1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đọc hiểu tác phẩm tự sự việt nam hiện đại sau năm 1975 trong nhà trường THPT theo đặc trưng thể loại

100 445 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 661,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường Đại học sư phạm hà Nội 2 Khoa Ngữ văn ---***--- Đinh Thị Tuyền Đọc - hiểu tác phẩm tự sự Việt nam hiện đại sau 1975 trong nhà trường THPT theo đặc trưng thể loại Khoá luận tố

Trang 1

Trường Đại học sư phạm hà Nội 2

Khoa Ngữ văn -*** -

Đinh Thị Tuyền

Đọc - hiểu tác phẩm tự sự

Việt nam hiện đại sau 1975 trong

nhà trường THPT theo đặc trưng thể loại

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học ThS-GVC Vũ Ngọc Doanh

Hà Nội – 2010

Trang 2

thầy, cô trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ Văn và thạc sĩ Vũ Ngọc Doanh –

người hướng dẫn trực tiếp

Tác giả khoá luận xin được bày tỏ sự biết ơn và lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 28 tháng 4 năm 2010

Tác giả khoá luận

Đinh Thị Tuyền

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Với tư cách là một giáo viên Ngữ Văn tương lai, mong muốn trang bị cho mình những kiến thức và kĩ năng cần thiết khi bước lên bục giảng Tôi

xin cam đoan khoá luận tốt nghiệp Đại học với đề tài “Đọc - hiểu tác phẩm tự

sự Việt Nam hiện đại sau 1975 trong nhà trường THPT theo đặc trưng thể loại” là

công trình nghiên cứu của cá nhân tôi

Kết quả này không trùng với kết quả của bất kì tác giả nào đã công bố Nếu sai tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày 28 tháng 4 năm 2010

Tác giả khoá luận

Đinh Thị Tuyền

Trang 5

Nội dung Chương 1: Những vấn đề chung

1.1.1.1 KháI niệm tiếp nhận tác phẩm văn học 6 1.1.1.2 Đặc điểm hoạt động tiếp nhận văn học 7 1.1.2 Vấn đề thể loại và quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học 11

1.1.2.2 Vai trò của thể loại đối với quá trình tiếp nhận tác

phẩm văn học

13

1.1.3 Đọc – hiểu tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại –

một con đường tiếp nhận tác phẩm văn học

14

1.2.1 Vị trí-vai trò của văn học Việt Nam hiện đại sau 1975

trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam

15

Trang 6

1.2.2 Vị trí – vai trò của Văn học Việt Nam hiện đại sau 1975

trong nhà trường phổ thông

2.1.3 Đặc trưng của thể loại tự sự Việt Nam sau 1975 20

2.1.3.1.1 Quan niệm về cốt truyện và đặc trưng chung của cốt truyện

21

2.1.3.1.2 Đặc trưng của cốt truyện trong tác phẩm tự

sự Việt Nam sau 1975

Trang 7

2.2.3 Hướng dẫn học sinh Đọc - hiểu tác phẩm tự sự Việt

Nam hiện đại sau 1975 trong nhà trường THPT

45

2.2.3.2 Giúp học sinh nhận diện, cảm thụ sâu sắc, đánh giá

đúng nhân vật trong tác phẩm

50

2.2.3.3 Giúp học sinh hiểu và cảm thụ được cái hay trong

ngôn ngữ nhân vật và cái ý vị trong lời kể tác giả

54

1) Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)

2) Một người Hà Nội (Nguyễn Khải)

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Theo Quyết định số 3/QĐ-BGD&ĐT ngày 24/01/2001 của Bộ giáo dục

và đào tạo, việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ Văn theo quan điểm tích hợp, trong đó trọng tâm của yêu cầu dạy học phần Văn là đọc – hiểu văn bản

Lí thuyết về đọc hiểu là vấn đề giảng dạy khoa học còn tương đối mới mẻ đối với môn học Ngữ Văn trong nhà trường phổ thông Nó giúp HS thực hiện thao tác chiếm lĩnh giá trị tác phẩm, hướng tới hiệu quả thực hành, vận dụng kết nối kiến thức với phần tiếng Việt, làm văn

Điều 28.2 trong Luật Giáo dục (2005) đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS: phù hợp với từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập với HS”

Vì vậy, dạy học tác phẩm văn học theo phương pháp Đọc - hiểu nhằm đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường THPT, góp phần nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh

Theo chương trình đổi mới cấu trúc chương trình và nội dung SGK được sắp xếp theo thể loại gắn với các thời kì văn học làm nổi bật đặc trưng của từng thể loại Vì vậy, hướng dẫn học sinh đọc – hiểu tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại là một hướng đi tích cực nhằm rèn luyện kĩ năng: đọc, cảm thụ, phân tích, lí giải, đánh giá tác phẩm một cách hợp lí, sáng tạo, là cơ sở giúp HS đọc – hiểu tác phẩm

