1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học thể loại thơ ở trường phổ thông theo hướng công nghệ

68 363 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài: “Dạy học thể loại thơ ở trường phổ thông theo hướng công nghệ” tôi đã thường xuyên nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và chỉ bảo

Trang 1

Trờng đại học s phạm Hà Nội 2 „„„„„„„„„„„„„„„„„„„„„„„„„„„„„„„„„„„„„„„„

DẠY HỌC THỂ LOẠI THƠ

Ở TRƯỜNG PHỔ THễNG THEO HƯỚNG CễNG NGHỆ

Hà Nội - 2009

ĐẶNG THỊ THẢO

KHểA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyờn ngành: Phương phỏp dạy học Ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học

PGS.TS ĐỖ HUY QUANG

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài: “Dạy học thể loại thơ ở trường phổ

thông theo hướng công nghệ” tôi đã thường xuyên nhận được sự giúp đỡ, tạo

điều kiện thuận lợi và chỉ bảo tận tình của các thầy cô trong khoa Ngữ văn

đặc biệt là các thầy cô trong tổ phương pháp dạy học Ngữ văn và PGS.TS Đỗ

Huy Quang – người hướng dẫn trực tiếp và các bạn trong nhóm

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn và lời cảm ơn trân trọng nhất

Do thời gian có hạn và năng lực còn hạn chế những vấn đề trình bày

trong khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự chỉ

bảo, góp ý của thầy cô và các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2009

Tác giả khoá luận

Đặng Thị Thảo

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “ Dạy học thể loại

Thơ ở trường phổ thông theo hướng công nghệ” là công trình nghiên cứu

của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Đỗ Huy Quang

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2009

Tác giả khoá luận

Đặng Thị Thảo

Trang 4

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 11

7 Phương pháp nghiên cứu 11

8 Đóng góp của khoá luận 11

9 Cấu trúc của khoá luận 12

1.1.3 Định nghĩa công nghệ dạy học 14

1.2 Cộng nghệ dạy học ở Việt Nam 14

1.2.1 Quan niệm về dạy học ở trung tâm công nghệ Giảng Võ 14

1.3 Những nét lớn về dạy học theo hướng công nghệ 17

1.3.1 Dạy học là thầy giáo thiết kế… 17

1.3.2 Dạy học theo hướng công nghệ bắt nguồn từ lí thuyết hành vi 17

1.3.3 Dạy học theo hướng công nghệ khởi xướng theo lí thuyết hoạt động 18

Trang 5

1.4 Yêu cầu của dạy học Ngữ văn theo chương trình SGK đổi mới 19

1.4.1 Những điểm mới của chương trình SGK Ngữ văn THPT 19

2.1.1 Khái niệm chung 23

2.1.2 Đặc điểm thể loại thơ 23

2.1.2.3 Đặc điểm chung của thơ 24

2.1.2.4 Tuy trên nền tảng là ba đặc điểm chung đó nhưng… 33

2.2 Đọc - hiểu văn bản theo thể loại 39

2.2.1 Chương trình và SGK Ngữ văn 39

2.2.2 Cấu trúc đơn vị bài học theo SGK Ngữ văn 41

2.2.3 Đọc văn bản nghệ thuật 42

2.2.4 Đọc - hiểu văn bản thơ theo thể loại 46

Chương 3 Thiết kế thể nghiệm với văn bản Đây thôn Vĩ Dạ 52

3.1 Vai trò của công nghệ thông tin 52

3.1.1 Công nghệ thông tin với đời sống 52

3.1.2 Công nghệ thông tin với dạy học 52

3.1.3 Công nghệ thông tin trong dạy học văn 52

3.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn 54

Trang 6

BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT

CNTT: Công nghệ thông tin CNDH : Công nghệ dạy học KHCN: Khoa học công nghệ SGK: Sách giáo khoa SGV: Sách giáo viên VD: Ví dụ

HS: Học sinh GV: Giáo viên NXB: Nhà xuất bản THPT: Trung học phổ thông PTTH: Phổ thông trung học

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Về mặt khoa học

Giáo dục - đào tạo đang khẳng định được vị trí của mình đối với sự

phát triển của đất nước Đặc biệt hiện nay chúng ta đang bước vào thế kỷ

XXI, thế kỷ của KHCN, thế kỷ của nền kinh tế tri thức… thì giáo dục - đào

tạo ngày càng có vị trí quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia

Nhận thấy vai trò to lớn của giáo dục - đào tạo đối với sự phát triển của đất

nước, Đảng và Nhà nước ta đã luôn xác định “Giáo dục là quốc sách hàng

đầu” và có những ưu tiên, đầu tư cho sự phát triển của giáo dục Tuy nhiên,

làm thế nào để giáo dục hoàn thành sứ mệnh của mình đối với sự phát triển

của đất nước làm thế nào để giáo dục ngày càng chứng tỏ được vai trò của

mình đối với đất nước thì đó vẫn còn là một câu hỏi

Để làm được điều đó, các nhà giáo dục đã nhiều lần tiến hành cải cách

giáo dục bằng việc thay sách và đổi mới phương pháp dạy học Trước năm

1981, dạy học theo định hướng phát huy trí thông minh của học sinh Sau

1981, đã tiến hành cải cách giáo dục lần 3 với phương pháp: phát huy vai trò

chủ thể của học sinh… và đến năm 2005 các nhà cải cách giáo dục đã quyết

định thay sách Với lần thay sách này đã kéo theo sự đổi mới về phương pháp

dạy học Và dạy học hiện nay là dạy học tích cực với trọng tâm là đi tìm hoạt

động học tập của học sinh

Trong dạy học Ngữ văn hiện nay, nội dung chương trình SGK ngoài

việc phân theo thời kỳ lịch sử còn được phân theo thể loại Và vấn đề dạy học

văn theo loại thể đã được hình thành Tuy nhiên, cho đến nay, vấn đề dạy học

văn theo thể loại vẫn còn nhiều điều chưa tường minh cần phải làm rõ: Ví dụ:

Trang 8

quy trình chung cho việc dạy một bài văn theo từng thể loại nhất định chưa

được làm sáng tỏ…

1.2 Về mặt thực tiễn

Cải cách giáo dục bằng việc thay sách lần này đã đặt ra một yêu cầu là

cần phải đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn Để đáp ứng được yêu cầu đó

phương pháp dạy học Ngữ văn lần này được đổi mới theo hướng lấy học sinh

làm trung tâm, phát huy tính tích cực của học sinh Theo phương pháp mới

này học sinh sẽ là người tự tìm ra tri thức của nhân loại dưới sự hướng dẫn

của thầy, cô giáo Thầy cô là người thiết kế, là người hướng dẫn học sinh tìm

ra con đường đến với tri thức của nhân loại Và học sinh là người tự đi trên

con đường này Tuy nhiên trên thực tế phương pháp dạy học mới này đã được

áp dụng triệt để và sử dụng có hiệu quả hay chưa thì đó vẫn là một câu hỏi

Thầy, cô giáo đã thực sự chỉ là người hướng dẫn học sinh hay vẫn là người

làm hết mọi công việc cho học sinh, học sinh chỉ là người “ăn sẵn” thôi? Đặc

biệt với môn văn thì từ trước đến nay với phương pháp dạy học truyền thống,

thầy, cô giáo luôn là người làm hết mọi việc, học sinh chỉ việc ghi chép và

học thuộc Dường như ở học sinh không có sự sáng tạo, tìm tòi, tất cả đều phụ

thuộc vào thầy, cô giáo Giờ đây, với phương pháp dạy học mới này yêu cầu

học sinh phải tự tìm ra tri thức Liệu đây có phải là một yêu cầu cao? Học sinh

có bỏ được thói quen đọc - chép cũ để bắt đầu với thói quen mới phải vận

động tri não? Học sinh có làm được hay không? Tất cả đều còn là những câu

hỏi và đang được bàn cãi rất nhiều

Bên cạnh đó, thế kỷ XXI là thế kỷ của KHCN thế kỷ của nền kinh tế tri

thức Công nghệ thông tin đang xâm nhập vào các ngõ ngách, ở mọi lĩnh vực

của đời sống xã hội và giáo dục - đào tạo không nằm ngoài guồng quay này

Việc áp dụng công nghệ thông tin trong dạy học đang được sử dụng nhiều và

đạt được những thành công nhất định

Trang 9

1.3 Về mặt cá nhân

Là một sinh viên lại là sinh viên năm cuối ở một trường Đại học sư

phạm sắp trở thành giáo viên Là người sẽ trực tiếp hướng dẫn học sinh của

mình tìm hiểu các văn bản văn học, tôi luôn quan tâm đến vấn đề đọc - hiểu

của học sinh theo chương trình đổi mới

Đồng thời, tôi cũng mong muốn có chút ít kinh nghiệm làm hành trang

và cơ sở để sau khi ra trường sẽ vững vàng hơn, tự tin hơn khi đứng trên bục

giảng, đứng trước học sinh của mình

Với tất cả những lý do trên, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Dạy học

thể loại thơ ở trường phổ thông theo hướng công nghệ”

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử công nghệ dạy học

Công nghệ dạy học đã có từ lâu và được chia ra làm 4 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Đây là giai đoạn hình thành ý tưởng về công nghệ dạy

học vào cuối thế kỷ XIX khi mà nền sản xuất đã công nghiệp hóa và tự động

hóa tạo nên năng suất cao thì người ta đã đặt ra câu hỏi: Dạy học có công

nghệ được không, và nếu có thì năng suất sẽ cao hơn

Do nền sản xuất đã công nghiệp hóa nên cần nguồn nhân lực có khả

năng sáng tạo, có trí thông minh Do đó dạy học nêu vấn đề đã được đề xuất:

người học sẽ tự giải quyết vấn đề chứ không phải truyền giảng Vì vậy yêu

cầu người học phải tư duy

- Giai đoạn 2: Hiện thực hóa công nghệ dạy học, vào đầu thế kỷ XX,

nó gắn liền với lý thuyết hành vi Đây là lý thuyết được sản sinh ở Mỹ do

Oátxơn đề xướng Sau đó Skinơ đã phát triển thành công nghệ dạy học với

các thí nghiệm chó tiết nước bọt và chim chọn hạt ông đã đi đến kết luận: nếu

một việc nào đó dù phức tạp đến mấy nếu được chia nhỏ ra giao cho con

Trang 10

người để thực hiện từng bước một thì sẽ làm được, và trong giáo dục cũng

vậy Đây là hình ảnh của công nghệ dạy học

- Giai đoạn 3: Hoàn thiện công nghệ dạy học, giai đoạn này diễn ra vào

những năm giữa của thế kỷ XX dựa trên cơ sở lý thuyết hoạt động Người

sáng lập ra lý thuyết hoạt động là Vưgôtxki Từ đây ông đưa ra kết luận là:

trong giáo dục nếu tổ chức được hoạt động với đối tượng và học sinh làm

được điều đó thì đối tượng sẽ chuyển vào trong đầu học sinh Do đó trong dạy

học phải tổ chức hoạt động học tập cho học sinh

- Giai đoạn 4: Chuyển giao công nghệ dạy học vào thực tiễn

Công nghệ dạy học đã được tiến hành ở nhiều nước

+ Ở Nga, người đầu tiên đưa công nghệ vào dạy học là Đavưđôp

+ Ở Việt Nam: Hồ Ngọc Đại đã tổ chức một trường thực nghiệm: trung

tâm công nghệ giáo dục Giảng Võ

Dạy học theo hướng công nghệ đã khiến cho từng việc của người dạy,

người học được quy định theo một logic tường minh, một hệ thống chặt chẽ Tuy

nhiên nó chưa được mở rộng ở mọi cấp học

2.2 Lịch sử nghiên cứu đọc hiểu văn bản

Dạy đọc hiểu văn bản thì lần đổi mới này mới được đề cập tới nhưng

nói về đọc hiểu thì đã có nhiều nhà nghiên cứu bàn luận

- Theo Nguyễn Khắc Phi thì đọc hiểu là đọc ở 3cấp, với 3 mức độ: đọc

trong dòng, đọc trên dòng và đọc ngoài dòng

+ Đọc trong dòng: là đọc để hiểu các ngôn từ, hình ảnh, biểu tượng…

+ Đọc trên dòng: là đọc ý nghĩa biểu tượng, khái quát được nội dung

+ Đọc ngoài dòng: đọc liên tưởng, mở rộng hiểu biết

- Theo Trần Đình Sử: Đọc là một tổng hòa của nhiều quá trình, nhiều

hành vi nhằm mục đích là nắm bắt được ý nghĩa của văn bản Đọc bằng mắt,

bằng miệng, đọc nhận biết, tưởng tượng, ghi nhớ, ghi chép, tra cứu, phân tích,

Trang 11

so sánh trao đổi… Có nhiều hình thức đọc: đọc thành tiếng, đọc diễn cảm,

đọc thầm, đọc lướt, đọc nhanh, đọc kỹ (đọc chậm)

Còn hiểu văn bản là biết về văn bản, thông cảm, đồng cảm với cuộc

sống trong văn bản, giải thích, biểu đạt ý tưởng cái hay của văn bản Có nhiều

mức độ hiểu: hiểu bằng cảm giác, tình cảm, trực giác, hiểu bằng lý trí, lôgic,

bằng phân tích, giải thích, hành động…

- Theo Nguyễn Thanh Hùng: Đọc gồm có 4 bước:

+ Đọc thông, đọc thuộc: Đọc kỹ phần ngôn từ văn bản Đọc mà không

cần nhìn văn bản có thể nói được nội dung của văn bản đó

+ Đọc kỹ, đọc sâu: Đọc để hình dung ra thế giới hình tượng trong văn bản

+ Đọc hiểu, đọc diễn cảm: Đọc thể hiện cái hiểu của bản thân về văn

bản đó

+ Đọc sáng tạo, đọc ứng dụng: Đọc mà có thể khái quát, đánh giá được

giá trị của văn bản Lúc này đọc trở thành một kỹ năng

-Đỗ Bình Trị thì cho rằng đọc là một kỹ năng, là một phương pháp

2.3 Các nhà nghiên cứu đều đưa ra những ý kiến, quan niệm về đọc hiểu

Điểm gặp nhau giữa các ý kiến quan niệm trên là chưa trả lời cho học sinh

câu hỏi phải đọc như thế nào? Tất cả mới chỉ dừng lại ở việc là nêu lên cách

hiểu, quan điểm của mình về đọc hiểu, và mới dừng lại ở mức độ dành cho

các nhà nghiên cứu Còn đối với học sinh, người sẽ trực tiếp tiến hành việc

đọc hiểu văn bản thì lại chưa có phương pháp cụ thể Mà theo phương pháp

dạy học đổi mới hiện nay là dạy học tích cực, dạy học lấy học sinh làm trung

tâm Do đó vấn đề đặt ra ở đây là phải tìm ra một phương pháp dạy học đọc -

hiểu mới hướng đến học sinh, chỉ ra cho học sinh biết phải đọc - hiểu văn bản

như thế nào?

Trang 12

3 Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề về hoạt động học tập của học sinh trong giờ văn với định

hướng đọc - hiểu văn bản theo thể loại

4 Phạm vi nghiên cứu

Hoạt động học tập của học sinh để học sinh đọc hiểu văn bản theo thể

loại thơ

5 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận hướng tới các mục đích sau:

- Nâng cao chất lượng và hiệu quả của dạy và học văn trong trường

THPT

- Góp phần hiện thực hóa những định hướng đổi mới trong SGK Ngữ

văn thành hiện thực

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu những vấn đề lý luận của dạy học theo công nghệ để xây

dựng hoạt động học tập cho học sinh

- Tìm hiểu đặc điểm thể loại thơ và cách đọc hiểu thể loại thơ ở trường phổ

thông theo hướng công nghệ

- Thiết kế giáo án thử nghiệm theo quy trình

- Sử dụng CNTT làm cho dạy học hiệu quả

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tổng hợp lý luận và thực tiễn

- Phương pháp thống kê, phân loại, khảo sát

- Phương pháp thực nghiệm

8 Đóng góp của khoá luận

8.1 Về mặt lý luận

Trang 13

Thực hiện khóa luận này chúng tôi mong muốn làm rõ cách thức xây

dựng hoạt động học tập cho học sinh từ đó xây dựng thành quy trình dạy học

đọc - hiểu văn bản theo thể loại cho học sinh

8.2 Về mặt thực tiễn

Chúng tôi mong muốn góp phần làm cho giờ học Ngữ văn theo hướng

đổi mới trở nên tường minh

9 Cấu trúc của khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục kèm theo khóa luận có cấu trúc

gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông

theo hướng công nghệ

Chương 2: Dạy học thể loại thơ ở trường phổ thông theo hướng công nghệ

Chương 3: Thiết kế thử nghiệm bài dạy Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC NGỮ VĂN

THEO HƯỚNG CÔNG NGHỆ 1.1 Quan niệm về công nghệ dạy học

1.1.1 Vấn đề thuật ngữ

Thuật ngữ Technologic de I’enseignement: được dùng tương đương với

các thuật ngữ: công nghệ đào tạo (tecnologua obrazovania) công nghệ giáo

dục (education technology) được hiểu là một khoa học mới về việc giáo dục

con người đang được hình thành, dựa trên cơ sở những thành tựu hiện đại của

các khoa học giáo dục mới của thời đại

1.1.2.Phân chia

Trải qua quá trình phát triển từ những ngày đầu cho đến nay khái niệm

công nghệ dạy học có thể chia làm hai nhóm

- Công nghệ dạy học theo nghĩa hẹp

- Công nghệ dạy học theo nghĩa rộng

* Công nghệ dạy học theo nghĩa hẹp: Công nghệ dạy học có nghĩa là

việc áp dụng các hệ thống kỹ thuật và các phương tiện hỗ trợ để cải tiến quá

trình học tập của con người

* Công nghệ dạy học theo nghĩa rộng: Tổ chức giáo dục UNESCO đã

đưa ra định nghĩa như sau: công nghệ dạy học là khoa học về giáo dục nó xác

lập các nguyên tắc hợp lý của công tác dạy học và những điều kiện thuận lợi

nhất để tiến hành quá trình dạy học cũng như xác lập các phương pháp và

phương tiện có kết quả nhất để đạt mục đích dạy học đề ra, đồng thời tiết

kiệm được sức lực của thầy và trò

Trang 15

1.1.3 Định nghĩa về CNDH

Có nhiều định nghĩa về CNDH nhưng nói một cách đầy đủ thì CNDH

là một khoa học về giáo dục con người Dựa trên cơ sở tổng hợp những thành

tựu của nhân loại từ trước đến nay, đặc biệt những thành tựu hiện đại của các

khoa học giáo dục và các khoa học liên quan như sinh học, tâm lý học, điều

khiển học, lý thuyết tổ chức, lôgic học, kinh tế học giáo dục … công nghệ dạy

học tổ chức một cách khoa học quá trình đào tạo con người bằng cách xác

định một cách chính xác và sử dụng một cách tối ưu đầu ra (mục tiêu giáo

dục), đầu vào (học sinh) nội dung dạy học, các điều kiện phương tiện kỹ thuật

dạy học, các tiêu chuẩn đánh giá, hệ phương pháp tích cực hóa, chương trình

hóa và cá thể hóa quá trình dạy học với sự chi phí tối ưu thời gian, sức lực

tiền của của giáo viên, học sinh, nhân dân và nhà nước nhằm đạt được mục

đích giáo dục và đáp ứng được kịp thời những yêu cầu của thời đại

1.2 Công nghệ dạy học ở Việt Nam

Công nghệ dạy học ở Việt Nam lần đầu tiên được thử nghiệm tại trung

tâm công nghệ giáo dục Giảng Võ Đây là một trung tâm được thành lập năm

1978, do ông Hồ Ngọc Đại làm giám đốc với nhiệm vụ: thực nghiệm giáo dục

phổ thông theo cách làm mới và rất mới nhằm phát triển cao nhất khả năng

của trẻ em Việt Nam

1.2.1 Quan niệm về dạy học ở trung tâm công nghệ Giảng Võ

Dạy học là quá trình nhằm chuyển tri thức và năng lực của dân tộc và

nhân loại thành tri thức và năng lực cho mỗi người học

A aA: Tri thức và năng lực của dân tộc và nhân loại

a: Tri thức và năng lực của người học

 : Quy trình chuyển từ A vào a

Trang 16

Từ quan niệm về dạy học trên trung tâm đã đưa ra quan niệm về dạy

văn như sau: dạy văn là quá trình chuyển tri thức và năng lực văn của dân tộc

và nhân loại kết tinh trong các tác phẩm văn chương thành tri thức và năng

lực văn cho mỗi người học

1.2.2 Cách làm

Từ quan niệm về dạy học và dạy văn như trên, trung tâm đã đưa ra cách

làm của mình để chuyển tải tri thức đến học sinh Quy trình này mới chỉ tập

trung ở bậc tiểu học quy trình được phân ra làm 5 bước tương đương với 5

lớp, mỗi lớp hoàn thiện một bước:

- Bước 1: Đọc văn bản, giải nghĩa ngôn từ Với bước này giáo viên tổ

chức cho học sinh giải nghĩa ngôn từ bằng cách:

+ Giải nghĩa ngôn từ bằng mô tả, nhận diện

+ Giải nghĩa ngôn từ bằng những từ đồng nghĩa và trái nghĩa

+ Tìm câu, đặt câu có chứa từ cần giải nghĩa

+ Tra từ điển

Bước này dành cho học sinh lớp 1

- Bước 2: Dựng hình tượng, tái tạo nội dung phản ánh, nội dung biểu

hiện, cách phản ánh…

Với bước này có thể sử dụng các thao tác:

+ Đặt câu hỏi: Nhìn thấy gì? Nghe thấy gì? Sau khi đọc văn bản

+ Cho học sinh kể lại theo hình thức nhập vai

Bước này dành cho học sinh lớp 2

- Bước 3: Phân tích hình tượng

Nếu là tác phẩm tự sự thì phân tích hình tượng nhân vật

Nếu là tác phẩm trữ tình thì phân tích hình tượng tâm tư

Trong bước này có thể sử dụng các thao tác:

+ Giả định dự đoán

Trang 17

+ Viết thư: Giáo viên tổ chức cho học sinh viết thư cho nhân vật, cho

tác giả, cho bạn

Bước này dành cho học sinh lớp 3

- Bước 4: Tìm chủ đề, xác định chủ đề của văn bản

Bước này sử dụng các thao tác như: Đặt tên, đặt lại tên, liên tưởng…

dành cho học sinh lớp 4

- Bước 5: Tìm ý của bài văn: Đó là ý của tác giả gửi vào trong bài văn,

ý của mỗi bạn đọc về bài văn

Khi tiến hành bước này, thường xoay quanh những lời khuyên, bài học:

nên, không nên

Bước này dành cho học sinh lớp 5

1.2.3 Đóng góp

Quy trình thực hiện theo 5 bước này của trung tâm công nghệ Giảng

Võ đã đem lại nhiều hiệu quả

Trong quy trình, từng việc của người dạy, người học được quy định

theo một lôgic tường minh, theo một hệ thống chặt chẽ Thông qua quy trình

người học tự tiếp nhận được những giá trị trong các bài văn nghệ thuật Từ đó

học sinh có phẩm chất của nhà văn (hình dung tưởng tượng ra những gì trong

bài văn), có năng lực nhập vai, nhập cuộc

Đồng thời với cách dạy của trung tâm là biến tác phẩm của tác giả

thành tác phẩm trong lòng mỗi người học, dạy văn đã đi từ trừu tượng đến cụ

thể, học sinh đã được dạy “cách” để khám phá tác phẩm cụ thể

1.2.4 Hạn chế

Tuy nhiên, những bước này mới chỉ thành công trong môn Văn và tiếng

Việc ở bậc tiểu học Các thao tác này còn đơn giản vì mục tiêu đặt ra chỉ là

nhận diện được từng bậc của văn bản văn học: Văn bản, hình tượng, chủ đề,

tư tưởng của nhà văn Còn ở bậc THPT thì công việc sẽ phong phú phức tạp

Trang 18

hơn Hơn thế nữa, SGK Ngữ văn được xây dựng theo hướng tích hợp: phải

phối hợp các phương pháp dạy học để phát huy sức mạnh và hiệu quả của dạy

học Do đó, người giáo viên phải đi tìm quy trình tối ưu để học sinh tiếp nhận

văn bản tốt hơn

1.3 Những nét lớn về dạy học theo hướng công nghệ

Từ quy trình của trung tâm công nghệ giáo dục Giảng Võ ta có thể đi tới

những nét lớn về dạy học theo hướng công nghệ

1.3.1 Dạy học là thầy giáo thiết kế, học sinh thi công theo thiết kế Hay nói

cách khác giáo viên là người hướng dẫn, dẫn dắt và học sinh sẽ tự tìm ra

tri thức của nhân loại

1.3.2 Dạy học theo hướng công nghệ cũng được bắt nguồn từ lý thuyết

hành vi: Lý thuyết này xuất hiện ở Mỹ vào đầu thế kỷ XX bởi nhà tâm lý học

nổi tiếng Oátxơn (1878 – 1958) Sau đó thì Skinơ đã phát triển nó thành công

nghệ dạy học

Oátxơn đã phát triển lý thuyết hành vi của minh từ lý thuyết “Phản xạ

có điều kiện” đây là loại phản xạ bị chế ước hay phụ thuộc vào các điều kiện

hình thành mối liên hệ giữa kích thích và phản ứng

Sau này “Lý thuyết hành vi” của Oátxơn đã được nhà tâm lý học người

Mỹ Skinơ (1904 - 1990) chuyển vào dạy học Ông đã tiến hành các thí

nghiệm “chim chọn hạt”, “chim đi theo hình số tám”

* Thí nghiệm “chim chọn hạt”: Skinơ trải trên chuồng chim các hạt có màu

sắc khác nhau: đỏ, xanh, vàng, đen… nhưng chỉ có một hạt màu vàng là thức

ăn mà chim ăn được Đặc điểm chim là mổ liên tục, lia lịa nếu ăn được thì

nuốt, không ăn được thì văng đi Dựa vào đặc điểm đó để quan sát con chim

mổ hạt như thế nào? Thời gian đầu chim mổ lia lịa các hạt, chỉ có hạt màu

vàng mới nuốt, các hạt khác thì văng đi Vài lần sau, chim chỉ tìm các hạt

thức ăn có màu vàng mà không mổ các hạt khác

Trang 19

Như vậy Skinơ đã vận dụng một phương pháp trong giáo dục: Thử và

sai, thử và đúng

* Thí nghiệm “chim đi theo hình số 8”

Dựa vào đặc điểm của chim là nó chụm hai chân lại để nhảy, ông đã đo

bước nhảy của chim và đặt những hạt ăn được theo khoảng cách bước nhảy

của chim nhưng theo hình số 8 Lúc đầu theo bản năng chim chạy lung tung

để tìm hạt ăn được Dần dần nó thấy phía trước lại có các hạt ăn được, nó cứ

nhảy thêm bước nữa Cứ như thế con chim hoàn toàn có thể đi theo hình số 8

để nhặt hạt

Skinơ cho rằng nếu chia nhỏ hình số 8 thành nhiều bước giao cho chim

để nó tự làm từng việc một trong thời gian quy định thì người làm thí nghiệm

sẽ điều khiển được con chim đi theo ý mình

Từ 2 thí nghiệm ông rút ra kết luận: một việc nào đó dù phức tạp nếu

được chia nhỏ ra giao cho con người để thực hiện từng bước một thì sẽ làm

được và trong giáo dục cũng vậy Từ đó ông đưa ra kiểu dạy học chương trình

hóa Người học học theo chương trình sẽ đạt kết quả như mong muốn nếu

người ta chia nhỏ quy trình dạy học này thành các việc Các việc chia nhỏ nữa

thành các thao tác và người học thực hiện đầy đủ các việc, các thao tác này thì

tri thức nhất định sẽ chuyển vào người học Trong kiểu dạy học theo chương

trình người học chỉ phát hiện lại tri thức cho chính mình chứ không phải tri

thức cho xã hội

1.3.3.Dạy học theo hướng công nghệ được khởi xướng theo lý thuyết hoạt

động: Người có công khởi xướng lý thuyết hoạt động là: Vưgôtxki (1896 –

1934) người Nga Lý thuyết hoạt động của ông tập trung nghiên cứu vai trò

của hoạt động đối với sự phát triển tâm lý của con người Hoạt động được

hiểu “là một quá trình thực hiện sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai cực chủ thể

và khách thể Đặc trưng cơ bản của hoạt động là cái đang sinh thành trong

Trang 20

hoạt động của chủ thể” Điều quan tâm của lý thuyết hoạt động là mối quan

hệ của chủ thể và đối tượng

Phát triển quan điểm của Vưgôtxki, nhà tâm lý học người Nga

Ganperin đã tiến hành nhiều thí nghiệm và ông đưa ra kết luận: Hoạt động

bên ngoài và hoạt động bên trong tâm lý của con người có cùng một cấu trúc

và giống nhau đến kỳ lạ Nếu tổ chức được hoạt động bên ngoài như thế nào

thì sản phẩm bên trong diễn ra đúng như vậy

Vậy là muốn có hoạt động tâm lý bên trong của con người thì phải tổ

chức các hoạt động bên ngoài tương ứng Vì vậy muốn có tri thức cho học

sinh phải tổ chức những hoạt động bên ngoài với đối tượng do chính người ấy

tự thực hiện Từ đó tạo ra hình thức dạy học theo phương thức: thầy thiết kế

trò thi công

1.4 Yêu cầu của dạy học Ngữ văn theo chương trình SGK đổi mới

1.4.1 Những điểm mới của chương trình SGK Ngữ văn THPT

Trải qua các lần thay sách thì lần thay SGK lần này có những điểm

mới như:

- Về vị trí bộ môn: Môn Ngữ văn được coi là môn học công cụ Năng

lực sử dụng tiếng Việt và tiếp nhận tác phẩm văn học mà môn học này trang

bị cho học sinh là công cụ để học sinh học tập và sinh hoạt, nhận thức về xã

hội và con người, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đặc biệt là tư tưởng nhân

văn, tình cảm thẩm mỹ

- Mở rộng khái niệm văn: ngoài tác phẩm văn học nghệ thuật ra chương

trình còn đưa thêm đáng kể các văn bản nghị luận, tựa, sử ký, văn bản nhật

dụng để học sinh mở rộng vốn đọc và kinh nghiệm đọc, đáp ứng nhu cầu đọc

sau khi ra trường

Trang 21

- Việc dạy học Ngữ văn đi vào hai trục chính: Dạy học đọc văn và dạy

học làm văn hướng tới đào tạo hai năng lực Ngữ văn cơ bản là đọc hiểu văn

bản và sáng tạo văn bản

- Các tác phẩm văn học hay đoạn trích văn học trước kia nay được gọi

là văn bản

- Các văn bản vẫn đặt trong từng thời kỳ lịch sử tương ứng nhất định

nhưng còn được sắp xếp theo thể loại nhằm rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn

bản theo đặc trưng thể loại

- Phần tiếng Việt dành một thời lượng lớn cho việc luyện tập, thực hành

các bài tập tiếng Việt để hỗ trợ cho đọc hiểu văn bản và tạo lập văn bản

- Phần Làm Văn tiếp tục ôn lại các kiểu văn bản tự sự, miêu tả, biểu cảm,

thuyết minh, nghị luận và hành chính cùng một số văn bản ứng dụng thông dụng

khác Khái niệm kiểu bài không còn, chỉ còn khái niệm kiểu văn bản

- Chương trình Ngữ văn được xây dựng theo nguyên tắc tích hợp: các

phần văn học, tiếng Việt, làm văn phải gắn kết, hỗ trợ nhau

- Chương trình có kèm theo chuẩn kiến thức và kĩ năng

1.4.2 Những điểm mới của chương trình SGK Ngữ văn THPT đã đặt ra

những yêu cầu, nhiệm vụ và phương pháp dạy học mới

Phải tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh Quá trình dạy học lấy

học sinh làm trung tâm, học sinh phải là người tự khám phá ra tri thức và hiện

thực hóa vào bài học Thầy giáo chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn, người

dẫn dắt để học sinh thực hiện hoạt động đó

Chương trình SGK mới ngoài việc sắp xếp theo thời kì lịch sử còn có

sự sắp xếp theo thể loại Vì vậy khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản phải

chú ý đến đặc điểm thể loại của văn bản đó Hướng dẫn học sinh tìm hiểu kĩ

cấu trúc của văn bản và tác phẩm ở mỗi thể loại Quá trình tìm hiểu được sắp

Trang 22

xếp theo một trình tự logic và từ đó mỗi người học sẽ lĩnh hội được giá trị của

tác phẩm

Giáo viên trên cơ sở yêu cầu cần đạt với bộ môn, với từng bài học,

hướng dẫn học sinh tìm ra cách chung nhất khi đọc hiểu văn bản ở tất cả các

thể loại Sau đó từ quy trình chung này sẽ áp dụng vào từng văn bản với từng

thể loại cụ thể

Các nhà nghiên cứu đã đưa ra quy trình chung cho một bài đọc hiểu

văn bản gồm các bước sau:

A: Giới thiệu bài mới

B: Dạy bài mới

 Việc 1: Đọc hiểu những thông tin về ngữ cảnh (tiểu dẫn)

Đọc thông tin về nhà văn, về sáng tác của nhà văn

Đọc thông tin về hoàn cảnh sáng tác, hoàn cảnh cảm hứng

Đọc thông tin về thể loại, đặc điểm thể loại, cách tiếp nhận thể loại

 Việc 2: Đọc văn bản, tìm hiểu cấu trúc văn bản

Đọc văn bản, đọc chú thích, suy nghĩ về tên văn bản, xác định nhân tố

giao tiếp trong văn bản

Xác định bố cục văn bản

Xác định nhân vật, nhân vật chính trong văn bản

Nhận diện phương tiện biểu đạt trong văn bản

Kể lại cốt truyện: xác định tình huống truyện, xung đột của truyện

 Việc 3: Đọc hiểu nội dung văn bản

Phương án 1: Đọc hiểu theo kết cấu

Phương án 2: Đọc hiểu theo nhân vật

Phương án 3: Đọc hiểu theo các khía cạnh của chủ đề

 Việc 4: Đọc hiểu ý nghĩa văn bản

Ý nghĩa do người viết gửi vào văn bản

Trang 23

Ý nghĩa do mối quan hệ giữa văn bản và cuộc sống đặt ra

Ý nghĩa do người đọc nhận ra

 Việc 5: Tổng kết: Đọc hiểu phần ghi nhớ

 Việc 6: Luyện tập: Luyện tập các bài tập có trong SGK

Kết luận:

Từ những lí thuyết về dạy học theo hướng công nghệ, từ thực tiễn dạy

học theo hướng công nghệ ở Việt Nam cũng như việc đổi mới nội dung và

chương trình SGK Ngữ văn hiện nay là cơ sở để thực hiện đề tài “Dạy

học thể loại thơ ở trường phổ thông theo hướng công nghệ”

Trang 24

CHƯƠNG 2 DẠY HỌC THỂ LOẠI THƠ

Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG CÔNG NGHỆ

2.1 Đặc điểm thể loại

2.1.1 Khái niệm chung

“Thể loại tác phẩm văn học là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác

phẩm, trong đó ứng với một loại nội dung nhất định có một loại hình thức

Sự phân loại tác phẩm văn học: Từ thời Arixtôt đã phân tác phẩm văn

học thành 3 loại: Tự sự, trữ tình và kịch

2.1.2 Đặc điểm thể loại thơ

2.1.2.1 Khái niệm

Thơ là gì? Cho đến nay vẫn còn là một câu hỏi Đi tìm câu trả lời cho

câu hỏi này đã có nhiều định nghĩa được đưa ra

“Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý và tinh vi Người làm thơ

phải có tình cảm mãnh liệt, thể hiện sự nồng cháy trong lòng Nhưng thơ là

tình cảm và lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tình cảm

và lí trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ

“Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện

những tâm trạng, những tình cảm, cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ giàu

Tuy nhiên, nó vẫn là một câu đố mà các nhà lí luận văn học, lí luận

ngôn ngữ đang tiếp tục tìm lời giải đáp

Trang 25

2.1.2.2 Phân loại

Có nhiều cách phân loại thơ:

- Dựa vào nội dung biểu hiện người ta chia thơ ra làm: thơ tự sự, thơ

trữ tình, thơ trào phúng…

- Dựa vào thể luật thì lại có thể chia thơ ra làm: thơ cách luật và thơ tự

do

- Xét về mặt gieo vần có: thơ có vần và thơ không có vần

- Theo thời đại: Sự ra đời của loại thơ tương ứng với thời đại: thơ Lý -

Trần, thơ Đường, thơ Tống…

2.1.2.3 Đặc điểm chung của thơ

a Đặc điểm về văn bản

Nói về văn bản thơ, nhà nghiên cứu Pháp J.Ghen đã nhận xét xác đáng

rằng: đặc trưng của thơ là nó chiếm ít không gian hơn văn xuôi Trên trang in

thơ có nhiều khoảng trắng hơn trang in văn xuôi, trắng giữa dòng chữ, trắng ở

bốn lề trang giấy Hay nói một cách khác thì số lượng các con chữ trên một

trang giấy ít hơn nhiều so với một trang văn xuôi Điều này đã chứng tỏ thơ là

văn bản không liên tục, thơ có nhiều chỗ “lặng”, cái “lặng” của thơ tràn ngập

cảm xúc và tư duy Bởi thơ nói ít mà chứa đựng nhiều ý nghĩa

b Đặc điểm về cấu trúc

* Khái niệm cấu trúc

“Cấu trúc thi phẩm là hình thái tổ chức tổng thể khiến cho thi phẩm

sống động trong một hình hài nhất định, như một sinh thể” [15;Tr.13] Và

theo Chu Văn Sơn nếu bố cục kết cấu, hình tượng, chất liệu, vật liệu ngôn từ,

giọng điệu… mỗi bình diện ấy là một tổ chức thì cấu trúc là sự tổng hòa, là

bản tổng phổ của tất cả những tổ chức ấy Nó phối kết, xe quyện các tổ chức

kia thành một sinh thể nghệ thuật

Trang 26

* Đặc điểm

Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau về thơ Nhưng từ các định

nghĩa đã có, các nhà thơ, các nhà nghiên cứu đều đi đến thống nhất những đặc

trưng cơ bản của thơ Có thể khái quát: thơ có ba đặc trưng cơ bản là: đặc

trưng về nội dung, đặc trưng về nhân vật trữ tình, đặc trưng về ngôn ngữ thơ

(1) Đặc trưng về nội dung của thơ

Tác phẩm văn học nào cũng mang trong mình những nội dung nhất

định, cũng biểu hiện tư tưởng, tình cảm Nhưng khác với các thể loại khác

như tự sự, kịch… Thơ mang trong mình những nội dung riêng biệt Nếu như

ở thể loại tự sự nhà văn xây dựng bức tranh về cuộc sống trong đó các nhân

vật có đường đi và số phận riêng Bằng những đối thoại và độc thoại tác giả

thể hiện tính cách và hành động con người qua những mâu thuẫn xung đột thì

thơ lại là thế giới chủ quan của con người Những cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ

được trình bày trực tiếp và là nội dung chủ yếu Phản ánh thế giới chủ quan

không có nghĩa là thơ không phản ánh thế giới khách quan hay nói khác đi

nhà thơ không phản ánh trực tiếp đời sống khách quan vào nội dung tác phẩm

mà nội dung ấy được thể hiện qua tâm trạng, ý nghĩ, tình cảm của nhà thơ

“Linh hồn của thơ xưa nay, chủ yếu vẫn là trữ tình, là sự bộc lộ trực

tiếp tâm sự của các nhà thơ Thơ là tiếng nói tha thiết của tâm hồn, tiếng gọi

nồng nhiệt của trái tim Thơ thường nói những điều cảm kích, xúc động đối

với lòng người, đồng thời cũng soi dọi những ánh sáng sâu xa vào trí tuệ và

Như vậy, có thể nói nội dung chủ yếu của thơ hay đối tượng phản ánh

của thơ chính là tâm tư, tình cảm của con người và tâm tư tình cảm, xúc cảm,

tâm trạng đó được bộc lộ một cách trực tiếp

Ví dụ: “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lý chói qua tim

Trang 27

Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim”

(Từ ấy – Tố Hữu)

(2) Đặc trưng về nhân vật trữ tình

Nội dung tác phẩm trữ tình được thể hiện gắn liền với hình tượng nhân

vật trữ tình Đó là hình tượng người trực tiếp thổ lộ suy nghĩ, cảm xúc, tâm

trạng trong tác phẩm Nhân vật trữ tình không có diện mạo Nhưng nhân vật

trữ tình cụ thể trong giọng điệu, cảm xúc, trong cách cảm, cách nghĩ Qua

những trang thơ ta như gặp tâm hồn người, tấm lòng người Đó chính là nhân

vật trữ tình trong thơ

Nhân vật trữ tình trong thơ thường là hiện thân của tác giả thể hiện cảm

xúc, tâm trạng, cá tính, quan niệm nghệ thuật riêng của người nghệ sĩ Đọc

thơ ta như đọc những bản “tự thuật tâm trạng” Ta hiểu hơn đời sống nội tâm của

họ với những chi tiết về quê hương, về kỷ niệm cuộc sống, về cá tính sáng tạo

Ví dụ: “Huế ơi! Quê mẹ của ta ơi!

Nhớ tự ngày xưa, tuổi chín mười Mây núi hiu hiu, chiều lặng lặng Mưa nguồn gió biển, nắng xa khơi”

(Quê mẹ - Tố Hữu) Nhân vật trữ tình nhiều khi là tác giả nhưng không phải trường hợp nào

cũng là tác giả Nhiều khi nhà thơ hóa thân vào một nhân vật khác, sống với

hoàn cảnh của nhân vật, vui buồn với tâm trạng của nhân vật tạo thành hình

tượng nhân vật trữ tình nhập vai

Ví dụ: “Oa! Oa! Oa!

Cha trốn không đi lính nước nhà Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi

Đã phải theo mẹ đến ở nhà lao”

Trang 28

(Cháu bé trong nhà lao Tân Dương – Hồ Chí Minh)

Ở đây Hồ Chí Minh đã hóa thân vào cháu bé trong nhà lao Tân Dương

để nói lên tâm trạng, suy nghĩ của mình

Tuy nhiên dù là loại nhân vật trữ tình nào thì phẩm chất và cá tính của

nhà thơ cũng để lại dấu ấn sâu sắc trong tác phẩm

(3) Đặc trưng về ngôn ngữ thơ

Ngôn ngữ giữ một vị trí quan trọng trong thơ ca Đó là tiếng nói chân

thực giàu có của đời sống hiện thực, vừa là tiếng nói bay bổng của trí tưởng

tượng kỳ diệu, lại vừa là tiếng nói của trái tim đang rung động Chiều sâu của

sức suy nghĩ, tính chất mẫn cảm và tinh tế của sức sáng tạo, những trạng thái

rung động của tâm hồn… Tất cả những điều đó chỉ có thể đến với người đọc

thông qua vai trò của ngôn ngữ

Nói về ngôn ngữ thơ: “Thơ có khả năng bao quát sâu rộng không gian

và thời gian mà nhiều nghệ thuật khác không có Thơ nói việc ngày nay mà

gợi lại chuyện đời xưa, nói chuyện Việt Nam mà gợi chuyện ở Trung Quốc,

Triều Tiên, Liên Xô, Cu Ba, Mỹ… nói chuyện quả đất mà làm cho con người

nghĩ đến ngày mai, con người du hành trong vũ trụ và đỗ xuống những hành

tinh xa lạ trong hệ thống mặt trời Cho nên thơ là nghệ thuật kỳ diệu bậc nhất

của trí tưởng tượng” [9;Tr.10]

Qua đây, ta cũng có thể thấy ngôn ngữ thơ có vai trò và tác dụng to lớn

như thế nào Nó chính là sự biểu hiện tập trung nhất tính hàm súc, mĩ lệ,

phong phú của thơ ca

Nói như Maiacôpxki: thì quá trình sáng tạo ngôn ngữ thơ ca cũng giống

như người lọc quặng radium lọc lấy tinh chất tìm ra trong bề bộn của những

tấn quặng từ đẹp, ánh sắc kim cương

Còn Trần Thanh Đạm thì khẳng định: “Thơ không phải là hình thức

Thơ là nghệ thuật nghĩa là cả nội dung, cả hình thức, là nội dung thống nhất

Trang 29

với hình thức Thơ là ý lớn tình sâu trong lời hay ý đẹp Ở thơ thể hiện một

cách tập trung nhất rõ rệt nhất đặc trưng và sức mạnh của văn học như là

một nghệ thuật ngôn ngữ” [6;Tr.53]

Qua quá trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã đi đến thống nhất một

số đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ như:

- Ngôn ngữ thơ bão hòa cảm xúc:

Ngôn ngữ thơ bão hòa cảm xúc là ngôn ngữ đạt đến trạng thái cao nhất

của cảm xúc Do đó ngôn ngữ thơ không bao giờ là ngôn ngữ khách quan, yên

tĩnh như tác phẩm tự sự Để diễn tả cảm xúc dâng trào, ngập tràn lên tới cực

điểm của hồn mình, nhà thơ thường dùng những động từ, tính từ, phụ từ chỉ

mức độ…

Ví dụ: “Đẹp vô cùng tổ quốc ta ơi!

Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát Chuyến phà rào rạt bên nước Bình Ca”

(Tố Hữu) “Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”

(Nguyễn Đình Thi) Mỗi câu thơ dường như đều mang một từ tập trung tất cả sức nặng tình

cảm Và đó được gọi là “thi nhãn”

- Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, nhạc điệu và giàu chất tạo hình:

+ Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh: Diễn tả các trạng thái tâm trạng và cảm

xúc vốn vô hình, vô ảnh, thơ có thể kích thích trí tưởng tượng của bạn đọc, để

bạn đọc hình dung ra những điều kỳ diệu trong cuộc sống, trong tâm hồn con

Trang 30

người Hay nói cách khác chính là những từ ngữ giàu hình ảnh mà kích thích

trí tưởng tượng của bạn đọc

Ví dụ: “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

(Tây Tiến – Quang Dũng) Chỉ bằng 4 câu thơ, Quang Dũng đã vẽ lên một bức tranh hoành tráng

để diễn tả rất đạt sự hiểm trở, dữ dội, hoang vu và heo hút của núi rừng Tây

Bắc - địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến

Hay chỉ bằng những câu thơ:

“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

(Việt Bắc – Tố Hữu)

Tố Hữu đã vẽ lên bức tranh tứ bình tuyệt đẹp về cảnh và người Việt

Bắc Điều đó càng chứng tỏ ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh và một lần nữa chứng

minh cho nhận định “thi trung hữu họa”

+ Ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính

Thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm Như nhịp

đập của những trái tim khi xúc động, ngôn ngữ thơ cũng có nhịp điệu riêng

Trang 31

của nó Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ

ngữ mà còn bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ đó Hay nói cách khác

khi đọc thơ không những ý nghĩa của câu thơ như muốn nói với người đọc mà

từng tiếng từng lời đến cả hệ thống âm thanh, vần luật, nhịp điệu đều đồng

thời tham gia vào việc diễn tả nội dung, tác động đến lý trí và tình cảm của

người đọc

Ngôn ngữ thơ vừa lắng đọng, vừa ngân vang Hay nói cách khác thơ

thường vừa có hình vừa có nhạc Đọc thơ bạn không chỉ thấy có hình ảnh,

đường nét trong đó mà còn có cả âm thanh, nhạc điệu nữa Ví dụ: khi đọc

đoạn thơ sau trong bài “Em ơi …Ba Lan…” của Tố Hữu chẳng hạn:

“Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan Đường Bạch Dương sương trắng nắng tràn Anh đi nghe tiếng người xưa vọng

Một giọng thơ ngâm một giọng đàn”

Đọc những câu thơ này ta thấy chúng bay bổng, thanh thoát, nhẹ nhàng,

vì phần lớn các âm đều có thanh bằng (Em ơi, BaLan, mùa, tan…) hoặc thanh

trắc cao (tiếng, trắng, nắng…) chỉ có 4 thanh trắc thấp (bạch, vọng, giọng,

giọng) thì ba thanh hòa vận cùng nhau, vang lên như mấy tiếng nhạc trầm

giữa một giai điệu cao chung

Và các nhà nghiên cứu đã đi đến nhất trí xem tính có nhịp điệu là một

nét đặc thù cơ bản của một tác phẩm trữ tình Âm thanh nhịp điệu hàm nghĩa

cho từ ngữ, gợi ra những điều mà từ ngữ không nói hết Nhịp điệu là một

trong những yếu tố tạo nên nhạc cho câu thơ Điệu được coi là chuỗi âm thanh

cao thấp khác nhau, nhịp là sự phân cách chuỗi âm thanh đó Vì vậy nếu ta

coi nhịp là dòng chảy thì điệu là thác ghềnh Là thác ghềnh nên nước càng

chảy xiết Và Maiacôpxki đã từng khẳng định vai trò của nhịp điệu trong câu

thơ như sau: “Nhịp điệu là sức mạnh chủ yếu, năng lượng chủ yếu của câu

Trang 32

thơ” Tùy theo nội dung nghệ thuật được phản ánh mà có thể nhanh hay

chậm, “khoan thai”, “dìu dặt” hay “thoăn thoắt”, “phân vân”

Trong một tác phẩm trữ tình thì tính nhạc của ngôn ngữ được sử dụng

rất nhiều, có hiệu lực cao đối với việc tạo ra lời thơ có sức truyền cảm, hấp

dẫn người đọc Tính nhạc trong thơ được thể hiện ở các mặt: sự cân đối, sự

trầm bổng, sự trùng điệp

Ě Sự cân đối: là sự tương xứng, hài hòa giữa các dòng thơ Trữ tình là

thể loại được sáng tác chủ yếu dựa trên quan hệ gắn kết giữa các câu thơ,

dòng thơ Do đó giữa các câu thơ, dòng thơ có sự tương xứng hài hòa nhau:

“Gác mái ngư ông về viễn phố

Gõ sừng mục tử lại cô thôn”

(Bà Huyện Thanh Quan)

