HS nhận thức thế giới thông qua tài liệu học tập, được chọn lọc từ các thành quả của nền văn minh nhân loại và sắp xếp theo một chương trình.. Như vậy qua thực tiễn DH ở trung tâm CN Giả
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
* Chương trình SGK hiện nay có kiểu cấu trúc riêng: Các VB văn học được sắp xếp theo kiểu VB và cụm thể loại có kết hợp tiến trình lịch sử văn học Việc sắp xếp theo cấu trúc thể loại có tác dụng giúp cho HS hiểu kĩ, hiểu sâu từ VB đến TP Điều này qui định về PPDH Nhưng những vấn đề xung quanh việc dạy và học văn vẫn chưa được tường minh, chưa được làm rõ, đặc biệt là vấn đề dạy văn theo loại thể DH theo loại thể là phải xác định được đặc trưng của loại thể sau đó hướng dẫn HS đọc hiểu thông qua đặc trưng loại thể đó Tìm hiểu theo loại thể là công việc rất khó khăn vì vậy mà các công việc đó phải được tường minh, làm rõ, phải sắp xếp thành HĐ cụ thể theo lôgíc HS mới có thể làm được Vậy làm thế nào để xây dựng được qui trình dạy đọc hiểu VB theo thể loại là một vấn đề cấp thiết Đây chính là cách làm của DH theo hướng CN
Mặt khác, trong thời đại ngày nay CNTT phát triển như vũ bão Những thành tựu kì diệu của nó đã tác động đến mọi lĩnh vực trong đời sống CNTT_ công cụ đa năng thể hiện trình độ của thời đại, lĩnh vực nào khước từ nó thì
lĩnh vực đó sẽ lạc hậu và tụt lùi Đặc biệt, đối với giáo dục đào tạo “CNTT là
chìa khóa vạn năng để mở cánh cửa tri thức” vì thế mà những thành tựu tiên
tiến của nó đều phải dành cho giáo dục, phải ưu tiên cho giáo dục DH theo hướng CN trở thành nhu cầu bức thiết và đặc biệt DH theo hướng loại thể không thể không quan tâm đến CN
* DH phải tích cực hóa HĐ hoc tập của HS, tức là phải tăng cường HĐ cho người học, tìm HĐ cho người học và HĐ đó phải cụ thể, lôgíc, có qui trình Nhưng hiện nay việc DH ở phổ thông còn nhiều bất cập: khâu dạy của thầy còn có những hạn chế như thầy giáo chưa xác định được rõ ràng công việc của mình Còn về phía HS, yêu cầu HS tự học nhưng lại chưa xây dựng
Trang 2được những công việc cụ thể cho HS Muốn làm được điều này thì phải đổi mới về PPDH theo những quan điểm của DH tích cực, tích hợp và tương tác của lí luận DH hiện nay
Quan điểm DH tích cực đã được diễn đạt bằng những mệnh đề gần gũi
như “DH lấy HS làm trung tâm”, “DH hướng vào HS” hay “Tích cực hóa HĐ
học tập của HS” những cách diễn đạt này cho thấy DH tích cực là người
dạy tìm cách tổ chức việc cho HS, và học tích cực là người học tự mình chiếm lĩnh bài học dưới sự tổ chức hướng dẫn của GV Tích cực của người dạy là tạo các HĐ học tập cho HS một cách có hiệu quả Tích cực của người học là
tự mình đáp ứng bằng các HĐ học tập Vậy, để tạo quyền lợi cho người học
“tự bộc lộ” các năng lực đọc hiểu của mình đối với TP, thì phải đổi mới phương pháp dạy học Với đề tài “Dạy học thể loại truyện thơ Nôm ở trường
phổ thông theo hướng công nghệ” đã đáp ứng được yêu cầu về đổi mới
phương pháp dạy học
2 Lịch sử vấn đề
Các tài liệu đã nghiên cứu về DH theo hướng CN:
- Z.IA- REX (chủ biên) phương pháp luận DH_ Nxb Giáo dục, 1983
- Hồ Ngọc Đại_ CN giáo dục_ tập 1,2_ Nxb Giáo dục, 1994
- Phan Trọng Luận (chủ biên)_ PPDH văn tập 1,2_ Nxb Giáo dục, 2001
Ngoài những tài liệu nghiên cứu trên, DH theo hướng CN đã được nghiên cứu qua 2 chặng:
Chặng một: Những năm 80 của TK XX DH theo hướng CN đã được triển khai ở trung tâm thực nghiệm Giảng Võ do Hồ Ngọc Đại thực hiện
Chặng hai: Được thể hiện qua các sách thiết kế Nhưng các sách thiết
kế này vẫn chưa có sự thống nhất Chẳng hạn thiết kế còn có những tên gọi khác
Trang 3nhau: Giáo án, bài giảng Những tên gọi đó gắn với công việc của người dạy,
vì quyền lợi được truyền đạt và được đánh giá năng lực của GV Trong phương pháp DH mới, lấy HS làm trung tâm, toàn bộ quá trình dạy học hướng vào nhu cầu, khả năng, lợi ích của HS Vì vậy mà giáo án phải dành cho người học, phải là bản thiết kế các hoạt động học tập xuất phát từ nhiệm
vụ học của HS Từ đó việc đổi mới giáo án, bài giảng sang thiết kế bài học
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề về HĐ học tập của HS trong giờ văn với định hướng đọc hiểu VB theo thể loại
Phạm vi nghiên cứu: Tìm HĐ học tập của HS để HS đọc hiểu VB theo thể loại truyện thơ Nôm
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở của DH văn theo hướng CN
- Nghiên cứu đặc trưng của thể loại truyện thơ Nôm để qui trình hóa
HĐ học tập của HS Từ qui trình đó HS có thể đọc hiểu những VB theo thể loại ấy
- Thiết kế thử nghiệm
Trang 46 Đóng góp của khóa luận
Về mặt lí luận: Làm rõ cách thức xây dựng HĐ học tập cho HS Từ đó xây dựng thành qui trình dạy đọc hiểu VB theo thể loại cho HS
Về mặt thực tiễn: Góp phần làm cho giờ DH Ngữ văn theo hướng đổi mới trở nên tường minh
7 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tổng hợp lí luận và thực tiễn về CN DH
Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
Phương pháp thử nghiệm
8 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục kèm theo, khóa luận có cấu trúc 3 phần
- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của DH Ngữ văn theo hướng
CN
- Chương 2: DH thể loại truyện thơ Nôm ở trường phổ thông theo hướng CN
- Chương 3: Thử nghiệm
Trang 5NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC
NGỮ VĂN THEO HƯỚNG CÔNG NGHỆ 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Quan niệm về DH nói chung
Quan niệm về DH: DH không phải là nhằm cung cấp thông tin mà là nhằm hướng dẫn cho người học cách tìm kiến thức, cách hệ thống hóa kiến thức, xử lí kiến thức, vận dụng kiến thức, phát triển kiến thức
Quan niệm về học: Không phải chỉ là học trên lớp, ở nhà mà học thường xuyên, học cả đời, học mọi lúc, mọi nơi Học không phải là tiếp nhận,
ghi nhớ thông tin kiến thức mà học theo Liên Hợp Quốc có 4 yêu cầu: “Học
để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mình”
Quan niệm về quá trình DH: Là một quá trình HĐ phối hợp tương tác giữa thầy và trò Nó được tiến hành một cách có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch Dưới sự chỉ đạo của thầy, trò tự giác, tích cực và tự lực nắm vững kiến thức khoa học, hình thành những kĩ năng kĩ xảo cần thiết, phát triển năng lực nhận thức, năng lực HĐ Trên cơ sở đó, hình thành thế giới quan khoa học và những phẩm chất cần thiết của con người mới
1.1.2 Bản chất của quá trình DH
Bản chất của quá trình DH là quá trình nhận thức của HS, quá trình nhận thức của HS là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào ý thức của chủ thể và nó diễn ra theo qui luật chung mà Lênin đã nêu: từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực khách quan
Vậy bản chất của quá trình DH là quá trình nhận thức của HS dưới sự chỉ đạo của GV nhằm đạt được các nhiệm vụ học tập đã định Trong học tập,