Để phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn, chương trình SGK được bổ sung

và mở rộng cả về nội dung và hình thức Với nhiều tác phẩm mới được đưa

Trang 9

(Nguyễn Minh Châu); “Một người Hà Nội” (Nguyễn Khải); Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc Tường); Hồn Trương Ba ra hàng thịt (Lưu

Quang Vũ)… giúp HS có cái nhìn toàn diện hơn về hiện thực cuộc sống, gần gũi với cuộc sống Việc lựa chọn tìm hiểu tác phẩm tự sự hiện đại sau 1975, người viết muốn giới hạn đề tài nghiên cứu để thấy diện mạo của văn học hiện đại Việt Nam sau 1975 so với các giai đoạn trước

2 Lịch sử vấn đề

Đọc – hiểu không còn là vấn đề hoàn toàn mới đối với các nhà khoa học; các nhà giáo dục Đã có rất nhiều nhà khoa học, nhà phê bình, nhà nghiên cứu văn học tốn không ít giấy mực để đề cập đến đọc – hiểu Vì vậy, rất nhiều công trình nghiên cứu về đọc – hiểu ra đời: những luận án, luận văn, chuyên đề, cuốn sách…

Trên bình diện lí luận, hai giáo trình, một của Đại học Tổng hợp do Hà Minh Đức (chủ biên) đã đề cập đến những đặc trưng chung của thể loại tự sự, đặc biệt quan tâm nhiều đến truyện và kí; một của Đại học Sư phạm do Phương Lựu (chủ biên) quan tâm đến: Anh hùng ca; truyện thơ, thơ trường thiên, truyện ngắn, truyện vừa, truyện ngụ ngôn Hai cuốn giáo trình đã đề cập đến những vấn đề thể loại, mỗi cuốn giáo trình nhấn mạnh vào thể loại khác nhau, nhưng đều nhằm mục đích trang bị cho người đọc những kiến thức về lí luận cơ bản để tạo ra tiền đề đi vào khai thác và chiếm lĩnh tác phẩm Tuy nhiên, hai cuốn giáo trình mới thành công trên lĩnh vực nghiên cứu mà chưa

đề cập đến phương pháp giảng dạy

Trong cuốn “Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo thể loại” của Nguyễn Viết Chữ (NXB GD Hà Nội 2000) đã vận dụng những

kiến thức lí luận văn học vào việc giảng dạy tác phẩm văn học ở cả ba thể loại: Tự sự, trữ tình, kịch Đề cập đến mối quan hệ giữa học và giảng văn hiện

Trang 10

nay theo đặc trưng thể loại là hướng đi tích cực giúp HS có kĩ năng nhận biết

và cảm thụ tác phẩm theo thể loại

Cuốn “Rèn luyện năng lực đọc – hiểu” (2004) của Nguyễn Thanh

Hùng đã nêu một cách khái quát đọc – hiểu là khái niệm khoa học chỉ mức độ cao nhất của hoạt động đọc Nhằm trang bị kĩ năng để khai thác tác phẩm văn chương một cách đúng hướng

Đọc văn là một hoạt động được tiến hành thường xuyên trong cuộc sống hiện đại, dù ở lĩnh vực nào đọc – hiểu văn bản là một việc không phải dễ

dàng Vì vậy cuốn “Kĩ năng đọc – hiểu văn bản Ngữ Văn” gồm ba cuốn

song hành với SGK Ngữ Văn 10, 11, 12 – Chương trình chuẩn do Nguyễn Kim Phong (chủ biên) NXB GD 2006 Theo phương thức cung cấp những tri thức cần thiết để HS có thể tiếp cận tốt văn bản Sau đó đưa ra các bước cần

và có tính khả thi của quá trình đọc – hiểu văn bản (một phương án tiếp nhận, một thể nghiệm phân tích, một cách bình giả…) mà qua thực tiễn dạy học và nghiên cứu cuốn sách cho rằng hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu đọc – hiểu văn bản Cụ thể mỗi bài thực hành gồm các phần, mục sau:

Tri thức đọc – hiểu (về tác giả, về tác phẩm, một số khái niệm cần lưu

ý, gợi ý cách đọc

Yêu cầu đọc – hiểu (mục tiêu đọc – hiểu, tiến trình đọc – hiểu)

Tuy nhiên, cuốn sách cũng lưu ý tuỳ theo đặc trưng thể loại hoặc phương thức biểu đạt chính của văn bản và một số bài thực hành có thể điều chỉnh nhất định cho hợp lí và hiệu quả

Hiện nay, vấn đề đọc – hiểu xuất hiện rất nhiều trên các sách, báo, phương tiện thông tin đại chúng; trên các tạp chí chuyên ngành: báo văn học tuổi trẻ; báo giáo dục và thời đại; báo văn nghệ… đã được đưa vào vận dụng

Trang 11

Trong cuốn “Thi pháp hiện đại” do Đỗ Đức Hiểu đã tập hợp từ hai

cuốn “Đổi mới phê bình văn học” (1994) và đổi mới đọc và bình văn (1999) Trong đó nội dung trọng tâm là thi pháp truyện và giảng dạy truyện Nhưng công trình này mới dừng lại và thành công trên bình diện nghiên cứu, phê bình, chưa đề cập đến phương pháp giảng dạy

Cuốn “Tìm hiểu tác giả, tác phẩm văn học” do Nguyễn Trọng Hoàn

(chủ biên) NXB GD 2006 Cũng đề cập đến việc đọc – hiểu tác phẩm theo đặc trưng thể loại, nâng cao năng lực tự học cho HS Trang bị cho HS những đặc trưng cơ bản của từng thể loại, từ đó giúp HS có kĩ năng nhận biết và cảm thụ, chiếm lĩnh tác phẩm

Tất cả các công trình nghiên cứu trên đã đóng góp rất lớn cả về lí luận

và thực tiễn cho hoạt động đọc – hiểu Với đề tài này tác giả khoá luận một mặt kế thừa những công trình đi trước, mặt khác vận dụng sáng tạo những kết quả đó, để khoá luận thực sự trở thành một công trình đắc lực, một tài liệu tham khảo khi dạy học Ngữ Văn đặc biệt là văn học Việt Nam sau 1975

3 Đối tượng nghiên cứu

Trên cơ sở lí thuyết tiếp nhận văn học và cơ sở lí luận về thể loại tự sự Việt Nam hiện đại sau 1975, từ đó ứng dụng vào dạy học đọc – hiểu tác phẩm

tự sự hiện đại Việt Nam sau 1975 theo đặc trưng thể loại Qua đó, hướng dẫn

HS đọc – hiểu những tác phẩm sau 1975 trong nhà trường THPT cụ thể là lớp 12

4 Mục đích nghiên cứu

Khoá luận tiến tới xác lập các hoạt động, các bước dạy học tác phẩm tự

sự hiện đại Việt Nam sau 1975 theo phương pháp đọc – hiểu

Với đề tài “Đọc - hiểu tác phẩm tự sự Việt Nam hiện đại sau 1975 trong nhà trường THPT theo đặc trưng thể loại” người nghiên cứu hi vọng

góp phần nâng cao chất lượng dạy học tác phẩm tự sự theo phương pháp đọc – hiểu nói chung và tác phẩm tự sự sau 1975 nói riêng

Trang 12

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khoá luận cần tiến hành những nhiệm vụ sau:

Nghiên cứu lí thuyết tiếp nhận và đọc hiểu tác phẩm văn học

Xác lập cách đọc – hiểu tác phẩm tự sự Việt Nam hiện đại sau 1975 trong chương trình Ngữ Văn THPT theo đặc trưng thể loại thông qua một số truyện ngắn ở SGK Ngữ Văn lớp 12

Thể nghiệm giáo án thực nghiệm

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài khoanh vùng giới hạn vì vậy tập trung triển khai vào việc xác định cách đọc – hiểu tác phẩm tự sự Việt Nam hiện đại sau 1975 trong chương trình THPT, cụ thể là lớp 12 Cả tiết học chính và tiết học thêm theo đặc trưng thể loại tự sự Điều đó được minh chứng cụ thể qua hai giáo án:

1) Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)

2) Một người Hà Nội (Nguyễn Khải)

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Phương pháp khái quát lí luận

- Phương pháp so sánh - đối chiếu

Trang 13

+ Chương 2: Đọc – hiểu tác phẩm tự sự Việt Nam hiện đại sau 1975 + Chương 3: Giáo án thực nghiệm

- Phần kết luận

Trang 14

để tạo ra sự thành công của một tác phẩm Nhưng để tìm ra hướng đi đúng đắn và phù hợp nhất người đọc, người học cần trang bị cho mình những tri thức cơ bản về tiếp nhận để từ đó cảm thụ được giá trị của tác phẩm mà nhà văn gửi gắm và bài học cho chính mình

1.1.1.1 Khái niệm tiếp nhận tác phẩm văn học

Có rất nhiều ý kiến đề cập đến vấn đề tiếp nhận

Theo từ điển tiếng Việt: NXB Đà Nẵng 2006 [tr.988]

“Tiếp nhận” là đón nhận cái từ nơi khác, người khác chuyển đến cho mình

Trong cuốn giáo trình “Lí luận văn học” do Phương Lựu (chủ biên)

NXB GD.2005 tr221 cho rằng: Sự tiếp nhận văn học là chuyển nội dung văn bản thành một thế giới tinh thần, biến tác phẩm thành một thế giới tinh thần, biến tác phẩm thành yếu tố của đời sống ý thức xã hội

Trong cuốn “Đọc và tiếp nhận văn chương” GS Nguyễn Thanh Hùng

cho rằng: Tiếp nhận tác phẩm văn học là quá trình đem lại cho người đọc sự hưởng thụ và hứng thú trí tuệ hướng vào hoạt động để củng cố và phát triển

Trang 15

Các tác giả của cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” Lê Bá Hán, Trần

Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi [tr.235] cho rằng: Tiếp nhận tác phẩm văn học là hoạt động chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, tình cảm, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ của tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc: cách hiểu; ấn tượng trong khi nhớ; ảnh hưởng trong hành động sáng tạo; bản dịch chuyển thể…

Như vậy, có rất nhiều quan niệm đề cập đến vấn đề tiếp nhận tác phẩm văn học: Nhưng thực chất tiếp nhận văn học chính là một cuộc giao tiếp; đối thoại tự do giữa người đọc và tác giả thông qua tác phẩm Vì vậy,để chiếm lĩnh được giá trị thẩm mĩ của tác phẩm người đọc phải hoà mình vào tác phẩm, rung động trước nó, đi lại bước đi của nhà văn, lắng nghe, thưởng thức cái hay cái đẹp; cần huy động kinh nghiệm sống, vốn hiểu biết, trình độ để khám phá ý nghĩa của từng chữ vốn khô khan thành một thực thể có hồn sinh động Dạy đọc – hiểu tác phẩm văn học thì vấn đề tiếp nhận là một khâu rất quan trọng để tạo nên hiệu quả của giờ học; đem lại hứng thú và kĩ năng chiếm lĩnh tác phẩm cho HS

1.1.1.2 Đặc điểm hoạt động tiếp nhận văn học

Để tạo nên sản phẩm văn học chịu sự chi phối của các yếu tố: thời đại; nhà văn; tác phẩm; bạn đọc Trong đó nhà văn và bạn đọc là yếu tố quan trọng hàng đầu Tác phẩm văn học chỉ ra đời khi có sự sáng tạo của nhà văn; mặt khác tác phẩm văn học chỉ được gọi là tác phẩm khi được bạn đọc tiếp nhận Như vậy nhà văn và bạn đọc chi phối rất lớn đến sự thành công của tác phẩm

a) Con đường làm ra tác phẩm của nhà văn

Trong quá trình tạo ra tác phẩm thì nhà văn đóng vai trò quan trọng nhất Mục đích sáng tác của nhà văn là biến đối tượng khách quan thành đối tượng chủ quan nhằm thoả mãn nhu cầu thẩm mĩ của xã hội Quá trình biến

Trang 16

đổi đó gọi là quá trình sáng tác Để làm được điều này đòi hỏi nhà văn phải có những năng lực và phẩm chất quan trọng Năng lực và phẩm chất đòi hỏi nhà văn phải có: một trực giác nhạy bén; tâm hồn giàu cảm xúc Luôn mở rộng để đón nhận những âm vang của cuộc đời bằng khả năng quan sát tinh tế và vốn tích luỹ của cuộc sống

Năng khiếu bẩm sinh là yếu tố không thể thiếu để hình thành tài năng văn học Nhưng nhà văn phải biết trau dồi, rèn luyện về mọi mặt tư tưởng; tình cảm; bản lĩnh; nhân cách; vốn văn hoá… kết hợp cả năng khiếu văn chương và năng lực cảm thụ nhà văn sẽ sáng tạo ra tác phẩm có giá trị

Trong thực tế diễn ra rất đa dạng, sự đa dạng này phụ thuộc vào đặc điểm tâm lí, cá tính của nhà văn, đặc điểm thể loại mà nhà văn sáng tác Trên những nét chung nhất của quá trình sáng tác cũng phải tuân thủ theo các bước

cơ bản sau: Hình thành ý đồ sáng tác > giai đoạn chuẩn bị > giai đoạn viết

-> giai đoạn sửa chữa Có thể nói rằng con đường làm ra tác phẩm của nhà văn xét trên bình diện tiếp nhận là tương đối gian khổ để tạo ra nhịp cầu nối kết giữa tác giả với đời sống và bạn đọc Thông qua tác phẩm người đọc có thể hiểu được những điều mà nhà văn muốn gửi gắm

Người đọc là người tiếp nhận văn bản nghệ thuật của nhà văn và cấp cho nó một số phận lịch sử Không có người đọc văn bản chỉ tồn tại ở khía

Trang 17

Sự tiếp nhận tác phẩm văn học phụ thuộc vào đặc điểm của bạn đọc Về mặt khách quan sự tiếp nhận của bạn đọc phụ thuộc vào đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm (thể loại tác phẩm) phương pháp nghệ thuật của tác giả Về mặt chủ quan sự tiếp nhận của bạn đọc phụ thuộc vào chính các đặc điểm cá nhân của bạn đọc: nỗi niềm của cá nhân khi đọc tác phẩm, trở thành cá tính, trình

độ văn hoá, thời đại đang sống

Con đường tiếp nhận của bạn đọc: để chiếm lĩnh tác phẩm:

Tác phẩm văn học ra đời là kết quả của quá trình tư duy nghệ thuật, kinh nghiệm sống, vốn hiểu biết về cuộc sống của nghệ sĩ Qua đó nhà văn khái quát đời sống để người đọc nắm bắt một cách dễ dàng và hiệu quả nhất

Vì thế, tác phẩm văn học chỉ trở thành một sinh thể có hồn, sống động khi có

sự đón nhận của người đọc với tất cả trái tim, tâm hồn, năng lực…

Quá trình tiếp nhận bất kì một tác phẩm văn học nào cũng phải tuân thủ theo những bước nhất định, tiếp nhận tác phẩm tự sự không nằm ngoài sự quy định đó; quá trình tiếp nhận tác phẩm tự sự trải qua những bước sau:

* Trước hết: tiếp nhận đòi hỏi người đọc phải biết tri giác; cảm thụ tác phẩm qua việc nắm vững và hiểu biết về ngôn ngữ, nhân vật, cốt truyện… để

có thể cảm nhận được hình tượng một cách trọn vẹn trong mối liên hệ với các yếu tố khác Thực hiện được yêu cầu này là người đọc đã tiến hành xong hoạt động đọc, đây là sự khởi đầu của quá trình tiếp nhận tác phẩm Dù là đọc văn bản theo cách nào đi nữa thì cuối cùng người đọc cần nắm được tác phẩm Ở mỗi thể loại có một cách đọc riêng: trữ tình cần chú ý tới cảm xúc, nhịp điệu… Thể loại tự sự thì chú ý tới cốt truyện, nhân vật, người kể truyện; Kịch chú ý tới xung đột kịch Vì vậy, cần có cách đọc phù hợp với từng thể loại để tiếp cận tác phẩm đạt được hiệu quả cao nhất

* Tiếp theo là hoạt động phân tích

Trang 18

Tác phẩm văn học là một chỉnh thể thống nhất giữa nội dung và hình thức Phân tích tác phẩm văn học là thao tác chia nhỏ, tháo gỡ tất cả những yếu tố có mối quan hệ vốn không thể tách rời nhau trong một chỉnh thể nghệ thuật, sau đó lắm ghép, tổng hợp lại Qua phân tích người đọc phát hiện ra ý

đồ của nghệ sĩ thông qua khai thác hình tượng được tác giả kết tinh tư tưởng, tình cảm của mình Tuy nhiên, trong quá trình phân tích người đọc cần xác định trọng tâm từ đó thâm nhập và khái quát nội dung tư tưởng mà tác giả gửi gắm

* Hoạt động cắt nghĩa:

Đây là hoạt động quan trọng của quá trình tiếp nhận Cắt nghĩa là để làm rõ ý nghĩa của tác phẩm, không chỉ dừng lại ở ý nghĩa tường minh của tác phẩm mà phải cắt được nghĩa hình tượng của tác phẩm để từ cái được phản ánh nhận thức được biểu hiện trong tác phẩm Thông qua hoạt động cắt nghĩa nhằm đưa hình tượng trong tác phẩm vào hiện thực đời sống, qua đó người đọc với những hiểu biết, kinh nghiệm, trình độ, tình cảm… của mình tìm ra nội dung, ý nghĩa, dụng ý nghệ thuật mà nhà văn gửi gắm Tạo ra sự đa nghĩa của tác phẩm vì vốn hiểu biết, quan niệm của người đọc là không hoàn toàn giống nhau

* Hoạt động bình giá:

Đây là bước cuối cùng của hoạt động tiếp nhận Quá trình này dựa vào

ba hoạt động trên: hoạt động đọc, phân tích, cắt nghĩa Hoạt động này tạo điều kiện bộc lộ cái nhìn chủ quan của mỗi cá nhân người đọc: có thể đồng tình, phản đối, khen, chê… vẫn có thể chấp nhận được Tuy nhiên cần tránh khỏi thái độ phiếm diện, chủ quan, bảo thủ… Vì tác phẩm văn học được tạo ra là quá trình gian khổ, đặc biệt với những tác phẩm lớn chứa đựng nội dung, tư

Trang 19

Như vậy, để chiếm lĩnh tác phẩm văn học người đọc phải huy động những hiểu biết của mình, tuân thủ những thao tác tiếp nhận để chiếm lĩnh tác phẩm một cách toàn diện nhất

c) Những khó khăn khi tiếp nhận tác phẩm văn học

Văn học luôn gắn liền với hoàn cảnh lịch sử nhất định của từng thời đại Vì vậy khi tiếp nhận tác phẩm văn học cũng gặp phải những khó khăn vì thời đại của tác phẩm mà nghệ sĩ sáng tạo ra với thời đại mà người đọc tiếp nhận là khác nhau: đòi hỏi người đọc phải có vốn hiểu biết về lịch sử, về văn hoá, về tư tưởng, quan niệm… của hoàn cảnh mà tác phẩm ra đời, từ đó để hiểu giá trị tư tưởng nhà văn gửi gắm

Một khó khăn không nhỏ khi tiếp nhận tác phẩm văn học là sự khác biệt về phong cách thời đại: như thời trung đại văn chương bị chi phối nhiều

về quan niệm trung quân ái quốc, văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí; thơ mới giai đoạn (1930 – 1945) thì cái tôi cá nhân được bộc lộ…; sự khác biệt về ngôn ngữ: trung đại chủ yếu sáng tác bằng chữ Hán… Bên cạnh đó ngôn ngữ địa phương, các điển tích, điển cổ… làm người đọc gặp phải rất nhiều khó khăn khi tiếp nhận tác phẩm văn chương

Đặc biệt thời đại công nghệ thông tin hiện nay, không có nhiều thời gian cho việc cảm thụ tác phẩm văn học: thị hiếu về tiểu thuyết, kể cả truyện ngắn giảm sút nghiêm trọng

Với đề tài “Đọc – hiểu tác phẩm tự sự Việt Nam hiện đại sau 1975 trong nhà trường THPT theo đặc trưng thể loại”, tác giả khoá luận mong

muốn rút ngắn những khoảng cách, những khó khăn thông qua phương pháp đọc – hiểu theo đặc trưng thể loại

1.1.2 Vấn đề thể loại và quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học

1.1.2.1 Khái niệm thể loại

Theo từ điển Tiếng Việt:

Trang 20

Thể loại là hình thức sáng tác văn học, nghệ thuật, phân chia theo phương thức phản ánh hiện thực, vận dụng ngôn ngữ

Vậy thể loại văn học được hiểu như thế nào?

Thể loại là một phạm trù của lí luận văn học, chỉ hình thức tồn tại cụ thể của tác phẩm văn học với những đặc điểm lặp đi lặp lại tương đối ổn định trong tiến trình lịch sử về các mặt: hình tượng, ngôn ngữ, bố cục, thể thức, dung lượng Đây là một khái niệm gộp bao gồm hai khái niệm là “loại” và

“thể”

Loại: Theo từ điển Hán Việt “loại” được hiểu là “loại hình” Đó là phương thức mà người nghệ sĩ sử dụng để nhận thức, khám phá đời sống khách quan, để tái hiện ra đời sống và sáng tạo ra hình tượng nghệ thuật Thông qua hình tượng nghệ thuật để thể hiện tư tưởng, tình cảm Đồng thời loại hình cũng quy định việc giao tiếp với tác phẩm văn học (nhà văn)

Khái niệm “loại” xuất hiện ở phương Tây từ thời Hi Lạp cổ đại, người

đề xướng đầu tiên là Arixtôt Theo ông loại hình có ba loại cơ bản, tuy ngày nay có nhiều cách phân chia khác nhau nhưng phần lớn đồng tính với quan điểm của Arixtôt Theo ông mỗi loại có những đặc trưng riêng: Tự sự là tác phẩm văn học sử dụng phương thức kể để tái hiện đời sống; trữ tình thiên về bày tỏ cảm xúc; kịch tập trung thể hiện thông qua xung đột, hành động

Loại hình phản ánh tính quy luật của văn học (tính ổn định) vì mọi tác phẩm đều thuộc một loại nào đó Đồng thời chỉ ra tính cá biệt của mỗi hình tượng văn học thể hiện ở những phương diện sau: mang đặc điểm riêng của một nền văn học; mang đặc điểm riêng của các trào lưu văn học; mang đặc điểm riêng cá tính của nhà văn

Thể (thể tài) là phương thức tổ chức hình thức thiên về ngôn ngữ của

Trang 21

phú Ví dụ trong thể loại tự sự có nhiều thể như: Truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, phóng sự… Loại rộng hơn thể, thể nằm trong loại Loại mang tính

ổn định và bền vững, còn thể thường xuyên vận động và biến đổi

“Thể” và “loại” là hai khái niệm tồn tại độc lập nhưng có mối quan hệchặt chẽ với nhau: “loại” là khái niệm lớn mang tính phương thức, “thể” là khái niệm nằm trong “loại” Vì vậy, người ta thường gộp thành khái niệm kép

“thể loại”

Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” [tr.299] thể loại được hiểu là: dạng

thức của tác phẩm văn học được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển của lịch sử văn học, thể hiện sự giống nhau về cách thức

tổ chức tác phẩm; về đặc điểm của các loại hình tượng đời sống được miêu tả

và về tính chất của mối quan hệ của nhà văn với các hiện tượng đời sống ấy

Như vậy, thể loại là hệ thống chỉnh thể của tác phẩm, nó chỉ ra quy luật loại hình của tác phẩm, trong đó một nội dung nhất định tương ứng với một hình thức nhất định Nó quy định phương thức nhận thức đời sống, quy định phương thức biểu hiện, quy định phương thức giao tiếp Vì vậy, khi in tác phẩm văn học tên tác phẩm và tên thể loại luôn đi liền nhau

1.1.2.2 Vai trò của thể loại đối với quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học

Thể loại – hình thức chỉnh thể của tác phẩm văn học có vai trò quan trọng với tiếp nhận tác phẩm văn học

Tác phẩm văn học bao giờ cũng là sự thống nhất giữa nội dung (đề tài, chủ đề, tư tưởng) và hình thức (kết cấu, biện pháp nghệ thuật, lời văn nghệ thuật) Tuỳ thuộc vào thể loại mà tác phẩm biểu hiện quan hệ thẩm mĩ khác nhau với hình thức

Thể loại tạo cho tác phẩm văn học một kênh giao tiếp với người đọc (tự

sự khác với trữ tình; khác với kịch) Vì vậy thông tin về thể loại tác phẩm văn học rất cần thiết đối với quá trình sáng tác và tiếp nhận văn học

Trang 22

Thể loại tác phẩm văn học là một loại hình của sáng tác và tiếp nhận văn học, hình thành trên cơ sở của sự lặp đi lặp lại có tính quy luật của các yếu tố trong tác phẩm, là căn cứ để phân loại tác phẩm Tính quy luật như một nguyên tắc để xây dựng thế giới nghệ thuật Khi nghiên cứu có thể nhận ra sự

kế thừa với giai đoạn văn học trước và vai trò của nó với việc tiếp nhận

Thể loại văn học thuộc phạm trù lí luận văn học, thuộc khoa học của văn chương Lí luận văn học ảnh hưởng trực tiếp đến việc dạy và học trong nhà trường phổ thông Tiếp nhận văn học là vấn đề liên quan đến hoạt động dạy và học – là cơ sở của phương pháp dạy và học thuộc khoa học giáo dục Thể loại có tác động lớn đến tiếp nhận văn học, vì tác giả sáng tác theo thể loại; người dạy dạy theo đặc trưng thể loại, người đọc tiếp nhận theo thể loại

Vì vậy phương pháp sáng tác của nhà văn quy định đến cách thức cảm thụ của người học, người đọc

Để tiếp nhận tác phẩm văn học theo quy luật thẩm mĩ, người tiếp nhận phải biết tác phẩm đó viết cái gì? viết bằng cách nào? viết như thế nào? Ngoài

ra muốn hiểu sâu tác phẩm phải khám phá và tìm ra con đường nhà văn đã đi Nắm được đặc trưng về thể loại để chiếm lĩnh tác phẩm một cách hiệu quả nhất

1.1.3 Đọc – hiểu tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại – một con đường tiếp nhận tác phẩm văn học

Đọc – hiểu là hoạt động diễn ra giữa hai thành tố tác động qua lại lẫn nhau:

Người đọc (chủ thể): thông qua văn bản bằng cảm xúc của mình; khả năng tri giác, chuyển ngôn ngữ thành những thông tin thẩm mĩ đầy đủ nhất của hình tượng nghệ thuật

Văn bản (đối tượng) từ hệ thống tín hiệu là ngôn ngữ trở thành đối

Trang 23

niềm khao khát sống mãnh liệt, sống hết mình và quan niệm về thời gian, tuổi trẻ, hạnh phúc của nhà thơ Đồng thời, rút ra cho mình bài học hãy quí trọng từng giây, từng phút của đời mình nhất là những tháng năm của tuổi trẻ;

Hay trong “Mùa lá rụng trong vườn” (Ma Văn Kháng) thông qua nhân

vật Hoài và ông Bằng trong chiều 30 tết, người đọc thấy được sự quan sát tinh

tế và cảm nhận tinh nhạy của nhà văn về những biến động thay đổi trong tư tưởng tâm lí con người Việt Nam trong giai đoạn xã hội chuyển mình Qua đó người đọc càng trân trọng những giá trị truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc

Thông qua đọc, người đọc phát hiện, khám phá được những diễn biến,

sự kiện, xung đột trong tác phẩm, qua đó nắm được nội dung, tư tưởng, dụng

ý nghệ thuật mà nhà văn gửi gắm

Có rất nhiều cách khám phá tác phẩm văn học: nghe kể chuyện đọc, xem phim; nghe đài… nhưng đọc – hiểu tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại là một trong những phương pháp hữu hiệu để người học, người đọc khai thác và chiếm lĩnh tác phẩm Đồng thời phù hợp với chương trình đổi mới hiện nay: dạy phần văn theo phương pháp đọc – hiểu là nhiệm vụ trọng tâm

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Vị trí- vai trò của văn học Việt Nam hiện đại sau 1975 trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam

Nền văn học Việt Nam có thể chia ra làm hai giai đoạn lớn:

- Văn học trung đại: Từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX

- Văn học hiện đại: Từ đầu thế kỉ XX đến hết thế kỉ XX, tiếp nối thế kỉ XXI

Tìm hiểu, nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại sau 1975 không thể tách rời sự vận động biến đổi tiến trình phát triển của văn học dân tộc Bởi một đặc trưng cơ bản của phương pháp sáng tác không thể thiếu đó là tính kế

Trang 24

thừa thành tựu của các giai đoạn văn học trước nó Theo cuốn: “Lịch sử văn học Việt Nam” tập 3 [tr.39] Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) thì văn học Việt

Nam hiện đại có thể chia làm 5 thời kì nhỏ gắn với hoàn cảnh lịch sử của dân tộc:

+ Từ 1945 -> 1946: Văn học trong những ngày hội lớn của cách mạng + Từ 1946 -> 1954: Văn học thời kì kháng chiến chống Pháp

+ Từ 1954 -> 1964: Văn học thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược : Xây dựng CNXH ở miền Bắc; đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

+ Từ 1964 -> 1975: Văn học trong cao trào kháng chiến chống Mĩ + Văn học sau 1975: Văn học hậu chiến và đổi mới

Như vậy, văn học bắt nguồn từ hoàn cảnh lịch sử đất nước, bám sát hiện thực đời sống Lịch sử biến đổi thì văn học thay đổi để phục vụ và đáp ứng nhu cầu đời sống xã hội Văn học sau 1975 không nằm ngoại lệ đó

1.2.2 Vị trí – vai trò của văn học Việt Nam hiện đại sau 1975 trong nhà trường phổ thông

Trước năm 2007 văn học Việt Nam hiện đại sau 1975 chưa được đưa vào giảng dạy đại trà, mà chỉ mới được đưa vào giảng dạy thí điểm Vì vậy, văn học sau 1975 chưa có được vị trí cho mình Nhưng văn học luôn gắn với hoàn cảnh lịch sử của từng thời kì, gắn liền với sự vận động của xã hội Vì thế

để văn học sau 1975 hoà vào tiến trình phát triển của nền văn học dân tộc, trên tinh thần đổi mới nội dung và chương trình để thấy được bước đi toàn diện của nền văn học, vị trí của văn học sau 1975, từ năm học 2007 – 2008 văn học sau 1975 chính thức được đưa vào giảng dạy đại trà ban cơ bản và ban nâng cao Vì thế hàng loạt các tác phẩm sau 1975 còn rất mới, xa lạ đối

Trang 25

được đưa vào chương trình SGK Ngữ Văn lớp 12 bao gồm những tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau

Truyện ngắn: “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu); “Một người Hà Nội” (Nguyễn Khải); Tiểu thuyết: trích đoạn “Mùa lá rụng trong vườn” (Ma Văn Kháng); Thơ: Đàn ghi ta của Lor-Ca (Thanh Thảo); Đò Lèn (Nguyễn Duy); Kịch: “Hồn Trương Ba da hàng thịt” (Lưu Quang Vũ)

Có thể thấy được văn học Việt Nam hiện đại sau 1975 được đưa vào giảng dạy thuộc đầy đủ các thể loại: tự sự, trữ tình, kịch, với nội dung, tư tưởng có nhiều điều mới lạ tạo ra sự hấp dẫn, lôi cuốn HS Vì những tác phẩm này đề cập đến những vấn đề hiện thực cuộc sống gần gũi với thời đại mà các

em đang sống Đặc biệt thể loại kịch lần đầu tiên đưa vào chương trình đã tạo

ra động lực rất lớn cho HS tìm tòi và khám phá những đặc trưng của thể loại mới, là cơ sở để khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm mới

Cùng với dòng chảy của các giai đoạn văn học trước đó, văn học Việt Nam hiện đại sau 1975 đã và đang tìm được chỗ đứng và ngày càng khẳng định được vị trí của mình trong tiến trình phát triển của nền văn học Việt Nam Với những lợi thế về phong cách, phương pháp sáng tác… kế thừa từ giai đoạn văn học trước đó; đặc biệt là với hiện thực và các điều kiện kinh tế

xã hội phát triển; nhu cầu của bạn đọc, đã tạo điều kiện rất lớn cho các nhà văn đi sâu vào khai thác thế giới nội tâm, những số phận đời tư, những mảnh đời bé nhỏ không ở đâu xa mà ngay trên mặt đất, ở xung quanh chúng ta Vì thế văn học sau 1975 đã trở thành tâm điểm; sự quan tâm lớn đối với các nhà giáo dục; đối với HS

Với khả năng phản ánh hiện thực sâu sắc, toàn diện văn học Việt Nam hiện đại sau 1975 tác động và có vai trò rất lớn đối với hoạt động tiếp nhận và quá trình nhận thức của HS, ngày càng khẳng định được vị trí của mình không

Trang 26

thể thiếu trong nền văn học nói chung và trong nhà trường phổ thông nói riêng

Trang 27

CHƯƠNG 2: ĐỌC – HIỂU TÁC PHẨM TỰ SỰ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

SAU 1975 THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI

Theo từ điển tiếng Việt: NXB Hà Nội - Đà Nẵng 2006 Viện Ngôn ngữ

[tr.1077]:

“Tự sự là thể loại văn học phản ánh hiện thực bằng cách kể lại sự việc, miêu tả tính cách qua cốt truyện tương đối hoàn chỉnh”

Theo giáo trình học lí luận văn học, NXB Giáo dục [tr.375]

“Tác phẩm tự sự là loại tác phẩm phản ánh đời sống trong quá trình khách quan của nó, qua con người, hành vi sự kiện được kể lại bởi một người

kể chuyện nào đó”

Trong SGK Ngữ văn lớp 10 tập 1 [tr.61]: “Tự sự (kể chuyện) là

phương thức trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa”

Trang 28

Theo từ điển thuật ngữ văn học, Lê Bá hán, Trần Đình Sử, Nguyễn

Khắc Phi, NXB Văn học - ĐH Quốc gia Hà Nội [tr.385] “tự sự là phương thức tái hiện đời sống bên cạnh hai phương diện khác là trữ tình và kịch, được dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học”

Có thể nói ở mỗi lĩnh vực, mