LỜI CẢM ƠN Trong quá trình triển khai thực hiện đề tài: “Lễ hội đền Hùng trong đời sống tâm linh người Việt”, tác giả khóa luận đã thường xuyên nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
*********
NGUYỄN THỊ QUỲNH NGA
LỄ HỘI ĐỀN HÙNG TRONG
ĐỜI SỐNG TÂM LINH NGƯỜI VIỆT
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
HÀ NỘI - 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
*********
NGUYỄN THỊ QUỲNH NGA
LỄ HỘI ĐỀN HÙNG TRONG
ĐỜI SỐNG TÂM LINH NGƯỜI VIỆT
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
Người hướng dẫn khoa học
Th.S GVC: VŨ NGỌC DOANH
HÀ NỘI - 2010
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai thực hiện đề tài: “Lễ hội đền Hùng trong đời sống tâm linh người Việt”, tác giả khóa luận đã thường xuyên nhận được
sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn và đặc biệt
là của Th.S - GVC Vũ Ngọc Doanh - người hướng dẫn trực tiếp
Tác giả khóa luận xin bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy, cô giáo đã giúp tác giả hoàn thành khóa luận này
Hà Nội, ngày 30 tháng 4 năm 2010
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Quỳnh Nga
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi trình bày trong khóa luận này
là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của Th.S- GVC Vũ Ngọc Doanh
Những nội dung này không trùng lặp với kết quả nghiên của các tác giả khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của cá nhân mình trong khóa luận này
Hà Nội, ngày 30 tháng 4 năm 2010
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Quỳnh Nga
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Trang 1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Lịch sử vấn đề 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4 6 Đóng góp của khoá luận 4 7 Bố cục của đề tài 4 NỘI DUNG Chương 1: Những vấn đề chung 1.1 Khái niệm văn hoá 6
1.2 Khái niệm văn hoá tâm linh 7 1.3 Văn hoá tâm linh trong đời sống người Việt 9 1.4 Văn hoá tâm linh trong đời sống hiện nay 10
Chương 2: Lễ hội Đền Hùng trong đời sống văn hoá tâm linh người Việt 2.1 Khái niệm Lễ hội 14
2.2 Lễ hội Đền Hùng 16
2.2.1 Truyền thuyết Hùng Vương 16
2.2.2 Phần lễ 18
2.2.2.1 Thời Hùng Vương 18
2.2.2.2 Thời kỳ Bắc thuộc 19
2.2.2.3 Các triều đại phong kiến 20
2.2.2.3 Thời kỳ Cách mạng tháng Tám cho đến nay 24
2.2.3 Phần hội 28
Trang 62.2.3.1 Hội xưa 28
2.2.3.2 Hội nay 31
2.3 Vua Hùng trong đời sống tâm linh người Việt 40
2.4 Ý nghĩa của Lễ hội đền Hùng 44
Chương 3: Thực trạng và giải pháp phát triển Du lịch Văn hoá Nhân văn của Lễ hội Đền Hùng 3.1 Thực trạng phát triển du lịch 47
3.2 Giải pháp phát triển du lịch 48
Kết luận 51
Tài liệu tham khảo 52
Phụ Lục 54
Trang 7Triều đại Hùng Vương tồn tại trong tâm thức của người Việt Nam là triều đại dựng nước, là tổ tông, cội nguồn của người Việt Sự kết hôn giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ đã sinh ra tộc người Việt sinh ra con Rồng, cháu Tiên Và cũng từ đây, Vua Hùng đã trở thành một biểu tượng văn hoá tâm linh của dân tộc Trong rất nhiều triều đại lịch sử, khi đất nước bị giặc ngoại xâm các vị vua, các tướng lĩnh, các nhà lãnh đạo đã tìm đến với Đền Hùng như nơi nương tựa tâm linh, nơi làm tăng thêm sức mạnh để chiến đấu chống ngoại xâm Bác Hồ - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc đã căn dặn các chiến sĩ bộ đội:"Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu phải cùng nhau giữ lấy nước" nhân chuyến Bác về thăm Đền Hùng Ngày nay, khi chiến tranh đã lùi
xa, cả dân tộc việt Nam lại bước vào cuộc chiến mới, cuộc chiến trên mặt trận Văn hoá - Kinh tế Xu hướng hội nhập và phát triển đã kéo theo các luồng văn hoá ngoại lai vào nước ta với những tác động tới đời sống con người cả về vật chất và tinh thần Song trong sâu thẳm tâm thức của người Việt Nam - Lễ hội Đền Hùng (hay còn gọi là Giỗ tổ Hùng Vương) từ bao đời nay đã trở thành một biểu tượng văn hoá tâm linh, điểm hội tụ tinh thần đại đoàn kết cộng đồng các dân tộc Việt."Con người có tổ có tông, như cây có cội như sông có
Trang 8nguồn "gốc cội có lớn lao thì cành lá mới sum xuê tươi tốt, nguồn nước có xa xăm thì dòng chảy mới lâu dài
Có những chuyện dường như ai cũng biết cũng tâm niệm Ấy vậy mà khi bàn đến vẫn thấy mới lạ, hấp dẫn Những chuyện về thân phận con người, hạnh phúc tình yêu, tình cảm sâu xa về nguồn cội dân tộc Đề tài vẫn vậy chỉ
có cách tiếp cận, cách hiểu, cách diễn giải ở mỗi thời là khác nhau Cùng với quá trình của phát triển, của tư tưởng văn hoá Việt Nam qua các thời kỳ lịch
sử khác nhau Lễ hội Đền Hùng lúc đầu xuất hiện ở Phú Thọ - miền đất quan trọng đứng đầu đất nước thời đại Hùng Vương, được phát triển và nhân rộng trong toàn quốc qua các thời đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn, dần dần mang tính quốc gia dân tộc Cuối cùng là thời kỳ đương đại, chính nhờ sự quan tâm ngày càng lớn của các phong trào dân tộc cũng như toàn thể dân tộc, đặc biệt
là sự quan tâm của Cách mạng, Đảng Cộng sản, Nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một sự phát triển toàn diện và vượt bậc đã tạo được cơ sở và tiền
đề thuận lợi để ngày càng tiến theo hướng làm cho Lễ hội Đền Hùng trở thành một tâm điểm và tiêu điểm hàng đầu của nền văn hoá tâm linh dân tộc
Đồng thời xuất phát từ thực tế về việc phát triển du lịch xung quanh Lễ hội và việc hiện nay tỉnh Phú Thọ đang có chủ trương xây dựng " Thành phố
Lễ hội" với Việt Trì và Khu di tích Đền Hùng là tâm điểm
2 Mục đích của đề tài
Như một tập quán không thể thiếu được trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam hàng năm cứ đến ngày mồng mười tháng ba âm lịch, đồng bào trong và ngoài nước lại nhớ về cội nguồn, náo nức trẩy hội đền Hùng
“Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba”
( Ca dao)
Trang 9Năm 1995 theo quyết định của Ban Bí thư Trung Ương Đảng, giỗ Tổ Hùng Vương là một trong những ngày lễ lớn được tổ chức trong thể theo nghi thức cổ truyền
Giỗ Tổ Hùng Vương đã trở thành tình cảm sâu đậm, ăn sâu vào máu thịt
và đã trở thành truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Trong mỗi thôn xóm, mỗi làng quê, người Việt Nam có đình chùa, lăng, miếu để con cháu thờ tổ tiên, thờ những người anh hùng có công với làng xã và với đất nước Cả dân tộc có chung một ngày giỗ Tổ, có chung một cội nguồn Mỗi người Việt Nam chúng ta tự hào có chung tổ Hùng Vương với 18 đời Vua, dựng xây nước Văn Lang xa xưa, nhà nước đầu tiên của Việt Nam với hàng nghìn năm trị vì mà không phải bất cứ một dân tộc nào trên thế giới có được
Có chung một cội nguồn chung một tổ tiên để người Việt từ ngàn đời và
