Việc nghiên cứu hoán dụ ở góc độ Phong cách học Trong thời gian qua, biện pháp hoán dụ tu từ đã được nghiên cứu ở các giáo trình: - “Việt ngữ tập III”, Đinh Trọng Lạc, Nxb GD - “Phong
Trang 1Lời cảm ơn
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, được sự giúp đỡ tận tình và chu đáo của cô giáo Lê Kim Nhung, cùng các thầy cô trong tổ Ngôn ngữ, và toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa Ngữ Văn trường ĐHSP Hà Nội II, khóa luận được hoàn thành
Tôi xin trân trọng cảm ơn cô giáo hướng dẫn Lê Kim Nhung cùng toàn thể các thầy cô đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa luận này
Hà Nội ngày 3 tháng 5 năm 2010 Sinh viên
Nguyễn Ngọc Ly
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin khẳng định đề tài “Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp hoán
dụ trong thơ Tố Hữu” do cô Lê Kim Nhung hướng dẫn là đề tài không sao
chép từ bất kì tài liệu nào, kết quả nghiên cứu không trùng với các tác giả khác
Nếu lời cam đoan của tôi là sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội ngày 3 tháng 5 năm 2010 Sinh viên
Nguyễn Ngọc Ly
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 10
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
6 Phương pháp nghiên cứu 11
7 Đóng góp của đề tài 12
8 Bố cục của khóa luận 12
NỘI DUNG Chương1 Những cơ sở lí luận 1.1 Những vấn đề lí luận về phương thức hoán dụ 13
1.1.1 Khái niệm hoán dụ 13
1.1.2 Cơ chế tạo thành biện pháp tu từ hoán dụ 13
1.1.3 Phân loại hoán dụ tu từ 13
1.1.4 Phân biệt hoán dụ tu từ và hoán dụ từ vựng 14
1.1.5 Phân loại hoán dụ tu từ 15
1.2 Chức năng và đặc trưng của ngôn ngữ thơ 15
1.2.1 Chức năng của ngôn ngữ thơ 15
1.2.2 Đặc trưng về ngôn ngữ thơ 17
1.3 Một số nét khái quát về tác giả 18
1.3.1 Sự nghiệp thơ ca Tố Hữu 18
1.3.2 Đặc trung về phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu 21
Chương 2 Hiệu quả nghệ thuật của phương thức hoán dụ 2.1 Kết quả khảo sát thống kê 23
2.1.1 Kết quả khảo sát 23
Trang 42.1.2 Nhận xét về kết quả 24 2.2 Phân tích kết quả thống kê 26 2.2.1 Hoán dụ được xác định trên cơ sở mối quan hệ giữa
vật chứa và vật bị chứa 26
2.2.2 Hoán dụ xây dựng trên mối quan hệ giữa bộ phận và
toàn thể 36 2.2.3 Hoán dụ xây dựng trên cở sở mối quan hệ giữa dấu
hiệu và vật có dấu hiệu 42 2.2.4 Hoán dụ xây dựng trên cơ sở mối quan hệ giữa số
lượng xác định và số lượng không xác định (phép cải số) 51 2.2.5 Hoán dụ xây dựng trên cơ sở mối quan hệ giữa nguyên
nhân và kết quả của nguyên nhân 56 2.2.6 Hoán dụ xây dựng trên cơ sở mối quan hệ giữa tên riêng
và tên chung (phép cải danh) 59 KẾT LUẬN 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng và chất liệu để xây
dựng hình tượng chính là ngôn ngữ M.Gorki đã từng nói rằng: “Yếu tố đầu
tiên của văn học là ngôn ngữ” Một tác phẩm thành công và có giá trị là tác
phẩm mà ngôn ngữ sử dụng trong đó đạt đến mức chính xác và chuẩn mực Bởi để đạt hiệu quả giao tiếp, nói và viết đúng vẫn chưa đủ mà phải đạt đến mức nói và viết hay Điều đó có nghĩa là phải dùng đúng về nghĩa, về quy tắc kết hợp, và đúng phong cách học Nó đòi hỏi người nghệ sĩ ngôn từ phải lao động hết sức công phu, và có một tinh thần lao động nghệ thuật nghiêm túc
“Tư bất kinh nhân tử bất hưu” (Đỗ Phủ) (Chữ chửa kinh người chết chửa
yên)
Ngôn ngữ có một vị trí đặc biệt trong thơ ca Mọi trí tưởng tượng kì diệu, chiều sâu của sức suy nghĩ, sự tinh tế của con tim đang xúc động, những trạng thái tinh vi của tâm hồn…Tất cả chỉ có thể đến với bạn đọc thông qua vai trò của ngôn ngữ
Tuy nhiên, ngôn ngữ là cái hữu hạn, mà những cảm xúc tinh thần, sức sáng tạo của con người lại là vô hạn Để truyền tải hết được cái vô hạn đó, đòi hỏi ngôn ngữ của tác phẩm văn học, đặc biệt là tác phẩm thơ ca phải có tính
chính xác, tính hàm súc, tính hình tượng, “Ý tại ngôn ngoại” Một trong
những phương tiện quan trọng để người nghệ sĩ ngôn từ làm được điều đó là
sử dụng các biện pháp tu từ Và khi đi vào phân tích một tác phẩm cụ thể không thể không nghiên cứu, phân tích hiệu quả của các biện pháp tu từ sử
dụng trong tác phẩm đó Bởi “Cái làm nên sự kì diệu của ngôn ngữ chính là
Trang 6các biện pháp tu từ” (Đinh Trọng Lạc – “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt”).
1.2 Hoán dụ là biện pháp tu từ được sử dụng nhiều trong thơ ca và phát huy được hiệu quả của nó Phép hoán dụ làm cho thơ ca giàu hình ảnh và sắc thái biểu cảm, giúp nhà văn, nhà thơ bộc lộ tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của mình một cách sâu sắc và tinh tế Vì vậy, nói đến các biện pháp nghệ thuật làm nên vẻ đẹp của đoạn thơ, bài thơ thì không thể không nhắc đến phép hoán
dụ
1.3 Tố Hữu – “Tiếng thơ của thời đại”, “lá cờ đầu của thơ ca cách
mạng Việt Nam hiện đại” đã rất tài tình và sáng tạo trong việc sử dụng biện
pháp hoán dụ Và chính điều này đã góp phần làm nên giá trị, chất men lửa nồng nàn và sức quyến rũ kì diệu của thơ Tố Hữu Bao nhiêu năm qua, thơ ông đã là chỗ dựa tinh thần cho bao thế hệ công chúng bạn đọc Vì vậy, việc
tìm hiểu “Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp hoán dụ trong thơ Tố Hữu”
có ý nghĩa to lớn trong việc đánh giá cái hay, cái đẹp của tác phẩm thơ Tố Hữu Hay đó chính là những đóng góp sáng tạo vô cùng to lớn và quý báu của thi nhân Tố Hữu trên thi đàn văn học Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề
Trong giao tiếp hằng ngày, hoán dụ xuất hiện rất phổ biến Trong ngôn ngữ nghệ thuật, hoán dụ là một phương thức sáng tạo nghệ thuật, là cách diễn đạt đơn giản mà có giá trị nghệ thuật biểu đạt cao Bởi hoán dụ là một trong những phương thức chuyển nghĩa phổ biến nhất trong tất cả các ngôn ngữ trên thế giới Hoán dụ cũng là một trong những biện pháp tu từ ngữ nghĩa được các nhà biên soạn SGK lựa chọn trong chương trình Tiếng Việt THCS, THPT trước đây và chương trình Ngữ Văn THCS, THPT trong những năm gần đây Bởi vậy, từ trước đến nay đã có không ít những công trình nghiên cứu hoán
Trang 72.1 Nghiên cứu hoán dụ ở gọc độ Từ vựng học
Tác giả Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Thiện Giáp, hai chuyên gia nghiên cứu Từ vựng tiếng Việt đều khẳng định: Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa quan trọng có mặt trong nhiều ngôn ngữ trên thế giới
Tác giả Đỗ Hữu Châu trong giáo trình “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt”
đã nêu cách hiểu về hoán dụ như sau:
“Cho A là một hình thức ngữ âm, x và y là ý nghĩa biểu vật A vốn là tên gọi của x (tức x là ý nghĩa biểu vật chính của A)
Hoán dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi y nếu x và y đi đôi với nhau trong thực tế” [Tr 156]
Nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu đã xem xét hoán dụ ở hai phương diện: Chúng vừa là một phương thức chuyển nghĩa để tạo ra từ nhiều nghĩa và vừa
là kết quả của những quy luật điều khiển tạo nghĩa mới cho từ Tác giả đã cụ thể hoá phương thức chuyển nghĩa hoán dụ dựa trên mười lăm mối quan hệ lôgic giữa hai đối tượng (x và y):
- Quan hệ giữa bộ phận - toàn thể
- Quan hệ giữa vật chứa - vật bị chứa
- Quan hệ giữa nguyên liệu và sản phẩm được chế ra từ nguyên liệu
- Quan hệ giữa đồ dùng, dụng cụ với người sử dụng
- Quan hệ giữa dụng cụ và ngành nghề
- Quan hệ giữa vật chứa và lượng vật chứa được chứa đựng
- Quan hệ giữa cơ quan chức năng và chức năng
- Quan hệ giữa tư thế cụ thể và nguyên nhân của tư thế
- Quan hệ giữa âm thanh và tên gọi của động tác
- Quan hệ giữa hành động và sản phẩm được tạo ra do hành động đó
- Quan hệ giữa hoạt động và công cụ
- Quan hệ giữa động tác tiêu biểu và toàn bộ quá trình sản xuất
Trang 8- Quan hệ giữa nguyên liệu và hành động dùng nguyên liệu
- Quan hệ giữa tính chất sự vật và bản thân sự vật
- Quan hệ giữa sự vật và màu sắc sự vật
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong giáo trình “Dẫn luận ngôn ngữ học”
lại đưa ra định nghĩa về hoán dụ:
“Hoán dụ là hiện tượng chuyển tên gọi sự vật hoặc hiện tượng này sang sự vật hoặc hiện tượng khác dựa trên mối quan hệ lôgic giữa các sự vật hoặc hiện tượng ấy” [Tr.87]
Tác giả đã cụ thể hoá phương thức chuyển nghĩa hoán dụ dựa trên chín mối quan hệ lôgic giữa hai đối tượng:
- Quan hệ giữa toàn thể và bộ phận
- Lấy không gian địa điểm thay thế cho người sống ở đó
- Lấy cái chứa đựng thay thế cho cái được chứa đựng
- Lấy quần áo, trang phục thay thế cho con người
- Lấy bộ phận con người thay thế cho bộ phận quần áo
- Lấy địa điểm, nơi sản xuất thay thế cho sản phẩm được sản xuất ở đó
- Lấy địa điểm thay thế cho sự kiện xảy ra ở đó
- Lấy tên tác giả thay thế cho tên tác phẩm
- Lấy âm thanh thay cho đối tượng
Như vậy, ở hai tác giả mặc dù có cách diễn đạt khác nhau về định nghĩa hoán dụ, nhưng đều đã chỉ ra được đặc điểm bản chất của phương thức hoán
dụ Đó là cách chuyển đổi tên gọi của đối tượng dựa trên quan hệ lôgic giữa các đối tượng trong thực tế khách quan
Việc mô tả mối quan hệ khách quan giữa các đối tượng được lấy làm
cơ sở để tạo ra hoán dụ từ vựng giữa các nhà Từ vựng học cũng có đôi chút khác nhau Nhưng đã giúp người nghiên cứu học tập có hiểu biết về cơ chế
Trang 9khách quan, giữa các cặp đối tượng có bao nhiêu mối quan hệ gần gũi, sẽ có bấy nhiêu hoán dụ Từ đó, chúng ta nhận thức được rằng khả năng sản sinh ra
từ nhiều nghĩa theo phương thức hoán dụ là rất phong phú đa dạng
Có thể thấy, các nhà Từ vựng học đã xây dựng những lí luận rất cơ bản
về phương thức chuyển nghĩa hoán dụ trong hệ thống Từ vựng tiếng Việt Đây được xem là một đóng góp rất quý báu
2.2 Việc nghiên cứu hoán dụ ở góc độ Phong cách học
Trong thời gian qua, biện pháp hoán dụ tu từ đã được nghiên cứu ở các giáo trình:
- “Việt ngữ tập III”, Đinh Trọng Lạc, Nxb GD
- “Phong cách học tiếng Việt”, Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Nguyễn
Thái Hoà, Nxb GD, HN
- “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt”, Đinh Trọng Lạc, Nxb
GD, HN
- “Phong cách học tiếng Việt hiện đại”, Hữu Đạt, Nxb KHXH
Theo tác giả Đinh Trọng Lạc trong “Việt ngữ tập III”: “Hoán dụ là
hiện tượng chuyển hoá về tên gọi, tên của một đối tượng này được dùng để gọi đối tượng kia, dựa theo quy luật liên tưởng tượng cận”
Ông chia hoán dụ tu từ ra làm bảy tiểu loại:
- Loại tương quan giữa toàn bộ và bộ phận, hoặc ngược lại
- Loại tương quan giữa vật chứa đựng và vật bị chứa đựng
- Loại tương quan giữa danh từ riêng và danh từ chung
- Loại tương quan giữa số lượng cụ thể và khái niệm về số lượng
- Loại tương quan nguyên nhân
- Loại tương quan giữa người và sản phẩm, tên riêng của sản phẩm, tên của địa phương sản xuất ra sản phẩm
- Loại lấy cái trừu tượng thay thế cái cụ thể
Trang 10Tác giả Hữu Đạt lại định nghĩa: “Hoán dụ tu từ là cách tạo tên gọi mới
cho đối tượng dựa trên mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể nhằm diễn đạt sinh động nội dung thông báo mà người nói muốn đề cập”.[8,67]
Theo ông có năm cơ chế chuyển nghĩa của hoán dụ như sau:
- Lấy đặc điểm của sự vật gọi tên sự vật
- Quan hệ giữa bên ngoài và bên trong
- Nghề nghiệp chức vụ và tên người
- Cái chứa đựng và cái được chứa đựng
- Bộ phận và toàn thể, ngược lại
So sánh hai công trình nghiên cứu trên ta thấy:
Các nhà khoa học đã rất đồng nhất khi xem xét hoán dụ là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong tiếng Việt, đều nhận xét hoán dụ là một biện pháp được tổ chức theo cơ chế dùng tên gọi của đối tượng này để biểu thị tên gọi của đối tượng khác
Tuy nhiên, ngoài những điểm chung đó, giữa các nhà phong cách học còn có những điểm chưa thống nhất trong cách định nghĩa hoán dụ Do sự khác nhau của họ khi xem xét khái niệm ở phạm vi rộng, hẹp của nó Cụ thể,
ở định nghĩa của tác giả Hữu Đạt chỉ thu hẹp trong một tiểu loại chuyển nghĩa của hoán dụ tu từ
Các nhà nghiên cứu cũng chưa có sự thống nhất trong cách phân loại hoán dụ tu từ Có thể nhận thấy, vấn đề phân loại hoán dụ tu từ vẫn còn là vấn
đề mở Bởi mỗi công trình nghiên cứu của các nhà phong cách học đều đưa ra cách phân loại khác nhau
Tác giả Đinh Trọng Lạc trong “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng
Việt” mặc dù vẫn giới thiệu bảy kiểu loại hoán dụ tu từ nhưng so với kiểu
hoán dụ mà ông đã trình bày trong giáo trình “Việt ngữ tập III”, chúng ta
Trang 11- Ông chỉ giữ lại những kiểu hoán dụ được tạo ra theo tương quan giữa danh từ riêng và danh từ chung; giữa số lượng cụ thể và khái niệm về số lượng; giữa toàn thể - bộ phận
- Ông tách hoán dụ được tạo ra theo tương quan giữa chủ thể và vật sở thuộc là một kiểu riêng
Tất cả giúp chúng ta nhận thấy những điểm chưa thống nhất trong trình bày lí thuyết của các nhà phong cách học về biện pháp tu từ hoán dụ
Ngoài những đóng góp rất cơ bản trong việc giới thiệu hoán dụ tu từ ngữ nghĩa, phân loại, các giáo trình còn chú ý phân tích hiểu quả của biện pháp hoán dụ tu từ:
- Làm nổi bật, khắc hoạ một chi tiết, đặc điểm tiêu biểu của đối tượng, giúp người đọc người nghe nhận thức sâu sắc toàn diện về đối tượng và tạo những bất ngờ
- Bằng kết hợp, biện pháp hoán dụ tạo cho ngôn ngữ sự mạch lạc giữa các ý tưởng
- Rút gọn lời nói và tạo hình, làm giàu vốn ngôn ngữ
- Thể hiện rõ dấu ấn, tài năng sáng tạo của người nghệ sĩ
Như vậy, chúng ta thấy, hoán dụ đã được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Điều này đã khẳng định vai trò, vị trí của biện pháp hoán dụ trong
hệ thống các phương tiện tu từ ngữ nghĩa
Nhìn chung, các tác giả mới chỉ nghiên cứu, xem xét biện pháp hoán dụ
ở những nhận xét khái quát chung nhất, còn đặt biện pháp nghệ thuật này vào một phạm vi cụ thể để đánh giá tác dụng, chức năng của nó còn ít được quan tâm
2.3 Việc nghiên cứu hoán dụ trong thơ Tố Hữu
Suốt nhiều thập kỷ, Tố Hữu vẫn là “lá cờ đầu của thơ ca Cách mạng
Việt Nam hiện đại”, là ca sỹ của nhân dân Thơ Tố Hữu đã chinh phục được
Trang 12nhiều thế hệ bạn đọc qua giọng điệu trữ tình Cách mạng đầm ấm, ấm áp tình đời, tình người Trên bầu trời của nền văn học Cách mạng, Tố Hữu vẫn luôn được coi là ngôi sao sáng ngời Sáu mươi năm gắn bó với hoạt động Cách mạng và sáng tạo thơ ca, ông đã thực sự tạo nên được niềm yêu mến, nỗi đam
mê bền chắc trong lòng nhiều thế hệ độc giả Ông là người đã đem đến cho công chúng và rồi cũng nhận lại được từ họ một sự đồng điệu, đồng cảm, đồng tình tuyệt diệu, đáng là niềm ao ước của mọi sự nghiệp thơ ca
Và cũng suốt trong năm thập kỷ qua, thơ Tố Hữu đã trở thành một hiện tượng, một đối tượng nghiên cứu lớn của giới học thuật, thu hút hầu hết các nhà nghiên cứu, phê bình tên tuổi của cả nước Dường như song hành với quá trình sáng tạo nghệ thuật bền bỉ dẻo dai của Tố Hữu là một lịch sử phê bình nghiên cứu dày dặn, phong phú về thơ ông kéo dài trong suốt mấy thập kỷ qua
Những nhà văn có tên tuồi lớn Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Chế Lan Viên là những người đi đầu có nhiều khai phá sáng tạo trong việc nghiên cứu thơ Tố Hữu Nhà phê bình Hoài Thanh cứ mỗi tác phẩm thơ của Tố Hữu được xuất bản lại có một bài viết công phu, giàu ý nghĩa và phát hiện Chế Lan Viên cũng là người viết về Tố Hữu hay và sắc xảo nhất với chiều sâu cảm nhận của một nhà thơ cùng thời và có nhiều kỷ niệm ân tình với tác giả Các cuốn sách nghiên cứu về thơ Tố Hữu của: Nguyễn Văn Hạnh,
Lê Đình Kỵ, Trần Đình Sử khảo sát sâu sắc trên nhiều bình diện thơ Tố Hữu
Trong cuốn “Thi pháp thơ Tố Hữu”, Trần Đình Sử đã dành một chương
V để nghiên cứu về phương thức thể hiện trong thơ Tố Hữu Ông khẳng định:
“Ngôn ngữ thơ Tố Hữu thuộc ngôn ngữ thơ trữ tình điệu nói” [tr.173], “Tố
Hữu chủ yếu vận dụng ba phương thức tạo hình ảnh là: tương phản, ví von,
hô ứng” Trong đó ông nhấn mạnh: “Hô ứng là biện pháp nghệ thuật cơ bản
Trang 13có đóng góp trong việc nghiên cứu tác dụng của các biện pháp: điệp, tương phản, ví von, hô ứng đối với thơ Tố Hữu
Lê Đình Kỵ với “Tố Hữu chuyên luận” đã đi sâu nghiên cứu những nội
dung thơ ca Tố Hữu thể hiện và phong cách, tư tưởng nghệ thuật của ông Trong phần phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu, tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến tính hình tượng của lời thơ Tố Hữu
Tác giả Phong Lan với “Tố Hữu, tác gia tác phẩm” góp phần nói lên sự
lôi cuốn của thơ Tố Hữu với nghiên cứu văn học
Trong giáo trình “Lịch sử văn học Việt Nam” – tập 3 do Nguyễn Đăng Mạnh chủ biên có viết: “Thơ Tố Hữu có thể bắt gặp một cách phổ biến những
lối so sánh, các phép chuyển nghĩa và diễn đạt trong thơ ca dân gian đã trở nên quen thuộc với tâm hồn người Việt” [Tr.92]
Bằng vốn kiến văn sâu rộng và tài năng riêng, mỗi người theo cách thức riêng của mình, đã chỉ ra thế giới nghệ thuật mới mẻ, phong phú, khác biệt cùng các giá trị nhân văn và thẩm mỹ sâu sắc và lâu bền của thơ Tố Hữu Nhưng các bài viết về phong cách ngôn ngữ trong thơ ca Tố Hữu mới chỉ dừng lại ở mức khái quát chứ chưa đi sâu cụ thể
Xét ở góc độ ngôn ngữ, trong cuốn “Phong cách học tiếng Việt”, tác
giả Đinh Trọng Lạc khi đi vào giới thiệu, phân tích biện pháp hoán dụ tu từ đã lấy thơ Tố Hữu để dẫn chứng cho tiểu loại: cải dung, cải danh, tượng trưng trong nhóm phương tiện tu từ ngữ nghĩa hoán dụ
Trong tiểu loại cải dung tác giả có trích các câu thơ:
“Khu Năm dằng dặc khúc ruột miền Trung”
“Cả nước ôm em khúc ruột mình”
Trong tiểu loại cải danh, giới thiệu các câu thơ:
“Những hồn Trần Phú vô danh Sóng xanh biển cả, mây xanh núi ngàn”
Trang 14Hay trong tiểu loại tượng trưng là:
“Búa liềm không sợ súng gươm bạo tàn”
“Áo Nâu cùng với áo Xanh Nông thôn cùng với thị thành đứng lên”
Việc nghiên cứu biện pháp hoán dụ ở góc độ phong cách học cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận xét, minh họa, mà chưa đi sâu khám phá, nghiên cứu kĩ lưỡng, có hệ thống
Từ những định hướng trên của các tác giả đi trước, chúng tôi đi sâu
nghiên cứu có hệ thống đề tài “Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp hoán dụ
trong thơ Tố Hữu” với mong muốn ở một góc độ nào đó góp một phần nhỏ
những hiểu biết của mình về hoán dụ tu từ trong việc tìm hiểu giá trị của nó trong phạm vi cụ thể
3 Mục đích nghiên cứu
Đi sâu nghiên cứu đề tài tìm hiểu “Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp
hoán dụ trong thơ Tố Hữu” chúng tôi nhằm những mục đích sau:
- Củng cố nâng cao hiểu biết cho bản thân về một biện pháp tu từ trong tiếng Việt - biện pháp hoán dụ
- Việc khảo sát thống kê, phân loại góp phần khẳng định giá trị của biện pháp hoán dụ tu từ trong thơ ca Tố Hữu Từ đó, khẳng định tài năng và phong cách tài hoa, độc đáo của nhà thơ
- Nghiên cứu đề tài này sẽ giúp chúng tôi bồi dưỡng năng lực tư duy, năng lực cảm thụ thơ Đồng thời, đề tài sẽ cung cấp những tư liệu cần thiết cho việc học tập hiện nay, cũng như cho việc giảng dạy văn học sau này của bản thân
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong khuôn khổ một bài khoá luận, chúng tôi tập trung thể hiện những
Trang 15- Tập hợp những vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài
- Khảo sát, thống kê và phân loại biện pháp hoán dụ trong thơ Tố Hữu thông qua phiếu thống kê
- Xử lý số liệu thống kê và vận dụng phương pháp phân tích Phong cách học để phân tích giá trị biểu hiện của biện pháp hoán dụ tu từ trong thơ
Tố Hữu nhằm rút ra nhận xét về hiệu quả của việc sử dụng hoán dụ tu từ trong thơ Tố Hữu cũng như nét phong cách riêng của tác giả trong việc sử dụng biện pháp hoán dụ
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
“Hiệu quả của biện pháp hoán dụ trong thơ Tố Hữu”
Đối tượng khảo sát của chúng tôi là cả hoán dụ từ vựng và hoán dụ tu
từ Bởi hoán dụ từ vựng là hiện tượng chuyển nghĩa ngôn ngữ, là đối tượng nghiên cứu của Từ vựng học nhưng khi được sử dụng trong tác phẩm nghệ thuật nó trở thành những phương thức biểu hiện được sử dụng nhằm những mục đích nghệ thuật nhất định
5.2 Phạm vi khảo sát
Bảy tập thơ của Tố Hữu: Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và
Hoa, Một tiếng đờn, Ta với ta [286 bài]
6 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi thực hiện một số phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê: Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để nhận diện và tập hợp các trường hoán dụ trong một số văn bản thơ thuộc phạm vi khảo sát
- Phương pháp phân loại: Đây là phương pháp được dùng để tách các ngữ liệu thống kê thành những tiểu loại cụ thể dựa trên các tiêu chí đã được xác định
Trang 16- Phương pháp miêu tả: Phương pháp này được sử dụng trong trường hợp tái hiện những ví dụ tiêu biểu có sử dụng hoán dụ
- Phương pháp phân tích (phương pháp chủ yếu): Phương pháp này được sử dụng để phân tích hiệu quả của các hoán dụ trong một số văn bản thơ thuộc phạm vi khảo sát
- Phương pháp tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng sau quá trình phân loại, phân tích để rút ra những nhận xét, những kết luận cần thiết
7 Đóng góp của khóa luận
- Về mặt lí luận: Góp phần thấy được sự chi phối của hoán dụ đối với ngôn ngữ trong thơ Tố Hữu
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp, bổ sung tư liệu cần thiết trong việc giảng dạy các tác phẩm của Tố Hữu
8 Bố cục của khóa luận
- Mở đầu
- Nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Hiệu quả nghệ thuật của phương thức hoán dụ
- Kết luận
- Tài liệu tham khảo
Trang 17PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 Cơ sở lí luận
1.1 Những vẫn đề lí luận về phương thức hoán dụ
1.1.1 Khái niệm
Có rất nhiều cách hiểu, cách định nghĩa về biện pháp hoán dụ khác nhau Mặc dù có diễn đạt khác nhau giữa các nhà nghiên cứu nhưng họ đều có nét tương đồng nào đó Kế thừa những định nghĩa đó, chúng tôi đưa ra cách hiểu khái niệm này như sau:
Hoán dụ là phép tu từ ngữ nghĩa, một từ một ngữ vốn dùng để gọi tên đối tượng này được chuyển sang gọi tên đối tượng khác dựa trên mối quan hệ tương cận
1.1.2 Cơ chế tạo thành biện pháp hoán dụ
Mô hình cấu tạo chung của biện pháp tu từ bất kỳ gồm có:
A Sự vật vốn có
B Sự vật được liên tưởng Xét cụ thể với biện pháp hoán dụ tu từ, ta thấy mô hình chung chỉ xuất hiện một vế B, nhờ sự liên tưởng tìm ra vế A
Cơ sở của sự liên tưởng để tìm ra vế A chính là dựa trên mối quan hệ tương cận giữa các sự vật
1.1.3 Phân loại hoán dụ
Dựa vào cơ chế hoán dụ chủ yếu đã được các nhà Từ vựng học, Phong cách học đã trình bày, chúng tôi tiến hành thống kê và phân loại các hoán dụ
Trang 18Trong khóa luận, chúng tôi bước đầu khảo sát sáu kiểu loại hoán dụ dựa vào mối quan hệ lôgic:
a Quan hệ giữa bộ phận và toàn thể
b Quan hệ giữa vật chứa và vật bị chứa
c Quan hệ giữa dấu hiệu và vật có dấu hiệu
d Quan hệ giữa số lượng và số lượng
e Quan hệ giữa tên riêng và tên chung
f Quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả nguyên nhân
1.1.4 Phân biệt hoán dụ tu từ và hoán dụ từ vựng
Trong tiếng Việt có hai loại hoán dụ đó là hoán dụ tu từ và hoán dụ từ vựng Mặc dù đều là những từ nhiều nghĩa được tạo ra theo phương thức hoán
dụ nhưng hoán dụ tu từ và hoán dụ từ vựng khác nhau ở những điểm sau:
a Khác nhau ở phạm vi chuyển nghĩa
Hoán dụ từ vựng là kết quả chuyển nghĩa từ vựng trong hệ thống từ vựng của dân tộc Còn hoán dụ tu từ là kết quả chuyển nghĩa tu từ trong hoạt động lời nói cá nhân
b Khác nhau ở tính chất
Các hoán dụ từ vựng là những từ nhiều nghĩa trong hệ thống từ vựng Chúng có tính chất chung, tính xã hội Mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt của những hoán dụ từ vựng do quy ước mà thành
Trái lại, hoán dụ tu từ là những từ nhiều nghĩa chỉ lâm thời xuất hiện trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể và phụ thuộc vào cá nhân người nói, người viết Nó có tính chất cá nhân, lâm thời
c Khác nhau ở sắc thái biểu cảm
Các hoán dụ tu từ không những có chức năng biểu hiện, chức năng phản ánh mà còn có chức năng biểu cảm
Trang 19d Mỗi loại hoán dụ là đối tượng nghiên cứu của một ngành khoa học thuộc ngôn ngữ học
Hoán dụ từ vựng là đối tượng nghiên cứu của Từ vựng - ngữ nghĩa học Hoán dụ tu từ là đối tượng nghiên cứu của Phong cách học
1.1.5 Hiệu quả của biện pháp tu từ hoán dụ
Trong các tác phẩm văn chương biện pháp hoán dụ tu từ được sử dụng nhằm nhấn mạnh, khắc họa một đặc điểm tiêu biểu nào đó của đối tượng, giúp người đọc, người nghe nhận thức sâu sắc về đối tượng Từ đó hiểu đúng nội dung tư tưởng mà nhà văn muốn gửi gắm
Bên cạnh đó, do biện pháp hoán dụ được xây dựng trên cở sở mối liên
hệ giữa hai đối tượng với liên hệ độc đáo bất ngờ nên thể hiện rõ dấu ấn cá nhân, tài năng của nghệ sĩ
Đây cũng là căn cứ để chúng tôi phân biệt phong cách ngôn ngữ của tác giả trong quá trình lao động, sáng tạo nghệ thuật
Do chức năng nhận thức và chức năng biểu cảm như trên nên biện pháp
tu từ hoán dụ được dùng nhiều trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày, phong cách ngôn ngữ chính luận, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật 1.2 Chức năng và đặc trưng của ngôn ngữ thơ
1.2.1 Chức năng của ngôn ngữ thơ
Ngôn ngữ nghệ thuật là loại ngôn ngữ đa chức năng Trong ngôn ngữ thơ, chúng ta thấy có chức năng thông báo thẩm mĩ; chức năng biểu cảm; chức năng tác động; chức năng giải trí…
Ở ngôn ngữ thơ, việc biểu thị cảm xúc mãnh liệt của nhà thơ là một chức năng đặc thù Bởi thơ là tiếng nói của trái tim, của sự đồng tình, đồng
ý… “ Thơ là tình cảm mãnh liệt trào ra từ những thôi thúc bên trong Nguồn
gốc của thơ là những cảm xúc được tái hiện trong những hoàn cảnh yên tĩnh” (William Wordsworth) Cảm xúc của cái tôi trữ tình nhà thơ vừa là một nhân
Trang 20tố khơi nguồn cảm hứng sáng tạo Bởi “Điều thúc đẩy nhà thơ sáng tạo là
ham muốn luôn luôn thăm dò sức mạnh bên trong của mình Đó là nhu cầu trải bày ra trước mắt mình cả khối đang đè nặng trong đầu và trong ngực mình Bởi vì thơ, dù là thơ bề ngoài có vẻ tĩnh lặng nhất vẫn luôn luôn là bi kịch của tâm hồn…Nhà thơ là người thợ lặn đang sục sạo tìm ở những vùng sâu kín nhất của tâm thức những vật liệu cao quý sẽ kết tinh lại khi bàn tay anh ta mang chúng ra ánh sáng” (P.Reverdy); Cảm xúc của nhân vật trữ tình
cũng vừa là nhân tố chủ yếu đóng vai trò quyết định việc tạo nên cấu tứ, hình tượng của một bài thơ
Bên cạnh đó, ngôn ngữ thơ là công cụ để biểu thị tư duy, cảm xúc của các thi nhân Nó là phương tiện để nhà thơ giao tiếp với độc giả Vì vậy, ngôn ngữ thơ không chỉ giúp người đọc nhận thức được những điều nhà thơ muốn nói, mà bằng những hình ảnh đặc sắc, những liên tưởng độc đáo, những tưởng tượng phong phú thì độc giả có thể chia sẻ, hoà điệu tâm hồn, cảm xúc, con tim với tác giả Do đó, chức năng tác động cũng là chức năng rất cơ bản của ngôn ngữ thơ, bên cạnh chức năng biểu cảm Ngôn ngữ thơ không chỉ tác động đến lí trí mà cả tình cảm con tim
Ngôn ngữ thơ có thể đảm đương nhiều chức năng Và ở mỗi chức năng, ngôn ngữ thơ lại thể hiện những điểm khác biệt Bởi vậy, từ xưa đến nay, việc tìm ra một định nghĩa chung nhất về thơ vẫn là một dấu hỏi Vì kết quả của việc đi tìm định nghĩa về thơ, mỗi người đều có cho riêng mình một câu trả lời về thơ
“Thơ là cô đúc Thơ đòi cô đúc để rồi trong một phút nổ ra như tiếng sét” (Chế Lan Viên) Lưu Trọng Lư lại cho rằng: “Thơ là sự sống tập trung cao độ, là cái lõi của cuộc sống” Tố Hữu lại phát biểu “Thơ là tiếng nói đồng chí, tiếng nói đồng ý, tiếng nói đồng tình” Mã Giang Lân trong “Tìm
Trang 21hiểu về thơ” đã đưa ra một định nghĩa rất khái quát: “Thơ là một thông báo thẩm mĩ trong đó kết hợp bốn yếu tố: Ý - Tình – Hình - Nhạc”
1.2.2 Đặc trưng của ngôn ngữ thơ
Thơ là một loại văn bản nghệ thuật Ngôn ngữ thơ thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật nên nó mang đặc trưng của ngôn ngữ thuộc phong cách này Những đặc trưng đó là: Tính hệ thống, tính hình tượng, tính hàm súc,
tính nhạc, tính tác động, tính cá thể hoá
Cái cốt lõi của thơ là cảm xúc Thơ là người thư kí trung thành của trái tim Cảm xúc bao la của con người lại được thể hiện bằng hệ thống ngôn ngữ ngắn ngọn, súc tích Bởi vậy, tính hàm súc là một trong những đặc trưng rất
cơ bản của ngôn ngữ thơ
Như nhịp động của trái tim, ngôn ngữ thơ có nhịp điệu riêng của nó Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà bằng cả âm thanh nhịp điệu của từ ngữ ấy Tính nhạc được xem là một trong những nét đặc trưng rất cơ bản của tác phẩm thơ Nhạc tính trong thơ được thể hiện ở ba mặt chính: Sự cân đối, sự trẩm bổng, sự trùng điệp Sự cân đối
là sự tương xứng hài hoà giữa các dòng thơ Trầm bổng là sự thay đổi những
âm thanh cao thấp khác nhau giữa thanh bằng và thanh trắc, và do sự phối hợp giữa các đơn vị ngữ âm tuỳ theo nhịp cắt để tạo nên nhịp
Ngôn ngữ thơ mang tính hàm súc “Ý tại ngôn ngoại” bởi vậy mà nó rất
giàu tính chất tạo hình và gợi cảm
Ngôn ngữ thơ cũng gắn liền với cá tính, tính cách của tác giả Bởi nó là tiếng nói của con tim của mỗi người trước một xúc động nào đó của hiện thực khách quan
Đối với thơ, các đặc trưng đó được biểu hiện rất riêng, rất dặc thù Nói như Mã Giang Lân đó là sự phối hợp hài hoà bốn yếu tố: Ý - Tình - Hình -
Trang 22Nhạc Hay như Sóng Hồng nói: “Thơ là thơ, đồng thời cũng là vẽ, là nhạc, là
chạm khắc theo một cách riêng”
Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý tinh vi Người làm thơ cần phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng Nhưng thơ là tình cảm và lí chí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tình cảm
và lí chí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ, qua những lời thơ trong trẻo vang lên nhạc điệu khác thường Hay như giáo sư Hà Minh Đức đã
nói: Đặc trưng lớn nhất của thơ đó chính là “sự gắn bó giữa nội dung và hình
thức được thể hiện ở đây một cách tinh tế nhất thông qua những hình thức thâm nhập và chuyển hoá”
Nghiên cứu hiệu quả của phép hoán dụ trong thơ ca, lựa chọn những lí luận về thơ, về chức năng và đặc trưng của thơ của các nhà Phong cách học
và Phê bình học để làm cơ sở cho đề tài khoá luận của mình, chúng tôi mong muốn tìm được điểm tựa để có thể cảm nhận được vẻ đẹp của thơ nói chung
và thơ ca Tố Hữu nói riêng
1.3 Một số nét khái quát về tác giả
1.3.1 Sự nghiệp thơ ca Tố Hữu
Nói đến thơ Tố Hữu, phải nói đến vai trò mở đầu của thơ ông trong nền thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa Và chúng ta cũng không thể không nói đến lòng trung thành của Tố Hữu với lí tưởng cộng sản, với tổ chức Đảng và đường lối văn học của Đảng Tâm hồn nhà thơ, máu thịt nhà thơ, nội dung các tác phẩm của Tố Hữu, cách nhìn và bút pháp nghệ thuật của ông nữa, có thể nói tất cả đều là Đảng cho Tố Hữu.Tố Hữu là một nhà thơ cộng sản Ở Tố Hữu, con người thơ và con người chính trị luôn thống nhất chặt chẽ, sự nghiệp thơ gắn liền với sự nghiệp Cách mạng
Trang 231.3.1.1 Quan niệm sáng tác
Thơ Tố Hữu là một nguồn sinh lực đem phụng sự cho lí tưởng Nói đến
Tố Hữu và thơ Tố Hữu, hầu như mỗi người đều nhận thấy mối quan hệ khăng khít giữa nhà thơ và nhà Cách mạng, giữa hành trình Cách mạng và hành trình
thơ
Tố Hữu, Cách mạng và Thơ là ba khái niệm chung đúc nên một vẻ đẹp
sẽ trường tồn trong văn học và rộng hơn, trong văn hoá dân tộc: Thơ Tố Hữu Tác giả cũng đã từng nói:
“Rằng thơ với Đảng nặng duyên tơ Thuyền bơi có lái qua mưa gió Không lái thuyền trôi, lạc bến bờ…”
(Chuyện thơ)
Thơ Tố Hữu đã “kết tinh” từ chính thực tế hoạt động Cách mạng sôi
nổi - nơi nhà thơ đã sống hết mình, đã đặt cả quả tim mình vào đó và sống - sống một cách đầy lo toan, trách nhiệm với tin yêu Chính điều đó đã hoàn tất chân dung mẫu hình thi sĩ - chiến sĩ gắn với mẫu hình thi ca giàu tính chiến đấu trong một giai đoạn quan trong của đời sống dân tộc
1.3.1.2 Con đường thơ Tố Hữu
Tố Hữu đem đến cho thơ ca một tiếng nói mới mẻ Ông đến với thơ ca
và Cách mạng cùng một lúc.Tố Hữu là nhà thơ của lí tưởng Cộng sản Cho nên, thơ ông cũng cũng gắn bó mật thiết chặt chẽ với cuộc đời đấu tranh Cách mạng dân tộc, đồng thời nó cũng thể hiện sự vận động trong tư tưởng và nghệ thuật của nhà thơ
Từ nhiều thế kỉ nay, công chúng đã quen biết và rất đỗi thân thiết với
Tố Hữu - nhà thơ Cách mạng với các tập thơ xuất sắc gắn với các chặng đường sáng tác sau:
Trang 24Tập “Từ ấy” (1937 - 1946), tập thơ đầu tay gồm ba phần: “Máu lửa” (1937 - 1939), “Xiềng xích” (1939 - 1942), “Giải phóng” (1943 - 1946), là
chặng đường mười năm đầu của thơ Tố Hữu, cũng là mười năm hoạt động say mê từ giác ngộ qua thử thách đến trưởng thành của người thanh niên Cách mạng trong thời kì diễn ra những biến cố đổi thay sâu sắc
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lý chói qua tim
Rất đậm hương và rộn tiếng chim”
(Từ ấy)
“Việt Bắc” (1947 - 1954) là khúc ca hùng tráng thiết tha về cuộc kháng
chiến và những con người kháng chiến Đó là chặng đường đầy gian lao, anh dũng và những bước đi lên của cả cuộc kháng chiến cho đến ngày thắng lợi.Tập thơ là sự mở rộng của hồn thơ Tố Hữu Các sự kiện lịch sử đã chắp cánh cho thơ bay bổng trong cảm hứng sử thi trữ tình mang hào khí thời đại
“Việt Bắc” kết tinh những tình cảm cao đẹp của con người Việt Nam, nổi bật
là tình yêu quê hương đất nước
Thời kì miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và tiếp tục đấu tranh
giành thống nhất đất nước ở miền Nam, Tố Hữu viết lên tập “Gió lộng”
(1955 - 1961) Tập thơ khai thác những chủ đề lớn: thể hiện niềm vui, niềm tự hào và tin tưởng ở công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, vừa bày
tỏ tình cảm tha thiết với miền Nam, ý chí thống nhất nước nhà và tình cảm anh em Quốc tế
“Ra trận” (1962 - 1971), “Máu và Hoa” (1972 - 1977) là chặng đường
thơ của Tố Hữu trong những năm tháng chống Mĩ quyết liệt và hào hùng của dân tộc cho đến ngày toàn thắng Hai tập thơ là khúc ca ra trận, là mệnh lệnh
Trang 25tiến công và là lời kêu gọi cổ vũ hào hùng, khẳng định ý nghĩa lớn lao của cuộc kháng chiến chống Mĩ
“Một tiếng đờn” (1992), “Ta với Ta” (1999) là những tập thơ bày tỏ
những suy tư về cuộc sống, lẽ đời, nhằm hướng tới những quy luật phổ biến
và tìm kiếm những giá trị bền vững sau khi trải qua những trải nghiệm, những thăng trầm trước cuộc đời của nhà thơ
Thơ Tố Hữu là một trong những bằng chứng sinh động cho sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chính trị và nghệ thuật Con đường thơ Tố Hữu là con đường tìm tòi, là sự kết hợp hai yếu tố, hai cội nguồn: Dân tộc và Cách mạng trong hình thức đẹp đẽ của thơ ca
Có thể thấy, con đường thơ Tố Hữu gắn liền với con đường Cách mạng Mỗi bước tiến của Cách mạng là một bước phát triển trong thơ Tố Hữu
1.3.2 Đặc điểm phong cách nghệ thuật
Tố Hữu là nhà thơ Cách mạng, nhà thơ chiến sĩ Ông làm thơ trước hết
là phục vụ cho sự nghiệp Cách mạng, cho lí tưởng của Đảng Thơ ông đã kế
tục dòng thơ Cách mạng đầu thế kỉ XX, nhưng đã có sự “cách tân” Vì vậy,
Tố Hữu đã có một phong cách khá đa dạng và hấp dẫn:
Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị Những vấn đề quan trọng như lòng yêu nước, lí tưởng cộng sản, tình cảm đồng bào, đồng chí…đã trở thành nguồn cảm hứng, nguồn cảm xúc chân thành sâu xa và trở thành lẽ sống, niềm tin Với Tố Hữu, những vấn đề chính trị đã trở thành cái riêng tư và được ông diễn đạt bằng ngôn ngữ tâm tình, ngôn ngữ của tình yêu, tình bạn bè, tình mẹ con một cách tự nhiên không hề gượng ép Ông ít quan tâm tới mặt đời tư mà thường quan tâm và thể hiện vấn đề lớn như lẽ sống lớn, tình cảm lớn của Cách mạng và con ngưới Cách mạng
Trang 26Vì vậy, đối với Tố Hữu, thơ trước hết phải là phương tiện đắc lực phục
vụ cho sự nghiệp Cách mạng, cho những nhiệm vụ chính trị được hình thành trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau Với ông, thơ chính trị đã trở thành thơ trữ tình sâu sắc
Mang nặng khuynh hướng sử thi là một đặc trưng trong phong cách thơ
Tố Hữu.Thơ ông chủ yếu đề cập tới những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và có tính chất toàn dân
Thơ Tố Hữu tràn đầy cảm hứng lãng mạn, luôn hướng người đọc tới một chân trời tươi sáng và tương lai xã hội chủ nghĩa Thể hiện cuộc sống bằng cảm giác ấy, thế giới hình tượng trong thơ Tố Hữu là thế giới của cái cao cả, cái lí tưởng, của ánh sáng, gió lộng, niềm tin sống
Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê giàu truyền thống tốt đẹp, thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc không chỉ trong nội dung mà còn cả trong nghệ thuật biểu hiện Các thể thơ truyền thống và thi liệu quen thuộc được nhà thơ sử dụng nhuần nhuyễn, ngôn ngữ giản dị, vần điệu phong phú…
Ngoài ra, thơ ông cũng rất giàu tính nhạc Ông có biệt tài trong sử dụng các từ láy, dùng các vần phối hợp với các thanh điệu…kết hợp với nhịp thơ tạo thành nhạc điệu phong phú cho các câu thơ, diễn tả được cảm xúc của dân tộc, tâm hồn của dân tộc Vì vậy, Tố Hữu xứng đáng là người ca sĩ của nhân dân
Trang 27Chương 2 Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp hoán dụ
2.1 Kết quả khảo sát thống kê
Tỉ lệ (%)
1
Hoán dụ được xây dựng
trên cơ sở mối quan hệ
2
Hoán dụ xây dưng trên cơ
sở mối quan hệ giữa bộ
4 1
3
Hoán dụ xây dựng trên cơ
sở mối quan hệ giữa dấu
hiệu và vật có dấu hiệu
Dùng hình ảnh, sự vật đặc trưng để chỉ chủ thể
80 8,1 Dùng màu sắc để chỉ chủ thể 8 2 Dùng y phục để chỉ chủ thể 12 2,7
4
Hoán dụ xây dựng trên cơ
sở mối quan hệ giữa số
lượng xác định và số
lượng không xác định
Số lượng xác định là số nhiều
54 12,2
Số lượng xác định là số ít 5 1,2
5
Hoán dụ xây dựng trên cơ
sở mối quan hệ giữa tên
riêng và tên chung
Lấy tên địa phương sản xuất
điểm của đối tượng
6 Hoán dụ xây dựng trên cơ sở mối quan hệ giữa nguyên
nhân và kết quả của nguyên nhân
18 4
Trang 282.1.2 Nhận xét
2.1.2.1 Về tỉ lệ các kiểu hoán dụ trong phạm vi khảo sát
Qua khảo sát, thống kê, phân loại trên chúng ta thấy: Tỉ lệ sử dụng các tiểu loại hoán dụ là không đều
Hoán dụ xây dựng trên mối quan hệ giữa dấu hiệu và vật có dấu hiệu chiếm tỉ lệ cao nhất 20,1% Chiếm tỉ lệ cao thứ hai là kiểu hoán dụ được xây dựng trên mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể 19,3% Kiểu hoán dụ xây dựng trên cơ sở mối quan hệ giữa vật chứa và vật bị chứa đứng thứ ba 15,2%
Và thứ tư là kiểu hoán dụ lấy số lượng xác định để chỉ số lượng không xác định, số nhiều 13,4%
2.1.2.2 Việc lựa chọn tiểu loại hoán dụ nào trong văn bản thơ tùy thuộc vào cảm xúc cần thổ lộ trong thơ, tùy thuộc vào hoàn cảnh cho phép nhà thơ bộc lộ tiếng lòng của mình Đặc biệt, việc lựa chọn kiểu hoán dụ nào còn tùy thuộc vào sở thích, sở trường của từng thi sĩ Và việc lựa chọn đó còn tùy thuộc vào đặc trưng của thể loại văn bản
Thơ là tiếng nói của cảm xúc, của tâm hồn, giúp nhà thơ thể hiện cảm xúc, thể hiện nội dung thông báo một cách linh hoạt, phong phú và sâu sắc Bởi vậy, hoán dụ được xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa dấu hiệu và vật có dấu hiệu chiếm tỉ lệ cao
Đặc trưng rất cơ bản của thơ là tính hàm súc “ý tại ngôn ngoại” Hơn
nữa, thơ là nơi để thi sĩ bộc lộ tinh tế cách nhìn, cách cảm của bản thân trong các phương tiện có độ nén cao nhất Chức năng và đặc trưng cơ bản đó là căn
cứ lý giải vì sao trong thơ các kiểu hoán dụ được xây dựng trên các mối quan
hệ như: bộ phận và toàn thể; vật chứa và vật bị chứa; số lượng và số lượng lại được sử dụng với tỉ lệ khá cao
Việc sử dụng kiểu hoán dụ xây dựng trên mối quan hệ dấu hiệu và vật
Trang 29của con người Việt Nam, và những gian lao vất vả trong đấu tranh Cách mạng của dân tộc
Hoán dụ xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa bộ phận và toàn bộ được
sử dụng linh hoạt Các bộ phận: Mái đầu, đầu xanh, đầu bạc, con mắt, bàn tay…lại có khả năng biểu thị những chàng trai, cô gái, những con người trong lao động, chiến đấu:
“Những bàn tay lại nắm cờ đỏ qua đêm dài”
(Bài ca tháng mười)
“Bức tranh non nước tuyệt vời Bàn tay ta lại xây đời ta đây”
(Bài ca quê hương)
Cũng có khi, những từ chỉ bộ phận cơ thể khi được nhà thơ sử dụng làm hoán dụ tu từ lại có khả năng thay thế cho cả một dân tộc:
“Những bàn chân từ than bụi lấy bùn
Đã bước dưới mặt trời Cách mạng ”
(Ta đi tới)
Hoán dụ xây dựng trên mối quan hệ giữa vật chứa và vật bị chứa lại là hình thức nghệ thuật giúp nhà thơ thể hiện được khái quát nhất đất nước, con người Việt Nam, thể hiện được tinh thần đoàn kết, sức mạnh đấu tranh của đất nước dân tộc Việt Nam
“Miền Nam ơi, tiền tuyến ước mơ gì
Mà đất nước xôn xao lời Bác gọi”
(Xuân 69)
Hoán dụ cải số là cách để tác giả nhấn mạnh những khó khăn gian khổ
mà chiến sĩ, nhân dân ta phải đối mặt, phải vượt qua
“Nghìn đêm thăm thẳm sương dầy Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”
(Việt Bắc)
Trang 30Đó cũng có thể là sự ngân lên của niềm vui trong những ngày chiến
là căn cứ để người tiếp nhận chúng ta xác định tính cá thể hóa, phong cách nghệ thuật riêng, độc đáo của mỗi thi sĩ
2.2 Phân tích kết quả thống kê
Căn cứ vào kết quả thống kê được, chúng tôi tiến hành phân tích hiệu quả biện pháp hoán dụ trong thơ Tố Hữu theo các dạng biểu hiện sau đây: 2.2.1.Hoán dụ được xác định trên cơ sở mối quan hệ giữa vật chứa và
vật bị chứa
Đây là dạng thể hiện hoán dụ được nhà thơ sử dụng nhiều và đạt hiệu quả tu từ cao Ở dạng này chúng tôi thống kê được 67/442 phiếu, chiếm 15,2% Dạng này được xác lập trên cơ sở mối quan hệ giữa vật chứa và vật bị chứa, tức nhà thơ không trực tiếp gọi tên của đối tượng mà dùng tên gọi của vật chứa đối tượng ấy nhằm hướng tới một ý nghĩa khái quát, cao rộng hơn
Để thấy rõ được hiệu quả tu từ của dạng hoán dụ này, chúng tôi bước đầu tìm hiểu hiệu quả của nó thông qua việc phân tích một số ví dụ tiêu biểu trong thơ
Tố Hữu
Trang 312.2.1.1.Vật chứa là địa điểm, vị trí địa lí
(Việt Bắc)
Cách mạng tháng Tám là cuộc bùng nổ long trời lở đất, chấm dứt ách
đô hộ tám mươi năm của thực dân Pháp, mở đầu thời đại vẻ vang nhất trong lịch sử nước nhà: Thời đại Hồ Chí Minh, thời đại của độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội
Nhưng Cách mạng còn phải vượt qua muôn vàn khó khăn Không đầy một tháng sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, thực dân Pháp
đã trở lại xâm lược nước ta, kháng chiến Nam Bộ, rồi toàn quốc bùng nổ
Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch vang dậy, thấm sâu vào mỗi trái tim người
Việt Nam: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước,
nhất định không chịu làm nô lệ”
Toàn dân đã được tôi luyện, đã chiến thắng, đứng lên kháng chiến cũng như đã vùng lên làm cuộc Cách mạng tháng Tám Xông lên tuyến đầu giết giặc là những thanh niên cứu quốc, tự vệ sôi sục khí thế Cách mạng tiến công
và nghi lòng tạc dạ lời kêu gọi thiêng liêng của Hồ Chủ tịch, mỗi người Việt Nam cùng sung sướng đem hết tinh thần và sức lực ra bảo vệ đất nước
“Việt Bắc” ra đời sau khi Cách mạng đã thành công 10/1954, sau chiến
thắng Điện Biên Phủ, khi Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ giã từ “thủ
đô gió ngàn” về với thủ đô “hoa vàng nắng Ba Đình” Có thể thấy, bài thơ
Trang 32vừa là tiếng hát ngọt ngào thấm đẫm chất trữ tình về tấm lòng ân nghĩa thuỷ chung của miền ngược và miền xuôi của tác giả, các cán bộ kháng chiến với quê hương Việt Bắc, vừa là bản anh hùng ca của cả một dân tộc quyết:
“Giáng một trận dập đầu quỷ dữ Sáng nghìn năm lịch sử Điện Biên”
Đoạn thơ trên nằm ở cuối bài thơ Việt Bắc, đoạn thơ như một bức tranh hoành tráng thể hiện không khí hào hùng của cuộc kháng chiến, sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại và niềm tin của tác giả vào tương lai tươi sáng Với những câu thơ lục bát, Tố Hữu đã tạo nên một âm hưởng anh hùng
ca và sử thi Vì nếu Việt Bắc là bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến thì sáu câu thơ đã phản ánh không khí hào hùng sôi động của những năm cả nước đánh Pháp vì độc lập tự do của tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân
Biện pháp hoán dụ được nhà thơ sử dụng rất tinh tế, tác giả dùng hình
ảnh “những đường Việt Bắc” (vật chứa) để chỉ tất cả những con người từ
khắp các nẻo đường của tổ quốc, những đoàn quân hướng tới chiến trường Bạn đọc thấy được hình ảnh đậm nét của cả những bà mẹ, những chàng trai,
cô gái, chiến sĩ Cách mạng những con người của một dân tộc anh hùng trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc Biện pháp hoán dụ, kết hợp với
từ láy “rầm rập” vừa gợi âm thanh, vừa gợi hình ảnh đoàn quân ra trận “Của
ta” vừa nói lên ý thức làm chủ, vừa phản ánh chiến khu tự do đã vĩnh viễn
thuộc về ta
Nhờ biện pháp hoán dụ nhà thơ đã nhấn mạnh được cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện của dân tộc Việt Nam, cả dân tộc Việt Nam thành một đoàn quân thống nhất Nó đã khắc hoạ được sức mạnh, niềm tin khoẻ khoắn của quần chúng Cách mạng Mọi người dân từ khắp các gia đình, làng quê đều trở thành chiến sĩ trên con đường đấu tranh
Trang 33Tố Hữu đã từng nói: “Trong xã hội ta hồi ấy, trước kẻ địch vô cùng tàn
bạo thấy khó lòng mà tin được mình có thể sống đến ngày Cách mạng thắng lợi Chỉ có thể tin ở lẽ phải của chủ nghĩa và sự cần thiết phải hy sinh Do đó, con người Cách mạng chỉ có thể quan niệm là con người “mắt xích”, là
“nhịp cầu” đi tới tương lai, con người trong cuộc chạy tiếp sức”
Ta có thể thấy không khí sôi động của những ngày chiến dịch được gợi lên rất rõ qua hình ảnh hoán dụ này Đó không chỉ là khí thế hào hùng của những đoàn quân mà còn là hình ảnh thu nhỏ của cuộc kháng chiến chống
Pháp Hoán dụ kết hợp với hình ảnh so sánh rất đắt “Như là đất rung”, và những điệp từ “đêm đêm”, “trùng trùng”, “điệp điệp” cùng với những động
từ gợi những chuyển dung dữ dội “ nát đá, đất rung, lửa bay”… đã khắc hoạ rất sâu đậm khí thế hào hùng Những “đường Việt Bắc”, mảnh đất Việt Bắc là
nơi hội tụ sức mạnh của nhân dân, của dân tộc
Bằng các biện pháp nghệ thuật được sử dụng tài tình, đặc biệt là biện pháp hoán dụ, những câu thơ của Tố Hữu đã vươn tới hình thức tráng ca để khắc hoạ bức phù điêu toàn cảnh, bức phù điêu hùng vĩ về cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại
Ví dụ 2:
“Máu đọng chưa khô máu lại đầy Hỡi Miền Nam trăm đắng nghìn cay Hăm lăm năm chẳng rời tay súng
Đi trước về sau, đã dạn dày!”
(Theo chân Bác)
Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng cách mạng dân tộc dân chủ chưa hoàn thành trong cả nước, miền Nam
bị biến thành thuộc địa kiểu mới của đế quốc Mỹ Bởi vậy, bên cạnh những
dòng thơ “tươi xanh” còn là những dòng thơ “lửa cháy” Miền Nam đang
Trang 34diễn ra cảnh tạm chiếm, đế quốc Mỹ bày trò thay thầy đổi chủ, dựng lên một chế độ bù nhìn chống Cộng, ra mặt thù địch với nhân dân, trả thù điên cuồng những người tham gia kháng chiến, những người yêu nước, khủng bố hãm hại không tiếc tay những ai chống lại chúng
Đoạn thơ nằm trong trường ca “Theo chân Bác” với biện pháp hoán
dụ được sử dụng tài tình đã nói lên những đau thương vất vả của nhân dân miền Nam và sự cảm thông, cảm phục của nhân dân cả nước đối với đồng bào miền Nam
Tác giả dùng hình ảnh “miền Nam” (bị chứa) chỉ toàn thể nhân dân
miền Nam và cả những gì tồn tại trên miền đất can trường này Hoán dụ kết
hợp với hình ảnh ẩn dụ tượng trưng “máu”, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác đan cài với hoán dụ cài số “trăm”, “nghìn” đã khắc sâu sự mất mát hi sinh,
những đau đớn mà nhân dân miền Nam phải chịu đựng là vô cùng lớn, là nỗi đau trời bể không bờ bến Không chỉ con người phải chịu cảnh khổ cực mà tất
cả nơi đây trên mảnh đất miền Nam, từ những ngọn cỏ, nhành hoa đều phải chịu sự đàn áp khủng bố của giặc Mỹ Qua đó, là tấm lòng cảm thông, xót xa của nhân dân cả nước trước sự hi sinh gian khổ của nhân dân miền Nam Bởi miền Nam luôn sống trong tâm hồn mỗi người Và mỗi người đều sống lấy cuộc sống anh dũng của miền Nam, đau nỗi đau của nhân dân miền Nam
Thêm vào đó là hình ảnh hoán dụ “chẳng rời tay súng” (hoán dụ lấy dấu hiệu để chỉ vật có dấu hiệu) và hoán dụ cải số “hăm lăm năm”, kết hợp
với bút pháp ẩn dụ, tương phản thì người đọc không chỉ xót xa, đau thương trước sự hi sinh của miền Nam mà còn hết sức cảm phục bởi tinh thần chiến đấu kiên cường, bền bỉ không rời xa của con người cảnh vật nơi đây Đồng bào miền Nam đã trải qua những năm đấu tranh anh dũng và cực kì gian khổ, chịu đựng những hi sinh gian khổ không bờ bến Bởi từ khi cuộc kháng chiến
Trang 35luôn “có thể nào yên, miền Nam ơi, máu chảy…” Nhưng “miền Nam trong
lửa đạn, sáng ngời”, vẫn “chẳng rời tay súng”
Bằng các hình ảnh hoán dụ dùng vật chứa để chỉ vật bị chứa “miền
Nam”, hoán dụ cải số, hoán dụ lấy dấu hiệu để chỉ vật có dấu hiệu, tác giả đã
xây dựng lên hình ảnh miền Nam với những con người, những cảnh vật đất trời đều sáng ngời lên tinh thần hi sinh anh dũng kiên cường Trong xót xa nhức nhối về những đau thương của miền Nam, ta lại thấy ngời lên niềm kiêu hãnh, tự hào của nhân dân cả nuớc với con người nơi đây Đó cũng là tiếng kêu gọi của cuộc sống anh hùng đòi giải phóng của miền Nam Nói về miền Nam là nói về miền đất thánh của cuộc chống Mỹ cứu nước
Ví dụ 3:
“Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà Miền Nam mong Bác nỗi mong cha Bác nghe từng bước trên tiền tuyến Lắng mỗi tin mừng, tiếng súng xa”
(Bác ơi)
Qua đoạn thơ, ta thấy được tình cảm thiêng liêng giữa nhân dân miền Nam với Bác Vui miền Bắc nhưng vẫn không một lúc nào nguôi nỗi nhớ miền Nam, không đau xót vì một nửa cơ thể của tổ quốc chúng ta đang chảy máu
“Bác ơi” là một bài thơ đầy xúc động của Tố Hữu viết khi Bác qua đời,
là một trong những bài thơ hay nhất viết về hình ảnh Bác Hồ với tấm lòng yêu
thương mênh mông biển cả Hình ảnh hoán dụ “miền Nam” đã khái quát
được rất sâu, rộng tất cả con người cảnh vật nơi đây Qua đó thấy được tình
cảm lớn lao giữa “miền Nam” và Bác
Kết hợp với hình ảnh so sánh: “Bác nhớ miền Nam” với “nỗi nhớ
nhà”, “miền Nam mong Bác” như “nỗi mong cha” đã thấy được tình cảm
Trang 36của con người cảnh vật miền Nam với Bác cũng như tình cảm của Bác với nhân dân cuộc sống miền Nam là tình ruột thịt, tình yêu gia đình, máu mủ ruột già, thắm thiết không rời Trong cảnh khủng bố, đày đọa, đồng bào miền Nam luôn hướng về Bác tìm thấy ở đấy lòng tin, ánh sáng để chống lại đêm đen bao phủ Và nơi đây, Bác cũng như thiêu đốt khi nghĩ tới đồng bào miền Nam hằng ngày phải chịu những thử thách ghê gớm Ở nơi xa cách tiền tuyến lớn, xa cách cuộc chiến đấu đối mặt với Mỹ - Ngụy, Bác không lúc nào yên lòng khi nghĩ đến miền Nam Bác luôn dành cho miền Nam một tình yêu sâu
thẳm Người từng nói: “miền Nam luôn ở trong trái tim tôi”, và từng phút
giây ngóng về miền Nam Ngày nào mà nước nhà chưa thống nhất, đồng bào
miền Nam chưa được đoàn tụ thì Bác còn “ăn không ngon, ngủ không yên”
Bác là tượng trưng cho độc lập tự do và thống nhất tổ quốc Tấm lòng của Bác đã kết tinh tình cảm của đồng bào miền Bắc đối với miền Nam Và đồng bào miền Nam luôn luôn hướng về Bác, về miền Bắc xã hội chủ nghĩa như kim địa bàn luôn chỉ về một hướng
“Ta hiểu Miền Nam thương nhớ Bác Nóng lòng mong đợi Bác vào thăm
Ta hiểu Đêm nằm nghe gió gác Bác thường trăn trở, nhớ miền Nam”
Trang 37Ví dụ 4:
“Cả nuớc cho em, cho em tất cả Máu tiếp máu, cho lại hồng đôi má Cho mái tóc em xanh lại ngày xuân Cho thịt da em lại nở trắng ngần”
(Người con gái Việt Nam)
“Người con gái Việt Nam” là một trong những thành công nhất trong
các bài thơ viết về Miền Nam Trong hình tuợng “người con gái Việt Nam”,
tác giả tập trung cái đau khổ và cái cái anh dũng của cả nhân dân ta Đây là một hình tuợng tiêu biểu và hào hùng cho dân tộc, cho Đảng và quần chúng
Cách mạng, là biểu hiện trực tiếp của “nhịp sống lớn” của “niềm vui chung”
hay lẽ sống lớn, tiêu biểu cho sức sống trẻ trung đang bừng dậy trong Cách mạng, một sức sống bị vùi dập nhưng bất khả chiến bại Sức sống ấy thách
thức cả một chế độ bạo tàn với những “điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa
nung…” và đã chiến thắng Người con gái anh hùng ấy - chị Trần Thị Lý
được gọi ngay là “người con gái Việt Nam”, “ôi trái tim em, trái tim vĩ đại” Chị từ đau thương sống lại, từ cõi chết trở về với sự chào đón của “cả nước” Hoán dụ “cả nước” chỉ nhân dân, dân tộc Việt Nam Sử dụng hình ảnh này,
tác giả đã tô đậm lòng thành kính, kính phục yêu thương vô hạn của cả nước với người con gái ưu tú của mình Ca ngợi chị Trần Thị Lý, nhà thơ Tố Hữu
đã xây dựng nên hình tượng người con gái Việt Nam vì quê hương, vì tổ quốc, vì loài người mà hi sinh quên mình Người con gái anh hùng Trần Thị
Lý xứng đáng được cả nước nâng niu và chăm sóc
Hoán dụ “cả nước” đặt cạnh hình ảnh điệp “cho em” càng thấy rõ sự
trân trọng, yêu mến của nhà thơ đối với người con gái anh hùng ấy Cũng từ hình ảnh hoán dụ đã khẳng định được cái đẹp ở đây trước hết là cái đẹp của
Trang 38con người trong ánh hào quang của cách mạng, trong tình âu yếm của đồng bào
“Từ cõi chết, em trở về, chói lọi Như buổi em đi, ngọn cờ đỏ gọi
Em trở về, người con gái quang vinh
Cả nước ôm em, khúc ruột mình.”
2.2.1.2.Vật chứa là đồ vật
“Chúng đến đó Cả bầy hùm sói Pháp theo Anh, một giống thực dân Máu đã chảy Miền Nam đã gọi Những chuyến tàu hối hả ra quân”
(Theo chân Bác)
“Theo chân Bác” là một bản trường ca ca gợi lịch sử vĩ đại của Việt
Nam trong kháng chiến
Đoạn thơ tác giả dùng liên tiếp hai hình ảnh hoán dụ: “miền Nam” chỉ nhân dân, đất trời mền Nam và hình ảnh “những chuyến xe” chỉ những chiến
sĩ, đoàn quân từ miền Bắc lên đường đấu tránh vì miền Nam, vì thống nhất tổ quốc Việt Nam
Hình ảnh hoán dụ “những chuyến xe”, tác giả nhấn mạnh tinh thần đoàn kết Bắc Nam, đoàn kết dân tộc Việt Nam Từ rất lâu, Bác Hồ nói: “Miền
Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam Sông có thể cạn, núi
có thể mòn song chân lý đó không bao giờ thay đổi”
Miền Nam càng ở cảnh nước sôi lửa bỏng, càng bị đe doạ thì lòng người miền Bắc càng xốn xang, nhức nhối, càng canh cánh bên lòng nỗi nhớ thương miền Nam Mỗi một động tĩnh nhỏ, mỗi hình ảnh, mỗi mẩu chuyện, mỗi tin tức từ miền Nam đều vang dội sâu xa đến miền Bắc Có sự gợi thương