Ě Sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ: trầm bổng là sự thay đổi những âm

thanh cao thấp khác nhau giữa các thanh bằng và thanh trắc trong một dòng

thơ, đoạn thơ hay cả bài thơ

Độ trầm bổng cũng được tạo nên do sự phối hợp giữa các đơn vị ngữ

âm trùng lặp theo nhịp ngắt để tạo nên nhịp điệu

Ví dụ: với hai câu thơ toàn thanh bằng:

“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”

Xuân Diệu đã gợi tả điệu nhạc du dương đưa tâm hồn phiêu diêu bay bổng

khi nghe Nhị Hồ

Hay câu thơ: “Sen tàn /cúc lại / nở hoa

Sầu dài / ngày ngắn / đông đà / sang xuân”

(Nguyễn Du) Dòng thơ cắt theo nhịp hai đều đặn như nhịp chuyển vần đều đặn của

năm tháng, của bốn mùa…

Trang 33

Ě Sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ: Khi một âm thanh nào đó láy đi láy

lại một phần của từ trong câu thơ hoặc giữa các dòng thơ gọi là sự trùng điệp của

ngôn ngữ thơ Sự trùng điệp này thể hiện ở sự hiệp vần, điệp câu và điệp ngữ

Thơ trữ tình mang nặng cảm xúc Vần trong thơ có tác dụng nối dính

các dòng thơ lại với nhau tạo thành một đơn vị thống nhất có âm hưởng riêng,

thuận lợi cho việc ghi nhớ Nhờ vần mà thơ đã được rất nhiều thế hệ bạn đọc

yêu thích và ghi nhớ lại Thơ có vần chính và vần thông Vần chính là vần

cùng một khuôn âm, vần thông là theo một khuôn âm tương tự Thơ tự do

ngày nay không bó buộc về hiệp vần nhưng các nhà thơ vẫn sử dụng vần như

một yếu tố biểu cảm làm tăng vẻ đẹp của thơ:

“Ồ đâu phải, qua đêm dài lạnh cóng Mặt trời lên là hết bóng mù sương

Ôi đâu phải, qua đoạn đường lửa bỏng Cuộc đời ta bỗng chốc hóa thiên đường”

(Tố Hữu) Cái đẹp của trùng điệp của ngôn ngữ thơ không chỉ do hiệp vần do cách

phối âm mà còn do nhà thơ có ý thức láy đi láy lại một số âm, một số tiếng

nào đó:

“Nước non nặng một lời thề Nước đi đi mãi không về cùng non Nhớ lời nguyện nước thề non Nước đi chưa lại, non còn đứng không…”

Sự lặp lại của các từ “non” và “nước” đã tạo ra một ấn tượng vương

vấn không dứt

Tóm lại: nhờ cấu tạo đặc biệt của ngôn ngữ mà thơ đã nói được những

điều hết sức lắng đọng kết tinh mà nhiều khi văn xuôi không nói được Chính

do đặc điểm ngôn ngữ thơ hàm súc mà quá trình khám phá bài thơ phải công

Trang 34

phu: đi từ lớp ngữ nghĩa, lớp hình ảnh, lớp âm thanh, nhịp điệu để tìm hiểu

hết nghĩa đen, nghĩa bóng…

2.1.2.4 Tuy trên nền tảng là ba đặc điểm chung đó nhưng thơ ở mỗi thời đại,

mỗi giai đoạn, mỗi tác giả lại mang những điểm riêng biệt không thể đánh

đồng được

Chẳng hạn như trong đặc điểm về nội dung trữ tình Đã là thơ thì dù ở

thời đại nào, của tác giả nào cũng phản ánh thế giới tâm trạng cảm xúc của

con người Nhưng thế giới tâm trạng, cảm xúc đó lại bị quy định bởi hoàn

cảnh nên nội dung trữ tình trong thơ ca trung đại sẽ khác với thơ ca hiện đại

Thơ ca trung đại chủ yếu là ước lệ tượng trưng, nó đòi hỏi sự cách điệu

hóa cao độ vì vậy nội dung trữ tình trong thơ trữ tình trung đại bị hạn định

Họ chủ yếu đề cập, phản ánh những trai anh hùng, gái thuyền quyên Miêu tả

thiên nhiên hay vịnh cảnh đồ vật thực chất để bày tỏ lòng mình một cách kín

đáo hoặc để gửi gắm những phạm trù đạo đức phong kiến: nhân, nghĩa, lễ, trí,

tín, trung, hiếu,… Bởi thế thơ ca trung đại thường sử dụng một hệ thống hình

ảnh, nội dung tư tưởng đã có sẵn từ xưa và mang tính chất kinh điển, những

tích đã được lưu truyền từ ngàn đời trong văn học

Nhưng ở thơ ca hiện đại thì hoàn toàn ngược lại Ở thời kì này nội

dung trữ tình được phản ánh một cách tự do, không hạn định Tất cả những

cảm xúc, tâm trạng, tình cảm của con người đều được phản ánh trong thơ Nó

không mang tính quy phạm như thơ ca trung đại mà bình dị, đời thường, cái

tôi cá nhân trữ tình được bộc lộ rõ nét trong thơ trữ tình hiện đại:

Ví dụ: “Ta là một, là riêng, là thứ nhất,

Không có chi bè bạn nổi cùng ta”

(Xuân Diệu)

Đó là hai thời đại khác nhau Nhưng ở ngay trong một thời đại ví như

thời kì hiện đại thì nội dung phản ánh cũng có sự khác nhau, nó tùy thuộc vào

Ngày đăng: 31/10/2015, 09:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Khánh Bằng (1995), Công nghệ dạy học với các vấn đề tổ chức quá trình dạy học ở PTTH, Bộ giáo dục và đào tạo vụ giáo viên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ dạy học với các vấn đề tổ chức quá trình dạy học ở PTTH
Tác giả: Lê Khánh Bằng
Nhà XB: Bộ giáo dục và đào tạo vụ giáo viên
Năm: 1995
2. Nguyễn Viết Chữ (2006), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo thể loại, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo thể loại
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2006
3. Hồ Ngọc Đại (1991), Công nghệ dạy học, tập1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ dạy học
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1991
4. Hồ Ngọc Đại (1994), Công nghệ dạy học, tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ dạy học
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
5. Hà Minh Đức (chủ biên) (1994), Lí luận văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
6. Trần Thanh Đạm (1971), Vấn đề giảng dạy tác phẩm theo loại thể, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giảng dạy tác phẩm theo loại thể
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1971
7. Cao Thị Ngọc Hà (2008), Bài tập trắc nghiệm Ngữ văn 11, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập trắc nghiệm Ngữ văn 11
Tác giả: Cao Thị Ngọc Hà
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
8. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2006), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
9. Sóng Hồng (1996), Thơ, NXB Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ
Tác giả: Sóng Hồng
Nhà XB: NXB Văn học Hà Nội
Năm: 1996
10. Nguyễn Thanh Hùng (2000), Hiểu văn dạy văn, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểu văn dạy văn
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
11. Phan Trọng Luận (tổng chủ biên) (2007), Sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập 2
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
12. Phan Trọng Luận (tổng chủ biên) (2007), Sách giáo viên Ngữ văn 11, tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Ngữ văn 11, tập 2
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
13. Phan Trọng Luận (tổng chủ biên) (2008), Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
14. Phương Lựu (chủ biên) (2004), Lí luận văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
15. Chu Văn Sơn (2007), Thơ- điệu hồn và cấu trúc, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ- điệu hồn và cấu trúc
Tác giả: Chu Văn Sơn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm