1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật gây cười trong hài kịch của uyliam sêcxpia

66 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 610,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với vai trò là một sinh viên ngành sư phạm Ngữ văn, khi lựa chọn đề tài nghiên cứu về hài kịch Uyliam Sêcxpia, người thực hiện mong muốn có cái nhìn sâu sắc hơn về nhà soạn kịch lừng dan

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1.Lí do chọn đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4 Mục đích nghiên cứu 10

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 10

6 Phương pháp nghiên cứu 10

7.Cấu trúc của khoá luận 11

NỘI DUNG 12

Chương 1: Những vấn đề chung 12

1.1.Cái hài 12

1.1.1 Khái niệm 12

1.1.2 Cái hài trong nghệ thuật 13

1.2 Hài kịch 13

1.2.1 Khái niệm kịch và kịch bản văn học 13

1.2.2 Khái niệm hài kịch 15

1.2.3 Hài kịch của Uyliam Sêcxpia 16

1.3 Nghệ thuật gây cười 18

Chương 2: Nghệ thuật gây cười trong hài kịch của Uyliam Sêcxpia 21

2.1 Nghệ thuật gây cười qua xây dựng nhân vật 21

Trang 2

2.1.1 Nghệ thuật gây cười qua xây dựng ngôn ngữ nhân vật 22

2.1.1.1 Sử dụng lộng ngữ (chơi chữ) 22

2.1.1.2 Sử dụng ngôn từ hoa mĩ, ngôn từ "trật khớp" 30

2.1.2 Nghệ thuật gây cười qua xây dựng hành động nhân vật 34

2.1.3 Nghệ thuật gây cười qua xây dựng tính cách nhân vật 41

2.2 Nghệ thuật gây cười qua xây dựng tình huống 49

2.2.1 Tạo tình huống nhầm lẫn 49

2.2.2 Tạo tình huống bất ngờ, ngẫu nhiên 57

2.3 Hiệu quả của nghệ thuật gây cười của Uyliam Sêcxpia 61

2.3.1 Hiệu quả thư giãn, giải trí 64

2.3.2 Hiệu quả thanh lọc, tẩy rửa tâm hồn 65

2.3.3 Hiệu quả tống tiễn quá khứ một cách vui vẻ 66

2.3.4 Hiệu quả nhận thức 63

KẾT LUẬN 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Uyliam Sêcxpia (William Shakespeare, 1564 – 1616) là nhà thơ, nhà

soạn kịch vĩ đại, người đại diện tiêu biểu nhất cho văn đàn nước Anh thời Phục hưng Ông đã để lại cho nhân loại một số lượng tác phẩm đồ sộ Ngoài hai bản trường ca “Vênux Ađônix”, 1593, “Lucrex”, 1594 và một tập thơ trữ tình gồm 154 bài Xonnê, ông chủ yếu sáng tác kịch Trong khoảng 20 năm (1590 – 1611), ông đã viết và cho biểu diễn 37 vở gồm cả thể loại kịch lịch

sử, bi kịch và hài kịch Những vở kịch của ông có giá trị nội dung và nghệ thuật sâu sắc Riêng về hài kịch, Sêcxpia được thừa nhận là “một bậc thầy khó sánh” Ông có một phong cách hài kịch rất riêng và rất độc đáo Nghiên cứu, tìm hiểu về các tác phẩm của Sêcxpia nói chung và hài kịch nói riêng là công việc rất có ý nghĩa về lí luận và thực tiễn

Có thể nói Sêcxpia là một tác gia quan trọng trong nền văn học nhân loại Tác phẩm của ông được đưa vào nghiên cứu, giảng dạy ở các viện nghiên cứu văn học, các trường Đại học, cao đẳng, các học viện sân khấu điện ảnh…ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11, tập 1 hiện nay, học sinh cũng được học kịch gia thiên tài này với đoạn trích “Tình yêu và thù hận” (Trích “Rômêô và Juliet”) Với vai trò là một sinh viên ngành sư phạm Ngữ văn, khi lựa chọn đề tài nghiên cứu về hài kịch Uyliam Sêcxpia, người thực hiện mong muốn có cái nhìn sâu sắc hơn về nhà soạn kịch lừng danh này để phục vụ cho công việc học tập cũng như giảng dạy của bản thân trong tương lai

Trang 4

Trong suốt hơn ba thế kỉ qua, những vấn đề về Sêcxpia và các tác phẩm của ông đều đã được nghiên cứu khá đầy đủ và toàn diện Nhưng chúng tôi nhận thấy một điều rằng những bài nghiên cứu ấy mới chỉ tập trung vào một

số khía cạnh như: ca ngợi tài năng nhiều mặt của Sêcxpia, khái quát các mảng

đề tài, nội dung của các tác phẩm của ông, chỉ ra đặc trưng bút pháp mà ông

sử dụng trong khi viết các vở kịch và các bài viết riêng lẻ về một tác phẩm, một nhân vật nào đó của Sêcxpia Về hài kịch cũng chỉ thấy các bài nghiên cứu về từng tác phẩm cụ thể, chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu về nghệ thuật gây cười trong các vở hài kịch của Sêcxpia

Từ những điều nói trên, người viết mạnh dạn triển khai đề tài: “Nghệ

thuật gây cười trong hài kịch của Uyliam Sêcxpia”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nhắc đến nền văn học Châu Âu thời kì Phục hưng thế kỉ XV – XVI, chúng ta có thể nhớ ngay tới các tác giả vĩ đại, nổi tiếng như : Đăngtơ, Pêtơrac, Bôcaxiô (Italia), Rabơle, Môngtenhơ (Pháp), Xecvăngtex (Tây Ban Nha)…Trong đó không thể không kể tới tên tuổi của nhà viết kịch vĩ đại người Anh Uyliam Sêcxpia

Cùng với những nhân vật bất tử của mình, cái tên Sêcxpia đã trở thành cái tên được giới nghiên cứu, phê bình tốn nhiều giấy mực nhất để đề cập tới Biết bao danh nhân đã hết lời ca ngợi và khẳng định tài năng cũng như tầm ảnh hưởng của Sêcxpia không chỉ với nền kịch trường thế giới mà còn với cả nền văn chương nhân loại

Người cùng thời với Sêcxpia ca ngợi ông là “Nhà thơ giọng lưỡi ngọt

ngào”, là “Thiên nga sông Evơn”, là “người vung ngọn giáo” làm “náo động kịch trường” Ben Jônxơn – nhà viết kịch nổi tiếng của nước Anh – sau khi

Trang 5

Sêcxpia mất đã khẳng định “Sêcxpia không chỉ thuộc về thời đại mình, ông là

người của muôn đời” [2; 196].

Sang thế kỷ XVIII, thiên tài Sêcxpia càng được khẳng định khi Gơt đã

đưa ra nhận xét sau : “Tôi không nhớ có quyển sách nào, hay có biến cố nào

trong đời sống của tôi lại gây cho tôi một ấn tượng mãnh liệt như là những vở kịch của Sêcxpia … Đó không phải là tác phẩm thơ nữa, khi đọc nó, người ta

sợ hãi, thấy trước mắt là quyển sách của vận mệnh con người và người ta

Tới thế kỉ XIX, Sêcxpia thực sự trở thành cái tên được nói tới nhiều nhất, được nghiên cứu, ca ngợi nhiều nhất Ăngghen đã bày tỏ một cách thẳng thắn thái độ ủng hộ Sêcxpia của mình Trong thư gửi Mac ngày 19 / 12 /

1873, ông viết : “Nhưng chỉ một màn thứ nhất của “Những bà vợ vui vẻ ở

Uynxo” cũng đủ thấy có nhiều sinh động và nhiều thực tế hơn là toàn bộ văn học Đức : chỉ riêng Laoxơ và con chó nhỏ Krap của anh ta cũng hay hơn toàn bộ các hài kịch Đức cộng lại” [9; 35].

Và theo Mêrinh “hình ảnh mãnh liệt của Sêcxpia là một đối tượng được gia đình Mac tôn thờ” Sêcxpia thuộc vào số ba nhà văn mà Mac thích nhất (hai người kia là Etsin và Gơt) Chính Mac và Ăngghen đã đưa ra khái niệm

“Sêcxpia hoá” Trong bức thư viết ngày 16 / 4 / 1859 gửi Latxan để nhận xét

vở kịch “Phranxơ phôn Xichkinhghen” của ông ta, Mac viết : “Rõ ràng là lúc

ấy anh nên Sêcxpia hoá hơn nữa, còn bây giờ đây thì tôi nhận định rằng khuyết điểm lớn nhất của anh là Sile hoá, tức biến nhân vật thành ra chỉ là những phát ngôn của tinh thần thời đại” [7; 180].

Đại văn hào Pháp V Huygô đã dụng công khắc hoạ một bức tượng đài

Sêcxpia từ chính các vở kịch của ông : “Có pháo đài nào vững chãi bằng

Trang 6

Câu chuyện mùa đông, Bão táp, Những người vợ vui vẻ ở Uynxơ, Hai chàng công tử thành Vêrôn, Juliut Xêđa, Côriôrađô ? Có pháo đài nào hùng vĩ hơn Vua Lia, Romeo và Juliet, mênh mang hơn Risơt đệ tam ? Có mặt trăng nào rọi vào đó ánh sáng huyền ảo hơn Giấc mộng đêm hè ? Còn kinh thành nào, ngay cả Luân Đôn, tạo được xung quanh một không khí náo nhiệt phi thường hơn sự náo nhiệt của tâm hồn trong Măcbet ? Có cái sào nào bằng sến hay bằng lim bền vững hơn Ôtenlô ? Có thứ thép nào bằng Hămlet ? Và tóm lại, có cái tháp nào cao được bằng ngay chính bản thân Sêcxpia?” [7; 159]

Nhà lí luận văn học người Nga Biêlinxki cũng dành cho Sêcxpia những

lời ngợi ca nồng nhiệt nhất “Sêcxpia là thiên tài lớn nhất trong những người

sáng tạo, nhà thơ tuyệt diệu nhất, cái đó không ai còn hồ nghi nữa… Sêcxpia siêu việt, vô địch kia đã bao quát cả địa ngục, trần gian và thiên đường ; đây quả là vị chúa tể của tự nhiên Ông đã bắt cái thiện cũng như cái ác phải nạp cống và trong cái nhìn của ông, ông đã thấy mạch máu của vũ trụ đập mạnh Mỗi vở kịch của ông là một vũ trụ thu nhỏ” [7; 181]

“Mặt trời của thi ca Nga” – A.X Puskin cũng ghi nhận giá trị của

những tác phẩm do Sêcxpia sáng tác : “Đứng trên cái đỉnh không ai đạt

được”, làm thành “đối tượng vĩnh viễn để ta nghiên cứu và ngây ngất” [9;

141] Puskin cũng là người học tập thành công nhất “nguyên tắc kịch” của Sêcxpia khi ông sáng tác vở bi kịch lịch sử “Bôrit Gôđunôp”

Sang thế kỉ XX, M Gorki đã tiếp thu, vận dụng phương pháp viết kịch

của Sêcxpia vào việc xây dựng nền văn hoá Xã hội chủ nghĩa : “Vị thầy của

chúng ta, nhà hoạt động, nhà xây dựng thế giới mới phải là nhân vật chính của kịch hiện đại Và để miêu tả nhân vật này, với một sức mạnh cần thiết thì

Trang 7

phải học cách viết kịch của những bậc thầy trước kia không ai vượt qua nổi

mà trước hết là Sêcxpia” [9; 42]

Còn nhà nghiên cứu văn học Anixt thì tiếp tục khẳng định vị trí của các

tác phẩm của Sêcxpia đối với đời sống hiện tại: “Sêcxpia cần thiết cho thời

đại chúng ta, tác phẩm của ông làm những con người thế kỉ XX vui sướng, say sưa, cảm động và thúc đẩy họ suy nghĩ … Nó đã vào trong đời sống chúng ta làm thành một yếu tố quan trọng của đời sống văn hoá hiện đại”

Và cho đến tận ngày nay, Sêcxpia cùng các sáng tác của ông vẫn luôn chiếm được sự quan tâm, nghiên cứu, phê bình của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều học giả của nhiều nước trên thế giới

Ở Việt Nam, Sêcxpia cùng các tác phẩm của ông tới với độc giả khá muộn nhưng điều đó không làm hạn chế việc nghiên cứu Sêcxpia của giới phê bình, học thuật Việt Nam Đã có nhiều công trình nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp của Sêcxpia được xuất bản Dưới đây là thống kê những công trình nghiên cứu về Sêcxpia và những vở hài kịch của ông tại Việt Nam

Trong cuốn giáo trình Văn học Phương Tây, tác giả Lương Duy Trung

đã nhận xét Sêcxpia là một “cây bút hài kịch hiếm có” Trong bài viết này Lương Duy Trung đã cung cấp số lượng các vở hài kịch của Sêcxpia, mục đích sáng tác, một vài đặc điểm về nội dung và nghệ thuật trong các vở hài kịch của Sêcxpia Bên cạnh đó, ông còn tóm tắt nội dung chính và nêu một

vài nhận xét, đánh giá về một số vở hài kịch như : Hài kịch của những hiểu

lầm, Công cốc vất vả với tình, Giấc mộng đêm hè, Đêm thứ mười hai,Chàng thương gia thành Vơnidơ

Trong lời giới thiệu cuốn Tuyển tập tác phẩm William Shakespeare, tác

giả Nhữ Thành trình bày bối cảnh mà Sêcxpia sống, con người Sêcxpia, quá

Trang 8

trình sáng tác các vở kịch, tư tưởng, nghệ thuật và phong cách của Sêcxpia

Cụ thể, trong phần quá trình sáng tác các vở kịch, mục Các vở hài kịch, Nhữ Thành cũng đã thống kê các vở hài kịch của Sêcxpia, tập trung phân tích: chủ

đề của hài kịch Sêcxpia là: “ca ngợi sự thắng thế của tư tưởng nhân đạo đối

với những thành kiến Trung cổ Đó là lời ca ngợi sự xuất hiện của con người mới, tự do, sung sướng” Cùng với đó là chủ đề “chế nhạo cảnh tan rã của chế độ phong kiến phân quyền” Ngoài ra, tác giả Nhữ Thành cũng đưa ra

một số nhận xét về hài kịch Sêcxpia: “Hài kịch Sêcxpia đã dạy cho chúng ta

biết con người có thể tự do và sung sướng như thế nào nhưng con người chỉ biết thưởng thức đầy đủ những vở kịch đấy khi họ thực sự tự do và sung sướng…”[9; 18 - 19]

Còn trong cuốn Từ điển Văn học, 2004, Nxb Thế giới, tác giả Nguyễn

Văn Khoả trình bày chi tiết về cuộc đời và sự nghiệp của Sêcxpia, đánh giá

“Sêcxpia là tác gia tiêu biểu cho văn học thời đại Phục hưng ở nước Anh và Châu Âu Ông cũng là một trong số những nhà soạn kịch lớn trên thế giới xưa nay” Về hài kịch, cuốn Từ điển Văn học có cung cấp nội dung của vở

“Chàng thương gia ở Vơnidơ” và coi đây là vở kịch của “sự chiến thắng của

chủ nghĩa nhân văn - của tình yêu tự do và trong sáng, tình bạn cao thượng

ở việc tóm tắt nội dung chính, đánh giá một cách đơn lẻ về nội dung, nghệ

Trang 9

thuật của từng vở kịch của Sêcxpia mà chưa có sự khái quát, đánh giá tổng hợp về thủ pháp nghệ thuật hài kịch của kịch gia vĩ đại này

Như vậy, những lời phát biểu, những bài viết, những công trình nghiên cứu của các danh nhân, các nhà văn, nhà thơ, của các nhà nghiên cứu lí luận phê bình văn học trong và ngoài nước mà chúng tôi vừa dẫn trên đây đều tập trung ca ngợi tài năng hiếm có của nhà soạn kịch lỗi lạc nhất nước Anh thế kỉ XVI – XVII, Sêcxpia, cũng như ca ngợi tính thời sự, tính bất tử và tầm ảnh hưởng của những tác phẩm của ông tới nền văn học nhân loại Cũng có nhiều bài viết, bài nghiên cứu về hài kịch của Sêcxpia nhưng nhìn chung, như trên

đã nói, các bài viết này mới chỉ mang tính chất giới thiệu về nội dung, đánh giá đôi nét về nghệ thuật trong từng vở…Chưa thấy một công trình nào đi sâu vào nghiên cứu nghệ thuật đặc sắc trong các vở hài kịch của Sêcxpia Vấn đề

“Nghệ thuật gây cười trong hài kịch của Uyliam Sêcxpia” còn là một vấn đề

cần được nghiên cứu, tìm hiểu kĩ Đây cũng chính là đề tài mà người viết lựa chọn để triển khai trong khoá luận tốt nghiệp này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Tìm hiểu, khảo sát các vở hài kịch của Uyliam Sêcxpia, chủ yếu tập trung vào

4 vở:

1 Giấc mộng đêm hè

2 Có gì đâu mà rộn

3 Đêm thứ mười hai

4 Người lái buôn thành Vơnidơ

Trang 10

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện, người viết cũng có tham khảo một số

vở hài kịch khác của Sêcxpia cũng như đối sánh với một số tác phẩm của các nhà viết kịch khác

4 Mục đích nghiên cứu

Từ việc tìm hiểu các khái niệm: Cái hài, Hài kịch, Nghệ thuật gây cười, chúng tôi muốn nghiên cứu, làm nổi bật nghệ thuật gây cười trong hài kịch của nhà soạn kịch vĩ đại Uyliam Sêcxpia Qua đó góp phần có cái nhìn sâu sắc, tổng thể hơn về nghệ thuật hài kịch của ông

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trình bày được những khái niệm liên quan đến nghệ thuật gây cười trong hài kịch

- Phân tích, làm nổi bật nghệ thuật gây cười đặc sắc trong hài kịch của Uyliam Sêcxpia

6 Phương pháp nghiên cứu

Trang 11

7 Cấu trúc của khoá luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khoá luận được triển khai thành hai chương

- Chương 2: Nghệ thuật gây cười trong hài kịch của Uyliam Sêcxpia

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Cái hài

1.1.1 Khái niệm

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “Cái hài là một phạm trù mĩ học phản

ánh một hiện tượng phổ biến của thực tế đời sống vốn có khả năng tạo ra tiếng cười ở những cung bậc và sắc thái khác nhau Đó là sự mâu thuẫn, sự không tương xứng mà người ta có thể cảm nhận được về phương diện xã hội - thẩm mĩ (chẳng hạn hình thức với nội dung, hành động với tình huống, mục đích và phương tiện, bản chất và biểu hiện…) Trong đó, hoặc là chính bản thân mâu thuẫn hoặc là một trong những mặt của nó đối lập đối với lí tưởng thẩm mĩ cao đẹp” [6; 42]

Từ điển văn học cũng ghi nhận : “Cái hài là một trong những phạm trù

mĩ học căn bản xác định giá trị thẩm mĩ thông qua việc phát hiện tính mâu thuẫn có ý nghĩa xã hội của thực tại và thông qua thái độ phê phán đối với tính mâu thuẫn ấy, xuất phát từ lý tưởng thẩm mĩ” [11; 198]

Secnưsepxki, nhà văn, nhà tư tưởng Nga định nghĩa: “Cái hài là sự

trống rỗng và sự vô nghĩa bên trong được che đậy bằng một cái vỏ huênh hoang tự cho rằng có nội dung và ý nghĩa thực sự”

Mĩ học hiện đại tiếp tục khẳng định: “Cái hài là một bộ phận của cái

xấu nhưng lại không đành phận xấu, các bộ phận xấu này lại núp dưới bóng cái đẹp, và cái đẹp trong một trình độ phát triển mới lại chính là nguồn sáng cực mạnh để phơi bày cái bộ phận xấu ấy ra và đuổi cổ nó ra khỏi vương quốc của mình, để mọi người phân biệt đen trắng cho rõ ràng Khi cái đẹp bị

Trang 13

cái xấu lấn át và vùi dập thì xuất hiện cái bi Nhưng khi cái đẹp đủ sức lột trần bộ mặt gian dối của cái xấu, lúc đó mới xuất hiện cái hài” [4; 116]

Cái hài có nhiều loại, nhiều cung bậc và mang những sắc thái khác nhau như: hài hước, dí dỏm, châm biếm, mỉa mai, đả kích

Như vậy, tuy hình thức phát biểu có khác nhau nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều có sự thống nhất cao khi nhận định về cái hài, coi nó là một phạm trù mĩ học, và bản chất của cái hài chính là sự mâu thuẫn, đối lập của các hiện tượng xã hội – thẩm mĩ

1.1.2 Cái hài trong nghệ thuật

“Cái hài là đặc tính vốn có của đời sống thực tại: mọi lúc, mọi nơi đều đầy dẫy những cái có thể gây cười” [11; 199] Cái hài trong nghệ thuật là sự

phản ánh, khám phá, sáng tạo cái hài trong thực tế Tuỳ theo những đặc điểm, đặc thù của chất liệu mà mỗi loại hình nghệ thuật sẽ có những khả năng riêng trong việc thể hiện cái hài Chất lượng của hình tượng hài kịch còn phụ thuộc vào tài năng mỗi cá nhân nghệ sĩ So với các loại hình nghệ thuật khác thì sân khấu, văn chương và phim nghệ thuật là các loại hình nghệ thuật có khả năng

và ưu thế hơn cả trong thể hiện cái hài Riêng loại hình sân khấu có hẳn một thể loại hài kịch chuyên dùng để diễn tả, phản ánh phạm trù mĩ học này

1.2 Hài kịch

1.2.1 Khái niệm kịch và kịch bản văn học

Trước hết, cần tìm hiểu kịch là gì

Theo Từ điển tiếng Việt thì: “Kịch là nghệ thuật dùng sân khấu trình

bày hành động và đối thoại của các nhân vật, để phản ánh những xung đột trong đời sống xã hội” [5; 552]

Trang 14

Từ điển thuật ngữ văn học nhấn mạnh khái niệm kịch được dùng theo

hai cấp độ: “Ở cấp độ loại hình, kịch là một trong ba phương thức cơ bản của

văn học (kịch, tự sự, trữ tình) Kịch vừa thuộc sân khấu vừa thuộc văn học

Nó vừa để diễn là chủ yếu lại vừa để đọc vì kịch bản là phương diện văn học của kịch Song nói đến kịch là phải nói đến sự biểu diễn trên sân khấu của các diễn viên bằng hành động, cử chỉ, điệu bộ và bằng lời nói,…

Ở cấp độ thể loại, thuật ngữ kịch (đram) được dùng để chỉ một thể loại văn học – sân khấu có vị trí tương đối với bi kịch và hài kịch – với ý nghĩ này, kịch cũng còn gọi là chính kịch (hoặc kịch đram)” [6; 167 - 168]

Trong cuốn Nghệ thuật thi ca, Arixtôt cũng đưa ra định nghĩa về kịch:

“Kịch là sự mô phỏng một hoạt động quan trọng và trọn vẹn có quy mô nhất định nhờ vào ngôn ngữ, … bằng hành động chứ không phải bằng câu chuyện

kể bi thảm qua cách (khêu gợi lên) sự xót thương và sợ hãi, thực hiện sự thanh lọc cảm xúc tương tự” [1; 27]

Như vậy, kịch là loại hình vừa thuộc sân khấu vừa thuộc văn học Nhưng ở đây, chúng tôi chỉ nghiên cứu kịch với tư cách là kịch bản văn học

