Nhưng phải tới năm 968, đất nước ta mới hoàn toàn thống nhất dưới sự trị vì của Đinh Tiên Hoàng – Đinh Bộ Lĩnh người đã có công dẹp loạn 12 sứ quân, lập nên nhà nước Đại Cồ Việt lịch sử
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
***********
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
CỐ ĐÔ HOA LƯ TRONG HÀNH TRÌNH TIẾN TỚI ĐẠI LỄ KỶ NIỆM 1000 NĂM HOA LƯ – THĂNG LONG – HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
HÀ NỘI – 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
***********
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
CỐ ĐÔ HOA LƯ TRONG HÀNH TRÌNH TIẾN TỚI ĐẠI LỄ KỶ NIỆM 1000 NĂM HOA LƯ – THĂNG LONG – HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS ĐỖ HUY QUANG
Trang 4
- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình
Đã quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
Hà Nội, tháng 5 năm 2010
Tác giả khóa luận
NguyÔn ThÞ V©n Anh
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là công trình riêng của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đỗ Huy Quang, không sao chép, trùng lặp với bất kì công trình, tài liệu hay tác giả nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2010
Người cam đoan
Nguyễn Thị Vân Anh
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài ……… 1
2 Lịch sử vấn đề……… ……… ….3
3 Mục đích nghiên cứu……… ……….……….…….4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu……… ……….5
5 Đối tượng nghiên cứu……… ……….5
6 Phạm vi nghiên cứu……… ………5
7 Phương pháp nghiên cứu……… 6
8 Đóng góp của đề tài……… ………6
9 Bố cục khóa luận……… ………6
Chương 1: HOA LƯ TRỞ THÀNH KINH ĐÔ CỦA NHÀ NƯỚC ĐẠI CỒ VIỆT 1.1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam thế kỷ X 7
1.2 Vài nét về vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành……… 11
1.2.1 Đinh Tiên Hoàng - Đinh Bộ Lĩnh 11
1.2.2 Lê Đại Hành – Lê Hoàn 15
1.3 Hoa Lư trở thành kinh đô của nhà nước Đại Cồ Việt 19
Chương 2: KINH ĐÔ HOA LƯ DƯỚI THỜI ĐINH – TIỀN LÊ 2.1 Kinh đô Hoa Lư dưới thời nhà Đinh 24
2.1.1 Thành trì 24
2.1.1.1 Tổng thể 25
` 2.1.1.2 Kỹ thuật xây thành 26
2.1.2 Cung điện 30
2.1.3 Chính trị - quân sự 31
Trang 72.2 Kinh đô Hoa Lư dưới thời nhà Tiền Lê 36
2.2.1 Cung điện 36
2.2.2 Kiến trúc tôn giáo 39
2.2.3 Chính trị - quân sự 41
2.2.4 Kinh tế - văn hóa 45
Chương 3: CỐ ĐÔ HOA LƯ 3.1 Các di tích lịch sử, văn hóa tiêu biểu 49
3.1.1 Đền vua Đinh Tiên Hoàng 49
3.1.2 Đền vua Lê Đại Hành 54
3.1.3 Chùa Nhất Trụ 59
3.1.4 Chùa Bích Động 60
3.1.5 Đền Thái Vi 61
3.2 Lễ hội tiêu biểu – hội Trường Yên 62
3.3 Cảnh quan thiên nhiên 63
3.3.1 Núi Mã Yên 64
3.3.2 Động Am Tiên 65
3.3.3 Xuyên Thủy động và Liên Hoa động 66
Chương 4: CỐ ĐÔ HOA LƯ HƯỚNG TỚI ĐẠI LỄ KỶ NIỆM 1000 NĂM HOA LƯ – THĂNG LONG – HÀ NỘI 4.1 Giá trị văn hóa và tiềm năng phát triển của cố đô Hoa Lư 68
4.1.1 Giá trị văn hóa 68
4.1.2 Tiềm năng phát triển du lịch 70
4.2 Những định hướng và kế hoạch trước mắt và lâu dài……… 71
4.2.1 Những dự án và kế hoạch trước mắt……… 72
4.2.2 Những định hướng và giải pháp phát triển lâu dài………… …75
KẾT LUẬN
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trong tiến trình chung của lịch sử nhân loại, mỗi một quốc gia, một dân tộc, một cộng đồng người đều có một lịch sử hình thành, phát triển, một nền văn minh, văn hoá riêng, đặc trưng và là niềm tự hào của dân tộc ấy Niềm tự hào thiêng liêng
và chính đáng của dân tộc ta là nền văn minh sông Hồng rực rỡ cùng với thiên anh hùng ca bốn nghìn năm lịch sử bất hủ Trong quá trình ấy, nhân dân ta đã viết nên những trang sử vô cùng oanh liệt, hun đúc nên những truyền thống vẻ vang, để lại rất nhiều kinh nghiệm và bài học quý báu Các di sản văn hóa mà trong đó hình ảnh các kinh đô – nơi thể hiện vương quyền của một quốc gia độc lập tự chủ, là nơi dẫn chứng hùng hồn cho hiện thực lịch sử sinh động này
Kinh đô Hoa Lư là kinh đô đầu tiên đánh dấu sự ra đời của nền độc lập tự chủ ở Việt Nam Một mốc son sáng trong lịch sử của dân tộc ta mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước Là dấu chấm hết cho cả một thời kì dài gần 10 thế kỷ lầm than cơ cực dưới ách đô hộ của phong kiến phương Bắc
Từ sau thời kỳ Hùng - Thục, người Việt bị kẻ thù phương Bắc xâm lược và cai trị hơn 1000 năm Suốt thời gian đó, đã có rất nhiều cuộc nổi dậy của nhân dân
ta, nhưng đều bị đàn áp và dập tắt Mãi cho tới thế kỷ X, năm 938 bằng chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng, nhân dân ta mới giành được chủ quyền của mình Nhưng phải tới năm 968, đất nước ta mới hoàn toàn thống nhất dưới sự trị vì của Đinh Tiên Hoàng – Đinh Bộ Lĩnh người đã có công dẹp loạn 12 sứ quân, lập nên nhà nước Đại Cồ Việt lịch sử - một nhà nước phong kiến quân chủ trung ương tập quyền độc lập, tự chủ, thống nhất đầu tiên ở Việt Nam Và Hoa Lư chính là kinh
đô, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của cả nước, đồng thời cũng
là hình ảnh thu nhỏ của nhà nước Đại Cồ Việt thời kì này
Trang 9Xét về mặt lịch sử, kinh đô Hoa Lư nằm trong một không gian, thời gian mang tính bản lề quá độ, quan trọng: Hoa Lư tồn tại vào cuối thế kỷ thứ X và 10 năm đầu của thế kỷ XI – là thế kỷ phân cách giữa hai thời đại: thời đại một nghìn năm Bắc thuộc và thời đại độc lập tự chủ; giữa một thời đại bị Hán hóa và một thời đại phục hưng rồi phát triển lên văn hóa Đại Việt Đã vậy, kinh đô Hoa Lư chấm dứt vai trò trung tâm đất nước không phải vì thiên tai, địch họa, cũng không phải vì loạn đảng, lật đổ… mà vì yêu cầu thực tiễn khi đất nước đã đánh tan thù trong giặc ngoài, cần có một kinh đô mới to lớn hơn, phồn thịnh hơn xứng tầm với một quốc gia độc lập tự chủ thống nhất, có đủ điều kiện xây dựng, phát triển đất nước trong các giai đoạn sau Chúng ta có thể tin rằng kinh đô cũ bị chôn vùi dưới lòng đất hi vọng có ngày được khai quật Chính vì thế việc tìm hiểu về kinh đô Hoa Lư dưới hai vương triều Đinh – Lê đã trở thành niềm say mê của biết bao nhiêu người có tâm huyết với lịch sử và văn hóa nước nhà
Nghiên cứu, tìm hiểu kinh đô Hoa Lư bao giờ cũng cần thiết, bây giờ lại càng cần thiết hơn khi mà chúng ta đang bước gần đến đại lễ kỷ niệm một ngàn năm Hoa Lư – Thăng Long – Hà Nội Đây là việc quan trọng và ý nghĩa không chỉ với Ninh Binh mà còn đối với cả nước Vấn đề này không chỉ cần thiết đối với các nhà nghiên cứu lịch sử, các nhà nghiên cứu khoa học mà còn để góp phần giáo dục thế
hệ trẻ có thêm hiểu biết về cội nguồn dân tộc và tự hào hơn về lịch sử nước nhà
Nhận thức được giá trị khoa học cũng như giá trị thực tiễn của kinh đô Hoa
Lư đối với truyền thống lịch sử - văn hóa dân tộc, lại là một người con sinh ra trên quê hương Ninh Bình, mảnh đất Cố đô địa linh nhân kiệt, tuổi thơ tôi đã được biết đến những “câu ca tập trận”, những “hội diễn cờ lau” Khi lớn lên trở thành một sinh viên ngành Việt Nam học, được đi sâu tìm hiểu đất nước, văn hóa, con người Việt Nam một cách hệ thống và khoa học Thì tìm hiểu về Hoa Lư một kinh đô lịch
sử không chỉ là nhiệm vụ mà còn là sở thích, niềm đam mê của tôi Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài “Cố đô Hoa Lư trong hành trình tiến tới đại lễ kỷ niệm 1000 năm Hoa Lư – Thăng Long – Hà Nội”
Trang 102 Lịch sử vấn đề
Từ khi kinh đô Hoa Lư ra đời cho tới nay, có thể nói dài suốt thời gian ngàn năm đó, thời nào cũng có các sử gia, các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu và ghi chép, khảo cứu và mô tả về nó Các tài liệu ấy bao gồm: cả tài liệu trong nước và ngoài nước, cả tài liệu viết bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ Nguồn tài liệu này khá phong phú, nhưng hầu như chưa có một tác phẩm, một công trình tầm cỡ nào chuyên khảo cứu về kinh đô thế kỷ X này
Thời Trần một tác giả khuyết danh đã viết “Đại Việt sử lược” là cuốn sử xưa
nhất về Hoa Lư
Thời Lê: Nguyễn Trãi viết “Dư địa chí”; Ngô Sỹ Liên viết “Đại Việt sử ký
toàn thư”
Sang thời Nguyễn, các bộ sử, đặc biệt là các thể loại chí đua nhau ra đời và
đề cập ít nhiều đến kinh đô Hoa Lư trong đó quan trọng nhất là “Cương mục”,
“Đại Nam nhất thống chí”, “ Ninh Bình phong vật quý”, “Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo biên”
Đó là những ghi chép khảo tả, chú giải về kinh đô Hoa Lư thế kỷ X trong các
bộ sử của nước nhà từ thời Nguyễn trở về trước Riêng tài liệu nước ngoài, đáng chú ý là lời tâu của sứ giả Tống Cảo – nhà Tống và bài nghiên cứu của học giả Pháp G.Đuy – mu – chi – e
Từ năm 1945 đến nay, một loạt các bài nghiên cứu về hai vương triều Đinh –
