Tuy nhiên, với khuôn khổ một khoá luận tốt nghiệp đại học, tác giả chỉ đi sâu tìm hiểu phương diện giọng điệu - một biểu hiện nghệ thuật độc đáo trong phong cách Tạ Duy Anh, qua các tiểu
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Từ sau 1975, nhất là sau 1986, nền văn xuôi Việt Nam đã có sự khởi sắc, trong đó tiểu thuyết vẫn là thể loại chủ đạo Có thể nói, tiểu thuyết đã bộc
lộ ưu thế của mình trong cách “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật,
nói rõ sự thật”, bao quát được những vấn đề cơ bản của đời sống xã hội và số
phận con người trong sự vận động và phát triển, đáp ứng sự đòi hỏi bức xúc của công chúng đương đại
Tiểu thuyết Việt Nam thời kì này đứng trước nhu cầu “đổi mới tư duy
nghệ thuật tiểu thuyết” Điều này chứng tỏ sự nghiêm khắc nghề nghiệp và sự
say mê của đội ngũ các nhà văn, các tiểu thuyết gia đương đại Nằm trong dòng chảy chung của nền văn học Việt Nam thời kì đổi mới, tiểu thuyết cũng có sự phân kì phát triển Từ sau 1975 đến nay, tiểu thuyết phát triển qua 2 chặng: những năm tiền đổi mới (1975 - 1985) và cao trào đổi mới từ sau 1986 Đổi mới tiểu thuyết nói riêng và đổi mới văn học nói chung, suy cho cùng là sự đổi mới quan niệm về con người, về đời sống và quan niệm về bản thân văn học Với tiểu thuyết đương đại, vấn đề đặc biệt được quan tâm, đó là sự đổi mới về
phương diện nghệ thuật Sự đổi mới trong “tư duy nghệ thuật tiểu thuyết” sẽ
dẫn đến hệ quả tất yếu là thay đổi các yếu tố: đề tài, cốt truyện, nhân vật, nghệ thuật trần thuật, Trong những năm đổi mới, tiểu thuyết Việt Nam đã có một
số thành tựu đáng ghi nhận từ góc độ thi pháp thể loại
1.2 Trên văn đàn tiểu thuyết Việt Nam sau 1986, xuất hiện ngày càng
nhiều tên tuổi tài năng: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Việt Hà,
Nguyễn Bình Phương, Võ Thị Hảo, Dương Hướng, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh,
Trong số ấy có thể nói Tạ Duy Anh là một cây bút khá nổi, tên tuổi ông đã trở thành quen thuộc với công chúng độc giả trong và ngoài nước Là một nhà văn không còn trẻ nhưng những thành công mà ông đạt được đáng để ta trân trọng
Trang 2và cảm phục Đến nay, với hành trình sáng tạo khoảng 20 năm (1981 - 2010), ông đã là chủ sở hữu của một khối lượng tác phẩm lớn, gồm hàng chục truyện ngắn và truyện thiếu nhi, nhiều tập truyện dài và tiểu thuyết, vài trăm bài tản
văn, đoản văn trên các báo Tạ Duy Anh được đánh giá là “người có sức sáng
tạo dồi dào, là một tấm gương lao động nhọc nhằn nhưng hiệu quả, một sự thành công của một niềm tin sắt đá vào những lỗ lực vượt bậc của chính mình”
[20, tr 172 ]
Trong sự nghiệp văn học phong phú và đa dạng ấy, hẳn sẽ có nhiều phương diện cần nghiên cứu Tuy nhiên, với khuôn khổ một khoá luận tốt nghiệp đại học, tác giả chỉ đi sâu tìm hiểu phương diện giọng điệu - một biểu hiện nghệ thuật độc đáo trong phong cách Tạ Duy Anh, qua các tiểu thuyết nổi
tiếng nhất của ông: “Lão Khổ”, “Thiên thần sám hối” và “Giã biệt bóng tối”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Với những thành công nổi bật, Tạ Duy Anh đã và đang thu hút được sự
quan tâm của đông đảo bạn đọc và giới phê bình Bằng cảm nhận cũng như những cách tiếp cận khác nhau, khi khám phá về Tạ Duy Anh, kết quả thu được khá phong phú và đa dạng
Báo Giáo dục thời đại, số 80 năm 2004 có viết: “Gần như thành thông
lệ ở ta khi nhà văn nào đó có được một tác phẩm nổi tiếng thì thường họ quay
về nhấm nháp niềm vinh quang, sớm thỏa mãn và cứ thế họ mất hút trong mắt độc giả Tạ Duy Anh từng có “Bước qua lời nguyền” gây chấn động văn đàn
và nhiều người đã nghĩ anh khó mà vượt qua được nghiệt lệ ấy Nhưng rồi anh cho ra đời “Lão Khổ”, một cuốn sách mà càng ngày người ta sẽ càng phải tìm đọc lại bởi nói như giáo sư Hoàng Ngọc Hiến “Đây là một cuốn tiểu thuyết quan trọng” Tiếp đó anh cho ra đời hàng chục tập truyện ngắn Nhưng một thành tựu không nhỏ như vậy vẫn còn quá ít với anh Trong khi văn đàn đang
có dấu hiệu rệu rã thì liên tiếp trong 2 năm Tạ Duy Anh cho ra 2 cuốn tiểu
Trang 3thuyết gây xôn xao dư luận trong và ngoài nước, trước hết bởi sự kì lạ về hình thức và vấn đề nhức nhối mà nó quan tâm” [3, tr.150]
Báo Thể thao và văn hoá, số 47 năm 2004, đánh giá về giá trị tác phẩm
Tạ Duy Anh như sau: “Mối quan tâm lớn nhất của Tạ Duy Anh là cái vong
bản, đánh mất mình, của con người, dưới sự giằng giật xiêu dạt của lịch sử Trên con đường truy tìm lại mặt mình, cũng như khả dĩ khuôn mặt thực của quá khứ, con người vấp phải và bị phong tỏa bởi thói gian trá, đớn hèn, vật dục, tàn ác, kể cả trong mỗi cá nhân Phúc âm duy nhất là tình yêu, tình cảm trong sạch bản thể của hiện tại và cái nhìn trung thực, nhân đạo đối với những vết thương, lỗi lầm của quá khứ” [3, tr.123]
Báo Pháp luật, số 140 năm 2004, nhận xét: “Tạ Duy Anh là tác giả của
những tác phẩm luôn làm bạn đọc giật mình và suy ngẫm bởi những vấn đề gai góc của xã hội hiện đại Ông cũng là tác giả tâm huyết, trăn trở với số phận con người, nhất là khi họ rơi vào tình trạng khủng hoảng nhân cách Trong lăng kính đa chiều, Tạ Duy Anh đã nhìn hiện thực một cách lý trí, lạnh lùng nhưng cũng đầy thương xót con người” [3, tr.143]
Báo Văn nghệ Trẻ, số 28 năm 2008, có nhận xét: “Sau truyện ngắn
"Bước qua lời nguyền”, Tạ Duy Anh cho công bố “Khúc dạo đầu” (1991),
“Bố cục hoàn toàn” (Tập truyện ngắn, 2004), “Lão Khổ” (Tiểu thuyết, 1992),
“Đi tìm nhân vật” (Tiểu thuyết, 1999), “Thiên thần sám hối” (Tiểu thuyết,
2004), “Ngẫu hứng sáng trưa chiều tối” (Tập tản văn, 2004)… cùng gần 10
tập sách dành cho thiếu nhi Đến giờ có hai bản thảo tiểu thuyết và một tập quái truyện của Tạ Duy Anh đã hoàn thành và đang chờ được công bố Ngần
ấy cũng tạm đủ để ta thấy được bút lực dồi dào của Tạ Duy Anh…”
Nhà phê bình Bùi Viết Thắng cũng cho rằng: “Tạ Duy Anh được coi là
cây bút tiểu thuyết trẻ, khoẻ hiện nay Anh đã viết các tiểu thuyết Lão Khổ
Trang 4(1992), Khúc dạo đầu (1991), Đi tìm nhân vật (1992) và Thiên thần sám hối (2004) Xem ra anh còn dư lực viết dăm ba cuốn nữa” [15, tr 84]
Tháng 6 năm 2008, Viện văn học – Viện khoa học xã hội Việt Nam tổ
chức toạ đàm: “Tiểu thuyết Giã biệt bóng tối trong bối cảnh tiểu thuyết Việt
Nam đương đại” Đến với buổi tọa đàm có rất nhiều nhà phê bình uy tín Phần
lớn các ý kiến trong buổi tọa đàm cho rằng: Sau “Đi tìm nhân vật”, “Thiên
thần sám hối”, thì “Giã biệt bóng tối” là cuốn tiểu thuyết gây được sự chú ý
của bạn đọc… Giới nghiên cứu cũng ghi nhận những lỗ lực của Tạ Duy Anh trong việc đổi mới tiểu thuyết, cách tân nghệ thuật tự sự… Nhà giáo Hoàng
Thuỷ Hương cho rằng: “Xã hội ngày nay đã dân chủ hơn so với trước đây rất nhiều nên phải trân trọng tư tưởng và cách viết tự do của Tạ Duy Anh cũng như các nhà tiểu thuyết khác”
Trong lời nói đầu của cuốn “Thiên thần sám hối” của Nxb Hội nhà văn, có đoạn viết: “Ngay sau khi ra đời lần đầu tiên tại Nhà xuất bản Đà
Nẵng, tiểu thuyết “Thiên thần sám hối” đã thu hút mạnh mẽ sự chú ý của độc giả ở đủ mọi lứa tuổi Gần đây, 20 tờ báo trong và ngoài nước, bằng nhiều hình thức khác nhau đã nồng nhiệt chào mừng sự ra đời của cuốn sách, coi nó như một sự kiện văn học độc đáo Điều gì khiến một cuốn sách chỉ với độ dày hơn trăm trang mà lại tạo ấn tượng và mối quan tâm rộng lớn của dư luận trong bối cảnh bùng nổ thông tin như hôm nay đến vậy? Câu trả lời đang ở trên tay bạn, chỉ cần bạn mở sách ra, lắng theo câu chuyện của một đứa trẻ còn nằm trong bụng mẹ…”
Tạp chí Văn học, số 7 năm 2009, tác giả Đoàn Ánh Dương trong bài:
“Lối viết tiểu thuyết Việt Nam trong bối cảnh hội nhập (qua trường hợp Tạ
Duy Anh)” đã tập trung kiến giải cho câu hỏi: Tại sao lại chọn Tạ Duy Anh?
