1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khuynh hướng vận động thơ chế lan viên từ sau 1975 qua tập thơ ta gửi cho mình

65 282 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 560,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau Cách mạng, nhờ ánh sáng của Đảng soi rọi vào tâm hồn và những phù sa cuộc đời bồi đắp làm hóa giải “triệu triệu nỗi buồn” nhà thơ gánh trên vai và dẫn lối cho nhà thơ trên hành trình

Trang 1

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

TẬP THƠ TA GỬI CHO MÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Chế Lan Viên là một trong những tên tuổi hàng đầu của nền thơ Việt Nam thế kỉ XX Đời thơ của ông trải dài hơn nửa thế kỉ gắn bó mật thiết với

những thăng trầm lịch sử trong hành trình của thơ ca dân tộc “anh luôn đi

song hành với cuộc sống, với thời đại, anh mải mê tìm tòi, anh muốn thử sức, muốn bộc lộ mình ở tất cả giọng điệu, ở mọi cung bậc sắc thái (…) Giọng cao

là anh, giọng trầm cũng là anh Súc tích, cổ điển, truyền thống mà rất mực phóng túng, hiện đại cũng đủ cỡ khó mà đoán trước được (…) Anh đã là nhà thơ đầy bản lĩnh, mở đường mới cho thi ca hiện đại” [8,14]

Chế Lan Viên là một nhà thơ đúng như lời nhận xét của Hoài Thanh:

“con người này là người của trời đất bốn phương, không thể lấy kích tấc

thường mà hòng đo được [8,288] Thơ Chế Lan Viên có một vị trí khá đặc

biệt, nó gần như bao trùm lên cả thế kỉ XX, trong cả chiều dài và bề sâu của

nó Ông là một nghệ sĩ lớn luôn trăn trở tìm tòi trên con đường nghệ thuật Hơn nửa thế kỉ sáng tạo, ông đã tìm đến nhiều khuynh hướng nghệ thuật và ở chặng nào cũng ghi được những thành công nổi bật nhưng không bao giờ nhà thơ tự bằng lòng với chính mình Ông luôn thể hiện khát khao sáng tạo và

“thuộc trong số không nhiều những nhà thơ mà sự sáng tạo không chỉ làm

giàu cho hiện tại mà còn tạo lực thúc đẩy cho quá trình vận động văn học, có

ý nghĩa gieo giống cho mùa sau” [1,20]

Chế Lan Viên là nhà thơ có quan niệm rất rõ ràng, và được phát biểu

trực tiếp nhiều lần, đặc biệt là dưới hình thức những bài thơ về thơ: Nghĩ về

thơ, Sổ tay thơ, Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ…nghĩ… Ông luôn trăn trở, sáng tạo

không ngừng và tìm tòi không mệt mỏi “thu hút tinh hoa của nhiều nền thơ

vào thơ mình mà không làm mất bản sắc riêng, bản sắc dân tộc [1,637]

Trang 3

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

Tên tuổi Chế Lan Viên đi liền với một phong cách thơ có “từ trường”

ảnh hưởng rất rộng: phong cách suy tưởng - triết luận tạo nên một hiện tượng riêng biệt, mang cá tính sáng tạo độc đáo rõ nét và có ảnh hưởng sâu sắc đến các thế hệ nhà thơ sau ông

Trước Cách mạng, cùng với quan niệm nghệ thuật khác lạ về thơ, về thi

sĩ, “Điêu tàn đã đột ngột ra đời giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh

dị” khiến cho nhiều người thảng thốt, giật mình đã khiến cho Điêu tàn trở

thành “lẻ loi”, “bí mật”

Sau Cách mạng, nhờ ánh sáng của Đảng soi rọi vào tâm hồn và những

phù sa cuộc đời bồi đắp làm hóa giải “triệu triệu nỗi buồn” nhà thơ gánh trên vai và dẫn lối cho nhà thơ trên hành trình “tìm đường” trở về với cách mạng,

với nhân dân, hòa mình vào cuộc sống riêng – chung gắn bó, nó được đánh

dấu bằng những tập thơ Gửi các anh (1955); Ánh sáng và phù sa (1960)…

Thơ Chế Lan Viên sau 1975 và những năm cuối đời có một sự vận động lớn so với chặng đường thơ sau Cách mạng tháng Tám nhưng lại có một

chút gì “đồng điệu” phảng phất hơi thơ trước Cách mạng Thơ sau 1975 và

những năm cuối đời hướng mạnh vào thế sự và đời tư làm bật mở những góc

khuất cuộc đời và tiếp tục cuộc hành trình đi tìm câu trả lời cho câu hỏi “Ta

là ai” mà nhà thơ đặt ra từ giai đoạn trước trở trăn và nhức nhối

Tập thơ Ta gửi cho mình là một trong những tập thơ có tính chất

chuyển giai đoạn rõ nhất Nghiên cứu tập thơ này, đặt trong sự đối sánh với thơ các giai đoạn trước đó có thể nhận rõ khuynh hướng vận động thơ Chế Lan Viên trong khoảng hai mươi năm cuối đời, cũng là chặng đường cuối

cùng của quá trình “tìm đường” một đời thơ Đồng thời, nó cũng mở ra một

khuynh hướng vận động mới trong thơ Chế Lan Viên ở giai đoạn phía sau đó,

đặc biệt là phần Di cảo thơ

Trang 4

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

Trên đây là tất cả những lí do để chúng tôi xác định lựa chọn đề tài

khóa luận: “Khuynh hướng vận động thơ Chế Lan Viên từ sau 1975 qua tập

thơ Ta gửi cho mình”

sử thi với chất chính luận và âm hưởng anh hùng ca trong thời kì kháng chiến chống Mĩ, Chế Lan Viên chuyển dần sang cảm hứng thế sự, đời tư với sự suy ngẫm triết lí, nhiều khi là sự nhận thức lại, tự phản tỉnh, từ hướng ngoại chuyển sang hướng nội, từ giọng cao chuyển sang giọng trầm Sự chuyển

hướng ấy bắt đầu ở tập Hoa trên đá (1984), tiếp đó là Ta gửi cho mình (1986)

và nhất là ở hơn 300 bài thơ viết trong vài năm cuối đời, được đưa vào ba tập

Di cảo thơ Chế Lan Viên [7; 113]

So với các tập thơ khác như Điêu tàn, Ánh sáng và phù sa, Di cảo thơ (3tập), tập thơ Ta gửi cho mình chưa có thật nhiều những bài viết và công

trình nghiên cứu quy mô , mặc dù nó là một trong những tập thơ mang giá trị dấu mốc quan trọng trong bước chuyển thơ Chế Lan Viên

Xung quanh tập thơ này, các ý kiến nhìn nhận hầu như chỉ chung chung

và đặt trong hệ thống với các tập thơ khác như: Hoa trên đá, Ta gửi cho mình, Di

cảo thơ

Theo G.S Nguyễn Văn Long: “Trong tập thơ Hoa trên đá, Ta gửi cho

mình và nhất là Di cảo thơ chúng ta bắt gặp một cái “tôi” đầy trăn trở, tìm kiếm, có cả những hoài nghi, băn khoăn về bản ngã về ý nghĩa của đời sống

và thơ ca Câu hỏi “Ta là ai?” tưởng đã thuộc vào dĩ vãng nhưng nay trở lại

Trang 5

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

khắc khoải, da diết khi nhà thơ đối mặt với thời gian và cõi hư vô Điều đáng nói ở Chế Lan Viên lúc này là một sự tỉnh táo, nghiêm khắc với chính mình, một nỗ lực không chịu lùi, vẫn dồn chắt sự sống của mình để có được những chùm Hoa trên đá, vẫn muốn “Vê hạt cát thời gian chọi lại với vô cùng”

Giã từ với cảm hứng hào hùng về Tổ quốc và thời đại sau 75, Chế Lan Viên trở về với những vấn đề vĩnh hằng của đời sống con người và nghệ thuật với một giọng trầm tư triết lí man mác

Đoàn Trọng Huy thì cho rằng: “Nghiên cứu bước đầu ba tập thơ này (Hoa trên đá (1984); Ta gửi cho mình (1986), và sau này phần lớn thơ được

công bố trong Di cảo thơ, Tập 1 (1992) ta có thể nhận rõ khuynh hướng vận động thơ Chế Lan Viên trong khoảng mươi năm cuối đời, cũng là chặng đường cuối cùng của quá trình “tìm đường” một đời thơ”[1,185]

