1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học nội dung thao tác lập luận bác bỏ trong SGK ngữ văn 11

87 637 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 533,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi đó việc dạy học thao tác lập luận bác bỏ trong SGK Ngữ văn 11 cần phải dựa trên một cơ sở lí thuyết thống nhất, hợp lí để học sinh thực sự hiểu và biết vận dụng những tri thức

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

THAO TÁC LẬP LUẬN BÁC BỎ TRONG VĂN BẢN NGHỊ LUẬN

Trang 2

CHƯƠNG 2

DẠY HỌC NỘI DUNG “THAO TÁC LẬP LUẬN BÁC BỎ” TRONG SGK NGỮ VĂN 11

2.2 Việc dạy- học nội dung “Thao tác lập luận bác bỏ” trong SGK Ngữ văn 11

29

2.2.1 Việc dạy nội dung "Thao tác lập luận bác bỏ" của giáo viên 30 2.2.2 Việc học nội dung "Thao tác lập luận bác bỏ" của học sinh

2.3 Nội dung cơ bản của “ Thao tác lập luận bác bỏ” trong SGK Ngữ văn

2.3.1 Nội dung bài lí thuyết

2.3.2 Nội dung bài thực hành

30

31

32

34 2.4 Qui trình dạy học bài “ Thao tác lập luận bác bỏ”

2.5 Qui trình dạy học bài “ Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ”

35

38 CHƯƠNG 3

THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

Trang 3

Tài liệu tham khảo 84 Phụ lục

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong cuộc sống cũng như trong sách báo, ta có thể gặp những ý kiến sai lầm, những bài viết lệch lạc thiếu chính xác, không phù hợp với chân lý Điều đó dẫn đến một yêu cầu là phải chỉ ra chỗ sai, chỗ chưa đúng để từ đó nêu ra những điều đúng, những chính kiến chính xác Vậy làm thế nào để khẳng định chân lí, bảo

vệ sự thật? Để giải quyết vấn đề này, con người nhất thiết phải thực hiện công việc bác bỏ Bác bỏ chính là sự phản bác để gạt đi, phản đối những ý kiến những nhận định không chính xác

Trong văn bản nghị luận cũng vậy, bác bỏ là một trong những thao tác lập luận quan trọng được sử dụng thường xuyên Cùng với thao tác chứng minh, giải thích, bình luận, so sánh góp phần làm cho công việc nghị luận đạt hiệu quả cao

Như vậy có thể nói rằng: lập luận bác bỏ là một bộ phận không thể thiếu trong kĩ năng làm văn nghị luận Tuy nhiên thao tác này trước đây chưa thực sự được chú ý Bằng chứng là chương trình Làm văn (cải cách giáo dục) có đề cập đến thao tác chứng minh, giải thích, phân tích, bình luận nhưng lại không bàn đến thao tác lập luận bác bỏ Đến lần thay SGK mới này, các nhà biên soạn đã thực sự quan tâm và đưa bác bỏ vào nội dung chương trình Làm văn, với bài học

cụ thể là: “ Thao tác lập luận bác bỏ’’ SGK Ngữ văn 11, tập 2

Do đây là vấn đề mới, kiến thức khó nên việc dạy học bài “ Thao tác lập luận bác bỏ” của giáo viên và học sinh còn gặp nhiều khó khăn Giáo viên còn cảm thấy lúng túng khi dạy Học sinh còn e ngại sợ sệt khi học vì đây là vấn đề mới Điều này dẫn đến tình trạng luẩn quẩn khi áp dụng vào bài làm Thậm chí còn có

Trang 5

học sinh không biết cách bác bỏ, không biết cách lập luận hoặc lập luận không chính xác Do vậy bài làm không có sức thuyết phục

Vậy, làm thế nào để việc dạy việc học đạt hiệu quả? Đó chính là lý do vì sao chúng tôi chọn đề tài “ Dạy học bài “ Thao tác lập luận bác bỏ” trong SGK Ngữ văn 11, tập 2.”

2 Lịch sử vấn đề

Trong các công trình Làm văn hiện nay, có thể khẳng định một điều rằng: bác

bỏ là một thao tác lập luận còn khá mới mẻ chưa được nhỉều tác giả quan tâm nghiên cứu Tuy vậy có thể kể đến một số công trình như:

* Trong cuốn Làm văn 12 ( Tài liệu giáo khoa thí điểm: Ban khoa học Tự nhiên, Ban khoa học Tự nhiên- Kĩ thuật) các tác giả Trần Đình Sử (Chủ biên),

Trần Đăng Suyền, NXB Giáo dục, 1995 [15, 3] có đề cập đến vấn đề “ Phản bác

trong văn nghị luận” Các tác giả cho rằng trong văn nghị luận không chỉ có việc khẳng định ý kiến được cho là đúng mà còn cả việc phản bác ý kiến được xem là sai Một ý kiến là đúng hay sai suy cho cùng do thực tế kiểm nghiệm Song xác định đúng sai trên phương diện lí thuyết là rất có ý nghĩa, bởi lí thuyết có tác dụng soi sáng thực tiễn, thuyết phục lí trí

Sau đó các tác giả đã nêu khái quát về phản bác, yêu cầu của phản bác và các phương pháp phản bác

Phản bác không phải là việc giản đơn tuyên bố ý kiến của đối phương là sai rồi nói cạnh nói khoé, chế giễu Phản bác trong văn nghị luận phải được chứng minh qua các luận cứ, luận chứng thì mới có giá trị Việc phản bác phải căn cứ vào các yếu tố của một ý kiến, bao gồm ba thành phần cơ bản: luận điểm, luận

cứ, luận chứng Người ta muốn phản bác thì phải vạch ra sai lầm của một trong

ba thành phần đó: sai lầm về luận điểm, sai lầm về luận cứ, hoặc sai lầm trong

Trang 6

phép biện chứng, tuỳ thuộc vào mức độ khiếm khuyết của ý kiến mà người viết lập luận để phản bác Có những ý kiến đúng nhưng luận cứ lựa chọn không tiêu biểu, không chính xác Có khi luận cứ chính xác nhưng phân tích khiên cưỡng cũng đưa đến luận điểm sai Có khi luận điểm được phát biểu không chuẩn, quá bao quát, trừu tượng, to tát, không phù hợp với luận cứ thành ra suy diễn, tán róc

Trong những trường hợp như vậy, sự phản bác đều có tác dụng vạch ra khuyết điểm để khắc phục, nâng cao trình độ hiểu biết và đánh giá sự vật

“ Phản bác là bàn bạc để tìm ra chân lý, vạch ra những chỗ “vô lí”, “ thiếu lí”

Do vậy “phản bác” phải đảm bảo những yêu cầu sau:

+ Phải có tính chân thực, khoa học, khách quan

+ Người phản bác phải đọc kĩ ý kiến định phản bác, cần hiểu ý kiến đó trong tính toàn vẹn, trong ý định khoa học, trong luận đề, trong lịch sử vấn đề, trong luận cứ và luận chứng Phản bác phải lựa chọn những vấn đề đích đáng, không phải là việc vạch lá tìm sâu, chấp vặt Có như vậy thì ý kiến phản bác mới có ý nghĩa và có sức thuyết phục Thái độ phản bác đúng đắn, lập trường phản bác chính nghĩa sẽ có tác dụng nâng cao nhân cách người phản bác Trong trường hợp ngược lại thì phản bác có thể làm hại tư cách người phản bác

+ Ngoài yêu cầu về thái độ, phương pháp còn có yêu cầu về kĩ thuật, luận chứng và hành văn Bài phản bác phải trình bày rõ ràng, khúc chiết, có sai lầm của ý kiến sai và trình bày rõ ràng ý kiến đúng của mình, tránh nước đôi nhập nhằng hiểu thế nào cũng được

Phương pháp phản bác thì có:

+ Phản bác luận điểm

+ Phản bác luận cứ

Trang 7

+ Phản bác luận chứng và cách lập luận

Tuy nhiên, tác giả cũng khẳng định ba cách bác bỏ trên cũng được tách bạch

ra để giới thiệu Trong thực tế để bác bỏ triệt để một luận điểm sai, cần phải vận dụng cả ba cách từng bước từng phần rõ ràng cho người đọc thấy luận điểm cần bác bỏ là không thể đứng vững được

* Qua đây ta có thể thấy rằng: nhóm các tác giả Trần Đình Sử, Trần Đăng Suyền đã khẳng định phản bác như là một trong những kĩ năng quan trọng của văn nghị luận Nhưng trong một thời gian dài sau đó, phản bác lại không được đề cập đến trong hầu hết các tài liệu làm văn Phải đến tận khi làm SGK thí điểm năm 2004 nhóm tác giả do Phan Trọng Luận (chủ biên) mới lại tiếp tục đề cập

đến “ Nghị luận phản bác” trong cuốn Ngữ văn 11, tập 2, bộ 2: Ban khoa học Xã

hội và Nhân văn (SGK thí điểm) NXB Giáo dục, 2004 [123, 5] đã dự kiến dành hẳn 2 tiết cho dạy học bài “ Nghị luận phản bác” và một tiết cho học sinh luyện tập “ Viết đoạn văn phản bác” Qua đó nhằm giúp cho học sinh hiểu: đặc trưng

và thao tác cơ bản của phản bác ý kiến Từ đó có thể viết được bài nghị luận phản bác có nội dung đơn giản, phù hợp với trình độ của học sinh trung học phổ thông

