Việc tìm hiểu hệ thống hình tượng nghệ thuật trong tập Hoa ngày thường - Chim báo bão sẽ giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc, toàn vẹn hơn về tập thơ và phong cách, quan niệm nghệ thuật c
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai đề tài “Hình tượng nghệ thuật trong tập
thơ Hoa ngày thường - Chim báo bão của Chế Lan Viên”, tác giả khoá luận
đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn, các thầy
cô trong tổ Văn học Việt Nam và đặc biệt là ThS GVC Vũ Văn Ký - người hướng dẫn trực tiếp
Tác giả khoá luận xin được bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới các thầy cô
Hà Nội, ngày 15 tháng 04 năm 2010
Tác giả khoá luận
Bùi Thị Huyền Trang
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Khoá luận “Hình tượng nghệ thuật trong tập thơ Hoa ngày thường - Chim báo bão của Chế Lan Viên” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, có
tham khảo ý kiến của những người đi trước, dưới sự giúp đỡ khoa học của ThS GVC Vũ Văn Ký Khoá luận không sao chép từ một tài liệu, công trình
có sẵn nào
Hà Nội, ngày 15 tháng 04 năm 2010
Tác giả khoá luận
Bùi Thị Huyền Trang
Trang 31.2.1 Chặng đường thơ Chế Lan Viên trước Cách mạng tháng
Chương 2 Quan niệm nghệ thuật và sự chi phối của quan
niệm nghệ thuật trong thơ Chế Lan Viên
18
2.2 Quan niệm nghệ thuật và sự chi phối của quan niệm nghệ
thuật trong thơ Chế Lan Viên
20
Trang 42.2.3 Sau 1975 và những năm cuối đời 25
Chương 3 Hình tượng nghệ thuật trong tập thơ Hoa ngày
thường - Chim báo bão
29
3.3 Hình tượng nghệ thuật trong tập thơ “Hoa ngày thường -
Chim báo bão”
33
3.4 Một số hình thức nghệ thuật biểu hiện của hình tượng
nghệ thuật trong tập thơ “Hoa ngày thường - Chim báo bão”
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Chế Lan Viên xuất hiện trên thi đàn Việt Nam như “một quầng lửa”
rực sáng với sự nghiệp sáng tác gồm hơn một chục tập thơ, hàng nghìn trang văn bút kí, phê bình, tiểu luận Đời thơ Chế Lan Viên trải nhiều giai đoạn,
nhiều khúc quanh Ông từng là một “thi sĩ - lãng mạn”, một “thi sĩ - chiến sĩ”
và cuối đời ông là một “thi sĩ - triết nhân”, khép mình lại, ẩn mình đi, lấy
ngay cái bóng của mình mà đối diện đàm tâm về đời, về thế Bao quát hơn, ông là một nhà thơ - con người suốt đời đi tìm khuôn mặt mình để rồi cuối cùng, Chế Lan Viên đã đi qua và trụ lại trong lịch sử văn học như một thi nhân đích thực
Một nghệ sĩ tài năng không thể thiếu phong cách, như mỗi ngôi sao lấp lánh một thứ ánh sáng riêng Chế Lan Viên cũng đã để lại trong thơ hiện đại dấu ấn của một phong cách và quan niệm nghệ thuật độc đáo, đặc sắc Chính điều này đã chi phối đến việc xây dựng thế giới hình tượng nghệ thuật trong các tập thơ qua từng giai đoạn của lịch sử Trong đó đặc biệt phải kể đến tập
Hoa ngày thường - Chim báo bão – đây là một bước phát triển mới của thơ Chế Lan Viên Với Hoa ngày thường - Chim báo bão Chế Lan Viên đã làm một “cuộc chuyển quân”, tiến sát tới những tuyến đầu của cuộc chiến đấu của
dân tộc và thời đại
Trước cơn bão lớn của thời đại, mạch trữ tình và suy tưởng trong thơ Chế Lan Viên được dồn tụ lại, làm dậy lên những cơn sóng lớn, vang lên những hợp âm dữ dội của một tiếng thơ chiến đấu, trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thơ đánh Mỹ là mặt trận chính của thơ Chế Lan Viên Chính ở đây, Chế Lan Viên đã thể hiện sức chiến đấu năng nổ, tính nhạy bén, chiều sâu của tư duy nghệ thuật Cũng chính từ đây Chế Lan Viên
đã dồn nhiều tâm huyết, thể hiện những tìm tòi và tạo được một phong cách
Trang 6đặc sắc để đạt đến những bài thơ có vị trí xứng đáng trong những thành tựu
quan trọng của nền thơ chống Mỹ Hoa ngày thường - Chim báo bão đã góp phần tạo nên “những cơn sóng lớn”, “những hợp âm dữ dội”, trong phong
cách thơ của Chế Lan Viên
Việc tìm hiểu hệ thống hình tượng nghệ thuật trong tập Hoa ngày thường - Chim báo bão sẽ giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc, toàn vẹn hơn về
tập thơ và phong cách, quan niệm nghệ thuật của nhà thơ Chế Lan Viên trong cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Không chỉ vậy, Chế Lan Viên còn là một tác giả có vị trí quan trọng của nền văn học Việt Nam hiện đại nên những tác phẩm thơ của ông được đưa vào giảng dạy ở hầu hết các cấp học, bậc học Do đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu thơ Chế Lan Viên ở khía cạnh hình tượng nghệ thuật, cụ thể là tập
thơ Hoa ngày thường - Chim báo bão sẽ góp phần thiết thực vào việc học tập
và giảng dạy môn Ngữ Văn trong nhà trường
Đó là những lý do khiến chúng tôi lựa chọn đề tài khoá luận “Hình tượng nghệ thuật trong tập thơ Hoa ngày thường - Chim báo bão của Chế
Lan Viên”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu và tìm hiểu tập thơ Hoa ngày thường - Chim báo bão của
Chế Lan Viên không phải là vấn đề hoàn toàn mới mẻ Đi vào khai thác, nghiên cứu ở một số phương diện khác nhau đã có nhiều bài viết, công trình,
ý kiến xung quanh tập thơ này
Tác giả Hà Minh Đức ở bài viết “Hoa ngày thường - Chim báo bão” bước phát triển mới của một phong cách thơ” đăng trong Nhà văn và tác phẩm, Nxb Văn học, 1971 cũng khẳng định sự phát triển trên con đường sáng
Trang 7tác thơ của Chế Lan Viên ở nhiều khía cạnh khác nhau trong tập thơ Hoa ngày thường - Chim báo bão
Tác giả Mai Quốc Liên trong bài viết “ Chế Lan Viên qua tập thơ “Hoa ngày thường - Chim báo bão” đăng trong Nhà thơ, cơn bão và những cánh hoa, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1989, đã chỉ ra và khẳng định những giá
trị nội dung, nghệ thuật của tập thơ
Tác giả Vũ Tuấn Anh trong Chế Lan Viên về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003 với bài viết “Thơ đánh Mỹ của Chế Lan Viên”, nhà nghiên cứu đã khẳng định: “Hoa ngày thường - Chim báo bão” là một bước phát triển mới của thơ Chế Lan Viên, từ sắc thái trữ tình đậm nét trong “Ánh sáng và phù sa”đến chất thời sự, chính trị nổi bật như là một đặc trưng về phong cách trong “Hoa ngày thường - Chim báo bão” có vẻ như là một sự chuyển hướng đột ngột”
Tiến sĩ Nguyễn Thị Bình trong giáo trình Lịch sử Văn học Việt Nam tập III, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2007 đã chỉ ra: “Quan hệ giữa mặt đối lập
mà thống nhất, đối lập mà chuyển hoá còn được thể hiện ở mạch ngầm cấu trúc một bài thơ hay một tập thơ “Hoa ngày thường - Chim báo bão”
Tác giả Nguyễn Văn Long trong Giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại tập II, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2008 đã có ý kiến nhận xét về tập thơ Hoa ngày thường - Chim báo bão của Chế Lan Viên đó là: “Nhà thơ muốn mình vừa là hầm chông giết giặc, lại vừa là cành hoa mát mắt cho đời”
Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đình Sử với bài viết “Chế Lan Viên - bản lĩnh một nhà thơ lớn” in trong Tuyển tập mười lăm năm tạp chí văn học và tuổi trẻ tập một, Nxb Giáo dục Hà Nội, 2008 cho rằng: “Hoa ngày thường - Chim báo bão” đánh dấu bước trỗi dậy đổi mới của thơ Chế Lan Viên gắn liền với
ý thức “cái tôi” của mình”
Trang 8Các tài liệu dẫn trên cho thấy nhiều tác giả, nhà nghiên cứu đã tìm hiểu
tập thơ Hoa ngày thường - Chim báo bão ở những khía cạnh khác nhau Điều
đó tạo điều kiện thuận lợi giúp người đọc tiếp cận tập thơ ở nhiều hướng, cả
về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật
Mặc dù vậy, các nhà nghiên cứu tùy theo quan niệm và sở thích cá
nhân mới chỉ đề cập đến một khía cạnh, một vấn đề trong Hoa ngày thường - Chim báo bão
Kế thừa ý kiến của những người đi trước, chúng tôi đi sâu hơn vào hình
tượng nghệ thuật trong tập thơ Hoa ngày thường - Chim báo bão, hi vọng sẽ
thấy được những vấn đề sâu sắc và góp phần tìm hiểu sự nghiệp thơ ca của Chế Lan Viên
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khoá luận Hình tượng nghệ thuật trong tập thơ Hoa ngày thường - Chim báo bão của Chế Lan Viên có nhiệm vụ sau:
Trình bày khái quát về cuộc đời, con đường nghệ thuật của tác giả Chế Lan Viên
Tìm hiểu về quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên và sự chi phối của
Trang 9Tìm hiểu hình tượng nghệ thuật trong tập thơ Hoa ngày thường - Chim báo bão
Trang 105 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Khoá luận tập trung vào nghiên cứu tập thơ Hoa ngày thường - Chim báo bão rút từ Chế Lan Viên toàn tập tập I, Nxb Văn học, 2002
Bên cạnh đó, để làm nổi bật những hình tượng nghệ thuật trong tập thơ
Hoa ngày thường - Chim báo bão khi cần thiết khoá luận còn có sự mở rộng,
liên hệ đến những sáng tác trước và sau của Chế Lan Viên và các nhà thơ khác
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp hệ thống
Phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp phân tích văn học
7 Đóng góp của khoá luận
Về mặt khoa học: Góp phần tìm hiểu, nghiên cứu tập Hoa ngày thường
- Chim báo bão ở khía cạnh hình tượng nghệ thuật Thấy được sự chi phối của
quan niệm nghệ thuật đến việc xây dựng hình tượng nghệ thuật trong tập thơ
Hoa ngày thường - Chim báo bão
Về mặt thực tiễn: Góp phần vào việc giảng dạy và học tập các tác phẩm thơ của Chế Lan Viên trong nhà trường trung học phổ thông
8 Bố cục khoá luận
Khoá luận có bố cục ba phần: Mở đầu, nội dung, kết luận
Mở đầu: 5 trang
Nội dung: 47 trang
Chương 1: Chế Lan Viên và con đường nghệ thuật: 8 trang
Chương 2: Quan niệm nghệ thuật và sự chi phối quan niệm nghệ
thuật trong thơ Chế Lan Viên:11 trang
Chương 3: Hình tượng nghệ thuật trong tập thơ Hoa ngày thường - Chim báo bão: 28 trang
Kết luận: 2 trang
Ngoài ra khoá luận còn có mục lục, danh mục tài liệu tham khảo
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CHẾ LAN VIÊN VÀ CON ĐƯỜNG NGHỆ THUẬT
1.1 Tiểu sử nhà thơ Chế Lan Viên
Nhà thơ Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 23 tháng
10 năm 1920, quê ở xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, nhưng suốt thời niên thiếu đến tuổi trưởng thành lại gắn bó với vùng Bình Định - Quy Nhơn, nên đây cũng được xem là quê hương thứ hai của nhà thơ Sinh trưởng trong một gia đình viên chức nhỏ, cha lại mất sớm nhưng Chế Lan Viên vẫn được tạo điều kiện theo học ở Quy Nhơn rồi Hà Nội
Chế Lan Viên làm thơ từ khi còn 12, 13 tuổi, có thơ, truyện ngắn đăng
trên các báo “Tiếng trẻ”, “Khuyến học”, “Phong hoá” từ những năm
1935-1936 Cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn lập nên nhóm thơ Bình Định nổi tiếng và tạo một dấu ấn độc đáo cho Thơ mới đương thời Khi tập
thứ ba trường trung học Quy Nhơn, đã gây được sự chú ý đặc biệt và đưa thơ Chế Lan Viên vào trong số những nhà thơ mới hàng đầu
Năm 1939, Chế Lan Viên ra học tại Hà Nội, rồi vào Sài Gòn làm báo,
ra Thanh Hoá, quay về Huế dạy học Năm 1942 cho ra đời tập văn Vàng sao
và sau đó viết tập bút ký triết luận Gai lửa
Chế Lan Viên tham gia Cách mạng tháng Tám tại Quy Nhơn, rồi sau
đó ra Huế tham gia “Đoàn xây dựng” cùng với Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Đào Duy Anh viết bài cho báo “Quyết thắng” của Việt Minh Trung Bộ
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chế Lan Viên hoạt động văn nghệ, báo chí ở Liên khu Bốn và chiến trường Bình Trị Thiên Ông được kết nạp Đảng vào tháng 7 năm 1949 ngay trên quê mẹ Quảng Trị
Trang 12Những bài thơ Chế Lan Viên sáng tác trong thời kỳ kháng chiến được
tập hợp trong tập Gửi các anh (in 1955) thể hiện sự chuyển biến quan trọng
trong tư tưởng và nghệ thuật của ông
Sau năm 1954, nhà thơ trở về sống tại Hà Nội, làm biên tập viên ở Nhà
xuất bản rồi ở báo “Văn học” của hội nhà văn Chế Lan Viên nhiều năm là ủy
viên Ban chấp hành, Ban thường vụ Ban thư ký Hội nhà văn Việt Nam
Tập Ánh sáng và phù sa (1960) là một thành công đặc sắc - cái mốc
quan trọng trên đường thơ sau cách mạng của Chế Lan Viên
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thơ Chế Lan Viên đã
đạt nhiều thành tựu mới ở các tập thơ Hoa ngày thường - Chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973) đậm chất
chính luận mang âm hưởng sử thi bên cạnh chất trữ tình đằm thắm của cuộc sống đời thường
Từ sau 1975 ông chuyển vào sống ở Thành phố Hồ Chí Minh và tiếp
tục sáng tác các tập thơ Hái theo mùa (1977), Hoa trên đá (1984), Ta gửi cho mình (1986)
Chế Lan Viên còn là cây bút viết văn xuôi đặc sắc với các tập bút ký
Vàng sao (1942), Thăm Trung Quốc (1963), Những ngày nổi giận (1966)
Không chỉ thế, các tập tiểu luận, phê bình văn học của ông cũng gây nên tiếng
vang rộng rãi và có tác động tích cực vào đời sống văn học: Vào nghề (1962), Suy nghĩ và bình luận (1971), Nghĩ cạnh dòng thơ (1981)
Ông là đại biểu Quốc hội từ khoá III đến khoá VII, tham gia các uỷ ban văn hoá, giáo dục và đối ngoại của Quốc hội, từng có mặt ở nhiều diễn đàn văn hoá quốc tế, nhất là trong những năm chống Mỹ cứu nước
Chế Lan Viên mất ngày 19 tháng 6 năm 1989 tại Bệnh viện Thống Nhất Lễ truy điệu và hỏa táng được tổ chức vào ngày 26 tháng 6 năm 1989
Trang 13Sau khi qua đời những Di cảo thơ của ông được vợ là nhà văn Vũ Thị Thường sưu tầm, tuyển chọn và in trong ba tập Di cảo thơ Chế Lan Viên
(1992, 1993, 1996) Giới văn học và công chúng lại bất ngờ sửng sốt trước một Chế Lan Viên hết sức đa dạng, sâu sắc, phức tạp, vừa quen thuộc, vừa
mới lạ trong các tập Di cảo thơ này
Năm 1996, Chế Lan Viên được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
Chế Lan Viên là một nghệ sĩ lớn, luôn trăn trở tìm tòi trên con đường nghệ thuật Hơn nửa thế kỉ sáng tạo ông đã tìm đến nhiều khuynh hướng nghệ thuật và ở chặng đường nào cũng ghi được những thành công nổi bật, nhưng
nhà thơ vẫn luôn không tự bằng lòng với mình, bởi “Cái trang mơ ước một đời chưa vươn tới” và khắt khe với chính mình khi nhìn lại đời thơ “Một nghìn câu thơ thì chín trăm câu dang dở” (Hồi ký bên trang viết)
1.2 Con đường nghệ thuật của Chế Lan Viên
Cho đến năm 1996, Chế Lan Viên đã có 13 tập thơ được công bố với
tổng số 1025 bài, trong đó có 49 bài thuộc tập thơ Hoa ngày thường - Chim báo bão
Trước Cách mạng tháng Tám, Chế Lan Viên chỉ có một tập thơ Điêu tàn (1937) và một số bài thơ viết sau Điêu tàn dự định in thành tập Thơ không
thành công với tập Ánh sáng và phù sa
Những năm cả nước chống Mỹ là một giai đoạn sáng tác dồi dào và đầy
hào hứng của nhà thơ với các tập Hoa ngày thường - Chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973) và còn được tiếp tục sau năm 1975 với Hái theo mùa (1977), một tập thơ về Bác Hồ Hoa trước lăng Người (1976), Hoa trên đá (1984), Ta gửi cho mình (1986) Khép lại sự nghiệp sáng tác thơ Chế Lan Viên là với các tập Di cảo thơ tập I (1992), tập II
Trang 14(1993), tập III (1996) mà phần lớn là các bài được viết trong những năm cuối đời
Con đường nghệ thuật của Chế Lan Viên với hơn nửa thế kỉ đã đi qua
ba chặng đường chính:
1.2.1 Chặng đường thơ Chế Lan Viên trước Cách mạng tháng Tám
1945
Chế Lan Viên nổi tiếng từ trước Cách mạng Tháng Tám với Điêu tàn
gồm 36 bài thơ được sáng tác khi ông mới 17 tuổi và đang là học sinh trung
học ở Quy Nhơn, tập thơ đã làm cho người đọc phải “kinh ngạc và bàng hoàng” Trong tập Điêu tàn Chế Lan Viên đã nói tới việc phi thường nghĩa là
không làm chuyện tầm thường, dung tục Chính giữa lúc chủ đề về cá nhân rất thịnh trong phong trào Thơ mới thì Chế Lan Viên trở về với số phận của một
dân tộc bị thời gian chôn vùi với “máu xương kêu khóc” Ông tìm cái đẹp không phải trong “Cái chân”, “Cái thiện”, mà tìm trong hư ảo với điêu tàn Chế Lan Viên viết tựa Điêu tàn: “Làm thơ là làm sự phi thường Thi sĩ không phải là Người Nó là người Mơ, người Say, người Điên Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu Nó thoát hiện tại Nó xối trộn dĩ vãng Nó ôm trùm tương lai” Quả là Chế Lan Viên cùng với trường thơ Loạn “muốn xác lập một thế giới mới trong thi ca khác với quan hệ của đời thường” (Hà Minh
Đức) - Đó là một thế giới dị thường
Với một nguồn cảm hứng dồi dào, bên cạnh một sức tưởng tượng quá
mãnh liệt hiểu theo hai thể cách, trong Điêu tàn có hai Chế Lan Viên: Một
Chế Lan Viên qua hình ảnh của ngọn tháp Chàm bơ vơ, sừng sững, cứng nhắc, đứng thành ngọn đồi với nét mặt càng thêm bí ẩn, buồn thảm lúc hoàng
hôn xuống; Một Chế Lan Viên thứ hai đã xuất hiện “tỏa rộng như hơi”, bao
vây, ôm ấp thân mình tháp rồi bốc lên cao bay theo sương gió, theo mây ngàn
Trang 15phương, theo trăng vạn kiếp Sau một thời gian hể hả, làn hơi ấy lại tìm về chiều sâu dưới chiếc hòm xăng đầy xương cốt
Điêu tàn đã thể hiện thầm kín tấm lòng yêu đất nước, một đất nước đang tồn tại nhưng thực sự đang “điêu tàn” trong chế độ và cảnh đời cũ Tố Hữu đã nhận xét: “Chế Lan Viên thì gợi lên nỗi hoài vọng của dân tộc Chàm ngày xưa theo cách của anh, đó cũng là một lời ca yêu nước, bởi anh khóc số phận của những dân tộc bị đô hộ” Nhà thơ muốn thoát li khỏi mọi sự ràng
buộc với cuộc đời hiện tại
Điêu tàn miêu tả một “cái tôi” trữ tình năng động muốn tìm hiểu về
cảnh ngộ xung quanh, về bản thân mình và Chế Lan Viên rơi vào bi kịch là không có khả năng nhận thức, lí giải biết bao điều trong cuộc sống
Ngoài ra, trong thời kỳ này Chế Lan Viên còn có tập bút ký triết luận
từng bước thay đổi tư tưởng và tâm hồn mình Tập Gửi các anh ra đời và xuất bản
năm 1955 đã đánh dấu bước chuyển biến trong tư tưởng của nhà thơ
1.2.2.2 Từ 1960-1975
Tập Ánh sáng và phù sa là một bước đi, một bậc thang của hồn thơ Chế
Lan Viên Cách mạng đã giúp Chế Lan Viên lao mình vào cuộc sống chung của dân tộc, tìm đến những chân trời bao la được mở ra cho thơ và thơ ông đã
được hồi sinh Xuất bản năm 1960 với 69 bài thơ, Ánh sáng và phù sa đã thể
Trang 16hiện tâm hồn Chế Lan Viên có những rung cảm về cuộc sống, về con người hôm nay qua kháng chiến cũng như trong đấu tranh thống nhất và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Về nhan đề của tập thơ Ánh sáng và phù sa, Chế Lan Viên đã giải thích: “Ánh sáng soi rọi tôi và phù sa bồi đắp tôi, ánh sáng tinh thần và phù
sa vật chất của lí tưởng tôi” Ánh sáng và phù sa trình bày cuộc phấn đấu
trong tâm hồn và tư tưởng của nhà thơ để vượt qua những nỗi đau riêng hoà
hợp với niềm vui chung Chúng ta cũng thấu hiểu “Thơ là tiếng hát của tâm hồn, thơ là sự chân thực, trần trụi của tâm hồn” Vì vậy, một tâm hồn phải tự giải quyết những vấn đề của nó chưa giải quyết được thì những “tiếng hát”
của nó về xã hội vẫn cứ lướng vướng, gập ghềnh như có gì còn che giấu Tập
Ánh sáng và phù sa là một giai đoạn đấu tranh của tâm hồn thơ Chế Lan Viên,
không những đấu tranh chống bệnh tật mà thực ra còn chống với những còn
lại nào đó của giai đoạn suy nghĩ siêu hình trước cách mạng “Vào trong những lớp kim tâm hồn cay đắng”, “ Thơ ăn mất hồn”
Là một nhà thơ lớp trước, tâm hồn của Chế Lan Viên ngày xưa đắm
chìm trong “dĩ vãng buồn thương”, cách mạng đã giúp Chế Lan Viên đoạn tuyệt với thời kỳ Điêu tàn và Vàng sao, Gai lửa đã đưa ông trở về với thực tế
cách mạng, sáng tác dưới ánh sáng, lí tưởng của Đảng và lòng tin yêu của quần chúng nhân dân
Ánh sáng và phù sa là một tập thơ trữ tình đúng với ý nghĩa căn bản
của thuật ngữ đó Cuộc sống khách quan được biểu hiện qua cảm nghĩ và tâm trạng Chế Lan Viên nói với người đọc bằng lời nói tâm tình, nhiều yêu thương và xúc cảm Tập thơ đã đạt đến độ chín về tư tưởng và nghệ thuật
Nếu Gửi các anh còn để lại ấn tượng về một sự cố gắng đổi mới nhưng chưa đạt đến ổn định chắc chắn thì ở Ánh sáng và phù sa, những đổi mới về nội
Trang 17dung đã đi liền với nghệ thuật thể hiện đa dạng và nhuần nhuyễn Bút pháp Chế Lan Viên đến đây đã đạt đến sự đa dạng biến hóa linh hoạt
Nghệ thuật của Ánh sáng và phù sa nổi bật lên ở trí tưởng tượng mạnh
mẽ, ở những hình ảnh đẹp và lộng lẫy, ở sự hòa hợp cảm xúc và trí tuệ
Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thơ Chế Lan Viên đạt
được thành tựu mới với các tập Hoa ngày thường - Chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972), đã hoàn thành cuộc hành trình từ “Cái tôi lạc lõng, cô đơn trở về giữa lòng dân tộc ấm áp yêu thương” Dòng mạch thơ
ấy còn tiếp tục chảy tới những tập thơ xuất bản sau ngày đất nước thống nhất của
Chế Lan Viên như: Hái theo mùa (1977), Hoa trên đá (1984)
Bên cạnh việc sáng tác và cho ra đời các tập thơ, trong thời kỳ này Chế Lan Viên còn bộc lộ tài năng trong ngòi bút của mình qua một số bút ký, tùy
bút ghi lại hiện thực chiến đấu của quân và dân ta như: Những ngày nổi giận (1966), Giờ của số thành (1977) Tiếp đó là các tập phê bình văn học với lối viết dạt dào cảm xúc thể hiện ngòi bút rất riêng của Chế Lan Viên: Phê bình văn học (1962), Vào nghề (1962), Suy nghĩ và bình luận (1971)
1.2.3 Chặng đường thơ Chế Lan Viên sau 1975 và những năm cuối đời
Từ giọng sử thi hào sảng, thơ Chế Lan Viên chuyển sang giọng thế sự
đời tư trầm lắng, da diết: “Giọng cao bao nhiêu năm giờ anh hát giọng trầm- Tiếng hát lẫn vào im lìm của đất” Những khúc xạ của đời sống xã hội và
nhân tình thế thái sau chiến tranh đi vào thơ Chế Lan Viên tạo nên giọng
buồn, chua chát: “Người ta chỉ biết màu sen anh đỏ rực - Còn nỗi buồn hoa tím biết cho đâu” Sự chuyển hướng ấy được bắt đầu ở tập thơ Hoa trên đá (1984) tiếp đó là Ta gửi cho mình (1986) và khép lại với các tập Di cảo thơ
(Tập I - 1992, tập II - 1993, tập III - 1996), xuất bản sau khi nhà thơ qua đời
Di cảo thơ là những bài thơ chiêm nghiệm, suy tưởng, tự vấn, độc thoại
về những trăn trở vĩnh cửu của đời người: “Vui buồn, được mất, sống chết”
Trang 18Di cảo thơ mở ra những chủ đề vĩnh cửu của thơ ca, “có vị đắng đót của thứ thơ lặn vào trong, nói với riêng mình” Những suy tưởng về thơ, về nghệ
thuật của Chế Lan Viên càng sâu sắc, thấm thía
Về chất lượng nghệ thuật của Di cảo của thơ, Nguyễn Thái Sơn viết rất đúng rằng: “Có những tình cảm, những nỗi niềm, những giá trị nhân văn
và nghệ thuật mà chỉ đến khi đọc thơ “Di cảo” của Chế Lan Viên ta mới nhận ra” Bên cạnh những tác phẩm thơ, ở giai đoạn này Chế Lan Viên tiếp tục viết tiểu luận, phê bình văn học với các tập như: Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân (1981), Nghĩ cạnh dòng thơ (1982) và Ngoại vi thơ (1987)
Con đường nghệ thuật của Chế Lan Viên là một hành trình tìm kiếm không ngừng với nhiều bước ngoặt, có cả sự phủ định để vượt lên chính
mình Đúng như nhà thơ Tế Hanh đã nhận xét: “Nói chung thơ Chế Lan Viên trên 50 năm luôn luôn là một giọng thơ gây nhiều sự chú ý của dư luận Có thể nói, Chế Lan Viên là một nhà thơ không yên ổn, anh không yên ổn trong trăn trở sáng tác của mình và cũng mang đến sự không yên ổn trong tình hình thơ của chúng ta” Là một người mở đầu trong khuynh hướng tăng cường
chất trí tuệ, suy tưởng, triết lí, Chế Lan Viên có ảnh hưởng rộng rãi đến nhiều nhà thơ thuộc các thế hệ sau và đem đến những tác động tích cực đối với sự tiếp nhận của công chúng
Trang 19CHƯƠNG 2 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VÀ SỰ CHI PHỐI CỦA
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN
2.1 Thuật ngữ “Quan niệm nghệ thuật”
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, quan niệm nghệ thuật là “nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó có khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó; là sự miêu tả hữu hạn của thế giới vô hạn là cuộc đời ” [5, 274]
“Quan niệm nghệ thuật là hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, làm thành thước đo của hình thức văn học và là cơ sở của tư duy nghệ thuật” [5, 275]
“Quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người được thể hiện ở điểm nhìn nghệ thuật, ở chủ đề cảm nhận đời sống được hiểu như những hằng số tâm lí của chủ thể, ở kiểu nhân vật và biến cố mà tác phẩm cung cấp, ở cách
xử lí các biến cố và quan hệ nhân vật” [5, 274]
Có thể nói rằng, nhà văn sáng tạo ra nhân vật là để khái quát quy luật
về đời sống con người và bộc lộ quan niệm của mình về con người xã hội Tuy nhiên, quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn mới là nhân tố quy định trực tiếp tới nhân vật Tại sao trong Văn học Phục Hưng lại có thằng điên, thằng hề? Và tại sao chỉ có những người điên, thằng hề mới dám nói lên sự thật? Tại sao nhân vật của Nam Cao thường có ngoại hình xấu? Tại sao truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan lại thiên về xây dựng những hiện tượng trào phúng? Tất cả những câu hỏi đó chỉ có thể lí giải nếu hiểu được quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn
Trang 20Quan niệm nghệ thuật về con người sẽ được triển khai qua từng tác phẩm cụ thể của nhà văn Ngay từ những tác phẩm đầu tay, Tô Hoài đã một
cách tự nhiên hướng ngòi bút của mình vào “những chuyện trong làng và trong nhà, những cảnh và người của một vùng công nghệ đương sa sút, nghèo khó” (Một số kinh nghiệm viết văn của tôi) Thế là cuộc sống và con người
làng Nghĩa Đô, nơi chôn rau cắt rốn của tác giả đã khơi nguồn sáng tạo nghệ thuật cho Tô Hoài Ông từng tâm sự, những tác phẩm đầu tay là những tác
phẩm mà “Đời sống xã hội quanh tôi, tư tưởng và hoàn cảnh của chính tôi đã vào cả sáng tác của tôi” (Tự truyện)
Như mọi nhà văn chân chính, mối quan tâm lớn trước hết ở Nguyễn Minh Châu là quan hệ giữa văn học với đời sống, với thời đại Ngay từ thời
kỳ đầu cầm bút, nhà văn đã quan niệm: “Văn học bao giờ cũng phải trả lời những câu hỏi của đời sống” (Nhà văn, đất nước và dân tộc mình) Ngòi
bút của Nguyễn Minh Châu không còn bị khuôn vào những đường hướng, những khuôn khổ có sẵn mà mở ra để khám phá toàn bộ đời sống xã hội và
con người trong tính “đa sự, đa đoan” của nó Đồng thời, quan niệm về hiện
thực ở Nguyễn Minh Châu cũng luôn gắn liền với nền tảng tinh thần nhân
bản: “Văn học và đời sống là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người” ( Trả lời phỏng vấn báo văn nghệ đầu xuân 1987)
Quan niệm nghệ thuật của văn học có liên hệ mật thiết với quan niệm
về thế giới và con người, về mặt triết học, khoa học, tôn giáo, đạo đức, chính trị vốn có của thời đại mình Nhưng do đặc thù của mình mà quan niệm nghệ thuật có những thể hiện và bộc lộ riêng
Như vậy, quan niệm nghệ thuật đó chính là nét riêng, điểm nhìn của mỗi nhà văn Quan niệm nghệ thuật của mỗi nhà văn khác nhau và điều đó được bộc lộ rõ nét qua từng tác phẩm của họ Sự thật có thể là một, nhưng
Trang 21phong phú thêm đời sống tinh thần xã hội Cao Xuân Dục nói: “Nếu chỉ biết rập khuôn, chắp nhặt những cái sáo cũ, thì dù cho câu đẹp, lời hay, vẽ trăng
tả gió, nhưng ý hướng không kí thác vào được thì rốt cuộc cũng là bắt chước giọng điệu người khác, chẳng nói lên được tính tình thực của mình”
Vì thế, quan niệm nghệ thuật của mỗi nhà văn chính là cái để tạo nên nét riêng, sự độc đáo trong sáng tác văn chương Khi nắm được quan niệm nghệ thuật chính là có được công cụ, có được điểm xuất phát vững vàng để đi sâu tìm hiểu giá trị của mỗi tác phẩm văn học
2.2 Quan niệm nghệ thuật và sự chi phối của quan niệm nghệ thuật trong thơ Chế Lan Viên
Quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên luôn vận động trong suốt quá trình sáng tác, nhưng thống nhất trong phong cách sáng tác của nhà thơ Ông
có nhiều ý kiến mang tính chất tuyên ngôn nghệ thuật, đưa ra những định nghĩa về thơ, về nghề thơ Có thể nói, quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên vừa độc đáo, vừa phong phú lại khá phức tạp
Ý thức về cá thể, cá tính, khát khao tạo lập một cõi riêng trong văn
chương đã đồng hành và thúc đẩy Chế Lan Viên từ những dòng Khai bút:
“Một kiếp sống phụ, khai thần bút” Thế là cuộc đời mở cửa - bao nhiêu sức mạnh trong sáng tạo ùa ra, “Trên ruộng đất khởi sự cày bừa - sông suối bắt đầu tuôn chảy” (Vàng sao - 1942) Làm văn chương trở thành một hành vi
sáng tạo, sinh thành kỳ diệu
2.2.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945
Cùng với - và trực tiếp hơn - những nhà thơ của “ Trường thơ Loạn”, cả
trong tuyên ngôn cũng như trong sáng tạo thi ca đã đưa ra một quan niệm khác lạ về thơ và làm biểu hiện một kiểu chủ thể trữ tình mới, Chế Lan Viên
viết tựa Điêu tàn: “Làm thơ là làm sự phi thường Thi sĩ không phải là Người
Nó là người Mơ, người Say, người Điên (…) Nó thoát hiện tại Nó xối trộn dĩ
Trang 22vãng Nó ôm trùm tương lai Người ta không hiểu được vì nó nói những cái vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý” [10, 195] Vì vậy trong các sáng
tác thời kỳ này của Chế Lan Viên không có chỗ cho cái bình thường Người ta nhận ra sự phóng thoát tuyệt đối khỏi quan niệm quen thuộc của thơ trữ tình
Nó làm một bước ngoặt, vạch một con đường, tự hoàn thiện một khai mở, đồng thời cũng là một kết thúc Cuối con đường ấy, sừng sững mọc lên một
ngọn tháp thơ bí ẩn – Đó chính là dấu ấn độc đáo của tư duy sáng tạo
Với Chế Lan Viên, sáng tạo thi ca là một cuộc phân li kinh dị giữa xác
và hồn, là sự nghiệm sinh cái chết của hữu thể để sống phần tâm linh, vô thức Hạt nhân, cốt lõi của quan niệm thơ trên đó là sự đề cao cái tột cùng, xem thơ như một hành động phi thường, vượt ra khỏi mọi sự thường để luôn khác lạ
và đạt tới sự tột cùng Tập Điêu tàn chính là sự thực hiện quan niệm thơ ấy
trong hành động sáng tạo nghệ thuật của tác giả
Bên cạnh đó, quan niệm nghệ thuật của văn học có liên hệ mật thiết với quan niệm về thế giới và con người về mặt triết học, khoa học đạo đức vốn có thời đại mình Chính vì vậy, quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám sẽ chi phối sâu sắc đến việc sáng tác văn chương thời kỳ này
Xuất phát từ quan niệm nghệ thuật và những ám ảnh trong tâm trí về sự điêu tàn của vương quốc Chiêm Thành xưa, cũng còn do ảnh hưởng của Bôđơle (Ch.Baudelaire) - nhà thơ tượng trưng Pháp, Chế Lan Viên đã xây
dựng một cõi riêng trong Điêu tàn và đằng sau nó là cả một quan niệm thẩm
mĩ mới Bởi thế, Điêu tàn nằm trong bối cảnh chung của Thơ mới mà vẫn
khác lạ Thơ mới sinh thành ra nó mà vẫn bỡ ngỡ khi nó chào đời Hoài
Thanh đã rất sâu sắc khi dùng hai chữ “Lẻ loi” và “bí mật” để nói về Điêu tàn
Trang 23Chất liệu của Điêu tàn là “bóng tối”, “mồ hoang”, “sọ người”, “xương khô”, “máu tuỷ và những hồn ma vất vưởng” Thi nhân không mô tả thế giới,
không xúc cảm trước thế giới hiện hữu mà tạo ra một thế giới riêng của mình đầy những viễn tượng quái đản Sáng tạo thơ thành cuộc xuất thần mê sảng và
dữ dội ra ngoài mình để nhập vào một thế giới khác:
Nhắm mắt lại cho cả bầu bóng tối Mênh mang lên bát ngát tựa đêm sâu Cho hồn phách say sưa và giả dối
Về cõi âm đợi chờ đã bao lâu
(Tạo lập) Trong thế giới ấy, hiện lên khung cảnh một đất nước thanh bình trong
quá khứ “Những cô thôn vàng ruộm nắng chiều tươi” và hiện tại là khung cảnh đổ nát “Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than” Hành trình vào thế giới
ấy nhà thơ cũng hoá mê cuồng:
Hỡi chiếc sọ ta vô cùng rồ dại Muốn riết mi trong sức mạnh tay ta
Để những giọt máu đào còn đọng lại Theo hồn ta tuôn chảy những hồn thơ
(Cái sọ người) Không như Hàn Mặc Tử tìm về với trăng sao, với cái thế giới thượng tầng mênh mông, bát ngát, hướng tất cả thi ca vào một tương lai huy hoàng,
Chế Lan Viên lại lùi về với dĩ vãng xa xưa, với những người đã chết, “chân giẫm lên những ngôi mộ đầy hài cốt đã tiêu tan từ vạn kiếp”
Như vậy, ở Điêu tàn, Chế Lan Viên đã xác lập được một quan niệm thơ căn cứ ở mối quan hệ giữa “chủ thể sáng tác” và “khách quan thẩm mĩ”, cho nên “ niềm kinh dị” trong Điêu tàn đến lượt nó lại mang những giá trị mới ở
chiều sâu thẳm của tư tưởng bi thiết của Chế Lan Viên, nói lên nỗi đau của một dân tộc nô lệ, một khát vọng thoát khỏi niềm u hận
Trang 24Tựu trung lại, Điêu tàn thể hiện một sự bi quan, tuyệt vọng đến tận
cùng Nỗi sầu ấy trùm lấp không gian và cũng hoà trong dòng thời gian vô tận:
“Cả dĩ vãng là chuỗi mồ vô tận - Cả tương lai là chuỗi huyệt chưa thành - Và hiện tại, biết cùng chăng hỡi bạn? - Cũng đang chôn lặng lẽ chuỗi ngày xanh”
2.2.2 Giai đoạn hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
Bước vào những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, hồn thơ Chế Lan Viên đã hoàn toàn đổi khác Trước kia ông nhìn vào trong để biểu hiện mình, thì nay ông nhìn ra chung quanh để thể hiện cuộc sống kháng chiến của một Bình - Trị - Thiên đánh giặc và cảm nhận cái đẹp, cái anh hùng
Qua dằn vặt, chiêm nghiệm bản thân, với chút ảnh hưởng từ các nhà thơ cộng sản Eluard, Aragon … Chế Lan Viên đã nới rộng không gian Thơ
mới từ “Tháp ngà nghệ thuật” ra giữa “Vòm trời Nhân dân và Tổ quốc” Ông cùng thế hệ các nhà thơ chống Pháp đưa thơ từ “Cặp mắt mĩ nhân từ nỗi buồn son phấn, rong rêu xuống với đám đông, với bùn đất, với mồ hôi và máu xương của cuộc đời” [2, 225]
Quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên đã được phát biểu qua những
chuyến đi thuyết trình về kinh nghiệm sáng tác: “Trước hết chúng ta làm văn nghệ là để tả sự thật Vả chăng sau này muốn truyền cảm cho người đọc, cố nhiên không phải chỉ nói cái cảm xúc của ta mà phải nói cả sự việc” [10, 197]
Xưa nhà thơ trầm mình trong cái chết, trong “hư vô sọ người” thì nay
ông được tái sinh trong sự sống, trong thực tại nụ cười và nước mắt, trong sự
hoà điệu của triệu người Từ đó Chế Lan Viên đã suy ngẫm lại thơ mình:
Suốt một đời ăn hạt gạo nhân dân Lần thứ nhất nhà văn đi học cấy Bỗng hối tiếc nghìn câu thơ nước chảy Chửa vì người bằng một bữa cơm ăn
(Đi thực tế - Ánh sáng và phù sa)
Trang 25Cuộc sống đánh vào thơ trăm nghìn lớp sóng Chớ ngồi trong phòng ăn bọt bể anh ơi Tâm hồn anh là của đời một nửa
Một nửa kia lại cũng của đời
(Nghĩ về thơ - Hoa ngày thường - Chim báo bão)
Nếu trước kia Hoài Thanh và Hoài Chân nhận xét về Chế Lan Viên đó
là người “ghét hữu hạn và khao khát vô cùng” và chính Chế Lan Viên trong tựa Điêu tàn cũng đã quan niệm: “Làm thơ là làm sự phi thường” thì giờ đây trong tâm khảm ông lại ấp ủ một điều: “Thơ cần có ích” – Thơ phải phục vụ
cho Cách mạng, cho Nhân dân:
Hình thức cũng là vũ khí
Sắc đẹp trong câu thơ cũng phải đấu tranh cho chân lý
(Nghĩ về thơ - Hoa ngày thường - Chim báo bão)
Sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên thời kỳ này
đã phù hợp với tinh thần của thời đại và một lần nữa khẳng định tầm vóc, tài
năng của nhà thơ trong văn học dân tộc Giờ đây ông quan niệm: “Tất cả để đánh giặc Mỹ xâm lược, tất cả để xây dựng chủ nghĩa xã hội”
Cách mạng đến như một vầng ánh sáng nở bừng trước mắt kéo nhà thơ
khỏi con đường lạnh lẽo, bế tắc Gửi các anh in năm 1955 là “Vụ gặt” đầu
của thơ Chế Lan Viên sau hơn mười năm theo Đảng, gắn mình vào cuộc kháng chiến Mười năm kháng chiến, rung động của con người nghệ sĩ Chế Lan Viên ghi lại trên 14 bài thơ
Gửi các anh đánh dấu sự chuyển biến lớn lao, căn bản của thơ Chế Lan
Viên về quan niệm nghệ thuật Bên cạnh việc thể hiện tâm tình những con người, những tâm tình kháng chiến, Chế Lan Viên cũng đã mạnh bạo mở một hướng đi mới cho thơ mình Xuất phát từ ý nguyện muốn trình bày nhận thức chính trị – triết lí đã được tổng kết ở nhà thơ, từ nguyện vọng muốn thơ có tác
Trang 26dụng cổ động trực tiếp, Chào mừng viết tháng 10 năm 1950 có thể coi là thể
nghiệm đầu tiên của Chế Lan Viên theo hướng này
Ánh sáng và phù sa (1960) là một thành tựu và kết đọng rõ nét sự đổi
mới trong quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên Tập thơ phản ánh, ngợi ca cuộc sống mới đang lớn dậy từng ngày, kịp thời góp tiếng nói đấu tranh cùng với miền Nam Xuyên suốt tập thơ là sự giằng xé trong tâm hồn nhà thơ, đẩy
lùi nỗi đau cũ để tiến lên niềm vui mới Cuộc sống mới tràn vào Ánh sáng và phù sa rộn rã âm thanh, dồi dào hương sắc Tâm hồn nhà thơ mở rộng đón lấy
vẻ đẹp của đất nước, cuộc đời “Tâm hồn tôi khi Tổ quốc soi vào - Thấy ngàn núi trăm sông diễm lệ” … Có được điều đó là bởi quan niệm của Chế Lan Viên về thơ đã có sự thay đổi: “Thơ ca là vũ khí để cải tạo tư tưởng”
Nhờ sự sắc bén về trí tuệ, sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật, Chế Lan Viên đã thực hiện được công việc khó khăn và kỳ diệu của thơ như cách
nói của ông là “vực sự sống ba chiều lên trang thơ hai mặt phẳng” Cả một
thế giới hình tượng xôn xao, sinh động trong không gian thơ Chế Lan Viên:
Đó là hình tượng Tổ quốc trên tầm cao thời đại – hồi sinh trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; giọng thơ hào sảng, mạnh mẽ, thiêng liêng Ở hình tượng Nhân dân hai miền Nam – Bắc lại hội tụ những cảm xúc cảm thơ chân thành, tha thiết khi nhà thơ khắc họa sự gian khổ, hi sinh của Nhân dân,
và cao hơn cả đó là hình tượng con người mới – “Cái tôi của nhà thơ”
Chế Lan Viên quan niệm “Hình thức cũng là vũ khí” Thơ phải phục vụ
cho cuộc kháng chiến nên ông đã đặt lợi ích của cuộc chiến đấu lên trên nhất Hồn thơ Chế Lan Viên nhập vào cơn bão lớn của thời đại nhưng cũng không quên rung động trước những vẻ đẹp bình dị của đời thường, của tự nhiên, của
tình người Nhà thơ muốn mình vừa là “Hầm chông giết giặc” vừa là “Cành hoa mát mắt cho đời”
Có thể khẳng định rằng, giai đoạn hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, từ việc đổi mới trong quan niệm nghệ thuật, Chế Lan Viên đã tìm một
Trang 27phương thức biểu hiện mới cho thơ Nhà nghiên cứu Vũ Tuấn Anh đã nhận xét:
“Thơ bước ra quảng trường cất tiếng nói nhân danh Dân tộc và chân lí”
2.2.3 Sau 1975 và những năm cuối đời
Là nhà thơ nhạy bén với sự chuyển biến và yêu cầu của thời đại, Chế Lan Viên cũng đã có sự biến đổi về mặt quan niệm nghệ thuật Mặc dù quan điểm sáng tác phục vụ sự nghiệp cách mạng, phản ánh hiện thực vĩ đại của đời sống đất nước, dùng thơ làm tiếng kèn xung trận, tiếng hát ngợi ca nhân
dân vẫn tiếp tục được phát huy ở các tập Hoa trên đá, Ta gửi cho mình, nhưng
về sau thơ Chế Lan Viên chuyển dần sang cảm hứng thế sự đời tư với sự suy ngẫm triết lí, nhiều khi là sự thức tỉnh lại, tự phản tỉnh, từ hướng ngoại
chuyển sang hướng nội, từ “giọng cao” chuyển sang “giọng trầm”
Chế Lan Viên sáng suốt chấp nhận sự phụ thuộc của nghệ thuật vào thời đại sản sinh ra nó nhưng cũng không khỏi băn khoăn khi chiêm nghiệm xót xa:
Tuổi trẻ chơi lau đã chơi trò đánh giặc
Kiếm làm con rùa không thể ngủ yên thân trong cuộc sống thường… Thơ chỉ sống một phần cho mình còn ba phần cho nhiệm vụ
Nghĩ mà thương
(Sử)
Ở giai đoạn cuối đời này, Chế Lan Viên cố gắng tìm đến sự dung hoà các quan điểm về thơ, các hình thức tư duy thơ vốn tách bạch đến trái ngược
ở hai giai đoạn trước Có lẽ hơn ai hết, Chế Lan Viên đã từng tự hỏi sớm nhất
và nhiều nhất về “Ta” và “Mình”, mà cho đến bài thơ cuối đời vẫn còn day dứt về “Mình”, về “Ta”: “Lại tìm ra mình trong hàng cây hai dãy”, “Hồn ta ở đâu”, “Mình là ta đấy thôi ta vẫn gửi cho mình” Những kinh nghiệm từng trải và
quỹ thời gian còn lại ít ỏi khiến nhà thơ không ham mê làm sự phi thường nữa
Đụng độ với sự thật phức tạp cuộc đời, hiểu rõ mình và người, hiểu rõ
thế giới sẽ ý thức về cái hữu hạn của mình “Gió thổi mây bay bất trắc Lúc
Trang 28nào không tử biệt sinh ly” Ta hiểu đó là cái cảm nhận bất lực của người đặt
yêu cầu rất lý tưởng với mình, có khát vọng rất cao với đời
Có thể nhận thấy, quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên trong con đường thơ của mình luôn có sự vận động, biến đổi Từ quan niệm siêu hình,
thần bí của thời “Điêu tàn”, sau Cách mạng tháng Tám, Chế Lan Viên đã đưa
thơ của mình hòa nhịp với cuộc sống của nhân dân, đất nước Để rồi những năm cuối đời thơ ông lắng đọng những nỗi niềm băn khoăn, trăn trở Mỗi chặng đường thơ là mỗi quan niệm nghệ thuật nhưng giữa chúng luôn thống nhất với nhau Quan niệm nghệ thuật kết hợp với nguồn cảm xúc tuôn trào trong tâm
hồn nhà thơ đã giúp Chế Lan Viên sáng tạo nên những “Vỉa thơ lấp lánh”
Đã nhiều lần nhà thơ thấm thía nỗi xót xa, ông nhận thức lại chiến tranh, cách mạng thông qua tái hiện, là sự biểu hiện ở tầm cao mới Đó là sự đánh giá, chiêm nghiệm trên bình diện triết lí, Chế Lan Viên muốn thơ ca góp phần lấp đi những nỗi đau vô hình trong tâm hồn con người Trạng thái vận
động ấy thể hiện rõ trong Hoa trên đá, Ta gửi cho mình: bộc lộ tâm tình và
triết luận về các vấn đề muôn thủa của cõi nhân sinh, những vui buồn thường nhật của cuộc sống Những suy tư, chiêm nghiệm làm cho thơ ông trầm xuống, thể hiện bằng hình thức thơ ngắn gọn, dồn nén, nhiều hình ảnh mang tính biểu tượng
Tâm tư, cảm xúc khá bề bộn có thể thâu tóm vào chuyện đời, chuyện thơ, mà cái cốt lõi của nó là suy ngẫm về lý tưởng, quan niệm sống, hoạt động, trong đó có hoạt động nghệ thuật cao quý được nâng lên thành triết lý
Tuy nhiên, trong thơ Chế Lan Viên có sự kết hợp trí tuệ mà tài hoa, suy
tư tế nhị, sắc sảo với tình cảm đằm thắm, sâu xa, xôn xao, rạo rực pha lẫn thâm trầm, lắng đọng:
Anh tặng em yêu chùm hoa sắc trắng Nhưng khi yêu, anh yêu đỏ hoa hồng Tuổi 50 lòng yêu như lửa đỏ
Trang 29(Hoa trắng đỏ)
Sự thay đổi này được Chế Lan Viên thể hiện rõ nét trong Di cảo thơ
Trong tâm trạng trăn trở, Chế Lan Viên bộc lộ cả những hoài nghi và sự mâu thuẫn Ông phán xét lại mình, đặt lại nhiều quan niệm, giá trị:
Anh đừng là viên ngọc
Mà là viên sỏi, cục gạch, lẫn lộn cùng cỏ rác Cũng xoàng xĩnh, vô danh, nhếch nhác Hiểu cho hết cái đau của cuộc đời
(Chuẩn bị đi )
Từ sau 1975, ở quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên là nhu cầu giãi
bày về muôn mặt đời thường, là tình yêu trần thế Tiếng thơ trong Di cảo thơ
là tiếng lòng chân thành, nhà thơ khám phá, nhận thức lại mình Đó cũng là
một hành trình đầy thử thách của một thi sĩ lớn có bản lĩnh: “Tất cả phải lấy mình ra che chở – Tự sâu thẳm đời mình, sâu thẳm, rất sâu”
2.2.4 Kết luận
Qua khảo sát trên ta thấy, quan niệm nghệ thuật đã chi phối đến sáng tác của Chế Lan Viên trên suốt con đường thơ Ở chặng nào quan niệm nghệ thuật cũng chi phối khá chặt chẽ đến nội dung và hình thức của thơ ca và đặc biệt là việc xây dựng thế giới hình tượng nghệ thuật ở mỗi tập thơ Quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên trong những năm kháng chiến chống Mỹ – Chế Lan Viên đã từ bỏ thế giới quan siêu hình để trở về với vòm trời Tổ quốc, Nhân dân, nhìn đời qua lăng kính của một người hòa mình vào cuộc chiến đấu của nhân dân
Thơ Cách mạng không thể không bắt nguồn từ hiện thực lớn, sáng tác
chính là “nhặt những chữ của đời mà góp nên trang” Thơ chân chính xưa
nay đều nhằm mục đích phục vụ nhân sinh và đi theo hướng khách quan, Chế Lan Viên hiểu rõ quan hệ biện chứng giữa Tổ quốc và cá nhân, chiến đấu và tình yêu, hiểu rõ con đường đi của thơ hiện đại Vì thế mà quan niệm nghệ
Trang 30thuật mới mẻ của Chế Lan Viên sau Cách mạng tháng Tám 1945, đặc biệt trong thời kỳ chống Mỹ đã chi phối sâu sắc đến hình tượng nghệ thuật trong
tập thơ Hoa ngày thường - Chim báo bão
Trang 31CHƯƠNG 3 HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG TẬP THƠ
HOA NGÀY THƯỜNG - CHIM BÁO BÃO
3.1 Thuật ngữ “Hình tượng nghệ thuật”
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Hình tượng nghệ thuật là sản phẩm của phương thức chiếm lĩnh, thể hiện và tái tạo hiện thực theo quy luật của tưởng tượng, hư cấu nghệ thuật” [5, 147]
Nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm là để nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình, giúp con người thể nghiệm ý vị của cuộc đời và lĩnh hội mọi quan hệ có ý nghĩa muôn màu muôn vẻ của bản thân và thế giới xung quanh
Như vậy, hình tượng nghệ thuật chính là “Các khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện bằng tưởng tượng sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật” Giá trị trực quan độc lập là những đặc điểm quan trọng của hình tượng
nghệ thuật Bằng chất liệu cụ thể, nó làm cho người ta ngắm nghía, thưởng ngoạn, tưởng tượng, chiêm nghiệm, đó có thể là một đồ vật, một phong cảnh thiên nhiên hay một sự kiện xã hội được cảm nhận Hình tượng có thể tồn tại qua chất liệu vật chất nhưng giá trị của nó là ở phương diện tinh thần
Tuy nhiên, nói tới “Hình tượng nghệ thuật” người ta thường nghĩ tới
hình tượng con người; bao gồm cả hình tượng một tập thể người (như hình tượng Nhân dân hay hình tượng Tổ quốc) với những chi tiết biểu hiện cảm tính phong phú
Hoà nhịp tâm hồn mình vào trong tác phẩm nghệ thuật ta sẽ cảm nhận được cuộc sống trong tác phẩm, những tình ý sâu xa trong tác phẩm Hình
tượng “Sóng” là một tìm tòi nghệ thuật độc đáo của Xuân Quỳnh Bên cạnh việc xây dựng những hình tượng con người cụ thể thì hình tượng “Sóng” là