoa rút xuống còn bốn năm Việc này diễn ra được hai nămnhưng vì thấy không hiệu quả nên sau đó lại trở lại học trình sáu năm cho ykhoa
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội: thành lập năm 1956, có 9 khoa vớikhoảng 30-40 ngành học
Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội: thành lập năm 1956, tập trung vàocác ngành khoa học cơ bản Năm 1993, trường này sáp nhập với Trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội I và Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội đểhình thành Đại học Quốc gia Hà Nội
Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội: thành lập năm 1951, ban đầu với têngọi Trường Đại học Sư phạm Khoa học (1951–1956), sau đó là Trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội (1956-1966), Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I (1966–1993), Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (1993–1999) thuộc Đại học Quốcgia Hà Nội và trở lại tên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào tháng 10 năm1999
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội: thành lập năm 1956 Các têngọi khác: Học viện Nông Lâm (từ 1958), Trường Đại học Nông nghiệp (từ1963), Trường Đại học Nông nghiệp I (từ 1967), và Trường Đại học Nôngnghiệp Hà Nội (từ 2007)
Số sinh viên :Vào năm 1964 có khoảng 27.000 sinh viên cấp đại học,trong số đó khoảng 20.000 theo học ở Hà Nội
Từ sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc năm 1954, với kế hoạch 5 nămlần thứ nhất, hệ thống trường đại học hình thành với tư cách là một bậc họcđộc lập và phát triển nhanh chóng Giáo dục đại học trở thành một phân hệkhá hoàn chỉnh về cơ sở đào tạo và ngành nghề đào tạo trong hệ thống giáo
Trang 23dục quốc dân, có nhiều nét tương đồng với mô hình giáo dục đại học ở Liên
xô cũ và các nước Đông Âu trước đây
* Giai đoạn từ năm 1954 đến 1975 ở miền Nam
Nền giáo dục đại học lúc này chịu ảnh hưởng của mô hình giáo dụcđại học Pháp sau đó là của Hoa Kỳ, quản lý theo kiểu tự trị, không bị kiểmsoát về tài chính, nhân sự, chương trình và phục vụ cho mục đích kinh tế,chính trị của chính quyền Sài Gòn (cũ) Hệ thống đại học gồm có, Viện đạihọc Sài Gòn, Viện đại học Huế (1957), Viện đại học Cần Thơ (1966), Việnđại học Đà Lạt của Công Giáo, Viện đại học Vạn Hạnh của Phật Giáo (1964),Học viện Quốc Gia Hành Chính Đầu thập niên 1970 có khoảng 167.000 sinhviên đại học, với ngành nghề đào tạo đa dạng về Nông, Lâm, Ngư, Cơ khí, Ydược, Luật, Văn khoa,…
* Thời kỳ 1975 – 1985
Trước ngày giải phóng, miền Nam có 18 viện đại học (trong đó có 7viện đại học công, 11 viện đại học tư) với tổng số sinh viên là 166.475 sinhviên
Sau khi tiếp quản, chúng ta đã tiến hành giải thể các trường đại học tưthục và đại học cộng đồng, tổ chức lại các trường đại học theo mô hình nhàtrường XHCN Hệ thống trường đại học miền Nam cũ được tổ chức lại thành
15 trường đại học đó là: Đại học Sư phạm TPHCM; Đại học Bách khoaTPHCM; Đại học Kinh tế TPHCM; Đại học Sư phạm kỹ thuật TPHCM; Đạihọc Tổng hợp Huế; Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Đại học Cần Thơ; Đại học
Đà Lạt; Đại học Nông-Lâm TPHCM; Đại học Kiến trúc TPHCM; Đại học Sưphạm Huế; Đại học Y Huế; Đại học Y-Dược TPHCM; Đại học Thuỷ sản NhaTrang; Đại học Tây Nguyên
Trang 24Tính đến năm 1977-1978 cả nước có 50 trường đại học và 20 trườngcao đẳng Mô hình quản lý giáo dục theo mô hình quản lý tập trung cao ởChính phủ và Bộ Giáo dục Quy mô đào tạo các trường theo chỉ tiêu kế hoạchNhà nước giao Tổ chức quá trình đào tạo từ kế hoạch học tập, tuyển sinh, chế
độ học bổng, phân công công tác đều do kế hoạch của Nhà nước Mục tiêuđào tạo chủ yếu là cung cấp cán bộ biên chế Nhà nước và cho biên chế củahai thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể
Việc tổ chức thi tuyển sinh cũng được tiến hành thống nhất theo kếhoạch: Ngày thi được qui định chung trong toàn quốc, mỗi thí sinh được thimột trường đại học và có ba khối thi A, B, C để thí sinh lựa chọn Bộ Giáodục quản lý thống nhất các khâu ra đề thi, chỉ đạo chấm thi, thông báo kếtquả
Năm 1976, lần đầu tiên một Luận án Phó Tiến sĩ đã được bảo vệ thànhcông trong nước, đánh đấu một bước phát triển mới về chất của giáo dục đạihọc Việt Nam Hệ đào tạo sau đại học, đào tạo Phó tiến sĩ theo mô hình củaLiên Xô (cũ) chính thức được hình thành trong hệ thống giáo dục quốc dânnước ta
1.1.2.2 Thời kỳ sau đổi mới
* Từ 1986 - 1991
Vào giữa những năm 1980, trước sự xuất hiện và chuyển dịch mạnh
mẽ nền kinh tế sang cơ chế thị trường, trước sự sụp đổ của các nước xã hộichủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô đã làm cho mô hình kinh tế xã hội biến động,chao đảo, kéo theo mô hình giáo dục cũng biến động theo, làm trầm trọngthêm những yếu kém của hệ thống giáo dục đại học và các trường đại học.Quy mô đào tạo của các trường liên tục giảm và thu hẹp lại; chất lượng đàotạo thấp và giảm sút (có những trường không tuyển sinh); công tác quản lý trì
Trang 25trệ; đời sống của cán bộ giáo viên và sinh viên rất khó khăn; cơ sở vật chất kỹthuật của các trường nghèo nàn và lạc hậu; giáo dục đại học đứng trước mộtmâu thuẫn lớn giữa một bên là yêu cầu cao về mở rộng quy mô, nâng cao chấtlượng với một bên là khả năng rất hạn chế của Nhà nước về bảo đảm các điềukiện để đáp ứng các yêu cầu trên Nhiều trường đã phải rất cố gắng để không
bị tan rã trong hoàn cảnh khó khăn đó
* Từ 1992 đến nay
Cùng với công cuộc đổi mới của đất nước, ngành GDĐT nói chung vàgiáo dục đại học nói riêng cũng đã triển khai 3 chương trình hành động và cụthể hoá bằng những cải cách, đổi mới sau:
Cải cách, đổi mới công tác tuyển sinh: Giao quyền chủ động tuyển sinhcho các trường đại học trong bốn khâu ra đề thi, tổ chức thi, chấm thi và xéttuyển; mỗi thí sinh được quyền dự thi vào nhiều trường đại học khác nhau.Chủ trương này được xã hội và phụ huynh học sinh rất hoan nghênh
Thực hiện chính sách mới về đóng học phí Năm học 1987-1988 lầnđầu tiên áp dụng việc thu học phí đối với hệ đào tạo không chính quy (tuyểnsinh ngoài chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao)
Tổ chức lại quy trình đào tạo, thực hiện quy trình đào tạo hai giai đoạnđáp ứng mục tiêu đào tạo theo diện rộng (mở rộng kiến thức cơ bản) với chế
độ học phí mềm dẻo theo nguyên tắc người học tích luỹ kiến thức, tăng tínhchủ động và phát huy sở trường cá nhân
Đổi mới việc lựa chọn cán bộ quản lý thông qua việc thăm dò tínnhiệm, bầu cử chức danh hiệu trưởng trường đại học Trong 3 năm 1987-1990
đã có 26 trường đại học tiến hành bầu hiệu trưởng
Trang 26Từ những năm 1990 của thế kỷ XX, giáo dục đại học Việt Nam đã cónhững bước chuyển biến rất căn bản.
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1 Trường đại học công lập
1.2.1.1 Trường đại học
Trường đại học (tiếng Anh: University) là một cơ sở giáo dục bậc cao
tiếp theo bậc trung học dành cho những học sinh có khả năng và nguyện vọnghọc tập tiếp lên trên Trường đại học cung cấp cho sinh viên học vấn cao vàcấp các bằng cấp khoa học trong các lĩnh vực ngành nghề khác nhau Cáctrường đại học có thể cung cấp các chương trình bậc đại học và sau đại học
Trường đại học là một cơ sở giáo dục được Nhà nước, các tổ chức xãhội, cá nhân hoặc nhóm cá nhân thành lập với sứ mạng đào tạo, nghiên cứukhoa học, truyền bá kiến thức, chuyển giao công nghệ và trên hết là phục vụ
sự phát triển của xã hội và cộng đồng [33; tr.24]
1.2.1.2 Trường đại học công lập
Trường đại học công lập là trường thuộc sở hữu nhà nước, do Nhànước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất và hoạt động chủ yếu bằng kinh phí từcác nguồn tài chính công hoặc các khoản đóng góp phi vụ lợi, khác với đạihọc tư thục hoạt động bằng kinh phí đóng góp của học sinh, khách hàng vàcác khoản hiến tặng Ở nhiều khu vực trên thế giới, các trường đại học cônglập là các cơ sở đào tạo và nghiên cứu có uy tín và ảnh hưởng cao
1.2.1.3 Trường đại học công lập trực thuộc Bộ GD-ĐT
Trường đại học công lập trực thuộc Bộ ĐT là trường do Bộ
GD-ĐT trực tiếp quản lý về mọi mặt Ở Việt Nam, do đặc điểm lịch sử, việc quản
lý và chịu trách nhiệm của cơ quan nhà nước đối với các trường đại học, cao
Trang 27đẳng bị phân tán Hiện nay, trong tổng số 419 trường đại học, cao đẳng (trong
đó có 215 trường CĐ, 204 trường ĐH) trong cả nước, chỉ có 61 (15%) trườngđại học công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trực tiếpquản lý, số còn lại do các Bộ, ngành khác và UBND các tỉnh, thành phố quản
Thực tế khái niệm quản lý được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vựckhoa học, sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội Do đối tượng quản lý rất đadạng, phong phú, phức tạp, tùy thuộc từng lĩnh vực hoạt động cụ thể và ở mỗigiai đoạn phát triển xã hội khác nhau cũng có quan niệm khác nhau, nên địnhnghĩa về quản lý cũng có sự khác nhau:
- Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam “ Quản lý là chức năng và hoạt độngcủa hệ thống có tổ chức thuộc các giới khác nhau (sinh học, kỹ thuật, xã hội),bảo đảm giữ gìn một cơ cấu ổn định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảmthực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó” [49; tr 580]
- Còn theo Mary Parker Follet, “quản lý là nghệ thuật khiến công việc đượcthực hiện thông qua người khác” [ 4 ]
- Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý làtác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến
Trang 28khách thể quản lý ( người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức
đó vận hành và đạt được mục đích của mình” [3; tr 6 ]
- Theo Bách khoa toàn thư Liên Xô (cũ): Quản lý là chức năng của hệthống có tổ chức với những bản chất khác nhau ( Kĩ thuật, sinh vật, xã hội);
Nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động
- Định nghĩa kinh điển nhất : Quản lý là tác động có định hướng , cóchủ định của chủ thể quản lý ( người quản lý) đến khách thể quản lý (người bịquản lý) trong một số chức năng nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đượcmục đích tổ chức
- Theo quan điểm hệ thống: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có địnhhướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quảnhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đề ra trongđiều kiện biến đổi của môi trường
- Lao động quản lý là một dạng lao động đặc biệt gắn với lao động tậpthể và kết quả của sự phân công lao động xã hội, nhưng lao động quản lý lại
có thể phân chia thành hệ thống các dạng lao động xác định mà theo đó chủthể quản lý có thể tác động đối tượng quản lý Các dạng hoạt động xác địnhnày được gọi là các chức năng quản lý Một số nhà nghiên cứu cho rằng trongmọi quá trình quản lý, người cán bộ quản lý phải thực hiện một loạt chứcnăng quản lý kế tiếp nhau một cách logic bắt đầu từ lập kế hoạch tổ chức, chỉđạo thực hiện và cuối cùng là kiểm tra đánh giá Quá trình này được tiếp diễnmột cách tuần hoàn Chu trình quản lý bao gồm các chức năng cơ bản sau:
+ Lập kế hoạch;
+ Xây dựng tổ chức thực hiện kế hoạch;
+ Chỉ đạo thực hiện kế hoạch;
Trang 29+ Kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch.
Tuy nhiên các chức năng trên kế tiếp nhau nhưng chúng thực hiện đan xennhau, hỗ trợ bổ sung cho nhau Ngoài ra, chu trình quản lý thông tin chiếmmột vai trò quan trọng, nó là phương tiện không thể thiếu được trong quátrình hoạt động của quản lý
Quản lý vừa là một khoa học, dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật pháttriển (quy luật tự nhiên hay xã hội) của các đối tượng khác nhau, vừa là mộtnghệ thuật, đòi hỏi phải có sự tác động thích hợp với từng khách thể quản lý
- Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kếhoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, điều khiển và quản lýhoạt động giáo dục của những người làm công tác giáo dục
- “ Quản lý giáo dục là thực hiện các chức năng quản lý trong công tácgiáo dục, gồm: kế hoạch hóa; tổ chức; chỉ đạo; kiểm tra và đánh giá quá trìnhgiáo dục” [2]
Thực chất của quản lý giáo dục là quá trình tổ chức, điều chỉnh sự vậnhành của các yếu tố cơ bản sau đây:
- Đường lối, chiến lược phát triển giáo dục của đất nước;
Trang 30- Tập hợp những chủ thể và khách thể quản lý, bao gồm cán bộ quản lýgiáo dục, giáo viên và học sinh;
- Cơ sở vật chất ( đồ dùng, trang thiết bị dạy học, trường lớp )
Nội dung quản lý là quản lý tất cả các yếu tố cấu thành quá trình giáodục, bao gồm: mục tiêu giáo dục; nội dung giáo dục; phương pháp giáo dục;
tổ chức giáo dục; người dạy, người học, trường sở và trang thiết bị; môitrường giáo dục; các lực lượng giáo dục; kết quả giáo dục
Bản chất của quản lý giáo dục là quản lý quá trình sư phạm, quá trìnhdạy học diễn ra ở các cấp học, bậc học và tất cả các cơ sở giáo dục Nơi thựchiện quản lý quá trình sư phạm có hiệu quả nhất là nhà trường
- Cơ chế quản lý
Cơ chế quản lý là toàn bộ hệ thống pháp quy của Nhà nước quy định vềhoạt động quản lý và điều hành sao cho đúng quy định của nhà nước
Trang 31- Cơ chế quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục các nước liên quan nhiều đến các vấn đề thuộc chứcnăng quản lý ở tầm vĩ mô và vi mô Các quốc gia áp dụng mô hình quản lý cónhững đặc trưng sau: Về cơ chế quản lý giáo dục, tùy thuộc chế độ chính trị
và thể chế nhà nước, các quốc gia khác nhau có cơ chế quản lý khác nhau.Nhưng tựu trung, cơ chế quản lý giáo dục chịu sự tác động của bốn nhân tốnhư sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý giáo dục
Có hai loại cơ chế quản lý:
+ Cơ chế tập trung, kế hoạch hóa cao
+ Cơ chế phi tập trung và định hướng thị trường ở mức độ khác nhau
Cơ chế thứ nhất có ưu điểm kiểm soát chặt chẽ, huy động quyền lực quốcgia cho giáo dục…
Truyền thống Văn hóa-giáo dục
Trang 32Nhược điểm: không thích ứng nhanh, không năng động, hạn chế sáng tạocủa địa phương.
Các nước XHCN trước đây theo cơ chế này vì giáo dục được coi là phúclợi xã hội và nhà nước bao cấp hoàn toàn nhu cầu giáo dục của các tầng lớpnhân dân Một số nước khác ơ châu Á như Thái lan, Malaixia, Trung quốc,Hàn quốc,…thực hiện quản lý nhà nước tập trung ở cấp Trung ương Cấp này
có trách nhiệm quản lý về kế hoạch phát triển giáo dục quốc gia, xây dựngchuẩn mực giáo dục, xây dựng chính sách,… đồng thời thực hiện phân cấpquản lý cho cấp dưới
Cơ chế thứ hai có ưu điểm là năng động, linh hoạt, khơi dậy sự sáng tạocủa địa phương, trao quyền tự chủ cho cấp dưới, phân quyền mạnh, giáo dụcđược coi là dịch vụ…
Nhược điểm: dễ vô chính phủ, cục bộ, làm mất ý nghĩa giáo dục
Một số nước như Hoa kỳ, Canada, CHLB Đức,… theo cơ chế này vớiquan điểm giáo dục là một loại dịch vụ xã hội Mô hình này được đặc trưngbởi sự phân quyền mạnh cho chính quyền các bang có trách nhiệm quản lýcác loại hình giáo dục kể cả giáo dục đại học về nhân sự, tài chính và hoạchđịnh, thực thi kế hoạch chiến lược về giáo dục [36; tr.190]
1.2.3 Giải pháp đổi mới cơ chế quản lý các trường đại học công lập
Trang 33Để hiểu rõ hơn khái niệm giải pháp, chúng ta cần phân biệt với một sốkhái niệm tương tự như: phương pháp, biện pháp Điểm giống nhau của cáckhái niệm này đều nói về cách làm, cách tiến hành, cách giải quyết một côngviệc, một vấn đề Còn điểm khác nhau ở chỗ, biện pháp chủ yếu nhấn mạnhđến cách làm, cách hành động cụ thể, trong khi đó phương pháp nhấn mạnhđến trình tự các bước có quan hệ với nhau để tiến hành một công việc có mụcđích.
Theo Nguyễn Văn Đạm, “phương pháp được hiểu là trình tự cần theotrong các bước có quan hệ với nhau khi tiến hành một công việc có mục đíchnhất định” [27; tr.325]
Còn theo Hoàng Phê, “phương pháp là hệ thống các cách sử dụng để tiếnhành một công việc nào đó ” [ 40 ]
Về khái niệm biện pháp, theo Từ điển tiếng Việt, đó là “cách làm, cáchgiải quyết một vấn đề cụ thể” [51; tr.64]
Như vậy, khái niệm giải pháp tuy có những điểm chung với các kháiniệm trên nhưng nó cũng có điểm riêng Điểm riêng cơ bản của thuật ngữ này
là nhấn mạnh đến phương pháp giải quyết một vấn đề, vì sự khắc phục khókhăn nhất định Trong một giải pháp có thể có nhiều biện pháp
- Đổi mới
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, đổi mới là "thay đổi cho khác hẳnvới trước, tiến bộ hơn, khắc phục tình trạng lạc hậu, trì trệ và đáp ứng yêu cầucủa sự phát trỉển" [50; tr.337]
Xuất phát từ định nghĩa trên, theo chúng tôi đổi mới là sự thay đổi cómức độ, từng bộ phận, từng bước một hiện trạng bằng một cái khác tiến bộhơn
Trang 34- Giải pháp đổi mới cơ chế quản lý
Giải pháp đổi mới cơ chế quản lý là hệ thống các cách thức đổi mới cơchế quản lý, điều hành thể hiện qua các văn bản quy phạm pháp luật của Nhànước hay các văn bản hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước sao chomang lại kết quả cao nhất
Từ đó, đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế quản lý thực chất là đư a racác cách thức đổi mới cơ chế quản lý
- Giải pháp đổi mới cơ chế quản lý các trường đại học công lập
+ Chuyển các cơ sở giáo dục đại học công lập sang hoạt động theo cơchế tự chủ, có pháp nhân đầy đủ, có quyền quyết định và chịu trách nhiệm vềđào tạo, nghiên cứu, tổ chức, nhân sự và tài chính
+ Xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản, xây dựng cơ chế đại diện sở hữu nhànước đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập Bảo đảm vai trò kiểm tra,giám sát của cộng đồng; phát huy vai trò của các đoàn thể, tổ chức quầnchúng, đặc biệt là các hội nghề nghiệp trong việc giám sát chất lượng giáodục đại học
+ Quản lý nhà nước tập trung vào việc xây dựng và chỉ đạo thực hiệnchiến lược phát triển; chỉ đạo triển khai hệ thống bảo đảm chất lượng và kiểmđịnh giáo dục đại học; hoàn thiện môi trường pháp lý; tăng cường công táckiểm tra, thanh tra; điều tiết vĩ mô cơ cấu và quy mô giáo dục đại học, đápứng nhu cầu nhân lực của đất nước trong từng thời kỳ
+ Xây dựng Luật giáo dục đại học [15]
Trang 351.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA CƠ CHẾ QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP
1.3.1 Sự cần thiết phải đổi mới cơ chế quản lý các trường đại học
- Cơ chế điều hành quản lý nhà nước theo kiểu tập trung, bao cấpkhông còn phù hợp với sự phát triển nhanh, phức tạp và đa dạng hiện nay của
hệ thống đại học: Khi số lượng và loại hình các cơ sở giáo dục đại học giatăng mạnh, đồng thời mô hình quản lý hệ thống chồng chéo, không thốngnhất, nhiều cấp, nhiều bộ chủ quản thì cơ chế điều hành tập trung không thểmang lại hiệu quả như mong muốn Hoạt động của các trường đại học bị hạnchế bởi hàng loạt các rào cản, sức mạnh trí tuệ của đội ngũ trí thức không thểphát huy
- Cơ chế tài chính hiện nay chưa phù hợp để tạo đủ nguồn lực cần thiếtcho đảm bảo chất lượng của các trường đại học công lập Khi đầu tư của nhànước còn hạn chế thì việc đưa ra khung học phí như hiện nay đối với cáctrường đại học công lập sẽ tạo sự cạnh tranh thiếu bình đẳng với các trườngdân lập, các trường đại học công lập sẽ không có đủ nguồn lực về tài chính vàmất dần nguồn lực về con người để có thể cam kết về chất lượng đào tạo với
xã hội
- Trong những năm qua giáo dục đại học Việt Nam đã có những chuyểnbiến tích cực, song vẫn còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến sự phát triển củaGiáo dục đại học trước yêu cầu đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế Cơ chếquản lý mang nặng tính hành chính, tập trung, bao cấp, nặng về kiểm soát, chỉhuy; chưa gắn với thị trường lao động và nhu cầu thực tiễn hiện nay; chưathấy hết được đặc thù địa lý, kinh tế, xã hội của các địa phương Quản lý Nhànước về giáo dục đại học phân tán, thiếu tính thống nhất, chưa tạo điều kiện
để phát huy hết quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đại
Trang 36học, trường đại học Đây là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh yếukém, bất cập trong quá trình vận hành của cả hệ thống giáo dục đại học ViệtNam.
- Cơ chế Bộ chủ quản dẫn tới việc quản lý giáo dục đại học bị chia cắt,
Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ trực tiếp quản lý 61 cơ sở giáo dục đại học,trường đại học trực thuộc Các Bộ, ngành khác không có cơ quan chuyêntrách quản lý về giáo dục đại học, nhưng lại trực tiếp quản lý nhiều trường đạihọc Việc quản lý như vậy dẫn tới sự chồng chéo, làm phình bộ máy quản lýNhà nước về giáo dục đại học từ Trung ương tới các địa phương, tạo ra nhiềubất cập khác nhau Hai đại học (Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốcgia Thành phố Hồ Chí Minh) không phân định rõ trách nhiệm pháp lý về quản
lý Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý Nhànước về giáo dục đại học theo quy định của Luật Giáo dục, nhưng thực chấtkhông quản lý toàn diện hệ thống giáo dục đại học Các địa phương cũng cótình trạng tương tự, mặc dù Chính phủ đã có Nghị định số 115/2010/NĐ-CPngày 24 tháng 12 năm 2010 quy định trách nhiệm quản lý Nhà nước về giáodục, nhưng một số địa phương vẫn còn những quy định rất khác nhau về tráchnhiệm trong quản lý giáo dục đại học, trường đại học không đúng với quyđịnh của Chính phủ, dẫn tới làm giảm hiệu lực quản lý Nhà nước về giáo dụcđại học Cơ chế quản lý giáo dục đại học không đồng bộ, thiếu tính thốngnhất, chưa có tầm nhìn và giải pháp tổng thể Chất lượng giáo dục đại họcchưa đi đôi với quyền hạn, trách nhiệm; chưa đáp ứng được sự phát triển củagiáo dục đại học và yêu cầu hội nhập quốc tế hiện nay Đội ngũ giảng viên,cán bộ quản lý chưa được đào tạo bồi dưỡng bài bản; khoa học quản lý chưa
dự báo và đề xuất được những vấn đề quan trọng trước mắt cũng như lâu dài
để khắc phục hạn chế, yếu kém trong quản lý giáo dục đại học Các cơ sở giáodục đại học, trường đại học được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm,
Trang 37nhưng trên thực tế Nhà nước vẫn “cầm tay chỉ việc”, thiếu cơ chế để thực hiện
quyền tự chủ thực sự
- Nhiều cơ sở giáo dục đại học, trường đại học chưa ý thức đầy đủ về tựchủ, chưa nhận thức rõ việc tự chủ phải đi đôi với việc tự chịu trách nhiệm,bao gồm: Trách nhiệm trước pháp luật, trách nhiệm trước xã hội, trách nhiệmtrước người học; chưa công khai minh bạch các nguồn lực và hiệu quả đào tạomột cách thực chất, cơ chế cấp phát tài chính còn mang nặng tính bình quânbao cấp
- Những hạn chế, bất cập nêu trên cần được giải quyết dứt điểm để bảođảm tính thống nhất, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý giáo dục đạihọc [37;tr.7]
1.3.2 Nội dung đổi mới cơ chế quản lý các trường đại học công lập
Đổi mới cơ chế quản lý các trường ĐH công lập bao gồm các nội dung:
- Cơ chế về xây dựng cơ chế chính sách
- Cơ chế về giao quyền tự chủ, phân cấp quản lý
- Cơ chế về quản lý nhân sự
- Cơ chế về quản lý tài chính
- Cơ chế về hợp tác quốc tế
- Cơ chế về thanh tra, kiểm tra
Và một số nội dung liên quan khác
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc đổi mới cơ chế quản lý trường ĐH 1.3.3.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển GDĐH
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định thực hiện đổi mới cănbản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã
Trang 38hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lýgiáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt Đổimới cơ chế tài chính trong giáo dục
Trong giai đoạn 2011 - 2015, phương hướng phát triển là: “đổi mới cănbản và toàn diện GDĐT” Các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể: phát triển và nângcao chất lượng GDĐT; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt làđội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đổi mới cơ chế quản lý trên tinh thầntăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở GDĐT
1.3.3.2 Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam
Nghị quyết 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 Về đổi mới cơ bản và
toàn diện GDĐH Việt Nam đã nhấn mạnh: “Đổi mới cơ bản và toàn diện
GDĐH, tạo được chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và quy mô, đápứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhậpkinh tế quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân Đến năm 2020, GDĐH ViệtNam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiếp cận trình độ tiên tiến trên thếgiới; có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng
Trang 39quản lý và sử dụng cán bộ, viên chức Cũng trong Nghị định 43/2006/NĐ-CP,Mục 2, Chương 3 đã quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chínhđối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động và đơn vị sự nghiệp tựbảo đảm một phần chi phí hoạt động Nghị định này quy định chi tiết vềnguồn tài chính, nội dung chi, tự chủ về các khoản thu và mức thu, tiền lương,tiền công và thu nhập cũng như sử dụng kết quả hoạt động tài chính trongnăm của các đơn vị sự nghiệp Nghị định 43/2006/NĐ-CP là một bước tiếnđáng kể trong việc đổi mới cơ chế quản lý các đơn vị sự nghiệp, trong đó cóngành GD-ĐT, cả về mặt nhân sự lẫn mặt tài chính.
Chỉ thị số 296/CT-TTg, ngày 27-2-2010 của Thủ tướng Chính phủ vềđổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 – 2012; Nghị quyết số 05-NQ/BCS, ngày 6-1-2010 của Ban cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo vàchương trình hành động của Bộ GD-ĐT về Đổi mới quản lý giáo dục đại họcgiai đoạn 2010 - 2012 Chỉ thị 296, Thủ tướng đã yêu cầu: Cần quán triệtnhận thức: Phát triển quy mô giáo dục đại học phải đi đôi với bảo đảm vànâng cao chất lượng đào tạo Kiên quyết chấm dứt tình trạng không kiểm soátđược chất lượng đào tạo Cần tạo ra cơ chế và động lực trong quản lý nhànước và quản lý của các cơ sở đào tạo để thực hiện mục tiêu bảo đảm và nângcao chất lượng đào tạo; Coi việc đổi mới quản lý giáo dục đại học, bao gồmquản lý nhà nước về giáo dục đại học và quản lý của các cơ sở đào tạo là khâuđột phá để tạo ra sự đổi mới toàn diện của giáo dục đại học, từ đó bảo đảm vànâng cao chất lượng đào tạo, nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học mộtcách bền vững
Với Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới quản lý giáo dục đạihọc 2010 - 2012, bám sát thực tiễn, vận dụng đồng bộ các loại quy luật kháchquan (quy luật sư phạm, quy luật quản lý hệ thống, quy luật kinh tế và quyluật xã hội) và quy tắc chi phối hoạt động của hệ thống giáo dục đại học,
Trang 40chúng ta tin rằng, quản lý giáo dục đại học sẽ có những đổi mới cơ bản, tạotiền đề quan trọng nhất để giáo dục đại học đổi mới căn bản, toàn diện tronggiai đoạn 2010 - 2020.
1.3.3.3 Hội nhập quốc tế
Nước ta đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO Chính phủ Việt Nam
đã ký thỏa thuận thực hiện Hiệp định GATT từ năm 2010 về một số lĩnh vực,trong đó có giáo dục Quá trình hội nhập đòi hỏi GDĐH Việt Nam phải “nângcao năng lực hợp tác và sức cạnh tranh, thực hiện các hiệp định và cam kếtquốc tế; triển khai việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài, trước mắt là bằngtiếng Anh; nâng cao chất lượng các chương trình đào tạo và nghiên cứu cókhả năng thu hút người nước ngoài; tiếp thu có chọn lọc các chương trình đàotạo tiên tiến của thế giới; đạt được thỏa thuận về tương đương văn bằng,chương trình đào tạo với các cơ sở GDĐH trên thế giới; khuyến khích cáchình thức liên kết đào tạo chất lượng cao, trao đổi GV, chuyên gia với nướcngoài; khuyến khích GV là người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạytại Việt Nam; tăng số lượng lưu học sinh nước ngoài tại Việt Nam Khuyếnkhích du học tại chỗ; có cơ chế tư vấn và quản lý thích hợp để giúp SV ViệtNam du học định hướng ngành nghề, lựa chọn trường và học tập có chấtlượng, đạt hiệu quả cao” [ 7 ]
Trong quá trình hội nhập với GDĐH thế giới, vấn đề đối mới cơ chếquản càng cần phải được quan tâm để tìm ra tiếng nói chung với GDĐH thếgiới
Kết luận chương 1
Giáo dục đại học là một ngành học có vị trí hết sức quan trọng trong hệthống giáo dục đào tạo của mọi quốc gia trên thế giới với vai trò đào tạonguồn nhân lực tri thức phục vụ quá trình xây dựng, phát triển và bảo vệ đất