Kịch bản văn học mang những đặc điểm của loại tự sự vì nó hướng về cuộc sống khách quan, qua cốt truyện và nhân vật dựng lên những bức tranh

xã hội Nhưng kịch bản viết ra chủ yếu để diễn, cho nên nó liên quan chặt chẽ tới nghệ thuật sân khấu Khi phản ánh cuộc sống, kịch chú trọng vào những mâu thuẫn và những căng thẳng trực tiếp hoặc gián tiếp dẫn đến cuộc đấu tranh nhất định Các nhân vật đều được xây dựng đặc biệt và duy nhất bằng ngôn ngữ của họ, tức là bằng những lời ăn tiếng nói của họ chứ không phải bằng ngôn ngữ kể chuyện, miêu tả của tác giả Tính cách nhân vật bộc lộ qua những đối thoại, độc thoại và bức tranh chuyển động dần dần hiện rõ Vì chủ

Trang 15

yếu nhằm thể hiện mâu thuẫn và xung đột nên cốt truyện của kịch vừa tập trung vừa diễn biến theo một nhịp độ gấp rút Các thành phần như thắt nút, cao trào, mở nút thường rõ ràng hơn so với trong tiểu thuyết Vì thời gian diễn xuất không thể kéo dài nên dung lượng một vở kịch thường không kéo dài hơn một truyện vừa

“Có nhiều cách phân loại kịch theo nhiều theo tiêu chuẩn khác nhau Nhưng cách phân loại phổ biến nhất là theo tính chất của các loại hình xung đột: bi kịch, hài kịch, chính kịch,…” [8; 412]

1.2.2 Khái niệm hài kịch

Từ điển tiếng Việt định nghĩa như sau về hài kịch: “Kịch dùng hình thức gây cười để chế giễu hoặc đả kích những thói xấu, những biểu hiện tiêu cực trong xã hội” [5; 417]

Các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: “Hài kịch là thể

loại kịch, trong đó tính cách, tình huống và hành động được thể hiện dưới dạng buồn cười hoặc ẩn chứa cái hài nhằm giễu cợt, phê phán cái xấu, cái lố bịch, cái lỗi thời để tống tiễn nó một cách vui vẻ ra khỏi đời sống xã hội” [6;

137]

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân trong Từ điển văn học cũng ghi nhận:

“Hài kịch là một thể loại kịch, trong đó các tính cách, các tình huống và hành động được trình bày dưới hình thức cười cợt hoặc thấm đẫm chất hài

Ở châu Âu, trước chủ nghĩa Cổ điển, hài kịch chỉ những tác phẩm ngược với bi kịch và nhất thiết phải có một kết thúc vui vẻ (có hậu)

Hài kịch trước hết nhằm vào việc cười nhạo cái xấu (cái không xứng đáng, cái đối lập với lý tưởng hoặc chuẩn mực xã hội) Ở các nhân vật hài

Trang 16

kịch, phẩm chất bên trong không tương xứng với vị trí thâm phận của nó và

do vậy nó đáng là nạn nhân của tiếng cười” [11; 565]

Hài kịch ra đời rất sớm, gần như đồng thời với bi kịch Arixtôphan (khoảng 445 – khoảng 385 tr.CN) – Nhà viết kịch Hi Lạp được coi là cha đẻ của hài kịch Trên nền kịch trường thế giới, Môlie (1622 – 1673) và Sêcxpia được coi là những nhà hài kịch xuất sắc nhất

1.2.3 Hài kịch của Uyliam Sêcxpia

Sêcxpia viết khá nhiều hài kịch Có những hài kịch vui tươi rộn ràng từ đầu chí cuối, có những hài kịch trong đó cái vui xen lẫn cái buồn Có thể kể tới các vở như:

+ Hài kịch của những hiểu lầm

+ Cô nàng đáo để đã thuần rồi

+ Hai chàng công tử ở Vêrôna

Trang 17

Chủ đề trung tâm của hài kịch Sêcxpia là sự chiến thắng của tình yêu trước mọi trở lực Chiến thắng đó bắt nguồn từ niềm vui khoái lạc của tinh thần luyến mộ trần thế mãnh liệt vừa trỗi dậy trong tâm thức thời Phục hưng

mà suốt thời Trung cổ nó đã bị vùi dập bởi những tư tưởng khổ hạnh, chối bỏ trần thế Hài kịch Sêcxpia cũng lên án tất cả những gì phản tự nhiên, những thành kiến cổ hủ lạc hậu áp chế cảm xúc con người Ngoài ra, nó còn tố cáo tác hại của đồng tiền

Nhân vật chính của các vở hài kịch là các chàng trai, thiếu nữ điển hình cho con người Phục hưng, đầy nhiệt huyết, trí tuệ sắc sảo, ước mơ độc lập Tình yêu, trí tuệ và lòng chung thủy là năng lượng cực mạnh giúp họ chiến thắng điều ác và mọi nghịch cảnh Các đề tài mà Sêcxpia đã khai thác như : Quyền tự do lựa chọn bạn đời, sự bình đẳng nam nữ, vẻ đẹp của tình yêu, sự hấp dẫn về dung mạo Các nhân vật nữ cũng tỏ ra tích cực trong việc bảo vệ hạnh phúc của mình Ngoài ra, các vai hề cũng vô cùng quan trọng trong các

vở kịch này Họ đều là những kẻ xuất thân từ các tầng lớp dưới của xã hội, đã mạnh dạn phê phán, chế giễu những thói xấu của tầng lớp trên Các vai hề tượng trưng cho lý trí lành mạnh của nhân dân

Thiên nhiên và văn học dân gian Anh cũng để lại những dấu ấn sâu đậm trong các hài kịch của Sêcxpia qua các bài hát dân gian, tục ngữ, truyện cười, những truyền thuyết về thần tiên, ma quỷ trong rừng, Ngôn ngữ hài kịch sinh động, biến chuyển theo tình huống: từ lời nói lịch sự chốn cung đình đến những lời bông đùa thô tục trên đường phố

“Sêcxpia thường mượn các cốt truyện nước ngoài của các nhà văn

Italia, Pháp, Tây Ban Nha, của các nhà văn La Mã cổ đại Ông vận dụng các thủ pháp quen thuộc của kịch bác học và của kịch hề dân gian Ông chịu ảnh hưởng của nhà hài kịch La Mã cổ đại Plôt Ông cũng tiếp thu cái hay của

Trang 18

Grin và Lyly – những người đồng hương của ông Tóm lại, ông đã học tập và tiếp thu tất cả những gì ông cần để xây dựng nên một loại hài kịch mới mẻ về nội dung và hình thức, mang phong cách của riêng ông” [2; 203] Để có được

những vở hài kịch đặc sắc, mang lại tiếng cười, niềm vui cho người đọc, người xem, người nghệ sĩ phải rất dụng công trong việc sáng tạo hình tượng nghệ thuật Muốn các vở hài kịch của mình sống lâu trong lòng khán giả, người viết kịch phải có tài năng, có thủ pháp nghệ thuật riêng, độc đáo, đó chính là nghệ thuật gây cười của từng kịch gia

1.3 Nghệ thuật gây cười

Trong cuộc sống không thể thiếu tiếng cười Người ta thường nói:

“Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ” là để nhấn mạnh vai trò, tác dụng của tiếng cười đối với đời sống con người Có nhiều dạng thức cười: cười sinh

lý và cười tâm lý Cũng có nhiều cách thức để gây cười tuỳ vào cách mà người ta lựa chọn Khi bị cù, khi trong lòng cảm thấy sung sướng, thoả mãn, người ta có thể cười Đó là cái cười thiên về bản năng, sinh lý Cái cười mang tính hài đòi hỏi, trước hết phải có một đối tượng cười, tức là cái có thể gây cười, và bị cười Vậy những gì có thể gây cười? Trong cuộc sống có rất nhiều hiện tượng có thể gây cười, mỗi thứ một vẻ, hết sức đa dạng Song nói chung, những cái gây cười, xét về bản chất, là cái có mâu thuẫn, hiểu như là sự đối lập không cân xứng, không hài hoà Khái quát lại, đó có thể là mâu thuẫn giữa hình thức và nội dung, giữa bộ phận với toàn thể, giữa ý nghĩ và phương tiện, giữa ước muốn và khả năng thực tế, giữa cái được phép và không được phép, quen và không quen, bình thường và không bình thường