Trang 6HS nhận thức thế giới thông qua tài liệu học tập, được chọn lọc từ các thành quả của nền văn minh nhân loại và sắp xếp theo một chương trình Việc học tập của HS bao giờ cũng phải có hướng dẫn, có kiểm tra, uốn nắn từ phía GV Cho nên việc nhận thức của HS trở nên độc đáo, đây là con đường ngắn nhất
và có hiệu quả nhất
1.1.3 Quan niệm về PPDH
Có nhiều quan niệm khác nhau về PPDH
PPDH là tổ hợp các cách thức HĐ của thầy và trò mà thầy và trò sử dụng để đạt được mục đích DH
Phương pháp là hệ thống những hành động có mục đích của GV, là hành động nhận thức và thực hành có tổ chức của HS nhằm đảm bảo cho HS lĩnh hội được nội dung tri thức
Căn cứ vào định nghĩa DH: DH là chuyển tri thức, năng lực của nhân loại thành tri thức và năng lực cho mỗi HS thì có thể hiểu PPDH là cách thức chuyển tri thức và năng lực của nhân loại thành tri thức và năng lực cho mỗi
HS
1.1.4 Khái niệm về CN DH
Theo nghĩa hẹp: “CN DH có nghĩa là việc áp dụng các hệ thống kĩ thuật và các phương tiện hỗ trợ để cải tiến quá trình học tập của con người.” (theo Collier và nhiều cộng tác viên)
Theo nghĩa rộng: Tổ chức giáo dục của UNESCO, ở hội thảo tại Giơnevơ từ ngày 10 đến ngày 16 tháng 5/1970 đã định nghĩa “CN DH là khoa học về giáo dục, nó xác lập các nguyên tắc hợp lí của công tác DH và những điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành quá trình DH, cũng như xác lập các
phương pháp và các phương tiện có kết quả nhất để đạt mục đích DH đề ra,
đồng thời tiết kiệm được sức lực của thầy và trò”
Trang 71.1.5 Quan niệm về DH theo hướng CN
DH theo hướng CN là kiểu DH khách quan hóa từng việc của thầy, từng việc của trò, đảm bảo hiệu quả tất yếu như mục đích đề ra Đây là kiểu
DH kiểm soát được quá trình tạo ra sản phẩm, là kiểu DH tích hợp giữa dạy
và học, tích hợp cả lí thuyết và thực hành luyện tập, vừa cung cấp cho HS tri thức vừa phát triển năng lực trí tuệ cho HS
DH theo hướng CN là DH có kĩ thuật, DH theo qui trình khác xa với kiểu DH theo kinh nghiệm vốn chỉ phù hợp với từng người Vì thế nó có thể chuyển giao kĩ thuật, chuyển giao qui trình đến với mọi GV Nếu thực hiện đầy đủ nghiêm ngặt mọi công đoạn, mọi thao tác như trong qui trình thì giờ học sẽ đạt kết quả cao
1.1.6 Cơ sở lí luận của DH theo hướng CN
a) Lí thuyết hành vi
CN DH được hiện thực hóa vào đầu TK XX gắn liền với lí thuyết là lí
thuyết hành vi, sản sinh ở Mỹ do nhà tâm lí học Wat-Xon (1879-1958) đề
xướng, sau đó được Skinơ phát triển lên
Thuyết hành vi cho rằng học tập là một quá trình đơn giản mà trong đó mối liên hệ phức tạp sẽ được làm cho dễ hiểu và rõ ràng thông qua các bước học tập nhỏ được sắp xếp một cách hợp lí Thông qua những kích thích về nội dung, PPDH, người học có những phản ứng tạo ra những hành vi học tập và qua đó thay đổi hành vi của mình Vì vậy mà quá tình học tập được hiểu là quá trình thay đổi hành vi Trong học tập cần tạo ra những kích thích, tạo ra hưng phấn để có các phản ứng thay đổi hành vi
Skinơ qua những thí nghiệm “Chim chọn hạt” và “Chim đi theo hình số
8” cho chúng ta thấy rằng: Nếu như công việc được chia nhỏ ra, người thí
nghiệm đi từng bước thì có thể đi đến đích Trong DH cũng có thể chia nhỏ qui trình thành các bước, cho người học làm từng việc một trong thời gian qui
Trang 8định có thể chủ động cho người học đi đến hiệu quả Từ đó có kiểu DH theo qui trình: người học đi theo qui trình và đạt được hiệu quả như mong muốn Qui trình DH là con đường chuyển tri thức vào mỗi người học Nếu chia nhỏ qui trình DH thành các việc, các việc chia nhỏ nữa thành các thao tác, cứ như vậy người học thực hiện đầy đủ các việc, các thao tác như qui trình đã định thì tri thức sẽ được chuyển vào trong người học
Đây là bước ngoặt lớn cho giáo dục Nhờ có lí thuyết hành vi cùng
những đề xuất của Skinơ đã giúp cho DH được chương trình hóa và nó bước đầu hiện thực hóa ý tưởng về CN DH
Tuy nhiên những việc làm của Skinơ còn có hạn chế là chưa đề cao vai trò của người học, người học chưa có sự chủ động, sáng tạo Chỉ khi
Vưgôtxki đưa ra lí thuyết HĐ thì những hạn chế của Skinơ mới được sửa đổi,
bổ sung và góp phần hoàn thiện CN DH
b) Lí thuyết HĐ
Lí thuyết HĐ do Vưgôtxki (1896_1934), nhà khoa học người Nga khởi xướng Người chứng minh cho lí thuyết này là Gaperin Lí thuyết HĐ đã phát triển từ chủ nghĩa Mác ở 2 nội dung:
Chủ nghĩa Mác nói rằng: loài người được sinh ra từ tiến hóa và từ lao động, lao động làm ra loài người Lý thuyết HĐ phát triển cho rằng: Lao động còn tiếp tục làm ra từng cá thể người Gaperin phát biểu: Con người không những mang tính loài mà mỗi cá thể con người vẫn tự sinh ra mình bằng chính lao động của mình Khi đã thành con người rồi, con người vẫn tự hoàn thiện mình bằng chính lao động của mình
Từ đây trong DH quán triệt quan điểm: Người học tự làm lấy cái gì thì biết cái đấy Muốn có tri thức, kĩ năng thì phải tự làm lấy không có ai làm thay Đây là quan niệm DH đúng đắn_ Quan niệm DH tích cực
Trang 9Quan niệm của Mác: Tất cả những gì có trong ý thức con người đều được chuyển từ hiện thực vào và được cải tạo ở đó; toàn bộ tinh thần, ý thức, năng lực trong mỗi con người là được chuyển từ bên ngoài vào bên trong
Trái với duy tâm: “ý thức có trước, hiện thực có sau”…và Gaperin đã tìm
thấy cơ chế để chuyển tri thức vào trong đầu Qua nhiều thí nghiện, ông khẳng định: HĐ bên ngoài và HĐ bên trong tâm lý con người có cùng một cấu trúc và giống nhau đến kì lạ Nếu tổ chức được HĐ bên ngoài như thế nào thì HĐ bên trong sẽ diễn ra đúng như vậy
Vậy muốn có sản phẩm trí tuệ cho người học, người dạy phải tổ chức cho HS những HĐ tương ứng Tất cả những HĐ bên ngoài này phải cho HS
tự làm lấy Điều này khắc phục được những hạn chế của Skinơ Cũng từ lí thuyết này hình thành kiểu DH thầy thiết kế, trò thi công; thầy tổ chức, trò
HĐ Đây là kiểu DH theo hướng CN
c) Lí thuyết tiếp nhận
Tiếp nhận văn học là lí thuyết trong lí luận văn học Quan điểm của lí
thuyết tiếp nhận là tách VB ra khỏi TP Lí thuyết tiếp nhận đặt ra một vấn đề:
Rất nhiều lí thuyết phân tích TP đã có nhưng chưa quan tâm đến bạn đọc, mà bạn đọc lại là thành phần quyết định tạo ra giá trị cho TP Tức là lí thuyết tiếp nhận đề cao vấn đề TP với bạn đọc Vậy bạn đọc khi tiếp cận TP phải đọc từ đâu? Phải đi từ tầng ngôn từ đến tầng hình tượng và cuối cùng là tầng hàm nghĩa Con đường đi của bạn đọc là đọc VB để hình dung ra TP
Lí thuyết tiếp nhận đặt ra vấn đề khoảng cách tiếp nhận: gồm có
khoảng cách giữa bạn đọc và nhà văn, khoảng cách về các phương diện xã hội, văn hóa, tâm lý Trong quá trình tiếp nhận VB, thầy giáo phải giúp HS lấp đầy khoảng cách này Ví dụ đọc truyện của Nguyễn Du TK XVIII (chúng
ta ở TK XXI) là khoảng cách về mặt xã hội, tâm lý, văn hóa… Muốn người đọc hiểu được VB thì phải lấp đầy khoảng cách bằng việc cung cấp cho HS
Trang 10hiểu được tác giả, hoàn cảnh sáng tác, hoàn cảnh cảm hứng… ngoài ra cần cung cấp cho HS hiểu các thành ngữ, điển tích, điển cố, từ Hán Việt, các hình ảnh ước lệ tượng trưng…
Lí thuyết tiếp nhận còn đặt ra vấn đề tầm đón của độc giả Tầm đón chính là năng lực, vốn sống, vốn kinh nghiệm của người đọc Tầm đón có bao nhiêu thì người đọc tiếp nhận TP ở mức bấy nhiêu Do đó trong DH văn phải hiểu được tầm đón của HS và nâng dần tầm đón đó lên
1.1.7 Đổi mới DH Ngữ văn
Đổi mới DH hiện nay xác định Ngữ văn là môn học công cụ (khác với
vị trí đã được xác định trước đó là môn học nghệ thuật và môn khoa học xã
hội nhân văn), và hướng tới hình thành cho HS Phương pháp đọc hiểu các
kiểu, loại VB (nhất là cácVB ở dạng thức sáng tạo nghệ thuật trong và cả
ngoài SGK) Do nhấn mạnh tính chất công cụ cho nên môn Ngữ văn trực tiếp liên quan đến phát triển tư duy Năng lực tư duy trong Ngữ văn chính là năng lực tiếp nhận và tạo lập VB Tập trung vào phát triển hai năng lực đó, chương trình Ngữ văn được sắp xếp theo kiểu VB và thể loại chứ không chỉ theo tiến trình lịch sử Các VB bao giờ cũng được tổ chức theo một thể loại nhất định
Vì vậy mà để hiểu được TP chúng ta phải đi tìm hiểu từ đặc trưng thể loại, xem thể loại đó có những đặc trưng nào sau đó đi xây dựng qui trình đọc hiểu theo thể loại
“Tích cực hóa” trong dạy học Đây là một quan điểm hiện đại có giá trị phương pháp toàn diện và tuyệt đối hơn so với quan điểm DH “Lấy HS làm
trung tâm” hoặc “DH hướng vào HS” DH tích cực đề cao cả hai chủ thể, ở đó
các năng lực tự học của HS kết hợp với khả năng tổ chức hướng dẫn của GV
sẽ tạo nhiều cơ hội nhất cho HĐ chiếm lĩnh tri thức và kĩ năng của bài học Năng lực tự học của mỗi HS không phải là một khái niệm trừu tượng mơ hồ,
mà luôn được bộc lộ trong các HĐ HT bằng các hình thức HT tương ứng nào
Trang 11đấy Cũng như thế, sự lựa chọn và tổ chức một cách sáng tạo các hình thức
HT sẽ thuộc về khả năng của người GV biết “tích cực hóa” HĐ DH của mình nhằm “tích cực hóa HĐ học tập của HS” Mục đích của khóa luận chính là
tìm cách để cụ thể hóa HĐ dạy học tích cực
Đổi mới về quan điểm: Coi Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đề cao vai trò to lớn của Giáo dục đối với xã hội Họ cho rằng những HS hôm nay còn ngồi trên ghế nhà trường nhưng ngày mai sẽ là những chủ nhân của đất nước Hôm nay chúng ta DH như thế nào thì ngày mai chúng ta sẽ nhìn thấy hình ảnh đất nước như thế ấy Vì mục đích này mà Giáo dục được ưu ái, dành cho mọi điều kiện tốt nhất Và đặc biệt trong thời đại CNTT đang phát triển mạnh,
nó trở thành công cụ thay thế bộ nhớ của con người, nối dài tư duy của con người, thay con người làm việc…Vậy thì không có lẽ gì mà DH lại không khai thác tiện ích của CNTT CNTT hỗ trợ cho DH để làm cho DH hiệu quả hơn
Ứng dụng CNTT trong DH là tất yếu Là cách cụ thể hóa, vật chất hóa dạy học tích cực, làm cho quan điểm DH tích cực trở nên có hình hài và sức sống Vậy trong thực tế việc ứng dụng CNTT trong DH có những cách làm như thế nào?, có những đóng góp và những hạn chế nào cần khắc phục? 1.2 Cơ sở thực tiễn DH văn ở trung tâm CN Giảng Võ
Trung tâm CN Giảng Võ do GS.TS Hồ Ngọc Đại sáng lập năm 1978 Đây là nơi tiến hành các nghiên cứu khoa học giáo dục; thực nghiệm nội dung, phướng pháp DH mới
Trung tâm CN Giảng Võ quan niệm: DH là quá trình nhằm chuyển tri thức và năng lực của dân tộc và nhân loại thành tri thức cho mỗi người học
Và dạy văn là chuyển những tri thức và năng lực văn của dân tộc và nhân loại kết tinh trong TP văn chương thành tri thức, năng lực văn cho mỗi người học
Trang 12Để chuyển những tri thức cho người học thì phải có qui trình Qui trình dạy văn chính là con đường để tổ chức cho HS làm ra văn Qui trình đó phải
do thầy giáo thiết kế, HS thi công cho nên phải phù hợp với trình độ, năng lực, nhu cầu tâm lý của HS
Trung tâm Giảng Võ còn quan niệm: Trong DH cần phân biệt VB và
TP VB là phần ta đọc được, là cái có thể nhìn thấy TP là cái chỉ hình dung trong trí tưởng tượng của mỗi người đọc, trong tưởng tượng của nhà văn Từ
đó trung tâm đưa ra nhiệm vụ của việc dạy văn là: Từ VB phải làm xuất hiện
TP của tác giả, từ TP của tác giả chuyển vào mỗi HS theo qui trình
1.2.1. Qui trình CN dạy văn ở trung tâm Giảng Võ
(được thực hiện qua 5 bước và phân ra 5 lớp tiểu học, mỗi lớp hoàn thiện
một bước)
- Bước một: Đọc VB, giải nghĩa ngôn từ
- Bước hai: Đọc VB sau đó hình dung tưởng tượng để đạt tới nhiệm vụ
dựng lại hình tượng
- Bước ba: Đọc VB, hình dung tưởng tượng để phân tích hình tượng
(Nếu là TP trữ tình thì phân tích hình tượng tâm tư Nếu là TP tự sự thì phân tích hình tượng nhân vật)
- Bước bốn: Tìm chủ đề của VB
- Bước năm: Xác định tư tưởng của bài văn, ý của tác giả, ý của bạn
đọc
Trang 131.2.2 Đánh giá qui trình dạy văn ở trung tâm CN Giảng Võ
Đóng góp:
Tạo ra một cách làm mới, cách tư duy mới cho giáo dục Việt Nam theo hướng khoa học Giúp cho người thầy giáo xác định được qui trình, biết cách cung cấp thông tin cho HS
DH theo hướng CN cung cấp cho giáo dục Việt Nam nhiều thuật ngữ mới: thiết kế, thi công, việc làm, thao tác, qui trình, HĐ…
DH theo hướng CN đã bổ sung cho chương trình và SGK PPDH, cách
Thứ nhất: Theo quan niệm của Hồ Ngọc Đại thì DH theo hướng CN là
giải pháp tổng thể, không chấp nhận các PPDH, kiểu DH nào khác Đây là quan niệm chưa đúng, bởi bên cạnh PPDH theo hướng CN thì còn rất nhiều PPDH khác, GV phải biết kế thừa, chọn lọc, phối hợp các phương pháp, các kiểu DH mới làm cho DH đạt hiệu quả cao
Thứ hai: Tuyệt đối hóa vai trò của qui trình Theo quan điểm của Hồ
Ngọc Đại, bản thân qui trình DH đã là tích hợp, thực hiện theo qui trình chỉ cần làm đủ, đúng theo qui trình mà không cần đến phương pháp, hình thức tổ chức DH nào
Thứ ba, dạy văn ở trung tâm CN còn có phần đơn giản một chiều: Đọc
VB→ giải nghĩa ngôn từ→dựng hình tượng→khái quát chủ đề→đánh giá bình luận Và thời kì trung tâm thực nghiệm DH kiểu qui trình CN, ở tiểu học còn có dạy văn nhưng sau năm 1994 thay sách tiểu học, Văn sát nhập với
Trang 14tiếng Việt do đó nghiên cứu của trung tâm về qui trình dạy văn không còn được ứng dụng nữa
Thứ tư: DH theo hướng CN của lí thuyết HĐ, người học bị kiểm soát
chặt chẽ, không có cơ hội để sáng tạo và phát triển cá tính
Như vậy qua thực tiễn DH ở trung tâm CN Giảng Võ và thực tiễn DH văn theo hướng CN hiện nay còn một số hạn chế cần phải khắc phục.Với đề tài nghiên cứu này dựa trên những lí luận về dạy học, dạy văn, xuất phát từ
HĐ học tập của HS và xuất phát từ đặc trưng thể loại nhằm khắc phục những hạn chế và tìm ra PPDH tối ưu để hướng dẫn HS tiếp nhận văn tốt hơn
Kết luận: Từ những lí luận về DH, lí luận về DH theo hướng CN, từ những đổi mới về DH văn và từ thực tiễn DH theo hướng CN hiện nay,
tác giả lấy đó làm cơ sở, nền tảng để thực hiện đề tài “Dạy học thể loại
truyện thơ Nôm ở trường phổ thông theo hướng công nghệ”
Trang 15Chương 2 DẠY HỌC THỂ LOẠI TRUYỆN THƠ NÔM
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG CÔNG NGHỆ
2.1 Tìm hiểu chung
2.1.1 Khái niệm truyện (thơ) Nôm:
Truyện Nôm là một thể loại tự sự bằng thơ dài rất tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam cuối TK XVIII, đầu TK XIX, do viết bằng tiếng Việt, ghi bằng chữ Nôm nên được gọi là truyện Nôm [8; tr 372]
2.1.2 Phân loại truyện Nôm: có 2 lọai truyện Nôm
Truyện Nôm bình dân: Viết trên cơ sở truyện dân gian như “Phạm Tải Ngọc Hoa”, “Tống Trân Cúc Hoa”, “Thạch Sanh”…Truyện Nôm bình dân
hầu hết không có tên tác giả, được lưu truyền trong dân gian, ngôn ngữ bình dị, mộc mạc
Truyện Nôm bác học: Có loại viết trên cơ sở có sẵn của văn học Trung
Quốc như: “Phan Trần”, “Hoa Tiên”, “Nhị độ mai”; “Truyện Kiều”…Có loại được xây dựng theo cốt truyện sáng tạo bằng hư cấu như “Hoàng Trừu”; “Trê
Cóc”; “Sơ kính tân trang”; “Lục Vân Tiên”… Truyện Nôm bác học có ngôn
ngữ trau chuốt, điêu luyện, dùng nhiều từ Hán Việt, điển tích, tiêu biểu cho trình độ diễn đạt của văn học viết của dân tộc
2.1.3 Nguồn gốc và sự phát triển của thể loại truyện Nôm
Truyện Nôm là một thể loại khá độc đáo của văn học dân tộc Nhưng cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa xác định được rõ ràng là nó ra đời
từ lúc nào và hình thái đầu tiên của nó ra sao Trong kho tàng truyện Nôm còn lại hiện nay, có loại viết bằng thơ lục bát, có loại viết bằng thơ Đường luật Truyện Nôm Đường luật ra đời trước TK XVIII; từ TK XVIII không thấy có nữa Còn truyện Nôm lục bát thì chưa rõ ra đời từ lúc nào, chỉ biết nó phát triển mạnh mẽ nhất trong giai đoạn nửa cuối TK XVIII, nửa đầu TK XIX
Trang 16Vậy ta thấy, truyện Nôm Đường luật có thể ra đời trước truyện Nôm lục bát nhưng nó không phải là hình thái đầu tiên của thể loại truyện Nôm Nguyễn Lộc và Kiều Thu Hoạch đều có ý kiến cho rằng: Tiền thân của truyện Nôm là
từ văn học dân gian Một số truyện Nôm bình dân được viết dựa vào các
“truyện cũ”, “tích cũ”, các truyện đời xưa, vì vậy mà nó gần với các truyện
cổ tích Ví dụ: có truyện cổ tích “Tấm Cám” và truyện Nôm “Tấm Cám”, truyện cổ tích “Thạch Sanh” và truyện Nôm “Thạch Sanh”…Một số truyện Nôm bác học thì mượn các “truyện Cũ”, “tích cũ” của tiểu thuyết chương hồi
Trung Hoa Tất cả những truyện này được các tác giả nhận thức lại trên bối cảnh thực tế của tình hình lịch sử xã hội nước ta nửa cuối TK XVIII, nửa đầu
TK XIX, và được diễn ca lại bằng thơ lục bát Nhưng đặc điểm của truyện thơ Nôm được coi như một thể loại văn học, bởi nó diễn ca truyện cổ tích nhưng không đồng nhất với truyện cổ tích, nó diễn ca truyện cổ tích chương hồi Trung Hoa nhưng không phải tiểu thuyết chương hồi Đối với truyện cổ tích vốn chỉ kể sự việc thì nó mở rộng nội dung kể sang tả cảnh, tả tình, tả ngôn ngữ nhân vật
Khi xét về nguồn gốc và lịch sử phát triển của truyện Nôm, tác giả Kiều Thu Hoạch đã khẳng định : Thời kì định hình của thể loại truyện Nôm không sớm hơn TK XVII, và sau đó từ đầu TK XVIII là thời kì nở rộ và phát triển liên tục cho đến đầu TK XIX Tuy nhiên nếu nói đến thời kì manh nha thì cũng không loại trừ khả năng truyện Nôm đã có thể hình thành từ TK XVI
Như vậy xét về mặt xã hội_ lịch sử, quá trình nở rộ và phát triển của thể loại truyện Nôm cũng đồng thời là quá trình suy vong của chế độ phong kiến Việt Nam Và như vậy, nói rằng truyện Nôm là sản phẩm của thời kì phong kiến suy tàn cũng là điều hoàn toàn chính xác
Theo các nhà sử học thì đây là một thời đại lịch sử đầy biến động: Một mặt là các cuộc xung đột đẫm máu triền miên trong nội bộ giai cấp phong
Trang 17kiến thống trị, một mặt là những cuộc bùng nổ dữ dội liên tục của phong trào khởi nghĩa nông dân xảy ra như bão táp ở khắp mọi nơi… Nhưng đó cũng là thời kì nở rộ của nền kinh tế hàng hóa, là thời kì phát triển của mạng lưới giao thương cùng với sự xuất hiện hàng loạt các đô thị lớn nhỏ…
Chính cái nền tảng xã hội- lịch sử của thời kì phong kiến suy tàn này lại
là mảnh đất tốt cho tinh thần dân chủ và tư tưởng nhân văn của thời đại nảy sinh và phát triển Mà quan trọng hơn, những nhân tố chính trị tư tưởng đã tác động tới sự xuất hiện và phát triển truyện Nôm, thậm chí trở thành những yếu
tố cấu thành của thể loại này
Nói về sự ra đời truyện Nôm, không thể bỏ qua yếu tố về nhu cầu của
con người về truyện Nôm Sáng tác truyện Nôm là “để kể” vì vậy mà nó phù hợp với nhiều tầng lớp nhân dân Chẳng hạn với kiệt tác “Truyện Kiều” của Nguyễn Du không chỉ để đọc mà còn “để kể”, thậm chí kể một cách say mê:
“Mê gì mê đánh tổ tôm, Uống chè mạn hảo, nghe Nôm Thúy Kiều”
Ngoài ra, đông đảo quần chúng nhân dân còn diễn xướng “Truyện Kiều” với nhiều hình thức vô cùng phong phú: trò Kiều, ngâm Kiều, vịnh Kiều, lẩy Kiều,
đố Kiều, ru Kiều, bói Kiều…
Tóm lại, có thể hiểu truyện Nôm có nguồn gốc từ dân gian và nó được hình thành và phát triển từ TK XVI đến đầu TK XIX
2.2 Xác định đặc điểm thể loại
Điều đầu tiên chúng ta phải khẳng định khi tiếp xúc với truyện Nôm là: Truyện thơ Nôm thuộc thể loại tự sự chính vì vậy mà nó mang đầy đủ các đặc trưng của thể loại tự sự (của truyện) như cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ
Nhưng bên cạnh đó ta biết Nguyễn Du viết “Truyện Kiều” xuất phát từ quan điểm “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” nên TP không chỉ mang giá
Trang 18trị hiện thực mà qua đây tác giả còn bộc lộ trực tiếp cảm xúc của mình vì vậy
mà nó mang tính trữ tình rất cao
2.2.1.Đặc trưng của thể loại tự sự
Tự sự là phương thức tái hiện đời sống, bên cạnh hai phương thức khác
là trữ tình và kịch được dùng làm cơ sở để phân loại TP văn học TP tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống trong không gian, thời gian, qua các sự kiên, biến cố xảy ra trong cuộc đời con người Thông qua TP tự sự nhà văn thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình
Phương thức phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành vi con người làm cho TP tự sự trở thành một câu chuyện về ai đó hay về một cái
gì đó Cho nên TP tự sự bao giờ cũng có cốt truyện, nhân vật, lời kể
a) Cốt truyện
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”: Cốt truyện là hệ thống sự kiện cụ
thể được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành một bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của TP văn học thuộc thể loại tự sự [8; tr 99]
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: Cốt truyện là hệ thống sự kiện, là nòng
cốt cho sự diễn biến các mối quan hệ và sự phát triển tính cách nhân vật trong TP văn học loại tự sự.[19; tr 213]
Từ hai định nghĩa ta có thể hiểu: Cốt truyện là một tập hợp các biến cố, các sự kiện, các tình tiết diễn ra trong TP được sắp xếp theo một trật tự lôgíc nhất định
Xét về phương diện kết cấu và qui mô nội dung, có thể chia cốt truyện thành hai loại: Cốt truyện đơn tuyến và cốt truyện đa tuyến
Trong cốt truyện đơn tuyến, hệ thống sự kiện được tác giả kể lại gọn gàng và thường đơn giản về số lượng, tập trung thể hiện quá trình phát triển tính cách của một vài nhân vật chính, có khi chỉ là một giai đoạn trong cuộc
Trang 19đời nhân vật chính Vì vậy cốt truyện đơn tuyến thường có dung lượng nhỏ
hoặc vừa Ví dụ: Cốt truyện của “Truyện Kiều” (Nguyễn Du)…
Cốt truyện đa tuyến là cốt truyện trình bày một hệ thống sự kiện phức tạp, nhằm tái hiện nhiều bình diện của đời sống ở một thời kì lịch sử, tái hiện những con đường diễn biến phức tạp của nhiều nhân vật, do đó có một dung
lượng lớn Ví dụ: Cốt truyện của “Chiến tranh và hòa bình” (Leptônxtôi)…
Dù đa dạng, một cốt truyện đều phải trải qua một tiến trình vận động có hình thành, phát triển, kết thúc Vì vậy mỗi cốt truyện thường bao gồm các thành phần: Giới thiệu, thắt nút, phát triển, cao trào, mở nút (kết thúc)
Từ những hiểu biết chung về cốt truyện như trên, ta đi tìm hiểu cốt truyện của thể loại truyện Nôm
* Cốt truyện truyện Nôm nói chung: Nhìn một cách khái quát, về mặt
xây dựng cốt truyện, hình thái cấu trúc của truyện Nôm cũng vẫn là hình thái
cấu trúc của thể loại truyện cổ tích, tức là cấu trúc theo mô hình “kết thúc có
hậu” như giới khoa học lâu nay đã thừa nhận Đó là mô hình Gặp gỡ_ Tai biến_ Đoàn tụ mà ta thường thấy hầu hết trong các truyện Nôm Mở đầu
truyện bao giờ cũng là cảnh trai gái gặp gỡ và hẹn ước; sau đó họ gặp những trắc trở làm cho hai người phải chia li; rồi cuối cùng lại được cùng nhau đoàn
tụ trong hạnh phúc gia đình êm ấm Chính cái mô hình này đã chi phối toàn
bộ sự phát triển của các tình tiết cũng như tính cách của nhân vật trong truyện, bởi vậy các tình tiết dù có phát triển và diễn biến éo le, ly kỳ, phức tạp đến đâu cũng vẫn không vượt ra khỏi khuôn khổ cái mô hình cốt lõi này Ví dụ:
Nhân vật Phạm Công trong “Phạm Công Cúc Hoa” sau khi thi đỗ trạng
nguyên, bị Ngụy vương ép gả công chúa cho chàng Phạm Công từ chối và bị đày sang Hung Nô Tại Hung Nô cũng bị ép lấy công chúa, chàng từ chối và phải chịu hình phạt nặng nề: chặt tay, khoét mắt, rứt mày, xé tai, đục răng,… Ngọc Hoàng thương tình đã sai Chư tướng hóa phép cho Phạm Công được
Trang 20lành lặn Sau đó Phạm Công đến Đăng Châu, thi đỗ và cũng bị Thiệu Vương
ép gả công chúa, chàng từ chối và bị bỏ vào vạc dầu, nhờ có công chúa xin hộ nên chàng mới được tha về gặp lại Cúc Hoa_người vợ yêu quý Nhưng rồi Cúc Hoa chết khi mới 30 tuổi, đúng lúc ấy Phạm Công nhận lệnh phải đi đánh giặc Vì chưa kịp làm ma vợ, chàng phải mang cả thi thể vợ theo và cõng con
ra nơi chiến địa Tướng giặc cảm đức độ của Phạm Công liền rút binh về nước Hồn Cúc Hoa hiện lên khuyên Phạm Công phải lấy Tào Thị, sau khi lấy Tào Thị, Phạm Công lại đi nhận chức quan mới, Tào Thị ở nhà hành hạ hai đứa con Cuối cùng Tào Thị là kẻ bạc ác nên bị Thiên Lôi đánh chết, Phạm Công tìm lại Cúc Hoa, Cúc Hoa sống lại và cả gia đình được đoàn tụ
Ta thấy, dù tình tiết có phát triển rắc rối đến mấy và cốt truyện có kéo dài bao nhiêu đi nữa, rốt cuộc người kể chuyện vẫn phải dừng lại ở chỗ đẹp nhất, viên mãn nhất thì người nghe mới thấy thỏa mãn, mới chịu chấp nhận Thiện phải thắng ác, chính phải thắng tà, đó là triết lí ngàn đời của dân gian,
đó cũng là lí tưởng thẩm mĩ của thể loại truyện Nôm Điều đó chẳng những thể hiện ước nguyện của nhân dân mà còn thể hiện ý chí đấu tranh mãnh liệt của họ trước thế lực tàn bạo của xã hội và cũng chính là cơ sở tư tưởng của
mô hình cấu trúc theo lối kết thúc có hậu Kết thúc có hậu vì thế là qui luật có
tính tất yếu và là đặc trưng mang tính loại biệt của thể loại truyện Nôm Ngay
cả những truyện thơ bác học như “Sơ kính tân trang”, “Song Tinh”, “Hoa
Tiên”, “Truyện Kiều” cũng đều tuân thủ qui luật này
Trong mô hình cấu trúc: Gặp gỡ_ Tai biến_ Đoàn tụ của truyện Nôm thì trường đoạn “tai biến” là trường đoạn có nhiều diễn biến phức tạp nhất
của cốt truyện, tại đây nhân vật chính nhiều khi phải trải qua những biến cố khủng khiếp tưởng chừng như quá sức chịu đựng của một con người bình thường Trong những trường hợp như thế, đành rằng ý chí của nhân vật chính giữ một vai trò rất quan trọng, hơn nữa đó là vai trò có ý nghĩa quyết định
Trang 21Song bên cạnh đó vẫn không thể thiếu được sự hỗ trợ của một sức mạnh vô hình, thường được biểu hiện bằng những thế lực siêu nhiên, bằng những yếu
tố thần kì Nhờ vậy mà nhân vật chính mới có thể vượt qua thử thách để đi
đến thắng lợi cuối cùng, để bước vào trường đoạn “đoàn tụ” như cái cấu trúc
muôn thuở của nó
Phần lớn các truyện Nôm bác học được viết trên cơ sở có sẵn của văn
học Trung Quốc “Truyện Kiều” là TP được viết dựa trên “Kim Vân Kiều
truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân Mặc dù được sáng tác dựa trên cốt truyện
của văn học Trung Quốc nhưng “Truyện Kiều” của Nguyễn Du là thành công xuất sắc Nếu như “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân là TP bình thường trong làng văn học thì “Truyện Kiều” của Nguyễn Du được tái
tạo thành kiệt tác (Ông đã lược bỏ những yếu tố hoang đường, kỳ ảo, những chi tiết rườm rà và chỉ giữ lại những sự kiện chính, những chi tiết sâu sắc nhất
để tạo nên một cốt truyện ngắn gọn, tổ chức chặt chẽ)
* Cốt truyện “Truyện Kiều”
Cốt truyện của “Truyện Kiều” cũng giống như những truyện Nôm khác
là gồm ba phần Phần thứ nhất là “gặp gỡ - đính ước”: Ở phần này tác giả kể
về gia đình viên ngoại họ Vương, ba chị em Thúy Kiều đi tảo mộ gặp Kim
Trọng – bạn đồng môn của Vương Quan, “Người quốc sắc kẻ thiên tà – Tình
trong như đã mặt ngoài còn e” Kim Trọng và Thúy Kiều gặp gỡ đính ước thề
non hẹn biển Phần thứ hai “gia biến – lưu lạc”: gia đình Thúy Kiều bị nạn,
Kiều bán mình chuộc cha, qua mười lăm năm đoạn trường lưu lạc, nếm đủ vị
cay đắng của cuộc đời “thanh lâu hai lượt thanh y hai lần”; Phần ba là phần
“đoàn tụ”: cuối cùng Kiều được đoàn tụ cùng gia đình, gặp lại người xưa
nhưng đã đổi “Tình cầm sắt cũng là duyên bạn bầy”
Khi nói về cốt truyyện “Truỵện Kiều”, Trần Đình Sử lại có ý kiến cho rằng: cốt truyện “Truyện Kiều” khác hẳn mô hình “Gặp gỡ - Tai biến – Đoàn
Trang 22tụ” Và ông đã giải thích nghệ thuật tiểu thuyết Trung Quốc bắt đầu tách khỏi
truyện sử, từ việc ghép truyện Từ truyện truyền kỳ đời Đường cho đến các
tập truyện “Tam Ngôn”, “Nhị Phách” đời Minh, nhiều truyện đều là do hai
truyện ghép lại với nhau để tạo thành cộng hưởng hoặc tương phản về chủ đề Tiểu thuyết trường thiên Trung Quốc được các nhà nghiên cứu hình dung như một liều thuốc bắc có nhiều thang, trong một gói lớn có nhiều gói nhỏ, mỗi gói sắc uống một vài lần, cứ thế hết gói này đến gói khác Tuy liên tục nhưng
mỗi gói có tính độc lập và nhiều khi khác nhau ở sự gia giảm “Truyện Kiều”
được cấu tạo như mọi tiểu thuyết chương hồi nói chung, mặc dù đã bỏ hết sự phân hồi và hồi mục bằng một chuỗi truyện lớn nhỏ và trong mỗi truyện có
gần như đầy đủ các thành phần của cốt truyện: có giới thhiệu, thắt nút, phát
triển, cao trào, mở nút Xét trong tổng thể có thể xem “Truyện Kiều” bao
gồm một chuỗi các chuyện như sau:
1) Chuyện du xuân, gặp Đạm Tiên, Kim Trọng, tối về bâng khuâng 2) Chuyện Kim– Kiều gặp nhau và thề hẹn chung tình
3) Chuyện Kiều bán mình cứu cha và em trai
4) Chuyện Kiều bị ép phải tiếp khách
5) Chuyện Kiều– Thúc Sinh dan díu và thành gia thất
6) Chuyện Hoạn Thư cho người bắt cóc Kiều về làm đầy tớ
7) Chuyện Hoạn Thư đánh ghen
8) Chuyện Kiều chạy trốn và bị Bạc Hạnh lừa
9) Chuyện Kiều lấy Từ Hải, báo ân báo oan và chết theo Từ Hải
10) Chuyện Giác Duyên trực vớt Thúy Kiều
11) Chuyện Kim trọng Trở về và lấy Thúy Vân
12) Chuyện Kim Trọng tìm Kiều và đón nàng về
13) Chuyện Kim– Kiều tái hợp
Trang 23Cách phân chia trên đây cho thấy “Truyện Kiều” là một chuỗi chuyện,
khác hẳn truyện cổ tích chỉ có một chuyện Hơn nữa trong mỗi chuyện nhỏ ở
trên của “Truyện Kiều” lại có thể bao gồm nhiều chuyện nhỏ hơn nữa Ví dụ
như chuyện du xuân bao gồm chuyện gặp Đạm Tiên, chuyện nằm mộng Đạm Tiên, họa thơ hội Đoạn trường
Đặc sắc của tự sự trong “Truyện Kiều” là tác giả có ý thức kể rành
mạch từng chuyện, mỗi chuyện đều có mở, kết, có cao trào, làm cho người đọc dễ theo dõi (đây là điều mà không phải truyện Nôm nào cũng làm được
Các truyện như “Tống Trân- Cúc Hoa”, “Phạm Tải- Ngọc Hoa” …chỉ nhằm
kể chuyện, không chú ý tả cảnh tả tình) Ví dụ: Chuyện du xuân bắt đầu từ cảnh mùa xuân:
“Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
Và kết thúc bằng cảnh Kiều băn khoăn về tương lai, số phận của mình:
“Hiên tà gác bóng nghiêng nghiêng,
Nỗi riêng riêng chạnh tấc riêng một mình”
Đỉnh điểm của đoạn này là giấc mơ về Đạm Tiên, nhưng thực ra đây không phải là giấc mơ thông thường, bởi khi tỉnh giấc chiêm bao nhân vật còn thấy:
“Hương thừa dường hãy ra vào đâu đây”
Trong truyện này có các truyện nhỏ: chuyện gặp Đạm Tiên bắt đầu từ: “Sè sè
nấm đất bên đường- Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh” và kết thúc ở
chỗ: “Dùng dằng nửa ở nửa về” câu thơ: “Rằng sao trong tiết thanh minh-
Mà đây hương khói vắng tanh thế này” là thắt nút Đoạn “Vương Quan mới dẫn gần xa”… là phát triển Đến câu “Lòng đâu sẵn mối thương tâm- Thoắt nghe nàng đã đầm đầm châu sa”…là đỉnh điểm của xót đau và bất bình Thắp
hương, khấn vái, làm thơ, khóc than là các sự việc làm vơi dần xót thương:
“Rằng hay: chị cũng nực cười- Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa” Thì
Trang 24sự việc lại phát triển, và để chứng tỏ Đạm Tiên không phải là người đời xưa,
Kiều đã xin nàng hiển linh, Đạm Tiên đã xuất hiện làm cho : “Mặt nhìn ai
nấy đều kinh” Đó cũng là một đỉnh điểm, khẳng định sự hiện diện của anh
hồn, và sau đó Kiều lại tạ lòng, làm thơ cho đến khi Kim Trọng xuất hiện…
Chuyện gặp Kim Trọng cũng được dẫn dắt từ bắt đầu cho đến kết thúc
Mở đầu là tiếng “nhạc vàng” rồi Kim Trọng xuất hiện với tất cả vẻ sang
trọng đài các, rồi Vương Quan giới thiệu, Kim Trọng phải lòng Kiều Khi Kim Trọng về, để lại cả một vùng cảnh sắc đầy lưu luyến
“Khách đà lên ngựa, người còn nghé theo Dưới cầu nước chảy trong veo Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha”
Chuyện nằm mộng Đạm Tiên cũng bắt đầu từ khi trở về:
“Kiều từ trở gót trướng hoa, Mặt trời gác núi chiêng đà thu không”…
Rồi Kiều suy nghĩ về hai cuộc gặp gỡ coi như là thắt nút, làm thơ ngụ tình, ngủ thiếp đi Đạm Tiên xuất hiện, đưa mười bài thơ để họa vần, mẹ thức dậy
kể cho mẹ nghe, mẹ an ủi, nhưng Kiều lại khóc thầm
Ta thấy mỗi truyện, tức là một sự kiện đều được kể một cách hoàn chỉnh từ đầu đến cuối, từ cảnh đến tình, khiến người đọc được hình dung rõ
rệt, khúc chiết Đó là những sự kiện dệt nên “Truyện Kiều”, là tế bào của
“Truyện Kiều”
Mặc dù Trần Đình Sử khẳng định cốt truyện “Truyện Kiều” khác mô hình cốt truyện: Gặp gỡ- Tai biến- Đoàn tụ Nhưng chúng vẫn có mối liên hệ với nhau, chẳng hạn chúng ta có thể dựa vào ba biến cố: Gặp gỡ- Tai biến-
Đoàn tụ để tóm tắt cốt truyện, tìm hiểu cụ thể, chi tiết từng chuyện trong một
biến cố Ví dụ ở phần gặp gỡ có các chuyện: chuyện du xuân, gặp Đạm Tiên,
Trang 25Kim Trọng, tối về bâng khuâng và chuyện Kim– Kiều gặp nhau, thề hẹn chung tình…
Một vấn đề nữa khi bàn về cốt truyện “Truyện Kiều” đó là về mô hình
kết thúc có hậu Kết thúc có hậu trong “Truyện Kiều” có điểm khác các truyện
Nôm bình dân, đó là các ý kiến đồng nhất cho rằng: cách kết thúc có hậu
trong “Truyện Kiều” là chưa thỏa đáng, chưa hợp lôgic Ý kiến của Đặng Thanh Lê: “riêng ở Truỵện Kiều màn “kết thúc có hậu” có phần vượt khỏi
khuôn khổ cổ truyền Nguyễn Du không có đôi cánh lãng mạn của nàng tiên huyền diệu đưa cao lương mĩ vị thay thế cơm hẩm cá ôi “Truyện Kiều” không có cái kết cấu bình dị nhưng đầy ý nghĩa lạc quan chiến đấu của một
số truyện Nôm chịu ảnh hưởng của văn học dân gian như “Phạm Tải - Ngọc Hoa”, “Thạch Sanh”, “Tống Trân- Cúc Hoa”…Nhạc khúc cuối cùng của kiệt tác “Truyện Kiều” nghe ra cũng vẫn “ngậm đắng nuốt cay thế nào” Màn
“tái hồi Kim Trọng” là một kết thúc vừa sáng tươi, vừa bi kịch”.[15; tr 151]
Nguyễn Lộc khi nói về vấn đề kết thúc có hậu trong truyện Nôm bình dân, đã so sánh với vấn đề kết thúc có hậu trong “Truyện Kiều” và đưa
ra những nhận xét: “Nhân vật tích cực trong truyện Nôm bình dân nhiều khi
rơi vào những tình thế bất lợi, nhưng về phương diện tinh thần không bao giờ
họ ở thế thua, thế kém, mà họ chống đối đến cùng Thúy Kiều của Nguyễn Du càng chống đối càng thất bại, và những thất bại ấy để lại những dấu ấn đậm nét trong tính cách của nàng, như thế rõ ràng không thể kết thúc có hậu được; chứ nàng Ngọc Hoa, nàng công chúa trong truyện Lý Công, chàng Tống Trân, chàng Phạm Công hay chàng Châu Tuấn có thể không thắng lợi ngay, nhưng họ không thất bại, các thế lực phản động không bẻ gãy được ý chí phản kháng của họ, và những nhân vật như thế, lôgíc tất yếu của họ là phải kết thúc thắng lợi, phải có hậu”.[16; tr 301]
Trang 26Hoài thanh cũng nói: “Truyện Kiều” vẫn là một câu chuyện chưa
kết thúc, một vấn đề chưa giải quyết
Như vậy nói đến thế giới truyện Nôm chủ yếu là nói đến những cốt truyện, những nhân vật trong từng TP Bởi đối với các TP văn học tự sự thì cốt truyện chính là nhân tố có ý nghĩa quyết định và chi phối đối với các yếu
tố cấu thành của thể loại Mà nói đến cốt truyện thì cũng tức là nói đến nội dung hiện thực mà TP chiến lĩnh, nhận thức và phản ánh Nguyễn Du mượn