Tập thơ Ta gửi cho mình không mang màu sắc kinh dị, siêu hình như

Điêu tàn, không hào hùng, mãnh liệt trong âm hưởng thơ như Ánh sáng và phù sa nhưng đằm thắm, trầm tĩnh và gần gũi với đời thường Những vấn đề

nhỏ nhặt đời sống được khai phá và nhìn dưới các góc diện khác nhau tạo ra

sự sinh động, chân thực và đầy sức hút Từ những quan niệm về thơ ca nghệ thuật, những trăn trở cuộc đời cho đến những chuyện đời thường nhỏ nhặt cũng đi vào thơ Chế Lan Viên đầy sức hấp dẫn

Cái đặc biệt của tập thơ không phải ở sự sáng tạo giọng điệu, ngôn từ mang tính đột phá mà chính là ở dấu hiệu chuyển biến, một khuynh hướng vận động thơ của một phong cách thơ khá phức tạp và độc đáo

Tóm lại, dù chưa có nhiều công trình nghiên cứu tập trung vào Ta gửi

cho mình nhưng các tác giả đã ít nhiều khẳng định, tập thơ đánh dấu bước

chuyển mình trong khuynh hướng vận động của thơ Chế Lan Viên Từ những gợi ý của các nhà nghiên cứu, chúng tôi sẽ tiếp tục đi sâu và khẳng định

“bước chuyển mình” ấy và ý nghĩa của nó đối với hành trình thơ Chế Lan

Trang 6

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

Viên và rộng hơn, ý nghĩa đối với sự chuyển mình của nền thơ ca dân tộc bước vào thời kỳ đổi mới

3 Mục đích nghiên cứu

Với đề tài: “Khuynh hướng vận động thơ Chế Lan Viên từ sau 1975

qua tập thơ Ta gửi cho mình”, khoá luận hướng tới các mục đích sau:

Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật và sự chi phối của quan niệm nghệ thuật đến sáng tác thi ca của Chế Lan Viên

Làm rõ khuynh hướng vận động của thơ Chế Lan Viên sau 1975 qua

việc khảo sát tập thơ Ta gửi cho mình và đặt trong mối quan hệ tương quan,

đối sánh với các tập thơ khác trước đó của nhà thơ Đồng thời thấy được sự vận động mở ra ở những tập thơ phía sau đó

Đánh giá vị trí của tập thơ trên hành trình thơ Chế Lan Viên

Góp phần vào việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu tác phẩm văn học, tác phẩm thơ nói chung và thơ ca Chế Lan Viên nói riêng

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài khoá luận đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu:

Tìm hiểu khái quát về tác giả Chế Lan Viên

Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật của nhà thơ và sự chi phối của quan niệm ấy đối với hành trình thơ Chế Lan Viên

Đi sâu khắc hoạ khuynh hướng vận động thơ Chế Lan Viên sau 1975

và trực tiếp khảo sát qua tập Ta gửi cho mình

Ý nghĩa và những đóng góp của sự vận động trong khuynh hướng thơ đối với chính sáng tác của Chế Lan Viên và thơ ca dân tộc thời kì đổi mới

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Trang 7

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

Tập trung vào tập thơ Ta gửi cho mình (1986) rút từ Chế Lan Viên toàn

- Phương pháp so sánh đối chiếu

- Phương pháp phân tích văn học

7 Đóng góp của đề tài

Về mặt khoa học: khoá luận góp phần tìm hiểu về khuynh hướng vận

động thơ Chế Lan Viên sau 1975 qua tập thơ Ta gửi cho mình đặt trong sự

tương quan, đối sánh với các tập thơ trước và thấy được sự vận động mở ra ở các tập thơ sau đó của Chế Lan Viên

Về mặt thực tiễn: khoá luận góp phần cung cấp những tài liệu cho bạn đọc yêu thơ Chế Lan Viên, cho người trực tiếp giảng dạy, học tập và tìm hiểu

về Chế Lan Viên và các sáng tác của ông, đặc biệt là tập Ta gửi cho mình

8 Bố cục khoá luận

Khoá luận chia thành 3 phần: mở đầu, nội dung chính, kết luận

Phần nội dung gồm 3 chương:

Chương 1: Chế Lan Viên và những chặng đường thơ (từ trang 7 đến trang 14)

Chương 2: Quan niệm nghệ thuật và sự chi phối của quan niệm nghệ thuật trong thơ Chế Lan Viên (từ trang 15 đến trang 24)

Chương 3: Khuynh hướng vận động thơ Chế Lan Viên sau 1975 qua

tập thơ Ta gửi cho mình (từ trang 25 đến trang 57)

Ngoài ra, khoá luận còn có mục lục, danh mục tài liệu tham khảo

Trang 8

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

NỘI DUNGCHƯƠNG I CHẾ LAN VIÊN VÀ NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG THƠ

1.1 Tác giả Chế Lan Viên

Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 23/10/1920 trong một gia đình viên chức nhỏ, ở xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị Năm 1927 gia đình chuyển vào An Nhơn, Bình Định, quê hương thứ hai của nhà thơ

Chế Lan Viên làm thơ từ rất sớm, có bài đăng trên các báo: Tiếng trẻ,

Khuyến học, Phong hoá từ những năm 1935, 1936 Cùng với Hàn Mặc Tử,

Chế Lan Viên sáng lập trường thơ Loạn mang đậm dấu ấn của thơ tượng

trưng Pháp Khi Chế Lan Viên cho trình làng tập thơ Điêu tàn (1937) năm

ông mới 17 tuổi, đang học năm thứ ba trường Trung học Quy Nhơn đã gây một sự chú ý đặc biệt của dư luận và được xếp vào trong số những nhà thơ mới hàng đầu

Năm 1939, Chế Lan Viên ra Hà Nội học, rồi vào Sài Gòn làm báo, sau

đó vào Huế dạy học Năm 1942, ông cho ra đời tập Vàng sao và tiếp đó là tập bút kí triết luận Gai lửa

Trong kháng chiến chống Pháp, ông tham gia hoạt động văn nghệ và làm báo tại Trung bộ và mặt trận Bình -Trị - Thiên Tháng 7/1949, Chế Lan Viên được kết nạp Đảng Những bài thơ Chế Lan Viên sáng tác trong thời kì

này được tập hợp trong tập thơ Gửi các anh (1955) thể hiện những chuyển

biến quan trọng trong tư tưởng và nghệ thuật của ông

Sau 1954, ông về sống và làm việc tại Hà Nội Đánh dấu bước phát

triển mới của thơ Chế Lan Viên giai đoạn này là tập thơ Ánh sáng và phù sa

(1960)

Trang 9

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

Bước vào những năm chống Mĩ, thơ Chế Lan Viên nở rộ với nhiều

thành tựu, tiêu biểu là các tập thơ: Hoa ngày thường – Chim báo bão (1967),

Những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973) mang đậm chất chính

luận, sử thi bên cạnh chất trữ tình đằm thắm của cuộc sống đời thường

Sau ngày đất nước giải phóng, Chế Lan Viên chuyển vào sống tại thành

phố Hồ Chí Minh và tiếp tục cho ra đời các tập thơ Hái theo mùa (1977), Hoa

trên đá (1984), Ta gửi cho mình (1986)

Bên cạnh sự nghiệp thơ đồ sộ, Chế Lan Viên còn là cây bút văn xuôi

xuất sắc với các tập bút kí: Vàng sao (1942), Những ngày nổi giận (1966),

Giờ của số thành (1977)… Các tập tiểu luận, phê bình: Nói chuyện văn thơ

(Chàng Văn - 1960), Từ gác khuê văn đến quán Trung tân (1981), Nghĩ cạnh

dòng thơ (1982)

Trong suốt thời kì chống Mĩ ông còn tham gia ban lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam, làm việc ở báo văn học, Uỷ ban văn hoá đối ngoại, có nhiều hoạt động trên các diễn đàn văn hoá quốc tế, được bầu là đại biểu Quốc hội từ khoá III đến khoá VII

Chế Lan Viên mất ngày 19/6/1989 tại thành phố Hồ Chí Minh Sau khi ông mất, những di cảo thơ của ông được nhà văn Vũ Thị Thường - vợ nhà thơ

tập hợp, tuyển chọn và xuất bản: Di cảo thơ I (1992), Di cảo thơ II(1993) Năm 1994, Hội nhà văn Việt Nam trao giải thưởng chính thức cho tập Di cảo

thơ II của ông

Chế Lan Viên đã được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật, đợt 1 tháng 10 năm 1996

1.2 Những chặng đường thơ Chế Lan Viên

1.2.1 Thơ Chế Lan Viên trước Cách mạng tháng Tám

Chế Lan Viên thật sự có mặt giữa làng thơ Việt bằng tập thơ Điêu tàn (1937) “như một niềm kinh dị”, khiến người đọc bàng hoàng và gây một “cú

sốc”, trong kinh nghiệm về thơ ca của công chúng

Trang 10

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

Tập thơ là tiếng khóc não nùng, bi hận về “cái Đẹp đã chết” là nỗi chán

nản gay gắt trước thực tại; sự phản ứng tiêu cực trước hoàn cảnh sống tẻ nhạt, tầm thường bất đắc chí

Khai thác những hình ảnh, đề tài về sự tàn vong của vương quốc Chiêm Thành và bằng trí tưởng tượng kì lạ, Chế Lan Viên tạo nên một không gian của những bãi tha ma, những ngọn tháp Chăm hoang tàn, những nấm mồ xương máu cùng yêu ma,bóng dáng hư ảo của những Chiêm nữ… Chế Lan Viên dường như lạc lối vào thế giới hư vô, thần bí, quái dị

Điêu tàn cũng mở ra một tâm hồn đồng cảm sâu sắc Đồng cảm với số

phận dân tộc Chăm cũng là một cách thể hiện gián tiếp nỗi đau mất nước,đồng cảm với nỗi thất vọng của một lớp thanh niên đương thời chưa tìm được hướng đi Nhưng ở Chế Lan Viên, sự chối từ cuộc sống đến độ gay gắt và

quyết liệt: “Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh/ Một vì sao trơ trọi cuối trời xa/

Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh/ Những ưu phiền đau khổ với buồn lo” Và

cũng đầy dự cảm hãi hùng về sự cô độc: “Đường về thu trước xa xa lắm –

Mà kẻ đi về chỉ một tôi” mà nhà thơ ngộ nhận như là sự huỷ diệt của chính

cuộc sống Điêu tàn là dấu hiệu báo trước sự khủng hoảng bế tắc của Thơ Mới ngay trong buổi cực thịnh

Tuy nhiên, tâm hồn nhà thơ vẫn chưa mất đi những khao khát và độ nhạy cảm trước tạo vật Khi đối lập giữa buồn đau não nề với cái tươi vui,

Chế Lan Viên vẫn để lộ niềm lưu luyến “quay mặt chẳng quay lòng” trước

những vẻ đẹp buổi đương xuân khó khước từ

Những bài cuối của tập Điêu tàn Chế Lan Viên hướng sang cảm hứng

triết luận, suy tưởng về cuộc đời bằng cảm xúc tôn giáo - một bước lạc xa hơn vào cõi siêu hình Tuy nhiên nhìn từ góc độ sáng tạo nghệ thuật ta vẫn thấy ở Chế Lan Viên một hồn thơ mãnh liệt, trí tưởng tượng phong phú, sức liên

Trang 11

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

tưởng dồi dào tạo nên những hình ảnh thơ đầy ấn tượng Điêu tàn báo hiệu

một phong cách thơ mới lạ, độc đáo

1.2.2 Thơ Chế Lan Viên chặng từ 1945 đến 1975

1.2.2.1 Thời kì kháng chiến chống Pháp

Cách mạng đến như một “chân trời chân lí” bừng sáng và ấm nóng kéo

Chế Lan Viên ra khỏi con đường thơ lạnh lẽo và bế tắc Dù buổi đầu phải

“gánh trên vai triệu triệu nỗi buồn” khiến cho quá trình “lột xác”, “đổi mới”

của ông vừa khó khăn vừa chậm chạp Gửi các anh in 1955 là “vụ gặt” đầu

của thơ Chế Lan Viên sau hơn 10 năm theo Đảng, gắn mình vào cuộc kháng chiến Giai đoạn này, Chế Lan Viên viết rất chậm, rất ít, mười năm kháng chiến, rung động của người nghệ sĩ chỉ ghi lại trong 14 bài thơ

Điều đáng ghi nhận là hồn thơ Chế Lan Viên đã hoàn toàn đổi khác Nếu trước kia thơ ông hướng nội để tự biểu hiện mình, thì nay ông nhìn ra xung quanh để thể hiện cuộc sống kháng chiến của một Bình - Trị - Thiên

khói lửa để cảm nhận cái Đẹp, cái Anh hùng Tuy thế, “cả tập thơ vẫn cho ta

cảm giác gò ép, khuôn cứng, thiếu sự thoải mái, bay bổng của cảm hứng sáng tạo” [6;24]

Dù chưa thực sự thành công, nhưng Gửi các anh đánh dấu sự chuyển

biến về tư tưởng trong sáng tạo nghệ thuật của Chế Lan Viên Sau này, khi

“tự bạch” về giai đoạn sáng tác này, Chế Lan Viên thẳng thắn thừa nhận:

“Cách mạng đến tôi gánh trên vai triệu triệu nỗi buồn”, con người mới chưa

đủ sức thắng thế con người cũ Điều đó giải thích vì sao, suốt thời kì kháng chiến chống Pháp 9 năm, Chế Lan Viên chỉ cho ra đời một tập thơ mỏng và cũng chưa thực sự tạo được dấu ấn sâu sắc trước độc giả Song, đó vẫn là

bước khởi đầu quan trọng, có ý nghĩa “nhận đường”, “lột xác” mở ra một hành

trình thơ mới đồng hành cùng cách mạng sau này

Trang 12

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

1.2.2.2 Thời kì sau hoà bình lặp lại và xây dựng XHCN ở miền Bắc

Tập thơ Ánh sáng và phù sa (1960) có một vị trí đặc biệt quan trọng trên hành trình đi với Cách mạng của Chế Lan Viên: “Từ thung lũng đau

thương ra cánh đồng vui” là cảm hứng chủ đạo của tập thơ Tập thơ chính là

kết quả của quá trình hơn mười năm kiên trì cải tạo con người cũ, đau đớn

chật vật tự “lột xác” để có một cuộc trở về vĩ đại giữa lòng dân tộc

Tập thơ gồm 69 bài, sáng tác trong khoảng 1955 – 1960, đề tài phong phú, có tình cảm với Đảng, kỷ niệm với thời kì chống Pháp có chủ đề quốc tế

vô sản, có quan niệm về thơ,… nhưng xuyên suốt là nhu cầu tự biểu hiện, là suy tưởng của chính tác giả Nhu cầu này gắn liền với cảm hứng cắt nghĩa sự

“đổi đời”, sự “tỉnh ngộ” của nhà thơ: “Ánh sáng soi rọi tôi và phù sa bồi đắp tôi, ánh sáng tinh thần và phù sa vật chất của lí tưởng tôi”

Ánh sáng và phù sa trình bày cuộc phấn đấu trong tâm hồn, tư tưởng

nhà thơ để vượt qua những nỗi đau riêng hoà hợp với niềm vui chung Chế

Lan Viên đã tạo nên một cuộc “đổi dòng” thật ngoạn mục Đó là chiến thắng

trong cuộc phấn đấu riêng của cá nhân nhà thơ theo định hướng hiện thực XHCN

Về nghệ thuật, tập thơ cho thấy sự định hình những nét cơ bản của

phong cách Chế Lan Viên “Ánh sáng và phù sa đã đạt đến thành công vững

chắc ở nhiều phương diện Thơ ông bao quát được nhiều chủ đề có ý nghĩa xã hội mà thế giới nội tâm vẫn được coi trọng Những cảm xúc trữ tình rút ra từ cuộc đấu tranh bên trong để tự nhận thức về hạnh phúc và trách nhiệm Ngòi bút của Chế Lan Viên phóng khoáng, uyển chuyển, đa dạng và biến hoá trong giọng điệu, khi thủ thỉ tâm tình, khi trầm tư suy nghĩ, khi trẻ trung sôi nổi, khi ngậm ngùi xót xa Cảm xúc đôi khi bị dồn nén, có lúc lại mở ra bát ngát với những câu thơ kéo dài rất đặc biệt Tư duy thơ Chế Lan Viên ở Ánh sáng và phù sa kết hợp được cả sự sắc sảo,triết lí của trí tuệ lẫn cái ảo diệu của

Trang 13

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

trường liên tưởng phát triển đến độ sung mãn Hồn thơ ông đạt được sự hài hoà tuyệt đẹp giữa cảm xúc và tư tưởng[1,215]

1.2.2.3 Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ

Ánh sáng và phù sa đã giải quyết được căn bản vấn đề “riêng chung”,

nhà thơ đã chọn hành trình “từ chân trời của một người đến chân trời của tất

cả” (Pôn Eluya) Bước vào những năm chống Mỹ Chế Lan Viên đã làm một

cuộc “chuyển quân” đưa thơ lên sát những “chiến hào” của cuộc chiến đấu

Mạch trữ tình suy tưởng quen thuộc của thơ Chế Lan Viên đã được mở rộng, nâng lên thành những cảm hứng lớn về cuộc chiến đấu của dân tộc tiêu biểu

như các tập thơ:Hoa ngày thường – chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh

giặc (1972), Đối thoại mới (1973), Ngày vĩ đại (1975)… Chế Lan Viên cũng

gia tăng chất suy nghĩ, bình luận, phân tích kịp thời, nhạy bén với hàng loạt

bài tuỳ bút – thơ: Nghĩ suy 68, Phác thảo một trận đánh, Thời sự hè 72 – bình

luận…

Niềm tự hào về Tổ quốc là nguồn cảm hứng mãnh liệt của nhà thơ Đi liền với cảm hứng ngợi ca và khẳng định Tổ quốc, dân tộc là nhu cầu phủ định kẻ thù, vạch trần những luận điệu, bản chất xảo quyệt, tàn bạo của chúng bằng tất cả sự tỉnh tảo, sắc sảo của lí trí

Hồn thơ Chế Lan Viên nhập vào cơn bão lớn của thời đại, nhưng cũng không quên rung động trước những nét đẹp bình dị của cuộc sống đời thường của thiên nhiên và tình người Thiên nhiên đã lọc qua sự cảm nhận của một tâm hồn giàu suy tư nên mang một vẻ đẹp riêng và man mác ý vị triết lí Thơ tình Chế Lan Viên không phải là tình yêu dào dạt, vồ vập của tuổi trẻ mà là tình yêu trầm lắng của người đứng tuổi ưa triết lí, suy ngẫm nhưng không phải vì thế mà kém nồng nhiệt

Về mặt nghệ thuật, Chế Lan Viên đã có những tìm tòi thể nghiệm mới phù hợp với bước chuyển của thơ theo hướng chính luận - thời sự, gia tăng

Trang 14

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

mạnh mẽ yếu tố trí tuệ trong thơ Nhiều bài thơ được cấu trúc theo lối tuỳ bút, chủ đề được triển khai trên nhiều bình diện, góc độ, nhiều mối tương quan Thơ chống Mĩ mang âm hưởng hào hùng, hình ảnh thơ được tạo dựng bằng suy tưởng, hướng tới ý nghĩa khái quát hơn là biểu hiện cụ thể, xem xét đối tượng ở nhiều bình diện

1.2.3 Thơ Chế Lan Viên những năm cuối đời

Sau 1975, là nhà thơ nhạy bén với những chuyển biến và nhu cầu của thời đại, Chế Lan Viên đã có sự biến đổi trong khuynh hướng cảm hứng và giọng điệu của thơ mình Từ khuynh hướng sử thi với chất chính luận và âm hưởng anh hùng ca trong thời kì kháng chiến chống Mĩ, thơ Chế Lan Viên chuyển dần sang cảm hứng thế sự đời tư, từ hướng ngoại chuyển sang hướng

nội, từ “giọng cao” chuyển sang “giọng trầm”

Sự chuyển hướng ấy bắt đầu ở tập thơ Hoa trên đá (1984), Ta gửi cho

mình (1986), và nhất là ở hơn 300 bài thơ viết trong những năm cuối đời

Ở Hoa trên đá và Ta gửi cho mình chiếm số lượng lớn là những bài thơ

bộc lộ tâm tình và triết luận, các vấn đề muôn thuở của cõi nhân sinh, những đau thương, mất mát và cả những vẻ đẹp cao cả của con người Việt Nam Bên cạnh đó, hai tập thơ cũng bộc lộ những nghĩ suy, trăn trở và triết lí về nghệ thuật của Chế Lan Viên

Ba tập Di cảo thơ I, II, III đồ sộ với 558 bài thơ, gần 800 trang sách, có

tới 309 bài thơ được tác giả viết vào hai năm 1987, 1988 Khi nó được công

bố đã khiến công chúng “kinh ngạc” về sức lao động nghệ thuật của ông, ngỡ

ngàng trước những bức chân dung tinh thần mới của nhà thơ

Di cảo thơ gồm một khối lượng đồ sộ các bài thơ mới ở dạng phác thảo

hoặc đã hoàn chỉnh nhưng chưa công bố khi Chế Lan Viên còn sống Với ba

tập đã xuất bản, Chế Lan Viên tiếp tục là nhà thơ phong phú, bí ẩn Di cảo thơ

của ông không hoàn toàn thuộc về giai đoạn sáng tác cuối đời mà trải từ 1936

Trang 15

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

trở đi Điều quan trọng là trong số 558 bài thơ thuộc Di cảo, có tới 309 bài

được tác giả viết vào hai năm 1987, 1988 và những bài thơ này đủ là căn cứ tin cậy để nhận ra một giai đoạn mới của thơ Chế Lan Viên

Về mặt nghệ thuật, thơ Chế Lan Viên có xu hướng trình bày những chiêm nghiệm, tổng kết, triết lí nên hình thức thơ ngắn gọn, dồn nén được sử dụng nhiều hơn Nhu cầu hướng nội với việc đào sâu vào thế giới tâm linh đem lại nhiều ảnh ảo mang ý nghĩa biểu tượng Tính đối thoại trong thơ được

tăng cường Sự thay đổi rõ nhất là ở giọng điệu thơ từ “giọng cao” chuyển xuống “giọng trầm”, tiếng thơ Chế Lan Viên mang nhiều âm sắc mới có cả tin

yêu, hi vọng lẫn hoài nghi, chua xót… Nói chung, chất giọng ấy gần với cuộc đời thường nhật

Như vậy, có thể thấy qua ba chặng sáng tác, Chế Lan Viên đã làm một

cuộc hành trình ngoạn mục vượt ra khỏi “thung lũng đau thương đến cánh

đồng vui”; “từ chân trời của một người đến chân trời của nhiều người” (Paul Eluad) Và cũng “chỉ cần nhìn vào những chặng đường thơ anh, ta sẽ thấy nhục và vinh, tình yêu và nỗi đắng cay, lòng căm giận và những mùa trái chín”

Trang 16

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

CHƯƠNG 2 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VÀ SỰ CHI PHỐI CỦA QUAN NIỆM

NGHỆ THUẬT TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN

2.1 Khái niệm về quan niệm nghệ thuật

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Quan niệm nghệ thuật là hình thức

bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, làm thành thước đo của hình thức văn học và là cơ sở của tư duy nghệ thuật” [3,275]

Quan niệm nghệ thuật thể hiện cái giới hạn tối đa trong cách hiểu thế giới và con người của một hệ thống nghệ thuật, thể hiện khả năng, phạm vi, mức độ chiếm lĩnh đời sống

Tố Hữu là nhà thơ cách mạng, ông quan niệm: “Thơ là chuyện đồng

điệu (…) Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng chí, đồng tình” Từ quan niệm này,

sáng tác thơ của Tố Hữu luôn hướng vào việc thể hiện tiếng nói của dân tộc, nhân dân, lí tưởng của người cộng sản (trong đó có tác giả) Chính vì thế mà

thơ ông được nhận xét là: “thơ chính trị lên đến trình độ là thơ rất đỗi trữ

tình” (Xuân Diệu)

Với Nguyễn Tuân, ông quan niệm văn chương là phải tìm đến, miêu tả

những cái đạt đến trình độ “tài hoa”, “nghệ sĩ” nhìn ở góc độ nào cũng thấy

“cái Đẹp”, cái phi thường Quan niệm này chi phối đến sáng tác của ông

trong việc xây dựng hình tượng nhân vật mang màu sắc lí tưởng

2.2 Quan niệm nghệ thuật và sự chi phối quan niệm nghệ thuật trong thơ Chế Lan Viên

Chế Lan Viên là nhà thơ có quan niệm thơ rất rõ ràng và được ông phát

biểu trực tiếp nhiều lần dưới hình thức những bài thơ về thơ: Nghĩ về thơ

Trang 17

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

Sổ tay thơ, Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ…nghĩ Quan niệm nghệ thuật của ông

vừa độc đáo, vừa phong phú và khá phức tạp

2.2.1 Thời kì trước Cách mạng tháng Tám

Là thành viên của trường phái thơ Loạn, Chế Lan Viên đã đưa ra quan niệm khác lạ về bản chất của thơ ca như sau:

“Hàn Mặc Tử nói: Làm thơ tức là điên Tôi thêm làm thơ là làm sự phi

thường Thi sĩ không phải là người Nó là người mơ, người say, người điên

Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu Nó thoát hiện tại Nó xáo trộn dĩ vãng Nó ôm trùm tương lai Người ta không thể hiểu được Nó vì nó nói nhiều cái vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lí nhưng thường Nó không nói Nó gào, Nó thét, Nó khóc, Nó cười Cái gì của nó cũng tột cùng”

(lời tựa tập Điêu tàn)[7,99]

Điêu tàn xuất phát từ quan niệm thơ trên và những ám ảnh đã in sâu

vào tâm trí về sự điêu tàn của vương quốc Chiêm Thành xưa và một phần ảnh hưởng của Bôđơle – nhà thơ tượng trưng Pháp, Chế Lan Viên đã xây dựng một thế giới kinh dị Khai thác những hình ảnh, đề tài về sự tàn vong của vương quốc Chiêm Thành và bằng tưởng tượng kì lạ, Chế Lan Viên tạo nên không gian của những bãi tha ma, những tháp Chàm hoang phế và bí mật

những nấm mồ hiện ra trong bóng đêm dày đặc… một thế giới “đầy rẫy

những viễn tưởng quái đản” [1,22] Mặt khác trí tưởng tượng của nhà thơ

cũng làm hiện lên những bức tranh rực rỡ của nước Chiêm Thành xưa trong thời kì huy hoàng:

Đây điện các huy hoàng trong ánh nắng Những đền đài tuyệt mĩ dưới trời xanh Những chiếc thuyền nằm im trên sông lặng Bầy voi thiêng trầm mặc dạo bên thành

(Trên đường về)

Trang 18

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

Điêu tàn còn là sự phủ nhận thực tại xã hội đương thời với đầy những

dự cảm hãi hùng, rợn ngợp, chán nản, thất vọng và cô độc Cái thế giới ảo ảnh trong thơ chính là phương tiện nhà thơ trình bày cái tôi mang màu sắc cô đơn triết học của mình Cô đơn trước đồng loại, con người chạy trốn vào mộng tưởng, vào vũ trụ, vào quá khứ và vào ngay bản thể của mình:

Ôi biết làm sao cho ta thoát khỏi Ngoài cõi ta ngập chìm trong bóng tối Cho linh hồn vụt đến xứ trong mây

Mà sáp nhập vào tuổi tên cây cỏ

(Cõi ta)

Lạc bước vào thế giới siêu hình nhưng tâm hồn nhà thơ vẫn không hề khép kín trước vẻ đẹp của cuộc sống và tạo vật Khi đối lập cái buồn đau với cái tươi vui, giữa quá khứ huy hoàng với thực tại điêu tàn, nhà thơ không thể che giấu nổi niềm lưu luyến và khao khát giao cảm mãnh liệt

Trước vẻ đẹp của buổi xuân về, nhà thơ dường như cảm nhận được sự rạng rỡ, đầy sức sống tươi trẻ của nó:

Hàng dừa cao say sưa ôm bóng ngủ

Vài quả non khảm bạc hớ hênh phô Xoan vườn cành khều mặt trời rực rỡ Bên bóng râm lơi lả nhẹ nhàng đu

(Xuân về)

Quan niệm thơ khác thường đã chi phối tập thơ đầu tay của Chế Lan

Viên một cách sâu sắc, ông thực sự là “một thi sĩ yêu, tinh, ma, quỷ, một thi sĩ

của thần chết, của kẻ điên rồ của các vị tiên nữ, của vạn vật đắm chìm trong cảnh điêu tàn, một thi sĩ dám trộn dĩ vãng, trùm tương lai, một thi sĩ cách mạng với các thi sĩ mải khóc trăng lờ, hoa héo [1;53]

Trang 19

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

2.2.2 Thời kì hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ

Từ bỏ thế giới quan siêu hình với quan điểm mỹ học có phần cực đoan

xa lạ, từng bước hoàn thiện thế giới quan cộng sản Đầu tiên là phán xét lại

thơ mình: “Bỗng hối tiếc nghìn câu thơ nước chảy / Chửa vì người bằng một

bữa cơm ăn” Sau đó, dứt khoát lựa chọn nhiệm vụ mới cho thơ: “Thơ xưa chỉ hay than mà ít hỏi / Đảng dạy ta: thơ phải trả lời” Ông tâm niệm rằng:

“Thơ cần có ích”, là vũ khí để cải tạo tư tưởng, xung trận chiến đấu: “Thơ tôi

sinh giữa ngày diệt Mỹ / Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến luỹ / Bên dũng sĩ đuổi xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi”.Thơ mang sức mạnh vô song

trong tâm sự khiêm nhường: “Thơ, thơ đong từng ngao nhưng tát bể -Llà

chiếc cân nhỏ xíu lại cân đời”.Quan niệm thơ như thế hoàn toàn phù hợp với

tinh thần thời đại “Tất cả để đánh giặc Mỹ xâm lược, tất cả để xây dựng chủ

nghĩa xã hội”

Trong những năm kháng chiến, Chế Lan Viên cũng như nhiều nghệ sĩ thuộc thế hệ trước 1945 đã nỗ lực nhập cuộc, dấn thân vào thực tiễn cách mạng và đời sống nhân dân, để từng bước thay đổi tư tưởng và tâm hồn mình

Những cố gắng ấy được ghi nhận trong tập thơ Gửi các anh (1955), đặc biệt

là ở tập thơ Ánh sáng và phù sa (1960)

Ánh sáng và phù sa là kết quả đẹp đẽ của hàng chục năm Chế Lan Viên

kiên trì tự cải tạo con người cũ, đau đớn chật vật “lột xác” để có được cuộc

trở về vĩ đại giữa lòng dân tộc:

Cho đến được lúa vàng đất mật Phải trên lòng bao trận gió mưa qua

(Thư gửi Tế Hanh)

Với đề tài phong phú cùng nhu cầu tự biểu hiện, là suy tưởng về chính

tác giả gắn liền với cảm hứng cắt nghĩa sự “đổi đời”, “tỉnh ngộ” của nhà thơ, Chế Lan Viên đã đi trọn hành trình “từ thung lũng đau thương ra cánh đồng

Trang 20

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

vui”; “từ chân trời của một người đến chân trời của nhiều người” để “vượt qua những nỗi đau riêng hoà hợp với niềm vui chung” Trước hết là phần giải

quyết về vấn đề quan niệm sống:

Ta là ai? Như ngọn gió siêu hình Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt

Ta vì ai? Khẽ xoay chiều ngọn bấc Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh

(Hai câu hỏi)

Tiếp đó là lời giải đáp cho nỗi băn khoăn về ý nghĩa đích thực của thơ

ca thể hiện sự giác ngộ chân thành và dứt khoát của nhà thơ về chân lí “Thơ

cần có ích cho cuộc đời, cho nhân dân”:

Suốt một đời ăn hạt gạo nhân dân Lần thứ nhất nhà văn đi học cấy Bỗng hối tiếc nghìn câu thơ nước chảy Chửa “vì người” bằng một bữa cơm ăn

(Đi thực tế)

Quan niệm về thơ của Chế Lan Viên thời kì này có sự chuyển biến: thơ

ca là vũ khí cải tạo tư tưởng, là vũ khí chiến đấu Do vậy, thơ Chế Lan Viên luôn bám sát những vấn đề thời sự, lấy hiện thực chiến tranh làm chất liệu,

ông đặt cho mình yêu cầu trước hết là “cập nhật”, “kịp thời” Nguồn cảm

hứng mãnh liệt nhất của thơ Chế Lan Viên giai đoạn này là vẻ đẹp của Tổ quốc trên tầm cao thời đại và trong chiều sâu những trang sử hào hùng Cảm hứng Tổ quốc đã làm thành giọng điệu chính của các tập thơ: giọng hào hùng hào sảng của những tráng ca, giọng trang trọng thiêng liêng của những bản hiệu triệu Khuynh hướng trữ tình chính trị trong thơ Chế Lan Viên được biểu hiện bằng trí tuệ sắc sảo và chất chính luận rạch ròi Đặc biệt viết về Tổ

Trang 21

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

quốc Chế Lan Viên có những phát hiện mới, có chiều sâu tư tưởng và cảm nhận tinh tế:

Ta đã yêu Việt Nam đẹp: Việt Nam thơ, bát ngát

câu Kiều bờ tre mái rạ Mái đình cong cong như bàn tay em gái giữa đêm chèo Cánh cò Việt Nam trong hơi mát xẩm xoan cò lả

Cái đôn hậu nhân tình trong nét chạm chùa Keo

(Thời sự hè 72, bình luận)

Quan niệm dùng thơ làm vũ khí chiến đấu Chế Lan Viên huy động lý lẽ sắc sảo, lí trí tỉnh táo, với hiểu biết uyên bác về đủ các lĩnh vực tạo nên sức tố cáo đanh thép:

Ở đâu? Ở đâu? Giặc xáo trộn quê ta như xóc một ván bài

Mẹ tóc bạc có còn chăng hỡi mẹ

(Ở đâu? Ở đâu? Ở đất anh hùng)

Mẫn cảm trong nghệ thuật và nhạy cảm trước đời sống, hồn thơ Chế Lan Viên vừa hướng về những hiện thực lớn lao, dữ dội của cuộc kháng chiến vừa biết cân bằng sự cảm nhận của những vẻ đẹp ngày thường Tuy không say đắm và nồng nhiệt như Xuân Diệu nhưng Chế Lan Viên cũng là người đằm thắm, sâu sắc:

Cái rét đầu mùa anh rét xa em Đêm dài lạnh, chăn chia làm hai nửa Một đắp cho em ở vùng sóng bể Một đắp cho mình ở phía không em

(Rét đầu mùa nhớ người đi phía bể)

Thơ Chế Lan Viên thời kì kháng chiến mang âm hưởng hào hùng, hình ảnh thơ được tạo dựng bằng suy tưởng, hướng tới ý nghĩa khái quát cao Ông thường đưa vào thơ ngôn ngữ của đời sống chính trị, quân sự, triết học, tôn

Trang 22

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

giáo, khoa học của đời sống, chính trị, khoa học, tôn giáo,… dùng lối tư duy

lật xới vấn đề để xem xét đối tượng từ nhiều bình diện

2.2.3 Thời kỳ sau 1975 và những năm cuối đời

Thơ Chế Lan Viên từ các tập thơ: Hoa trước lăng Người, Hái theo

mùa, Hoa trên đá, Ta gửi cho mình phản ánh rõ nét sự vận động của thơ

hướng mạnh vào những vấn đề thế sự Các nhu cầu xã hội và cá nhân dần dần

trở thành trung tâm của tiếng nói trữ tình Một mặt, cảm hứng của nhà thơ vẫn

nối tiếp giai đoạn trước ở sự quan tâm đến lịch sử dân tộc trong thời đại, nhất

là qua chủ đề chống xâm lược Mặt khác, nhà thơ bắt đầu bộc lộ những trăn

trở nhận thức về trách nhiệm của người cầm bút, muốn đặt lại những câu hỏi,

nhiều vấn đề mà ở giai đoạn trước ông ngỡ đã giải quyết xong xuôi Không dễ

dãi trong nhận thức và ồn ào chạy theo những xu thế thời thượng, nhưng bằng

sự nhạy bén của một cây bút nghệ thuật tài năng, ông hiểu rõ văn chương phải

đổi mới cho phù hợp với bước đi của lịch sử Ông sáng suốt chấp nhận sự phụ

thuộc của nghệ thuật thời đại sản sinh ra nó:

Anh đâu có phép lạ làm cho các câu thơ anh đã

mở ra rồi cứ còn nguyên sắc đỏ Với anh để làm gì cái trò bất tử phù du – phu du bất tử

Anh chỉ mong câu thơ anh sống khỏi một đêm, có ích quá một ngày

Đúng cái đêm bà mẹ chết con cần một câu thơ đỡ khổ

Đúng cái đêm người chiến sĩ trên chiến hào ôm xác người bạn ngã

vào tay

(Thơ bình phương - đời lập phương) Nhưng bản chất của nghệ thuật luôn luôn có một “hằng số” và ông

không khỏi rơi vào tự mâu thuẫn khi chiêm nghiệm xót xa:

Thơ chỉ sống một phần cho mình còn ba phần cho nhiệm vụ Nghĩ mà thương !

Trang 23

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

Ông nhớ tới lúc mình hùng hồn đòi hỏi: “Thơ không chỉ đưa ru mà còn

thức tỉnh – Không chỉ tiếng ơ hời mà còn phải đập bàn, quát tháo, lo toan” để

trình bày nhu cầu tự đổi mới: “Giọng cao bao nhiêu năm, giờ anh hát giọng

trầm - Tiếng hát lẫn im lim của đất” Những kinh nghiệm từng trải và quỹ

thời gian còn lại ít ỏi khiến nhà thơ không ham mê làm “sự phi thường” nữa Niềm ao ước “vực sự sống ba chiều – lên trang thơ hai mặt phẳng” càng làm

cho ông thấy rõ cảm giác bất lực Ông chới với hoang mang ở ngay những vấn đề cá nhân ông đã tự lựa chọn Ông muốn tìm về bản ngã, đem thơ đến

với hiện thực của tâm trạng, tâm linh: “Tất cả phải lấy mình ra che chở - Tự

sâu thẳm đời mình, sâu thẳm tận cùng sâu” (Bộ ba)

Ở giai đoạn cuối đời, ông cố gắng tìm hiểu đến sự dung hoà các quan điểm về thơ, các hình thức tư duy thơ vốn tách bạch đến trái ngược ở hai giai đoạn trước Đối diện với cái chết, ông chấp nhận cả vinh quang và cay đắng,

cả hoà nhập lẫn cô đơn:

Người dệt thảm mặc áo rách và cuộc đời xám xịt

Ấy thế nhưng cái nghề dệt mà, ta cứ dệt thảm hoa

Lật trái trang thơ may ra anh đọc được trên kia đời một tí

Thơ không phản ánh đời mình thì nó cũng phản ánh những mùa hoa

(Dệt thảm)

Bước vào thời kì xây dựng đất nước trong hoà bình, tự chủ, nền văn học dân tộc bắt đầu chuyển mình theo một quỹ đạo mới Thơ hướng mạnh vào những vấn đề thế sự, các nhu cầu xã hội và cá nhân dần dần trở thành

trung tâm của tiếng nói trữ tình Thơ Chế Lan Viên từ Hoa trên đá trở đi phản

ánh khá rõ nét trạng thái vận động đó Bên cạnh sự quan tâm đến lịch sử dân tộc trong thời đại là những trăn trở về ý thức trách nhiệm của người cầm bút trước nhiều vấn đề nhân thế, trước những giới hạn của thơ:

Trang 24

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

(Tháp Bay – on bốn mặt) Nếu ở Điêu tàn cái “tôi” tác giả là cái “tôi” bản thể cô đơn, khép kín, thì đến Di cảo, cái “tôi” đang cố gắng tìm lại bản ngã đích thực trong mối

quan hệ với cái “ta” và những cái “tôi” khác

Trong tâm trạng trăn trở, Chế Lan Viên bộc lộ cả những hoài nghi và tự mâu thuẫn, muốn phán xét lại mình, đặt lại nhiều quan niệm, giá trị Và người

đọc nhận ra “có một Chế Lan Viên vừa quen vừa lạ hiện diện qua một số bài

thơ viết về chính mình”:

Anh đừng là viên ngọc

Mà là viên sỏi, cục gạch lẫn lộn cùng cỏ rác Cũng xoàng xĩnh, vô tư, nhếch nhác

Hiểu cho hết nỗi đau cuộc đời

(Chuẩn bị đi)

Bị hối thúc bởi “thời gian nước xiết”, bệnh tật, cái chết dồn đuổi, Di

cảo thơ Chế Lan Viên trở lại với những ám ảnh siêu hình thuở Điêu tàn Sự

hướng về cái vô biên để nỗi buồn của nhà thơ có cơ sở hiện thực “không phải

hoa khuất mà ta khuất – Ta đi vào xứ không màu” Dù mang màu sắc bi quan

Trang 25

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

nhưng mạch thơ không hiếm sự minh triết và trước sau Chế Lan Viên vẫn là một bản lĩnh lớn trong nhân thế trường tồn:

Anh không ở lại yêu hoa mãi được Thiêu xong, anh về những trời khác cũng đầy hoa Chỉ tiếc không có tình yêu ở đó…

(Từ thế chi ca)

Về nghệ thuật, Chế Lan Viên có xu hướng trình bày những chiêm nghiệm tổng kết, triết lí nên hình thức thơ ngắn gọn dồn nén được sử dụng nhiều hơn Nhu cầu hướng nội với việc đào sâu vào thế giới tâm linh đem lại nhiều hình ảnh ảo mang ý nghĩa biểu tượng Giọng thơ có sự thay đổi từ

“giọng cao” xuống “giọng trầm”, tiếng thơ Chế Lan Viên mang nhiều âm sắc

mới, có cả tin yêu, hi vọng lẫn chua chát, hoài nghi, cả cay đắng dỗi hờn lẫn bao dung thanh thản… gắn với cuộc đời thường nhật

Như vậy, có thể thấy quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên luôn có

sự vận động liên tục trong suốt quá trình sáng tác Ở chặng nào quan niệm nghệ thuật cũng chi phối khá chặt chẽ đến nội dung và hình thức thơ ca, góp phần tạo nên một phong cách thơ Chế Lan Viên trí tuệ và độc đáo

Trang 26

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

CHƯƠNG 3 KHUYNH HƯỚNG VẬN ĐỘNG THƠ CHẾ LAN VIÊN TỪ SAU 1975

QUA TẬP THƠ TA GỬI CHO MÌNH

3.1 Thuật ngữ “khuynh hướng”

Khuynh hướng (tiếng Anh:tendency, tiếng Pháp:tandancy)

Theo Từ điển thuật ngữ Mĩ thuật phổ thông có 3 cách hiểu:

1.Sức mạnh hướng một người nào đó vào một số mụch đích

2.Định hướng đặc biệt của một sư việc, một phong trào chính trị , nghệ thuật hay kinh tế

3.Sự nghiêng hẳn về một quan niệm cách sống, lối sống,lối sáng tác

Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) chủ biên: “khuynh hướng là sự

thiên về một phía nào đó trong hoạt động, trong quá trình phát triển”

Theo nghĩa đó, khuynh hướng vận động trong văn học - nghệ thuật chính là sự thiên về một hướng vận động nào đó trong quá trình phát triển Chẳng hạn, văn học từ 1945 đến 1975 thiên về cảm hứng sử thi và cái “tôi” thế hệ nhưng đến chặng phát triển sau 1975, văn học lại thiên vềcảm hứng thế

sự với cái “tôi” riêng tư tạo nên một sự vận động xuyên suốt trong quá trình phát triển của văn học Việt Nam hiện đại

3.2 Khuynh hướng vận động thơ Chế Lan Viên sau 1975 qua tập thơ

Ta gửi cho mình

Ta gửi cho mình là tập thơ xuất bản năm 1986 với 45 bài thơ Đặt trong

bối cảnh của thời đại thì đây là lúc công cuộc đổi mới của Đảng lần thứ 6 (1986) chính thức được phát động Phát triển trong quỹ đạo hoà bình và đổi mới, nền văn học dân tộc bắt đầu chuyển mình Bên cạnh những đổi mới mang tính tất yếu vẫn có những nét tương đồng với thơ giai đoạn trước như một quy luật Tìm hiểu tập thơ trong tương quan đối sánh với những tác phẩm

Trang 27

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

thơ thuộc chặng trước đó có thể thấy rõ khuynh hướng vận động thơ Chế Lan Viên, đồng thời mở ra một khuynh hướng vận động thơ mới cho giai đoạn sau

đó, đặc biệt ở Di cảo thơ

3.2.1 Đi tìm câu trả lời “Ta là ai?”

Chế Lan Viên, trước Cách mạng tháng Tám đã tìm đến triết học duy

tâm, siêu hình và tôn giáo mong tìm lối thoát, sau này ông nghĩ lại: “Nỗi buồn

ghê gớm nhất, những hư vô sâu thẳm nhất để lại cho tôi, chính do nền tôn giáo Mở đầu tôi yêu chúa Rồi tôi yêu Phật Tôi tìm Chúa trong các giáo lí của đạo Cơ đốc tin lành Và tôi tìm Phật nơi bàn Phật của cha tôi, ở kinh các chùa, và ngoài chùa nữa” Khi nhìn lại những năm tháng ấy nhà thơ đầy xót

xa [7,97]:

Tôi ở đâu? Đi đâu? Tôi đã làm gì?

Đời thấp thoáng sau những trang sách Phật Đất nước đau dưới gót bầy ngựa Nhật Lạc giữa sao trời tôi vẫn còn mê

(Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi)

Giữa lúc đang chìm sâu trong sự bế tắc ấy thì Cách mạng tháng Tám bùng nổ, nhà thơ như được soi rọi tâm hồn bằng một thứ ánh sáng của lí tưởng Rời bỏ những suy tưởng siêu hình, Chế Lan Viên đi tìm lời giải đáp cho vấn đề cơ bản về quan niệm sống:

Ta là ai? Như ngọn gió siêu hình Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt

Ta vì ai? Khẽ xoay chiều gió ngọn bấc

(Hai câu hỏi)

Chối bỏ câu hỏi thứ nhất để tập trung vào tìm lời giải đáp cho câu hỏi thứ hai, đó chỉ là cách ứng xử mang tính chất thực tiễn và phù hợp với tình thế lúc ấy Thực ra cả hai câu hỏi trên đây vẫn luôn tồn tại và mỗi người nghệ

Trang 28

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

sĩ ở thời đại nào cũng đều phải tìm cách trả lời Có điều là, tuỳ theo tình thế của thời đại mà câu hỏi nào sẽ được đặt lên trước Và nhà thơ đã tìm được lời giải đáp cho nỗi băn khoăn về câu hỏi của mình:

Suốt một đời ăn hạt gạo nhân dân Lần thứ nhất nhà văn đi học cấy Bỗng hối tiếc nghìn câu thơ nước chảy Chửa “vì người” bằng một bữa cơm ăn

(Đi thực tế)

Nhà thơ khi đến với cách mạng “mất nỗi đau riêng, được cái vui

chung” Sự hoà hợp riêng – chung như cái đích đến lí tưởng trong hành trình

“tìm lại chính mình của nhà thơ” Ở tập thơ Ta gửi cho mình một lần nữa nhà

thơ tiếp tục tìm thấy chính mình trong niềm say mê lí tưởng của mặt trời cách mạng:

Chào mặt trời lên ta vẫn đây Ngoài kia biển sóng lại dâng đầy Hồn ta đêm trước chừng khô cạn Đối mặt vầng dương ta lại say

(Thơ bình phương - Đời lập phương)

Câu hỏi “Ta là ai?” một thời tưởng đã được giải quyết khi thay bằng câu hỏi “Ta vì ai?” nhưng nay nó lại trở về đối diện với nhà thơ:

Ta là ai? Về đâu? Hạt móc

Là ta chăng? Dòng sông là ta chăng? Tiếng khóc

Là ta chăng? Vì sao lạc phương trời

Là ta chăng? Ta chưa kịp trả lời Thì sông đã cuốn ta vào bóng tối

(Hỏi – Đáp)

Trang 29

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

Cái câu hỏi về bản thể ấy đã từng làm vật vã bao triết gia và nảy sinh lắm triết thuyết, đâu có dễ trả lời Với tất cả sự trải nghiệm, sự nhận ra cái tác hại lớn lao của những câu hỏi siêu hình và một thái đội buông xuôi phủ nhận trước cuộc đời, Chế Lan Viên đã tìm cho mình một cách trả lời:

Ừ, anh là sông trôi, là hạt móc

Là tiếng khóc thất thanh Nhưng anh lại

Là người - Việc gì phải tủi, Việc gì phải đau! Hãy chấp nhận và cười

(Tháp Bay- on bốn mặt)

“Ta là ai?”- một trách nhiệm đang được nhận thức đầy đủ gần như một

lẽ sống của cuộc đời mới Nó không diễn ra một cách thanh thản nhẹ nhàng Chế Lan Viên đã có những suy nghĩ sâu sắc về quá trình tự đổi thay Nếu

trước Cách mạng tháng Tám câu hỏi “Ta là ai?”- thực chất là câu hỏi “Tôi là

ai?”, được Chế Lan Viên trả lời trong thơ là cái tôi bản ngã, cái tôi cá nhân

độc đoán theo kiểu: “Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất – Không có chi bạn bè

nổi cùng ta” (Ý thơ Xuân Diệu), khiến nhà thơ đi vào thế giới siêu hình, hư vô

chủ nghĩa thì trong hai cuộc kháng chiến, cái ta – tôi ấy đã hoá thân vào Tổ

quốc, dân tộc, nhân dân, cái tôi đã hoà đồng cùng cái ta thời đại Trong Ta gửi

Trang 30

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

cho mình, Chế Lan Viên trở lại với câu hỏi quen thuộc, nhưng đã là cái ta –

vấn đề tưởng như lập lại nhưng không hoàn toàn như thế Trong thời kì đổi mới, đời sống cũng như văn học đặt ra, nhu cầu bức xúc, con người phải trở

về với chính mình Với ý nghĩa này, “Tháp Bay - on bốn mặt” là lời sám hối

của Chế Lan Viên về quan niệm con người cá nhân của thời kì trước đó Đây cũng chính là sự chuyển mình, báo hiệu một khuynh hướng mới của sự vận động thơ Chế Lan Viên

3.2.2 Những suy tư trăn trở về cuộc đời, thế sự và nghệ thuật

3.2.2.1 Những suy tư, trăn trở về cuộc đời, thế sự

Chế Lan Viên là một nhà thơ hiếm khi để cho trí não của mình nghỉ ngơi Với ông , dường như suy nghĩ, trăn trở và triết lí như chân lí của sự tồn

tại Trước cách mạng ta bắt gặp ở Điêu tàn vấn đề cuộc đời, thế sự chỉ thấp

thoáng, phảng phất đằng sau những trang thơ mà không hiển lộ một cách trực

tiếp Nó chính là tiếng khóc não nùng, bi hận về “cái Đẹp đã chết” là nỗi

chán nản gay gắt trước thực tại Chế Lan Viên đã phản ánh tiêu cực trước hoàn cảnh sống tẻ nhạt, tầm thường, bất như ý bằng cách đi tìm cái thực trong cái ảo, từ chối hiện thực bằng cách ca ngợi nỗi buồn, cái chết và hư vô Đặc biệt, ở những bài thơ cuối, Chế Lan Viên hướng cảm hứng sang triết luận, suy tưởng về cuộc đời bằng cảm xúc tôn giáo - một bước lạc xa hơn vào cõi siêu hình

Sau Cách mạng cũng như rất nhiều những nhà thơ Mới khác, khi đã tìm được hướng đi cho mình dưới sự soi rọi của Đảng và chủ nghĩa Mác- Lênin, nguồn cảm hứng của Chế Lan Viên gắn bó với hiện thực sống và những ngày

đi theo kháng chiến, gắn bó với nhân dân đem đến cho thơ những tình cảm mới Nguồn cảm hứng mãnh liệt nhất của thơ Chế Lan Viên trong giai đoạn này là vẻ đẹp Tổ quốc trên tầm cao thời đại và trong chiều sâu những trang

sử hào hùng Đi liền với cảm hứng ngợi ca khẳng định Tổ quốc dân tộc là nhu

Trang 31

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

cầu phủ định kẻ thù, nhận ra những luận điệu hoa mĩ, xảo quyệt của chúng bóc trần bản chất văn hoá tàn bạo của bọn đế quốc

Biến cố lịch sử trọng đại đã tạo cơ hội cho ông bộc lộ hết tiềm năng của ngòi bút mình Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc,

ông đã “làm một cuộc chuyển quân, tiến sát tới tuyến đầu của cuộc chiến

đấu” Bám sát các vấn đề thời sự, lấy hiện thực chiến tranh làm chất liệu, Chế

Lan Viên đặt cho thơ mình yêu cầu trước hết là phải “kịp thời”, “cập nhật”, Ông phản ứng nhanh nhạy với các luận điệu, luận thuyết của kẻ thù (Thời sự

hè 72 – Bình luận, Trận tuyến này cao hơn cả màu da, Phản diễn ca hay phản diện ca về học thuyết Nichsơn,Làm Hamlet ở Việt Nam…),ông thuyết minh về

quyền tự vệ của dân tộc (Ở đâu? Ở đâu? Ở đất nước anh hùng, Cái hầm

chông giản dị, Chuỗi thơ anh Trỗi,…) [5,215]. Ông ngợi ca chiến công của quân và dân miền Bắc trong trận đấu thắng Mỹ:

Tàu Mỹ rụng đất này, ai có nghe chăng?

Sao thức canh đêm bể biếc reo mừng Sóng ru đất, mây nhắn cùng gió thổi

Thần chiến thắng là những người áo vải Những binh nhất, binh nhì mười tám tuổi Giết quân thù không đợi có hạt nhân

(Sao chiến thắng)

Đi liền với cảm hứng ngợi ca khẳng định Tổ quốc, dân tộc là nhu cầu phủ định kẻ thù Thơ chống Mỹ của Chế Lan Viên cố gắng giúp người đọc nhận ra chân tướng kẻ thù phía sau những luận điệu hoa mĩ, xảo quyệt của chúng vạch trần bản chất tàn bạo của tên đế quốc vẫn luôn vỗ ngực khoe văn hoá, văn minh và rao giảng hoà bình:

Giữa hai trận càn họ hôn bàn tay Mỹ nữ

Họ ném bom vào kinh nguyện nhà thờ

Trang 32

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

Người Mỹ biết trộn hoà bình trong bom nguyên tử Như rưới máu hoa hồng vào máu trẻ thơ

Thơ Chế Lan Viên đã theo sát từng bước tiến của thời đại để ghi lại những sự kiện nóng hổi giàu tính thời sự Không những thế là người mẫn cảm trong nghệ thuật và nhạy cảm trước đời sống, hồn thơ Chế Lan Viên vừa hướng về những hiện thực lớn lao, dữ dội của cuộc kháng chiến, vừa biết tự cân bằng sự cảm nhận những vẻ đẹp ngày thường của cuộc sống Ông gửi tình yêu vào trang thơ ngắn vô cùng đằm thắm và sâu sắc:

Cái rét đầu mùa anh rét xa em Đêm dài lạnh, chăn chia làm hai nửa Một đắp cho em ở vùng sóng bể Một đắp cho mình ở phía không em

(Rét đầu mùa nhớ người đi phía bể)

Tình yêu trong thơ ông trầm lắng nhiều suy tư nhưng không phải vì thế

mà không lôi cuốn, hấp dẫn, bởi lẽ ông luôn tự biết cách “lạ hoá” những cảm

Những bức tranh thiên nhiên trong thơ ông cũng khá phong phú từ

“hương chùa Hương” đến mùi “hoa xoan” gợi nhớ, từ màu “hoàng thảo hoa

Ngày đăng: 31/10/2015, 09:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (2003), Chế Lan Viên về tác gia và tác phẩm, Nxb.Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb.Giáo dục
Năm: 2003
2. Trinh Đường (1998), Một thế kỉ thơ Việt, Nxb.Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một thế kỉ thơ Việt
Tác giả: Trinh Đường
Nhà XB: Nxb.Văn hóa thông tin
Năm: 1998
3. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ Văn học, Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 2007
4. Mai Hương, Thanh Việt (2006), Thơ Chế Lan Viên và những lời bình, Nxb. Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Chế Lan Viên và những lời bình
Tác giả: Mai Hương, Thanh Việt
Nhà XB: Nxb. Văn hoá thông tin
Năm: 2006
5. Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Văn Long (2007), Lịch sử văn học Việt Nam tập 3, Nxb.Đại Học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Văn Long
Nhà XB: Nxb.Đại Học Sư Phạm
Năm: 2007
6. Nguyễn Văn Long (2006), Văn học Việt Nam trong thời đại mới, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam trong thời đại mới
Tác giả: Nguyễn Văn Long
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2006
7. Nguyễn Văn Long (2008), Văn học Việt Nam hiện đại, tập II,Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại, tập II
Tác giả: Nguyễn Văn Long
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2008
8. Hoài Thanh – Hoài Chân (1942). Thi nhân Việt Nam,Nxb.Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi nhân Việt Nam
Tác giả: Hoài Thanh, Hoài Chân
Nhà XB: Nxb.Văn học
Năm: 1942
9. Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Quách Tấn – Bình luận văn học (1980), Nxb. Văn nghệ,Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận văn học
Tác giả: Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Quách Tấn
Nhà XB: Nxb. Văn nghệ
Năm: 1980
10.Vũ Thanh Việt (2000), Thơ mới lãng mạn và những lời bình,Nxb.Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới lãng mạn và những lời bình
Tác giả: Vũ Thanh Việt
Nhà XB: Nxb.Văn hoá thông tin
Năm: 2000
13. Lê Đình Kỵ, Trí tuệ, tài năng, tâm hồn (Đọc Di cảo thơ Chế Lan Viên). Số 9 (307)/T.9/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí tuệ, tài năng, tâm hồn" (Đọc "Di cảo thơ
14. Nguyễn Xuân Nam, Ảnh hưởng của thơ nước ngoài trong thơ Chế Lan Viên Số 1 (299)/T.1/1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của thơ nước ngoài trong thơ Chế Lan Viên
Tác giả: Nguyễn Xuân Nam
Năm: 1977
15. Lê Lưu Oanh, Đinh Thị Nguyệt, Thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên. Số 8 (318)/T.7/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên
Tác giả: Lê Lưu Oanh, Đinh Thị Nguyệt
Năm: 1998
11. Chế Lan Viên toàn tập I (2002), Nxb .Văn học, Hà Nội Khác
12. Chế Lan Viên toàn tập I (2002), Nxb. Văn học, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w