Có cái có thể gây cười rồi (đối tượng) lại còn phải có chủ thể cười Bản thân đối tượng cười không thể gây nên tiếng cười nếu chủ thể không nhận thức được những mâu thuẫn chứa đựng trong nó Điều này giải thích vì sao có

Trang 19

người xem tranh vui, đọc truyện cười mà vẫn không cười, đến lúc hiểu ra thì mới cười Cái cười, do vậy là một kiểu nhận thức Đặc điểm của nhận thức gắn với tiếng cười là sự khám phá một số loại mâu thuẫn nào đó trong sự vật, hiện tượng và quan sát chúng ở một bình diện nào khác, từ một phía khác, từ góc độ của cái buồn cười Nhà hài kịch nổi tiếng người Pháp Môlie đã làm rất

tốt điều này “Sự tinh tế, nhạy cảm của nhà tư tưởng sâu sắc, của người nghệ

sĩ tài ba đã giúp cho Môlie, trong khi quan sát cuộc sống, đã phát hiện ra khía cạnh hài hước trong các hiện tượng, tính cách – kể cả những đối tượng

có vẻ trang trọng, tôn nghiêm, đáng kính nhất” [2; 294]

Như trên đã nói, có rất nhiều cách thức để gây cười Tuỳ vào từng loại hình nghệ thuật mà có những cách thức riêng (có tranh biếm hoạ, truyện cười, thơ trào phúng, thơ hài, nhạc hài, xiếc hài,…) Về hài kịch, người nghệ sĩ có thể vận dụng tổng hợp các thủ pháp nghệ thuật để đem lại tiểng cười cho khán giả Nhưng quan trọng hơn cả là thủ pháp xây dựng các yếu tố: ngôn ngữ gây cười, hành động gây cười, tính cách gây cười, tình huống gây cười,… Mỗi kịch gia có một sở trường riêng, một thế mạnh riêng trong việc vận dụng các thủ pháp nghệ thuật để gây cười Sự vận dụng, sáng tạo các biện pháp gây cười đạt đến độ thuần thục, điêu luyện, có chất lượng, có giá trị… sẽ hình thành nên phong cách hài kịch, gọi là nghệ thuật gây cười của từng tác giả

Trong nền sân khấu Việt Nam có nhiều vở tuồng, vở chèo mang lại tiếng cười sảng khoái cho nhân dân lao động như các vở tuồng: “Nghêu, Sò,

Ốc, Hến”, “Trương đồ nhục”, các vở chèo: “Từ Thức”, “Chu Mãi Thần”… Riêng trong nghệ thuật Chèo, người nghệ sĩ dân gian tập trung thể hiện tiếng cười qua nhân vật hề gọi là hề chèo Hề chèo là tên gọi chung các loại vai hề trong nghệ thuật chèo Hề chèo phân ra làm hai loại: hề áo ngắn và hề áo dài

Hề áo ngắn gồm những chú hề mặc áo ngắn, quần thêm một cái xiêm màu sắc

Trang 20

sặc sỡ, hoá trang nghịch ngợm nhưng sạch sẽ, thường đi theo một thư sinh hay một ông quan, bao giờ cũng thắng thầy qua những trận đấu khẩu hài hước

và trí tuệ Hề áo dài, gồm những vai hề như phù thuỷ, thầy bói, thầy đồ,… Thủ pháp gây cười của hề áo dài lại là tự chế giễu, tự châm biếm, tự phơi trần bản chất lừa bịp của mình bằng những hành động, những lời bộc bạch hài hước Vd: phù thuỷ sợ ma; thầy bói nói mò; thầy đồ dốt chữ Do thuộc lớp người được trọng vọng trong làng, loại hề này thường mặc áo chùng (dài), nhưng hình thức hoá trang lại nhọ nhem, xấu xí

Và chắc hẳn đất nước Anh cũng phải có một nền kịch hề dân gian lâu đời Sêcxpia có lẽ đã học tập được nhiều điều từ vốn văn học dân gian này Bằng chứng là trong các vở kịch của ông ta thấy có nhiều nhân vật hề mang màu sắc của hề dân gian, có nhiều thành ngữ, tục ngữ, nhiều cách nói mang hơi thở của cuộc sống dân gian Điều này cũng góp phần không nhỏ tạo nên tiếng cười trong các vở hài kịch của ông

Như vậy, hiểu một cách chung nhất, nghệ thuật gây cười là cách thức,

là biện pháp, thủ pháp để làm bật lên tiếng cười, ở đây là tiếng cười tâm lý mang tính thẩm mĩ Nghệ thuật gây cười có đạt được hiệu quả cao hay không

là do tài năng của người nghệ sĩ Nói cách khác qua nghệ thuật gây cười, chúng ta có thể thấy được cá tính sáng tạo của nhà soạn kịch

Trang 21

CHƯƠNG 2: NGHỆ THUẬT GÂY CƯỜI TRONG

HÀI KỊCH CỦA UYLIAM SÊCXPIA 2.1 Nghệ thuật gây cười qua xây dựng nhân vật

Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, “Nhân vật là con người cụ

thể được thể hiện trong tác phẩm văn học với các vai trò, vị trí, chức năng và tính cách khác nhau Nhân vật đồng nghĩa với hình tượng khi thuật ngữ hình tượng được dùng để chỉ hình tượng nhân vật” [10]

Dựa vào vị trí đối với nội dung cụ thể, với cốt truyện của tác phẩm, nhân vật văn học được chia thành nhân vật chính và nhân vật phụ Dựa vào đặc điểm tính cách, việc truyền đạt lí tưởng của nhà văn, nhân vật văn học được chia thành nhân vật chính diện, nhân vật phản diện Dựa vào cấu trúc hình tượng, nhân vật được chia thành nhân vật chức năng (hay mặt nạ), nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng Dựa vào thể loại văn học,

ta có nhân vật tự sự, nhân vật trữ tình, và nhân vật kịch

Trong kịch, nhân vật là yếu tố không thể thiếu Vì qua nhân vật kịch, xung đột kịch mới được thể hiện Có nhân vật kịch thì ngôn ngữ kịch, hành động kịch mới được triển khai

Ở thể loại bi kịch, Uyliam Sêcxpia đã có những nhân vật xuất sắc như: Hamlet, Ôtenlô, Rômêô và Juliet… Ở thể loại hài kịch, ông cũng xây dựng được những nhân vật tuy không nổi tiếng bằng các nhân vật bi kịch nhưng cũng rất đáng chú ý như: Chú tiên đồng Păc trong “Giấc mộng đêm hè”; Biniđich, Biơtrix và gã cảnh sát trưởng Đôgberi trong “Có gì đâu mà rộn”; Orxinô, Ôlivia, Viôla trong “Đêm thứ mười hai”; Antôniô, Baxaniô, Porxya, Sailôc trong “Người lái buôn thành Vơnidơ”,…

Trang 22

Có thể nói, Sêcxpia cũng đã rất dụng công khi xây dựng những nhân vật này Ông đã rất thành công khi xây dựng ngôn ngữ nhân vật, hành động nhân vật, tính cách nhân vật để từ đó đem lại tiếng cười giàu ý nghĩa cho khán giả

2.1.1 Nghệ thuật gây cười qua xây dựng ngôn ngữ nhân vật

Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: “Ngôn ngữ nhân vật là một trong các phương tiện quan trọng được nhà văn sử dụng nhằm thể hiện cuộc sống

và cá tính nhân vật Trong tác phẩm, nhà văn có thể cá thể hoá ngôn ngữ bằng nhiều cách: nhấn mạnh cách đặt câu, ghép từ, lời phát âm đặc biệt của nhân vật, cho nhân vật lặp lại những từ, câu mà nhân vật thích nói kể cả từ ngoại quốc và từ địa phương” [6; 214]

Ngôn ngữ có tác dụng giải trí rất hiệu quả và gây cười qua ngôn ngữ nhân vật là thủ pháp nghệ thuật quan trọng đầu tiên mà Sêcxpia sử dụng trong các vở hài kịch

2.1.1.1 Sử dụng lộng ngữ (chơi chữ)

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “Lộng ngữ (còn gọi là chơi chữ) là

biện pháp tu từ có đặc điểm: người sáng tác sử dụng những chỗ giống nhau

về ngữ âm, ngữ nghĩa, văn tự, văn cảnh để tạo ra sự bất ngờ thú vị trong cách hiểu, trong dòng liên tưởng của người đọc, người nghe” [6; 183]

Lộng ngữ có thể được tạo ra do khai thác các kiểu nói lái, từ đồng âm hoặc gần âm, sử dụng từ đồng nghĩa, hoặc tách một từ thành các từ khác nhau Lộng ngữ có tác dụng mang lại tiếng cười rất cao, nó thường được sử dụng trong văn chương hài hước

Trong cuốn Tuyển tập tác phẩm William Shakespeare, dựa vào bản

dịch, các chú thích của các dịch giả, các nhà nghiên cứu, người thực hiện

Trang 23

khoá luận nhận thấy trong nguyên tác tiếng Anh, Sêcxpia sử dụng rất nhiều các lộng ngữ trong các vở hài kịch của mình

Sau đây là bảng thống kê số lượng các lộng ngữ mà Sêcxpia đã sử dụng trong bốn vở hài kịch

1 Giấc mộng

đêm hè

Hồi 2, cảnh II, trang 978 Hồi 3, cảnh I, trang 984 Hồi 4, cảnh I, trang

1009 Hồi 5, cảnh I, trang

1056 Hồi 2, cảnh III, trang

1063 Hồi 3, cảnh V, trang

1087 Hồi 5, cảnh II, trang

Trang 24

3 Đêm thứ

mười hai

Hồi 1, cảnh III, trang

1138 Hồi 1, cảnh V, trang

1142 Hồi 1, cảnh V, trang

1149 Hồi 2, cảnh III, trang

1157 Hồi 2, cảnh V, trang

1170 Hồi 3, cảnh I, trang

1173 Hồi 4, cảnh I, trang

1281 Hồi 3, cảnh IV, trang

1287 Hồi 3, cảnh V, trang

1288 Hồi 3, cảnh V, trang

1289 Hồi 5, cảnh I, trang

Trang 25

Có thể thấy, muốn chơi chữ cho hay, cho hài hước đòi hỏi phải có một trình độ tư duy ngôn ngữ nhất định Bên cạnh đó, người hay chơi chữ còn phải có khiếu khôi hài, thích đùa vui, châm chọc Vì thế, qua chơi chữ người

ta cũng bộc lộ một phần tính cách của mình Ở hài kịch Sêcxpia, những nhân vật hay chơi chữ thường là những nhân vật khôi hài như anh hề trong “Đêm thứ mười hai”, gã cảnh sát trưởng Đôgberi trong “Có gì đâu mà rộn”,…

Một điểm đáng chú ý trong cách sử dụng lộng ngữ của Sêcxpia là ông thường sử dụng các từ đồng âm, gần âm khác nghĩa Do khác nhau về loại hình ngôn ngữ giữa tiếng Anh và tiếng Việt nên có một số lộng ngữ mà Sêcxpia sử dụng, khi chuyển sang tiếng Việt không thể dịch được Nhưng nhìn chung, với sự nỗ lực của mình, các dịch giả cũng đã cố gắng truyền tải, diễn tả một cách tối ưu nhất những lộng ngữ mà nhà soạn kịch này đã dùng trong nguyên tác Sau đây, chỉ xin phân tích một số lộng ngữ tiêu biểu

Trong vở “Giấc mộng đêm hè”, chàng Laixanđơ yêu tha thiết nàng Hecmiơ nhưng bị cha nàng phản đối Họ cùng rủ nhau bỏ trốn vào một khu rừng trong một đêm trăng bàng bạc Khi trời đã về đêm, cánh tay của thần giấc ngủ chạm vào mắt họ, Laixanđơ giục Hecmiơ đi ngủ Trong lời thoại của Laixanđơ có biết bao tình tứ, hóm hỉnh:

“Laixanđơ: Em yêu xinh đẹp, lang thang mãi trong rừng em đã mệt, và nói

thật, anh đã quên mất lối đi Hecmiơ ơi, nếu em đồng ý, chúng ta

sẽ nghỉ lại ở nơi đây và chờ ánh ngày êm đẹp

Hecmiơ: Phải thế thôi, anh Laixanđơ ạ Anh hãy tìm cho mình một chỗ ngủ,

còn em sẽ ngả đầu vào cái bồn hoa này

Laixanđơ: Một luống cỏ làm gối chung cho cả đôi ta, một trái tim, một cái

giường, hai tấm lòng và một lời nguyện ước

Trang 26

Hecmiơ: Không, anh Laixanđơ tốt lành ơi! Anh thương yêu, vì tình nghĩa với

em, hãy nằm xa ra một chút, đừng nằm gần quá

Laixanđơ: Ôi, em dịu hiền, hãy hiểu cho lòng trong trắng của anh Tình yêu

phải hiểu theo nghĩa của tình yêu Anh muốn nói rằng trái tim anh đã gắn liền trái tim em đến lúc ta có thể hoá chúng làm một Hai tấm lòng quyện chặt với nhau bằng một lời thề thành ra hai

tấm lòng và một lời nguyện ước Vì vậy mà đừng chối từ một

chỗ nằm ở cạnh bên em, vì hỡi Hecmiơ, chính nằm như thế mới

là anh không bội ước lời nguyền” [9; 978].

Lí lẽ, lập luận của Laixanđơ thật dí dỏm khi thuyết phục nàng Hecmiơ cho chàng nằm bên cạnh Ở đây, trong nguyên văn, Laixanđơ đã chơi chữ:

“To lie” vừa có nghĩa là “nằm” vừa có nghĩa là “nói dối, bội ước lời nguyền” Trong câu “chính nằm như thế là anh không bội ước lời thề” người đọc, người xem cũng có thể hiểu: Laixanđơ muốn nói “chính nằm như thế mới là nằm!”

có nghĩa là hai người nằm ngủ sát bên nhau trong khung cảnh thiên nhiên thơ mộng mới chứng tỏ cho tình yêu thắm thiết Hàm ý tình tứ của Laixanđơ được che giấu qua cách chơi chữ kín đáo nhưng người xem vẫn có thể mỉm cười khi phát hiện ra ẩn ý của chàng ta

Trong vở “Có gì đâu mà rộn”, Sêcxpia đã để cho các nhân vật nói lẫn lộn, nhầm lẫn giữa các từ gần âm với nhau Đôi khi các từ này lại trái ngược với nhau hoàn toàn về nghĩa làm cho ý muốn nói của nhân vật thay đổi hoàn toàn Điều đó đem lại tiếng cười cho khán giả Tiêu biểu là gã cảnh sát trưởng Đôgberi Nhân vật này liên tục nói nhầm lẫn các từ với nhau Ở hồi 3, cảnh V, khi Đôgberi đến báo tin cho Lêônatô về sự thật của con gái ông ta là Hirô:

“Lêônatô: Thầy muốn gì ta, lân hữu trung thực

Trang 27

Đôgberi: À, dám thưa đại nhân, tôi muốn giãi bày một chuyện có loăng

quăng gần gũi đến ngài” [9; 1087].

Đôgberi định nói “concerus” (liên quan) thì lại đánh ra drecerns (phân biệt), khác hẳn về nghĩa so với ý mà ông ta muốn nói Đúng là chữ tác đánh chữ tộ

Ở hồi 4, cảnh II, cũng có một pha nhầm lẫn ngôn từ tương tự khi Đôgberi và tên lính canh nói về tên tội phạm Conređ và Bôrakiô – tội phạm thực hiện âm mưu vu khống sự trong trắng của Hirô

“Lính canh I: Và hắn nói rằng bá tước Claođiô thề sẽ làm nhục Hirô trước

toàn thể mọi người và không cưới nữa

Đôgberi: Ôi, quân khốn kiếp! Ngươi sẽ bị chuộc tội đời đời kiếp kiếp về

chuyện này”,…[9; 1101]

Trong tiếng Anh, hai từ “damnation” và “redemption” đọc gần giống nhau nhưng lại hoàn toàn trái nghĩa nhau “Damnation” thì có nghĩa là “đày tội địa ngục”, còn “redemption” có nghĩa là “chuộc tội” Đôgberi đã nhầm lẫn hai từ này, lẽ ra phải nói “Ngươi sẽ bị đày tội nơi địa ngục” thì lại nói là “sẽ được chuộc tội”… Sự nhầm lẫn về ngôn từ này gây ra tiếng cười cho khán giả

về một gã cảnh sát ngờ nghệch, dốt nát, tung ra một loạt các từ chuyên môn

mà không hiểu nên dùng lung tung

Nhưng có lẽ, nghệ thuật chơi chữ trong vở “Đêm thứ mười hai” là đặc sắc hơn cả Trong tác phẩm này cách sử dụng lộng ngữ rất thú vị

Ở hồi 1, cảnh V, khi người hầu gái của Ôlivia là Maria tranh cãi với anh hề về tội vắng mặt trong thời gian dài của anh ta

Trang 28

“Maria: Dù sao đi nữa, ngươi cũng bị treo cổ vì tội vắng mặt lâu đến thế

Hoặc giả bị đuổi cổ ra Đằng nào cũng thế

Hề: Xử giảo hay thì tránh được hôn nhân dở Còn đuổi đi thì đã có mùa hè bù lại lo gì

Maria: Vậy là ngươi đã nhất quyết rồi phải không ?

Hề: Cũng chẳng phải thế Nhưng dù sao ta cũng đã nhất quyết về hai điểm

Maria: Hai điểm ở hai cái móc cài quần chứ gì: nếu một cái gẫy thì còn cái

kia nhưng nếu cả hai cùng gẫy thì quần ngươi sẽ bị tụt xuống đó” [9; 1142]

Ở đây, chữ “Point” vừa có nghĩa là “điểm”, vừa có nghĩa là “móc cài quần” Anh hề đang nói anh ta đã có quyết định về hai điểm, là hai vấn đề khi

bị nữ chủ nhân trách mắng và đuổi đi Thì Maria lại chơi chữ, giễu anh hề, đó chỉ là “hai điểm ở hai cái móc cài quần” Ý trêu đùa này gây ra một liên tưởng thú vị tiếp theo: Nếu cả hai cùng gẫy thì quần của anh hề sẽ tụt!

Tính cách bông đùa, mua vui của anh hề đã giúp anh ta có những câu nói đầy “bông lơn hỏm hỉnh” Đoạn bị cô chủ Ôlivia trách mắng, anh hề cũng

đã chơi chữ khiến cho Ôlivia đang tức giận cũng phải bật cười

“Ôlivia: Đuổi tên ngốc đi khỏi đây

Hề: Này các ngươi, không nghe tiếng gì ư? Đuổi tiểu thư đi khỏi đây

Ôlivia: Đi đi, ngươi là một tên hề nhạt Ta không cần đến ngươi nữa Ngoài

ra ngươi lại tỏ ra vẻ bất lương

Hề: Đó là hai cái khuyết điểm có thể sửa chữa bằng cách cho thêm muối và

khuyên bảo tử tế Bởi vì thêm muối mắm cho gã hề nhạt, y sẽ khỏi nhạt

Trang 29

Bảo kẻ bất lương phải sửa chữa, nếu y sửa chữa, y sẽ không bất lương nữa; nếu y không tu tỉnh được thì hãy để kẻ chuyên nghề vá víu sửa cho

y Bất cứ cái gì đã sửa đi là chỉ thành vá víu: đức hạnh một khi sa sẩy sẽ thành vá chằng với tội lỗi và tội lỗi cải hối thì vá víu bằng đức hạnh,…[9; 1142]

Rõ ràng, anh hề đã hiểu Ôlivia chê mình là “anh hề nhạt” nghĩa là như thế nào Nhưng vì hỏm hỉnh nên anh ta cố tình hiểu: “anh hề nhạt” theo một nghĩa khác “Anh hề nhạt” mà Ôlivia nói là để chỉ một anh hề không biết pha trò, ít gây hứng thú, không hấp dẫn Còn “anh hề nhạt” mà anh hề cố tình hiểu lại là tính chất mặn nhạt như mặn nhạt của thức ăn Và nếu hiểu theo cách đó thì cách chữa tốt nhất cho anh hề khỏi nhạt là thêm mắm, thêm muối vào cho anh ta! Cách chơi chữ này của anh hề chứng tỏ khả năng khôi hài của một người chuyên làm nhiệm vụ mua vui cho những ông bà chủ

Đến lượt chính nàng Ôlivia cũng chơi chữ Khi nàng Viôla đóng giả một chàng trai trẻ làm sứ giả tình yêu cho quận công Orxinô đến thuyết phục nàng Ôlivia hãy đáp nhận tình yêu của quận công, Ôlivia mãi không tiếp và một mực từ chối không chịu lấy chồng Viôla đã nói: “Chính bàn tay dịu dàng

và khéo léo của tạo hoá điểm tô màu hồng sắc trắng trên vẻ đẹp thực sự hài

hoà này Thưa công nương, công nương sẽ là người đàn bà độc ác nhất trần

đời nếu như mai đây công nương mang nhan sắc kiều diễm này xuống tuyền đài mà không để lại cho thế gian một bản sao” Ôlivia đã đáp lại: “Ồ!

Tráng sĩ Ta không đến nỗi nhẫn tâm thế đâu: ta sẽ phát hành nhan sắc của

ta làm nhiều bản Ta sẽ liệt kê nó, mỗi phần và mỗi chi tiết sẽ được ghi chú

trong chúc thư của ta, chẳng hạn như : một đôi môi khá đỏ; hai là: một cặp mắt màu xám có đủ cả mí; ba là : một cổ, một cằm, và vân vân” [9; 1149]

“Bản sao” mà Viôla nói đến là ẩn dụ để nhắc nàng Ôlivia phải đi lấy chồng,

Trang 30

sinh con – một đứa con gái có nhan sắc tuyệt trần như người mẹ của nó để thế gian được chiêm ngưỡng Ôlivia lại từ chối lời thuyết phục của Viôla Nàng hóm hỉnh nói tới việc mình sẽ không nhẫn tâm khi “ra đi” mà không để lại một bản sao nào bằng cách cho vẽ hình và cho lưu hành rộng rãi Cách chơi chữ này vừa thể hiện sự hỏm hỉnh của Ôlivia vừa thể hiện sự thông minh, tinh

2.1.1.2 Sử dụng ngôn từ hoa mĩ, ngôn từ “trật khớp”

Sêcxpia có vốn ngôn ngữ hết sức phong phú, đa dạng Ngôn ngữ của ông giàu hình tượng, giàu chất thơ, thẫm đẫm chất biểu cảm Ông đã xây dựng cho nhân vật của mình những cách nói, kiểu nói khác nhau tuỳ từng đối tượng Có ngôn ngữ hoa mĩ, cao sang nhưng cũng có ngôn ngữ bình dân, thô tục Tuy vậy, trong sự ý thức của mình, Sêcxpia cũng nhận ra một điều : nếu

sử dụng ngôn từ hoa mĩ một cách quá mức, cách nói dài dòng bóng bẩy quá mức để diễn tả một nội dung đơn giản thì cũng có thể gây ra tiếng cười Và ông đã xây dựng cho nhân vật của mình trở nên hài hước hơn khi sử dụng cách nói như vậy trong các vở hài kịch

Trong vở “Giấc mộng đêm hè”, hồi 1, cảnh I, Sêcxpia đã đặt vào miệng nhân vật quý tộc Igiơx những ngôn từ hoa mĩ, phức tạp, cầu kì, nhiều hình tượng rắc rối để diễn tả một ý giản đơn là phản đối, ngăn cấm Laixanđơ yêu

Trang 31

con gái của ông ta là Hecmiơ Igiơx nói với quận công Thidiơx : “Tôi đến đây, lòng đầy uất hận, thưa kiện đứa con tôi, cháu Hecmiơ này đây Hãy bước lên đi Đimitriơx Kính thưa chúa công, tôi đồng ý anh chàng này kết duyên cùng con gái tôi Bước lên, Laixanđơ Còn anh này, thưa ngài quận công cao quý, đã mê hoặc lòng dạ con tôi Phải, Laixanđơ, chính mày đã tặng nó những bài thơ và trao đổi những kỉ vật với con ta Những đêm trăng mày đã đến hát dưới cửa sổ con ta những vần thơ yêu đương vờ vĩnh bằng một giọng điệu giả

vờ, và mày đã thầm đoạt tâm trí con ta với những vòng xuyến bằng tóc của chính mày, rồi nào nhẫn, nào trang sức, nào đồ chơi, nào hoa thơm và bánh kẹo, những của ấy lại là những sứ giả có sức mạnh quyến rũ đối với tuổi trẻ non nớt Mày đã ranh mãnh cướp đoạt trái tim con gái ta và đã biến nàng từ một đứa con gái ngoan ngoãn biết vâng lời thành một đứa cứng đầu ngang ngược Thưa ngài quận công cao quý, nếu như ngay đây, trước mặt đức ngài,

nó vẫn khăng khăng không chịu kết hôn cùng Đimitriơx thì tôi cầu xin cái đặc quyền xưa cũ của thành Aten: vì nó là con tôi, tôi được quyền định đoạt cuộc đời của nó, hoặc phải lấy chàng công tử này, hoặc phải chết, theo đúng luật lệ

mà chúng ta đã định trước cho trường hợp này”

Bên cạnh việc sử dụng ngôn từ hoa mĩ, dài dòng, Sêcxpia còn xây dựng cho nhân vật của mình một cách nói vòng vo, lủng củng, trong lời nói chứa đầy mâu thuẫn (ngôn từ trật khớp) mục đích là để gây cười Trong vở “Giấc mộng đêm hè”, ngay tên vở kịch mà nhóm thợ thủ công tập để biểu diễn trong ngày cưới của quận công Thidiơx cũng mang tính hài hước : “Vở hài kịch bi thảm nhất và cái chết tàn khốc nhất của Pirơmơx và Thidơbi” Đã là “hài kịch” rồi mà lại còn “bi thảm”, nhưng thực chất lại là “bi kịch” mà buồn cười Người đọc, người xem không biết đây sẽ là vở hài kịch hay bi kịch, hay bi hài kịch, chỉ đến lúc xem vở diễn mới thấy đây là một vở cười đến tức bụng, ngay cái chết tàn khốc nhất của Pirơmơx và Thidơbi cũng chẳng có gì là bi thảm

Trang 32

Cách đặt nhan đề của vở kịch của mấy anh thợ thành Aten thật lủng củng, thật khó hiểu, buồn cười

Trong lời nói của anh thợ dệt Bottơm cũng chứa đầy mâu thuẫn, lủng củng Điều này thể hiện trình độ nhận thức ngôn ngữ không tốt của nhân vật, tính cách ngây ngô của nhân vật

“Quynxơ : Nic Bottơm, cậu được phân vai Pidơmơx

Bottơm : Pidơmơx là loại người nào ? một kẻ si tình hay một tên bạo chúa ?

Quynxơ : Một kẻ si tình tự sát một cách hào hùng vì tình yêu

Bottơm : Để đóng vai này cho tốt, phải rỏ ít nhiều nước mắt Nếu tớ thủ vai,

thì khán giả hãy liệu hồn mà xem mắt của mình, tớ sẽ vung lên bão táp và gây ra đồng cảm chừng nào Qua những người khác đi… thế nhưng, cái khí chất chính của tớ lại hợp với một vai bạo chúa Tớ

có thể thủ vai Ecquyn như ít người đóng được, hay một vai làm nổ tung mọi vật, và phán ra những lời quyết liệt

Trang 33

Thật tuyệt diệu! […] đó là giọng của Ecquyn, giọng của một bạo chúa… Một kẻ si tình thì thống thiết hơn” [9; 965 - 966]

Bottơm là một trong những nhân vật hài hước nhất trong “Giấc mộng đêm hè” Anh ta hay nói, hay cười, rất vui nhộn Ở đoạn thoại trên, Bottơm đã

tự nhận xét về khả năng diễn kịch của mình Tuy nhiên, anh ta nói hơi rắc rối Lúc thì bảo mình xứng đáng với vai diễn Pirơmơx mềm yếu, có thể làm giàn giụa nước mắt người xem Lúc thì bảo mình thích hợp với vai của chàng Ecquy dũng mãnh Rồi khi đọc xong một đoạn thơ thì anh ta kết luận về chất giọng của anh ta thật hài hước Không biết đó là chất giọng của chàng Ecquy hùng dũng hay của một chàng si tình đang buông lời thống thiết làm mềm nhũn người nghe ?

Trong vở “Người lái buôn thành Vơnidơ”, cũng có nhiều đoạn Sêcxpia

để cho nhân vật nói một cách lủng củng, vòng vo Tiêu biểu là đoạn ông già Gôbbô hỏi đường đến nhà người Do Thái – Sailôc Lanxơlô thấy cha mình (ông Gôbbô) đã kèm nhèm mắt, không nhận ra con trai nên đã cố tình đùa ông một phen

“Gôbbô : Quý vị thanh niên ơi, xin quý vị làm ơn, hãy bảo cho tôi biết

đi đường nào đến nhà quý ông Do Thái ?

Lanxơlô : Đến chỗ rẽ đầu tiên, cụ rẽ phía tay phải, nhưng đến chỗ rẽ sau lại rẽ phía tay trái, thế rồi, đến chỗ rẽ liền sau đó, đừng rẽ tay phải hay tay trái gì cả, nhưng rẽ ngay vào nhà người Do Thái” [9; 1247]

Lanxơlô chỉ đường như vậy khiến ông lão Gôbbô phải thốt lên: “Nói

có các thánh của Chúa Trời, thật là một đường lối khó lần mò” Người đọc cũng thấy buồn cười vì một cách chỉ đường như thế Ở đây, ta lại nhớ đến

Ngày đăng: 31/10/2015, 09:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Arixtôt, Nghệ thuật thi ca, Nxb Văn hoá, văn nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca
Tác giả: Arixtôt
Nhà XB: Nxb Văn hoá, văn nghệ
2. Đặng Anh Đào, Hoàng Nhân... (2006), Văn học Phương Tây, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Phương Tây
Tác giả: Đặng Anh Đào, Hoàng Nhân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
3. Đỗ Văn Khang (2008), Mĩ học đại cương, Nxb ĐHQG Hà Nội 4. Đỗ Văn Khang (2004), Mĩ học Mac - Lênin, Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mĩ học đại cương
Tác giả: Đỗ Văn Khang
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2008
5. Hoàng Phê (chủ biên) (2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2006
6. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2006), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
7. Lưu Đức Trung (chủ biên) (2004), Chân dung các nhà văn Thế giới, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung các nhà văn Thế giới
Tác giả: Lưu Đức Trung (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
11. Tập thể tác giả (2004), Từ điển văn học, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Tác giả: Tập thể tác giả
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w