(qua trường hợp của Tạ Duy Anh), Tại sao lại chọn lối viết? Cuối bài, tác giả
Trang 5đã đi đến khẳng định: chọn Tạ Duy Anh là tác giả tiêu biểu cho khuynh hướng tiếp nhận ảnh hưởng tư duy tiểu thuyết Phương Tây là điều hợp lý,
Trong bài “Có hay không những dấu ấn hậu hiện đại trong văn học
Việt Nam sau 1986?” đăng trên báo Văn nghệ, số 49 năm 2007:
Tác giả Phùng Gia Thế khẳng định: “Văn chương Tạ Duy Anh là nỗi khắc khoải đi tìm bản ngã, tìm một giá trị thật sự nhân bản trên cái đời sống
đổ nát, điêu tàn, là sự loay hoay lí giải, hoá giải những nỗi đọa đày con người
từ tiền kiếp”
Nghiên cứu về Tạ Duy Anh, phải kể tới cuốn sách “Thế giới nghệ thuật
Tạ Duy Anh” Cuốn sách được tập hợp từ các luận văn:
Thứ nhất, “Tạ Duy Anh với việc làm mới nghệ thuật tiểu thuyết” của Nguyễn Thị Hồng Giang nghiên cứu về việc “làm mới” văn chương, “làm
mới” trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh; làm mới thực chất từ sự đổi mới tư
duy nghệ thuật tiểu thuyết
Thứ hai, “Thế giới nhân vật trong sáng tác Tạ Duy Anh” của Vũ Lê
Lan Hương đi sâu khám phá hành trình văn học Tạ Duy Anh; một thế giới nhân vật ngoại biên và những thủ pháp xây dựng nhân vật đáng chú ý trong sáng tác của Tạ Duy Anh
Thứ ba, “Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Tạ Duy
Anh” của Võ Thị Thanh Hà, nghiên cứu Tạ Duy Anh trong bối cảnh đổi mới
tiểu thuyết về con người và đặc sắc thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của ông
Thông qua các bài nghiên cứu, phê bình, giới nghiên cứu đã chỉ ra những giá trị độc đáo của sáng tác Tạ Duy Anh, những cách tân của ông về tư duy nghệ thuật tiểu thuyết và lối viết tiểu thuyết, nhưng chưa có công trình nào đi sâu vào tìm hiểu phương diện giọng điệu tiểu thuyết Tạ Duy Anh Coi giọng điệu như một yếu tính thể hiện tài năng của Tạ Duy Anh, tác giả khoá luận
Trang 6mạnh dạn triển khai đề tài nghiên cứu tập trung phương diện giọng điệu trong
các tác phẩm nổi tiếng của ông
3 Mục đích nghiên cứu
Khai thác và tìm ra biểu hiện về giọng điệu tiểu thuyết Tạ Duy Anh
Thông qua việc tìm hiểu này, thấy được cách nhìn cách cảm của nhà văn đối
với con người, cuộc đời và xã hội, thấy được chiều sâu nhân bản toát lên trong
các sáng tác của Tạ Duy Anh
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu những vấn đề lý luận về giọng điệu trong tác phẩm văn
chương, cụ thể là giọng điệu trong thể loại tiểu thuyết
Tìm hiểu biểu hiện của yếu tố giọng điệu và sự chuyển dịch của giọng
điệu trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh qua ba tiểu thuyết: “Lão Khổ”, “Thiên thần
sám hối” và “Giã biệt bóng tối” Qua việc tìm việc tìm hiểu này, giúp độc giả
thấy được nét độc đáo trong sáng tác của Tạ Duy Anh
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Giọng điệu trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh, qua một số tiểu thuyết tiêu
biểu: “Lão Khổ”, “Thiên thần sám hối”, “Giã biệt bóng tối”
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận đối tượng theo quan điểm thể loại
- Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
7 Đóng góp của khóa luận
- Đưa ra một cách có hệ thống những kiến thức lý luận về giọng điệu
- Nêu bật được đóng góp của Tạ Duy Anh về phương diện cách tân nghệ
thuật tiểu thuyết thời kì đổi mới, đặc biệt từ sau 1986
Trang 7- Chỉ ra được sự độc đáo trong phong cách nghệ thuật Tạ Duy Anh thông qua yếu tố giọng điệu Gợi mở một cách tiếp cận mới đối với sự nghiệp văn học của Tạ Duy Anh
Trang 8CHƯƠNG 1
KHÁI NIỆM GIỌNG ĐIỆU TRONG NGHIÊN CỨU
LÝ LUẬN VĂN HỌC
1.1 Giọng điệu trong đời sống
Trong đời sống, con người luôn có nhu cầu trao đổi thông tin, tâm tư, tình cảm với nhau Ngôn ngữ chính là công cụ và phương tiện hữu hiệu nhất giúp con người làm được điều đó Nếu các loài sinh vật trò chuyện với nhau
bằng các “kí hiệu”, thì con người lại dùng ngôn ngữ Thực chất ngôn ngữ cũng
là một kiểu kí hiệu Nhưng nó là một kiểu kí hiệu mang tính quy ước Nó phải được cộng đồng người trong một xã hội chấp nhận và sử dụng C Mac và Ph
Ăngghen cho rằng: “Ngôn ngữ là ý thức thực tại, thực tiễn, ngôn ngữ cũng
tồn tại cho người khác nữa, và như vậy là cũng tồn tại lần đầu tiên cho bản thân tôi nữa, và cũng như ý thức, ngôn ngữ chỉ nảy sinh ra do nhu cầu, do cần thiết phải giao dịch với người khác” [6, tr.8] Như vậy, ngôn ngữ là một
sản phẩm kết tinh trong đó “mối quan hệ người” Khi nói, người nói bao giờ
cũng muốn thể hiện một ý nghĩ, một cảm xúc, một thái độ hay một tình cảm nào đó Ví như khi cất lên một lời chào, người nói đã thể hiện được thái độ tôn trọng đối với người đang giao tiếp,… Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, trong quá trình giao tiếp của con người, cùng một câu nói, nhưng với mỗi người khác nhau lại có cách phát âm là không giống nhau Giọng của người này khác với của giọng của người kia Điều này chứng tỏ, giọng nói của con người thường mang âm sắc riêng, rất khó lẫn (nếu không cố ý) Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt trên, tuy nhiên có thể quy vào một số nguyên nhân sau: do đặc điểm cấu tạo của cơ quan cấu âm và cách nói của từng nguời không giống nhau Trong cuộc sống ta bắt gặp có người nói giọng trong, thanh; có người lại
nói giọng đục, khàn; có người ăn nói nhẹ nhàng, cũng có người “ăn to nói
lớn”… Không chỉ vậy, giọng của mỗi cá nhân còn chịu ảnh hưởng của vùng
Trang 9địa lý, văn hóa nơi người đó sinh sống Ở Việt Nam, do có sự phân vùng địa lý nên giọng của người miền Bắc khác với giọng của người miền Nam và khác với giọng của người miền Trung,…
Vậy giọng là gì? Từ điển tiếng Việt giải thích:
Giọng: 1- Độ cao thấp, mạnh yếu của lời nói, tiếng hát
2- Cách phát âm của một địa phương
3- Cách diễn đạt bằng ngôn ngữ, biểu thị thái độ, tình cảm nhất định
4- Gam đã xác định âm chủ
Trong đời sống, thường giọng được hình dung trước hết như một tín
hiệu âm thanh, có âm sắc, trường độ, cao độ Nó gắn liền với môi trường giao
tiếp và chủ thể giao tiếp, nó có khả năng tạo ra tính khu biệt Khái niệm giọng chủ yếu gắn với người, nói tới giọng là nói tới giọng người Giọng không đơn
thuần chỉ là một tín hiệu âm thanh, giọng bao giờ cũng bao hàm cả thái độ, tình cảm của người nói Hiểu theo nghĩa này, người ta đồng nhất khái niệm giọng
và giọng điệu “Giọng điệu là giọng nói, lời nói biểu thị một thái độ nhất
định” Như vậy, giọng mang đậm tính vật lí, còn giọng điệu lại được nhìn nhận
từ góc độ tâm lí Nhìn vào hai định nghĩa giọng và giọng điệu, ta thấy định
nghĩa giọng điệu trùng với nét thứ ba của định nghĩa về giọng Vì thế, tuỳ vào thực tiễn giao tiếp mà hai định nghĩa này thường bị đánh đồng Với cách hiểu như trên, có thể nói có bao nhiêu hoàn cảnh giao tiếp, nhân vật giao tiếp thì có thể có bấy nhiêu giọng điệu Giọng điệu thường thể hiện tâm tính của con người, phản ánh tâm trạng của họ Trong nhiều trường hợp cũng xuất hiện sự giả giọng, trong hoàn cảnh đó, người nói có chủ định từ trước
Tuy nhiên, trong cuộc sống, giọng điệu chỉ mang tính lâm thời Tức là giọng không có tính ổn định, mà luôn có sự thay đổi theo hoàn cảnh, không gian giao tiếp, thậm chí là tâm trạng của chủ thể phát ngôn: khi vui nói một
Trang 10giọng khác, khi buồn nói một giọng khác (sự thay đổi về âm sắc); ở chỗ đông người nói khác với ở chỗ ít người (sự thay đổi về cao độ, trường độ) … Điều này khác với giọng điệu trong tác phẩm văn chương Trong văn chương, giọng điệu không phải là sự đơn giản của những phát ngôn, mà bao giờ cũng là sự chọn lựa, tổ chức một cách công phu, và nó là kết quả của một quá trình sáng tạo thực thụ
Cũng cần chú ý, giọng điệu không chỉ bao hàm tình cảm, thái độ của người nói; nó còn thể hiện qua cách nói, nó in dấu ấn nghề nghiệp, giới tính và tuổi tác của chủ thể phát ngôn Trong cuộc sống, ta dễ dàng phân biệt được giọng trẻ con với giọng người lớn, giọng nam với giọng nữ, giọng một người
có học với giọng của người ít học, giọng một bác sĩ với giọng của một nhà doanh nghiệp,
Như vậy, trong cuộc sống hằng ngày để nhận ra người này hay người khác ta có thể căn cứ vào giọng nói của người đó Giọng nói, thể hiện được tình cảm, thái độ cũng như in đậm dấu ấn nghề nghiệp, trình độ của con người 1.2 Giọng điệu như một hiện tượng nghệ thuật
Giọng trong đời sống và giọng trong văn chương có giống nhau không? Điểm giống và khác của giọng điệu trong đời sống và trong văn chương là ở đâu? Tại sao lại nói giọng điệu là một hiện tượng nghệ thuật? Trước hết, ta cần nhận thức được rằng, giọng trong đời sống và giọng trong văn chương có nhiều nét tương đồng, nếu trong cuộc sống hằng ngày, dựa vào giọng nói ta có thể nhận biết được người đang nói là ai thì trong văn chương cũng vậy Bởi trong một tác phẩm văn học, giọng cũng mang đặc tính âm thanh Duy có điều, giọng trong văn chương không đơn giản là giọng của những nhân vật trong tác phẩm,
mà đó là sự tổng hợp của nhiều giọng nói để tạo nên giọng của người trần thuật Khi ấy giọng điệu trở thành một hiện tượng thẩm mĩ, một yếu tố cấu
Trang 11thành nên tác phẩm văn học, nó có cấu trúc và cơ chế vận hành phức tạp và đa dạng hơn nhiều so với giọng điệu trong đời sống xã hội
Bàn về giọng điệu, giới nghiên cứu văn học thường đề cập tới các thuật
ngữ: “ Voice” và “tone” Bách khoa thư Mỹ cho rằng: Voice “là âm thanh do
sinh vật phát ra” còn Tone “là âm thanh được xét trong sự can thiệp của trường độ, cường độ, âm sắc và âm lượng của nó” [2] M Bakhtin khi nói về
giọng điệu lại sử dụng khái niệm “Golos” - phát ngôn âm thanh mang tính cảm xúc, thái độ, lập trường của chủ thể Như vậy, giữa Voice và Tone, vừa có điểm chung, mang đặc tính âm thanh; vừa có điểm riêng biệt, voice đơn thuần mang đặc điểm âm thanh, còn tone bao hàm cả thái độ, cảm xúc của người nói Ngày
nay nói tới khái niệm giọng điệu, người ta hay hiểu theo nghĩa của thuật ngữ
tone
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Giọng điệu là sự thể hiện thái độ,
tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả, thể hịên trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm, ” [11, tr.134]
Tác giả Bích Thu lại hiểu: “Giọng điệu được thiết kế bởi mối quan hệ
thái độ, lập trường, tình cảm của người kể chuyện với các hiện tượng, sự kiện được miêu tả cũng như người nghe tạo thành giọng điệu trần thuật” [17,
tr.59] M.B Khrapchenco thì cho rằng: “Hệ số tình cảm của lời văn được biểu
hiện trước hết trong giọng điệu cơ bản”, “giọng điệu là một trong những yếu
tố quan trọng cấu thành nét đặc trưng cho mỗi loại hình lời văn nghệ thuật, đồng thời nó còn góp phần khu biệt đặc trưng phong cách của mỗi nhà văn” và
“giọng điệu chủ yếu không những loại trừ mà còn cho phép tồn tại trong tác
phẩm”
Trang 12Nhìn chung, tất cả các cách hiểu trên đều đi đến chung một kết luận, giọng điệu là yếu tố cơ bản tạo thành phong cách nghệ thuật của nhà văn
Phong cách nghệ thuật được hiểu như là một phạm trù thẩm mĩ “chỉ sự thống
nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc” [6, tr.170 – 171] M.B Khrapchenco cũng cho rằng, phong cách là một hệ thống phức tạp và
trong hệ thống ấy, điều cần chú ý đầu tiên là phải tính đến “sự tổng hợp của
những phương tiện giọng điệu”
Cần chú ý, khái niệm Tone không chỉ được dùng trong văn học mà còn
được dùng trong lĩnh vực hội hoạ, âm nhạc, nghĩa là nó được dùng một cách
khá rộng rãi Tone có thể được dùng để chỉ trường độ, cường độ, âm sắc của
giọng hát và tính chất của nó (giọng mượt mà, giọng nam cao, giọng nữ
cao,…) Lại có khi tone chỉ đặc điểm về hình thức, tính chất nhằm phân biệt các loại hình âm nhạc (điệu hát quan họ, điệu hát xoan,…) Trong hội họa, tone dùng để chỉ gam màu Trong nghệ thuật ngôn từ, giọng điệu không chỉ đơn
thuần bộc lộ qua âm thanh, nhịp điệu mà còn được bộc lộ qua màu sắc, đường nét, hình ảnh,…
Không phải lúc nào trong một tác phẩm văn học cũng chỉ có một giọng điệu thuần nhất, đơn điệu; mà bao giờ nó cũng là sự tổng hợp của rất nhiều sắc điệu Việc phân chia loại hình giọng điệu văn chương cũng rất phức tạp, căn cứ vào phương diện cấu trúc, người ta có thể chia thành giọng chính và giọng phụ,
“gam ngữ điệu chủ yếu” và sắc điệu bao quanh có tính bè đệm, đơn thanh và
đa thanh… nếu căn cứ vào sắc thái tình cảm, có thể nói đến giọng gay gắt hay bình thản, trang trọng hay suồng sã, mạnh hay yếu, kính cẩn hay châm biếm Nếu căn cứ vào dạng thức tình cảm sẽ có giọng bi, giọng hài, giọng anh hùng ca… Nếu chú ý đến khuynh hướng tư tưởng thì ta có thể thấy các loại giọng:
Trang 13thông cảm hay lên án, yêu thương hay tố cáo, khẳng định hay phủ định… Ngoài ra, nếu nhìn từ góc độ ngôn ngữ học, người ta có thể chia giọng thành: Giọng trần thuật, giọng nghi vấn, giọng cảm thán Tuy nhiên, về cơ bản, giọng điệu bộc lộ các sắc điệu tình cảm chủ thể phát ngôn Giọng điệu trong tác phẩm
gắn với cái giọng “trời phú” của mỗi tác giả, nhưng mang nội dung khái quát
nghệ thuật và phù hợp với đối tượng thể hiện Việc nhận diện giọng điệu trong một tác phẩm văn học không bao giờ là điều đơn giản Bởi giọng điệu là sự tổ hợp của rất nhiều yếu tố, nhiều khi giữa các yếu tố điểm nhìn, giọng điệu và phong cách có sự giao thoa khó phân biệt Vì vậy, khi xem xét rất cần có sự cảm nhận tinh tế của người đọc
Một tác phẩm văn học thường có giọng điệu chủ đạo và những giọng điệu khác Giọng điệu chủ đạo tạo thành âm hưởng chung, bao trùm lên toàn
bộ tác phẩm Nó quyết định nhiều khâu, nhiều yếu tố trong việc xây dựng tác phẩm Tìm được giọng điệu phù hợp sẽ giúp nhà văn kể chuyện hay hơn, thể hiện lí tưởng thẩm mĩ của mình sâu sắc hơn
Những nhà văn tài năng thường tạo nên trong sáng tác của mình một hệ
thống giọng điệu, một môi trường giọng điệu độc đáo M.B Khrapchenco khẳng định:“Đề tài, tư tưởng, hình tượng chỉ được thể hiện trong một môi
trường và giọng điệu nhất định đối với đối tượng sáng tác, đối với những mặt khác nhau của nó Hiệu xuất cảm xúc của lối kể chuyện, của hành động kịch, của lời lẽ trữ tình trước hết thể hiện ở giọng điệu chủ yếu vốn là đặc trưng của tác phẩm văn học với tư cách là một thể thống nhất hoàn chỉnh” [14, tr.167]
Như vậy, đặc trưng nổi bật của giọng điệu là màu sắc cảm xúc trong mối quan
hệ mật thiết với các yếu tố thuộc nội dung cũng như hình thức của tác phẩm
Khi nghiên cứu vấn đề giọng điệu để làm nổi bật giọng điệu trong tác phẩm văn chương, ta cũng cần phân biệt khái niệm này với các khái niệm có
liên quan như: nhịp điệu, ngữ điệu và nhạc điệu Trong nhiều trường hợp do
Trang 14không nắm vững nội hàm các khái niệm này mà nhiều người xác định sai biểu hiện của các yếu tố này trong sáng tác văn học
Trước hết, giọng điệu khác với nhịp điệu Nhịp điệu “là một phương
tiện quan trọng để cấu tạo hình tượng nghệ thuật trong văn học, dựa trên sự lặp lại có tính chất chu kì, cách quãng hoặc luân phiên của các yếu tố quan hệ tương đồng trong thời gian hay quá trình nhằm chia tách và kết hợp các ấn tượng thẩm mĩ” [11, tr.238] Trong văn học, nhịp điệu là sự lặp lại cách quãng
đều đặn và có thay đổi của hình tượng ngôn ngữ, hình ảnh, môtip,… nhằm thể hiện sự cảm nhận thẩm mĩ về thế giới, tạo ra cảm giác chuyển động của sự sống, chống lại sự đơn điệu, đơn nhất của văn bản nghệ thuật Nhịp điệu có vai trò rất quan trọng không chỉ trong thể loại thơ ca, mà cả trong lĩnh vực văn
xuôi Ju.N.Tynianov đã phân biệt khá chính xác nhịp điệu trong thơ và nhịp điệu trong văn xuôi Ông viết: “Trong văn xuôi (nhờ sự đồng thời của lời nói),
thời gian được cảm thấy rất rõ; hiển nhiên đó không phải là những tương quan
về thời gian giữa các sự kiện, mà chỉ là những tương quan có tính ước lệ Trong thơ ca, thì thời gian không thể cảm giác được Các tiểu tiết của chủ đề
và những đơn vị lớn của chủ đề đều được cân bằng nhau bởi cấu trúc chung của thơ” [14, tr.124 – 125] Trong chỉnh thể văn học, nhịp điệu là một phương
diện bộc lộ giọng điệu M Bakhtin từng nói: “Nhịp điệu làm cho mỗi thành tố
can dự trực tiếp với hệ thống giọng điệu của chỉnh thể” [4, tr.112]
Về bản chất, nhịp điệu gần với nhịp sinh học và nhịp tình cảm của con người Nhịp điệu tồn tại ở mọi cấp độ của tác phẩm văn học, trong thơ nó thể hiện rõ qua kiểu ngắt nhịp của luật thơ,… trong văn xuôi, nhịp điệu thể hiện qua cách phân chia chương, hồi, sự lặp lại của các đơn vị câu và ngắt nhịp trong bộ phận câu
Giọng điệu cũng khác với ngữ điệu Giọng điệu là phạm trù của thi pháp học, còn ngữ điệu là phạm trù của ngôn ngữ học
Trang 15Trong một phát ngôn, ngữ điệu thường thực hiện hai chức năng: phân biệt các kiểu thông báo, phân biệt các bộ phận của phát ngôn Ngữ điệu thường được chia thành: ngữ điệu cảm thán, ngữ điệu hỏi, ngữ điệu cầu khiến, ngữ
điệu mệnh lệnh, ngữ điệu liệt kê,… ngữ điệu thuộc phạm vi câu, giọng điệu lại
“phụ thuộc vào cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm, khuynh hướng nghệ thuật
của tác giả và của thời đại” (Trần Đình Sử) Ngữ điệu góp phần biểu lộ giọng
điệu
Khi tìm hiểu tác phẩm văn học, không nên đồng nhất giọng điệu và nhạc
điệu Nhạc điệu “là cấu tạo ngữ âm của lời văn nghệ thuật hình thành bởi vật liệu âm thanh của ngôn từ thể hiện đặc sắc của văn học như một nghệ thuật thời gian Yếu tố hình thái vật chất tạo nên nhạc điệu là điệp âm, điệp vận với các hình thức đa dạng của chúng: bằng, trắc, nhịp điệu, niêm, vần, đối, vần, yếu tố tượng thanh, ngữ điệu” [11, tr 224] Chức năng cơ bản của nhạc điệu là
làm cho câu văn thêm hay, thêm réo rắt, trầm bổng, còn “cái làm nên hồn của
nhạc điệu là sự liên tưởng của tổ chức âm thanh với cảm giác âm nhạc (nhạc cảm) trong lòng người” [11, tr.225] Trong lĩnh vực nghệ thuật, đặc biệt là
trong thơ, nhac điệu có vai trò vô cùng quan trọng Nhạc điệu trong thơ được tổ chức nhờ nhiều yếu tố: ngắt nhịp, gieo vần, phối thanh…
Tóm lại, tất cả những yếu tố: nhịp điệu, ngữ điệu và nhạc điệu mặc dù có
liên quan chặt chẽ tới giọng điệu; nhưng nhìn chung, chúng chỉ mới là những thành tố góp phần tạo nên âm hưởng và giọng điệu văn chương Hiển nhiên, khi khảo sát yếu tố này phải luôn luôn nhìn chúng trong mối quan hệ tương tác
và tương hợp với các yếu tố còn lại Mối quan hệ giữa các yếu tố này phải được nhìn trong sự toàn vẹn và thống nhất của một chỉnh thể nghệ thuật
1.3 Giọng điệu – yếu tố cơ bản biểu hiện phong cách nhà văn
Là sản phẩm mang tính cá biệt, độc đáo, kết tinh sự thăng hoa sáng tạo thực thụ của nhà văn, giọng điệu là một phương diện bộc lộ chủ thể sáng tạo
Trang 16Thông qua giọng điệu mà ta nhận biết được thái độ, tư tưởng, tình cảm và cách
đánh giá của nhà văn với đối tượng được miêu tả: “Do chỗ giọng điệu gắn liền
với việc miêu tả bằng hình tượng, đối tượng của sáng tác, cho nên nó có những đặc điểm của cách nhìn nhận riêng của cá nhân đối với cuộc sống Những người sành sỏi về văn học có thể căn cứ vào những đặc điểm về giọng điệu của một đoạn văn tự sự nhất định mà họ chưa từng biết hay căn cứ vào mấy dòng thơ của một bài thơ mới lạ để xác định tác giả của những tác phẩm ấy Ở đây yếu tố nội dung của giọng điệu được thể hiện khá rõ” [14, tr.119] Giọng điệu
trong những trường hợp này đã trở thành “chìa khoá” để “mở” tác phẩm Có
thể khẳng định rằng, giọng điệu là một yếu tố đặc trưng của hình tượng tác giả trong tác phẩm Ngoài đời, nếu nghe giọng nói của mỗi người mà ta nhận biết được chủ thể phát ngôn là ai thì trong văn học, giọng điệu lại là yếu tố giúp ta nhận diện tác giả
Văn thực sự phải là văn có giọng điệu riêng Mỗi nhà văn phải tạo ra
được giọng điệu riêng cho mình Turghenhep cho rằng: “Cái quan trọng trong
tài năng văn học… Vâng, vả lại, tôi nghĩ rằng, cũng có thể trong bất kỳ tài năng nào, là cái mà tôi muốn gọi là giọng điệu của mình Vâng, cái quan trọng
là giọng nói của mình Quan trọng là những giọng nói riêng biệt, sống động của mình, cái mà không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kỳ một người nào khác,… để có thể nói được như vậy và có được chính cái giọng đó cần phải có chính cái cổ họng được cấu tạo một cách đặc biệt Cái đó cũng như ở loài chim vậy… Chính ở chỗ đó là điểm khác biệt chủ yếu của một tài năng độc đáo, sống động” [14, tr.60] Nêmirôvich - Danchencô đã tuyên bố: “Trong một
vở kịch hay bao giờ cũng có giọng điệu riêng của tác giả Nếu không có giọng điệu riêng, tức là tác giả không có tài năng” [14]
“Văn học là nghệ thuật ngôn từ” - chân lý giản dị ấy ai cũng
hiểu Nhưng theo nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến thì “ngôn từ không chỉ
Trang 17bao gồm từ, mĩ từ Trong tác phẩm văn học, câu văn phải có hồn ( ) Câu văn
có hồn là câu văn có giọng, có ngữ điệu, bởi vì từ ngữ của bài văn được chọn
có thể thông báo nhiều điều quan trọng nhưng bài văn không có giọng điệu đọc lên vẫn nhạt nhẽo vô vị Sự phong phú, tính đa nghĩa, ý vị đậm đà của bài văn trước hết là ở giọng Năng khiếu văn ở phần tinh tế nhất là ở năng lực bắt được trúng cái giọng của văn bản mình đọc và tạo ra được giọng đích đáng cho tác phẩm mình viết” [10]
Giọng điệu là một phạm trù thẩm mĩ vừa cụ thể, lại vừa trừu tượng Người đọc cảm nhận giọng điệu của tác phẩm qua những yếu tố ngôn ngữ cụ thể (như cách gọi tên, xưng hô, từ ngữ miêu tả, lời bình luận, lời trữ tình, ) Đồng thời, thông qua giọng điệu mà nhận ra tất cả chiều sâu tư tưởng, thái độ,
vị thế, phong cách, tài năng cũng như sở trường ngôn ngữ, cảm hứng sáng tạo của người nghệ sĩ
1.4 Những phương thức biểu hiện chung của giọng điệu trong văn học
Tìm hiểu giọng điệu trong văn chương, vấn đề đầu tiên cần phải quan tâm đó là mối quan hệ giữa chủ thể sáng tạo và khách thể được phản ánh
Trước hết, giọng điệu gắn bó mật thiết với chất thể, chủ thể sáng tạo và
đối tượng được phản ánh Văn bản văn chương là một tổ chức của các kí hiệu
ngôn ngữ Nói khác đi, văn chương là nghệ thuật của ngôn từ, lấy ngôn từ làm
chất liệu để xây dựng hình tượng nghệ thuật, tác phẩm văn học đã đạt được hiệu quả nghệ thuật lớn lao mà không ngành nghệ thuật nào có thể có được Chính ở phương diện này, tác phẩm văn học có khả năng khái quát hiện thưc một cách toàn diện và triệt để Cũng xuất phát từ đặc trưng này, tựa vào ngôn
từ, văn học thể hiện giọng điệu của chủ thể sáng tạo theo cách riêng của mình Một kí hiệu ngôn ngữ bao giờ cũng có hai bình diện:
a) Bình diện cái biểu hiện (hình thức)
b) Bình diện cái được biểu hiện (nội dung)
Trang 18Bình diện cái biểu hiện có hai yếu tố: hình thức của cái biểu hiện (cái đang hiện ra trước mắt, đó là lời văn nghệ thuật) và chất thể của cái biểu hiện (chữ viết, đọc hoặc truyền khẩu) Bình diện cái được biểu hiện cũng có hai yếu tố: hình thức của nội dung (bao gồm cả khối và diện của nội dung tác phẩm được tổ chức theo cách nào) và chất thể của nội dung (nội dung tư tưởng tác phẩm là cái nhìn của nhà văn đối với đời sống)
Giọng điệu văn chương phụ thuộc rất nhiều vào hai bình diện trên Bởi cùng một cái được biểu hiện (nội dung) nhưng mỗi một nghệ sĩ lại có hình thức thể hiện và sở trường sử dụng ngôn ngữ riêng
Mặt khác giọng điệu còn phụ thuộc vào đặc điểm tâm hồn nhà văn Mỗi
nhà văn có sở trường, có cá tính và sở thích riêng, bởi thế họ có cách nhìn, cách cảm và có những ưu thế riêng Sáng tác của họ, vì thế mà mang những vẻ
đẹp không trộn lẫn Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét: “Mỗi nhà
văn có một cái tạng riêng, có một chất tâm hồn riêng, nó tạo nên một thứ nam châm riêng để bắt lấy những gì thích hợp với nó” Đặc điểm tâm hồn của người
nghệ sĩ sẽ xác định và khoanh “vùng sáng tác”, khoanh “vùng thẩm mĩ” trong
sáng tác của họ Cách cảm thụ thế giới của nhà văn cũng do sự quy định của nhiều yếu tố: cá tính, sở thích, nhịp “sinh học”, môi trường văn hoá, giáo dục, Ngoài ra, giọng điệu có quan hệ mật thiết với cảm hứng sáng tạo của
người nghệ sĩ Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến trong bài viết Giọng điệu
trong văn chương đã lí giải mối quan hệ giữa cảm hứng và giọng điệu như sau:
“Cảm hứng nào, giọng điệu ấy nhưng cũng có thể ngược lại, giọng điệu định
hướng hình thành cảm hứng”
Giọng điệu còn phụ thuộc rất nhiều vào đối tượng được miêu tả
Hiện thực được nói tới trong tác phẩm là sự vật, hiện tượng nào, có ảnh hưởng và chi phối rất lớn tới việc xác lập giọng điệu cho tác phẩm Bởi miêu tả
và phản ánh đối tượng nào phải có giọng điệu phù hợp với đối tượng ấy Chẳng
Trang 19hạn, miêu tả con người giọng phải khác với miêu tả thiên nhiên, miêu tả cảnh mùa xuân giọng phải khác với miêu tả cảnh mùa thu, miêu tả cái hài giọng phải
khác với miêu tả cái bi, Turgeniev từng nhấn mạnh: “Tái hiện một cách
chính xác và mạnh mẽ sự thật hiện thực của cuộc sống là hạnh phúc cao nhất đối với nhà văn, dù cái sự thật ấy không phù hợp với thiện cảm của nhà văn chăng nữa” [ 18, tr 93] Có thể hiểu một cách đơn giản ý kiến trên như sau:
không phải lúc nào cái chủ quan của người nghệ sĩ cũng chiến thắng hoàn toàn, trong nhiều trường hợp cái khách quan làm thay đổi ý đồ sáng tạo ban đầu của nhà văn Thực ra, đây chính là sự tương tác giữa yếu tố chủ quan và khách quan trong quá trình sáng tạo nghệ thuật Cái khách quan và cái chủ quan bao giờ cũng có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung, hỗ trợ nhau cùng nhau quy định, chi phối tới quá trình sáng tạo của người nghệ sĩ Lẽ tất nhiên, như trên đã đề cập yếu tố quan trọng nhất để tạo nên giọng điệu vẫn là yếu tố chủ quan, xuất phát từ điệu tâm hồn, cách cảm nhận và đánh giá thế giới của người nghệ sĩ
Không chỉ phụ thuộc vào mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể, giọng
điệu còn phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm thể loại
Mỗi thể loại văn học, do bản chất đặc trưng, mang sẵn trong mình
những tiền đề tạo ra giọng điệu phù hợp cho nó Theo M Bakhtin, nếu thơ ca
là thể loại “khép kín”, đơn thanh; thì tiểu thuyết lại là thể loại “chưa bị đông
cứng lại”, đa giọng, đa âm Với thể loại tiểu thuyết, giọng điệu thường mang
tính suồng sã, tự nhiên, thân mật, gần gũi, nó không chịu sự quy định khắt khe
như giọng điệu trong sử thi Khi nghiên cứu về tiểu thuyết, M Bakhtin nhận
thấy ba đặc điểm sau đây khiến cho tiểu thuyết trở thành thể loại năng động giàu sức sống nhất trong các thể loại đã biết
a - Tính ba chiều có ý nghĩa phong cách học tiểu thuyết gắn liền với ý thức đa ngữ được thể hiện trong tiểu thuyết Thực ra, tính đa ngữ vốn tồn tại từ
Trang 20lâu nhưng chưa thực sự trở thành một nhân tố sáng tạo Phải đến thời hiện đại tiểu thuyết mới bắt đầu thúc đẩy sự phát triển của ngôn từ, trao cho ngôn từ những quyền năng mới
b - Sự thay đổi cơ bản các toạ độ thời gian của hình tượng trong tiểu
thuyết Nếu như với sử thi, hiện thực đương thời là hiện thực “hạ đẳng”, chỉ có
quá khứ tuyệt đối mới có ý nghĩa thì tiểu thuyết đã làm một cuộc đảo lộn ngoạn
mục Cái hiện thực “hạ đẳng” kia chỉ là khu vực của lĩnh vực “cười cợt -
nghiêm túc” đã trở thành yếu tố làm nảy sinh một thể loại cường tráng sau này: tiểu thuyết!
c - Sự tiếp xúc tối đa với cái hiện đại (đương đại) thì chưa hoàn thành Ở
đây “tính vấn đề” mới là đặc trưng của tiểu thuyết, nó buộc tiểu thuyết phải
luôn luôn kiến giải, đánh giá lại thế giới
Trong quá trình nghiên cứu, M Bakhtin luôn chia tiểu thuyết thành hai loại: Tiểu thuyết đơn thanh và tiểu thuyết đa thanh Ở tiểu thuyết đơn thanh,
vai trò của tác giả là tuyệt đối, thì ở tiểu thuyết đa thanh, vị thế của tác giả và nhân vật là ngang hàng, bình đẳng với nhau Như vậy, sự thay đổi về thể loại,
sẽ kéo theo sự thay đổi của các yếu tố khác trong tác phẩm: kết cấu, nhân vật, nghệ thuật trần thuật Nói khái quát hơn, chính thể loại sẽ quy định giọng điệu phù hợp cho tác phẩm Khác với sử thi và thơ ca, tiểu thuyết có cách bộc lộ giọng điệu riêng Điều này trước hết xuất phát từ đặc trưng của thể loại: Tiểu thuyết lấy đời sống riêng tư làm đối tượng quan sát và miêu tả, chính vì vậy nó hấp thụ và phản ánh tất cả hiện thực của cuộc sống trong sự đa chiều, đa dạn,
nó không phải là thể loại “khép kín” Đúng như M Bakhtin nói, tiểu thuyết là thể loại chưa xong, nó sẽ còn thay đổi nhiều trong văn học
Tóm lại, giọng điệu là một phương diện cơ bản cấu thành hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn học Nó cũng là thước đo không thể thiếu để xác định tài năng và phong cách độc đáo của người nghệ sĩ Khoá luận này đi sâu vào
Trang 21những vấn đề lý luận về giọng điệu trong tiểu thuyết Để tập trung làm nổi bật vấn đề, chúng tôi tập trung tìm hiểu giọng điệu tiểu thuyết thời kì cao trào đổi mới từ sau 1986 Bởi đây là thời kì văn học có bước chuyển mình nhanh chóng, tiểu thuyết thu được nhiều thành tựu nổi bật và có nhiều sự đổi mới quan trọng trong nghệ thuật biểu hiện
Trang 22CHƯƠNG 2 GIỌNG ĐIỆU TRONG TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH
Văn chương, trước hết là nghệ thuật của ngôn từ, là cách nói bằng ngôn ngữ Gắn liền với cách nói đó là thái độ, là giọng điệu của nhà văn ẩn sau các
kí hiệu, các “mã”nghệ thuật Có thể nói, trong các sáng tác ưu tú giọng điệu
bao giờ cũng mang tính chất lượng, là sản phẩm sáng tạo đích thực của nhà
văn Tuy nhiên, tác phẩm văn học bao giờ cũng là một “quá trình” Nghĩa là
tác phẩm văn học chỉ là chính nó khi nó được tiếp nhận, nó luôn kêu gọi sự đồng sáng tạo ở bạn đọc Điều quan trọng với bạn đọc là phải bắt được thật
“trúng” giọng của người nghệ sĩ Tạo ra trong tác phẩm của mình một hệ thống
giọng điệu, một môi trường giọng điệu vừa độc đáo, vừa phong phú là thước
đo quan trọng đánh giá tài năng nghệ thuật của nhà văn
Hệ thống giọng điệu trong tác phẩm văn học bao giờ cũng có sự phân cấp Như phần trên đã nói, giọng điệu phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt nó
có quan hệ mật thiết với điệu tâm hồn của nhà văn, với cảm hứng sáng tạo của người nghệ sĩ Khi giọng điệu gặp gỡ và có sự trùng khít với tâm hồn nhà văn, lúc đó xuất hiện giọng chủ âm Còn khi giọng điệu không trùng, không bắt nhịp với điệu tâm hồn nhà văn, thì đó là giọng mượn, giọng giả, hay đó là những sắc điệu bè đệm bao quanh giọng chủ, giọng chính Tuy nhiên, dù là giọng chủ hay giọng mượn, chúng đều nằm trong một hệ thống nhất thể, không mâu thuẫn, độc lập mà gắn thành một khối đông kết, không tách biệt
Ngày nay trong xu thế của sự cách tân, các nhà văn có khuynh hướng
tìm cho mình một hướng đi mới, một sự thể hiện riêng Nguyên Ngọc có viết:
“Hình như đang có sự cố gắng hình thành một giọng điệu mới của người viết –
một cố gắng còn khó nhọc, chưa định hình Đó là sự xuất hiện ngày càng rõ hơn giọn điệu mỉa mai, đùa bỡn, giễu cợt, thậm chí đôi lúc“chợ búa”, phá bỏ
Trang 23cái tính nghiêm nghị, mực thước, phá đổ các “thần tượng ngôn từ” Nó đang
đi đến chỗ mỉa mai, tự chế giễu, và ta biết điều này là hết sức quan trọng cho
sự tự vấn” Rõ ràng, tiểu thuyết đang trên đà đổi mới mạnh mẽ về giọng điệu,
có sự chuyển hướng, tung hứng về giọng điệu
Phần tâm huyết và sâu sắc nhất của triết lí Tạ Duy Anh trong sáng tác
của ông đó là tập trung vào vấn đề: “Tại sao con người lại đánh mất mình?”
Vì vậy, độc giả nghiệm thấy trong tác phẩm của ông những chiêm nghiệm sâu
xa, thấm thía, đậm tính nhân văn về đời sống và thời cuộc: “Hãy tránh sự tái
diễn tương tự bởi vì lịch sử luôn có nguy cơ lặp lại” và hãy biết: “đòi cho con người cuộc sống mà họ xứng đáng được hưởng” Cảm hứng chủ đạo trong
sáng tác của Tạ Duy Anh là những khát khao cháy bỏng con người được sống xứng đáng với danh hiệu cao quý của con người, được sống cuộc sống mà đáng
ra con người được hưởng Số phận con người - những dấu ấn của cuộc nhào nặn dữ dằn, nghiệt ngã của lịch sử, đang quằn quại trong những đau đớn khôn nguôi trước sự băng hoại và xuống cấp của đạo đức Do sự ảnh hưởng của cảm hứng chủ đạo và cách nhìn cuộc đời như trên, Tạ Duy Anh đã tạo nên một hệ thống giọng điệu hết sức phong phú và đa dạng trong sáng tác của mình, trong
đó nổi lên một số giọng chủ, giọng chính Ngoài ra còn rất nhiều sắc điệu bao quanh Tìm hiểu giọng điệu trong một số sáng tác chính của ông ta thấy xuất hiện những giọng điệu chủ yếu sau:
2.1 Giọng quan hoài, da diết
Trong cao trào đổi mới, khuynh hướng “nhận thức lại” đã hình thành rất
đậm nét Gắn liền với những đánh giá khách quan về những được mất của con người, của dân tộc trong và sau chiến tranh, văn xuôi cũng xuất hiện giọng trầm lắng, xót xa với âm hưởng chủ đạo là môtip về nỗi đau, sự cô đơn và
những ưu tư của người nghệ sĩ trước những “bể dâu” của số phận, nhân tình
Vì thế, văn học sau 1986, nói nhiều đến nỗi đau, đến mất mát của từng cá nhân
Trang 24cụ thể Giọng văn do đó mà lắng xuống, câu chữ như gẫy vụn, vỡ òa trước sự thúc ép của rất nhiều xót xa, thương cảm
Đọc tiểu thuyết Tạ Duy Anh, ta cảm nhận rất rõ chất giọng này Nó có khi lan toả thấm vào từng trang văn, từng câu chữ; có khi vang lên trong những lời trữ tình ngọai đề thiết tha sâu lắng, nhưng cũng có lúc lại thâm trầm toát lên
từ âm hưởng chung của những số phận, những cuộc đời mỏi mòn, quẩn quanh, đầy bất hạnh
Cuộc đời Lão Khổ trong truyện ngắn cùng tên được Tạ Duy Anh kể bằng
giọng buồn thương da diết, đầy nuối tiếc và bồi hồi xúc động; đôi khi xen cả
chất giọng chua chát, ngậm ngùi, cay đắng Lão Khổ được coi là hiện thân của
lịch sử, cuộc đời lão đã trải qua bao cung bậc thăng trầm của một kiếp người:
“Lừng danh một thời, ba đào một thời và lụn bại một thời” Đi tìm nguyên nhân long đong của của cuộc đời lão, tác giả đã đưa ra giả thuyết: “Lão long
đong vì không biết nói dối”, lão cứ sống hồn nhiên với nhân cách, chân lí riêng
của mình, và tất yếu cuộc đời đen bạc không thể chấp nhận một nhân cách sống như thế Do đó, lão vừa trở thành nạn nhân của cuộc đời vừa trở thành nạn
nhân của chính mình Lão cô đơn, lạc lõng ngay giữa cuộc đời: “Lão mù loà
ngay trong cộng đồng của lão Có một cuộc sống bất chấp qui tắc vẫn diễn ra, trong đó lão bị căm ghét và thương hại” Lão Khổ của một thời được tung hô,
một thời được ngợi ca, nay bị chính cộng đồng “luận tội”, lão bị cộng đồng
“đấu tố” Số kiếp lão đúng như lão đã từng nghiệm ra: “Đa phần những việc đời lão làm đều có kết quả trái với ý định của lão” hay “Mẹ kiếp! Lão nghĩ - kiếp người thật ra chẳng sung sướng gì” [2, tr.7] Giọng quan hoài, da diết chủ
yếu tập trung thể hiện sự nuối tiếc của lão Khổ về một thời vàng son đã qua Vì
thế, nó mang âm sắc ngậm ngùi, thương cảm
Đến với “Thiên thần sám hối”, người đọc lại bắt gặp giọng điệu quan
hoài, da diết, buồn thương và chua chát Tất cả những gì đang diễn ra ngoài
Trang 25cuộc sống được bào thai lắng nghe và chiêm nghiệm Trong thời gian “trì
hoãn” sự ra đời, bào thai đã được nghe kể về biết bao cảnh đời, biết bao số
phận Điểm chung của những số phận này là sự bất hạnh Họ chính là những nạn nhân của cuộc đời Sự xuống dốc nhanh chóng của lối sống, sự băng hoại
về đạo đức trong xã hội đã ảnh hưởng, chi phối, và quyết định số phận của họ Đọc tác phẩm, người đọc không thể tránh khỏi cảm giác ngỡ ngàng và rùng mình ghê sợ trước mảng hiện thực được phản ánh Đằng sau những sự thật có phần khắc nghiệt và dữ dội ấy, ta thấy cận cảnh những số phận đang rên xiết
Đó là câu chuyện về người đàn bà, sau khi đã cho người tình “tráng men” và bị phụ tình thì cay đắng và chua xót kêu lên: “Giá em là yêu tinh thì tốt biết mấy
Em sẽ cấu cổ hút máu từng thằng đàn ông Làm người hóa ra khốn nạn nhất chị ạ” [3, tr.14] Qua câu chuyện kể của bà Phước, câu chuyện về về một
người phụ nữ bị chồng ngược đãi, phải bỏ lên thành phố kiếm ăn, chung đụng với bốn bố con gã xe ôm, đẻ ra bốn cái bọc và đồng ý cho người ta ngâm cồn bốn đứa con chưa thành người để lấy bốn triệu, người đọc bị ám ảnh bởi một mảng hiện thực cay nghiệt và quá tàn khốc Giọng quan hoài, da diết vì thế mà
toát lên một cách đầy chua xót, đau đớn
Giọng quan hoài da diết cũng được sử dụng khi nhà văn xây dựng nhân vật Tác giả đã luôn đặt nhân vật của mình trong các mối quan hệ xã hội, để từ
đó nhân vật tự bộc lộ bản chất, tính cách của mình, từ đó làm nổi bật lên vấn đề
mà tác phẩm quan tâm Một chàng trai, sẵn sàng phản kháng bằng một thái độ quyết liệt khi được lên chức bố; bởi với anh ta, sự ra đời của đứa con là một tai
hoạ, một thứ của “nợ”, nó đánh một dấu chấm hết lên cuộc đời hắn: “Mày vào
dúi cho con mụ đang làm phiếu chứng sinh chỗ tiền này Bảo mụ đặt thằng bé
là Khốn Nạn, mục người bố thì khai: Hy sinh” Một thanh niên sẵn sàng giết
bố mình khi biết được sự thật “Ra là thế! Tôi ra đời trong sự nguyền rủa của
các người” Để có việc làm, có một chỗ đứng trong xã hội, người ta phải đánh
Trang 26đổi bằng thân xác của mình, đánh đổi cả quyền được làm cha làm mẹ để suốt đời phải sống trong day dứt khôn nguôi
Tất cả những vấn đề bức xúc trong cuộc sống hôm nay đều đựơc “khúc
xạ” trong sáng tác của Tạ Duy Anh; để phản ánh được sự phong phú cũng như
phức tạp trong quan hệ xã hội hiện đại, giọng quan hoài da diết là một chất giọng có khả năng diễn đạt rất có hiệu quả
Đọc “Giã biệt bóng tối”, ta lại thấy giọng quan hoài, da diết mang sắc
điệu thống thiết Giọng điệu trần thuật ở đây thể hiện rõ nét qua cách xưng hô,
mỗi nhân vật xuất hiện với một cách xưng hô riêng, có người xưng tôi, có người xưng tao Kể về nhân vật xưng tôi, tác giả đã khắc đậm dấu ấn của một cuộc đời đầy tủi nhục Tôi đã phải trải qua biết bao cay đắng tủi hờn: chưa một
lần được biết mặt mẹ, bà mất, nó lang thang để kiếm ăn,… Nhưng trong xã hội đầy rẫy những lọc lừa, muốn được sống yên ổn mà đâu có được, nó phải đi lang thang để kiếm sống, thậm chí phải ngủ trên hè phố Tuy nhiên, đối với nó
ngay cả một chỗ ngủ “mạt hạng” là một gốc cây cũng không có được bởi trong
xã hội này, mọi thứ đều đã bị người khác xí phần Nhân vật có lúc mang tâm trạng đầy mặc cảm tủi hờn
Giọng quan hoài, da diết là giọng chủ đạo trong sáng tác của Tạ Duy Anh, nhưng từ giọng điệu vang lên như nốt nhạc chủ âm ấy, ta vẫn nhận ra ở
mỗi tác phẩm cụ thể những sắc thái riêng Cùng là giọng quan hoài, da diết, ở
“Lão Khổ” là giọng quan hòai ngậm ngùi pha với nỗi buồn, bơ vơ cay đắng
của một con người cống hiến trọn đời cho cách mạng, cho cộng đồng để nhận
lại sự thất bại, sư lạc lõng Trong “Thiên thần sám hối”, đó là giọng quan
hoài, da diết buồn thương day dứt hoà lẫn với niềm xót xa, chua chát, đầy đớn đau nhưng nhân vật vẫn giữ được niềm tin và hy vọng: “Phải tranh đấu đến cùng - cuộc sống không thể dừng lại Nó phải được tiếp tục mạnh mẽ, tươi đẹp, đầy ý nghĩa ngay cả khi mình không còn trên thế gian này Con ơi, hãy cho mẹ
Trang 27có cơ hội để sám hối về một lần mẹ đã chối bỏ con” [3, tr.109] Sang “Giã biệt bóng tối”, giọng quan hoài, da diết lại pha lẫn với sắc điệu thống thiết Có thể
nói, sự lựa chọn giọng điệu của Tạ Duy Anh thật chính xác và tinh tế Nó phù hợp với việc khắc họa những cảnh đời đầy bất hạnh, tủi hờn Đồng thời cũng bộc lộ sâu sắc và chân thành tình cảm của nhà văn đối với nhân vật, đối với sự xuống dốc mạnh mẽ của đạo đức xã hội
2.2 Giọng bỗ bã, dung tục
Điểm gây ấn tượng mạnh nhất đối với bạn đọc trong sáng tác của Tạ Duy Anh, đó là thứ ngôn ngữ đời sống đang bị xuống cấp trầm trọng Chính hệ thống ngôn ngữ này đã tạo cho tác phẩm của ông có được sức hút kì lạ Sáng tác của Tạ Duy Anh không có những mĩ từ, ngược lại ngôn ngữ được dùng rất gần vói lời ăn tiếng nói hằng ngày Từ thứ ngôn ngữ này, Tạ Duy Anh đã dùng
phổ biến chất giọng bỗ bã, dung tục Trong “Lão Khổ”, nó toát lên từ tiếng chửi cay nghiệt: “Mẹ kiếp! Mẹ kiếp! Đã thế ông đếch thèm sống nữa” [2, tr.7] Hay “Đ.mẹ thằng khổ ăn gan uống máu người…” Tiếng chửi cất lên như một
sự phản kháng, sự trả thù đời, trả thù người Ở làng Đồng không khí lúc nào cũng ngột ngạt, ngột ngạt bởi con người luôn mang nặng sự hằn thù, lúc nào
cũng bị ám ảnh bởi suy nghĩ phải trả thù: “Thằng trời đánh thánh vật! Đời tao,
đời con cháu tao tàn lụi vì mày Mày giỡ bàn thờ tổ tiên tao cho lũ mọi rợ làm chuồng lợn Quân khốn kiếp! Chỉ ít hôm nữa luật quả báo sẽ ứng nghiệm: Mày
sẽ chết bởi chính những gì mình cố công tạo ra A ha! Nhân dân sắp xét xử mày… Tổ sư bố cả ổ cả ê nhà mày”
Giọng dung tục xuất hiện với tần số đậm đặc ở “Thiên thần sám hối”
Có lẽ, chất giọng này đã rất phù hợp trong việc giúp nhà văn khái quát một cách chính xác và đầy đủ diện mạo của cuộc sống Dãy nhà dành cho sản phụ bỗng chốc trở thành một cái chợ lớn, với đủ mọi tạp âm hỗn tạp, đủ mọi giọng:
Giọng bà hộ lí “the thé”, “khàn khàn” lời lẽ cộc lốc: “chồng đâu?’’, “đi tây
Trang 28hả?’’, “ngừng giao hợp từ bao giờ?” Giọng chửi rủa của những người mẹ
mang trong mình nỗi đau trước cơn vựơt cạn và cả nỗi đau khi bị phụ tình:
“Thằng chó họ Sở nó lừa em Nó có vợ con ở quê rồi mà em thì cả tin”; giọng
hả hê vui sướng của người đàn bà khi trút được đứa con như trút được một
gánh nặng: “Thằng chó, con mày đấy, đến mà nhận về Bà hết việc với mày rồi
Bà xoá nợ cho mày…” Giọng chê bai, hợm hĩnh của những kẻ nhiều tiền, nhìn
mọi thứ với thái độ đầy khinh miệt: “Xì, đây mà là phòng đẻ ư? Nhà trọ bến xe
thì có…”, “kinh sợ! Phòng đẻ y như nhà trọ!” [3, tr 31.32]; giọng bất cần, thô
lỗ, trơ tráo của những gã họ Sở: “Tiên sư bọn chó!”, “Tởm quá!”, “Thế là hết
mẹ nó đời rồi”; nhưng cũng có cả giọng đau xót, tức tưởi của người mẹ bị mất
con: “Em phải gánh ác nghiệp do chồng em gây ra (…) Em nằm mơ thấy ả cầm
con dao thái thịt, ả đâm em một nhát Em cố ôm bụng, cho đến khi thấy nóng hổi ở bẹn, ở mông” Đó còn là tiếng chửi cay cú của “papa" Hữu - một dê già
luôn nhìn cấp dưới bằng ánh mắt thèm thuồng của một kẻ háo sắc, khát khao đầy dục vọng, khi không đạt được mục đích thì sẵn sàng văng tục, chửi thề:
“Đ.mẹ cái thằng nào nghĩ ra từ papa Thà em cứ gọi tôi là cún con Hữu, Hữu
mặt lưỡi cầy tôi còn dễ thở hơn”
Với “Giã biệt bóng tối”, một lần nữa người đọc nhận thấy trong đây thứ
ngôn ngữ đã xuống dốc một cách trầm trọng Hàng loạt những từ, những ngữ của bọn vô đạo đức được tung ra Theo nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu, tác
phẩm này thừa tiếng chửi Đó là tiếng chửi đời, chửi chính số phận “khốn nạn
của mình” Giọng bỗ bã, dung tục còn được nhà văn sử dụng để nhân vật thể
hiện thái độ coi thường khinh miệt đối với loại người vô lương tâm, tàn nhẫn
Đó là giọng chua ngoa của ả gái làm tiền: “Các vị tưởng mình cao giá lắm
chắc? Một lũ đạo đức giả thối thây chứ hơn gì? Một lũ mất cả khả năng làm đĩ thì đành đóng vai các ông lớn, bà lớn đây lạ gì”, lời đáp của một người nào đó
trong đám đông: “Nhét cứt vào mồm nó cho tôi, tội vạ đâu tôi chịu…” Giọng