cả hôm nay cũng như mãi mãi mai sau có chung tình cảm và đạo lý để mà yêu thương nhau và cùng nhau xây dựng non sông đất nước Chính vì vậy, Giỗ Tổ Hùng Vương là biểu tượng cho ý chí và tinh thần dân tộc Từ các triều đại trước, lễ hội Đền Hùng luôn được quan tâm, gìn giữ và tôn vinh và cho đến tận ngày hôm nay vẫn còn nguyên giá trị? Để hiểu được điều đó cần có sự tìm hiểu kỹ lưỡng và toàn diện về lễ hội để thấy được Lễ hội đền Hùng có ảnh hưởng như thế nào với đời sống tâm linh người Việt và đề xuất giải pháp phát triển du lịch văn hoá để lễ hội Đền Hùng xứng tầm với ý nghĩa là Quốc lễ
3 Lịch sử vấn đề
Từ trước tới nay lễ hội Đền Hùng đã trở thành phương tiện để Nhân dân ta thể hiện giáo dục và củng cố tinh thân cộng đồng, đạo lý dân tộc, tình cảm, nguyện vọng, tư tưởng cũng như ý chí dân tộc Bởi vậy, lễ hội Đền Hùng có sức sống mãnh liệt trong tâm thức của người Việt qua các thời kỳ lịch sử của đất nước Đã có nhiều tác giả nghiên cứu và viết về lễ hội Đền Hùng như:
Trang 10Lê Lựu (chủ biên), Đền Hùng nơi hội tụ văn hoá tâm linh, Nxb Văn hoá -
Thông tin
Lê Tượng - Phạm Hoàng Oanh, Đền Hùng Di tích lịch sử văn hoá đặc biệt Quốc gia, Nxb Văn hoá - Thông tin
Ngô văn Phú, Hùng Vương và Lễ hội Đền Hùng, Nxb Hội Nhà Văn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Nghi Lễ trong ngày Giỗ Tổ Hùng Vương
Các trò chơi diễn ra trong ngày hội
* Phạm vi nghiên cứu
Lễ hội Đền Hùng trong đời sống tâm linh của người Việt
5 Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
*Phương pháp điền dã, sưu tầm, khảo sát
*Phương pháp tổng hợp nghiên cứu, phân tích tài liệu
*Phương pháp so sánh
6 Đóng góp của khoá luận
- Việc nghiên cứu Lễ hội Đền Hùng luôn song hành và có mặt của các nghi
thức cũng như các hoạt động văn hoá liên quan không thể tách rời Trong khi nghiên cứu và tìm hiểu Lễ hội Đền Hùng khoá luận sẽ chú trọng một số vấn
đề lý thuyết về lịch sử văn hoá Việt Nam thông qua việc xem xét và trình bày
về mối tương quan và ảnh hưởng giữa một bên là lịch sử văn hoá dân tộc với một bên là đời sống tâm linh của người Việt Văn hoá tâm linh của con người được nghiên cứu như một tác nhân, không chỉ sinh tạo mà còn quyết định tới những giá trị của Lễ hội Ngược trở lại, sản phẩm văn hoá đặc sắc này cũng
có những tác động không nhỏ tới tinh thần cũng như lịch sử văn hoá dân tộc
Trang 11- Khoá luận làm rõ giá trị văn hoá và vai trò của Lễ hội Đền Hùng tới đời sống tâm linh người Việt cũng như việc phát triển du lịch văn hoá nhân văn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Trang 12NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Khái niệm văn hoá
Văn hoá là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt giúp cộng đồng Dân tộc Việt Nam vượt qua bao sóng gió ghềnh thác tưởng chừng như không thể vượt qua nổi để không ngừng lớn mạnh và phát triển Văn hoá là một sức sống bên trong, văn hóa được tạo ra
từ lao động sinh hoạt và phát triển trong cái nôi địa hình sinh thái và môi trường của bản thân mình Văn hóa thể hiện một cách rõ rệt bản chất sâu xa của con người
Những năm gần đây, nhận thức về vai trò của văn hoá ở nước ta được nâng lên đúng với giá trị đích thực của nó Nghị quyết lần thứ 4 của Ban chấp hành Trung ương khoá VII đã khẳng định văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triển của một dân tộc, là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên nhiên Nó vừa là động lực thúc đẩy vừa là một mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của chúng ta
Nói tới văn hoá là nói tới toàn bộ những giá trị về vật chất và tinh thần, thể hiện trình độ sống, dân trí, những quan niệm về đạo lý nhân sinh, thẩm mỹ của một dân tộc và dấu ấn của mỗi con người Văn hoá tạo nên sự khác biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác Giá trị của một nền văn hoá thường được bồi đắp qua nhiều thế kỷ có tính tiếp nối truyền thống như những lớp phù sa ít có tính đột biến trong phát triển Vì văn hoá liên quan đến mọi mặt của đời sống của con người nên nó mang một ngoại diên rất rộng,
Trang 13nghĩa là bất cứ một cái gì (một cá thể nào) do con người làm ra, đều có chứa thuộc tính văn hoá, đều được nhân hoá Vậy "văn hoá" là gì?
Từ "văn hoá" có rất nhiều nghĩa Trong tiếng việt "văn hoá " được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức trình độ văn hoá, lối sống (nếp sống văn hoá), theo nghĩa chuyên biệt để trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hoá Đông Sơn) Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hoá bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động
Tuy nhiên, ngay cả với cách hiểu rộng này trên thế giới cũng có hàng trăm định nghĩa khác nhau Để định nghĩa một khái niệm, trước hết cần xác định được những đặc trưng cơ bản của văn hóa (tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh, tính lịch sử) từ đó có thể đưa ra một định nghĩa văn hoá như
sau: "Văn hoá là một tổng thể các giá trị vât chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoat động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội và với chính bản thân mình"(Trần Ngọc Thêm, Giáo trình Cơ sở Văn hoá Việt Nam)
1.2 Khái niệm văn hoá tâm linh
Như đã nói ở trên, văn hoá là những gì do con người tạo ra nên trong quan hệ với tự nhiên xã hội con người tự nhiên được phân chia thành hai vế:
tự nhiên ngoài ta (môi trường) và tự nhiên trong ta (bản năng) Cũng vậy, xã hội được chia thành hai: xã hội ngoài ta (cộng đồng) và xã hội trong ta (cá nhân) Trong tâm thức của người Việt Nam với phương pháp tư duy âm dương, con người đã phân chia thế giới thành hai: thực và ảo, vật chất và tinh thần, trong đó cái mà họ quan tâm nhất chính là đời sống tâm linh Loài người
từ rất xa xưa đã cảm nhận rằng, con người có hai phần: phần xác và phần hồn được kết hợp theo nguyên lý âm dương Mọi sự diễn ra trong cuộc sống đều biểu hiện sự linh cảm của chúng ta Tinh thần hướng tới đâu đều mang màu
Trang 14sắc của trí tuệ, của tâm lý Văn hoá tâm linh thường được biểu hiện sinh động
ở những nơi cuộc sống tinh thần rộn ràng trong tâm can, trong môi trường Bất cứ cá nhân sinh thể nào cũng có tư tưởng "uống nước nhớ nguồn" bởi sau những thời kỳ sôi nổi của thể chất, sau những thành công mỹ mãn trên thế gian và sau quá trình tăng trưởng tột bậc thì con người ta lại phảng phất những tâm tư thưở còn thơ, những hoài vọng cổ xưa thanh thản nhẹ nhàng hay le lói những khát ngưỡng huyền chân Người ta làm những cuộc hành hương về cố hương để chứng tỏ lòng thành của mình để biểu lộ tấm lòng của mình với tiền nhân: "Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra"
Sau những thăng trầm của cuộc đời, con người ta không lường trước được những gì phù trợ hay cản trở, có lúc quật ngã hay nâng đỡ bản thân mặc
dù những tính toán được nhen nhóm để cầu "may hơn khôn" Cái gì phù trợ hay quật ngã nếu không phải là chính những hành vi nhân quả của mình trong hiện tại lẫn những nghiệp lực trong quá khứ, tiền kiếp trỗi dậy nhằm "trung hoà" hay "hoá giải" nhưng sự tương phản đối xung mà lai khứ ngăn sông, cấm chợ Trong cuộc sống có những sự vượt quá khả năng cảm nhận của tư duy thông thường những điều khác thường mà không dễ gì giải thích nổi với nhận thức của trí não Trong giấc ngủ, thậm chí ngay cả trong cảm thức hàng ngày,
có nhiều hiện tượng mờ ảo không tiên liệu được nhưng sự "ứng nghiệm" lại rất rõ Thậm chí có những điều cấm đoán, kiêng kỵ, có những môi trường thâm nghiêm u hiển và có những vùng không thể chạm tới Tâm linh huyền
ảo được thêu dệt lên từ những sự việc, hiện tượng đó Những biểu hiện trên được con người nhận thức, tỏ thái độ (e dè, sợ hãi hay huyền diệu) và bắt buộc hành động mà tạo nên môi trường văn hoá tâm linh Văn hoá tâm linh đan quyện quán xuyến văn hoá tinh thần Văn hoá tinh thần là biểu hiện cụ thể của văn hoá tâm linh trong cuộc sống Vì vậy văn hoá tâm linh không gì
Trang 15khác hơn là "Những hoạt động tinh thần, nhận thức tâm lý của con người để thể hiện bản năng siêu việt nhất của mình trong cuộc sống" (Hồ Văn Khánh,
Tâm hồn khởi nguồn cuộc sống văn hoá tâm linh)
1.3.Văn hoá tâm linh trong đời sống người Việt
Văn hoá tâm linh là một thuật ngữ được dùng để chỉ một loại hình văn hoá tinh thần đặc thù của người Việt Nam lấy đối tượng là sự bày tỏ tình cảm linh thiêng, niềm tin linh thiêng, sự tri ân của những người đang sống đối với những người thân đã mất, đối với những vị anh hùng dân tộc, những liệt sĩ được tôn làm Thánh, làm Thần, làm Thành hoàng… diễn ra trong một không gian thiêng và thời gian thiêng nhất định Từ xa xưa, trong các hoạt động văn hoá truyền thống dân tộc, người Việt Nam đều có tổ chức các hoạt động văn hoá tâm linh, hoặc do nhà nước Trung Ương tổ chức, hoặc do làng, xã tổ chức theo những lễ nghi trang trọng, uy linh, với sự tham gia một cách thành kính,
tự nguyện của nhân dân Đó là Lễ hội giỗ Tổ Hùng Vương, Lễ tế Trời, Đất, tế Thần, Thánh, tế Tổ tiên nhằm mục đích cầu cho quốc thái, dân an, cho con cháu hạnh phúc Trong phạm vi một dòng tộc, một gia đình cũng có các sinh hoạt văn hoá tâm linh Đó là việc thờ cúng tổ tiên, sửa sang đền miếu, xây đắp
mồ mả vào các dịp tết Nguyên Đán, các ngày giỗ tổ, giỗ ông, bà, cha, mẹ Thông qua những hoạt động văn hoá tâm linh đó, con người ta tự tu tâm, tích đức để trở nên tốt đẹp hơn, đoàn kết hơn, hướng thiện hơn, bớt đi cái ác, cái xấu trong lòng Ý nghĩa tích cực của các hoạt động văn hoá tâm linh được người Việt khai thác rất có hiệu quả vào việc giáo dục các thế hệ con cháu, cố kết cộng đồng, giữ gìn bản sắc, truyền thống Hoạt động văn hoá tâm linh đã trở thành một nhu cầu văn hoá lành mạnh, đầy tính nhân văn của người Việt Nam Hãy lấy tục thờ cúng tổ tiên của người Việt làm ví dụ Thờ cúng tổ tiên
là một nét đẹp trong văn hoá tâm linh của người Việt Nam Hầu như gia đình Việt Nam nào cũng có bàn thờ tổ tiên Trong tâm thức của người Việt Nam,
Trang 16ông bà, cha mẹ, những người ruột thịt thân yêu của họ dù có “khuất bóng” nhưng không “mất” Họ vẫn “sống” trong tình cảm tôn kính, yêu thương, nhớ nhung, gần gũi của người hiện tại Trong cái không gian thiêng và thời gian thiêng đó, từ sâu thẳm trong tâm hồn của con người, quá khứ và hiện tại bỗng giao hoà, giao cảm vào nhau, rất gần gũi, rất hiện hữu, không có cái cảm giác cách biệt Chính sự rung cảm thiêng liêng đó đã góp phần tu chỉnh ý thức và hành vi của người đang sống sao cho tốt hơn, hoàn thiện hơn, tâm, đức trong sáng hơn, có tính nhân bản, nhân đạo, nhân văn hơn Đó cũng là một động lực tinh thần đặc biệt để họ sống, phấn đấu, vươn lên những giá trị cao đẹp của cái Chân - Thiện - Mỹ mà tổ tiên họ, cha ông họ mong muốn
1.4 Văn hoá tâm linh trong đời sống hiện nay
Do ảnh hưởng của các tôn giáo, người Việt tổ chức xây đền chùa, miếu mạo, nhà thờ, giáo đường và thực hành các nghi lễ cầu cúng Nhiều công trình, hiện vật liên quan đến văn hóa tâm linh đã trở thành những di sản văn hóa, lịch sử quý giá, nhiều công trình văn hóa tâm linh được xây dựng ở những địa điểm có phong cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, kì thú trở thành những điểm du lịch hấp dẫn Nhiều lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa vùng miền, dân tộc Thế giới văn hóa tâm linh của người Việt được xây dựng theo mô hình “dương sao, âm vậy - trần sao, âm vậy” Vì vậy, nên coi đây là quan niệm xuất phát
để tìm hiểu về mô hình thế giới tâm linh của người Việt
Hình thành từ xã hội nguyên thủy, người Việt có tín ngưỡng bách thần “thần cây đa, ma cây gạo”, gán cho các thế lực siêu nhiên, các sự kiện chưa giải thích được là các vị thần Thế giới thần linh bao gồm thần Sông, thần Núi, thần Biển, thần Lửa, thần Sấm Sét và còn có cả thần Bếp, thần Tài, thần Nhân duyên Nhân gian có người xấu người tốt nên các vị thần cũng có thần Thiện và thần Ác, có thánh thần luôn giúp người và cũng có ma quỷ chuyên hại người Do ảnh hưởng của xã hội phong kiến, thế giới tâm linh cũng được
Trang 17hình dung theo một mô hình tổ chức tương tự: trên có Ngọc Hoàng Thượng
Đế, có các vị Thần bề tôi với các cơ quan chuyên trách, giữa có thế giới người trần mắt thịt và dưới đất có Diêm Vương phụ trách việc xét xử những linh hồn của con người trần gian Số mệnh có thể được hiểu như là kết quả “lập trình” của một vị thần chuyên trách, và nhiều khi bất cẩn, thiên vị nên vị thần này cũng gây ra bao điều ngang trái, oái ăm Người Việt cho rằng người xấu sau khi chết sẽ được xét xử, ai tốt sẽ được lên Thiên đường hay cõi tiên, được đầu thai, có kiếp sau sung sướng, ai xấu sẽ bị trừng phạt, kiếp sau phải chịu khổ Và linh hồn của tiền nhân, của tổ tiên luôn bên cạnh con cháu, chứng giám, độ trì cho con cháu Vì quan niệm “trần sao âm vậy” nên mới có những tục lệ như chia của cho người chết, chôn theo người chết tiền bạc, các đồ dùng, rồi nghi lễ đốt vàng mã cũng là một cách để “tiếp tế” cho người chết Văn hóa tâm linh có những mặt tích cực không thể phủ nhận trong đời sống cộng đồng Đó là sợi dây cố kết cộng đồng, lưu giữ truyền thống, giáo dục lòng nhân ái, vị tha, ý thức hướng thượng, hướng thiện Các tôn giáo khác nhau về giáo lý song đều gặp nhau ở tinh thần nhân ái, khoan dung, triết lý nhân bản
Văn hóa tâm linh là chỗ dựa về mặt tinh thần, xoa dịu những đau thương mất mát, đem lại niềm tin vào những điều tốt đẹp, cao cả, thiêng liêng, giúp con người chiến thắng nỗi sợ hãi trước cái chết, đem lại sự thanh thản, cân bằng cho tâm hồn Có thể hình dung yếu tố tâm linh tạo nên chiều sâu, sức sống cho nền văn hóa cộng đồng, dân tộc
Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm chăm lo đến việc giữ gìn và phát triển các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc, trong đó có các giá trị văn hoá tâm linh Nhà nước và các địa phương đã đầu tư nhiều công sức, tiền của để xây dựng các công trình văn hoá tâm linh như tu tạo lại các đền đình, chùa, các nghĩa trang liệt sĩ, các tượng đài kỷ niệm, các di tích lịch
Trang 18sử, các di tích văn hoá; tổ chức các nghi lễ tri ân các anh hùng dân tộc, các liệt sỹ; tổ chức nhiều đoàn quy tập mồ mả và hài cốt liệt sỹ đã hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống đế quốc xâm lược Nhân dân các địa phương cũng chung sức đóng góp tiền của để tu sửa, xây cất các nghĩa trang, các di tích lịch
sử văn hoá của địa phương Có những địa phương biết kết hợp giữa xây dựng các quần thể văn hoá tâm linh với xây dựng các cảnh quan du lịch, thu hút khách thập phương, kết hợp tổ chức nhiều lễ hội văn hoá- du lịch khá ấn tượng Đó là những việc làm có ý nghĩa tích cực, cao đẹp, có tính giáo dục truyền thống rất cao, được lòng dân, đáp ứng một phần nhu cầu sinh hoạt tâm linh của nhân dân Tuy nhiên, văn hoá tâm linh và các hoạt động văn hoá tâm linh sẽ không đạt được mục đích cao đẹp và ý nghĩa thiêng liêng của nó nếu
bị lợi dụng vào các mục đích thương mại, hoặc bị tuyệt đối hoá đến mức mê tín, dị đoan của một bộ phận tổ chức hoặc cá nhân nào đó Trong thực tế, hiện tượng lợi dụng các hoạt động văn hoá tâm linh để kiếm lợi, để “buôn thần”,
“bán thánh” ở một số nơi, một số người không phải không xảy ra, và báo chí cũng đã phản ánh nhiều về hiện tượng này
Ở đây, có một vấn đề đặt ra là văn hoá tâm linh và hoạt động văn hoá tâm linh ở Việt Nam hiện nay cần phải được nhận thức và đối xử như thế nào cho đúng Về mặt nhận thức, văn hoá tâm linh là một bộ phận của văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam, đã tồn tại hàng mấy nghìn năm, gắn với quá trình hình thành, phát triển của văn hoá dân tộc, góp phần tạo ra bản sắc độc đáo của văn hoá dân tộc Việt Nam, có nhiều mặt tích cực không thể phủ nhận trên các bình diện: quốc gia (nhà nước), địa phương (làng, xã), gia đình, dòng họ Do vậy, cần thừa nhận có đời sống tâm lý tâm linh, có văn hoá tâm linh, có các hoạt động văn hoá tâm linh của cộng đồng và cá nhân
Điều cần lưu ý ở đây là, bản chất văn hoá tâm linh, hoạt động văn hoá tâm linh là tích cực, hướng thiện và nhân văn; nó không thừa nhận mọi suy nghĩ,
Trang 19hành vi, hành động trục lợi vị kỷ xấu xa, phản nhân văn Chúng ta khuyến khích các hoạt động văn hoá tâm linh mang ý nghĩa tích cực, có ích cho việc xây dựng và phát triển các giá trị văn hoá tinh thần, đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam, đồng thời kiên quyết phản đối các hành vi xuyên tạc ý nghĩa
vì con người của văn hoá tâm linh Mặt khác, chúng ta cũng không nên tuyệt đối hoá tâm lý tâm linh, đời sống văn hoá tâm linh đến mức địa phương nào cũng cố tạo ra những hoạt động văn hoá gắn với hoạt động tâm linh để thu hút người tham gia với mục đích kinh tế Có người còn tin tưởng mù quáng, thiếu
cơ sở khoa học vào các hiện tượng tâm linh, say mê các sinh hoạt tâm linh không lành mạnh đến nỗi bỏ bê cả sự nghiệp, làm tổn hại thanh danh; có dòng
họ, có gia đình vì muốn tạo ra sự nổi tiếng, hơn người đã đổ không biết bao tiền của để xây lăng, mộ, làm nhà thờ, làm giỗ, gây lãng phí rất lớn trong lúc đời sống của bà con còn khó khăn nhiều bề Đó là các hành vi có thể coi là
“phản văn hoá tâm linh”, cần phê phán Là hiện tượng khách quan trong xã hội ta, văn hoá tâm linh, hoạt động văn hoá tâm linh, hoạt động ngoại cảm tâm linh phản ánh một nhu cầu tinh thần chính đáng của nhân dân và việc thoả mãn phần nào nhu cầu đó của nhân dân, trong khi Nhà nước chưa có điều kiện thoả mãn đầy đủ Đề nghị Nhà nước có định hướng và quản lý chặt chẽ hơn nữa các hoạt động này sao cho phát huy được mặt tích cực, mặt tốt của văn hoá tâm linh, của các hoạt động văn hoá tâm linh và các hoạt động tâm linh ngoại cảm; lập lại trật tự, kỷ cương trong các hoạt động văn hoá tâm linh; đồng thời kiên quyết đấu tranh loại trừ mặt tiêu cực, mặt xấu, các hành
vi lợi dụng các hoạt động văn hoá tâm linh, hoạt động ngoại cảm tâm linh để mưu đồ vì lợi ích cá nhân hoặc các mục đích phản văn hoá khác, trái với ý nghĩa cao đẹp của văn hoá tâm linh người Việt, kể cả các thế lực xấu lợi dụng
để chống phá Nhà nước ta
Trang 20CHƯƠNG 2
LỄ HỘI ĐỀN HÙNG TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ TÂM LINH
NGƯỜI VIỆT
2.1 Khái niệm Lễ hội
Truyền thống là những cái đã trở thành nề nếp được truyền lại và kế thừa từ đời này sang đời khác Truyền thống tồn tại thông qua lao động sản xuất, lối sống, sự tìm tòi Truyền thống tinh hoa đã chắt lọc qua thử thách ở thời gian và được nâng cao theo yêu cầu ở trình độ dân trí mà không xa rời nguồn cội sản sinh ra truyền thống Nền văn hoá truyền thống Việt Nam đã trải qua nhiều thời kỳ thăng trầm của lịch sử và bị ảnh hưởng không ít của văn hoá phương Đông với nghìn năm Bắc thuộc và một số chế độ thực dân phương Tây Song nền văn hoá Việt Nam vẫn mang đậm phong thái của nền văn hoá lúa nước Trong thời kỳ đổi mới thời kỳ của công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước văn hoá Việt Nam đã được bảo tồn và phát huy (Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng một nền văn hoá tiến tiến đậm
đà bản sắc văn hóa dân tộc) Nói đến văn hoá - văn hoá dân gian là chúng ta lại nói đến các phong tục, các lễ hội cổ truyền của dân tộc
Đối với phần lớn các tộc người trên thế giới, đặc biệt là nhóm cư dân nông nghiệp, Lễ hội giữ một vai trò quan trọng Lễ hội chứa đựng nhiều mặt của đời sống văn hoá chính trị, xã hội, tâm lý, tôn giáo và tín ngưỡng của cư dân lúa nước Lễ hội là loại hình văn hoá tập thể, phản ánh tín ngưỡng, các sinh hoạt của người dân lao động Ở Việt Nam, lễ hội gắn bó với làng xã như một phần tất yếu trong đời sống Chỉ lễ hội mới có thể thoả mãn được hết yêu cầu tâm linh của người nông dân
Xét về cội nguồn, Lễ hội là sinh hoạt tín ngưỡng làng xã Bởi mỗi lễ hội đều bắt nguồn từ làng xã Mỗi hội làng có phong tục, nghi lễ, tổ chức,
Trang 21truyền thống riêng Nói chung, tính đa dạng là bản chất của Lễ hội Lễ hội còn
là nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng được hình thành, biến đổi và phát triển
Do vậy nó tích hợp nhiều tầng văn hoá Mỗi lớp văn hoá gắn liền với một biểu tượng, mang một ý nghĩa nhất định, nên lễ hội, mang tính đa nghĩa, đa biểu và tạo nên sự thăng hoa từ cuộc sống hiện thực Nó là sản phẩm của văn hoá tinh thần do nhân dân sáng tạo ra, là một hiện tượng xã hội
Vậy chúng ta hiểu lễ hội như thế nào?
Khái niệm lễ hội ở Việt Nam xuất hiện khoảng hơn chục năm trở lại đây., trước đó chỉ có khái niệm "lễ", "hội" Thêm chữ "lễ" cho " hội" người thời nay mong muốn gắn hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng này có ít nhất hai yếu tố cũng là hai đặc trưng đi liền với nhau Trước hết là tế lễ sau là vui chơi "Lễ" là những "nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hay kỷ niệm một
sự việc, sự kiện nào đó có ý nghĩa lịch sử" (Từ điển Việt Nam) Lễ còn là nơi thể hiện các phép tắc, các nghi thức ứng xử của người với người với tự nhiên
và xã hội Các nghi lễ của" lễ" toát lên sự cầu mong, phù hộ độ trì của thần linh giúp con người tìm các giải pháp tâm lý Có thể nói "lễ" là phần đạo - tâm linh của cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh và bảo đảm nề nếp, trật tự cho "hội"
"Hội" là những cuộc vui chơi tổ chức chung cho đông đảo người tham gia theo phong tục tập quán hay nhân dịp đặc biệt Hội là các hoạt động, các trò diễn có tính nghi lễ có nhiệm vụ bổ xung hoàn chỉnh ý nghĩa và nội dung cho ngày lễ
Trên cơ sở tìm hiểu và làm rõ nguồn gốc, bản chất cũng như nội dung
cơ bản của khái niệm Lễ hội đã cho chúng ta thấy lễ hội truyền thống không chỉ là hiện tượng văn hoá mà còn là hiện tượng tinh thần của xã hội do Nhân dân lao động sáng tạo ra Bởi vậy, những yếu tố và khía cạnh thuộc về bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam vốn rất đặc sắc, nguyên thuỷ và đích thực được
Trang 22lưu truyền và phát huy từ đời này sang đời khác trong dạng thức sinh hoạt của văn hoá dân gian
Tóm lại, lễ và hội là một thể thống nhất, tồn tại song song với nhau trong hoạt động tín ngưỡng tôn giáo của con người Nếu nói lễ là phần đạo thì hội chính là phần đời
2.2 Lễ hội Đền Hùng
2.2.1 Truyền thuyết Hùng Vương
Nếu lễ tết là một hệ thống phân bố theo thời gian thì lễ hội là hệ thống phân bố theo không gian Mỗi vùng có những lễ hội riêng của mình Nhưng
có lẽ trên thế giới này hiếm có nơi nào lại có được hình thức tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên độc đáo như ở Việt Nam khiến chúng ta phải nhìn nhận nó như một hiện tượng xã hội mang bản sắc riêng Việt Nam góp phần làm nên hệ giá tinh thần và bản sắc văn hoá Việt
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, những người có công lớn trong sự nghiệp xây dựng đất nước bảo vệ nhân dân chống giặc ngoại xâm đều được nhân dân ta nhớ ơn Một trong những ngày lễ kỷ niệm quan trọng đó là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương Trong phạm vi của một tập thể nhỏ là làng xóm, bao gồm nhiều họ, nhiều gia đình, cũng như trong phạm vi cả nước, dân tộc Việt Nam ta, trong đời sống tinh thần, đời sống tư tưởng và tình cảm của mình đều gắn liền hiện tại với quá khứ, quê hương nhỏ với Tổ quốc và dân tộc, từ đó
mà giữ vững và phát huy những đức tính cổ truyền tốt đẹp, lòng yêu nước, tình đoàn kết, chí kiên cường, bất khuất niềm tin sâu xa và mạnh mẽ vào tài năng của mình
Trong một thời gian khá dài, nhân dân ta không có điều kiện ghi chép lịch sử bằng chữ viết, nhưng đã ghi chép theo cách riêng của mình: truyền miệng từ đời này sang đời khác những câu chuyện về các Vua Hùng nhằm mục đích ca ngợi ông cha ta đã có công khai thiên lập quốc Truyền thuyết kể
Trang 23lại vua đi theo sông Thao, đến một cái hồ lớn vua dừng lại ngắm nhìn, chợt rùa Vàng hiện ra chào Vua, rước vua đi thăm Vua đứng lên lưng rùa, rùa vàng đưa vua đi thăm cả một vùng, các loài thuỷ tộc từ 99 ngách ùa ra đón chào,vua cho là đất hẹp nên thôi không chọn Vùng đó nay là Ao Châu huyện
Hạ Hoà Vua đi tiếp đến vùng đất bằng phẳng có khe suối, đất đẹp vua sai chim đại bàng đắp 100 quả gò Chim đã khuân đắp đất 99 gò chợt có một con
gà ngủ mơ gáy lên, đàn chim tưởng trời sáng nên vội bay đi Vua lại phải chọn nơi đất khác Vua cưỡi ngựa đi thăm một vùng thấy có ngọn núi cao sừng sững như cột chống trời vươn lên cao giữa hàng trăm quả đồi vây quanh Vua lên ngọn núi trông ra xa thì đẹp nhưng khi quay ngựa thì sạt lở mất một góc Vua không ưng ý bỏ đi Đó là vùng Sót ở Thanh Ba Vua đi theo sông Đà đến một vùng non xanh nước biếc tươi đẹp Vua sai chim phượng hoàng đào
100 cái hồ, đã đào được 99 hồ thì chợt phương xa có tiếng chim trống kêu chim phượng mẹ bay tới chim trống, cả đàn chim bay theo Công việc bỏ dở vua lại thôi (đó là vùng Xuân Lộc, Thanh Thuỷ)
Người Nghệ Tĩnh thì cho rằng vua Hùng đã về vùng Hoan Châu ngắm nhìn Hùng Lĩnh nhưng Hùng Lĩnh chỉ có 99 ngọn nên Vua lại bỏ đi Ở Phong Châu, vua Hùng đã đi lựa chọn chín nơi Đất Phong Châu cao ráo tươi tốt có
ba sông lớn hội tụ, có Tản Viên, có Tam Đảo chầu về Liên tiếp những gò đồi những khe suối uốn lượn Vua nhìn thấy núi Nghĩa Lĩnh, trèo lên trông ra xa đất mênh mông tươi tốt Núi Nghĩa Lĩnh như con voi mẹ, các gò đồi xung quanh là đàn voi con, cả đàn voi vui mừng chầu phục Nhưng rồi có một con bước ra khỏi hàng quay đầu về hướng khác, vua nổi giận sai công chúa Bàu cầm kiếm trị con voi bất nghĩa Công chúa kể tội trạng nó xong, thì giơ cao kiếm chém chết con voi đó Vì vậy ngày nay dân các vùng xung quanh đền Hùng còn tuyền nhau câu ca:
Chín mươi chín con theo mẹ một lòng
Trang 24Một con ăn ở ra lòng riêng tây
(Ca dao)
Truyền thuyết chém voi bất nghĩa là bài học lịch sử nghiêm khắc của cha ông bảo toàn sự thống nhất quốc gia, nghiêm trị những kẻ chống lại sự thống nhất ấy Ngoài ra truyền thuyết còn nói về con số 100, số 99 như trăm ngọn núi, trăm cái hồ để nói lên rằng 100 có ý trọn vẹn đầy đủ Còn 99 thì rất tiếc, suýt soát rồi nhưng thiếu chút nữa Nhiều nơi đẹp nhưng chưa đủ điều kiện lập đô Phong Châu là đầy đủ tốt hơn cả Vùng đất Phong Châu kéo dài
từ núi Nghĩa Lĩnh đến ngã ba Bạch Hạc (Việt Trì) Những dãy núi cao miền Tây Bắc nước ta chạy dài theo sông Hồng thấp dần đến ngã ba đây là trung
du Đất trung du với gò đồi thấp và đồng bằng xen kẽ Dân làm vườn rừng, làm lúa đồi, lúa nước
Thời Hùng Vương đã trở thành huyền sử, còn sót lại chăng chỉ còn là những tục ngữ ca dao và truyền thuyết lưu truyền trong dân gian Trong suốt mấy nghìn năm lịch sử, dân tộc ta sẵn có ý thức và tình cảm về cội nguồn, luôn dành tình yêu thiêng liêng đối với các vua Hùng Nhân dân các dân tộc gắn bó với nhau trong tình cảm đồng bào, con rồng cháu tiên, "Con một cha nhà một nóc" (Thơ Tố Hữu)
2.2.2 Phần lễ
2.2.2.1 Thời Hùng Vương
Những hình thái nghi lễ - tín ngưỡng cổ xưa tại đền Hùng là tín ngưỡng nông nghiệp và phồn thực nông nghiệp: thờ trời đất, thờ sinh thực khí cầu mong sự sinh sôi nảy nở cho con người, vạn vật Tương truyền: Trên đỉnh núi Hùng (núi Cả) là nơi các vua Hùng lên để tế trời đất, cầu mong cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, muôn dân no ấm Xưa kia, trong hậu cung đền Thượng còn đặt thờ một hạt lúa thần to như chiếc thuyền ba
Trang 25cắng được làm bằng đá Trên núi Trọc (giáp với núi Hùng) có tục thờ Đá Ông
Đá Bà (dân địa phương gọi là hòn đá Cối xay) là nơi cầu phồn thực
Theo Ngọc phả Hùng Vương viết: "Vào thời Hùng Vương thứ sau, sau khi đánh thắng giặc  n xâm lược, Hùng Huy Vương đã lập điện Cửu trùng tiên ở tên núi Nghĩa Lĩnh làm điện Kính Thiên, hàng ngày đến đây cầu đảo để thấu lòng trời Từ đó thiên hạ thái bình, quốc gia yên vui."
Sang đời Hùng Vương thứ 7, hiệu là Hùng Chiêu Vương " khi vừa lên ngôi đã chăm lo chính sự Vua ra ngự ở điện Kính Thiên, cho dựng đìa vàng cửa ngọc, kẻ vẽ cung tường, trang hoàng miếu vũ, thiết bày nghi vật tất thảy trang nghiêm Các đồ tế khí đều chạm khắc rồng mây, đêm ngày thắp hương không dứt Mỗi tháng vào kỳ sóc vọng, vua thường trai giới đến đay ngự thị trầu trực ''
Vào thời Hùng Vương thứ 18, sau khi được Hùng Duệ vương
nhường ngôi thục Phán Vua của nước Âu lạc: “ đã đến núi Nghĩa Lĩnh lập đền đài, lấy làm nơi thờ tự của nước, dựng hai cột đá giữa núi chỉ lên trời mà khấn rằng: Nguyện có trời cao lồng lộng soi sét không bao giờ sai, nước Nam
sẽ trương tồn, miếu thờ Hùng Vương sẽ còn mãi "
2.2.2.2 Thời kỳ Bắc thuộc
Vào những năm đầu công nguyên khi đất nước bị nhà Hán xâm lược, tương truyền khi Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa đã đến đây tế các vua Hùng và có lời thề còn truyền tụng đến ngày nay:
Một xin rửa sạch quốc thù Hai xin nối lại nghiệp xưa họ Hùng
Trong suốt thời kỳ nghìn năm Bắc Thuộc, việc thờ cúng, tế lễ ở Đền Hùng
do nhân dân sở tại cúng tế Trước đây nhân dân các xã Hy Cương, Tiên Kiên, Triệu Phú là các làng cổ quanh đền Hùng đều có đình làng để thờ cúng các
Trang 26vua Hùng, có các kỳ cầu vào mồng 9 tháng giêng và mồng 9, 10, 11 tháng 3
có thể thấy: đền Trung dưới thời Lý- Trần do cư dân làng Cả và làng Trẹo thờ cúng, lúc đó hai làng là một Thế kỷ XIII, khi giặc Minh sang xâm lược đã đốt
phá đền Trung và tàn sát cư dân làng Cả Bản Tộc phả họ Hoàng có ghi:'' Khởi thuỷ thôn Triệu Phú (Trẹo) di dân vào làng cả thời quân Minh tàn phá"
Sau cuộc kháng chiến chống giặc Minh thắng lợi, cư dân làng Trẹo trở về xây dựng lại đền Trung, cư dân làng Cả bị tàn sát còn sót lại cụ Hoàng Kim Đái đã kết nghĩa với ông Đào Đình Xô và Triệu Kim Ngũ di chuyển vào chỗ
Trang 27ở hiện nay, cư dân ngày càng phát triển đông đúc lập ra làng Cổ Tích Làng
Cổ Tích lập đền Thượng và xây dựng Chùa, sang thời Lê (khoảng thế kỷ XVII, XVIII) làng Trẹo đông lên, tách ra thành hai làng tuy tách ra, nhưng hàng năm vẫn tổ chức tế lễ chung ở cả đình Cả và tổ chức Lễ hội rước chúa gái (còn được goi là lễ hội làng He) Đây là lễ hội đặc sắc với nhiều hình thức nghi lễ cổ diễn tả cảnh sinh hoạt văn hoá xã hội thời Hùng Vương Vì vậy nhiều người cho rằng lễ hội làng He là tiền thân của lễ hội đền Hùng ngày nay Lễ hội được truyền tụng qua câu ca:
"Sơn Tây vui nhất chùa Thầy Vui thì vui vậy chẳng tày hội He"
(Ca dao)
Thời Lê
Từ thế kỷ XV- XVIII, triều đại Lê Sơ, từ Lê Thái Tổ (1428- 1433), đến thời Lê Thánh Tông (1460- 1479) nhà nước luôn có sự quan tâm ưu đã đến đền Hùng Đây là thời kỳ phát triển của Nho Giáo Với tư tưởng "trung quân" nên việc tôn vinh đền Hùng và các vua Hùng được phát triển một bước mới trong hệ tư tưởng văn hoá Việt Nam Bộ sử quán triều Lê "Đại Việt sử ký toàn thư" đã đưa thời đại Hùng Vương vào chính sử nước nhà Thời vua Lê Thánh Tông, năm Hồng Đức nguyên niên (1470), đã cho viết Ngọc phả Hùng Vương, có tên là: "Hùng đồ thập bát diệp thánh vương ngọc phả cổ truyền" Trong đó có thể thấy, nhà nước thời Lê đã có sự tác động về mặt cơ
chế chính sách (cho miễn thuế khoá sưu dịch): " Chuẩn cho miếu điện và các làng đăng cai (là thôn Trung Nghĩa, xã Nghĩa Cương này) tô thuế, binh dân
và sưu sai tạp dịch vẫn theo lệ cũ phụng thờ các vua Hùng để dài quốc mạch, lưu thơm muôn đời"
Trang 28Những phế tích kiến trúc đền ở thế kỷ XV-XVI thấy ở khu vực đền Thượng Các kiến trúc chùa tháp trước đó, đến lúc này chỉ còn thấy dồn lại ở ngôi chùa Thiên Quang trên núi Hùng (tương đương ở khu vực đền Hạ ngày nay)
Địa phương còn lưu truyền, vào năm 1600, vua Lê đã tổ chức Quốc lễ vào ngày Giỗ Tổ Hùng Vương tại đền Hùng Vào khoảng thế kỷ XVII- XVIII, các ngôi đến Hạ, đền Giếng đựơc xây dựng, tôn tạo do sự phát triển của cư dân địa phương
Sách “Nam Việt thần kỳ hội lục” viết năm Cảnh Hưng thứ 24 (1763) triều Lê ghi việc triều đình ban sắc phong cho các địa phương thờ Hùng Vương thuộc "xứ Sơn Tây" có đoạn viết:
" Thánh Tổ Hùng Vương Đền Thờ chính tại xã Hy Cương, huyện Sơn Vi, xứ Sơn Tây (đã được ban sắc phong) Dân các xã thuộc các huyện, xứ cùng phụng thờ tổng cộng có 73 xã (trong đó có 12 xã được ban sắc phong, 61 xã chưa được ban sắc)" Cho thấy nguyên có xứ Sơn Tây thời Lê đã có tới 73
địa phương thờ Hùng Vương Theo thống kê của Viện Hán Nôm, vào thời Lê (từ thế kỷ XV - XVIII), tín ngưỡng Hùng Vương và các nhân thần thời Hùng Vương có tới 1026 đình, đền thờ ở 944 làng xã trong toàn quốc
Trong bản lệnh chỉ của chúa Trịnh Khải, nhân danh" Nguyên soái Tổng quốc Đoan Nam vương" viết ngày 23 tháng 2 niên hiệu Cảnh Hưng thứ 46
(1785) ghi rõ: "Do xã (Hy Cương) này nguyên là dân tạo lệ đồng trà, phụng
sự vị ngột cao sơn và 18 đời thánh vương họ Hùng nước Việt cổ, đã sửa chữa đền Thượng, đền Trung, đền Hạ cho đến chùa trên núi Hùng
Phàm phận binh, thuế hộ, thuế tô dung điệu, thuế cửa đình, các thuế phát sinh, chuẩn thành tiền cùng việc bồi đắp dựng lập đường xá nối kết các đình trong năm, các vật tế thờ cho đến các vật mua sắm luân dịch và sửa sai tạp dịch, đều được miễn trừ Hễ trong đền nếu có hư hỏng, cho sửa chữa lại theo khuôn mẫu cũ, để tiện thờ cúng, giúp mạch nước thọ lâu
Trang 29Dân xã thi hành công việc, còn các Nha môn tuân hành phụng sự Nếu ai vi phạm, sẽ xử theo quốc pháp hiện hành"
Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ
Có một văn bản đề ngày 16 tháng 2, niên hiệu Quang Trung thứ 2(1789) tức là chỉ một tháng sau mùa xuân kỷ Dậu, khi đại phá quân Thanh thắng lợi,
ngời anh hùng dân tộc đã không quên những lời ân điển đối với đền Hùng:" Nay trẫm vâng mệnh trời, giữ việc giáo hoá, xét theo điển cũ thờ tự, chuẩn cho xã (Hy Cương) này được làm dân hộ nhi, ban xuống cho hợp thành ân điển theo lệ cũ trưởng tạo lệ
Còn việc tu sửa miếu điện phải chăm lo cẩn thận cốt tiện phụng sự, khiến mạch nước dài lâu"
Thời nhà Nguyễn
Thế kỷ XI, ngay sau khi lên thay triều Tây Sơn đã cho dựng điện Thái Hoà
ở kinh thành Huế và cho treo ở phía trên ngai vàng của nhà vua bài thơ về đền Hùng:
Văn hiến nước nghìn năm Vạn dặm chung một thế
Từ Hồng Bàng mở nước Nghiêu Thuấn một trời nam
Và cho rước tinh linh (bài vị) của các vua Hùng về thờ ở miếu Lịch Đại Đế Vương (Huế) Triều đình chuẩn y cho phép vào bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục mở đầu từ thời đại thần và cấp tiền để tu bổ, xây dựng đền thờ và lăng mộ Hùng Vương ở đền Hùng Quy định xuân, thu nhị kỳ hàng năm mở hội làm tế lễ
Nhà Nguyễn thực hiện việc quản lý các vị thần thờ nước ta, cho các địa phương kê khai thần tích, thần tốt và phúc thần thì để, tà thần thì bỏ Hùng Vương được đưa vào hàng thượng đẳng thần Các vua nhà Nguyễn rất quan
Trang 30tâm tới việc xây dựng, tôn tạo, gìn giữ đền Hùng Các văn bia tại các đền hiện nay còn ghi chép những đợt trùng tu, mở mang đền Hùng từ các thời vua: Vua Minh Mạng, Tự Đức, Duy Tân, Khải Định… Không chỉ có sự quan tâm tu bổ xây dựng đền Hùng ở cấp độ Nhà Nước, mà việc tổ chức các lễ nghi giỗ Tổ tại đền Hùng cũng được nhà nước phong kiến quan tâm, quy định nghiêm ngặt và quy chuẩn thành định lệ vào các năm chẵn 5 hoặc 10, mở hội Giỗ Tổ vào tháng 3 âm lịch, nhà nước đứng ra chủ trì lễ hội (Quốc lễ)
Ngày giỗ Tổ Hùng Vương và lễ hội đền Hùng vào những năm đầu thế kỷ
XX (1940, 1905) nhà nước đứng ra tổ chức giỗ Tổ, con cháu khắp mọi miền của Tổ quốc về dự lễ hội rất đông vui Lễ hội dền Hùng thời gian này đã được ghi lại không chỉ thông qua tài liệu viết mà còn thấy qua những tư liệu hình ảnh có giá trị hiện đang được trưng bày, giới thiệu tại Bảo tàng Hùng Vương Năm 1917, quan tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc có công văn xin bộ Lễ
:"… ấn định ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm làm ngày quốc tế, tức trước ngày Giỗ Tổ Hùng Vương một ngày Còn ngày giỗ 11 tháng 3 dân sở tại làm lễ"
lễ Lễ phẩm dùng cho ngày này gồm: bò, dê, lợn, xôi… Trích tiền tư lợi bao nhiêu, cùng số tiền 100 đồng do nhà nước cấp mỗi năm, giao cho phủ Lâm Thao nhận lấy mua lễ phẩm Nếu năm nào đến kỳ kỷ niệm, ứng với kỳ đại hội, tạm thời do hội đồng thoả định riêng, sau đó trình lên phủ đường có công văn xin mới được thi hành"
Trang 31Lễ hội thời kỳ này thường được tổ chức ba ngày Phần lễ diễn ra lễ chính ở các đền chùa trên núi Hùng Nghi thức lễ của các vị quan hàng triều diễn ra vào những năm chẵn 5 và chẵn 10 Những năm lẻ do các quan địa phương, đều làm lễ chính trên đền Thượng Những qui định về nghi thức lễ rất nghiêm ngặt theo đúng quy định của triều đình Các nghi thức: dâng lễ, tiến tửu, đọc chúc văn diễn ra theo đúng trình tự qui định của lễ giáo phong kiến Tại các đền chùa trên núi Hùng đồng bào kính cẩn làm lễ
2.2.2.3 Thời kỳ Cách mạng tháng Tám cho đến nay
Mùa xuân năm 1941, khi từ nước ngoài trở về Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc đã viết những vần thơ thể hiện tinh thần yêu nước, khẳng định truyền
thống lịch sử của dân tộc ta trong bài Lịch sử nước ta
Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam
Kể năm hơn bốn nghìn năm
Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà
Hồng Bàng là Tổ nước ta Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang
Đền Hùng lúc này trở thành một biểu tượng thiêng liêng có giá trị văn hoá - tinh thần lớn lao, thể hiện sức mạnh, niềm tự hào của khối đại đoàn kết toàn dân và truyền thống lịch sử lâu đời của dân tộc ta Tại đền Thượng bài thơ của quan Tri phủ Lâm thao sáng tác từ năm 1917 được dâng vào đền Hùng năm 1941 đã thể hiện lòng yêu nước đồng nghĩa với yêu quê hương xứ
sở Động lực cho toàn dân tộc vững bước đấu tranh chính là bắt đầu từ tình yêu quê hương đất nước tha thiết đó
Cách mạng tháng Tám thành công ngày 2-9-1945, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời đánh dấu bước ngoặt lịch sử mới của dân tộc ta Kế tục truyền thống cao đẹp của cha ông ta, nhất là đạo đức " uống nước nhớ nguồn
Trang 32" nên giỗ Tổ Hùng Vương 1946- sau khi Chính Phủ mới được thành lập- là một sự kiện hết sức đặc biệt, đáng ghi nhớ Năm ấy cụ Huỳnh Thúc Kháng, Phó Chủ tịch nước, đã thay mặt Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà lên làm lễ dâng hương tại đền Hùng Cụ mặc áo the khăn xếp, khấn vái theo lễ tục cổ truyền Cụ còn trang trọng dâng lên bàn thờ tấm bản đồ Việt Nam và thanh kiếm là hai vật báu nói lên ý chí của Chính Phủ và Nhân dân cả nước trước họa xâm lăng đang đe dọa
Vào những năm 1946, 1952 thực dân Pháp đã hai lần tổ chức những cuộc càn quét lớn vào khu vực đền Hùng, chúng bắn giết nhân dân, đốt làng phá đền chùa trên núi Hùng Theo lời kể của cư dân địa phương, sau khi đốt làng, thực dân Pháp đập phá các ngôi đền, chúng đốt đền Thượng, lửa cháy cả
ba gian Đại bái, nhưng khi lửa cháy tới cánh cửa của gian Thượng cung- nơi đặt các ngai vị thờ Tổ thị tự nhiên tắt Vào cuối năm 1953, đầu 1954 đền Thượng được nhân dân địa phương tu sửa lại
Ngày 19 tháng 9 năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, chủ tịch
Hồ Chí Minh đã chọn đền Hùng làm nơi gặp gỡ và nói chuyện với chiến sĩ Đại Đoàn quân Tiên Phong- Sư đoàn 308, để căn dặn về nhiệm vụ tiếp quản
đất nước Người đã căn dặn: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu phải cùng nhau giữ lấy nước"
Ngày 19 tháng 8 năm 1962, khi đất nước bước vào giai đoạn cách mạng mới, cả nước đồng tâm đánh thắng kẻ thù xâm lược để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm đền Hùng lần thứ 2
người căn dặn: "Làm cách mạng phải đi tới đích Phải xây dựng đền Hùng trở thành một công viên lịch sử cho con cháu sau này đến thăm viếng"
Năm 1995, Ban Bí thư Trung ương Đảng có chỉ thị về việc tổ chức các ngày lễ lớn trong năm trong đó có việc tổ chức giỗ Tổ Hùng Vương
Trang 33Tại Nghị định số 82/2001/ NĐ-CP ngày 6/11/2001 của chính phủ về nghi lễ Nhà nước và đón tiếp khách nước ngoài Trong Nghị định có quy định những hoạt động chính kỷ niệm những ngày lễ lớn Trong đó tại điều 6 Nghị định này quy định ngày giỗ Tổ Hùng Vương (10/3) âm lịch) được tổ chức theo năm lẻ, năm tròn, năm chẵn được tính theo năm dương lịch
Năm lẻ: Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Phú Thọ tổ chức lễ hội, mời lãnh đạo Bộ Văn Hóa Thể Thao dự lễ dâng hương và tổ chức các hoạt động trong ngày giỗ Tổ
Năm tròn: Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Phú Thọ tổ chức lễ hội, mời đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính Phủ, Uỷ Ban Trung Ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể dự lễ dâng hương
Năm chẵn : Bộ Văn hoá Thể thao và Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Phú Thọ tổ chức lễ hội, mời đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà Nước, Quốc hội, Chính Phủ, Uỷ Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn dự lễ dâng hương
Có 2 phần lễ được cử hành cùng thời điểm ngày Giỗ Tổ
Lễ rước kiệu vua:
Đám rước kiệu vua với màu sắc sặc sỡ của bạt ngàn cờ, hoa, lọng, kiệu, trang phục truyền thống xuất phát từ dưới chân núi rồi lần lượt qua các đền để lên tới đền Thượng, nơi làm lễ dâng hương Đám rước như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá dưới những tán lá cây để tới đỉnh núi Thiêng
Lễ dâng hương
Nghi thức dâng hương của các đoàn đại biểu Đảng, Chính Phủ, các tỉnh v.v được tổ chức long trọng tại Đền Thượng Từ chiều ngày mùng 9, làng nào được Ban tổ chức lễ hội cho phép rước kiệu dâng lễ đã tập trung tại khu vực của Nhà bảo tàng Hùng Vương dưới chân núi, trên kiệu đặt lễ vật
Trang 34Sáng sớm hôm sau (ngày mùng 10) các đoàn đại biểu tập trung ở nhà khách
Uỷ Ban Tỉnh, có xe tiêu binh rước vòng hoa đi trước dẫn đầu, diễu hành từ thành phố Việt Trì lên tới chân đền Hùng Các đoàn đại biểu sắp hàng chỉnh
tề đi sau kiệu lễ, lần lượt lên đền theo tiếng nhạc của phường bát âm và đội sính tiền Tới trước thềm của "Điện Kính Thiên" đoàn dừng lại, kính cẩn dân
lễ vào Thượng cung Đền Thượng Một đồng chí lãnh đạo tỉnh thay mặt cho tỉnh và nhân dân cả nước (năm chẵn là nguyên thủ quốc gia hoặc đồng chí đại diện cho Bộ Văn Hoá) kính cẩn đọc chúc văn lễ Tổ Toàn bộ nghi thức hành
lễ, được các hệ thống phát thanh, truyền hình đưa tin để đồng bào cả nước có thể theo dõi Lễ hội Đồng bào dâng lễ trong các ngôi đền, chùa trên núi, ai cũng có tâm nguyện cầu mong Tổ tiên chứng giám, phù hộ độ trì cho con cháu
Có thể nói với những giá trị văn hoá tâm linh, tín ngưỡng được vun đắp qua nhiều thế hệ, việc tái hiện lại các nghi thức xưa của lễ hội đền Hùng đã góp phần bảo tồn và lưu giữ các giá trị phong tục của cha ông để con cháu có thể tự hào và càng thêm yêu những bản sắc của dân tộc mình Ý nghĩa tâm linh đó đã vượt ra ngoài biên giới, trở thành tiếng chim gọi bầy, là lời hiệu triệu muôn triệu trái tim con dân đất Việt hướng về quê hương với hai tiếng
"đồng bào" thiêng liêng và sâu sắc Đã có nhiều kiều bào ta ở nước ngoài tìm
về đền Hùng dâng hương, xin chân nhang và đất Tổ đem theo để thờ "Đến thăm đền Hùng, chúng tôi như giọt máu trở về tim", "Khi sống, tôi muốn được thờ đất nước, thờ tổ tiên Khi chết, tôi muốn có một phần đất và nước thờ tổ tiên đắp điểm cho phần mộ của tôi ở xứ người" Một vị linh mục khi lên thăm đền Hùng đã nói" Trước khi là người công giáo, tôi là người Việt Nam, đã là người Việt Nam thì phải có tổ tiên" Các nghi thức của ngày Giỗ
Tổ chính là nguồn sáng để con cháu ngưỡng vọng
2.2.3 Phần hội
Trang 352.2.3.1 Hội xưa
Một vùng đất tổ thiêng liêng, không chỉ giàu các truyền thuyết, về thời đại Hùng Vương mà còn giàu cả những di tích, di vật có thực của thời kỳ này nữa Theo thống kê, chỉ riêng địa bàn tỉnh Phú Thọ đã có 450 nơi thờ vua Hùng, thờ các vị tướng và vợ con vua Hùng cùng các sự tích liên quan đến các sự kiện đương thời
Lễ hội cầu nước với tục đua thuyền
Tụ cư ở một địa thế hiếm có, nơi hợp lưu của ba con sông lớn là sông Hồng, sông Đà, sông Lô, cư dân nông nghiệp vùng đất Tổ cũng có ngày hội cầu mưa thuận gió hoà mà hình ảnh thể hiện rõ nhất là tục đua thuyền được khắc trên trống đồng
Trên tang trống đồng Hy Cương (tìm thấy trong lòng đất xã Hy Cương, huyện Phong Châu) có hình ảnh 6 chiếc thuyền đua nối tiếp nhau thành một hàng dọc Trên tang trống Sơn Hùng (xã Sơn Hùng, huyện Thanh Sơn) cũng có 6 chiếc thuyền, trên thuyền có các chiến binh chèo có lẽ đang trong một cuộc đua quyết liệt
Lễ hội cầu nước và đua thuyền còn thấy ở An Đạo, Nha Môn (Phong Châu), Lương Nha (Thanh Sơn) Cũng còn ghi nhận trên trống đồng Hy Cương có những tượng cóc được trang trí trên rìa mặt, khẳng định cư dân vùng đất Tổ có ngày hội cầu nước Ở nhiều vùng phân bố trống đồng tượng cóc thường có những lễ hội cầu nước, rước cóc
Lễ hội cầu mùa
Hình ảnh trên trống đồng còn cho ta thấy những ngôi nhà mái tròn chứa đầy lương thực, thường được các nhà khảo cổ học gọi là ''nhà cầu mùa''
Có những chiếc trống đồng được khắc họa từng đoàn người đang gùi lương thực đem đến nhà cầu mùa trong ngày hội Trong ngày lễ hội còn có cảnh từng đôi trai gái đang giã gạo chày đôi - một trong những nghi lễ cần thiết-