Và phản bác là dùng lí lẽ và dẫn chứng để bác bỏ những quan điểm, những ý kiến sai lệch hoặc thiếu chính xác Từ đó nêu ý kiến đúng có tính thuyết phục Thao tác phản bác:

+ Nêu quan điểm, ý kiến sai lệch, dẫn chứng minh họa, tác hại của sai lầm + Dẫn chứng trái ngược để phủ nhận

+ Hoặc dùng lí lẽ trực tiếp phê phán sai lầm

Khi phản bác, người viết dùng giọng văn rắn rỏi, dứt khoát mang tính chiến đấu, có sức thuyết phục cao

Trang 8

* Song song với bộ SGK do tác giả Phan Trọng Luận (chủ biên), tác giả Trần Đình Sử ( Tổng chủ biên) cũng đưa bài học về “Lập luận bác bỏ” vào trong

chương trình SGK thí điểm, Ban Khoa học Xã hội và Nhân văn, bộ 1, tập 2, Ngữ

văn 11, NXB Giáo dục, 2004 với các bài cụ thể như sau:

1 Lập luận bác bỏ trong văn nghị luận (2 tiết)

2 Viết đoạn văn lập luận bác bỏ (1 tiết)

3 Luyện nói bác bỏ trong thảo luận, tranh luận (1 tiết)

Sau đó tác giả cũng đưa ra khái niệm lập luận bác bỏ, yêu cầu về bác bỏ, thao tác lập luận bác bỏ và luyện tập về viết đoạn văn bác bỏ, luyện nói bác bỏ trong tranh luận, thảo luận

Về khái niệm lập luận bác bỏ: tức là chứng minh sự việc, ý kiến nào đó là sai Sai tức là không đúng sự thật, trái lôgic, quy kết quá đáng nên chưa đúng bản chất

Muốn bác bỏ có sức thuyết phục thì phải tuyệt đối tôn trọng sự thật, tôn trọng

ý kiến của đối phương, không xuyên tạc, không bịa đặt, tìm bằng chứng đáng tin cậy thì mới có sức thuyết phục

Thao tác lập luận bác bỏ cũng có ba cách là:

+ Bác bỏ luận điểm: Muốn bác bỏ luận điểm thì trước hết hãy trích dẫn đầy

đủ luận điểm đó một cách khách quan, trung thực để làm đích bác bỏ

Có nhiều cách bác bỏ luận điểm:

 Dùng thực tế để bác bỏ

 Dùng biện pháp phân tích để chỉ ra chỗ sai, phiến diện của luận điểm

 Dùng lối phản chứng: đưa ra và chứng minh một luận điểm trái ngược với luận điểm cần bác bỏ

Trang 9

 Dùng phép suy để làm cho cái sai của luận điểm cần bác bỏ được bộc

lộ đầy đủ

+ Bác bỏ luận cứ: tức là vạch ra tính chất sai lầm, giả tạo trong dẫn chứng và

lí lẽ của đối phương

Có ba hướng bác bỏ luận cứ:

 Hoặc vạch ra luận cứ không xác thực

 Chỉ ra lý lẽ phi lí

 Vạch ra sự né tránh sự thực của đối phương

+ Bác bỏ lập luận: tức là vạch ra sự mâu thuẫn, không nhất quán, phi lôgíc trong lập luận của đối phương, chỉ ra sự đổi thay, đánh tráo khái niệm trong quá trình lập luận

* Như vậy cùng bàn về một vấn đề nhưng cách hiểu, cách trình bày đánh giá của các tác giả đã có sự khác nhau Đó chính là nguyên nhân dẫn đến những khó khăn cho người giảng dạy nội dung này ở trường phổ thông Hơn nữa, điều đó còn dẫn đến tình trạng lúng túng, gượng gạo, thậm chí còn luẩn quẩn thiếu chính xác trong việc sử dụng thao tác lập luận này để trình bày một vấn đề hợp lí và thuyết phục

Trong khi đó việc dạy học thao tác lập luận bác bỏ trong SGK Ngữ văn 11 cần phải dựa trên một cơ sở lí thuyết thống nhất, hợp lí để học sinh thực sự hiểu

và biết vận dụng những tri thức đó vào bài viết hoặc vấn đề gặp phải trong cuộc sống hàng ngày

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Từ việc xác định ra những tri thức cơ bản của thao tác lập luận bác bỏ, chúng tôi hướng tới mục đích là: Tổ chức dạy học nội dung này cho học sinh,

Trang 10

qua đó góp phần giúp cho học sinh có đủ kiến thức và tự tin khi sử dụng thao tác lập luận bác bỏ, cũng như vận dụng kết hợp thao tác lập luận này với các thao tác lập luận khác như phân tích, chứng minh, so sánh để làm bài văn nghị luận đạt hiệu quả cao

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích của đề tài, khóa luận phải hướng tới những nhiệm

vụ cơ bản sau:

 Trình bày hệ thống những kiến thức cơ bản về thao tác lập luận bác

bỏ

 Nêu ra các định hướng cho việc dạy học bài này đạt hiệu quả

 Vận dụng những tri thức đó vào việc dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” trong SGK Ngữ văn 11

 Đánh giá hiệu quả của việc vận dụng các tri thức đó vào dạy học

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Xuất phát từ nội dung của đề tài, chúng tôi tập trung nghiên cứu thao tác lập luận bác bỏ trong văn bản nghị luận

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài này của chúng tôi tập trung nghiên cứu và đưa ra một phương hướng dạy học bài “ Thao tác lập luận bác bỏ” trong SGK Ngữ văn 11(bộ chuẩn)

- Và việc kết hợp với các thao tác khác trong việc làm bài văn nghị luận

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp tổng hợp lý luận và thực tiễn

Trang 11

- Phương pháp phân tích ngôn ngữ

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

6 Đóng góp của khóa luận

Với khóa luận này, chúng tôi mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc tìm ra những hướng dạy học Làm văn để hoạt động dạy học đạt hiệu quả cao nhất Đồng thời thông qua nội dung về lập luận bác bỏ chúng tôi mong muốn việc vận dụng thao tác này của học sinh trong quá trình tạo lập văn bản nghị luận

để văn bản của các em thực sự có giá trị

7 Bố cục của khóa luận

Khóa luận bao gồm 3 phần:

- Phần : Mở đầu

- Phần : Nội dung

- Phần : Kết luận

Riêng phần Nội dung có 3 chương:

 Chương 1: Thao tác lập luận bác bỏ trong văn nghị luận

 Chương 2: Dạy học nội dung “Thao tác lập luận bác bỏ” trong SGK Ngữ văn 11

 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 12

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 THAO TÁC LẬP LUẬN BÁC BỎ TRONG VĂN BẢN NGHỊ LUẬN

1.1 Khái niệm văn bản nghị luận

Văn bản nghị luận là một thể văn ra đời từ rất sớm, tồn tại và phát triển đến

ngày nay Khác với văn miêu tả, kể chuyện nhằm tái hiện con người và cuộc

sống bằng ngôn ngữ, chủ yếu khơi gợi, tác động vào cảm xúc, tưởng tượng của

người đọc ( người nghe) Văn nghị luận lại thiên về trình bày các ý kiến, lý lẽ

của người viết nhằm thuyết phục người đọc về một vấn đề nào đó trong cuộc

sống xã hội Muốn thuyết phục người đọc, văn nghị luận phải có luận điểm rõ

ràng, có lý lẽ thuyết phục, có dẫn chứng chính xác Để hiểu rõ hơn vấn đề này,

chúng ta hãy xét ngữ liệu sau:

Người ta bảo ở Palextin có hai biển hồ Biển thứ nhất gọi là biển Chết Đúng

như tên gọi, không có sự sống nào bên trong cũng như xung quanh biển hồ này

Nước trong hồ không có một loại cá nào có thể sống nổi Ai ai cũng đều không

muốn sống gần đó Biển thứ hai là biển Galilê Đây là biển hồ thu hút nhiều

khách du lịch nhất Nước ở biển hồ lúc nào cũng trong xanh mát rượi, con người

có thể uống được mà cá cũng sống được Nhà cửa được xây cất rất nhiều ở đây

Vườn cây xung quanh tốt tươi nhờ nguồn nước này

Nhưng điều kì lạ là cả hai biển hồ này đều được đón nhận nguồn nước từ

sông Gioócđăng Nước sông Gioócđăng chảy vào biển Chết Biển Chết đón

nhận và giữ riêng cho mình mà không chia sẻ nên nước trong biển Chết trở nên

mặn chát Biển hồ Galilê cũng đón nhận nguồn nước từ sông Gioócđăng rồi từ

Trang 13

đó tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch, nhờ vậy nước trong hồ luôn sạch và mang lại sự sống cho cây cối, muông thú, con người

Một định lý trong cuộc sống mà ai cũng đồng tình: Một ánh lửa sẻ chia là một ánh lửa lan toả, một đồng tiền kinh doanh là một đồng tiền sinh lợi Đôi môi có hé mở mới thu nhận được nụ cười Bàn tay có mở rộng trao ban, tâm hồn mới tràn ngập vui sướng

Thật bất hạnh cho ai cả cuộc đời chỉ biết giữ cho riêng mình “ Sự sống” trong họ rồi cũng sẽ chết dần chết mòn như nước trong lòng biển Chết ”

( Theo “ Quà tặng cuộc sống”)

Bài văn trên gồm 4 đoạn Đoạn đầu và đoạn thứ hai kể chuyện về hai biển hồ ( biển Chết và biển Galilê ) ở Palextin Hai đoạn văn này có giọng văn tự sự Đến đoạn thứ ba cách hành văn thay đổi hẳn, người viết từ thực tế về hai biển hồ đưa

ra những suy ngẫm, những triết lí về cuộc sống, về cách sống ở trên đời Và vấn

đề cần bàn bạc ở đây chính là hai cách sống trái ngược nhau: sống chia sẻ, chan hoà, cởi mở với mọi người thì sẽ có hạnh phúc Còn ngược lại sống khép kín chỉ biết giữ cho riêng mình thì thật bất hạnh Để làm sáng tỏ luận điểm, tác giả đã khéo léo sử dụng thao tác chứng minh, giải thích, phân tích, bình luận xung quanh câu chuyện rất sinh động về hai biển hồ Hai biển hồ cùng tiếp nhận nguồn nước từ sông Gioócđăng Nhưng kì lạ là cùng có khởi nguồn, khi chảy vào biển Chết, biển Chết đón nhận và giữ riêng cho mình nên nước trở nên mặn chát, không có một sinh vật nào sống trong biển Chết, không có loại cá nào sống nổi

và ai ai cũng đều không muốn sống gần đó Ngược lại, biển hồ Galilê thì sự vật

quây quần, tốt tươi, phát triển “ nước trong hồ trong xanh mát rượi, người có thể

uống được mà cá cũng sống được Nhà cửa được xây cất rất nhiều ở đây Vườn cây xung quanh tốt tươi nhờ nguồn nước này” Từ đó tác giả dần dần khẳng định

Trang 14

luận điểm chính trong đoạn thứ tư “ Thật bất hạnh cho ai cả cuộc đời chỉ biết giữ

cho riêng mình “Sự sống” trong họ rồi cũng sẽ chết dần chết mòn như nước trong lòng biển Chết ” Cách trình bày như vậy chính là phương thức biểu đạt

của văn nghị luận

Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể khẳng định : “ Văn bản nghị luận là một kiểu văn bản, trong đó, người nói ( người viết ) đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng về một vấn đề nào đó và thông qua cách bàn luận mà làm cho người đọc ( người nghe) hiểu, tin, tán đồng những ý kiến của mình và hành động theo những điều

mà mình đề xuất ( đối với vấn đề đó )”

1.2 Các thao tác lập luận trong văn bản nghị luận

Đối với văn bản nghị luận, một trong những đặc trưng quan trọng nhất là việc

tổ chức lập luận Lập luận là sự tổ chức các luận điểm và luận cứ, lí lẽ và các dẫn chứng nhằm làm sáng tỏ vấn đề để người đọc hiểu, tin, đồng tình với điều mà người viết đặt ra và giải quyết Chính vì vậy mà chương trình SGK Ngữ văn trung học phổ thông đã trình bày một chuỗi những bài học về các thao tác lập luận như phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận Trước khi đi tìm hiểu khái quát từng thao tác trên đặc biệt là thao tác lập luận bác bỏ, chúng ta phải tìm hiểu “ thao tác” là gì?

Thao tác được hiểu một cách đơn giản là việc thực hiện những động tác theo trình tự và yêu cầu kĩ thuật nhất định

Để tạo lập một văn bản nghị luận, trong quá trình triển khai nội dung văn bản nhiều khi người viết phải sử dụng đến các thao tác Những thao tác đó gọi là thao tác nghị luận Thao tác nghị luận chính là những động tác được thực hiện theo trình tự và yêu cầu kĩ thuật được quy định trong hoạt động nghị luận nhằm đạt

Trang 15

đến một mục đích nhất định Trong văn nghị luận chúng ta thường gặp các thao tác như chứng minh, giải thích, bình luận, so sánh, bác bỏ Cụ thể như sau: 1.2.1 Thao tác chứng minh

Chứng minh là một thao tác lập luận Đặc điểm cơ bản của thao tác này là người viết dùng lí lẽ và dẫn chứng để minh chứng xác nhận, khẳng định, bênh vực một cách chắc chắn sự đúng đắn của một ý kiến, một nhận định, một vấn đề giả định người đọc đã thừa nhận hoặc thừa nhận một phần Nhờ có thao tác này

mà trong quá trình tạo lập văn bản nghị luận, người viết mới có thể làm rõ sự đúng sai,phải trái trong nội dung vấn đề và đó là cách để người viết dẫn dắt người tiếp nhận tìm đến một chân lí

Khi thực hiện thao tác này cần chú ý:

- Hệ thống dẫn chứng phải sát thực và phù hợp với vấn đề sắp xếp một cách trình tự, hợp lý, tránh hình thức liệt kê Dẫn chứng phải được dẫn dắt, phân tích, bình luận

- Lí lẽ phải được giải thích, phân tích, bình luận hoặc tổng hợp một cách rõ ràng, dễ hiểu, lập luận phải chặt chẽ, đồng thời phải kết hợp cả lí lẽ và dẫn chứng tạo sức thuyết phục cho người đọc

- Dẫn chứng trong văn bản chứng minh có thể là số liệu, là tài liệu đã được thừa nhận, là câu chuyện thực được kể lại, là danh ngôn của một ai đó Lí

lẽ trong văn bản chứng minh có thể là những đạo lí được mọi người thừa nhận

1.2.2 Thao tác giải thích

Trong đời sống hàng ngày, khi muốn giúp ai đó hiểu rõ vấn đề, hoặc hiểu đúng một vấn đề nào đó, con người phải tìm mọi cách để làm rõ vấn đề đó, nội dung đó Việc làm rõ vấn đề như vậy gọi là giải thích

Trang 16

Giải thích là thao tác làm cho người khác hiểu rõ, hiểu đúng, hiểu đầy đủ một vấn đề bằng lí lẽ (có dẫn chứng hỗ trợ) Trong làm văn nghị luận giải thích là một thao tác được thực hiện nhằm lí giải hoặc làm rõ vấn đề và qua đó người viết có thể bàn luận một cách cụ thể, sâu sắc nội dung của vấn đề đó Giải thích thường

là một quá trình diễn dịch: đi từ một khái niệm, một nhận thức khái quát đến những cái cụ thể, sinh động, dễ hiểu hơn

Khi sử dụng thao tác giải thích cần phải tiến hành theo trình tự các bước sau: + Xác định nội dung vấn đề cần bàn luận

+ Tìm nội dung, các bộ phận, các từ, ngữ trong vấn đề được trình bày một cách chưa rõ ràng cần được giải thích

+ Tiến hành giải thích bằng cách nêu định nghĩa, nêu biểu hiện, nêu nguyên nhân, chỉ ra các mặt lợi, hại của vấn đề cần giải thích Sau đó người viết có thể phân tích hoặc tổng hợp hoặc chứng minh, bình luận nội dung của vấn đề vừa giải thích

+ Chốt lại vấn đề

Như vậy có thể nói rằng trong bài văn nghị luận, thao tác giải thích là một thao tác lập luận quan trọng Nó giúp cho người đọc (người nghe) hiểu được vấn đề một cách cặn kẽ, rõ ràng và người viết tạo được sức hấp dẫn, thuyết phục trong bài văn nghị luận của mình

1.2.3 Thao tác lập luận phân tích

Mỗi sự vật, hiện tượng bao giờ cũng được tạo bởi nhiều yếu tố Các yếu tố này không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau trong một chỉnh thể thống nhất Trong quá trình nhận thức, việc chia nhỏ đối tượng thành nhiều yếu tố sâu chuỗi xem xét một cách kĩ càng nội dung và mối quan hệ bên trong cũng như bên ngoài của chúng gọi là phân tích

Trang 17

Mục đích của phân tích là làm rõ đặc điểm về nội dung, hình thức, cấu trúc

và các mối quan hệ bên ngoài của đối tượng (sự vật, hiện tượng) Khi phân tích cần chia tách đối tượng theo những yếu tố quan hệ nhất định (quan hệ giữa yếu

tố tạo nên đối tượng, quan hệ nhân quả, quan hệ giữa đối tượng với đối tượng liên quan, quan hệ giữa người phân tích với đối tượng phân tích) Phân tích cần

đi sâu vào từng yếu tố, từng khía cạnh song cần đặc biệt lưu ý đến quan hệ giữa chúng với nhau trong một chỉnh thể toàn vẹn thống nhất

Để tiến hành phân tích, chúng ta phải thực hiện theo trình tự sau:

+ Xác định nội dung vấn đề hoặc nội dung của luận điểm cần phân tích + Tiến hành xác định các khía cạnh, các bộ phận của nội dung cần phân tích

+ Sắp xếp các khía cạnh, từng bộ phận theo trình tự đã sắp xếp Cần lưu ý tới mối quan hệ giữa các khía cạnh để từ đó lựa chọn các phép liên kết cho thích hợp với nội dung của chúng

+ Dùng ngôn ngữ để lập luận, có thể trình bày bằng cách kết hợp với các

ví dụ minh họa

+ Cuối cùng chốt lại vấn đề cần phân tích

Khi phân tích vấn đề cần phải được tiến hành theo những nguyên tắc nhất định Đó là:

+ Phải đảm bảo sự phân chia phản ánh đúng bản chất tổ chức của đối tượng

Để làm được điều này, chúng ta phải phân xuất được từng khía cạnh, từng bộ phận của vấn đề và sắp xếp chúng theo một trình tự cụ thể

+ Phải đáp ứng tốt nhất cho mục đích thực hiện Khi phân tích vấn đề chúng

ta cần căn cứ vào mục đích phân tích vấn đề, phải xác định cụ thể phân tích vấn

đề như vậy để làm gì? Từ việc xác định mục đích phân tích như thế, chúng ta

Trang 18

lựa chọn cách thức phân chia vấn đề sao cho tương ứng với mục đích thực hiện thao tác này

+ Khi phân tích vấn đề, chúng ta phải phân chia theo cùng một cơ sở Thông thường, chúng ta chọn mục đích phân tích để làm cơ sở phân chia

+ Phải tuân theo nguyên tắc cấp bậc khi phân chia Tức là chia thành các bộ phận lớn rồi tiếp tục chia thành các bộ phận nhỏ, không được phân chia một cách nhảy vọt, thiếu tính hệ thống

Trong văn bản nghị luận, thao tác phân tích nhằm giúp cho người tiếp nhận văn bản có thể hiểu rõ từng khía cạnh của vấn đề bàn luận

1.2.4 Thao tác tổng hợp

Khi tạo lập văn bản nghị luận, kết quả của sự phân tích mới chỉ cho phép hiểu về các bộ phận riêng lẻ mà chưa hiểu biết hoàn chỉnh về đối tượng Muốn nhìn nhận đối tượng trong sự thống nhất hữu cơ của nó thì người viết sử dụng tới thao tác lập luận tổng hợp

Tổng hợp là thao tác ngược lại với phân tích Tổng hợp có nghĩa là gom lại những hiểu biết về từng bộ phận từng khía cạnh làm thành hiểu biết chung, đầy

đủ, toàn bộ đối tượng Trong văn nghị luận, thao tác này thường được thực hiện sau các thao tác lập luận khác như giải thích, chứng minh, phân tích Nó là cơ

sở để người viết chốt lại vấn đề một cách chính xác và khoa học

Các bước thực hiện thao tác tổng hợp :

+ Xác định nội dung đã được trình bày trước đó

+ Xác định mối quan hệ giữa các nội dung, các bộ phận đã trình bày

+ Xác định đặc điểm, đặc trưng, tính chất cơ bản của các vấn đề đã được trình bày đó

+ Gộp các vấn đề đó lại theo trình tự đã được triển khai trước đó

Trang 19

+ Rút ra kết luận hay nêu ra chân lý nào đó

+ Có thể dẫn sang một nội dung mới hoặc mở rộng vấn đề được bàn luận

Để có thể tiến hành thao tác tổng hợp, chúng ta phải tuân thủ những nguyên tắc sau:

+ Chỉ tổng hợp cái chung, cái đồng nhất trong từng bộ phận (chỉ được thực hiện khi chúng ta xác định nội dung của từng bộ phận)

+ Chỉ tổng hợp theo từng cấp bậc (giúp chúng ta tổng hợp các vấn đề một cách khoa học, đảm bảo phù hợp với nội dung và đặc điểm của vấn đề được bàn luận

Trong bài văn nghị luận, thao tác tổng hợp thường được thể hiện trong một vài câu văn Thông thường đó là cách để người viết chốt lại vấn đề hoặc kết luận cho một nội dung nào đấy

Trong quá trình tạo lập văn bản nghị luận, phân tích và tổng hợp là hai thao tác có mối quan hệ mật thiết với nhau Phân tích là thao tác giúp cho con người nhận thức vấn đề trong từng biểu hiện, từng khía cạnh của chúng, còn tổng hợp là thao tác giúp cho con người có thể bao quát toàn bộ vấn đề

1.2.5 Thao tác lập luận so sánh

So sánh cũng là một thao tác lập luận được dùng để tìm ra điểm giống nhau

và khác nhau giữa các đối tượng và qua sự so sánh ấy mà giúp cho con người nhận thấy rõ đặc điểm, vai trò, giá trị của vấn đề được bàn luận

Khi tiến hành so sánh, người viết phải có cách so sánh linh hoạt mềm dẻo nếu không cẩn thận sẽ rơi vào tình trạng so sánh các yếu tố khồng tương đồng dẫn tới sai lệch, lầm lạc

Yêu cầu khi tiến hành so sánh (cách so sánh) là:

Trang 20

+ Đối tượng (sự vật hiện tượng ) đưa ra so sánh phải có mối liên quan với nhau về một mặt, một phương diện nào đó

+ So sánh phải dựa trên tiêu chí rõ ràng

+ Kết luận rút ra từ sự so sánh phải chân thực giúp cho việc nhận thức đối tượng (sự vật, hiện tượng ) được chính xác, sâu sắc hơn

Như vậy, có thể nói rằng : thao tác lập luận so sánh được thực hiện khi những sự vật, hiện tượng phải có mối liên hệ với nhau Và qua so sánh sẽ giúp cho việc nhận thức sự vật, hiện tượng sâu sắc hơn

1.2.6 Thao tác lập luận bình luận

Bình luận là một thao tác lập luận quan trọng không thể thiếu trong văn bản nghị luận Trong quá trình trình bày vấn đề để thể hiện suy nghĩ quan điểm của mình đối với vấn đề nghị luận, người viết phải dùng ngôn ngữ, lí lẽ để thể hiện suy nghĩ, thái độ quan điểm như vậy gọi là bình luận Như vậy, bình luận

là cách người viết dùng ngôn ngữ, lí lẽ, lập luận để bàn luận, đánh giá, phê bình, nhận xét, tỏ thái độ của bản thân về một sự kiện, một vấn đề nào đó và qua đó đi đến những nhận định, những kết luận đúng đắn, sâu sắc Đồng thời thông qua việc bình luận người viết có thể thể hiện tư tưởng, tình cảm, quan điểm của mình về vấn đề nào đó

Khi thực hiện thao tác bình luận, chúng ta phải tuân thủ theo các bước : + Xác định nội dung cần bình luận (luận điểm)

+ Làm sáng rõ ý nghĩa vấn đề cần bình luận thông qua phân tích, chứng minh, giải thích

+ Dùng lí lẽ và dẫn chứng để chỉ ra tính đúng sai, tính chân lý của vấn đề tạo cơ sở cho việc đánh giá, nhận xét vấn đề đó

+ Dùng lí lẽ lập luận để bàn, để bình và đánh giá nội dung vấn đề

Trang 21

Chú ý trong quá trình tạo lập văn bản nghị luận, cần phải biết sử dụng kết hợp các thao tác lập luận một cách linh hoạt mềm dẻo, tránh khô cứng qua đó làm nổi bật vấn đề nghị luận

1.3 Thao tác lập luận bác bỏ trong văn bản nghị luận

1.3.1 Khái niệm lập luận bác bỏ

Trong thực tế đời sống, cũng như trong văn bản nghị luận, có rất nhiều ý kiến sai lầm cần phải phê phán Phê phán ý kiến sai, bảo vệ ý kiến đúng sao cho hiệu quả và thuyết phục là một việc làm không hề đơn giản Để làm được điều

đó, chúng ta phải sử dụng thao tác lập luận bác bỏ Vậy khái niệm lập luận bác

bỏ là gì?

Theo Thiều Chiểu, chữ “bác” trong “ bác bỏ” vốn có nghĩa là “ con ngựa đốm loang lổ sắc màu”, rồi sau đó mới phát triển lên để mang một trong những nét nghĩa là “ nói bẻ lại”, “ phủ định ý kiến của đối phương”, “ gạt bỏ bằng lí lẽ, quan điểm, ý kiến của người khác”, “ phản đối lời bàn bạc của người ta và chỉ trích chỗ sai lầm” Còn hiểu theo nghĩa chiết tự Hán Việt thì “ bác” là phản bác,

“ bỏ” là gạt đi, bỏ đi “ Bác bỏ” là phản bác để gạt đi, bỏ đi một ý kiến, một nhận xét không chính xác

Trong làm văn nghị luận, bác bỏ là một kiểu lập luận nhằm phủ nhận một ý kiến, một kết luận về một hiện tượng, một vấn đề bằng cách dùng thao tác bác

bỏ để chỉ ra một cách rõ ràng, tường tận, thấu đáo những sự vô lí, sai lầm của

nó Qua đó giúp người đọc ( người nghe) nhìn nhận hiện tượng vấn đề một cách đúng đắn, xác thực hơn Để hiểu rõ hơn khái niệm này, chúng ta xét ngữ liệu sau:

Trang 22

“ Học để làm gì? Câu hỏi ấy nghe ra thật tầm thường cũ rích, tuồng như

không ai để ý đến, nhưng cứ như những câu trả lời của các học giả xưa nay thì

có một câu vắn tắt mà có thể bao quát được toàn thể và công dụng sự học là: Học để làm người

Theo câu nói ấy, có lẽ cãi lại rằng: Vậy thì không học không làm người được sao? Kìa như ông Hán Cao Tổ không học mà làm một ông vua anh hùng, ông Hoắc Quang không học mà làm được công nghiệp lớn Bên Âu Tây, nhiều nhà đại chính trị đại sáng tạo, hoặc trọn đời ở trong các mỏ, các công xưởng mà làm được công việc to lớn đó thì sao? Còn ở trên đời biết bao người vào trường

nọ, đậu bằng kia, đào mãi trong trăm ngàn bộ sách, miệng nói ra rành là chuyện văn hào đông tây, mà xét đến phẩm cách tính chất, có điều mất cả tư cách làm người nữa Thế thì câu nói “ học để làm người” không phải không đúng sao?”

( “ Học để làm gì?”- Huỳnh Thúc Kháng – Trích báo Tiếng dân, số 282, ngày

17.5.1930, in lại trong “ Tổng tập văn học Việt Nam”, tập 21, Nxb Khoa học xã hội, H 2000 )

Trả lời câu hỏi “ Học để làm gì?” kể ra cũng không khó làm Và chính tác giả bài viết cũng đã trả lời theo một cách thức thông thường “ học để làm người” Vậy không học không làm người được sao? Câu hỏi lật ngược vấn đề đã tạo ra một tình huống giả định độc đáo Trong đó nhân vật phản diện ( giả định) nêu

ra một ý kiến phản bác còn tác giả sẽ là người bảo vệ chứng minh “Vậy thì không học không làm người được sao?” Kìa như ông Hán Cao Tổ không học

mà làm một ông vua anh hùng; ông Hoắc Quang không học mà làm lên công nghiệp lớn” Rõ ràng cách lí giải của tác giả cho thấy phải hiểu chữ “ học” theo nghĩa rộng, không nhất thiết phải đến trường mới là học mà việc học cũng

Trang 23

không nhằm nắm bắt tri thức kĩ năng Học ở đây chủ yếu là học nhân cách, học

để hoàn thiện mình Có thể học ở trường nhưng cũng có thể học ở gia đình và

xã hội

Có thể nói rằng nhờ bác bỏ mà ta có thể hiểu rõ vấn đề: “Học để làm gì? - Học để làm người’’ Câu hỏi thật dễ trả lời nhưng cũng thật khó để lí giải cho thuyết phục Thao tác lập luận bác bỏ đã được sử dụng để phát huy hiệu quả Câu trả lời “ học để làm người” là chính xác Như vậy, nhờ có bác bỏ, tác giả đã

từ vấn đề, từ một suy nghĩ chưa chính xác để dẫn người đọc đến với một chân

lí Cách diễn đạt như vậy cũng gần giống một hình thức chứng minh- chứng minh cho một chân lí khoa học đúng đắn Cũng vì thế, khi nói đến các thao tác

lô gic tư duy, Vương Tất Đạt khẳng định: Chứng minh là thao tác lô gic dùng

để lập luận tính chân thực của phán đoán nêu ra nhờ các phán đoán chân thực khác có mối quan hệ hữu cơ với phán đoán ấy Còn bác bỏ là thao tác lô gic nhằm xác lập tính giả dối hay tính không có căn cứ của luận đề được nêu ra Bác bỏ là dạng thức chứng minh đặc biệt

1.3.2 Đặc điểm thao tác lập luận bác bỏ

Để tạo lập một văn bản nghị luận, người viết phải sử dụng phối hợp các thao tác lập luận khác nhau Mỗi một thao tác lập luận đều mang những đặc điểm riêng biệt Nếu như giải thích là cách người viết dùng ngôn ngữ để giảng giải, chứng minh là cách người viết dùng lí lẽ, dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề thì bác bỏ lại những đặc điểm riêng biệt Về bản chất, bác bỏ lại được coi là một dạng thức chứng minh đặc biệt Sở dĩ nói được như vậy là vì: chứng minh là việc đi tìm những lí lẽ dẫn chứng để trực tiếp khẳng định tính đúng đắn của vấn

đề đó Còn bác bỏ lại xuất phát từ một vấn đề sai Sau đó dùng lí lẽ, dẫn chứng

để chỉ ra cái sai, rồi bác bỏ nó đi Cuối cùng đưa ra chân lí ( cái đúng)

Trang 24

Cũng chính từ đặc điểm này của bác bỏ nên ta thấy đặc trưng khá nổi bật của thao tác này là: Khi bác bỏ bao giờ cũng đi từ một vấn đề sai, rồi sau đó phải chỉ ra cái đúng Chẳng hạn như để phản bác luận điểm “ Có tiền là có hạnh phúc”, Thác- cơ- rê( William Makepeace Thackeray, 1811-1865) nhà văn Anh

đã nói:

“ Tiền bạc không phải là vạn năng

Nó có thể mua được chiếu giường, nhưng không mua được giấc ngủ

Nó có thể mua được châu ngọc, nhưng không mua được sắc đẹp

Nó có thể mua được giấy bút, nhưng không mua được ý thơ

Nó có thể mua được nhà cửa, nhưng không mua được gia đình

Nó có thể mua được thức ăn, nhưng không mua được sự ngon miệng

Nó có thể mua được trò chơi, nhưng không mua được niềm vui

Nó có thể mua được sự xu nịnh, nhưng không mua được lòng trung thành

Nó có thể mua được cánh hẩu, nhưng không mua được tình bạn

Nó có thể mua được sự phục tùng, nhưng không mua được lòng kính trọng

Nó có thể mua được quyền thế, nhưng không mua được trí tuệ

Nó có thể mua được thể xác, nhưng không mua được tình yêu

Nó có thể mua được vũ khí, nhưng không mua được hòa bình.”

Để phản bác lại luận điểm sai lầm “ có tiền là có hạnh phúc”, tác giả đã khẳng định nó là sai bằng một luận điểm chắc chắn “ tiền bạc đâu phải là vạn

năng” Và bằng các lí lẽ, dẫn chứng cụ thể, tác giả đã đánh đổ được luận điểm

sai lầm đó “ Tiền có thể mua được chiếu giường, nhưng không mua được giấc

ngủ Có thể mua được châu ngọc, nhưng không thể mua được sắc đẹp ” Tiền

bạc chỉ có thể mua được những tiện nghi vật chất làm phong phú thêm cho đời sống tinh thần của con người, nhưng tiền bạc không thể mua được hạnh phúc

Trang 25

thực sự của con người Vậy “ tiền bạc đâu phải là vạn năng” là một nhận định

hoàn toàn chính xác

Cũng chính từ đặc điểm này mà ta thấy rằng trong quá trình sử dụng thao tác lập luận bác bỏ, người viết luôn chú ý sử dụng nhiều hình thức diễn đạt phủ định Chẳng hạn như ở ví dụ trên, bên cạnh việc khẳng định tiền bạc có thể mua

được của cải vật chất (“ chiếu giường”, “ nhà cửa”, “ thức ăn” ) thì đối lập với nó đó chính là (“ giấc ngủ”, “gia đình” ) những thứ hạnh phúc thực sự mà tiền bạc không mua được Từ phủ định “ không” có tác dụng nhấn mạnh khẳng

định cách lập luận lí giải của tác giả là chính xác Bác bỏ thành công Tiền bạc không phải là vạn năng, có tiền đâu có nghĩa là có hạnh phúc

Mặt khác một điểm nữa cần phải lưu ý là khi bác bỏ phải chú ý kết hợp với các thao tác lập luận khác như phân tích, chứng minh, bình luận, tổng hợp Phân tích để chỉ ra những khía cạnh sai Chứng minh bằng các dẫn chứng, lí lẽ để làm sáng tỏ thêm vấn đề Bình luận là bàn bạc mở rộng để nhận xét, đánh giá vấn đề đó một cách cụ thể hơn ở nhiều khía cạnh khác nhau Cuối cùng là kết hợp với thao tác tổng hợp để kết luận vấn đề, chỉ ra cách hiểu đúng đắn nhất về vấn đề đó Để lí giải rõ đặc điểm này, chúng ta xét ngữ liệu sau: Bác bỏ một quan điểm thực dụng

Quan điểm “ có rồi hãy cho” của Ây Ren- dơ về một khía cạnh nào đó là một quan điểm đúng đắn Nhưng vấn đề cần trao đổi là dường như bà cho rằng

“ có” ở đây chỉ là các sản phẩm vật chất

Hơn thế nữa, Ây Ren- dơ nhấn mạnh: “ Những kẻ theo chủ nghĩa nhân văn- trên nguyên tắc và cả trên thực tế- là những kẻ ăn bám, bởi mối quan tâm hàng đầu của họ là phân phát chứ không phải là sản xuất, nói đúng ra là quan tâm

Trang 26

đến việc phân phát những gì mà họ sản xuất ra Những kẻ ăn bám thì không bao giờ đáng kính hay tốt cả’’

Cần nói ngay rằng, không có gì khó khăn lắm trong việc nhận ra thực chất cái quan điểm dường như rất “ tân kì” của Ây- Ren- dơ Thực chất của nguyên tác đạo đức mới của cái bà người Mĩ gốc Nga này là phải “ tạo” hay “ sản xuất” mới là người tốt Còn người theo chủ nghĩa nhân văn và hoạt động xã hội: gồm cả nhà chính trị, là kẻ ăn bám vì họ chẳng tạo ra hay sản xuất cái bóng đèn như Ê- đi- xơn hay cái ô tô như Pho Họ chỉ “ dây máu ăn phần” khi phân phát cái mà họ không tạo ra hay sản xuất được! Muốn biết quan điểm này đúng hay sai, ta sẽ áp dụng vào thực tiễn”

( Đỗ Kiên Cường, “ Đạo đức mới là gì?”- Tạp chí Tia sáng 8- 2002)

Bài viết bác bỏ một quan điểm thực dụng” phê phán tư tưởng khinh thường chủ nghĩa nhân văn, xem những người mang tư tưởng nhân văn là kẻ ăn bám

Tác giả bài viết đã suy từ câu nói “ có rồi hãy cho” để khái quát tư tưởng trên

Sau khi khẳng định mặt đúng của nó, tác giả đã nêu luận cứ của mình về tương

quan giữa người sản xuất và các nhà nhân văn: “ những kẻ theo chủ nghĩa nhân

văn là những kẻ ăn bám Bởi mối quan tâm hàng đầu của họ là phân phát chứ không phải sản xuất” như những nhà sản xuất Tiếp đó Ây Ren- dơ còn khẳng

định “ những kẻ ăn bám thì không bao giờ đáng kính cả” Cách nói này đã bị tác giả phản bác một cách kịch liệt: “ Thực chất, nguyên tắc đạo đức mới của

bà người Mĩ gốc Nga này là phải “ tạo” hay “ sản xuất” mới là người tốt”

Bằng cách lập luận, các lí lẽ dẫn chứng kết hợp với các thao tác phân tích, bình luận, tác giả bài viết đã thể hiện quan điểm cũng như thái độ của mình trước cái

gọi là “đạo đức mới” của Ây Ren- dơ Cuối cùng, tác giả đã tổng hợp lại trong một câu kết luận: “ Muốn biết quan điểm này đúng hay sai, ta sẽ áp dụng vào

Trang 27

thực tiễn” Hãy nhìn vào thực tiễn, ta sẽ thấy không chỉ có người sản xuất mới

có giá trị mà những người hoạt động trong các lĩnh vực khác như văn hóa, chính trị họ cũng có vai trò quan trọng trong cuộc sống

Như vậy, qua sự phân tích trên ta có thể khẳng định rằng: Thao tác lập luận bác bỏ có những đặc trưng riêng không hề lẫn với các thao tác khác Cùng với các thao tác lập luận khác giúp cho công việc nghị luận đạt hiệu quả

+ Nêu tác hại của sai lệch đó

+ Đưa ra một ý kiến của bản thân

Tóm lại, bác bỏ là thao tác được sử dụng để bác đi, bỏ đi, gạt đi những ý kiến những nhận định không chính xác Để cuối cùng cái đích cần đạt được là khẳng định chân lí của đời sống, chân lí của nghệ thuật Trong văn nghị luận, bác bỏ là thao tác có vai trò quan trọng giúp cho người đọc (người nghe) nhận thức vấn đề một cách chính xác, sâu sắc, tránh cái nhìn một chiều, sai trái, khiên cưỡng Chúng ta có thể tiến hành bác bỏ luận điểm, bác bỏ luận cứ, bác bỏ cách lập luận Tùy từng vấn đề mà vận dụng một cách linh hoạt

Kết luận chương 1: Bác bỏ là bác đi, gạt đi những ý kiến sai lầm, những nhận định không chính xác Đây là thao tác lập luận cơ bản trong văn nghị luận Thao tác này giúp cho người tiếp nhận thấy được rõ bản chất, tính đúng đắn của

Trang 28

vấn đề Cái sai sẽ bị bác bỏ, chân lí của đời sống, của nghệ thuật sẽ được khẳng định

Trang 29

CHƯƠNG 2 DẠY HỌC NỘI DUNG “THAO TÁC LẬP LUẬN BÁC BỎ”

TRONG SGK NGỮ VĂN 11

2.1 Thao tác lập luận bác bỏ trong SGK Ngữ văn

Trong chương trình Ngữ văn hiện hành, lập luận bác bỏ là một nội dung hoàn toàn mới Trước đây, thao tác lập luận bác bỏ không có trong nội dung chương trình Làm văn Có chăng thì nó cũng chỉ được đề cập tới trong các SGK phân ban thí điểm nhưng cũng không được đặt trong bài học cụ thể Điều này cũng một phần là do, SGK khi đó chỉ coi chứng minh, giải thích, bình luận là kiểu bài nghị luận chứ không phải là các thao tác lập luận Mỗi kiểu bài đó sẽ

có những đặc trưng riêng được vận dụng để giải quyết những đề bài cụ thể Đến khi SGK có sự thay đổi, chứng minh, giải thích, bình luận, phân tích không còn

là những kiểu bài nữa mà là những thao tác lập luận được sử dụng trong quá trình tạo lập văn bản nghị luận, thì bác bỏ cũng vẫn chưa được coi là một thao tác lập luận, cũng chưa được đưa vào bài học cụ thể trong chương trình SGK Ngữ văn phần Làm văn

Hiện nay, trong nội dung chương trình SGK Ngữ văn có sự đổi mới Đó chính là việc bổ sung thêm bài học dạy học về thao tác lập luận bác bỏ với hai bài cụ thể: đó là một bài dạy lí thuyết và một bài dạy thực hành SGK Ngữ văn lần này đã thể hiện một quan điểm tích cực Đó là muốn học sinh tạo lập được những văn bản nghị luận có giá trị, muốn việc diễn đạt của các em thực sự sinh động, hấp dẫn thì bên cạnh việc trang bị cho các em những tri thức cơ bản về các kiểu văn bản, về cách thức diễn đạt còn phải tổ chức cho các em luyện tập

Trang 30

thực hành Thông qua hoạt động thực hành ấy, học sinh vừa củng cố lí thuyết vừa nâng cao kĩ năng viết, kĩ năng diễn đạt

2.2 Việc dạy- học nội dung “Thao tác lập luận bác bỏ” trong SGK Ngữ văn

11

2.2.1 Việc dạy nội dung "Thao tác lập luận bác bỏ” của giáo viên

Có thể nói, trong chương trình Làm văn hiện hành thì thao tác lập luận bác

bỏ còn là một nội dung khá mới mẻ, ít tài liệu tham khảo Cho nên việc dạy học của giáo viên còn nhiều hạn chế Phần lớn nội dung dạy luôn bám sát vào SGK, SGV mà chưa có sự sáng tạo Thậm chí việc lí giải, phân tích các ngữ liệu còn chung chung, mơ hồ Điều này một phần cũng do thời gian dạy học là quá ngắn lượng kiến thức thì nhiều nên giáo viên không có điều kiện để đi sâu, đi kĩ vào ngữ liệu

Một thực trạng nữa, đó là khi dạy giáo viên cũng chưa chỉ rõ cách thức bác

bỏ Việc tổ chức luyện tập thực hành cho học sinh cũng còn nhiều bất cập Nguyên nhân là do thời gian quá ngắn nên rất khó để vừa củng cố lí thuyết cho học sinh, vừa hướng dẫn cho học sinh lập dàn ý viết đoạn rồi phân tích, sửa chữa lỗi chưa đạt trong bài làm của học sinh Vì vậy việc dạy lí thuyết cũng như việc tổ chức thực hành dạy học bài thao tác lập luận bác bỏ ở trường phổ thông

là chưa triệt để Từ đó dẫn đến tình trạng học của học sinh

2.2.2 Việc học nội dung "Thao tác lập luận bác bỏ” của học sinh

Từ trước tới nay học sinh vốn đã mang sẵn tâm lí ghét học Làm văn Vì đây

là môn khô, khó, khổ Lượng kiến thức thì nhiều, tài liệu tham khảo thì ít, bài học thì nắm kiến thức mơ hồ Những điều đó khiến cho học sinh ít hứng thú với bài học và tất yếu sẽ dẫn đến hậu quả việc tạo lập các văn bản nghị luận không có giá trị Học sinh tùy hứng dùng lời diễn giảng, suy diễn vấn đề, viết

Trang 31

linh tinh, không gãy gọn, không mạch lạc Thậm chí có em còn viết bài theo hình thức gạch đầu dòng, viết theo các ý, không bố trí trình bày bài làm theo bố cục của một bài văn nghị luận hoặc bài viết quá ngắn so với thời gian làm bài 2.3 Nội dung cơ bản “Thao tác lập luận bác bỏ” trong SGK Ngữ văn 11 2.3.1 Nội dung bài lí thuyết

Bài này được dạy trong một tiết Khi triển khai bài học này SGK đã cấu trúc bao gồm hai nội dung cơ bản: Thứ nhất là mục đích và yêu cầu của thao tác lập luận bác bỏ Nội dung thứ hai là cách bác bỏ

Ở phần một trang bị cho học sinh những mục đích và yêu cầu của thao tác lập luận bác bỏ Trong đời sống cũng như trong các văn bản nghị luận thường song song tồn tại những quan điểm đúng đắn, khách quan, trung thực và cả những quan điểm sai lầm lệch lạc, phiến diện, chủ quan Do đó chúng ta phải sử dụng thao tác bác bỏ nhằm phê phán cái để bảo vệ chân lí của đới sống, chân lí của nghệ thuật

Từ việc xác định mục đích sử dụng thao tác lập luận bác bỏ, SGK Ngữ văn

11 đã nêu hệ thống các yêu cầu cho việc sử dụng thao tác này Theo SGK yêu cầu đó là:

+ Phát hiện ra sai làm, lệch lạc, thiếu khoa học của một quan điểm nào đó + Người thực hiện phản bác phảI dùng lí lẽ, dẫn chứng khách quan, trung thực

để bác bỏ ý kiến nhận định sai trái

+ Có thái độ thẳng thắn đúng mực, khách quan

Phần hai của bài là: Cách thức bác bỏ Thông qua những ngữ liệu cụ thể, SGK Ngữ văn đã chỉ ra một số cách thức thực hiện bác bỏ trong quá trình tạo lập văn bản nghị luận Theo SGK cách thức bác bỏ là:

Trang 32

+ Bác bỏ luận điểm tức là dùng lập luận bác bỏ để phủ nhận luận điểm sai lâm, khẳng định luận

+ Bác bỏ luận cứ tức là vạch ra tính chất sai lầm, giả tạo trong dẫn chứng và

lí lẽ của đối phương

+ Bác bỏ cách lập luận tức là vạch ra mâu thuẫn, không nhất quán, phi lôgíc trong lập luận của đối phương, chỉ ra sự đổi thay, đánh tráo khái niệm trong quá trình lập luận

Sau các nội dung ấy là phần Ghi nhớ, phần Ghi nhớ được khái quát ở những nội dung cơ bản như: Khái niệm bác bỏ là gì? Bác bỏ chính là sự phản bác để gạt đi, bỏ đi những ý kiến, những nhận xét không chính xác Mục đích của bác

bỏ là phủ nhận những nhận định, những ý kiến sai lầm nhằm khẩng định và bảo

vệ ý kiến đúng dắn Để bác bỏ thành công ta cần phải nắm vững những yêu cầu sau:

+ Phát hiện ra sai lầm

+ Dùng lí lẽ dẫn chứng để phản bác lại sai lầm đó

+ Thái độ khi phản bác phải khách quan đúng mực

Khi bác bỏ cần phải tiến hành theo các bước sau:

+ Bước 1: Xác định vấn đề được nêu

+ Bước 2: Chỉ ra chỗ sai, chỗ chưa đúng

+ Bước 3: Thực hiện bác bỏ bằng các cách

Phân tích chỉ ra chỗ sai lệch

Nêu ra tác hại của những sai lệch đó

Đưa ra ý kiến của bản thân

Cách bác bỏ có 3 cách:

+ Bác bỏ luận điểm

Trang 33

+ Bác bỏ luận cứ

+ Bác bỏ cách lập luận

2.3.2 Nội dung bài “Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ”

Mục đích của giờ dạy thực hành là thông qua các bài cụ thể, giáo viên có điều kiện đánh giá năng lực nhận thức của học sinh Đồng thời cũng trong quá trình thực hành, giáo viên củng cố kiến thức lí thuyết cho học sinh, vừa giúp học sinh biết cách tạo lập các văn bản cụ thể Như vậy khi thực hiện giờ dạy thực hanh, giáo viên phải củng cố kiến thức lí thuyết cho học sinh, vừa phải tổ chức cho học sinh luyện tập thực hành thông qua các bài tập cụ thể

Bài “Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ” đã được triển khai thông qua các bài tập trong SGK với ba bài tập cụ thể Đó là:

Bài 1: Dạng bài tập nhận diện và phân tích cách thức bác bỏ trong văn bản cụ thể Thông qua dạng bài tập này giúp học sinh vận dụng những kiến thức lí thuyết đã học từ bài trước để phân tích, giải thích các ngữ liệu đó đã sử dụng hình thức bác bỏ nào: bác bỏ luận điểm, bác bỏ luận cứ hay bác bỏ cách lập luận

Bài tập thứ 2 là bài tập nêu ra những tình huống, những ý kiến cụ thể và những tình huống ấy có quan niệm chưa đúng Rồi từ đó yêu cầu học sinh xác định quan điểm sai, phủ nhận quan điểm ấy, rồi nêu ra những suy nghĩ của bản thân về vấn đề kinh nghiệm học môn Ngữ văn Đây là bài tập yêu cầu học sinh phải biết tổng hợp toàn bộ kiến thức lí thuyết về thao tác lạp luận bác bỏ để vừa thực hiện thao tác này, khi chỉ ra cái sai rồi từ đó tạo điều kiện để các em có thể nêu ra những quan điểm suy nghĩ, ý kiến của bản thân về “kinh nghiệm học tập môn Ngữ văn”

Trang 34

Bài tập 3 là bài tập tạo lập, bài tập này cũng nêu ra một vấn đề cụ thể và yêu cầu học sinh thực hiện hai công việc: Thứ nhất là lập dàn ý Thứ hai là tạo lập một văn bản theo vấn đề đã cho Về cơ bản đây là hai kĩ năng cần đạt của học sinh

2.4 Quy trình dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ”

Muốn học sinh nắm được những kiến thức cơ bản trong bài học này, chúng tôi xác định quy trình dạy học như sau:

Trước hết, ở bài này cần phải tập trung làm rõ hai nội dung cơ bản: thứ nhất

là khái niệm, mục đích và yêu cầu của thao tác lập luận bác bỏ; thứ hai là cách bác bỏ Từ mục tiêu đó, chúng tôi xác định việc dạy nội dung này như sau:

Ở phần 1, chúng tôi yêu cầu học sinh phân tích ngữ liệu để hình thành khái niệm thao tác lập luận bác bỏ Sau đó cho học sinh đánh giá vai trò, mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận bác bỏ Sử dụng lập luận bác bỏ nhằm mục đích gì? Yêu cầu khi thực hiện bác bỏ là gì? Như vậy ở phần này để hình thành những kiến thức cơ bản về thao tác lập luận bác bỏ, chúng tôi sử dụng phương pháp đi từ các ngữ liệu để hình thành khái niệm cho học sinh Việc sử dụng phương pháp này là vì đây là một kiến thức mới , học sinh chưa biết nên phải từ ngữ liệu trực quan để hình thành khái niệm Khi sử dụng phương pháp đi từ ngữ liệu để hình thành khái niệm cho học sinh, chúng tôi sử dụng các thao tác sau: Thao tác một, giáo viên đưa ngữ liệu và yêu cầu học sinh phân tích ngữ liệu,

và chỉ ra trong ngữ liệu ấy có phản bác hay không? Sau khi học sinh trả lời câu hỏi xong, thao tác hai giáo viên nhận xét, chốt lại vấn đề và yêu cầu học sinh khái quát lại bác bỏ là gì? Thao tác ba giáo viên yêu cầu học sinh đọc SGK phát vấn về mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận bác bỏ Đây là những thao tác cụ thể được giáo viên sử dụng để hình thành khái niệm về bác bỏ cho học sinh

Trang 35

Đối với phần 2 là hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu cách thức bác bỏ Để tìm hiểu nội dung này, chúng tôi cũng xuất phát từ các ngữ liệu Sau đó cho học sinh phân tích các ngữ liệu để thấy rõ thế nào là bác bỏ luận điểm, thể nào là bác bỏ luận cứ, thế nào là bác bỏ cách lập luận.Chẳng hạn như ở ngữ liệu 1 trong SGK, luận điểm đưa ra là: “Nguyễn Du là con bệnh thần kinh” Vậy thì với luận điểm sai lầm đó tác giả Đinh Gia Trinh đã bác bỏ bằng cách thức nào? Học sinh sẽ chỉ ra lần lượt từng bước cụ thể trong quá trình thực hiện công việc bác bỏ của tác gỉa Đối với ngữ liệu b, c giáo viên cũng tiến hành theo cách thức

đó Đầu tiên là yêu cầu học sinh phân tích ngữ liệu, chỉ ra trình tự các bước mà tác giả đã vận dụng để đưa bác bỏ đến thành công Sau khi phân tích ngữ liệu, thao tác hai là giáo viên yêu cầu học sinh chỉ ra kiến thức khái quát được từ các ngữ liệu các bước hay nói cách khác cách thức bác bỏ như thế nào?

Sau cùng là cho học sinh đọc Ghi nhớ để khắc sâu hơn kiến thức trọng tâm trong bài học và khâu cuối cùng là tổ chức cho các em làm bài tập thuộc phần Luyện tập

2.5 Quy trình dạy học bài “Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ”

Mục đích của các giờ thực hành là thông qua các bài tập cụ thể, giáo viên có điều kiện đánh giá năng lực nhận thức của học sinh Đồng thời, cũng trong quá trình thực hành, giáo viên vừa củng cố kiến thức cho học sinh, vừa giúp học sinh biết cách tạo lập các văn bản cụ thể Như vậy khi thực hiện giờ thực hành, giáo viên phải thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản là:

- Hệ thống lại các kiến thức cơ bản về thao tác lập luận bác bỏ

- Tổ chức cho học sinh luyện tập thực hành

Từ hai nhiệm vụ trên, chúng tôi xác định quy trình dạy học cho bài thực hành này bao gồm:

Trang 36

Bước một, chúng tôi yêu cầu học sinh hệ thống lại kiến thức về thao tác lập luận bác bỏ từ khái niệm, mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận bác bỏ đến cách thức thực hiện bác bỏ Đây là bước rất quan trọng vừa giúp học sinh ôn tập củng cố kiến thức lí thuyết đã được học ở bài trước, qua đó còn vận dụng vào thực hành luyện tập ở tiết học này Ở bước một này, chúng tôi cụ thể bằng các thao tác như sau: Thao tác một giáo viên lân lượt phát vấn học sinh, yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức lí thuyết của lập luận bác bỏ từ khái niệm, mục đích yêu cầu đến cách thức thực hiện bac bỏ Thao tác hai giáo viên nhận xét và nhấn mạnh thêm kiến thức trọng tâm ở bài học lí thuyết để học sinh lấy đó làm

cơ sở khi tiến hành luyện tập thực hành

Bước 2, tổ chức cho học sinh luyện tập thực hành Ở bước này, giáo viên có thể sử dụng một số hình thức như: thảo luận nhóm, luyện nói, luyện viết để học sinh có thể trình bày những nội dung mà các em chuẩn bị Bước này được

cụ thể hoá bằng các thao tác sau: Thao tác một, giáô viên yêu cầu học sinh đọc ngữ liệu Thao tác hai, giáo viên đưa câu hỏi để học sinh trả lời theo đính hướng của bài tập Thao tác ba là quá trình chốt lại vấn đề của giáo viên

Bước 3, giáo viên củng cố kiến thức, tổng kết và chốt lại vấn đề mà học sinh

đã thực hiện trong giờ học Đây chính là bước cuối cùng thực hiện trong một giờ luyện tập

Kết luận chương 2:

Trong chương trình Ngữ văn hiện nay, cùng với so sánh, phân tích, giải thích, chứng minh, bình luận bác bỏ được đưa vào giảng dạy với tư cách là một thao tác lập luận “Thao tác lập luận bác bỏ” được đưa vào nội dung chương trình Ngữ văn lớp 11 Và sau bài học lí thuyết SGK còn bố trí thêm bài luyện tập thao tác lập luận bác bỏ Cách triển khai như vậy là tương đối hợp lí

Trang 37

vừa cung cấp kiến thức lí thuyết, vừa củng cố bằng bài tập thực hành Tuy nhiên đây là vấn đề hoàn toàn mới, khó nên đòi hỏi người học phải tích cực, chủ động Người dạy phải tận tình, có phương pháp phù hợp, tích cực, sáng tạo

Có như vậy thì việc dạy- học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” mới thực sự hiệu quả

Trang 38

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM

Thực nghiệm là sự vận dụng những vấn đề đang nghiên cứu trên phương diện lí thuyết vào thực tế dạy học để đánh giá nội dung dạy học và nhận thức của học sinh Đây là khâu không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu đề tài này Kết quả thực nghiệm tạo cơ sở để khẳng định giả thuyết, từ đó đề xuất những khả năng ứng dụng vào thực tiễn dạy học Làm văn cho học sinh ở THPT

3.1 Mục đích và yêu cầu thực nghiệm

Thực nghiệm đề tài: “Dạy học nội dung thao tác lập luận bác bỏ” trong SGK Ngữ văn 11, chúng tôi hướng tới những mục đích sau:

Thứ nhất: Tìm ra những cơ sở lí thuyết về thao tác lập luận bác bỏ ở các phương diện: khái niệm, đặc điểm, vai trò của thao tác này trong văn bản nghị luận Phân tích cách thức thực hiện thao tác lập luận bác bỏ trong quá trình tạo lập văn bản nghị luận cho học sinh

Thứ hai: Khảo sát thực trạng dạy và học thao tác lập luận bác bỏ ở trường phổ thông Đó là cơ sở để chúng ta có thể tìm ra những xu hướng dạy học thích hợp cho nội dung này

Trong quá trình thực nghiệm, chúng tôi tuân thủ theo những yêu cầu chung của thực nghiệm sư phạm, đồng thời chú ý đến đặc trưng riêng của vấn đề nghiên cứu Qua đó tạo ra sự nhìn nhận và đánh giá vấn đề một cách khách quan trong cách tổ chức nội dung bài dạy và xem xét nhận thức của học sinh về nội dung này

3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm

3.2.1 Đối tượng

Trang 39

Để quá trình thực nghiệm được thuận lợi, đạt được mục đích, yêu cầu đề ra chúng tôi tiến hành thực nghiệm trên các đối tượng sau:

Căn cứ vào nội dung dạy học và tiến trình dạy học theo phân phối chương trình, đối tượng thực nghiệm cho đề tài này là học sinh lớp 11 THPT

Về giáo viên thực nghiệm, chúng tôi trực tiếp giảng dạy, có giáo viên dự giờ

để cùng nghiên cứu nhằm thu thập ý kiến, thông tin về quá trình dạy học nội dung này, từ đó điều chỉnh nội dung tổ chức thực nghiệm sao cho phù hợp

- Thao tác lập luận bác bỏ

- Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ

3.4 Nội dung thực nghiệm

Căn cứ vào thực tế chương trình phổ thông, chúng tôi tiến hành thực nghiệm

ở lớp 11A4 với hai bài: “ Thao tác lập luận bác bỏ” và “ Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ” tại trường Trung học phổ thông Nam Sách- Hải Dương

Để tổ chức dạy học nội dung này, căn cứ vào SGK, chúng tôi thiết kế các giáo án sau:

Trang 40

+ Hiểu được thế nào là lập luận bác bỏ

+ Nắm được vai trò của thao tác lập luận bác bỏ và thao tác lập luận bác

bỏ (cách lập luận) trong quá trình tạo lập văn bản nghị luận

- Về kĩ năng: Nắm được cách thức tiến hành thao tác lập luận bác bỏ trong

bài văn nghị luận

- Về thái độ: Góp phần hình thành thói quen sử dụng thao tác lập luận bác

bỏ để đấu tranh chống lại cái sai, bảo vệ cái đúng trong học tập ở trường

và trong cuộc sống

2 Yêu cầu

- Cung cấp khái niệm lập luận bác bỏ

- Học sinh nhận được các cách bác bỏ và vận dụng khi viết văn

II Phương pháp, phương tiện

1 Phương pháp

- Phương pháp diễn dịch

- Phương pháp qui nạp

- Phương pháp dạy học nêu vấn đề

- Phương pháp thảo luận nhóm

2 Phương tiện

Ngày đăng: 31/10/2015, 09:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo( 2006), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình SGK Ngữ Văn 10 THPT, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình SGK Ngữ Văn 10 THPT
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình SGK Ngữ Văn 11 THPT, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình SGK Ngữ Văn 11 THPT
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
3. Bảo Quyến (2004), Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận
Tác giả: Bảo Quyến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
4. Phan Trọng Luận (cb) (2004), Ngữ Văn 11, tập 2, bộ 2, Ban Khoa học xã hội và nhân văn, SGK thí điểm, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ Văn 11, tập 2, bộ 2
Tác giả: Phan Trọng Luận (cb)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
5. Lê Huy, Ngô Thanh Tùng(2007), Rèn luyện kĩ năng làm văn 11 ( chương trình chuẩn), NXB Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kĩ năng làm văn 11 ( chương trình chuẩn)
Tác giả: Lê Huy, Ngô Thanh Tùng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2007
6. Nguyễn Trí( cb), Giang Khắc Bình, Nguyễn Trọng Hoàn ( biên soạn và giới thiệu) (2005), Văn nghị luận trong chương trình Ngữ Văn trung học cơ sở, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn nghị luận trong chương trình Ngữ Văn trung học cơ sở
Tác giả: Nguyễn Trí, Giang Khắc Bình, Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
7. Nhiều tác giả (2006), Nâng cao kĩ năng làm bài văn nghị luận, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao kĩ năng làm bài văn nghị luận
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
8. Nguyễn Quốc Siêu (1993), Kĩ năng Làm văn nghị luận phổ thông, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng Làm văn nghị luận phổ thông
Tác giả: Nguyễn Quốc Siêu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
9. Trần Đình Sử( tổng chủ biên) (2004), SGK thí điểm ban Khoa học xã hội và nhân văn, bộ 1, tập 2, Ngữ Văn 11, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK thí điểm ban Khoa học xã hội và nhân văn, bộ 1, tập 2, Ngữ Văn 11
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
10. Vương Tất Đạt (1993), Lôgic hình thức, Trường Đại học sư phạm Hà Nội 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lôgic hình thức
Tác giả: Vương Tất Đạt
Năm: 1993
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo ( 2007), SGK Ngữ Văn 11 (tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Ngữ Văn 11 (tập 2)
Nhà XB: NXB Giáo dục
12. Bộ Giáo dục và Đào tạo ( 2007), SGV Ngữ Văn 11 (tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGV Ngữ Văn 11 (tập 2)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm