1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát phương tiện liên kết thể hiện phép nối trong một số tác phẩm của nam cao

49 927 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 347,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phẩm của ông nói riêng, trên cơ sở đó đối chiếu vào nội dung tác phẩm mà Nam Cao muốn hướng tới, đó là lí do khiến tôi chọn đề tài “khảo sát phương tiện liên kết thể hiện phép nối trong

Trang 1

Lời cảm ơn

Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đề tài, được sự giúp đỡ hết sức tận tình, trực tiếp của cô giáo Phạm Thị Hoà - Giảng viên

tổ Ngôn ngữ, cùng các thầy cô trong khoa Ngữ văn - Trường

ĐHSP Hà Nội 2, khoá luận đã được hoàn thành vào ngày

15-5-2007

Qua đây, em xin trân trọng cảm ơn tới cô giáo hướng dẫn cùng toàn thể các thầy cô và các bạn đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho em trong suốt thời gian thực hiện khoá luận này

Hà Nội, ngày 8 tháng 5 năm 2007

Lê Thị Ngọc Bính

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan khoá luận này là thành quả nghiên cứu của bản thân tôi Những kết quả thu được là hoàn toàn chân thực

và chưa có trong một đề án nghiên cứu nào

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Mỗi đoạn văn là một chỉnh thể thống nhất nhỏ nằm trong chỉnh thể thống nhất lớn là văn bản Tính chính thể thống nhất ấy được tạo thành nhờ sự sắp xếp các ngôn từ và hơn hết là qua các phương diện liên kết câu trong mỗi

đoạn văn

Liên kết câu trong đoạn văn gồm hai phương diện: liên kết nội dung và liên kết hình thức của câu Trong đó phép nối là một trong những phương tiện liên kết câu nằm trong phương diện liên kết hình thức

Nam Cao là một tác gia văn học lớn của Việt Nam Nhiều tác phẩm của

ông được chọn giảng trong chương trình phổ thông, được các nhà văn, nhà lí luận, phê bình văn học, các thế hệ giáo viên và học sinh tìm tòi nghiên cứu Sở

dĩ tác phẩm của ông có sức sống bền bỉ như vậy không chỉ bởi nội dung sâu sắc của tác phẩm mà còn bởi nghệ thuật ông sử dụng thật tài tình và tinh tế, phản ánh chân thực hơi thở của cuộc sống Trong mỗi kiệt tác văn học ấy, chúng tôi nhận thấy việc ông dùng các phương tiện liên kết câu trở nên quen thuộc và độc đáo đối với người đọc Để thấy rõ hơn nữa thành công về nghệ thuật của Nam Cao (nói chung) và phương diện liên kết câu trong mỗi tác

Trang 3

phẩm của ông (nói riêng), trên cơ sở đó đối chiếu vào nội dung tác phẩm mà Nam Cao muốn hướng tới, đó là lí do khiến tôi chọn đề tài “khảo sát phương tiện liên kết thể hiện phép nối trong một số tác phẩm của Nam Cao”

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Phương thức liên kết nối là một trong 4 phương thức liên kết văn

bản được các nhà ngôn ngữ học quan tâm Tuy nhiên, ở hai giai đoạn khác nhau lại có những quan niệm về liên kết và phép nối khác nhau

Quan niệm thứ nhất thịnh hành ở giai đoạn “các ngữ pháp văn bản” coi liên kết thuộc mặt cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ ở Việt Nam, đi theo quan

điểm thứ nhất là Trần Ngọc Thêm, và được ông trình bày chi tiết trong “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” (Nxb Giáo dục, H, 1999) Theo ông, các phương thức liên kết được chia thành 3 loại:

+ Loại 1: Các phương thức liên kết chung cho ba loại phát ngôn gồm có phép lặp, phép đối, phép thế đồng nghĩa, phép liên tưởng, phép tuyến tính

+ Loại 2: Là các phương thức liên kết hợp nghĩa gồm có phép thế đại từ, phép tỉnh lược yếu, phép nối lỏng

+ Loại 3: Là các phương thức liên kết trực thuộc gồm có phép tỉnh lược mạnh, phép nối chặt

Xét riêng phép nối, Trần Ngọc Thêm đã phân loại thành phép nối lỏng

và phép nối chặt Ông đã nghiên cứu khá kĩ vấn đề này và chỉ ra rằng liên kết văn bản thuộc về cấu trúc chứ không thuộc hệ thống

- Quan niệm thứ hai thịnh hành vào giữa những năm 70 của thế kỉ XX

và ngày càng được phổ biến rộng rãi Đi theo quan niệm này là các nhà ngôn ngữ học chức năng như Halliday và Hasan Khác với quan niệm thứ nhất cả liên kết thuộc vế cấu trúc, hai tác giả đã trình bày cách hiểu và quan niệm về liên kết văn bản thuộc về hệ thống, coi hệ thống là phạm trù trung tâm của lí thuyết Phép nối - theo Halliday - là phương thức liên kết có tác dụng báo hiệu

Trang 4

các quan hệ có khả năng nhận biết đầy đủ bằng cách tham khảo những phần khác nhau trong văn bản

ở Việt Nam, đi theo quan niệm thứ hai và có nhiều ứng dụng vào tiếng Việt là GS Diệp Quang Ban Cách hiểu, cách phân tích về phép liên kết được

ông trình bày khá chi tiết trong nhiều bài viết ở tạp chí ngôn ngữ hay sách do

ông viết ở mỗi trang viết của mình, ông cũng dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu phép nối

Bên cạnh những bài viết, cuốn sách của các tác giả Trần Ngọc Thêm, Diệp Quang Ban được nói trên, cũng có nhiều tác giả khác đi nghiên cứu về phép nối, như:

Nguyễn Đức Dân, Lê Đông, Phương thức liên kết của từ nối, tạp chí Ngôn ngữ số 1, 1985, tr.32 - 39

Lương Đình Dũng, phép nối và một vài suy nghĩ về phương pháp dạy phép nối trong tiếng Việt, tạp chí ngôn ngữ số 6, 2005, tr 38 - 47

2.2 Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc trong nền văn học Việt

Nam hiện đại Đã có hàng trăm bài báo, hàng chục công trình văn học, khoa học lớn nhỏ nghiên cứu về những sáng tác của ông, đúng như chính tác giả của chuyên luận “Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao” nhận thấy: “Cho đến nay, thật khó có một đặc điểm cơ bản nào của nội dung và hình thức nghệ thuật trong sáng tác của Nam Cao chưa được các nhà nghiên cứu, lí luận, phê bình phát hiện” (lời mở đầu) Như vậy, trên tất cả các lĩnh vực như lý luận văn học, văn học, ngôn ngữ thì hầu hết sự nghiệp sáng tác, cuộc đời hay tác phẩm của

ông đều có mặt

2.2.1 Xét riêng ở lĩnh vực ngôn ngữ, chúng tôi nhận thấy tác phẩm của

Nam Cao cũng được nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau

+ Trong cuốn “Phân tích tác phẩm Nam Cao trong nhà trường” (Nxb Giáo dục, H, 2005), tác giả Nguyễn Văn Tùng đã nhận định: “Độ dài thời gian

Trang 5

càng xa, sự nghiệp văn học Nam Cao càng được khẳng định Tác phẩm của

ông qua sự tiếp nhận của nhiều thế hệ độc giả được phát hiện thêm nhiều giá trị nghệ thuật mới”

Dẫn theo GS Hà Minh Đức trong giới thiệu “Nam Cao tác phẩm” tập 1, Nxb Văn học 1976, ông cũng nhận định: “Nam Cao đã mạnh dạn đi theo lối riêng, nghĩa là ông không đếm xỉa gì đến sở thích của độc giả Nhưng tài năng của ông đã đem đến cho văn chương một lối văn mới, sâu xa, chua chát và tàn nhẫn, thứ tàn nhẫn của một người biết tin ở tài mình, ở thiên chức mình” (nhận xét của một nhà phê bình đương thời)

+ Tác giả Phong Lê trong cuốn sách “Nam Cao - người kết thúc vẻ vang trào lưu văn học hiện thực” (Nxb ĐHQG H, 2003), đã viết: “ năm mươi năm cách mạng đã làm thay đổi tận gốc rễ những nền tảng vật chất và tinh thần của xã hội - đó chính là cơ sở cho sự phát triển vượt bậc của ngôn ngữ, và các thế hệ bạn đọc hôm nay, trong giao lưu với thời đại, là lớp người có những nhu cầu phổ biến và tiếp nhận rất hiện đại thì mới thấy đáng quý và đáng “sợ” biết bao khả năng một nhà văn như Nam Cao, luôn đưa được con thuyền ngôn ngữ của mình vào dòng sống cuộn chảy của dân tộc, khiến cho nó luôn luôn gặp được những bến bờ thời sự”

ở cấp độ văn bản, nhiều tác giả đã làm sáng tỏ sức hấp dẫn của truyện ngắn Nam Cao về mặt kết cấu văn bản và cấu trúc truyện ngắn Cũng trong cuốn “Lời giới thiệu Nam Cao tác phẩm” (tập 1 - Nxb Văn học, 1976), GS Hà Minh Đức có viết: “truyện ngắn của Nam Cao nhiều màu vẻ Có những truyện ngắn chỉ qua vài trang mà dựng được một tính cách một cuộc đời và rất nhiều

đổi thay Có những sáng tác mà cốt truyện đơn sơ mà lại gây nhiều xúc

động”

Nghiên cứu về văn chương Nam Cao nói chung, chúng tôi thấy có khá nhiều bài viết tiêu biểu và xuất sắc

Trang 6

1 Tìm hiểu chức năng của đoạn miêu tả trong tác phẩm tự sự của Nam Cao Chuyên ngành Ngôn ngữ học (Bùi Thị Bình - K27H Văn)

2 Tính hệ thống của từ ngữ trong truyện ngắn Nam Cao

Chuyên ngành Phương pháp văn (Nguyễn Thị Thu Hằng - K26A Văn)

và còn một số bài viết khác của nhiều tác giả cũng viết về đề tài Nam Cao

Tuy nhiên, hầu hết các bài viết đều đi sâu nghiên cứu về giá trị sâu sắc của nội dung cũng như hình thức nghệ thuật của Nam Cao nói chung mà chưa

đi nghiên cứu kỹ vào các phương tiện thể hiện để làm nên những giá trị nghệ thuật đó Bởi vậy, phép liên kết mà Nam Cao sử dụng trong mỗi tác phẩm của

ông vẫn là vấn đề còn đang bỏ ngỏ và bài viết sau sẽ đi sâu hơn về tính liên kết trong tác phẩm của Nam Cao và cụ thể là phương tiện thể hiện phép nối

3 Mục đích nghiên cứu

Nhằm làm sáng tỏ giá trị của phương tiện liên kết thể hiện phép nối qua một số tác phẩm của Nam Cao

Trang 7

Nội dung

Chương 1 Cơ sở lí luận

1.1 Các phương diện liên kết câu trong đoạn văn

1.1.1 Liên kết hình thức

- Theo Diệp Quang Ban, liên kết hình thức là “hệ thống các phương thức liên kết hình thức” và những cái được liên kết với nhau trong văn bản là câu phát ngôn Cách phân loại câu phát ngôn trong văn bản có liên quan đến việc mô tả liên kết hình thức, vì vậy mà trở nên cần thiết

- Trong Tiếng Việt, hệ thống các dấu hiệu liên kết hình thức đoạn văn gồm bao nhiêu phương tiện? Trả lời cho câu hỏi này cũng nhiều ý kiến và là vấn đề cần thảo luận Theo quan niệm của Trần Ngọc Thêm, trong cuốn “Hệ thống liên kết văn bản Tiếng Việt”, ông đã chia thành 10 phương tiện là:

1.1.2 Liên kết nội dung

Thế nào là liên kết nội dung? Theo Trần Ngọc Thêm, liên kết nội dung nghĩa là tất cả các câu trong đó đều phối hợp với nhau một cách hài hoà bổ sung cho nhau để cùng thể hiện một nội dung

Liên kết nội dung trong đoạn văn được tách thành hai bình diện là liên kết chủ đề và liên kết logic Hai mặt này gắn bó chặt chẽ và lồng vào nhau cùng thể hiện tính nhất quán và chỉnh thể cho đoạn văn

Trang 8

Liên kết chủ đề đòi hỏi toàn đoạn văn (cũng như văn bản) phải xoay quanh một chủ đề nhất định, chủ đề này thể hiện qua phần nêu của các phát ngôn Nói cách khác, liên kết chủ đề là liên kết ý hay liên kết về mặt nghĩa của đoạn văn

Còn liên kết logic, theo các nhà nghiên cứu là sự sắp xếp phân bố các ý,

là sự tổ chức các mối quan hệ, liên kết quan hệ giữa các ý với nhau Đó là hình thức cơ cấu tổ chức bên trong của các thành tố nội dung đoạn văn theo những quan hệ hợp lý trong đó các thành tố được bố trí, sắp đặt theo những quy luật logic của tư duy

Như vậy, liên kết logic thường được quy vào phạm trù liên kết nội dung của đoạn văn, nhưng ở bình diện khác với liên kết chủ đề Trong số các phương thức liên kết có hai phương thức được dành riêng để thể hiện các quan

hệ ngữ nghĩa trong liên kết logic là phương thức nối và phương thức tuyến tính

1.2 Hiện tượng nối liên kết và phép nối lỏng

1.2.1 Hiện tượng nối liên kết

- Theo Trần Ngọc Thêm, cơ sở cho việc liên kết hai phát ngôn là sự tồn tại của các quan hệ trong đó có các quan hệ ngữ nghĩa giữa chúng ở phép tuyến tính những quan hệ đó nằm ở dạng tiềm ẩn Nếu những quan hệ đó được thể hiện ra bằng những phương tiện từ vựng thì ta có hiện tượng nối liên kết hay các phép nối nói chung

- Tuỳ thuộc vào tính chất của các phương tiện nối mà trong hiện tượng nối liên kết cần phân biệt hai trường hợp:

+ Nếu sự có mặt của các phương tiện nối có khả năng làm thay đổi cấu trúc nòng cốt của phát ngôn, khiến nó phụ thuộc vào chủ ngôn không chỉ về mặt nội dung mà cả về mặt cấu trúc thì ta có phép nối chặt

Trang 9

+ Còn nếu sự có mặt của các phương tiện nối chỉ làm cho phát ngôn chứa nó phụ thuộc vào chủ ngôn về mặt nội dung mà không động chạm gì đến mặt cấu trúc thì ta có phép nối lỏng

1.2.2 Phép nối lỏng

1.2.2.1 Khái niệm về phép nối lỏng

Phép nối lỏng là phương thức liên kết thể hiện ở sự có mặt trong kết ngôn những phương tiện từ vựng (từ, cụm từ) không làm biến đổi cấu trúc của

nó và diễn đạt một quan hệ ngữ nghĩa hai ngôi mà “ngôi” còn lại là chủ ngôn (theo Trần Ngọc Thêm)

Xét về hình thức, quan hệ từ “và” không làm ảnh hưởng đến cấu trúc của câu cũng như của đoạn văn Về nội dung, nó có tác dụng nhấn mạnh ngữ nghĩa của đoạn là “người con gái thời ấy phải có da có thịt”

1.2.2.2 Phân loại

a) Kiểu nối lỏng có phương tiện nối là các từ và cụm từ làm thành phần chuyển tiếp

- Thành phần chuyển tiếp thuộc loại thành phần phụ, ngoài nòng cốt,

nó mang tính chất “chêm xen” cho nên việc thêm hoặc bớt nó hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến cấu trúc nòng cốt của phát ngôn

Ví dụ:

“Tôi chờ trong chốc lát (1) Bỗng có chiếc xe đỗ phịch trước cổng (2)”

Trang 10

Ta thấy phát ngôn thứ (2) là một câu đặc trưng có chứa từ “bỗng” làm thành phần chuyển tiếp Thành phần chuyển tiếp này chỉ ra:

+ Phát ngôn chứa nó không phải là phát ngôn đầu tiên trong văn bản, trước phát ngôn này còn có ít nhất một phát ngôn khác liên kết với nó

+ Sự kiện nêu ra trong phát ngôn chứa nó diễn ra trong cùng một thời gian với sự kiện trong chủ ngôn

- Các yếu tố từ vựng làm thành phần chuyển tiếp có cấu tạo và nguồn gốc rất đa dạng Chúng có thể là:

+ Các từ như: thoạt tiên, cuối cùng, đồng thời, bỗng nhiên, chẳng hạn,

vả lại, thậm chí, sự thật, đặc biệt

+ Các kết hợp cố định hoá (thường là song tiết) như: tiếp theo, thứ hai,

ngoài ra, hơn nữa, mặt khác, trái lại, ngược lại, tóm lại, nhìn chung

+ Các kết hợp có xu hướng cố định hoá Loại này có mô hình cấu tạo cơ bản:

đi, nói đúng ra, nói một cách tóm tắt, nói (một cách) chính xác hơn, Nhóm

này có nguồn gốc rút gọn từ vế thứ nhất của các câu qua lại ở dạng đang xét, các phương tiện nối lỏng này đứng tách biệt hẳn khỏi vế sau của phát ngôn mà

nó tham gia Do vậy tính chất chêm xen của chúng cũng bộc lộ rõ rệt Các kết hợp này có xu hướng rút gọn tiếp tục bằng bỏ bớt động từ

Trang 11

Nhóm này mang tính chất giáp ranh giữa phép nối lỏng với phép thế đại

từ (hoặc phép tỉnh lược) Dấu hiệu để nhận diện phép nối lỏng là dấu phẩy có giá trị tách chúng ra về mặt cấu trúc Khi không có dấu phẩy, những yếu tố này trở thành các thành phần trong cấu trúc của phát ngôn

Ví dụ:

1 - “Hai mụ Bọ Muỗm cứ vừa đánh vừa kêu, làm cho họ nhà Bọ Muỗm

ở gần đấy nghe tiếng Thế là, cả một bọn Bọ Muỗm lốc nhốc chạy ra.”

(Tô Hoài - Dế Mèn phiêu lưu kí)

2 - “Một ngày cuối thu, tôi và Trũi lên đường [Hôm ấy, nước đầm trong xanh ( ) gió hiu hiu thổi như giục lòng kẻ ra đi] Thế là tôi rời quê hương lần thứ hai.”

(Tô Hoài - Dế Mèn phiêu lưu kí)

ở ví dụ 1, phép nối lỏng “thế là” làm thành phần chuyển tiếp Còn trong

ví dụ 2, phát ngôn “thế là tôi rời quê hương ” rõ ràng là không còn chứa thành phần chuyển tiếp nữa Đó là một câu quan hệ đồng nhất với đại từ “thế” làm chủ ngữ, còn bổ ngữ là một cú

b) Kiểu có phương tiện nối là các từ làm phụ tố có nghĩa so sánh

Xét về mặt chức năng trong phát ngôn, các yếu tố này có thể được chia làm hai nhóm:

- Các từ làm phụ tố trong động ngữ Nhóm này gồm các phụ từ so sánh

Trang 12

- Các từ có nghĩa so sánh làm phụ tố trong danh ngữ

Nhóm này gồm những phụ từ đứng trước danh từ như “riêng, còn” và

đứng sau danh từ như “khác, nữa” Các từ này cũng làm phụ tố giống hệt như những phụ tố không có chức năng liên kết khác và chức năng nối lỏng ở đây cũng do ngữ nghĩa của chúng quy định

c) Tất cả các phương tiện nối lỏng còn có thể được phân loại theo các quan hệ ngữ nghĩa mà chúng biểu hiện

Nói chung, các phương tiện nối không chỉ thể hiện một loại quan hệ logic thuần tuý, mà chia thành hai loại rõ rệt: quan hệ định vị (trong không gian, thời gian) và quan hệ logic

Trong quan hệ logic lại có thể phân biệt logic diễn đạt và logic sự vật d) Trong tất cả các phương tiện nối lỏng đã xét, có những từ, cụm từ sau

đây có liên kết dự báo: trước tiên, thoạt tiên, thứ nhất, dưới đây, sau đây Sự

có mặt của các phương tiện này luôn dự báo trước sự xuất hiện của các phát ngôn, các đoạn văn (thứ hai, thứ ba ) tiếp theo Các phương tiện này có thể làm thành phần chuyển tiếp dùng để mở đầu trình tự diễn đạt

1.3 Phép nối chặt

1.3.1 Khái niệm

Theo Trần Ngọc Thêm, phép nối chặt là phương thức của ngữ trực thuộc thể hiện bằng sự có mặt của từ nối (liên từ, giới từ) ở chỗ bắt đầu (liên kết hồi quy) hoặc chỗ kết thúc (liên kết dự báo) của nó, tạo thành một quan hệ ngữ nghĩa hai ngôi giữa ngữ trực thuộc với chủ ngôn

Trong phép nối chặt, sự có mặt của các từ nối như: “nhưng”, “bởi vì” làm cho phát ngôn trở nên không hoàn chỉnh về mặt cấu trúc và biến nó thành ngữ trực thuộc

Trang 13

+ Thời gian kế tiếp: rồi, đến, từ

+ Thời gian đảo: trước, sau

+ Thời gian đồng thời: và

- Định vị không gian

+ Không gian tâm: ở, tại, trong, giữa

+ Không gian biên : cạnh, bên, gần, ngoài

+ Không gian định hướng: từ, đến, tới

1.3.2.2 Quan hệ logic diễn đạt

- Trình tự diễn đạt

+ Đẳng lập: và, với, cùng

+ Tuyển chọn: hay, hoặc

- Thuyết minh bổ sung: như, rằng

1.3.2.3 Quan hệ logic sự vật

- Nhân quả: nguyên nhân: vì, bởi ; Điều kiện: tuy, dù, dẫu ; Giả thiết:

hễ, giá ; hướng đích: để, cho ; Kết quả: nên, thì, mà

- Tương phản - đối lập: nhưng, song

- Sở hữu - phương tiện:

+ Sở hữu: của

+ Phương tiện: bằng, với

1.3.3 ở các ngữ trực thuộc nối có liên kết hồi quy, phương tiện nối chặt luôn

luôn đứng đầu phát ngôn Cho nên dấu hiệu chính để nhận diện phép nối chặt

Trang 14

hồi quy là sự có mặt của từ nối ở đầu phát ngôn Tuy nhiên cần chú ý tới hai trường hợp:

- Phân biệt ngữ trực thuộc nối với câu qua lại:

Ví dụ:

nhân lãnh đạo Vì nó là giai cấp tiên tiến nhất, giác ngộ nhất”

(Hồ Chí Minh)

còn “kể công” với Đảng”

(Hồ Chí Minh) Trong hai ví dụ trên, ở ví dụ (1) “vì” là phương tiện nối chặt giữa các phát ngôn, và phát ngôn chứa nó mới là ngữ trực thuộc

Còn ở ví dụ (2), phát ngôn bắt đầu bằng “vì” là câu qua lại và “vì” ở đây

là bộ phận của cặp hô ngữ

- Phân biệt ngữ trực thuộc nối với câu có trạng ngữ

Ví dụ:

(Hồng Nhu - Thuyền đi trong mưa ngâu)

(Ngô Tất Tố - Tắt đèn) Phát ngôn có “bằng” ở ví dụ (1) là ngữ trực thuộc liên kết bằng phép nối chặt, còn phát ngôn có “bằng” ở ví dụ (2) là câu đơn có trạng ngữ

1.3.4 Hầu hết các phương tiện nối chặt đều có khả năng liên kết dự

báo ở chức năng này, thường là phương tiện nối chỉ nguyên nhân (vì, do, )

và các phương tiện nối minh hoạ (rằng, như)

1.3.5 Đôi khi, có thể gặp những ngữ trực thuộc dường như chỉ chứa

phương tiện nối Hiện tượng này là kết quả của sự xuất hiện phối hợp cả liên kết nối hồi quy lần liên kết tỉnh lược dự báo ở cùng phát ngôn Các ngữ trực thuộc loại này thường tận cùng bằng dấu ba chấm hoặc dấu hai chấm

Trang 15

Chương 2

Khảo sát phương tiện liên kết thể hiện phép nối lỏng trong một số tác phẩm tiêu biểu của Nam Cao

2.1 Kết quả thống kê

Trên cơ sở lí luận của chương 1, áp dụng cho một số tác phẩm tiêu biểu

cụ thể của các nhà văn khác nhau, chúng tôi đều thu được những kết quả nhất

định

ở bài viết này, chúng tôi chỉ đi nghiên cứu sâu vào các tác phẩm của nhà văn Nam Cao Sau khi khảo sát số liệu tác phẩm chúng tôi thống kê được tác giả đã sử dụng 1350 phương tiện liên kết câu thể hiện qua phép nối lỏng trong 19 tác phẩm (gồm cả truyện ngắn và tiểu thuyết) của ông

2.2 Phân loại

Qua việc khảo sát thống kê ở trên, chúng tôi đã phân loại được các phương tiện thể hiện phép nối lỏng khác nhau trên cùng một tác phẩm Tuy nhiên, xét theo tần số xuất hiện từ nhiều nhất đến ít nhất các phương tiện nối lỏng, trong 19 tác phẩm (cả truyện ngắn và tiểu thuyết) của Nam Cao, chúng tôi đã phân loại cụ thể như sau:

- Kiểu nối lỏng có phương tiện nối là các từ và cụm từ làm thành phần chuyển tiếp được xuất hiện nhiều nhất trong tác phẩm với 577 lần xuất hiện

- Kiểu nối lỏng có phương tiện nối là các từ làm phụ tố có nghĩa so sánh với 420 lần xuất hiện

- Kiểu nối lỏng có các từ, cụm từ có liên kết dự báo xuất hiện với 290 lần

Trang 16

- Kiểu nối lỏng được phân loại theo quan hệ ngữ nghĩa mà chúng biểu hiện cũng xuất hiện trong các tác phẩm của Nam Cao, tuy nhiên xuất hiện ít, với tần số thấp, với 120 lần trong 19 tác phẩm của Nam Cao

Xét trong tác phẩm của Nam Cao, do thời lượng có hạn, chúng tôi chỉ nghiên cứu sâu vào một số tác phẩm tiêu biểu của ông giai đoạn 1930 - 1945 (giai đoạn văn học hiện thực phê phán) Thực chất của thành phần chuyển tiếp

là thành phần phụ ngoài nòng cốt câu, nó mang tính chất “chêm xen” đưa đẩy cho câu văn chứ không làm thay đổi cấu trúc, trật tự nòng cốt của câu Các yếu tố để cấu tạo nên thành phần chuyển tiếp này có nguồn gốc rất đa dạng và

phong phú Chúng có thể là các từ: thoạt tiên, cuối cùng, đồng thời Có thể là

các kết hợp cố định hoá hay các kết hợp có xu hướng cố định hoá Và ở yếu tố nào, Nam Cao cũng sử dụng rất thành công trong tác phẩm của mình

2.3.1.1 Trước hết chúng tôi phân tích các yếu tố từ vựng là các từ như: thoạt tiên, cuối cùng, đồng thời, bỗng nhiên, chẳng hạn, vả lại, thậm chí, song le, sự thật, đặc biệt, trong 19 tác phẩm của Nam Cao

- Từ “Vả lại” có tần số hoạt động khá cao trong chức năng liên kết văn bản cũng như liên kết các câu trong tác phẩm của Nam Cao Nó thể hiện rõ vai trò chêm xen

Trang 17

“ Kiện? Nhu đi kiện chồng? Ôi chao! Mới nghe Nhu không thể hiểu rằng: người ta cần kiện nhau để bắt nhau yêu Vả lại một người như Nhu, chỉ chửi một câu đã ngượng lời rồi, bây giờ đứng ra kiện, để hạch tội một người chồng mà chưa bao giờ Nhu dám nói nửa lời chống cưỡng ”

(ở hiền - Nam Cao) Trong liên kết trên lời, từ “vả lại” cũng được sử dụng khá phổ biến

Ví dụ:

“ Anh lắc đầu, nói như người chực khóc:

- Đã đành, ốm thì chắc người ta cũng phải cho mình nghỉ [ ] Thiệt đến người ta thì người ta phải xót Vả lại mình ăn cơm, lấy công của người ta, mình phải nghĩ”

(Điếu Văn - Nam Cao) Như vậy, với chức năng phương tiện nối lỏng của liên kết lời nói hay liên kết văn bản trong tác phẩm của Nam Cao, từ “vả lại” chủ yếu dùng để bổ sung, nhấn mạnh ngữ nghĩa cho đoạn văn hoặc cho lời nói của tác giả hay của nhân vật trong tác phẩm Do đó, nó thường có trong các tổ hợp từ có chức năng nối lỏng kiểu “vả lại là ”, “vả lại đi nữa ”

Bên cạnh từ “vả lại”, Nam Cao cũng sử dụng thành công các từ: “đồng thời”, “bỗng nhiên”, “chẳng hạn” trong tác phẩm và cũng với tần số xuất hiện cao

2.3.1.2 Với các kết hợp cố định hoá như: “tiếp theo”, “thứ hai”, “ngoài

ra”, “hơn nữa” thì việc làm thành phần chuyển tiếp và làm phương tiện nối lỏng là những chức năng điển hình của chúng

Trong tác phẩm của mình, Nam Cao cũng thường xuyên sử dụng các kết hợp cố định hoá này

Trang 18

Ví dụ:

“ Bởi nếu không có Câm thì Hiền không dám ngủ ở nhà Nó đòi ra hè nhà bà Hai ngủ với Câm Vả lại cho Câm ngủ cũng không thiệt gì Trái lại là khác nữa Câm coi nhà giùm cho”

(Truyện người hàng xóm - Nam Cao)

Có thể dễ dàng nhận ra cách sử dụng từ nối “Trái lại” trong đoạn văn trên “Trái lại” có chức năng nối kết phát ngôn trước và sau nó Chính phát ngôn sau bổ sung làm rõ ý nghĩa trái ngược mà phát ngôn “trái là khác nữa” mang lại Qua phát ngôn sau “Câm coi nhà giùm cho” đã là rõ nghĩa “trái lại”

là như thế nào Đó là hành động mang lợi vì “coi nhà” là hành động mang lợi, trái nghĩa với “ngủ nhờ” là hành động gây thiệt

Ngoài ra, các kết hợp cố định hoá còn lại cũng xuất hiện nhưng với tần

số sử dụng thấp hơn so với từ “trái lại” trong sáng tác của Nam Cao

2.3.1.3 Hiệu quả trong việc sử dụng phương tiện nối lỏng là các kết hợp có xu hướng cố định hoá trong tác phẩm của Nam Cao

Với loại này, gồm 3 mô hình cấu tạo tương ứng trong tác phẩm của mình mà Nam Cao sử dụng:

- Mô hình “động từ + trạng tố chỉ cách thức”

Các phương tiện nối lỏng ở dạng này thường đứng tách biệt hẳn khỏi vế sau của phát ngôn mà nó tham gia Do vậy, tính chất chêm xen của chúng cũng bộc lộ rõ Trong tác phẩm của Nam Cao, người đọc thường thấy xuất hiện các từ như: “Nói cách khác”, “nói đúng ra”, “nói một cách tóm tắt” Hoặc có thể tác giả rút gọn bằng cách bỏ bớt động từ như: “đúng ra”, “cách khác”, “một cách tóm tắt” Hầu hết những từ này đều có nguồn gốc rút ra từ

vế thứ nhất của câu qua lại (như: “Nếu nói một cách tóm tắt thì ”)

Ví dụ:

“ Đàn anh thì bóp nặn hà hiếp, gian giảo, vô liêm sỉ, chuyên sống bằng mồ hôi nước mắt của con em (1) Nói tóm lại, trong cách sống, trong

Trang 19

việc mưu sinh, trong sự giao tiếp của người dưới đối với người trên, của người

nọ đối với người kia, chẳng có một chút gì có thể gọi là lạc thú (2) ”

(Sống mòn - Nam Cao) Phân tích ví dụ trên ta thấy, tổ hợp từ “nói tóm lại” đã làm nhiệm vụ liên kết câu (1) và câu (2) với nhau ở đây, “nói tóm lại” mang hai chức năng:

nó vừa có chức năng chuyển tiếp và vừa có chức năng dẫn nhập cho một nhận

định về quy luật cuộc sống mà tác giả nắm bắt được

- Mô hình “từ nối + đại từ”: Với từ nối là giới từ, ta có: trên đây, trước

đây, sau đó, từ đó, do vậy v.v

Với từ nối là liên từ, ta có: vì vậy, bởi vậy, như thế, tuy thế v.v

Xét một cách cụ thể, những từ nối này mang tính chất trung gian Nghĩa

là một mặt, chúng có xu hướng cố định hoá, điều đó thể hiện ở sự lặp lại thường xuyên với tần số cao ở việc sử dụng hoặc tiếp thu theo cả khối ở góc

độ này, chúng được xem như những phương tiện nối lỏng

Mặt khác, những kết hợp thuộc nhóm này lại vẫn chưa chuyển thành cụm từ cố định hoàn toàn, từng yếu tố của chúng vẫn giữ nguyên được ý nghĩa

và chức năng riêng của mình Dưới góc độ này, trong tiếng Việt có thể tách riêng các đại từ và coi chúng là phương tiện của phép thế đại từ Về mặt chức năng trong phát ngôn phần lớn các kết cấu này sẽ làm trạng ngữ

Đi sâu vào phân tích tác phẩm của Nam Cao, chúng tôi nhận thấy việc Nam Cao sử dụng thành công phương tiện liên kết với mô hình là “từ nối + đại từ” Trong từng hoàn cảnh, từng trường hợp cụ thể mà người đọc dễ dàng phân biệt được đâu là phép nối, đâu là phép thế đại từ

Ví dụ:

(1) Trông thấy vợ chồng ông, Thứ không thể không nghĩ đến vợ chồng mình Giá y đứng với Liên, thì người ngoài trông cũng na ná thế thôi Cũng

Trang 20

chồng diện tây, vợ đặc nhà quê Người lạ có thể bảo là chủ với con sen, chị vú Tuy vậy, Thứ ghét ông”

(Sống mòn - Nam Cao) (2) “ Đi một quãng thật xa rồi, y mới lại thấy như tiếc dịp, bước ngập ngừng và quay đầu nhìn lại Nhưng người đàn bà đã đi khỏi chỗ ấy rồi Y thở dài, và lại cúi đầu, đi lủi thủi, vừa đi vừa ngẫm nghĩ đến tất cả những cái khổ của đời y Cứ như vậy, y về nhà ”

(Sống mòn - Nam Cao)

Ví dụ (1) nên quy về phép nối lỏng Còn ví dụ (2) nên quay về phép thế

đại từ bởi tính thay thế của đại từ quá rõ

Trong ví dụ (1), tổ hợp “tuy vậy” đứng đầu câu làm liên tố chỉ quan hệ nhượng bộ - tương phản với phần câu đứng sau nó (Thứ ghét ông), trong đó

“vậy” thay thế cho ý trong câu đứng trước Trên cơ sở đứng đầu câu và thay thế như vậy, tổ hợp “tuy vậy” thuộc về phép nối

Còn ở ví dụ (2) tổ hợp từ “cứ như vậy” cũng đứng đầu câu nhưng thay thế cho hành động đi của đối tượng nói tới (Thứ đi) Do đó “Cứ như vậy” được xét làm phép thế để liên kết câu trong phát ngôn

Cùng với Nam Cao, các nhà văn hiện thực phê phán xã hội chủ nghĩa

30 - 45 cũng sử dụng rất nhiều các tổ hợp từ liên kết câu thể hiện phép nối thuộc mô hình “từ nối + đại từ” trong tác phẩm của mình

Nguyễn Công Hoan là nhà văn cùng thời với Nam Cao Trong từng trường hợp cụ thể, ông cũng sử dụng phép nối hoặc phép thế đại từ, giúp người

đọc hiểu sâu hơn giá trị nội dung tác phẩm

Ví dụ:

nghiệm về cách chết.Vì vậy, vẫn có nhiều người chết một cách ngờ nghệch”

(Thịt người chết - Nguyễn Công Hoan)

Trang 21

(2) “Đang nắng sém mặt sém mày, bỗng nổi trận mưa rào Như vậy, lưng đang nhễ nhại mồ hôi, thì bị ngay ướt những nước lạnh”

(Được chuyến khách - Nguyễn Công Hoan)

ở ví dụ (1): “Vì vậy” có quan hệ nguyên nhân với ý trong phần câu còn lại sau tổ hợp này Do đại từ “vậy” làm nhiệm vụ thay thế cho ý ở câu đứng trước mà câu đứng trước trở thành có quan hệ nguyên nhân với câu chứa “Vì vậy” Nên trong trường hợp này, liên kết câu được thể hiện qua phép thế đại

từ

ở ví dụ (2): Nghĩa cụ thể của “như vậy” được chỉ ra ở câu đứng trước Trên cơ sở nội dung nghĩa đó, “như vậy” có quan hệ hệ quả của việc nêu trong câu chứa nó và nguyên nhân là những ý nêu trong câu trước, và nó giữ vai trò

là phương tiện liên kết thuộc phép nối Chúng được dùng để đánh dấu quan hệ của câu chứa chúng với câu hữu quan

- Mô hình tận cùng bằng “là” với hai dạng:

+ “đại từ + là” như: “thế là”, “vậy là”

+ “danh từ + là” như: “nghĩa là”, “kết quả là”

Chúng tôi nhận thấy, với nhóm này, tính chất giáp ranh giữa phép nối lỏng và phép thế là rất gần nhau Để nhận biết phép nối lỏng, người đọc chú ý

đến dấu phẩy sau tổ hợp từ đó, dấu phẩy có tác dụng tách chúng ra về mặt cấu trúc Còn nếu không có dấu phẩy, những yếu tố này trở thành các thành phần trong cấu trúc của phát ngôn và nó chính là phép thế đại từ (hoặc phép tỉnh lược)

Với tư cách là một phương tiện liên kết, mô hình liên kết này có tác dụng dẫn nhập phát ngôn sau làm thành phần giải nghĩa cho phát ngôn trước

Chúng tôi cho rằng thành phần chuyển tiếp “có nghĩa là” thường xuất hiện trong các cuộc thoại mà người nói không muốn để người khác hiểu sai ý

định diễn đạt của mình Xét về phương châm cộng tác hội thoại, đây là dấu

Trang 22

hiệu chứng tỏ người nói tránh lối nói tối nghĩa, không vi phạm nguyên tắc cách thức

Nhà văn hiện thực phê phán Nam Cao cũng không bỏ qua phép liên kết này trong tác phẩm của mình Thậm chí nó còn được ông sử dụng rất nhiều với 72 lần xuất hiện trong 19 tác phẩm của ông

Ví dụ:

“Bác kể như thế này: thoạt tiên bác chỉ vào Hiền Rồi bác nắm hai tay lại, đặt lên ngực để làm hai cái vú Rồi bác ngoẹo cả đầu về một bên, ve vẩy hai tay và uốn éo mình Thế nghĩa là: một vật thuộc về Hiền, mà nó lại có hai cái vú, mà nó lại đi ve vẩy ”

(Truyện người hàng xóm - Nam Cao) Trong ví dụ trên, người đọc dễ dàng nhận thấy tác giả đã sử dụng phép nối lỏng “Thế nghĩa là” làm thành phần chuyển tiếp để liên kết hai phát ngôn

“Thế nghĩa là” có tác dụng dẫn nhập phát ngôn sau sẽ là thành phần giải thích cho phát ngôn trước đó

2.3.2 Xuất hiện với tần số hoạt động cao thứ hai trong tác phẩm của Nam Cao là kiểu phương tiện nối có các từ làm phụ tố của nghĩa so sánh

Xét về chức năng trong phát ngôn, các yếu tố này có thể chia làm 2 nhóm là:

1 - Các từ làm phụ tố trong động từ và 2 - các từ có nghĩa so sánh là phụ

Trang 23

dụng, các phụ từ này còn có thể kết hợp lại để bổ sung nghĩa cho nhau (ví dụ:

lại cũng, vẫn cứ, vẫn còn )

Ví dụ:

hà! Cứ vậy là ăn câu đấy ”

(Tư cách mõ - Nam Cao)

nhau một lúc Cũng chẳng còn mấy chốc nữa mà con chết, con cũng tưởng đi chơi dối già một bận ”

(Một bữa no - Nam Cao)

đứa nào muốn hoa hoè hoa sói, cứ bỏ tiền túi ra mà hoa hoè hoa sói Bà không cấm! ”

(ở hiền - Nam Cao) Qua cách tác giả sử dụng những từ nối “cứ”, “cũng”, “còn” được dẫn chứng ở trên ta thấy sự có mặt của các yếu tố không gây một ảnh hưởng đặc biệt nào đối với cấu trúc của phát ngôn Chúng hoạt động giống hệt như những phụ tố khác không có chức năng nối lỏng Mà chức năng nối lỏng ở các từ này

là do ngữ nghĩa của chúng quy định Nghĩa là, chúng có tác dụng nhấn mạnh tới nội dung đoạn hay toàn tác phẩm Vì vậy, chúng mang ý nghĩa đồng nhất, tiếp diễn của các sự kiện trong phát ngôn Trong cách sử dụng của mình, Nam Cao đã cố gắng phân biệt cho người đọc thấy đâu là từ nối có chức năng liên kết, và từ không có chức năng liên kết, bởi vì các phụ từ làm phương tiện nối lỏng này thường đa nghĩa (chẳng hạn: Theo “Từ điển Tiếng Việt”, “cứ” có hai nghĩa, “cũng” có ba nghĩa ) Đó chính là hiệu quả lớn nhất mà Nam Cao đã thể hiện trong tác phẩm của ông

Trang 24

2.3.2.2 Nhóm thứ hai là các từ có nghĩa so sánh làm phụ tố trong danh ngữ Nhóm này gồm những phụ từ đứng trước danh từ như “riêng, còn” và

đứng sau danh từ như “khác, nữa” Chức năng nối lỏng của chúng cũng do ngữ nghĩa của chúng quy định

Tuy nhiên, trong tác phẩm của Nam Cao, nhóm này hoạt động với tần

số thấp, không đáng kể và bài viết không đi sâu nghiên cứu về nhóm này

2.3.2.3 Ngoài ra còn một số từ khác thuộc loại phương tiện nối có các

từ làm phụ tố có nghĩa so sánh mang tính chất chêm xen như: “trên đây”, “như trên”, “thứ nhất”, “sau đây” chúng được sử dụng như những phụ tố đứng sau danh từ Tuy nhiên, trong tác phẩm của Nam Cao, những từ này thường xuất hiện với tần số sử dụng thấp Sở dĩ như vậy vì Nam Cao rất kiệm lời bình luận Hầu như trong tác phẩm của mình, ông để cho các sự kiện cứ thế tiếp diễn Khái quát lại bằng những phát ngôn có chỉ dẫn hội thoại “trên đây”, “như trên” để đưa ra ý kiến của mình là hành động ít gặp trong tác phẩm của Nam Cao Các phương tiện nối lỏng như “trên đây”, “như trên” xuất hiện ít là vì thế

2.3.3 Một loại phương tiện nối lỏng nữa mà hiệu quả quả sử dụng cũng như số lần xuất hiện của nó khá cao đó là phương tiện nối lỏng với những

từ và cụm từ có liên kết dự báo

Nhìn một cách tổng thể, người đọc rất dễ nhầm lẫn giữa các từ và cụm

từ có liên kết dự báo với những từ, cụm từ làm phụ tố đứng sau danh từ mang tính chất chêm xen, vì những từ và cụm từ có liên kết dự báo thường xuất hiện

là: trước tiên, thoạt tiên, đầu tiên, thứ nhất, dưới đây, sau đây Tuy nhiên

cách sử dụng của hai loại này là hoàn toàn khác nhau

Trong tác phẩm của mình, Nam Cao đã sử dụng các phương tiện này để

dự báo trước sự xuất hiện của các phát ngôn, các đoạn văn (thứ 2, thứ 3 ) sau

Ngày đăng: 31/10/2015, 09:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp Tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
2. Nguyễn Đức Dân, Lê Đông (1985), Phương thức liên kết của nối, “Tạp chí Ngôn ngữ số 1, tr 32 - 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương thức liên kết của nối
Tác giả: Nguyễn Đức Dân, Lê Đông
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 1985
3. Lương Đình Dũng (20050, Phép nối và một vài suy nghĩ về phương pháp dạy phép nối trong tiếng Việt, “Tạp chí Ngôn ngữ số 6, tr 38 - 47” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phép nối và một vài suy nghĩ về phương pháp dạy phép nối trong tiếng Việt
Tác giả: Lương Đình Dũng
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 2005
4. Nguyễn Thị Việt Thanh (1999), Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Việt Thanh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
5. Trần Ngọc Thêm (1999), Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
8. Phân tích tác phẩm Nam Cao trong nhà trường (2005), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tác phẩm Nam Cao trong nhà trường
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
10. Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan chọn lọc (2002), Nxb Hội nhà văn 11. Truyện ngắn Vũ Trọng Phụng (2004), Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2002), Nxb Hội nhà văn" 11. Truyện ngắn Vũ Trọng Phụng
Tác giả: Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan chọn lọc (2002), Nxb Hội nhà văn 11. Truyện ngắn Vũ Trọng Phụng
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn" 11. Truyện ngắn Vũ Trọng Phụng" (2004)
Năm: 2004
13. Tắt đèn - Ngô Tất Tố (2004), Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tắt đèn
Tác giả: Ngô Tất Tố
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2004
14. Tuyển tập văn học thiếu nhi (1999), Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập văn học thiếu nhi
Tác giả: Tuyển tập văn học thiếu nhi
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
6. Nam Cao tác phẩm (tập 1) (1976), Nxb Văn học Khác
7. Tuyển tập Nam Cao (2005), Nxb Văn học Khác
9. Nam Cao người kết thúc vẻ vang trào lưu văn học hiện thực, (2003), Nxb ĐHQG Hà Nội Khác
12. Số đỏ - Vũ Trọng Phụng (2003), Nxb Văn học Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w