cốt truyện của “Kim Vân Kiều truyện” (truyện về Kim Trọng, Thúy Vân, Thúy Kiều) để sáng tạo nên “Truyện Kiều” (lúc đầu có tên là “Đoạn trường
tân thanh”_nghĩa là tiếng nói mới về nỗi đau đứt ruột) mục đích là tái hiện hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam cuối TK XVIII, đầu TK XIX Nói về
điều này Trương Tửu đã có nhận xét như sau: “Truyện Kiều” là một tri thức
lịch sử chính xác về xã hội và con người Việt Nam cuối TK XVIII, đầu TK
XIX Nhưng sâu xa hơn nữa, “Truyện Kiều” không đơn thuần là tái hiện hiện
thực mà thông qua TP này ông còn bày tỏ thái độ của mình đối với xã hội đương thời Ông lên án, tố cáo giai cấp thống trị đã cậy quyền cậy thế vùi dập con người, nhất là đối với những người phụ nữ Đồng thời Nguyễn Du bày tỏ lòng cảm thông sâu sắc đối với những kiếp người tài hoa mà bạc mệnh, lên tiếng bênh vực và ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của họ Có lẽ vì vậy mà
“Truyện Kiều” của Nguyễn Du có giá trị ở mọi thời đại và trường tồn với thời
gian
b) Nhân vật
Đặc trưng quan trọng và cơ bản thứ hai của thể loại tự sự là nhân vật
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”: “Nhân vật văn học là “con người
cụ thể được miêu tả trong TP văn học”[8; tr 235]
Có thể hiểu cụ thể hơn như sau: nhân vật là con người cụ thể được miêu
tả trong TP văn học Nhân vật văn học có thể có tên, không tên, có thể là con
Trang 27vật, vị thần Chức năng cơ bản của văn học là khái quát tính cách của con người Bất kì một TP văn học nào cũng có nhân vật nhưng vai trò của các nhân vật không bình đẳng, Từ những góc độ khác nhau có thể chia nhân vật văn học thành nhân vật chính, nhân vật phụ và nhân vật trung tâm
Dựa vào đặc điểm tính cách, việc truyền đạt ý tưởng của nhà văn, nhân vật văn học có thể chia thành: nhân vật chính diện, nhân vật phản diện
Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách của con người Do tính cách là một hiện tượng xã hội, lịch sử, nên chức năng khái quát tính cách của nhân vật văn học cũng mang tính lịch sử Trong thời cổ đại
xa xưa, nhân vật văn học của thần thoại, truyền thuyết thường khái quát năng lực và sức mạnh của con người Ứng với xã hội phân chia giai cấp, nhân vật của truyện cổ tích lại khái quát các chuẩn mực giá trị đối kháng trong quan hệ giữa người với người như thiện với ác, trung với nịnh, thông minh và ngu đần… vì tính cách là kết tinh của môi trường, nên nhân vật văn học là người dẫn dắt độc giả vào các môi trường khác nhau của đời sống Vậy ta thấy, nhân vật văn học có vai trò quan trọng trong TP tự sự
* Nhân vật truyện Nôm bình dân
Về nhân vật truyện Nôm bình dân, nhìn chung vẫn còn chưa thoát ra khỏi khuôn mẫu của nhân vật Truyện cổ tích Do đó có thể nói nhân vật của truyện Nôm về cơ bản vẫn còn mang những nét đặc trưng của truyện cổ tích
Xem xét các nhân vật chính trong “Lý Công”, “Thoại Khanh- Châu
Tuấn”, “Tống Trân- Cúc Hoa”, “Phạm Công - Cúc Hoa”… ta cảm thấy như
họ đều được rút ra từ một khuôn Các nhân vật nam như Lý Công, Châu Tuấn, Tống Trân, Phạm Công đều mồ côi cha hoặc mồ côi cả cha lẫn mẹ Họ đều là những chàng học trò nghèo, phải đi ăn mày nhưng vẫn có chí học hành
và cuối cùng họ đều thi đỗ trạng nguyên Trong tình yêu họ đều là những con người hết mực thủy chung son sắt, khi thành đạt họ bị nhà vua ép gả công
Trang 28chúa, nhưng đều không nhận, thà chịu đi dầy viễn xứ hàng chục năm chứ quyết không phụ bạc người vợ đã gắn bó từ bần hàn Đó là tính cách chung của những nhân vật nam Về những nhân vật nữ thì người nào cũng có ngoại hình tuyệt đẹp, vì thế họ hầu như có cái mỹ danh “Hoa” giống nhau: Phương
Hoa (trong “Phương Hoa”), Cúc Hoa (trong Phạm Công Cúc Hoa), Cúc Hoa
và Bạch Hoa (trong Tống Trân – Cúc Hoa)…,về tính cách họ đều là những cô
gái hiếu thảo với mẹ chồng, đảm đang nuôi chồng ăn học cho đến khi công thành danh toại, và trong lúc gặp hoan nạn phải xa chồng, họ vẫn một lòng một dạ giữ tròn danh tiết, kiên chinh đợi chờ Những phẩm chất chung ấy hầu như ai cũng có và cũng đạt tới mức thánh thiện không có một chút thiếu sót nào Do vậy mà thế giới nhân vật trong truyện Nôm có tính chất lý tưởng hóa, công thức hóa hơn là hiện thực
Nhân vật truyện Nôm bình dân được thể hiện chủ yếu thông qua hành động, qua sự việc, qua đối thoại cho nên khi nghiên cứu và giảng dạy truyện Nôm cần hết sức quan tâm đến phương thức biểu hiện nhân vật của thể loại này
Nguyễn Lộc khi viết về đặc điểm nghệ thuật của truyện Nôm bình dân
đã cho rằng : “Truyện Nôm bình dân sáng tác để kể là chính, do đó nhân vật
trong truyện thường được thể hiện thông qua hành động chứ không phải thông qua việc miêu tả ngoại hình, hay phân tích nội tâm Ngoại hình của nhân vật trong truyên Nôm bình dân có khi không được miêu tả, có khi được miêu tả một cách sơ sài, công thức, đủ để người nghe nhận ra nhân vật đó tốt hay xấu (nhân vật tốt thường có ngoại hình đẹp và ngược lại), còn nội tâm của
nó nếu có được chú ý phần nào thì cũng thông qua hành động mà biểu hiện ra ngoài, chứ tác giả không trực tiếp miêu tả”.[16; tr 302]
Đặng Thanh Lê cũng nhận xét: “Một số truyện Nôm còn âm hưởng của
phong cách tự sự dân gian, vẫn nặng về trình bày sự kiện, hành động Một số
Trang 29truyện khác chủ yếu dùng ngôn ngữ đối thoại để biểu hiện cảm nghĩ của nhân vật Sự miêu tả trực tiếp nội tâm nhân vật không phải đã được chú trọng ở toàn bộ các truỵên Nôm và không phải truyện Nôm nào cũng có thành tựu lớn lao về phương diện này”.[15; tr 302]
Rõ ràng, các tác giả đều có chung một nhận xét là nhân vật truyện Nôm bình dân được thể hiện chủ yếu thông qua sự việc chứ không phải qua miêu tả ngoại hình hay miêu tả nội tâm, phân tích tâm lý
Đó là nhận xét rất cơ bản và có tính qui tắc về nghệ thuật biểu hiện nhân vật trong truyện Nôm bình dân Như đã biết, truyện Nôm bình dân vốn thoát thai từ truyện cổ tích, do đó việc truyện Nôm bình dân còn lưu giữ những yếu tố thi pháp của truyện cổ tích thì cũng là điều tất yếu và dễ hiểu
Nhưng theo Trần Đình Sử trong “Thi pháp Truyện Kiều”, ông lại có ý
kiến gần như trái ngược lại với những nhận định trên:
Thứ nhất, ông cho rằng nhân vật trong truyện Nôm (truyện Phạm Tải- Ngọc Hoa) là nhân vật có biểu hiện tâm lý trong lời nói, hành động:
“Phạm Tải rón rén thưa quỳ, Ngập ngừng mới giải vân vi tỏ tường
Sơn Tây, Ngọc Tháp la làng, Hai thân sớm đã suối vàng xa chơi”
Thứ hai là nhân vật có tâm trạng :
“Ngọc Hoa từ thấy mặt chàng Cảm thương quân tử nhỡ nhàng đắng cay
Ước ao loan phượng sánh bầy
Để ta nuôi lấy chàng rày kẻo thương
Nghĩ đi nghĩ lại nỗi chàng Lại sa nươc mắt hai hàng như mưa”…
Trang 30Thứ ba : Nhân vật có cá tính, ngôn ngữ riêng, phân biệt được với nhân
vật khác:
“Ta là danh giá con nhà Chê ta lấy đứa khật khà bần nhân!
Ta làm cho Phạm lìa trần, Mới cam lòng dạ bỏ lần chê tao.”
Trang Vương nói với Điện Biền :
“Phán rằng sự thực nhường này, Thì tao phong chức cho mày quân công
Dù mày cáo dẫn gian phong, Thì tao tru diệt tam tông họ mày!”
Theo cách nói của Trần Đình Sử, rõ ràng truyện Nôm là hình thức tự sự
về con người trên cấp độ chủ thể với nhu cầu khắc họa tính cách, tâm lý, ý nghĩ, lời nói Và những đặc điểm này thì gần với truyện Nôm bác học
* Nhân vật trong truyện Nôm bác học
Nhân vật trong truyện Nôm bác học, nhìn chung đã thể hiện trình độ cao của nghệ thuật truyện Nôm, trong đó TP đạt tới đỉnh cao chói lọi của nghệ
thuật văn học cổ điển Việt Nam là “Truyện Kiều” Con người trong TP này,
một mặt vẫn mang những đặc điểm chung của con người trong truyện thơ Nôm bình dân, đồng thời lại thể hiện đầy đủ, sâu sắc nhất cho quan niệm con người của văn học đương thời (văn học trung đại)
Hầu hết truyện Nôm bác học là truyện tình yêu giữa tài tử và giai nhân
Ở đây tuy cũng có nhiều bất công xã hội nhưng chủ yếu là những truyện tình yêu cho phép bộc lộ riêng tư thầm kín của con người Có thể xét lần luợt các khía cạnh qua một số truyện tiêu biểu
Con người được xây dựng theo mô hình: “con người vũ trụ” con người
là chung đúc khí sắc của đất, nước, được hình dung qua các hiện tượng thiên
Trang 31nhiên tươi đẹp như mây, núi, trăng, ngọc, tuyết, mai, lan, trúc, tùng…chẳng
hạn như chân dung của Thúy Kiều, Thúy Vân mà ai cũng thuộc Nói đẹp thì
“hoa ghen, liễu hờn” hoặc “mây thua, tuyết nhường” Nói chí thì “đội trời đạp
đất”, nói tình thì “non nước, mây mưa”… con người được hình dung trong
quy mô vũ trụ, đứng giữa trời đất Ví dụ: nét đẹp của nàng Nhụy Châu trong truyện “Song Tinh” được miêu tả:
“Dầy dầy da ngọc tuyết ken, Mày ngài khói đạm, tóc choang mây hồng
Gót sen đua nở bạc hồng, Sóng ngời mắt phượng, sáng phong má đào”
Con người mang tính chất vũ trụ, thiên nhiên cao quý, tinh khiết Cô
Quỳng Thư trong “Sơ kính tân trang” thì:
“Lam pha mày liễu, mỡ đông da gà
Chiều cá nhẩy vẻ nhạn sa, Mắt long lanh nguyệt tóc rà rà mây”
Quan niệm con người vũ trụ ở đây đã biểu hiện thành hệ thống: Không đơn giản chỉ là so sánh bề ngoài, mà còn thể hiện những mối quan hệ bí ẩn về tinh khí, vận mệnh Chẳng hạn chân dung Từ Hải với đặc điểm của ba giống vật
khác hẳn nhau về chủng loại: “râu hùm, hàm én, mày ngài”…không hề gợi
nên dị nghị mà còn cho thấy một sức mạnh tiềm ẩn vốn có của các anh hùng xưa, đó là sự uy linh, đa tình ở bên trong Hay như trong chân dung của Kiều:
“thu thủy, xuân sơn” không chỉ là nét thanh tú và trong sáng mà còn thể hiện
một cách đa tình hàm chứa trong hai yếu tố non- nước
Mọi hành động, cử chỉ của con người đều gợi một quy mô vũ trụ như:
“Tung hoành ngang dọc, chọc trời khuấy nước, vẫy vùng bể khơi”, làm một bài thơ thì cũng “tay tiên gió táp mưa sa”, khóc người tình cũng “vật mình
vẫy gió tuôn mưa”, Đi thi cử thì “Sứ trời đã giục đường mây” Một không
Trang 32gian vũ trụ bao bọc con người ý nghĩ, động cơ của con người như cũng có
cội nguồn vũ trụ “Trượng phu thoát đã động lòng bốn phương” Khi Từ Hải đánh dẹp thì “Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi Nam” Con người hiện lên quả
Thì “trang trọng”, “đoan trang” gắn liền với các đường nét tròn trĩnh không
góc cạnh, làm cho các sự vật khác có thể kém cạnh mà không xung khắc Mặt
khác, sắc đẹp lại được hình dung qua cái lăng kính những “khuôn trăng”,
“nét ngài”, “hoa”, “ngọc”, “tuyết”, “mây” là những yếu tố khách thể thiên
nhiên vừa cao quý, siêu phàm, không gợi chút vẻ đẹp trần tục, xác thịt, đồng thời vừa có tính khuôn sáo, ít mang dấu ấn cá nhân của nghệ sĩ
Cùng với mô hình con người vũ trụ là thái độ tôn xưng đối với loại người tài tình, phân biệt với những người khác Đó là quan niệm con người
“đấng bậc” chi phối sự cảm nhận và miêu tả Đạm Tiên là “đấng tài hoa”, Kim Trọng là “bậc tài danh”, Từ Hải là “đấng anh hùng”, Thúy Kiều là “bậc
bố kinh”
Ta thấy rằng sự miêu tả trong văn học trung đại thường mang tính ước
lệ Nhưng sự ước lệ vũ trụ chỉ gắn với những nhân vật lí tưởng, chính diện
như Kim Trọng, Từ Hải Trong “Truyện Kiều”, Kim Trọng và Từ Hải là hai
nhân vật được tác giả xây dựng theo lối lí tưởng hóa Kim Trọng là hình ảnh của một người yêu lí tưởng và Từ Hải là hình ảnh của một người anh hùng lí tưởng trên bình diện của công lí và tự do Đó là những tính cách bất biến từ
Trang 33đầu đến cuối Đối với những nhân vật lí tưởng hóa, bút pháp miêu tả của Nguyễn Du là bút pháp có tính chất ước lệ cổ điển Từ Hải là anh hùng, cho nên phải tả Từ Hải oai phong lẫm liệt:
“Râu hùm, hàm én, mày ngài,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao…
Đường đường một đấng anh hào, Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài”
Còn Kim Trọng là văn nhân, cho nên phải tả Kim Trọng cho nho nhã, hào hao
“Đề huề lưng túi gió trăng,
Sau lưng theo một vài thằng con con
Tuyết in sắc ngựa câu dòn,
Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời”…
Đối với những nhân vật phản diện thì nhà văn cố gắng miêu tả cho chúng gần gũi với đời sống, với hiện thực, theo đặc tính thực tế của chúng về nghề
nghiệp, cá nhân Chẳng hạn: Tú Bà thì “Thoắt trông nhờn nhợt màu da”; Sở Khanh thì : “Hình dong chải chuốt áo khăn dịu dàng”; Mã Giám Sinh thì
“Quá niên trạc ngoại tứ tuần– Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao” Miêu
tả sự đỏm dáng thái quá ấy để thấy khác hẳn với vẻ lịch sự, hào hoa của Kim Trọng
Đặc điểm tiếp theo của con người trong truyện thơ Nôm (và cũng là
thơ văn trung đại nói chung) là lối “tỏ lòng” Các tác giả quan niệm phẩm chất
con người phải được biểu hiện qua màu sắc tương phản gay gắt, hành vi khác
thường Chẳng hạn Kiều Nguyệt Nga trong TP “Lục Vân Tiên” Lúc nào cũng
mang theo bức tranh Lục Vân Tiên do nàng vẽ ra bên người để bày tỏ tấm lòng chung thủy Cũng thế, Kiều phải bán mình chuộc cha Hành vi tỏ lòng cao nhất là tự tử: Thúy Kiều, Kiều Nguyệt Nga, Quỳnh Thư… đều đã có lần
tự tử để tỏ tấm lòng Sự hi sinh càng bi thảm, hành động càng khác thường,