Lê và kinh đô Hoa Lư được đăng tải rải rác trên các báo, tạp chí, hoặc in thành sách
Đi tiên phong giai đoạn này là các nhà sử học, khảo cổ học, bảo tàng học đặc biệt là bảo tàng Hà Nam Ninh Có thể kể tới một số tài liệu như:
Bài “Thành Hoa Lư và những di tích mới phát hiện” – Phạm Văn Kỉnh,
Trang 11Bài “Vài nét về kinh đô Hoa Lư” – Trần Đăng Ngọc
Cuốn “Kinh đô cũ Hoa Lư” – Nguyễn Thế Giang
Cuốn “Kinh đô Hoa Lư dưới thời Đinh – Tiền Lê” – Đặng Công Nga
Bên cạnh đó không thể không kể tới các tài liệu khảo cổ học, các kết quả khai quật, báo cáo khảo cổ của bảo tàng Hà Nam Ninh, bảo tàng lịch sử Việt Nam
Tuy nhiên cũng cần thấy rằng nguồn sử liệu thành văn quả là ít ỏi, có lúc còn mang yếu tố truyền thuyết, dân gian thiếu tính chính xác và những gì có thì nhiều người đã biết, đã viết Về tư liệu khảo cổ học – nguồn tư liệu chính thì phát hiện lẻ
tẻ, tảm mạn và quá ít so với tầm cỡ một đô thành Như giáo sư Viện trưởng Viện
khảo cổ học Viêt Nam đã nêu: “Công cuộc khảo cổ ở Hoa Lư cũng mới chỉ bắt
đầu, còn lâu chúng ta mới có đủ tài liệu khảo cổ để nhận thức được đầy đủ hình ảnh Hoa Lư thế kỷ X” Kinh đô Hoa Lư cũng được ghi chép trong một số trang
sách của người nước ngoài nhưng vô cùng ít ỏi, như tác giả G.Đuy – mu – chi – e Hơn nữa, nguồn tư liệu này cũng được nhiều người biết đến, nghiên cứu và khai thác Mong chờ những phát hiện lớn trong tương lai cũng không nhiều vì bản thân kinh đô này tồn tại quá ngắn (42 năm) nhưng đã kết thúc vai trò một đô thành đã quá lâu, hơn 1000 năm Do đó, trên cơ sở kế thừa thành quả của các sử gia đi trước, tôi có điều kiện để tổng hợp phân tích các nguồn tài liệu liên quan tới đề tài đã chọn
để làm sáng rõ những vấn đề nêu ra trong khóa luận Từ đó có được cái nhìn đầy đủ hơn về kinh đô Hoa Lư và hai vương triều Đinh, Tiền Lê Nhưng do điều kiện thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu có hạn, bài khóa luận không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu xót rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và các bạn
3 Mục đích nghiên cứu
- Tái hiện và làm sống dậy hình ảnh Kinh đô Hoa Lư trong lịch sử dưới thời Đinh – Lê với tầm vóc và vai trò của nó để thấy được ý nghĩa lịch sử và giá trị văn
Trang 12hóa của Cố đô ngày nay trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Từ đó đề xuất những kiến nghị và giải pháp nhằm bảo vệ, duy trì và phát huy nền văn hóa dân tộc nói chung, văn hóa Cố đô nói riêng Bên cạnh mục đích tuyên truyền, giáo dục truyền thống dựng nước và giữ nước, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc và chào mừng các ngày lễ lớn, hội lớn còn góp phần bảo tồn, phát huy giá trị lịch sử, văn hóa của dân tộc; quảng bá hình ảnh Ninh Bình tới du khách trong và ngoài nước
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu lí do Hoa Lư trở thành kinh đô của nước Đại Cồ Việt thế kỷ X
- Thu thập tài liệu, chứng cứ để phục dựng lại hình ảnh Kinh đô Hoa Lư trong ở các mặt: Thành trì, cung điện, kiến trúc, chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa
- Khắc họa hình ảnh Cố đô Hoa Lư hiện tại trong hành trình tiến tới đại lễ kỷ niệm 1000 năm Hoa Lư – Thăng Long – Hà Nội với các di tích lịch sử văn hóa, các danh thắng và các hình thức sinh hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống
- Đề xuất những phương hướng, kế hoạch và giải pháp phát triển văn hóa, kinh tế trước mắt và lâu dài ở Cố đô Hoa Lư
5 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài khóa luận là: “Kinh đô Hoa Lư trong sách sử,
trong khảo cổ và hiện trạng”
6 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận chỉ tiến hành nghiên cứu hiện trạng, tình hình cố đô Hoa Lư trong những năm gần đây trong phạm vi cụm di tích văn hóa lịch sử cố đô Hoa Lư đã
Trang 137 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, thư viện
- Phương pháp điền dã, thực nghiệm
- Phương pháp đối chiếu so sánh, logic
8 Đóng góp của đề tài
- Bổ sung thêm nguồn tài liệu nghiên cứu về Cố đô Hoa Lư
- Góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về lịch sử, văn hóa truyền thống, giáo dục tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ
- Đồng thời góp phần giới thiệu và quảng bá hình ảnh của Cố đô Hoa Lư nói riêng và mảnh đất Ninh Bình nói chung tới du khách trong và ngoài nước
9 Bố cục khóa luận
Ngoài các danh mục như: Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, bố cục bài khóa luận bao gồm 4 phần cơ bản tương ứng với 4 chương như sau:
Chương 1: Hoa Lư trở thành kinh đô của nhà nước Đại Cồ Việt
Chương 2: Kinh đô Hoa Lư dưới thời Đinh – Tiền Lê
Chương 3: Cố đô Hoa Lư
Chương 4: Cố đô Hoa Lư hướng tới đại lễ kỷ niệm 1000 năm Hoa Lư -Thăng Long – Hà Nội
Trang 14Chương 1: HOA LƯ TRỞ THÀNH KINH ĐÔ CỦA
NHÀ NƯỚC ĐẠI CỒ VIỆT
1.1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam thế kỷ X
Thế kỷ X là một giai đoạn lịch sử đầy biến động, được coi là bản lề, ngăn cách hai thời kỳ: thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc và thời kỳ độc lập tự chủ, giữa thời đại bị Hán hóa và thời đại phục hưng rồi phát triển về sau
Mở đầu là sự kiện Khúc Thừa Dụ lãnh đạo dân chúng nổi dậy giành chính quyền tự chủ từ tay bọn đô hộ phong kiến phương Bắc (năm 905) giành thắng lợi, đặt nền móng cho kỷ nguyên độc lập tự chủ Năm 907 Khúc Thừa Dụ chết, Khúc Thừa Mỹ thay cha nắm quyền Năm 931 Khúc Thừa Mĩ bị giặc bắt đưa về Quảng Châu, quân Nam Hán chiếm thành Đại La rồi tiến quân xuống phía Nam cướp phá Dương Đình Nghệ từ Ái Châu tiến ra đánh đuổi quân giặc, xưng là Tiết Độ sứ, tiếp nối sự nghiệp của họ Khúc
Năm 937 Dương Đình Nghệ bị nha tướng của mình là Kiều Công Tiễn giết hại Được tin đó Ngô Quyền từ Ái Châu cất quân ra đánh tên phản đồ Kiều Công Tiễn Cùng đường tên này phải cầu cứu quân Nam Hán, tạo cơ hội cho chúng quay trở lại xâm lược nước ta
Năm 938 Ngô Quyền giết chết Kiều Công Tiễn, đánh tan quân Nam Hán bảo
vệ quyền tự chủ vừa mới giành được, xưng vương, định đô ở Loa Thành (Cổ Loa)
và xây dựng nhà nước độc lập, tỏ ý tiếp nối nước Âu Lạc xưa
Ngô Quyền ở ngôi đến năm 944 thì mất Anh/em vợ của Ngô Quyền là Dương Tam Kha cướp ngôi, xưng là Dương Bình Vương Các nơi không chịu thuần phục, nhiều thủ lĩnh nổi lên cát cứ một vùng thường đem quân đánh chiếm lẫn nhau
Trang 15giành lại ngôi vua Sau đó Ngô Xương Văn đón anh trai là Ngô Xương Ngập về cùng làm vua Đến năm 954, Ngô Xương Ngập bị bệnh mất
Năm 965, Ngô Xương Văn đi đánh thôn Đường và Nguyễn ở Thái Bình bị phục binh bắn chết Con của Ngô Xương Ngập là Ngô Xương Xí nối nghiệp, quá suy yếu phải về đóng giữ đất Bình Kiều Từ năm 966, hình thành 12 sứ quân, sử gọi
là loạn 12 sứ quân:
1 Ngô Xương Xí giữ Bình Kiều (Triệu Sơn - Thanh Hóa)
2 Đỗ Cảnh Thạc tự xưng là Đỗ Cảnh Công, giữ Đỗ Động Giang (Thanh Oai,
7 Lý Khuê tự xưng là Lý Lãng, giữ Siêu Loại (Thuận Thành, Bắc Ninh)
8 Nguyễn Thủ Tiệp tự xưng là Nguyễn Lệnh Công, giữ Tiên Du (Bắc Ninh)
9 Lã Đường tự xưng là Lã Tá Công, giữ Tế Giang (Văn Giang, Hưng Yên)
10 Nguyễn Siêu tự xưng là Nguyễn Hữu Công, giữ Tây Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Nội)
11 Kiều Thuận tự xưng là Kiều Lệnh Công, giữ Hồi Hồ - Cẩm Khê (Phú Thọ)
12 Phạm Bạch Hổ tự xưng là Phạm Phòng Át, giữ Đằng Châu (Hưng Yên) Ngoài ra còn một số thế lực khác như Ngô Xử Bình, Dương Huy và đặc biệt
là Đinh Bộ Lĩnh mà sử cũ không chép vào hàng các sứ quân, ngay từ những năm
950 thanh thế đã nổi, khiến cho Nam Tấn Vương lo sợ, đem quân tiến đánh Nhưng
Trang 16nhờ sức chiến đấu quyết liệt và sự ủng hộ của nhân dân, Đinh Bộ Lĩnh đã buộc Nam Tấn Vương phải rút lui
Nhà Ngô đổ, tình hình đất nước rối loạn, Đinh Bộ Lĩnh quyết định tiến công đánh các sứ quân Để tăng thêm lực lượng, ông đã liên kết với sứ quân Trần Lãm, sau đó chiêu dụ sứ quân Phạm Tòng Át, rồi tiến ra Giao Châu Các sứ quân lần lượt
bị đánh bại hoặc xin hàng Đến cuối năm 967, đất nước trở lại yên bình, thống nhất Năm 968 Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, niên hiệu Thái Bình Một quốc gia độc lập, có quốc hiệu, có nhà nước riêng do hoàng đế đứng đầu được xác lập
Năm 978, Đinh Tiên Hoàng bỏ con trưởng, lập con thứ là Hạng Lang làm thái tử Đinh Liễn là con trưởng lại có công lớn trong sự nghiệp thống nhất đất nước, đã không chấp nhận điều này, cho người ngầm giết hại Hạng Lang
Năm 979, nhân một bữa tiệc rượu trong cung, cả hai cha con Đinh Bộ Lĩnh
và Đinh Liễn đều bị một viên quan hầu tên là Đỗ Thích ám sát Đỗ Thích bị bắt giết Triều thần đưa Vệ vương Đinh Đế Toàn mới 6 tuổi lên ngôi, Thập đạo tướng quân
Lê Hoàn được cử làm phụ chính Và nghi ngờ Lê Hoàn có ý định cướp ngôi, các trung thần của nhà Đinh: Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp đã đưa quân về kinh định giết ông Kết quả cả 3 đều bị giết chết [8;157]
Nhà Tống nhân cơ hội đó ráo riết điều quân chuẩn bị sang xâm lược nước ta Trước tình thế nguy nan thái hậu Dương Vân Nga và triều thần đã trao áo lông cổn tôn Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi, nhà Tiền Lê được thành lập
Lê Hoàn đã cùng các tướng lĩnh huy động quân sĩ cùng nhân dân khẩn trương chuẩn bị chống giặc Theo kế của Ngô Quyền, ông sai đóng cọc nhọn ở cửa sông Bạch Đằng, ngăn thủy quân của giặc, đặt một số đồn quân biên giới Đông Bắc
Trang 17cự quyết liệt, không lâu sau bị đánh tan buộc phải rút quân về nước Một lần nữa nhân dân ta bằng sức chiến đấu anh dũng của mình đã khẳng định quyền làm chủ đất nước, bảo vệ vững chắc thành quả đấu tranh và xây dựng của tổ tiên mình [14;117]
Cũng trong năm 979 vua Chămpa nghe lời xúi giục của Ngô Nhật Khánh (phò mã của nhà Đinh) đã cho thủy quân tiến ra, định xâm lấn vùng Nam Đại Cồ Việt Nhưng thuyền bị bão đánh đắm, buộc phải chạy về nước Năm 982, sau khi đánh bại quân Tống, Lê Hoàn quyết định đem quân đánh Chămpa, tiến thẳng đến kinh đô phá hủy thành trì rồi rút về [14;117]
Năm 1005 Lê Hoàn chết, Long Việt lên nối ngôi được 3 ngày thì Long Đĩnh cướp ngôi Xảy ra cuộc chiến giữa các hoàng tử và Long Đĩnh kéo dài xuốt 8 tháng Cuối cùng Lê Long Đĩnh giành phần thắng, lên ngôi vua, nhưng lại xoay sang ăn chơi trụy lạc, không lâu sau thì chết do trọng bệnh Một lần nữa triều thần lại phải chọn người kế vị
Tháng 11 năm 1009, Lê Ngọa Triều chết, được sự ủng hộ của các nhà sư và theo lời sấm ký, chi hậu Đào Cam Mộc cầm đầu một số triều thần đưa Tả thần vệ điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn lên làm vua, mở đầu triều đại nhà Lý Năm 1010
Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La, khép lại một thế kỷ đầy biến động, kinh đô Hoa Lư trở thành Cố đô
Có thể nói “Thế kỷ X, mở đầu thời kỳ độc lập dân tộc, nói đúng hơn là thế
kỷ xây dựng quốc gia Việt Nam – một quốc gia dân tộc và thống nhất” [18;13]
Lịch sử dân tộc sáng lên một mốc son mới, rực rỡ huy hoàng, xua tan mây đen, đẩy lùi bóng tối gần 1000 năm Bắc thuộc, đón chào ánh nắng của buổi bình minh phong kiến độc lập, tự chủ
Trang 181.2 Vài nét về vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành
1.2.1 Đinh Tiên Hoàng – Đinh Bộ Lĩnh:
Đinh Tiên Hoàng (丁先皇), húy là Đinh Bộ Lĩnh (丁部領), là vị vua sáng lập triều đại nhà Đinh, nước Đại Cồ Việt trong lịch sử Việt Nam Ông là người có công đánh dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn và trở thành hoàng đế đầu tiên của Việt Nam sau 1000 năm Bắc thuộc Đại Cồ Việt là nhà nước mở đầu cho thời đại độc lập, tự chủ, xây dựng chế độ quân chủ tập quyền ở Việt Nam
Đinh Bộ Lĩnh sinh ngày Rằm tháng Hai, năm Giáp Thân (924) ở thôn Kim
Lư, làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng (nay thuộc xã Gia Phương, Gia Viễn, Ninh Bình) Cha của ông là Đinh Công Trứ, nha tướng của Dương Đình Nghệ, giữ chức thứ sử Hoan Châu Đinh Công Trứ mất sớm, Bộ Lĩnh theo mẹ về quê ở, nương nhờ người chú ruột là Đinh Thúc Dự Từ bé Đinh Bộ Lĩnh đã tỏ ra là người có khả năng chỉ huy, ông cùng các bạn chăn trâu lấy bông lau làm cờ bày trận đánh nhau Và trong đám bạn đó, có Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lưu Cơ và Trịnh Tú, những người sau này cùng Đinh Bộ Lĩnh tạo nên sự nghiệp
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép:
“Vua mồ côi cha từ bé, mẹ họ Đàm đưa gia thuộc vào ở cạnh đền sơn thần
trong động Vào tuổi nhi đồng, vua thường cùng bọn trẻ con chăn trâu ngoài đồng Bọn trẻ tự biết kiến thức không bằng vua, cùng nhau suy tôn làm trưởng Phàm khi chơi đùa, thường bắt bọn chúng chéo tay làm kiệu khiêng và cầm hoa lau đi hai bên
để rước như nghi trượng thiên tử Ngày rỗi, thường kéo nhau đi đánh trẻ con thôn khác, đến đâu bọn trẻ đều sợ phục, hàng ngày rủ nhau đến phục dịch kiếm củi thổi cơm Bà mẹ thấy vậy mừng lắm, mổ lợn nhà cho chúng ăn Phụ lão các sách bảo nhau: "Đứa bé này khí lượng như thế ắt làm nên sự nghiệp, bọn ta nếu không theo
Trang 19tuổi, thế quân chưa mạnh, phải thua chạy Khi qua cầu ở Đàm Gia Nương Loan, cầu gãy, vua rơi xuống bùn, người chú toan đâm, bỗng thấy hai con rồng vàng hộ
vệ vua, nên sợ mà lui Vua thu nhặt quân còn sót, quay lại đánh, người chú phải hàng Từ đấy ai cũng sợ phục, phàm đi đánh đến đâu đều dễ như chẻ tre, gọi là Vạn Thắng Vương.”
Năm 944 Ngô Quyền mất, đất nước dần rơi vào loạn lạc, nhất là từ năm 965 khi hậu duệ của nhà Ngô không còn, thì nổi lên loạn 12 sứ quân cát cứ
Đinh Bộ Lĩnh cũng tập hợp dân chúng ở vùng Hoa Lư Sau đó, ông cùng con trai là Đinh Liễn sang đầu quân trong đạo binh của sứ quân Trần Minh Công tức Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu (Thái Bình) Đinh Bộ Lĩnh cưới Trần Nương và trở thành con rể của Trần Minh Công Sau khi Trần Minh Công mất, Đinh Bộ Lĩnh thay quyền, đưa quân về Hoa Lư, chiêu mộ binh lính, chống nhà Ngô và các sứ quân khác Chỉ trong vài năm, Đinh Bộ Lĩnh lần lượt đánh thắng 11 sứ quân khác, được xưng tụng là Vạn Thắng Vương Thắng lợi của Đinh Bộ Lĩnh là thắng lợi của xu hướng thống nhất quốc gia, của tinh thần dân tộc và ý chí độc lập trong nhân dân
Năm Mậu Thìn 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là Đại Thắng
Minh Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư [8;154] “Đinh
Tiên Hoàng cho xây cung điện, chế triều nghi, định phẩm hàm quan văn, quan võ Vua phong cho Nguyễn Bặc là Định Quốc công, Đinh Điền là Ngoại giáp, Lê Hoàn làm Thập đạo tướng quân, Lưu Cơ làm Đô hộ phủ sĩ sư, Tăng thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt đại sư, Trương Ma Ni làm Tăng lục, Đạo sĩ Đặng Huyền Quang được làm Sùng chân uy nghi và phong cho con là Đinh Liễn là Nam Việt vương Vua lập 5 hoàng hậu là Đan Gia, Trinh Minh, Kiều Quốc, Cồ Quốc và
Ca Ông” [8;155]
Từ năm Canh Ngọ 970, bắt đầu đặt hiệu năm là Thái Bình Đinh Tiên Hoàng truyền cho đúc tiền đồng, là tiền tệ xưa nhất ở Việt Nam, gọi là tiền đồng Thái Bình Hưng Bảo Nhà Đinh cũng là triều đại đầu tiên đặt nền móng cho nền tài chính -
Trang 20tiền tệ của Nhà nước phong kiến Việt Nam Đồng tiền Thái Bình được đúc bằng đồng, hình tròn, lỗ vuông, có thể xâu thành chuỗi Mặt phải có đúc bốn chữ "Thái Bình Hưng Bảo", mặt sau có chữ "Đinh" Hầu hết gần 70 triều vua sau đó, triều nào cũng cho đúc tiền của mình bằng đồng
Về chính trị trong nước có phần quá thiên về sử dụng hình phạt nghiêm khắc Vua muốn dùng uy chế ngự thiên hạ, bèn đặt vạc lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ trong
cũi, hạ lệnh rằng: "Kẻ nào trái phép phải chịu tội bỏ vạc dầu, cho hổ ăn" Mọi
người đều sợ phục không ai dám phạm
Về ngoại giao, để tránh cuộc đụng độ, năm Nhâm Thân 972, Đinh Tiên Hoàng sai con là Đinh Liễn sang cống nhà Tống - Trung Quốc Vua nhà Tống sai
sứ sang phong cho Tiên Hoàng làm Giao Chỉ quận vương và phong cho Nam Việt vương Đinh Liễn làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ An Nam đô hộ Từ đó Đại Cồ Việt giữ lệ sang triều cống phương Bắc [7;109] Từ năm Thái Bình thứ 7 thuyền buôn của các nước ngoài đến dâng sản vật của nước họ kết mối giao thương
Về quân sự, Đinh Tiên Hoàng phân ra đạo, quân, lữ, tốt, ngũ “Định ngạch
quân 10 đạo, mỗi đạo có 10 quân, 1 quân 10 lữ, 1 lữ 10 tốt, 1 tốt 10 ngũ, 1 ngũ 10 người” [3;56] Như vậy quân đội nhà Đinh khi đó có 10 đạo, là khoảng 1 triệu
người trong khi dân số đất nước khoảng 3 triệu Vua thực hiện “ngụ binh ư nông”,
đó là hình thức vũ trang toàn dân, dựa vào nghề nông mà phát triển quân đội
Nhà sử học Lê Văn Hưu nhận xét:
"Tiên Hoàng nhờ có tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất
đời, đương lúc nước Việt ta không có chủ, các hùng trưởng cát cứ, một phen cất quân mà mười hai sứ phục hết Vua mở nước dựng đô, đổi xưng Hoàng Đế, đặt trăm quan, lập sáu quân, chế độ gần đầy đủ, có lẽ ý Trời vì nước Việt ta mà sinh bậc thánh triết " [8;155]
Trang 21Nhà sử học Ngô Sĩ Liên nhận xét:
"Vận trời đất, bí rồi ắt thái, Bắc Nam đều cùng một lẽ ấy Thời Ngũ đại bên
Bắc triều Trung Quốc suy loạn rồi Tống Thái Tổ nổi lên Ở Nam triều nước ta, 12
sứ quân phân chia quấy nhiễu, rồi Đinh Tiên Hoàng nổi lên Không phải là ngẫu nhiên mà do vận trời vậy."
“Lịch triều hiến chương loại chí “ (Phan Huy Chú) nhận xét:
"Xét nước ta từ thời Hùng Vương mới bắt đầu thông hiếu với Trung Quốc
nhưng danh hiệu còn nhỏ không được dự vào hàng chư hầu triều hội đến khi Đinh Tiên Hoàng bình định các sứ quân, khôi phục mở mang bờ cõi, bấy giờ điển lễ, sách phong của Trung Quốc mới cho đứng riêng là một nước"
Đại Việt sử ký toàn thư nhận xét:
"Vua tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời, quét sạch
các hùng trưởng song không biết dự phòng, không giữ được trọn đời, tiếc thay! "
Đinh Tiên Hoàng có con trưởng là Đinh Liễn lại là người có công lớn trong
sự nghiệp dẹp loạn 12 sứ quân thống nhất nước nhà, nhưng ông lại lập con út Hạng Lang làm Thái tử Vì vậy đầu năm 979 Đinh Liễn tức giận sai người giết Hạng Lang Theo chính sử, năm Kỷ Mão 979, một viên quan là Đỗ Thích, mơ thấy sao rơi vào miệng, tưởng là điềm báo được làm vua nên đã giết chết cả Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn Đinh Tiên Hoàng làm vua được 12 năm, thọ 56 tuổi Ông được táng ở Sơn Lăng – núi Mã Yên - Trường Yên
Các đền thờ Đinh Bộ Lĩnh có thể thấy ở nhiều vùng miền khác nhau như:
- Ninh Bình có 12 nơi thờ, trong đó có đền vua Đinh Tiên Hoàng ở khu di tích Hoa Lư, đền thờ Đinh Bộ Lĩnh ở xã Gia Phương, đền Thung Lau ở động Hoa
Lư, Gia Viễn; đền Mỹ Hạ xã Gia Thủy - Nho Quan
Trang 22- Nam Định có đền vua Đinh ở xã Yên Thắng, đình Thượng Đồng ở xã Yên Tiến, Ý Yên; ở làng việt cổ Bách Cốc, Vụ Bản; đền vua Đinh ở Giao Thủy…
- Hà Nam có đền Lăng ở Thanh Liêm; đền Đặng Xá ở Văn Xá - Kim Bảng; đền Ung Liêm ở Phủ Lý
- Xa hơn là Đà Nẵng có đền thờ vua Đinh ở xã Hoà Khương, Hoà Vang; Lạng Sơn có đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng ở thôn Quảng Trung xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn; Thanh Hóa có đền Vua Đinh ở làng Quan Thành - Triệu Sơn……
1.2.2 Lê Đại Hành – Lê Hoàn
Lê Đại Hành (chữ Hán: 黎大行; tên húy là Lê Hoàn (黎桓), 941 – 1005) là
vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê, trị vì từ 980 đến 1005 Trong lịch sử Việt Nam, Lê Hoàn không chỉ là một vị hoàng đế có những đóng góp lớn trong chống quân Tống phương Bắc, quân Chiêm phương Nam, giữ gìn và củng cố nền độc lập dân tộc mà còn có nhiều công lao trong sự nghiệp ngoại giao, xây dựng và kiến tạo đất nước Đại Cồ Việt Lê Hoàn cũng là người tạo tiền đề, điều kiện để thời gian sau đó Lý Công Uẩn có đủ khả năng dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long năm 1010, mở ra một
kỷ nguyên phát triển lâu dài của văn hóa Thăng Long - Hà Nội, thủ đô hiện tại của Việt Nam Xung quanh vị Hoàng đế này còn nhiều điều chưa được sáng tỏ như vấn
đề thân thế, sự nghiệp, và thụy hiệu
Về quê hương Lê Hoàn, vấn đề mà Ngô Thì Sĩ đặt ra từ thế kỷ 18, được thảo luận nhiều lần dưới thời nhà Nguyễn cho đến nay các nhà sử học vẫn chưa đưa ra được kết luận nơi đâu trong ba nơi: Ninh Bình, Thanh Hoá hay Hà Nam là quê hương của ông Năm 1981, tại hội thảo khoa học “Lê Hoàn và 1000 năm chiến thắng giặc Tống xâm lược”, nhiều vấn đề chung về thế kỷ X, về quê hương, thân
Trang 23đề khúc mắc về quê quán, xuất thân của Lê Hoàn Thần tích cho biết ông sinh ra ở
xã Trường Yên, Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình Ông nội là Lê Lộc và bà nội là Cao Thị Phương; cha là Lê Hiền, mẹ là Đặng Thị Khiết Nhà nghèo nên đã về xã Ninh Thái, Thanh Liêm, Hà Nam làm nghề chài lưới, đơm đó bắt cá Ngày mùng 10 tháng Giêng năm Nhâm Tuất (941) sinh ra ông Năm lên 7 tuổi, ông mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải làm con nuôi quan án châu Ái (Thanh Hoá) Các nhà sử học cho rằng vấn đề quê hương Lê Hoàn còn phải tiếp tục nghiên cứu Điều dễ nhận thấy là cả Ninh Bình, Thanh Hóa và Hà Nam đều gắn bó mật thiết với cuộc đời và sự nghiệp của vị vua này
Cha mẹ qua đời sớm, Lê Hoàn được một vị quan là Lê Đột nhận về nuôi Lớn lên ông đi theo Nam Việt Vương Đinh Liễn và đã lập được nhiều chiến công, Đinh Bộ Lĩnh giao cho ông chỉ huy 2.000 binh sĩ Đến năm 968, Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp xong loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước, lập nên nhà Đinh Lê Hoàn có công lao trong cuộc đánh dẹp và được giao chức vụ Thập đạo tướng quân (tướng chỉ huy mười đạo quân), Điện tiền đô chỉ huy sứ - tức chức vụ tổng chỉ huy quân đội cả nước Đại Cồ Việt, trực tiếp chỉ huy đội quân cấm vệ của triều đình Hoa Lư Lúc đó ông mới 27 tuổi
Tháng 10 năm 979, cha con Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị sát hại, Vệ vương Đinh Toàn mới 6 tuổi lên ngôi vua Lê Hoàn trở thành Nhiếp chính, tự do ra vào cung cấm Các đại thần thân cận của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ cùng tướng Phạm Hạp nổi dậy chống lại Lê Hoàn nhưng bị
Lê Hoàn nhanh chóng đánh dẹp, ba người đều bị giết Phò mã Ngô Nhật Khánh bỏ trốn vào Nam, cùng vua Chiêm Thành với hơn nghìn chiến thuyền định đến đánh kinh đô Hoa Lư nhưng bị bão dìm chết
Thấy triều đình Hoa Lư rối ren, nhà Tống bên Trung Quốc có ý định cho quân tiến vào đánh chiếm Đại Cồ Việt Vua Tống nhiều lần viết thư sang dụ và đe
dọa triều Đinh bắt phải quy phụ đầu hàng: " Nếu quy phục thì ta tha cho, bằng trái
Trang 24lệnh thì ta quyết đánh " Trước tình hình đó, Thái hậu Dương Vân Nga cùng tướng
Phạm Cự Lạng và các triều thần tôn Lê Hoàn lên làm vua Lê Hoàn lên ngôi lấy tôn hiệu là Minh Càn Ứng Vận Thần Vũ Thăng Bình Chí Nhân Quảng Hiếu Hoàng đế, niên hiệu là Thiên Phúc, quốc hiệu vẫn là Đại Cồ Việt, đóng đô tại Hoa Lư Lê Đại Hành cử Phạm Cự Lạng (Lượng), em của Phạm Hạp làm đại tướng quân
Đầu năm 981, vua nhà Tống phát quân sang đánh Đại Cồ Việt, cử các tướng Hầu Nhân Bảo, Trần Khâm Tộ, Tôn Toàn Hưng, Triệu Phụng Huân, Quách Quân Biện, Lưu Trừng, Giả Thực, Vương Soạn cầm quân chia hai đường thủy bộ, theo ngả Lạng Sơn và vào sông Bạch Đằng tiến vào nước ta Vua tự làm tướng đi chống Tống, sai người cắm cọc ngăn sông, chặn đánh thủy quân Tống, những chiến thuyền Tống cũng bị thủng bởi những chiếc cọc sông dày dặc cho dù rất mạnh về thế trận, không thể tiến sâu vào nội địa được phải dừng quân hơn 70 ngày, chần chừ không dám tiến Quân bộ thì hiếu chiến hơn, tiến theo sông Thương đến Chi Lăng, Lê Hoàn giả vờ xin hàng rồi phục binh đổ ra đánh dữ dội Số quân địch hơn phân nửa
bị tiêu diệt Số còn lại cũng vội vàng rút chạy về nước
Khi người Việt chìm dưới ách nô dịch của phong kiến phía Bắc thì ở phía Nam, Chiêm Thành đã sớm xây dựng được quốc gia độc lập tự chủ từ năm 192 Sinh sống ở các thung lũng Nam Trung Bộ hẹp và nhỏ, vương quốc Chiêm Thành
có thế mạnh về hàng hải và các ngành nghề thủ công, nhưng lại thiếu những miền châu thổ rộng lớn Bởi vậy, từ khi lập nước, Chiêm Thành liên tục tiến hành các hoạt động quân sự với Đại Cồ Việt Năm 803, vua Chiêm cho quân xâm phạm An Nam, vây hãm phía nam quận Cửu Chân Năm 979, quân Chiêm được Ngô Nhật Khánh dẫn đường, tổ chức lực lượng thuỷ quân hùng hậu tiến đánh Hoa Lư theo đường biển, nhưng bị tan vỡ vì gặp bão ở cửa Thần Phù
Năm 982, Lê Hoàn cử Ngô Tử Canh và Từ Mục đi sứ Chiêm Thành bị vua
Chiêm bắt giữ Lê Hoàn tức giận, “sai đóng chiến thuyền, sửa binh khí, tự làm
Trang 25quân sĩ nhiều vô kể, cùng là kỹ nữ trong cung trăm người và một nhà sư người Thiên Trúc, lấy các đồ quý đem về, thu được vàng bạc của báu kể hàng vạn; san phẳng thành trì, phá hủy tông miếu, vừa một năm thì trở về kinh sư” [8;169]
Lê Đại Hành khi làm vua cho xây dựng nhiều công trình, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp để chấn hưng đất nước Ông là vị vua mở đầu cho
lễ tịch điền nhằm khuyến khích sản xuất nông nghiệp dưới chế độ phong kiến Việt Nam Mở đầu cho một lễ nghi trọng đại mà các vương triều sau tiếp tục noi theo để khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp
Lê Đại Hành cũng là vị vua đầu tiên tổ chức đào sông Công trình đào sông Nhà Lê (hiện vẫn còn ở Thanh Hóa và là một di tích lịch sử) do Lê Hoàn khởi dựng
là con đường giao thông thuỷ nội địa đầu tiên của Việt Nam Sự nghiệp mở đầu vĩ đại đó đã trở thành phương châm hành động của các thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn sau này Từ con sông đào do Lê Hoàn khai phá trên đất Thanh Hoá, đến thời Lý, Trần sông đào đã xuất hiện ở đồng bằng Bắc Bộ đến Thanh - Nghệ - Tĩnh Đến thời Lê
đã rộng khắp dải miền Trung Bộ và đến thời Nguyễn thì sông đào có mặt ở khắp mọi miền Việt Nam
Lê Hoàn là người mở đầu và xác lập những nguyên tắc cơ bản của nền ngoại giao Đại Việt Nhà Tống là triều đại phong kiến hùng mạnh nhất châu Á đương thời mang nặng tư tưởng bành trướng đã phải từng bước thừa nhận sức mạnh, thế lực của quốc gia độc lập Đại Cồ Việt, đã phong cho Lê Hoàn các tước vị cao như Giao Chỉ quận vương, Nam Bình vương, sứ thần Tống còn làm thơ tôn Lê Hoàn tài ba
không khác gì vua Tống Phan Huy Chú đánh giá: “Nhà Tiền Lê tiếp đãi sứ nhà
Tống, tình ý và văn thư rất là chu đáo Khúc hát hay cũng đủ khoe có nhân tài mà quốc thể được thêm tôn trọng làm cho người Bắc phải khuất phục”
Năm 1005, Lê Đại Hành qua đời Ông ở ngôi tất cả 26 năm, thọ 65 tuổi Trong 26 năm làm vua, ông đặt 3 niên hiệu:
Trang 2611 nơi; tiếp theo là Thái Bình với 10 nơi; Hà Nội có 9 nơi (trong đó Hà Đông 4 nơi, Thanh Trì 3 nơi và Sơn Tây 2 nơi); Nam Định 4 nơi, Hà Nam 3 nơi; các tỉnh Thanh Hoá, Hưng Yên, Hải Dương tìm thấy 1 nơi thờ
1.2.3 Hoa Lư trở thành kinh đô của nhà nước Đại Cồ Việt
Đinh Bộ Lĩnh là sứ quân chiếm cứ vùng đất Hoa Lư Sau khi dẹp yên các sứ quân khác và thống nhất bờ cõi, năm 968 Đinh Bộ Lĩnh lập nên vương triều Đinh, xưng hoàng đế, đặt tên nước, lập niên hiệu và định đô ở Hoa Lư Ông từ bỏ Cổ Loa, vượt sông Cái tiến sang phía hữu ngạn Nhưng ông cũng không chọn Đại La, mà đi sâu vào vùng đất hiểm trở bên rìa châu thổ, vùng đất giáp ranh giữa hai miền xuôi ngược, đồng bằng và rừng núi, ven bờ sông Hoàng Long bên phía hữu ngạn dòng sông Đáy thuộc huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình ngày nay
Theo thuyết phong thủy, bầu trời có mặt trời mặt trăng và các vì sao, gọi là văn (thiên văn), trái đất có núi sông gò hang gọi là lý (địa lý), địa lý ứng với thiên văn nên các đế vương chọn nơi đóng đô tất chọn chỗ dưới chân núi cao, trên bờ sông lớn, như sao Tử Vi là đế tinh, chỗ ngồi rất cao, bên tả có sông Ngân Hà [4;15] Kinh đô Hoa Lư cũng đóng dưới chân núi cao, trên bờ sông lớn theo thuyết phong thủy Thuyết rồng cuộn hổ ngồi, dựa núi kề sông của Thăng long còn nổi trội hơn cả Hoa Lư [11;334]
Trang 27Thực ra Đinh Bộ Lĩnh vốn muốn dựng đô ở Đàm thôn - tức xã Điềm Xá huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình là quê hương của ông, nhưng thấy chỗ ấy đất hẹp
bèn dựng đô ở Hoa Lư Sách “Đại Việt sử kí" chép rằng: "… Chọn được chỗ đất
bằng ở Đàm thôn, muốn dựng làm kinh đô nhưng thế đất chật hẹp, lại không có lợi
về mặt về sự đặt hiểm nên lại đóng đô ở Hoa Lư…" [8;227] Sách "An Nam kỷ
yếu" nói rằng "động Hoa Lư ở huyện Lê Bình Lê Bình nay là huyện Gia Viễn
Động rộng hơn 2 trượng, có một con suối chảy quanh co đến phía nam thành Hoa
Lư Thành Hoa Lư cũng ở huyện Lê Bình Họ Đinh nhân thế núi mà đắp thành, chu
vi 500 trượng, nền cũ vẫn còn Động Hoa Lư là nơi Đinh Tiên Hoàng nổi binh, thành Hoa Lư ở Trường Yên là chỗ đóng đô"
Qua khảo sát thực địa khu vực quốc đô thời Đinh, ta thấy thành Hoa Lư gồm
ba khu vực: thành Nội, thành Ngoại, thành Nam có diện tích 300ha Trung tâm vùng chiến lược châu Trương - Hoa Lư có núi non bao bọc còn được trí tuệ và bàn tay lao động của con người liên kết bằng những đoạn xây đắp thêm, tạo nên một tòa thành gần như khép kín
Về mặt vị trí, địa thế, khu vực Hoa Lư là một vùng đất hiểm trở dựa lưng vào núi, gần kề sông biển Từ đây có thể kiểm soát cả miền biển và lưu vực sông Hồng đồng thời cũng rất thuận lợi cho việc trấn giữ miền đất phía nam Về đường bộ có con đường Thiên Lý gần tương ứng với quốc lộ 1 hiện nay, ngoài ra còn có con đường Thượng đạo phía tây Hoa Lư vượt qua phần cuối dãy núi đá vôi Hòa Bình để vào Cẩm Thủy, Thạch Thành, Thanh Hóa; hay qua Chương Mỹ, Mỹ Đức - Hà Nội
để nối với Đại La Về đường thủy, từ Hoa Lư theo sông Hoàng Long ra sông Đáy
để ngược Đại La, xuôi ra biển hoặc nối với hệ thống sông rạch chằng chịt đi về phía Đông Bắc của tổ quốc Từ Hoa Lư theo sông Sào Khê xuôi về Nam gặp sông Vân, qua sông Trinh Nữ để vào Ái Châu
Căn cứ vào các di chỉ khảo cổ, thì miền đất Hoa Lư là vùng đồng bằng màu
mỡ, trải dài ra đến tận ven biển, là nơi tụ cư của nhiều luồng dân cư Phía Tây Bắc
Trang 28là núi non hiểm trở với nhiều thung lũng rộng lớn có thể trồng trọt chăn nuôi để tự túc lương thực, quân sỹ vừa có thể tập luyện chiến đấu, vừa có thể tham gia sản xuất, lúc tiến lúc lui đều thuận lợi Sông Thanh Quyết Thần Phù thông ra tới biển,
có điều kiện tốt để khai triển thủy quân Phía Nam giáp với Thanh Hóa, một tỉnh đông dân, lương thực dư thừa, có thể làm hậu phương vững chắc để đánh lâu dài
Vị trí này đặt trong bối cảnh Việt Nam thế kỷ X là một trong những nhân tố quan trọng số một quyết định việc định đô ở Hoa Lư của Đinh Bộ Lĩnh Thế Kỷ X, đất nước mới giành được độc lập tự chủ sau đêm dài dằng dặc gần một nghìn năm Bắc thuộc, chính quyền phong kiến tập quyền đang còn non trẻ, nạn ngoại xâm phương Bắc còn là một hiểm họa thường trực của đất nước, kẻ thù bên trong vẫn
âm ỉ phục thù Đinh Bộ Lĩnh đã chọn Hoa Lư làm kinh đô với ý đồ triệt để lợi dụng địa hình hiểm trở của nó trong việc chống thù trong giặc ngoài
Thực tế lịch sử đã chứng minh sự lựa chọn sáng suốt của Đinh Bộ Lĩnh trong việc định đô tại một vùng núi non hiểm yếu Thể hiện rõ nhất qua hai cuộc chiến tranh giữ nước chống Tống, bình Chiêm của nhân dân Đại Cồ Việt trong thế kỷ X
Cuộc tấn công xâm lược lần thứ nhất của nhà Tống diễn ra vào cuối năm 980 đầu năm 981 với hai mũi tấn công thủy bộ do Hầu Nhân Bảo, Tôn Hoàng Hưng, Trần Khâm Tộ và Lưu Trừng, nhằm vào kinh đô Hoa Lư Về quân thủy chúng theo đường sông Bạch Đằng vào trại Phù Lan ở vùng Lục Đầu Giang, theo sông Diên Uẩn (sông Đuống) vào sông Cái, Cổ Loa và Đại La Về quân bộ, chúng qua Hoa Bộ tiến vào Tây Kết, kết hợp với quân thủy cùng tấn công vào Hoa Lư Nhưng thành Bình Lỗ kéo dài từ ngã ba Lềnh đến ngã ba Vàng (dọc theo hữu ngạn sông Hồng từ Phú Xuyên đến Lý Nhân – Hà Nam ngày nay) đã trở thành một chiến lũy chặn đứng quân giặc, buộc chúng rơi vào thế bị động để rồi chịu thảm bại [2;77] Trong cuộc xâm lược này, quân giặc không thể đặt chân đến được Hoa Lư và ngoại vi hữu ngạn sông Đáy cũng như vùng Châu thổ hạ lưu hữu ngạn sông Hồng
Trang 29Thực tế sau thời Bắc thuộc, nhiều thế lực muốn vươn lên khẳng định quyền lực về chính trị Do đó Đinh Bộ Lĩnh không chỉ phải đối phó với nguy cơ ngoại xâm, mà trong nước mặc dù đã dẹp xong nạn cát cứ, nhưng kẻ thù vẫn còn âm ỉ phục thù Ta biết rằng, Đinh Bộ Lĩnh cũng xuất phát từ một thủ lĩnh quân sự - đứng đầu một sứ quân đánh dẹp các sứ quân khác để lên ngôi hoàng đế Vì vậy các thủ lĩnh khác mặc dù đã bị đánh bại hoặc hàng phục nhưng trong lòng vẫn nuôi chí phục thù Việc phò mã Ngô Nhật Khánh cầu viện vua Chiêm Thành đưa quân đánh Hoa Lư là một minh chứng cụ thể Sau này, Lê hoàn lên ngôi cũng không chỉ phải lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Tống, bình Chiêm mà còn phải chống cự với các tướng: Đinh Điền, Nguyễn Bặc… - các trung thần của nhà Đinh
Việc định đô ở Hoa Lư một lần nữa biểu thị sự sáng suốt của người đứng đầu quốc gia, đáp ứng yêu cầu của thời đại, phù hợp với tình thế, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ đất nước Với vị trí quốc đô, Hoa Lư đó tồn tại một thời oanh liệt, không chỉ
là vùng bất khả xâm phạm trong chống giặc mà còn tạo nên uy thế khiến nhà Tống phải kiêng nể và tạo nên sự hưng khởi cho đất nước
Về mặt lòng dân: Định đô ở Hoa Lư, Đinh Bộ Lĩnh không những có lợi thế
về mặt địa thế, địa lợi mà còn có lợi thế về mặt lòng dân, tức là yếu tố nhân hòa Đó
là một yếu tố vô cùng quan trọng, là lực lượng hậu thuẫn vững chắc quyết định cho mọi thắng lợi Hoa Lư ở sát quê hương của Đinh Bộ Lĩnh, nơi mà tuổi ấu thơ của ông đã được nhân gian huyền thoại hóa và nơi mà thời tráng niên là chốn dấy binh lập nghiệp Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, các anh hùng xưa thường dấy nghiệp từ đất quê hương của mình Quê hương sinh thành ra họ, nuôi dưỡng, cưu mang, che chở và giúp họ tạo dựng sự nghiệp Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước đang còn nhiều thách thức thì việc chọn miền quê, nơi có đông đảo quần chúng nhân dân ủng hộ mình làm nơi hậu thuẫn cũng là lẽ thường Như trong Thiên đô chiếu của Lý Công Uẩn năm 1010, tuy có ý phê phán nhưng đã xác nhận phần nào
nguyên do này “… nhà Đinh, nhà Lê lại theo lòng riêng, lơ là mệnh trời, không noi
theo việc nhà Thương, Chu, yên ở nơi quê quán…” [8;190]
Trang 30Như vậy có thể thấy, trong buổi đầu của công cuộc xây dựng triều đại phong kiến tự chủ với hoàn cảnh lịch sử mà chúng ta đã biết thì Đinh Bộ Lĩnh đã lựa chọn kinh đô của cả nước ở Hoa Lư Có nhiều lý do khiến ông lựa chọn để sinh tạo một
đô thị hàng đầu của đất nước, vào thời gian này và tại địa điểm này Nhưng trước hết đó là vì Hoa Lư ở gần quê hương, nằm trên địa bàn bản bộ của Đinh Bộ Lĩnh, lị
là nơi có khả năng phòng thủ, thủ hiểm rất tốt Xét về mặt vị trí cấu trúc thì nó mang tính chất của một kinh thành quân sự - một căn cứ địa Nhưng nó vẫn là một kinh đô với ý nghĩa là một trung tâm chính trị, quân sự, văn hóa, kinh tế, hoàn chỉnh của một quốc gia độc lập
Hơn 40 năm tồn tại, dưới sự quản lý của hai vương triều Đinh – Tiền Lê, kinh đô Hoa Lư đã có nhiều thay đổi, kiên cố, uy nghiêm và sầm uất hơn Hoa Lư với ý nghĩa là một quân thành đã quyết định cho chiến thắng chống thù trong giặc ngoài, cho cuộc “kháng Tống, bình Chiêm” thắng lợi vẻ vang bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ; Hoa Lư cũng vừa mang ý nghĩa là một trung tâm kinh tế - văn hóa – chính trị của đất nước Kinh đô Hoa Lư tuy có hơi chật hẹp, nằm giữa núi non bao bọc bên rìa đồng bằng châu thổ, nhưng những gì mà triều đại Đinh – Lê kiến tạo được đã cho thấy việc lựa chọn vùng đất định đô của Đinh Bộ Lĩnh trong buổi đầu xây dựng đất nước là hoàn toàn phù hợp Điều đó cũng nói lên tầm nhìn sáng suốt của Đinh Bộ Lĩnh – vị vua khai sáng triều Đinh Người được coi là “chính thống thủy” - vị vua đặt nền chính thống
Trang 31Chương 2 KINH ĐÔ HOA LƯ DƯỚI THỜI ĐINH – LÊ
Hoa Lư là Kinh đô đầu tiên của nền văn minh Đại Cồ Việt trong suốt 42 năm (968-1010) của ba triều đại phong kiến tập quyền: Triều Đinh - Tiền Lê và mở đầu triều Lý Hoa Lư ngàn năm sáng mãi với tên tuổi vua Đinh Tiên Hoàng, vua Lê Đại Hành, vua Lý Thái Tổ Những con người, những cuộc đời kiệt xuất, tiêu biểu cho cả một thế kỷ, một giai đoạn lịch sử của dân tộc; người sau kế thừa người trước làm cho Hoa Lư đi vào lịch sử như một mốc son chói ngời trong qua trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam
2.1 Kinh Đô Hoa Lư dưới thời nhà Đinh
2.1.1 Thành trì: Theo sử cũ thì Kinh đô Hoa Lư dưới thời Đinh – Tiền Lê được bắt đầu xây dựng và nâng cấp vào hai niên điểm:
- Năm 968 khi vua Đinh dẹp loạn cát cứ, thống nhất giang sơn, như Việt
Nam sử lược thế kỉ XIV đã ghi “Năm Mậu Thìn (968) vương xưng làm hoàng đế ở động Hoa Lư, xây dựng cung điện, chế triều nghi, đặt trăm quan lập nền xã tắc Quần thần dâng hiệu là Đại Thắng Minh hoàng đế”[6;50]
- Và năm 984 lúc Lê Hoàn đã thay nhà Đinh trị vì thiên hạ, làm chủ giang
sơn được 4 năm Sử cũ cho biết “Tháng Hai mùa xuân năm Giáp Thân (984) vua
cho làm nhiều cung điện nhà cửa: dựng điện Bách Bảo Thiên Tuế ở núi Đại Vân, cột dát vàng làm nơi coi chầu; phía đông là điện Phong Lưu; phía tây là động Tử Hoa; bên tả là điện Bồng Lai; bên hữu là điện Cựu Lạc Tiếp đó là lầu Đại Vân, dựng tiếp điện Trường Xuân làm nơi vua nghỉ Bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng điện Long Lộc, mái lợp ngói bạc”[8;154-191]
Như vậy có thể nói để có được kinh đô Hoa Lư như đã tồn tại trong lịch sử, thì nhà Đinh có công xây thành, nhà Lê có công dựng cung điện Hai triều đại nối tiếp nhau chung tay xây dựng nên thành Hoa Lư đồ sộ kì vĩ, độc đáo, hiếm có
Trang 322.1.1.1 Tổng thể:
Thành Hoa Lư được bao bọc bởi nhiều ngọn núi, các triều vua dựa theo địa hình tự nhiên cho đắp 10 đoạn tường thành nối các núi đá, dựng nên thành Hoa Lư với diện tích hơn 300 ha, gồm 3khu vực chính gọi theo vị trí là: thành Nam (thành Tràng An) ở phía Nam; thành nội ở trong và thành ngoại ở ngoài Trong đó thành ngoại là trung tâm, diện tích khoảng 6km2, trong đó diện tích dùng để xây dựng cung điện, dinh thự, trại lính rộng khoảng 2,7km2
- Thành ngoài rộng khoảng 140 ha, thuộc địa phận hai thôn Yên Thượng và
Yên Thành xã Trường Yên, có 5 đoạn tường thành nối các dãy núi tạo nên vòng thành khép kín
Đoạn 1 nối núi Đầm với núi Thanh Lâu, được gọi là "tường Đông";
Đoạn 2 từ núi Thanh Lâu đến núi Cột Cờ;
Đoạn 3 từ núi Cột Cờ sang núi Chẽ;
Đoạn 4 từ núi Chẽ đến núi Chợ;
Đoạn 5 từ núi Mã Yên sang một núi khác Ðây là cung điện chính mà khu vực đền Ðinh, đền Lê nằm ở trung tâm
- Thành trong có diện tích tương đương thành ngoài, cũng có 5 đoạn tường
thành nối liền các dãy núi (Theo http://vi.Wikipedia.org “Kiến trúc thành Hoa Lư”):
Đoạn 1 từ núi Hàm Sá đến núi Cánh Hàn;
Đoạn 2 từ Cánh Hàn đến núi Hang Tó;
Đoạn 3 từ núi Quèn Dót sang núi Mồng Mang, gọi là "tường Bồ";
Đoạn 4 từ núi Mồng Mang đến núi Cổ Giải, được gọi là "tường Bìm";
Đoạn 5 đắp ngang thành trong;
Việc qua lại giữa hai tòa thành rất thuận tiện Cả hai thành đều lợi dụng được
Trang 33thủy, phục vụ việc di chuyển ra vào thành Trong hai tòa thành có bố trí các khu triều đình, quan lại và quân lính Hiện nay thành thiên tạo vẫn còn, thành nhân tạo
và cung điện chỉ còn là những dấu tích đang được khai quật Các nhà khảo cổ đào một số đoạn tường thành phát hiện ở những khu vực này có móng thành bằng cành cây với nhiều cọc đóng xuống sâu Phía trong của tường thành xây bằng gạch, dày đến 0,45 m, cao từ 8 -10 m Chân tường kè đá tảng, gạch bó và đóng cọc gỗ Loại gạch phổ biến có kích thước 30x16x4 cm, trên gạch thường có in các dòng chữ "Đại Việt quốc quân thành chuyên" và "Giang Tây quân" Phía ngoài tường gạch là tường đất đắp rất dày
- Thành Tràng An: nằm ở phía nam kinh thành Hoa Lư nên còn được gọi là
thành Nam, có núi cao bao bọc xung quanh, là khu vực phòng thủ hậu cứ của kinh
đô, từ đây quân lính có thể nhanh chóng rút ra ngoài bằng đường thủy Đây chính là
hệ thống hang động Tràng An hiện tại có rất nhiều di tích mô tả cách bố trí phòng tuyến của kinh đô Hoa Lư
2.1.1.2 Kỹ thuật xây thành
Kỹ thuật xây thành Hoa Lư xuất phát trên hai yếu tố chính là cần phải kiên
cố và có thể kiên cố Do tính chất quan trọng đặc biệt của kinh thành nên phải xây đắp công phu, cẩn thận, quy mô to lớn, chất lượng tốt
Thành Hoa Lư được xây dựng trên một vùng chiêm trũng, độ ẩm cao, sình lầy nước đọng, mùa mưa còn có thêm chức năng đê điều ngăn lũ nên rất cần phải kiên cố vững chắc Thành Hoa Lư cũng nằm trong xứ sở của mối mọt mà sự tàn phá của chúng vô cùng lớn, nên cần phải tính đến liệu pháp xây thành khi sử dụng chất liệu gỗ lá chống lún và gia cố bền vững Những người chịu trách nhiệm xây dựng kinh thành Hoa Lư cần phải hiểu tường tận vùng đất này Đó chính là vua Đinh – vị tổng công trình sư Núi rừng Hoa Lư thế kỷ X lại đầy những loại gỗ tốt có thể chống đỡ với sức nặng của thời gian, thời tiết, khí hậu và mối mọt như: lim, trò, lát, nghiến và sến… sử cũ không có một dòng nào nói về kỹ thuật xây thành, chỉ duy
Trang 34nhất có mẩu truyền thuyết vua Đinh cho yểm trăm ngàn móng lân, móng rùa xung quanh tường thành để chống lại sự phá hủy của quỷ thần, tăng sự vững chắc cho thành đô [11;143]
Với những thành tựu khảo cổ học trong những năm qua, đặc biệt là mùa khai quật năm 1969 – 1970 của Viện bảo tàng lịch sử Việt Nam cho biết: trong số 13 đoạn tường thành đã biết có 6 đoạn giúp chúng ta hiểu được thành phần nguyên liệu dùng để đắp thành có gỗ, đất, đá, gạch Trong số này, đã chính thức khai quật 3 đoạn, trong đó 2 tường thành Đông Bắc và tường Đông của khu thành ngoài là 2 tuyến rất trọng yếu của khu thành Hoa Lư, án ngữ mặt trống trải nhất của toàn bộ khu thành và cũng là tuyến thành lớn nhất của khu thành này
Thông qua việc khai quật, có thể thấy cấu trúc cơ bản của tường thành như sau [7;32-46]:
- Móng tường thành: hiện nay nằm sâu dưới mặt ruộng, bề dày trung bình là 2m Móng đắp bằng những lớp đất và những lớp lá cây, cành cây xen kẽ nhau, độ dày các lớp lá cây và đất không đều nhau Những lớp này hơi trũng ở giữa Dưới cùng là một lớp lá cây, cành cây, đến lớp đất rồi lại chải chồng lên một lớp lá khác
cứ như thế tạo nên một nền móng dày, vững chắc nhờ đó mới có thể chống lún ở những vùng lầy lội Móng đắp theo cách này phải nằm dưới mặt nước, nếu cao hơn mặt nước sẽ rất dễ bị xói lở Đất đắp móng tường là đất sét pha cát giống như loại đất đắp ở thân tường thành Lá cây và cành cây hầu hết là những loại cây móc, cây ráng mà hiện nay ở nhiều vùng vẫn còn Cọc có hai loại: cọc đơn và cọc kép - gồm hai cọc nối với nhau bằng đà ngang có lỗ dọc hoặc ngang tường thành
- Thân tường thành: có cấu trúc rất đặc biệt, dày từ 2,2m đến 4,5m Chân tường thành hiện nay rộng 8 – 10m, mặt tường hẹp hơn chân Mép trong có bó gạch, mép ngoài có đóng những hàng cọc gỗ chống xói lở Tầng này thuần nhất,
Trang 35thành, dày trung bình 0,45m, xây rất cẩn thận đều đặn và chắc chắn Giữa những viên gạch có lớp liên kết mỏng Toàn bộ tường gạch kết chặt với đất đắp thành Tường hơi khum nghiêng vào phía trong khoảng 400 Tường gạch hiện nay cao khoảng 1m75, gồm 38 hàng gạch dưới chân có kê nhiều đá và cọc gỗ lớn chồng chéo Mặt trong của tường gạch ốp vào tường đất, mặt ngoài cũng có lớp đất phủ kín Căn cứ vào cấu tạo tường thành, có thể giả thiết tường gạch có tác dụng là một bức tường đê bó tường thành và chống xói lở
Từ những điều trên ta thấy, kinh đô Hoa Lư không chỉ biết dựa núi đắp thành, cũng không đợi đến thời Lê hay Nguyễn mới có Cung Thành hay Tử Cấm Thành Trừ thành nhà Hồ ở Thanh Hóa và thành thời Nguyễn ở Huế có tường thành kiên cố và quy mô to lớn, còn lại các thành trì cổ ở Việt Nam, thời Lý, Trần, Lê chưa đâu đồ sộ hơn tường thành Hoa Lư cả về kỹ thuật gia cố móng, quy mô và cấu trúc bền vững Tường thành Hoa Lư không chỉ độc đáo ở chỗ dựa vào núi, lợi dụng núi tự nhiên, mà còn phản ánh một trình độ khoa học cao không thua kém các thành nổi tiếng khác
- Hào rãnh (trì): Theo sử cũ thì vua Đinh cho “đắp thành, đào hào” để bảo vệ kinh đô Hoa Lư [12;237] Tất cả chỉ có vậy, thành đắp thế nào, hào đào ra sao không ghi chép cụ thể Dấu vết các hào rãnh cũng không còn Tuy vậy có thể khẳng định tường thành Hoa Lư có hào rãnh (trì)
Thứ nhất, để có đất đắp tường thành thì phải đào ngay cạnh đó cho tiện và nơi đào đất dã trở thành con hào chạy dọc thân tường thành Đây là cách thức xây thành đào hào cơ bản ở Trung Quốc từ thời ngyên thủy và tồn tại cho mãi tới thời nhà Thanh (thế kỷ XX) [17;409] Ở Hoa Lư thế kỷ X, sau gần 1000 năm Bắc thuộc, hẳn là kỹ thuât xây thành khó mà khác được
Thứ hai, tường Ngòi Chẹm cho ta biết có con hào chạy dọc tường, chính là Ngòi Chẹm bây giờ Các bức tường khác cũng vậy, đường xá đã lấp bằng các hào rãnh, đến giờ không còn dấu vết nữa Vị trí của con hào, thông thường thì hào nằm
Trang 36ngoài chân tường thành và mặt ngoài tường thành được đắp và xây thẳng đứng Nhưng tường thành Hoa Lư ở tuyến Đông, nơi đã khảo sát và khai quật, lại thấy phía trong xây gạch ốp gần thẳng đứng, còn bên ngoài thì không Điều này khiến người ta ngờ rằng hào nằm bên trong tường thành
- Cửa thành: theo hiện trạng di tích Cố đô Hoa Lư thì thành Hoa Lư có ít nhất 7 cửa thành là cửa Đông, cửa Đông Bắc, cửa Bắc, 2 cửa Nam và 2 cửa Tây
+ Cửa Đông Bắc: ở hướng đông bắc thành Hoa Lư, nằm trên đoạn tường thành nối núi Cột Cờ và Thanh Lâu cách núi Cột Cờ 26m Cửa này rộng ngang 4,5m, xuyên qua chiều dày của tường khoảng 17m, ở độ cao so với mặt ruộng là 1,5m Nền lát gạch vuông hoa, hai bên xây tường và mái lợp ngói Cửa Đông Bắc
có lẽ chỉ sử dụng trong một số trường hợp đặc biệt, khác với cửa Đông là nơi bá quan văn võ ra vào hàng ngày
+ Cửa Bắc: là một thủy môn nằm trên sông Sào Khê ngay dưới chân núi Chẽ Thế kỷ X đây là một tam kỳ thủy (ngã ba nước) đều nối với sông Hoàng Long
ở hai điểm cách xa nhau 1km Quãng sông này rộng khoảng 4km, tường thành nối núi Cột Cờ và núi Chẽ chắc sẽ thu hẹp lòng sông thuận lợi cho việc kiểm tra xét hỏi thuyền bè ra vào thành Lúc nước rút, hai bên bờ sông nhô lên những hàng cọc gỗ lim có đường kính từ 20 – 23cm, cắm thẳng đứng chặn ngang sông Chắc chắn đây
là thủy môn trọng yếu của kinh đô Hoa Lư, từ kinh thành tất cả thuyền bè đều phải qua đây để ra sông Hoàng Long rồi tỏa đi các nơi
+ Cửa Tây: Có thể nằm trên đoạn tường thành nối núi Chẽ với núi Chợ Lối này đi ra khu dân cư chợ búa sầm uất ngay ngoài cổng thành, cũng như đi ra sông Hoàng Long nơi có cảng lớn và khu dân cư Hiện nay cách tường thành này khoảng 50m về phía Tây Bắc có một cây cầu gọi là Dền Kiều (cầu Dền) bắc qua sông Sào Khê Tấm bia Dền Kiều được dựng năm 28 vua Tự Đức (1875) có nói rằng cầu Dền
Trang 37dẫn ra bến cảng, vừa theo con đường phía Tây lên miền thượng nối với đường thượng đạo, lại vượt sông đi về Đại Hữu, Đàm thôn – quê nhà của Vua Đinh Tiên Hoàng, vừa đi được tới động Hoa Lư
+ Cửa Nam: ở Hang Luồn bây giờ, lối ra vào kinh đô bằng đường thủy trên sông Sào Khê Từ kinh đô có thể đi thuyền qua sông Vân Sàng ở thôn Cổ Loan, xã Ninh Tiến; rồi vượt Cầu Yên đi theo hướng Đông Nam qua cửa càn, cửa Thần Phù
mà đi về Nam Đây là một nơi xung yếu, kẻ thù có thể theo đường sông vào uy hiếp kinh đô, ngược lại triều đình Hoa Lư cũng có thể sử dụng nó để chuyên chở, hành quân rất tiện lợi Theo khẩu truyền, núi Hang Luồn và đỉnh Ghềnh Tháp là nơi vua Đinh đứng duyệt thủy quân Tóm lại, cửa Nam này là một thủy môn của kinh đô Hoa Lư, lùi về phía Nam 1,5 km theo đường chim bay chắc chắn có một thủy môn nữa chắn ngang sông Sào Khê, để tăng cường sự bố phòng cho kinh đô
+ Ngoài ra ở khu vực Thành Nội có một cửa thành Dền thông ra bờ sông Hoàng Long, ở thượng lưu bến cảng chính Đây có thể là cửa ra vào duy nhất của khu Thành Nội, có cả cửa bộ lẫn cửa nước
Như vậy, kinh đô Hoa Lư có 7 cửa thành chính, trong đó có 3 cửa bộ, 3 cửa
đường thủy, một cửa kết hợp thủy bộ Theo “Đại Nam nhất thống chí” cửa thành
Hoa Lư xây bằng đá [13;249] Với hệ thống cửa thành như thế này, Hoa Lư có thể giao lưu với bên ngoài một cách thuận tiện bằng cả hai hệ thống giao thông chính thời bấy giờ là đường thủy và đường bộ Tiếc là các di tích đã bị san phá hầu như hoàn toàn, mà thư tịch thì không ghi chép nên bây giờ khó có thể biết được cổng thành đóng mở ra sao
2.1.2 Cung điện
Mặc dù nói rằng nhà Đinh xây thành, nhà Lê xây cung điện, nhưng không có nghĩa là kinh đô Hoa Lư dưới thời Đinh chưa có cung điện Nếu thành trì bảo vệ kinh đô thì cung điện dù đơn giản vẫn phải có để vua, quan, hoàng tộc ở và làm
Trang 38việc Theo truyền thuyết thì năm 968 khi Đinh Bộ Lĩnh vừa mới lên ngôi, cho đóng
đô tạm thời ở vùng đất có “hòn đá vua ngự” thuộc xã Sơn Lai huyện Nho Quan cách kinh đô Hoa Lư khoảng 10km đường chim bay để thuận lợi cho việc đắp thành đào hào, làm cung điện ở Hoa Lư Năm 969 khi cung điện, thành quách cơ bản đã hoàn thành triều đình mới dời về kinh đô chính thức
Như vậy, ngay dưới vương triều Đinh, từ những năm đầu tiên tại kinh đô Hoa Lư đã có cung điện Tuy nhiên, có thể ban đầu chỉ có một số kiến trúc quan trọng giành cho vua, hoàng hậu ở và coi chầu là có quy mô lớn, trang trí đẹp đẽ, số còn lại chỉ là những công trình bình thường “kín trên, bền dưới” dành cho quan lại
và những người phục dịch hầu hạ Bè móng gỗ tường Ngòi Chẹm cắt ngang khu trung tâm kinh đô được khai quật năm 1990, cho thấy có nhiều cột, kèo, xà, hoành
có kích thước to lớn, chế tác công phu, trong đó có một số cấu kiện tạc hình “cá chép hóa long” rất đẹp Có thể những cấu kiện này được nhà Lê hạ giải từ cung điện nhà Đinh, rồi dùng vào việc chống lún cho một bức tường thành cũng mới được xây dựng sau khi nhà Lê thay nhà Đinh Như vậy, cung điện thời nhà Đinh cũng đã tráng lệ, có trên dười 10 tòa cho vua, hoàng hậu, hoàng tộc, cung nữ và bá quan văn
- Đối nội: Đại Cồ Việt là nhà nước mở đầu cho thời đại độc lập, tự chủ, xây dựng chế độ quân chủ tập quyền ở Việt Nam Đinh Bộ Lĩnh mở nước, lập đô, lấy
Trang 39của Việt Nam, từ họ Khúc chỉ xưng làm Tiết độ sứ, tới Ngô Quyền xưng Vương và tới vua Đinh xưng làm Hoàng đế Sau hai vua nhà Tiền Lý xưng đế giữa thời Bắc thuộc rồi bị thất bại trước họa ngoại xâm, 400 năm sau người cầm quyền Việt Nam mới thực sự vươn tới đỉnh cao ngôi vị và danh hiệu, khẳng định vị thế vững chắc của quốc gia độc lập, thống nhất qua các triều đại Đinh – Lê – Lý - Trần và buộc các điển lễ, sắc phong của cường quyền phương Bắc phải công nhận là một nước độc lập Từ Đinh Bộ Lĩnh trở về sau, các Vua không xưng Vương hay Tiết độ sứ nữa mà đều xưng Hoàng đế như một dòng chính thống Đinh Tiên Hoàng là vị Hoàng đế đặt nền móng sáng lập nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên ở Việt Nam, vì thế mà ông còn được gọi là “chính thống thủy” - người mở nền chính thống cho các triều đại phong kiến trong lịch sử
Bộ máy nhà nước dưới thời Đinh được tổ chức theo thể chế nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, do vua đứng đầu, nắm mọi quyền hành về quân sự cũng như dân sự Dưới vua là các quan văn võ trong đó cao nhất là Định Quốc Công (Nguyễn Bặc), Thập Đạo Tướng Quân (Lê Hoàn) Ngoài ra còn có một bộ phận tăng quan: Tăng thống, tăng lục, sùng chân uy nghi… Vừa phụ trách việc quản lý đạo phật vừa làm cố vấn cho nhà vua
Hệ thống các đơn vị hành chính và chính quyền địa phương cũng được tổ chức đầy đủ, cả nước được chia thành 10 đạo (lộ), dưới đạo là phủ, châu Các lộ, châu đều có quản giáp, thứ sử, trấn tướng trông coi
Trong buổi đầu xây dựng đất nước vừa thống nhất sau nhiều năm rối loạn với một nhà nước quân chủ tập quyền mới thành lập, nhà Đinh rất coi trọng luật pháp Những hành động chống lại nhà nước, phá hoại trật tự an ninh xã hội bị xử rất nặng Luật pháp thành văn chưa có điều kiện được soạn thảo và ban hành nhưng
như sử cũ ghi lại: “Vua (Đinh) muốn lấy uy thế để ngự trị thiên hạ mới đặt vạc dầu
lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ ở trong cũi hạ lệnh rằng người nào trái lệnh sẽ phải chịu tội bỏ vào vạc dầu nấu hay cho hổ ăn Mọi người sợ không dám trái” [8;154]
Trang 40Việc tuyển chọn qua lại đương thời chưa có chế độ cụ thể Những người nắm quyền chủ yếu là các võ tướng công thần hoặc là các hoàng tử
- Đối ngoại: Sách “Toàn thư” và “Cương mục” chép “năm Nhâm Thân hiệu
Thái Bình thứ ba (972) Đinh Đế sai Nam Việt vương Đinh Liễn sang thăm nhà Tống” Vì đường đi từ biên giới Việt – Tống đến Biên Kinh thường mất 40 ngày
(theo Hoàng Xuân Hãn) chưa kể phần đường biển và đường bộ trong nước ta Đến năm 973, Đinh Liễn mới về nước, cùng với sứ đoàn nước Tống sang theo, đưa lời chế của Tống Thái Tổ phong cho vua Đinh là Giao Chỉ Quận Vương, phong Đinh Liễn làm Tĩnh Hải quân tiết độ sứ An Nam đô hộ
Năm Ất Hợi (975), vua Đinh cử Trình Tú và Vương Thiệu Tộ mang vàng, lụa, sừng tê, ngà voi sang cống cho nhà Tống Cũng mùa thu năm này, vua Tống cử Cao Bảo Đại Tự và Vương Ngạn Phù dẫn sứ đoàn sang kinh đô Hoa Lư chấp nhận việc Đinh Liễn thay vua Đinh chủ trì công việc bang giao và phong cho Đinh Liễn chức Giao Chỉ quận vương
Mùa xuân năm Bính Tý (976) nhà Đinh cử Trần Nguyên Thái sang Biên Kinh tặng sản vật đáp lễ việc nhà Tống đã phong cho Đinh Liễn chức Quận Vương
Năm Đinh Sửu (977) nhà Đinh cử sứ đoàn mang sản vật sang mừng vua Tống Thái Tông lên ngôi, tạo mối quan hệ hòa hảo, tốt đẹp
Nhìn chung, nhà nước Đại Cồ Việt những năm đầu dưới thời Đinh Tiên Hoàng đã tiến một bước quan trọng trên con đường khẳng định nền độc lập dân tộc, nhưng vẫn còn rất đơn giản, thể hiện sự quá độ sang một thời kì phát triển ổn định theo hướng phong kiến hóa ngày càng vững chắc mang đậm ý thức dân tộc
2.1.3.2 Về quân sự
Hoa Lư từ buổi đầu lập nghiệp của Đinh Bộ Lĩnh đã là cái lò lớn rèn đúc ra