Khi khảo sát các tác phẩm kịch tự sự tiêu biểu của Bectôn Brêcht, người viết nhận thấy một điều vô cùng độc đáo là ông đã sử dụng phương pháp lạ hoá gián cách, nghĩa là biến sự vật thông
Trang 1trường đại học sư phạm hà nội 2
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo - Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Thi, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và cho tôi những lời khuyên bổ ích để tôi hoàn thành khoá luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Văn học nước ngoài, trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, tìm hiểu, nghiên cứu
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2009
Tác giả khoá luận
Nguyễn Thị Yên
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Sau một thời gian nghiên cứu, bằng sự nỗ lực cố gắng của bản thân và
sự hướng dẫn của thầy giáo Nguyễn Ngọc Thi, khoá luận của tôi đã được hoàn thành Khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, nó không trùng với khóa luận và các công trình đã được công bố Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2009
Tác giả khoá luận
Nguyễn Thị Yên
Trang 4MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Khi đi tìm hiểu nghệ thuật sân khấu phương Tây thế kỷ XX, chúng ta nhận thấy các tác giả đều muốn đoạn tuyệt với kịch truyền thống, mặc dù mỗi nhà soạn kịch đều có cách thể hiện độc đáo thành phong cách riêng Không hẹn mà nên, kịch Iônexcô, kịch Bêcket và các sáng tác trong giai đoạn đầu của Ađamôp được coi là những vở kịch phi lí, là “căn bệnh” của thế kỷ XX Bên cạnh kịch phi lí (không nhân vật, không cốt truyện, không hành động, không xung đột, phi không gian và thời gian ), sân khấu phương Tây còn có sự xuất hiện của kịch tự sự Nếu kịch phi lí không có tác gia nào là hiện tượng duy nhất thì với vai trò là “nhà cách tân nghệ thuật kịch của thời đại”, Bectôn Brêcht được mệnh danh là “Người cha đẻ của dòng sân khấu tự
sự phương Tây”
Mặc dù thuật ngữ “kịch tự sự” không phải do Brêcht sử dụng đầu tiên nhưng mọi người sau này đều xem kịch tự sự do công lao sáng tạo của ông, bởi lẽ trong tác phẩm của Brêcht, kịch tự sự mới bộc lộ những đặc trưng ưu việt của nó
Làm nên những khác biệt và ưu việt trong kịch tự sự của mình, Brêcht đã có sự cách tân vô cùng độc đáo Ông đã phá tan bức màn của kịch truyền thống dựa trên ảo giác và sự thể nghiệm lôi cuốn người xem cùng sống và hành động với nhân vật trên sân khấu, mất đi cảm giác sân khấu và cuộc đời Từ quan niệm này, Brêcht chủ trương không dựng mà thuật lại câu chuyện ngoài đời, vì thế cần phải biết thái độ của công chúng khán giả, đồng thời cần tạo nên khoảng cách nhất định để khán giả tỉnh táo, nhìn nhận đánh giá nội dung câu chuyện kịch
Trang 5Khi khảo sát các tác phẩm kịch tự sự tiêu biểu của Bectôn Brêcht, người viết nhận thấy một điều vô cùng độc đáo là ông đã sử dụng phương pháp lạ hoá (gián cách), nghĩa là biến sự vật thông thường, quen thuộc thành
xa lạ, khác thường khiến người ta nhận ra bản chất của sự vật, quy luật của
sự vật, thôi thúc con người biến đổi nó Với phương pháp lạ hoá trong kịch
tự sự, Brêcht đã thức tỉnh óc tò mò, phê phán của người sáng tạo và người thưởng thức nghệ thuật để họ vươn lên nhận thức đúng sự vật hiện tượng trong cuộc sống, từ đó có khả năng làm chủ bản thân và thế giới
Cùng viết về một đề tài nào đó của cuộc sống, mỗi nhà văn lại có cách thể hiện của riêng mình Chính cách thể hiện đã tạo ra phong cách riêng cho người nghệ sĩ, tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm Nói như Khrapchencô
trong Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học thì “phong
cách cần được định nghĩa như thủ pháp biểu hiện cách khai thác hình tượng với cuộc sống, như thủ pháp thuyết phục và thu hút độc giả” Do đó, tìm hiểu nghệ thuật biểu hiện của tác phẩm cũng là tìm hiểu phong cách của người nghệ sĩ Hiểu về nghệ thuật lạ hoá cũng là hiểu về phong cách tác giả B.Brêcht
Tìm hiểu nghệ thuật lạ hoá trong kịch tự sự sẽ luôn là vấn đề không chỉ hấp dẫn đối với giới nghiên cứu, phê bình văn học, sân khấu mà còn hấp dẫn đối với độc giả, công chúng Vượt qua sự sàng lọc của thời gian, nghệ thuật lạ hoá trong kịch tự sự đã tồn tại tới tận hôm nay Đó chính là một nghệ thuật đích thực
Mặc dù không phải là tác giả, tác phẩm được chọn giới thiệu trong chương trình phổ thông nhưng những hiểu biết về tác giả B.Brêcht, về tác
phẩm Người hảo tâm thành Tứ Xuyên cũng như về kịch tự sự sẽ là kiến thức
bổ trợ rất tốt Nó giúp chúng ta hiểu sâu hơn về thể loại kịch nói chung, về kịch truyền thống, kịch phi lí khi có sự đối chiếu Sau này, để giảng dạy tốt
Trang 6một tác phẩm kịch hay một kịch gia, việc tìm hiểu về các tác giả, tác phẩm văn học nước ngoài không được giới thiệu trong chương trình phổ thông đối với sinh viên khoa Ngữ văn của một trường Sư phạm là rất cần thiết
Người viết chọn đề tài “Nghệ thuật lạ hoá trong Người hảo tâm
thành Tứ Xuyên của B.Brêcht” với mong muốn góp một phần nhỏ của
mình vào việc tìm hiểu vở Người hảo tâm thành Tứ Xuyên cũng như tìm
hiểu tác giả B.Brêcht Đồng thời, đó cũng là kiến thức bổ trợ cho việc giảng dạy sau này của bản thân
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Bectôn Brêcht là nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch nổi tiếng của Đức Trong số những sáng tác của ông, người đọc không chỉ thấy sự phong phú, mới mẻ của thơ mà còn thấy sự cách tân lớn lao trong nghệ thuật kịch Chính vì thế mà đã có không ít bài báo, chuyên luận, các công trình nghiên cứu quan tâm và đề cập tới nghệ thuật kịch của ông
Tuy nhiên trong phạm vi khoá luận tốt nghiệp, do trình độ ngoại ngữ
có hạn nên phần Lịch sử vấn đề sẽ dược xây dựng dựa trên những công trình nghiên cứu trong nước và một số bài nghiên cứu của nước ngoài đã được dịch sang tiếng Việt
B.Brêcht đã là một tấm gương sáng về ý thức trách nhiệm của một nghệ sĩ truớc thời đại mình
Tuy sinh ra trong một gia đình khá giả, cha mẹ đã quàng cho ông chiếc cổ cồn quanh cổ, phú cho ông thói quen được hầu hạ, dạy cho ông nghề sai bảo mọi người thật đấy, nhưng sớm là một con người duy lý, thích nhìn thẳng vào sự thật và tìm kiếm cội nguồn của mọi việc xảy ra, Brêcht đã nhận thấy ngay cái phi lí và bất công của sự hoan lạc ông được hưởng, cũng như những bất hạnh mà kẻ khác phải gánh chịu Ông đã không ưa lũ sang
Trang 7trọng như ông, không thích sai, làm khổ kẻ khốn cùng, ông từ bỏ giai cấp ông và tìm bạn trong lớp người nghèo khổ
Cả một đời gian truân luân lạc cũng như mọi quang vinh mà nhân loại sau này sẽ dành cho ông đã được quyết định từ sự từ bỏ dĩ vãng êm ấm ấy Tại Hội nghị khoa học về B.Brêcht họp ở Beclin đầu năm 1968, Giăng Đáccăngtơ - Tổng thư ký Hội sân khấu thế giới đã nhận định rằng: “Trong thời đại chúng ta, người đã gây nên sự chú ý rộng rãi trên toàn(sân khấu)thế giới, người là đối tượng của nhiều cuộc tranh luận sôi nổi nhất đó là B.Brêcht! Tầm ảnh hưởng của Brêcht đối với sân khấu thế giới lúc này sâu rộng đến mức ngay cả những người phản đối ông cũng không thể phủ nhận ông là nhà hoạt động sân khấu lỗi lạc nhất của thế kỷ chúng ta”[12,tr.73] Tác phẩm của Brêcht đã được dịch ra hầu hết các thứ tiếng trên thế giới Những công trình nghiên cứu về Brêcht cũng đã vượt số lượng tác phẩm của chính bản
Ở B.Brêcht, ta có thể tìm thấy sức mạnh của một con người sinh ra trong nhung lụa nhưng đã sớm biết tìm thấy dòng sữa mẹ ở lớp người cùng khổ Ta cũng thấy sự sáng suốt của một người dân đã biết phản kháng lại những cuồng vọng man rợ của bọn thống trị Ta gặp một cây bút biết khinh thị huân chương và vòng hoa phù phiếm để trở thành mũi kiếm đối với kẻ thù và chiếc gậy bạn đường của nhân dân
Nói về B.Brêcht, những nhà văn Đức thường nghĩ rằng, nước Đức đã từng có nhiều bậc thầy lỗi lạc về ngôn ngữ, nhưng ở thế kỉ XX, chỉ có một
đó là B.Brêcht Chính nhờ ông mà sau này, nền văn học Đức đã tìm được, qua những vần thơ trên sân khấu, trong những lời kêu gọi chính trị, niềm vinh dự nói lên được những khát vọng chân chính của thế giới phương Tây Trong Từ điển tác gia văn học và sân khấu nước ngoàì - Hữu Ngọc
(Chủ biên) đã ghi nhận: “B.Brêcht viết 51 vở kịch, 1027 bài thơ, 548 tiểu
Trang 8thuyết và truyện ngắn, khoảng 1000 tiểu luận về văn hoá, nghệ thuật, chính trị, xã hội Brêcht là một chiến sĩ văn hoá suốt đời phục vụ sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản, nhà lí luận văn nghệ sâu sắc”[8,tr.84]
Trong Từ điển văn học -Tập1 của nhiều tác giả cũng cho ta một cái
nhìn rộng hơn về tác gia B.Brêcht B.Brêcht từ một nghệ sĩ nổi loạn chống lại
chế độ tư bản, do nghiên cứu chủ nghĩa Mac, Brêcht đã trở thành đồng minh của giai cấp công nhân cách mạng Ông suy nghĩ tìm cách thể hiện trên sân khấu mối quan hệ biện chứng của xã hội và buộc người xem có thái độ tích cực thay đổi thực trạng xã hội Do đó, Brêcht thử nghiệm một lối diễn xuất
mà ông gọi là “phi Aritxtốt” thay thế sự đồng cảm, ảo tưởng bằng sự cùng suy nghĩ, thái độ tỉnh táo và phê phán Sân khấu tái hiện những quá trình phát triển của xã hội, thuật lại những chuyện đã qua và nhấn mạnh yếu tố giáo huấn, giác ngộ người xem
Trong giáo trình Văn học phương Tây - Đặng Anh Đào, Hoàng Hữu
Nhân, Lương Duy Trung, Nguyễn Đức Nam, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Văn Chính, Phùng Văn Tửu đã trình bày một cách sơ lược nhưng đầy đủ nhất về cuộc đời, sự nghiệp của B.Brêcht Brêcht chiến đấu cho một lý tưởng tiến bộ bằng con đường nghệ thuật của ông, bằng thái độ kiên quyết
xa lánh cái mòn cũ, nỗ lực suy tư và thể nghiệm để tạo nên sự hấp dẫn tinh
tế và sức rung động sâu xa khi thể hiện con người và xã hội Ông sẵn sàng gắng sức, học hỏi người khác và học suy nghĩ Bài học nhận thức và sáng tạo của B.Brêcht thật bổ ích cho nhiều nhà văn nghệ sĩ Việt Nam trong công cuộc đổi mới hiện nay của đất nước và những năm cuối thế kỷ XX đầy biến động
Nhiều tác giả của Tác gia tác phẩm văn học nước ngoài trong nhà
trường đã khẳng định sự thành công xuất sắc về nghệ thuật của B.Brêcht -
Trang 9một con người phấn đấu vì sự nghiệp không biết mệt mỏi Các kết quả mà Brêcht đạt được thật xứng đáng Ông đã là người đặt nền móng đầu tiên cho phương pháp “lạ hoá” trong kịch tự sự được viết theo lối “phi Aritxtốt” Trong Tạp chí Văn học - số 8 - 1999 cũng đã có bài nêu rõ thành tựu
nghệ thuật của B.Brêcht, trong đó có bề bộn vấn đề cần nghiên cứu, tìm hiểu Bởi lẽ, đối với sân khấu nửa đầu thế kỷ XX, Brêcht là ngôi sao sáng nhất, một nhà sân khấu đáng chú ý nhất, một nghệ sĩ ưu tú của giai cấp vô sản Đức
Như vậy, các tài liệu nghiên cứu trên đã có bài nêu rõ thành tựu nghệ thuật của B.Brêcht Hầu hết các tài liệu đó đều đề cao tầm quan trọng và sự ảnh hưởng có ý nghĩa của Brêcht đối với nghệ thuật sân khấu phương Tây
nói riêng và kịch trường thế giới nói chung Đặc biệt trong giáo trình Văn
học phương Tây, các tác giả sơ qua một số tác phẩm tiêu biểu của B.Brêcht
về nội dung và nghệ thuật Điều mà người viết quan tâm ở đây là tác phẩm
Người hảo tâm thành Tứ Xuyên - một tác phẩm tiêu biểu cho nghệ thuật lạ
hoá trong kịch tự sự của B.Brêcht
Vở kịch Người hảo tâm thành Tứ Xuyên (1938 - 1940) viết về đề tài
là sự thắc mắc về những điều kiện cho một cuộc sống xứng đáng với con người Dưới hình thức của một câu chuyện ngụ ngôn, Brêcht đưa ra vấn đề này qua sự trình bày những mâu thuẫn cá nhân, liên kết nó với sự phát triển các tương quan xã hội Dưới thể dáng của cô gái Tàu Thiện Tâm, Brêcht chỉ cho ta thấy những mâu thuẫn xã hội của thời đại ấy, ấy là “vừa tốt vừa sống còn” thật khó có thể thực hiện được
Cũng bàn về vở kịch trên, các tác giả Văn học phương Tây chỉ rõ: “Vở kịch Người hảo tâm thành Tứ Xuyên đưa ra một số chi tiết huyền thoại,
nhưng để đặt vấn đề trong thế giới ngày nay của chúng ta còn có những tâm hồn tốt lành không? Brêcht đã viết về số phận những người nghèo khốn khổ
Trang 10như Thiện Tâm, bác Vương vì nghèo khổ đôi khi họ cũng làm điều không tốt Nhưng tuyệt nhiên không vì họ tham lam, trục lợi như bọn tư bản mà chỉ do sự thúc bách của đời sống quá nghiệt ngã Những người nghèo khổ chỉ mong sao đủ sống để không còn điều phi nghĩa”[5,tr.689]
Trong Phương pháp sân khấu B.Brêcht, Đình Quang thấy trong
Người hảo tâm thành Tứ Xuyên một xã hội tư bản thối nát, người tốt cũng
không thể nào giữ nguyên vẹn lòng tốt của mình Sao có thể đòi hỏi đạo đức
cá nhân khi không có một nền đạo đức xã hội? Trong xã hội cũ, tốt là điều khó quá,
nhưng không những thế, tốt lại còn dẫn đến cái khổ Chính thần cũng phải thốt ra: “Đây đó có những thiện ý đáng khen, lòng nhiệt tình và những nguyên tắc cao thượng nhưng than ôi! Những điều đó không thể tạo nên người tốt và khi gặp người tốt thì cuộc sống của họ lại khổ, không còn ra cuộc sống con người nữa”[12,tr.93]
Những ý kiến vừa điểm trên đều là những ý kiến khái quát, là những gợi ý để người viết đi đến một vấn đề cụ thể: Nghệ thuật lạ hoá trong
Người hảo tâm thành Tứ Xuyên của B.Brêcht
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trước hết, người viết nhận thấy Nghệ thuật lạ hoá trong Người hảo
tâm thành Tứ Xuyên của B.Brêcht là một đề tài hay, độc đáo, tiêu biểu
cho sự cách tân mới mẻ của nhà sân khấu vĩ đại Hơn thế nữa, đây là vấn đề chưa được nhiều tài liệu nghiên cứu sâu, người viết muốn tìm hiểu cụ thể đề tài này
Từ việc tìm tư liệu tham khảo và đi sâu vào nghiên cứu, người viết nhằm mục đích bổ sung thêm kiến thức về văn học nước ngoài cho bản thân
và phục vụ nghề sư phạm sau này
4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Trang 11Trong khoá luận này, người viết sẽ tập trung làm rõ một số vấn đề sau:
Làm rõ nghệ thuật lạ hoá trong kịch tự sự của B.Brêcht Biểu hiện
nghệ thuật lạ hoá trong Người hảo tâm thành Tứ Xuyên của B.Brêcht
Đối chiếu với các tác phẩm kịch tự sự khác của ông để thấy được sự
kế thừa, nét độc đáo của nghệ thuật lạ hoá trong Người hảo tâm thành Tứ
Xuyên
5 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Trong phạm vi khoá luận, người viết tập trung tìm
hiểu sự biểu hiện của nghệ thuật lạ hoá trong Người hảo tâm thành Tứ Xuyên.
Phạm vi nghiên cứu: Người viết sử dụng vở Người hảo tâm thành Tứ
Xuyên là chủ yếu, bên cạnh đó người viết còn sử dụng vở Vòng phấn
Kapkazơ, Mẹ Can Đảm và bầy con và một số vở khác của B.Brêcht
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vì tác phẩm văn học là một hệ thống hoàn chỉnh gồm nhiều yếu tố có mối quan hệ qua lại gắn bó với nhau, cho nên khi nghiên cứu tác phẩm, người viết sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống Mỗi phương pháp tiếp cận đúng đắn sẽ giúp cho người viết nhanh chóng chiếm lĩnh đối tượng dù rằng các cách trình bày khác nhau
Sử dụng phương pháp thống kê để chỉ ra được những điều lạ hoá trong tác phẩm, từ đó thấy được nghệ thuật lạ hoá độc đáo của B.Brêcht Dùng phương pháp so sánh hệ thống để thấy kịch tự sự của B.Brêcht
có sự cách tân so với kịch truyền thống của Aritxtôt
Bằng phương pháp phân tích tổng hợp, đưa ra những nhận xét chủ quan ban đầu về ý nghĩa, vai trò của nghệ thuật lạ hoá trong tác phẩm kịch
tự sự của B.Brêcht và đặc biệt trong vở Người hảo tâm thành Tứ Xuyên
7 ĐÓNG GÓP CỦA KHOÁ LUẬN
Trang 12Về mặt lí luận: Giúp độc giả hiểu rõ hơn về nghệ thuật lạ hoá - một cách tân cơ bản trong kịch B.Brêcht Khoá luận góp phần khẳng định lạ hoá trong kịch của Brêcht là một phương pháp nghệ thuật đích thực
Về mặt thực tiễn: Tìm hiểu nghệ thuật lạ hoá trong Người hảo tâm
thành Tứ Xuyên giúp độc giả có cái nhìn cụ thể, chính xác hơn về sự lạ hoá
trong tác phẩm kịch Hiểu được nghệ thuật lạ hoá trong tác phẩm, các nghệ
sĩ sẽ thành công hơn khi bắt tay vào dàn dựng vở kịch, cũng có nghĩa họ đã dọn đường cho Brêcht đến với Việt Nam như một người bạn quen thân
8 BỐ CỤC KHOÁ LUẬN
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Chương 1: Nghệ thuật lạ hoá trong kịch tự sự của Bectôn Brêcht
Chương 2: Nghệ thuật lạ hoá trong Người hảo tâm thành Tứ Xuyên
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 145 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Đóng góp của khoá luận
1.2.2 Kịch tự sự của Bectôn Brêcht 14 1.2.3 Nghệ thuật lạ hoá trong kịch tự sự của Bectôn Brêcht 16
Chương 2: Nghệ thuật lạ hoá trong Người hảo tâm thành Tứ Xuyên 20
2.1 Nghệ thuật lạ hoá trong Người hảo tâm thành Tứ Xuyên 20 2.1.1 Lạ hoá trong xây dựng nhân vật 21 2.1.2 Lạ hoá trong sự thể hiện xung đột 35 2.1.3 Lạ hoá trong việc xây dựng kết cấu 40
2.2 Nét độc đáo của nghệ thuật lạ hoá trong Người hảo tâm thành
Trang 16NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 NGHỆ THUẬT LẠ HÓA TRONG KỊCH TỰ SỰ
CỦA BECTÔN BRÊCHT 1.1 Nghệ thuật lạ hóa
1.1.1.Khái niệm
Mỗi khi nhắc đến B.Brêcht, các nhà nghiên cứu không thể không nhắc đến phương pháp gián cách (Verfremdung) rất đặc trưng của ông Đây là một phương pháp chủ yếu chi phối đến tất cả các quy trình sáng tạo một vở kịch của B.Brêcht Trước hết phải khẳng định rằng: Gián cách là một phương pháp chứ không phải là một thủ pháp đơn thuần của Brêcht Nói như vậy bởi vì đã từng có không ít người hiểu nhầm rằng, gián cách trong kịch của Brêcht chỉ là một thủ pháp hình thức nhỏ lẻ, riêng biệt Nhiều người đã vận dụng nó vào trong kịch của mình nhưng không hiểu được bản chất đích thực của nó nên vở kịch đôi khi không được như ý muốn Có trường hợp đạo
diễn dựng vở Mẹ Can Đảm và bầy con nhưng không thể hiện được ý đồ
đích thực của Brêcht, mà trở thành một vở kịch đơn thuần chỉ là ca ngợi bà
mẹ Can Đảm dũng cảm trong chiến tranh Vậy thế nào là lạ hóa (gián cách)? “Lạ hóa”: “Toàn bộ thủ pháp trong nghệ thuật (nghịch dị, nghịch lý) được dùng để đạt đến một hiệu quả nghệ thuật, theo đó hiện tượng được miêu tả phải hiện ra không phải như ta đã quen biết hiển nhiên mà như một cái gì mới mẻ, chưa quen, “khác lạ” Khái niệm “hiệu quả lạ hóa” do Brêcht đưa vào mỹ học căn cứ vào lý thuyết và thực tiễn sân khấu của ông Theo Brêcht, lạ hóa gây nên ở chủ thể tiếp nhận sự “ngạc nhiên và hiếu kỳ” trước một góc nhìn mới làm nảy sinh một thái độ tiếp nhận tích cực với cái thực tại đã được “lạ hóa” kia”[6,tr.172]
Trang 17“Lạ hóa phá vỡ cái hằng ngày, cái đời thường, cái truyền thống, phá vỡ tính tự động máy móc của sự cảm thụ bằng cách tạo ra một cái nhìn mới vào các sự vật hiện tượng quen thuộc, phá vỡ những “khuôn hình” đã quen để người ta có thể nhận ra các ý nghĩa mới của sự vật và nhân sinh”[6,tr.172] Mục đích của nghệ thuật lạ hóa là tước bỏ dấu ấn quen thuộc của sự vật hiện tượng làm cho sự vật trở nên xa lạ như mới gặp lần đầu, khiến con người tò mò, tìm cách lý giải nó Như vậy, lạ hóa có khả năng phá bỏ sự hòa cảm của con người đối với sự vật và kích thích sự suy nghĩ, khám phá đối với sự vật Để đạt đến mục đích tác động tích cực tới tư duy độc giả không gây sự hòa cảm giữa người xem và nhân vật bằng những chi tiết chân thực, không xây dựng lên những nhân vật có cá tính sinh động Để đạt tới hiệu quả
lạ hóa, nhân vật chỉ còn là nhân vật loại hình Nhân vật chỉ là người tái hiện lại sự kiện để người thưởng thức tự đánh giá một cách khách quan và tự rút
ra ý nghĩa bài học cho riêng mình
Vậy nghệ thuật lạ hóa có nguồn gốc và đặc điểm như thế nào?
1.1.2 Nguồn gốc và đặc điểm của nghệ thuật lạ hóa
Khái niệm “lạ hóa”, trước Brêcht đã từng được đề xuất bởi các nhà
nghiên cứu thuộc trường phái hình thức ở Nga vào những năm 20, đầu thế
kỷ XX Sơclốpxki, Iacubinxki, Vinôcua, Iacốpxơn, Tưnhanốp…coi lạ hóa như một nguyên tắc nghệ thuật phổ quát thể hiện trong mọi cấp độ của cấu trúc nghệ thuật, có tác dụng phá vỡ tính tự động máy móc của sự cảm thụ bằng cách tạo ra “một cái nhìn mới” - “khác lạ” đối với sự vật và hiện tượng quen thuộc chứ không phải là “nhận ra” cái đã biết Đặc biệt Vinôcua cho rằng “việc đưa vào ngôn từ văn chương một từ thông tục hoặc một từ địa phương… , đặt trên cái nền của ngôn ngữ văn học, có thể là phong cách biến đổi hệ thống tín hiệu, có thể nói là một sự đổi mới làm phá vỡ khuôn đúc và buộc người ta phải nỗ lực nắm bắt sự vật”[1,tr.186-187]
Trang 18Như vậy, “lạ hóa” nếu trước đây chỉ được đề xuất thì đến Brêcht đã trở thành một phương pháp nghệ thuật
Dựa vào việc khảo cứu một số lượng lớn các tác phẩm kịch tự sự và so sánh chúng với những vở kịch truyền thống, các nhà nghiên cứu đã gọi tên những đặc điểm biểu hiện của nghệ thuật lạ hóa trong kịch tự sự như sau: Kịch Brêcht không bị hạn chế về thời gian, không gian Kịch không diễn
ra như một chuyện đang xảy ra, mà như câu chuyện được kể lại Nó không
để cho hành động phát triển theo thời gian và hiệu quả trực tiếp, theo đường thẳng từ thấp lên cao, đến đỉnh điểm như kịch kiểu Aritxtôt Nó phóng khoáng, đôi khi có vẻ như thiếu liên tục, theo đường vòng
Hai thành phần xen kẽ nhau trong một vở kịch Một là câu chuyện kể được mô tả cụ thể qua hình ảnh sân khấu, sự xung đột giữa cá nhân và xã hội bộc lộ chủ đề của tác phẩm; Hai là thành phần gián cách nội dung, ở đó tác giả thường gợi lên những ý bao quát để người đọc suy nghĩ phương pháp hành động và quyết định sự lựa chọn
Nhiều bài hát do các ca sĩ, các ban hợp ca trình diễn xen vào giữa các màn kịch hoặc trong một màn kịch, gián cách các đối thoại nhằm tạo điều kiện cho khán giả tham dự vào việc trình diễn Những bài hát này thường giữ vị trí độc lập làm cho không khí có tính chất đại chúng, khơi gợi sự phê phán các nhân vật, phá vỡ những ảo tưởng…
Diễn viên không được tự xem mình là hiện thân của nhân vật, mà chỉ là người “kể lại” những hành vi của một người khác, vào một thời điểm nào đó trong quá khứ
Để minh họa những hành vi đó và làm cho khán giả hiểu, diễn viên làm điệu bộ của nhân vật, bắt chước giọng nói của nhân vật, tái hiện những biểu hiện của gương mặt nhân vật, nhưng chỉ để “kể lại” Diễn viên không được bao giờ quên rằng, không phải là hành động của mình được miêu tả, mà
Trang 19mình là người được miêu tả hành động đó (Brêcht) Nhân vật được trình diễn trên
sân khấu và diễn viên sắm vai đó có sự khác biệt rõ rệt Và diễn viên tự do
“bình luận” những hành động của người mà anh trình diễn Vì vậy nhiệm vụ của diễn viên kiểu Brêcht thật lớn lao và phức tạp hơn sự đồng nhất diễn viên và nhân vật của phương pháp Stanixlavski
Nhiều thủ pháp khác trên sân khấu phục vụ cho việc diễn xuất đạt yêu cầu gián cách, gợi óc phán đoán, suy tư của khán giả
Như vậy có thể nói sự đổi mới trong nghệ thuật kịch của B.Brêcht có nguồn gốc sâu xa từ truyền thống kịch của châu Âu, tuy Brêcht cho rằng, kịch trường châu Âu trong nhiều thế kỷ qua vẫn trung thành với những nguyên tắc kịch của Aritxtôt Brêcht đã thực hiện được ý đồ cách tân sân khấu của mình và nhận được sự ủng hộ của khán giả Nghệ thuật lạ hóa là sản phẩm sáng tạo ra đời trong thời đại mà con người muốn tồn tại phải vượt qua sự xung đột giữa cá nhân và xã hội và sự xung đột triền miên bi thảm hoặc hào hùng ngay trong bản thân mình Nó tác động mạnh mẽ đến công chúng, độc giả cũng như các nhà nghiên cứu, phê bình văn học, sân khấu 1.2 Nghệ thuật lạ hóa trong kịch tự sự của Bectôn Brêcht
1.2.1.Kịch tự sự
Kịch tự sự là phương thức tái hiện đời sống, bên cạnh hai phương thức khác là trữ tình và kịch, được dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học Nếu như tác phẩm trữ tình phản ánh hiện thực trong sự cảm nhận chủ quan về nó thì tác phẩm tự sự lại tái hiện đời sống trong toàn bộ tính khách quan của nó Tác phẩm tự sự phản ánh kiến thức qua bức tranh mở rộng của đời sống trong không gian, thời gian, qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời con người Trong tác phẩm tự sự, nhà văn cũng thể hiện tư tưởng
và tình cảm của mình Nhưng ở đây, tư tưởng và tình cảm của nhà văn thâm
Trang 20nhập sâu sắc vào sự kiện và hành động bên ngoài của con người tới mức giữa chúng dường như không có sự phân biệt nào cả Nhà văn tả lại, kể lại những
gì xảy ra bên ngoài mình, khiến cho người đọc có cảm giác rằng hiện thực được phản ánh trong tác phẩm tự sự là một thế giới tạo hình xác định đang
tự phát triển, tồn tại bên ngoài nhà văn, không phụ thuộc vào ý muốn, tình cảm của nhà văn Phương thức phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố
và hành vi con người làm cho tác phẩm tự sự trở thành một câu chuyện về cái đó hay một cái gì đó Cho nên tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện Gắn với cốt truyện là một hệ thống nhân vật được khắc họa đầy đủ, nhiều mặt hơn hẳn nhân vật trữ tình và kịch Trong tác phẩm tự sự, cốt truyện được khắc họa nhờ một hệ thống chi tiết, sự kiện, xung đột, chi tiết nội tâm, ngoại hình của nhân vật, chi tiết cá tính, ngoại cảnh phong phú, đời sống văn hóa – lịch sử, lại còn cả những chi tiết liên tưởng, tưởng tượng hoang đường
mà không nghệ thuật nào tái hiện được Những đặc điểm nói trên làm cho tác phẩm tự sự trở thành loại văn học có khả năng quan trọng trong đời sống tinh thần của con người hiện đại
“Về phương diện thể loại văn học, loại hình tự sự đã hình thành trên cơ
sở những phương thức phản ánh tự sự Có thể dựa vào tiêu chí nội dung hoặc tiêu chí hình thức để phân chia các tác phẩm tự sự thành các loại nhỏ hơn Chia theo nội dung thể loại ta sẽ có tác phẩm mang chủ đề lịch sử dân tộc, thế sự, đạo đức, đời tư Chia theo hình thức ta sẽ có các thể loại cơ bản như anh hùng ca, tiểu thuyết, truyện ngắn, ngụ ngôn…”[7,tr.380]
1.2.2.Kịch tự sự của Bectôn Brêcht
Con người thế kỷ XX đã từng được chứng kiến biết bao những biến động của kịch trường thế giới với sự ra đời của những loại kịch mới như kịch của sự phân hủy, kịch phi lý, kịch ý niệm, kịch tự sự…Trong số đó,
Trang 21kịch tự sự xuất hiện như là một trong những đổi mới nổi bật nhất, gây nhiều tiếng vang nhất gắn liền với tên tuổi của B.Brêcht
“Kịch tự sự của Brêcht không phải là một phát minh hoàn toàn ngẫu nhiên, đột xuất, mà nó là kết quả của việc học tập sáng tạo sân khấu Êlidabet
ở Anh, sân khấu Vaima ở Đức, và đặc biệt là sân khấu Nô của Nhật Bản và Kinh kịch Trung Quốc - vì vốn nó không thuộc trong quỹ đạo sân khấu Aritxtôt”[7,tr.417]
Đã có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm kịch tự sự Đặc biệt
trong Từ điển văn học – Tập 1 - Nhiều tác giả đã đưa ra một cái nhìn tương
đối bao quát về kịch tự sự : “Kịch tự sự là một loại hình thức sân khấu nghệ thuật hiện đại xuất hiện từ sau thế chiến thế giới lần thứ nhất, đối lập với nghệ thuật kịch Aritxtôt truyền thống ở chỗ ít quan tâm đến số phận con người mà nặng về trình bày những điều kiện lịch sử xã hội …”[9,tr.84-85] Khái niệm kịch tự sự được dùng hiện nay là theo cách hiểu của Brêcht Nhà soạn kịch Đức này đề xướng ra kịch tự sự nhằm chống lại kịch tư sản hiện đại mà ông gọi là kịch ảo tưởng Kịch tự sự của B.Brêcht không muốn để cho người xem “đồng nhất” mình với nhân vật kịch mà tìm cách làm cho họ luôn giữ một khoảng cách và độc lập với hành động kịch, không muốn mang đến cho người xem những xúc động ủy mị mà muốn phá bỏ những ảo tưởng
để gợi cho họ những suy nghĩ có phê phán Như vậy, ta thấy vai trò, tầm quan trọng của B.Brêcht đối với kịch tự sự là rất lớn
Brêcht có quan điểm triết học và mỹ học khác biệt với cách lý giải về mục đích sân khấu của triết gia cổ đại Hy Lạp Brêcht coi trọng vai trò cốt truyện kịch, song những vở kịch tự sự của Brêcht là một câu chuyện được kết cấu phóng khoáng chứ không chỉ là một hành động kịch được sắp xếp dồn nén theo một mô hình định sẵn Câu chuyện kịch thể hiện là một câu chuyện quá khứ được thuật lại Brêcht không chú ý nhiều tới những phản
Trang 22ứng tâm trạng hoặc sa vào khai thác diễn biến tâm lý phức tạp mà tập trung phản ánh hành động ứng xử của nhân vật Tác giả cũng không tự giới hạn ngòi bút vào một biến cố số phận Kịch của Brêcht thường là cả một quãng đời dài với
nhiều mối xung đột
Đó là sự cách tân kịch vô cùng độc đáo của Brêcht, được thể hiện rõ qua nghệ thuật lạ hóa được biểu hiện trong các tác phẩm kịch của ông Trong kịch tự sự của B.Brêcht, nghệ thuật lạ hóa giữ một vai trò quan trọng Phương pháp nghệ thuật này chi phối rất lớn từ khâu kịch bản đến trình diễn trên sân khấu của Brêcht
1.2.3 Nghệ thuật lạ hóa trong kịch tự sự của Bectôn Brêcht
Gián cách trong kịch bản là khâu đầu tiên Brêcht thể hiện trong kịch tự
sự của mình Tuy Brêcht là tác giả hết sức gắn bó với những vấn đề của đất nước mình, cũng như những vấn đề nóng hổi của thời đại nói chung, nhưng
cứ nhìn vào các vở kịch của ông thì lại thấy rất ít nói về những chuyện của Đức, mà phần lớn là ở những đất nước xa xôi khác, cũng rất ít vở thuộc thời gian hiện tại mà thường là ở những thời điểm xa xưa trong lịch sử Ví như
vở Vòng phấn Kapkazơ và vở Mẹ Can Đảm và bầy con Vở Vòng phấn
Kapkazơ (1942), Brêcht viết về vùng đất Kapkazơ của Liên Xô, sau chiến
tranh hai nông trường Galinxcơ và nông trường Rôza Luycxămbua tranh
luận một vùng đất để đòi quyền sở hữu Vòng phấn Kapkazơ đề cao quan
niệm mới về quyền sở hữu… thật là đúng lúc ! Kẻ thù nhân loại đã bị quật ngã, hàng loạt nước đã được giải phóng, giang sơn đất nước sẽ thuộc về ai đây? Quyền sở hữu sẽ phải thuộc về những ai đã và sẽ làm cho nó tươi tốt
hơn, hạnh phúc hơn Còn vở Mẹ Can Đảm và bầy con (1938 – 1939) (Ký sự
12 cảnh về cuộc chiến tranh 30 năm) viết về đề tài chiến tranh xâm lược gây bao thiệt hại cho người dân thường trong cuộc chiến tranh tôn giáo thế kỷ
Trang 23XVII Phản ánh quá khứ qua đó để đối chiếu với hiện tại Những điều xảy ra
ở một thời đại nào đó được nhìn nhận, đánh giá theo cách nhìn của con người hiện đại Sự xa cách về thời gian và địa điểm chính là một kiểu gián cách làm cho người xem dễ thấy xa lạ hơn
Từ việc đưa một số yếu tố tự sự vào sân khấu Aritxtôt (Ca kịch ba
xu)v.v…Brêcht đã đi đến sân khấu giáo dục (Biểu quyết, Kẻ nói có, kẻ nói không) Từ sân khấu giáo dục Brêcht lại thử hoàn toàn quay về sân khấu
kịch tính với nội dung mới (Cây súng của bà Cara) Sau đó Brêcht đi hẳn sang kịch tự sự (Mẹ Can Đảm và bầy con)… Trong loại hình tự sự ta lại thấy
có loại phối hợp giữa cấu trúc tự sự với hiệu quả kịch tính (Cuộc đời Galilê) v.v , có loại kịch parabôn (Người hảo tâm thành Tứ Xuyên) Viết theo kiểu
kịch parabôn, Brêcht muốn dựng lên những câu chuyện tưởng như không liên quan gì nhưng lại ám thị cho người xem phải nghĩ tới những vấn đề của
họ Ông không muốn trực tiếp ném quả bóng vào họ mà chỉ ném vào tường, cho bóng bật trở lại Người xem dễ bình tĩnh suy nghĩ và cũng tránh được lưỡi búa kiểm duyệt của bọn phát xít Brêcht cũng không dừng lại ở mức độ
tự sự theo khái niệm cổ truyền mà đẩy nó tới hình thức tự sự biện chứng Gián cách là phương pháp nghệ thuật của phép biện chứng duy vật, Brêcht
sử dụng nó rất thành công
Trong một vở kịch có khi Brêcht cho nhân vật có hai sự sống Lúc say
và lúc tỉnh, như trong vở Chủ Puntila và đầy tớ Mátti Lúc tỉnh lão chủ độc
ác theo quán tính giai cấp của lão bao nhiêu, thì lúc say lão ta lại có tính người bấy nhiêu Say – tỉnh gián cách nhau, tương phản nhau và buộc người xem phải suy nghĩ cách đánh giá
Hay trong vở Những mơ tưởng của Ximônnơ Masa, Brêcht đã lấy thực
và mơ để gián cách nhau
Trang 24Trong các lớp kịch, Brêcht cũng có lúc để nhân vật bàn luận những vấn
đề rất hệ trọng, cao xa, nhưng mặt khác lại đang thực hiện những công việc hết sức tầm thường Cái cao xa và cái tầm thường gián cách nhau
Về mặt ngôn ngữ, có khi đầu vở Brêcht nêu ra một kết luận, châm ngôn
để rồi sau đó kịch tính lại cứ buộc người xem phải suy nghĩ về nó và tự rút
ra
kết luận Như trong vở Những cây súng của bà Cara Bà phản đối chiến
tranh và tuyên bố kẻ nào cầm gươm thì sẽ chết vì gươm Nhưng rồi, sự thực
dù con bà không cầm gươm cũng đã bị bọn phát xít giết hại Người xem buộc phải suy xét lại những lời dạy của Kinh thánh và thái độ thụ động của
bà v.v…
Gián cách trong dựng diễn: Brêcht thường hay phân vai cho những diễn viên có hình thức khác biệt hoặc tương phản với bộ mặt tâm lý, tính cách của nhân vật Cái hình thức bên ngoài ở đây có tác dụng làm bật cái bên trong
Trong chỉ đạo biểu diễn, Brêcht luôn luôn sử dụng tiết tấu, không khí sân khấu thường cũng không nhất nhất tuân thủ sự thực cuộc sống Quyết định ở đây không phải là sự lôi cuốn cảm xúc mà là sự minh bạch của nhận thức
Trên đây chỉ là một số ví dụ nhỏ Người viết xin nhắc lại gián cách của Brêcht là một phương pháp và có mục đích rõ ràng, nên từ đó có thể dẫn tới
vô vàn các thủ pháp khác nhau Dù không hiểu thấu đáo các quan niệm triết học và mỹ học của Brêcht, dù chưa quen cách thưởng thức mới như ông mong muốn thì khi xem các vở diễn của ông, cũng có thể thấy ngay cái vẻ khác thường do phương pháp gián cách tạo ra Vì ở đây nội dung đã chuyển hóa ra hình thức một cách cụ thể rõ ràng nhất Trong khi nền sân khấu châu
Âu đã bị phương pháp ảo giác chế ngự hàng ngàn năm và rồi lại bị chủ nghĩa
Trang 25tự nhiên đẩy đến chỗ tột cùng của sự tả thực thì sân khấu gián cách đã xuất hiện như một làn gió mới
Trước B.Brêcht cũng có một số người đi sâu vào bản chất của phương pháp gián cách, tán thưởng nó, nhưng lại cho đó chỉ là một phương pháp có
ý nghĩa nhất thời Theo họ, phương pháp gián cách chỉ có ý nghĩa trong việc thể hiện xã hội đối lập giai cấp hay nói một cách khác đó chỉ là phương pháp nghệ thuật của xã hội chưa phân giai cấp mà thôi Thật sai lầm! Họ quên rằng phương pháp gián cách đã được B.Brêcht vận dụng trong cả cuộc đời sáng tạo của ông, kể cả sau này, khi Brêcht đã hoạt động dưới chế độ xã hội chủ nghĩa
ở Cộng hòa dân chủ Đức
Xã hội có thay đổi tới đâu thì sân khấu cũng cứ phải nhằm tác động chủ yếu tới nhận thức của khán giả Cuộc sống mới đòi hỏi cách sống mới nhưng không phải ai ai cũng đã có sẵn những cách cảm và cách nghĩ tương ứng với
nó Cho nên sân khấu không chỉ hướng vào cảm xúc và bản năng của tập thể phức tạp người xem Nó phải chiến đấu, vạch mặt, đánh giá những cách cảm
và cách nghĩ cũ kĩ và góp phần xây dựng, bồi dưỡng cách cảm, cách nghĩ mới mẻ Và đó đâu phải là một việc làm dễ dàng Đó thực là một quá trình đấu tranh gian khổ mà Brêcht đã làm được
Tóm lại, gián cách trong kịch tự sự của Bectôn Brêcht là một phương pháp nghệ thuật giúp ta thấy rõ hơn những mặt xung đột cũng như con đường phát triển của sự vật Chỉ có sự hiểu biết những mối tương quan tổng hợp của xã hội thì khán giả mới có thể có được một thái độ đối với xã hội mới mẻ, hữu ích Brêcht không những đã tạo dựng lên một phong cách riêng cho mình mà còn vạch ra được một phương hướng chung, không những đã
đề ra những nhiệm vụ của sân khấu hôm nay mà còn phác thảo ra được bộ mặt của sân khấu mai sau Mục đích tối cao của B.Brêcht là ông muốn sân
Trang 26khấu của ông - với tư cách là một ngành trong văn học nghệ thuật nói chung, một loại công cụ để nhận thức thế giới - cũng đáp ứng được đòi hỏi của Mác đối với triết học, có nghĩa là không dừng lại ở chỗ chỉ nhận thức và giải thích thế giới mà còn góp phần cải tạo nó nữa
Trang 27CHƯƠNG 2 NGHỆ THUẬT LẠ HÓA TRONG
NGƯỜI HẢO TÂM THÀNH TỨ XUYÊN
2.1 Nghệ thuật lạ hoá trong Người hảo tâm thành Tứ Xuyên
Sau khi đã trình bày những khái niệm về nghệ thuật lạ hoá, nguồn gốc, những đặc điểm của nghệ thuật lạ hoá và nghệ thuật lạ hoá trong kịch tự sự của B.Brêcht, người viết đi vào cụ thể tìm hiểu biểu hiện của nghệ thuật lạ
hóa trong tác phẩm Người hảo tâm thành Tứ Xuyên với hi vọng bạn đọc sẽ
có cái nhìn và sự hiểu biết rõ hơn về nghệ thuật lạ hóa cũng như tài năng của tác gia B.Brêcht
Vở kịch Người hảo tâm thành Tứ Xuyên của Brêcht đã được diễn lần
đầu tiên tại nhà hát Zurich vào ngày 4/2/1943 So với tất cả các vở kịch của Brêcht, vở kịch có một lịch sử hình thành phức tạp nhất
Nét chính câu chuyện vở kịch như sau:
Trong màn mở đầu anh chàng bán nước dạo vô gia cư gặp ba vị thần đang chu du thiên hạ để tìm một người hảo tâm, bởi từ hai nghìn năm nay có tiếng kêu than là thế gian này không thể tiếp tục như vậy nữa, không ai trên đời này có thể giữ mãi được thiện tâm Sau cuộc tìm kiếm lâu dài họ tìm được cô gái điếm Thiện Tâm, một cô gái không thể nói “không” Họ giúp cô
mở một tiệm bán thuốc lá mà với số tiền bán được, Thiện Tâm định giúp những người nghèo khổ
Tuy nhiên với quán thuốc lá này và vì lòng tốt của mình Thiện Tâm lại
bị bọn người vì quá nghèo khó nên trở thành vô lại mà nàng thâu nhận và bảo trợ, lợi dụng đến nỗi đi đến nguy cơ phá sản Do chính xúi dục của bọn này mà Thiện Tâm, lúc đầu còn ngần ngại nhưng sau chẳng đặng thì đừng, hoá trang thành người anh họ giả hiệu lấy tên là Thuý Đại Thuý Đại hành
Trang 28động theo những tiêu chuẩn kinh tế vị kỷ Thiện Tâm xuất hiện dưới hai bộ mặt
thay đổi nhau, vừa là chính mình vừa là Thuý Đại Thuý Đại xây dựng một xưởng chế biến thuốc lá trong những điều kiện thiếu thốn và bắt buộc tất cả tất cả những người mà Thiện Tâm đã giúp đỡ phải làm việc cho y với một đồng lương đói rách Càng lúc, Thuý Đại càng có mặt nhiều hơn và bọn người bị hắn đàn áp và bóc lột – những kẻ mà trước kia Thiện Tâm đã từng giúp đỡ và cứu trợ - cuối cùng kéo nhau đi tố cáo Thuý Đại trước toá án mà các quan toà là các vị thần trong màn mở đầu, rằng Thuý Đại đã giết chết Thiện Tâm Vở kịch kết thúc mà vẫn chưa có một lời giải đáp, buộc khán giả phải tự suy ngẫm
Cũng như nhiều vở kịch khác, trong Người hảo tâm thành Tứ Xuyên,
Brêcht sử dụng nghệ thuật lạ hoá được biểu hiện trong xây dựng nhân vật, trong sự thể hiện xung đột và trong xây dựng kết cấu của tác phẩm Người viết xin đi trình bày những biểu hiện trên để từ đó rút ra nét độc đáo của nghệ thuật lạ hoá trong tác phẩm
2.1.1 Lạ hoá trong xây dựng nhân vật
Trong Về sân khấu nước ngoài - Tập 2 – Đình Quang viết: “Nói tới
nhân vật tức là nói tới một vấn đề mà bất cứ người đạo diễn hay diễn viên nào cũng đều luôn luôn phải nghĩ tới Người diễn viên dù già dặn hay non trẻ trong nghề cũng vậy, có lẽ không một ai khi bước vào ngưỡng cửa của nhà hát lại không nghĩ rằng mình tới đây để sáng tạo nhân vật, dựa vào nhân vật
để nói lên những gì ấp ủ, cần nhắn nhủ nhất với cuộc đời ”[12,tr.289]
Đúng thế, không biết sáng tạo nhân vật sân khấu thì không thể trở thành diễn viên, không biết giúp đỡ chỉ đạo diễn viên thai nghén, thể hiện nhân vật thì không thành đạo diễn!
Trang 29“Nhân vật! Đấy chính là đối tượng sáng tạo quan trọng nhất của nghệ thuật sân khấu nói riêng và nghệ thuật nói chung Không có sự hoạt động chân thực của những nhân vật thì không có cuộc sống Không có đấu tranh
và xung
đột giữa các nhân vật thì cũng không có mâu thuẫn của cuộc sống, do đó, không có vấn đề, không có chủ đề và cũng không có tư tưởng chủ đề Cho nên ta có thể khẳng định rằng, không có nhân vật tức là không có tất cả (hiểu theo nghĩa chân chính của nó)”[12,tr.290]
Nhà viết kịch, nhà đạo diễn, nhà cách tân sân khấu nổi tiếng B.Brêcht
đã kế thừa một cách sáng tạo những thủ pháp nghệ thuật của chủ nghĩa hiện thực trong việc xây dựng nhân vật Brêcht không hướng theo nghệ thuật điển hình hoá mà thiên về loại hình hoá nhân vật Sự thành công về nghệ thuật xây dựng nhân vật loại hình của Brêcht đã góp phần tạo khả năng phản ánh khái quát hiện thực rộng lớn của thể loại kịch tự sự
Trong cuốn Lí luận văn học, nhiều tác giả đã định nghĩa về nhân vật
loại hình: “Nhân vật loại hình là loại nhân vật thể hiện tập trung các phẩm chất xã hội, đạo đức của một loại người nhất định của một thời Đó là nhân vật nhằm khái quát cái chung về loại của các tính cách và nhờ vậy mà được gọi là điển hình Bêlinxki đã nhận xét: “Điển hình vừa là một người vừa là nhiều người, trên người anh ta bao quát rất nhiều người, nguyên cả một phạm trù người, thể hiện cùng một khái niệm”[7,tr.288]
Lạ hoá trong xây dựng nhân vật giữ một vai trò quan trọng trong kịch
tự sự của Brêcht và chi phối các thủ pháp nghệ thuật nhỏ lẻ như lạ hoá hình thức nhân vật, lạ hoá ngôn ngữ nhân vật và lạ hoá hành động của nhân vật Những thủ pháp nghệ thuật nhỏ lẻ này được người viết chứng minh ngay sau
đây qua vở Người hảo tâm thành Tứ Xuyên
2.1.1.1 Lạ hoá hình thức nhân vật
Trang 30“Hình thức nhân vật, nó bao gồm những gì thuộc về bề ngoài của nhân vật như diện mạo, dung nhan, tầm vóc cao thấp, hình thù gầy béo, đặc điểm hình thức như: mũi to, mắt lé, miệng méo, chân đi chư bát , thói quen ăn mặc, màu sắc, trang phục, dáng điệu, đặc điểm ngôn ngữ, giọng nói ”
[12,tr.326]
Hình thức là bộ phận quan trọng, nó kết hợp với bộ mặt xã hội, tâm lí (nội dung) mà tạo nên hình ảnh hoàn chỉnh của nhân vật Hiểu biết bộ mặt hình thức này sẽ giúp ta trong việc tính cách hoá nhân vật, một nhu cầu không thể thiếu trong diễn kịch hiện thực chủ nghĩa
Xưa nay các nhà đạo diễn khi thể hiện nhân vật kịch truyền thống trên sân khấu thường chú ý lựa chọn những diễn viên có hình thức phù hợp với diện mạo nhân vật và góp phần làm nổi rõ tính cách nhân vật Cho nên, sắm vai Ôtenlô, diễn viên phải thể hiện dũng khí của viên tướng da đen, phải cho thấy cái ghen tuông ghê gớm, man rợ của chàng Diễn Iagô phải thể hiện sắc xảo bộ mặt quỷ quệt của gã Iagô thuộc thời xa xưa, làm sống lại hình ảnh con rắn độc vô cùng nham hiểm này khiến khán giả phải căm ghét tới mức cuồng
nộ
Nếu các nhà đạo diễn sân khấu truyền thống chọn diễn viên phù hợp diện mạo và có khả năng thể hiện nhân vật như thật thì Brêcht ngược lại, chọn diễn viên khác biệt về hình thức hay tương phản với bộ mặt, tâm lí, tính cách nhân vật Brêcht thường chọn diễn viên trẻ đóng vai già, hiền đóng dữ, đẹp đóng xấu
Trong Người hảo tâm thành Tứ Xuyên, Brêcht xây dựng ngay từ màn
mở đầu (Một đường phố trong đô thị Tứ Xuyên) cảnh ba vị thần chu du xuống trần gian để tìm người hảo tâm Sự xuất hiện của các vị qua con mắt của bác Vương – người bán nước dạo: “Các vị béo tốt và không có vẻ bận rộn gì Cứ xem giày họ đầy bụi thì biết các vị đi từ rất xa đến” [2,tr.30] Theo
Trang 31quan niệm từ xưa đến nay, thần là lực lượng siêu tự nhiên có quyền lực tối cao Vậy mà ba vị thần sau một thời gian chu du thiên hạ, lần cuối cùng các
vị xuất hiện trong giấc mơ của người bán nước dạo, họ đã thay đổi rất nhiều Dấu vết của cuộc hành trình dông dài, sự mệt mỏi kiệt quệ của nhiều kinh nghiệm ác độc thậm chí rất đậm nét không thể nhầm lẫn: “Một vị thần thì mũ
bị rớt đi, một vị thì bỏ mất một chân nơi cái bẫy cáo, và cả ba đều đi chân không” [2,tr.300] (Màn giữa màn chín và màn mười) Qua việc lạ hoá hình thức các vị thần,
Brêcht muốn để khán giả tự nhận ra sự sa sút về kinh tế và đạo đức, là nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi không chỉ hình thức con người mà ngay những vị thần – vốn là đối tượng không có thật cũng biến đổi hình thức
Để tạo ra sự lạ hoá, Brêcht cũng đã xây dựng nhân vật Thiện Tâm có
sự đối lập giữa hình thức của một cô gái xinh đẹp và hình thức của anh chàng Thuý Đại lạnh lùng cùng trong một nhân vật thể hiện Như vậy, diễn viên đã không hoà theo nhân vật mà tách mình ra khỏi nhân vật, biết kết hợp giữa cái “tôi” – diễn viên với cái “tôi” - nhân vật
Diễn viên khi trình diễn Thiện Tâm hay Thuý Đại, khán giả vẫn nhận thức rõ ràng, người xuất hiện trên sân khấu là diễn viên chứ không phải là Thiện Tâm hay Thuý Đại Qua biểu diễn, diễn viên đã tự bộc lộ cho khán giả thấy nghệ sĩ đã hình dung về nhân vật ra sao Người diễn viên có quyền bộc
lộ thái độ vừa yêu thương vừa bực mình trước lòng tốt của Thiện Tâm hay sự lạnh lùng của Thuý Đại
Brêcht đã phát biểu rõ quan điểm của mình về vấn đề này : “Người diễn viên giống như một nhà nghệ thuật khác, chẳng hạn một người viết tiểu thuyết, có thể đưa sự phê phán xã hội vào tác phẩm của mình mà không huỷ hoại tác phẩm đó”
Trang 32Brêcht không chỉ lạ hoá hình thức nhân vật mà việc thể hiện ngôn ngữ nhân vật cũng được ông lạ hoá
2.1.1.2 Lạ hoá ngôn ngữ nhân vật
Trong Về sân khấu nước ngoài - Tập 2, Đình Quang viết: “Ngôn ngữ
là một trong những yếu tố quan trọng trong nghệ thuật biểu diễn Không có lời đối thoại, không dựa vào đối thoại thì kịch bản không còn là kịch bản, tuy
nó vẫn có thể nói lên được một cái gì và có giá trị nội dung nào đó, nhưng nó
sẽ không còn là kịch bản nữa mà chỉ là một hình loại văn học nào khác”[12,tr.376]
Có thể nói đối thoại là yếu tố chủ yếu của nhà viết kịch Muốn nói lên nội dung cuộc sống, nêu lên chủ đề và tư tưởng chủ đề, muốn đặt ra mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn, muốn gây ra các sự kiện hoặc tình tiết gì, muồn khắc họa nhân vật, mô tả tình cảnh quy định v.v… tất cả tác giả không có cách nào khác là thông qua hình thức đối thoại giữa các nhân vật của mình
Trong kịch không có nhân vật chuyên kể chuyện, cho nên không có ngôn ngữ của người kể chuyện Bên cạnh ngôn ngữ đối thoại, nhân vật trong kịch còn dùng ngôn ngữ độc thoại và bàng thoại Do đặc trưng của thể loại
mà nhân vật kịch phần lớn sử dụng ngôn ngữ đối thoại Tuy nhiên, B.Brêcht lại không thế, bằng nghệ thuật lạ hóa, ông đã sử dụng ngôn ngữ bàng thoại cho nhân vật của mình Trong ngôn ngữ bàng thoại, Brêcht dùng cả lời nói
và những lời bài hát, góp phần lạ hóa nhân vật
Trong Người hảo tâm thành Tứ Xuyên, Brêcht đã sử dụng rất nhiều
ngôn ngữ bàng thoại cho nhân vật của mình
Trước hết, nên hiểu thế nào là ngôn ngữ bàng thoại?
“Bàng thoại là lời nói riêng với khán giả Có khi đang đối đáp với một nhân vật khác, bỗng nhiên nhân vật tiến lên hướng về phía khán giả nói vài
Trang 33câu để giải thích cảnh ngộ, một tâm trạng, một điều bí mật Những lời giáo đầu trong tuồng, chèo của ta hay sử dụng loại ngôn ngữ này”[7,tr.410]
Sau khi khảo sát mười màn của vở Người hảo tâm thành Tứ Xuyên,
người viết đã thống kê được việc sử dụng ngôn ngữ bàng thoại của các nhân vật :
Nhân vật thể hiện ngôn ngữ
Qua bảng thống kê, ta thấy ngôn ngữ bàng thoại được phân bố đều khắp
và tập trung vào nhân vật chính Thiện Tâm Khi sử dụng ngôn ngữ cho nhân vật Thiện Tâm, Brêcht vừa để nhân vật nói, vừa để nhân vật hát, nhưng dùng lời hát nhiều hơn lời nói Không phải ngẫu nhiên mà Brêcht để cho Thiện Tâm làm chủ những khúc hát nhiều lần trong hầu hết các màn của vở kịch như vậy Đây là một dụng ý nghệ thuật đặc sắc của Brêcht làm nổi bật lên vai trò quan trọng của ngôn ngữ nhân vật
Thông thường trên sân khấu, khán giả chỉ thấy các nhân vật đối thoại với nhau hoặc đôi khi nhân vật tự nói một mình B.Brêcht đã lạ hóa nhân vật bằng cách để họ nói, hát như đối thoại với độc giả, khiến độc giả có cảm giác mình cũng tham gia vào vở kịch, đồng thời lại tự mình suy ngẫm, đánh giá, nhận xét nhân vật và vở kịch Mỗi một sự kiện, một biến cố vừa diễn ra ta lại thấy nhân vật cất lên lời hát với khán giả Những lời hát dường như vừa để giãi bày, vừa bộc lộ tâm sự của mình, từ đó tạo ra một hình thức độc đáo cho khán giả tiếp nhận, đón nhận và cảm thụ
Trang 34Thiện Tâm là nhân vật xuất hiện ngay từ màn mở đầu của vở kịch Cô
đã cho ba vị thần ngủ nhờ tại phòng mình mà đáng ra đêm đó cô phải tiếp khách để có đủ tiền sáng hôm sau trả nợ Bài hát đầu tiên mà Thiện Tâm cất lên là khi cô thấy gia đình tám người đến xin tá túc tại quán thuốc lá – sự trả
ơn của các vị thần Cô nói với khán giả:
“Họ thật nghèo khổ tội nghiệp
Không nhà không cửa xác xơ
Không bè chẳng bạn bơ vơ dọc đường
Lỡ làng xin chút đoái thương
Nỡ nào ngoảnh mặt nói không cho đành”[2,tr.46] Lời bài hát trên đây của Thiện Tâm cho thấy sự thông cảm, lòng thương người của cô, mặc dù những người này trước đây “Khi chút tiền của tôi vừa cạn thì họ đã tống tôi ra ngoài đường”[2,tr.46] Khán giả khi nghe bài hát trên không chỉ yêu quý Thiện Tâm vì lòng thương người của cô mà còn hiểu được tình cảnh của gia đình tám người, họ rơi vào bước đường cùng thật đáng thương nhưng họ là những con người thương không đáng
Ở sân khấu Brêcht, bài hát là một thủ pháp gián cách Hát và nói đều
là hai hình thức nghệ thuật đi theo nhau không theo quy luật phát triển nội tại
mà chỉ là hai hình thức khác nhau, xếp theo nhau theo dụng ý nghệ thuật và
để gián cách lẫn nhau Trước khi hát, nhân vật thường nói tên bài hát để căn
cứ vào đó, khán giả có thể phần nào hiểu trước được nội dung của toàn bộ bài hát, qua đó có thái độ đánh giá chân thực, khách quan
Trong Người hảo tâm thành Tứ Xuyên ở màn giữa hai màn bốn và
màn năm, Thiện Tâm xuất hiện, trong tay cầm chiếc mặt nạ và bộ quần áo của Thúy Đại và cất tiếng hát “Bài ca về sự yếu đuối của những vị thần và của những người hảo tâm”:
“Trong xứ chúng tôi
Trang 35Tại sao các thần không có xe tăng và đại bác
Chiến hạm phi cơ oanh tạc và đạn mìn
Đánh đổ kẻ ác và cứu giúp người hiền?
Được thế đời sẽ khá hơn cho ta và cho cả người”[2,tr.111]
Lời bài hát ngay từ tiêu đề đã cho thấy sự yếu đuối của người hảo tâm
và sự bất lực của các vị thần
Qua lời bài hát, Thiện Tâm mong muốn một xã hội không còn kẻ ác, những người hiền, người nghèo sẽ được giúp đỡ, từ đó con người sẽ có một cuộc sống tốt đẹp hơn
Nhưng ngay lập tức, Thiện Tâm lại hát:
“Ở đâu chén bát trống trơn, ở đấy cả bọn đói ăn cấu xé”[2,tr.111]
Đây chính là hiện trạng một xã hội còn quá nhiều người nghèo đói Ngay trong một cảnh, cũng một diễn viên nhưng lại xuất hiện dưới hai hình dáng khác nhau Lúc đầu là cô Thiện Tâm, về sau là anh chàng Thúy Đại Ngôn ngữ của nhân vật Thiện Tâm thể hiện tình yêu thương của con người, lòng hảo tâm của cô Còn ngôn ngữ của Thúy Đại cho thấy đây là một nhân vật có tính cách kiên quyết lạnh lùng, thậm chí tàn nhẫn:
“Để kiếm được bữa cơm trưa
Phải cần nhiều cứng rắn”
“Nếu không đạp đổ mười hai kẻ khó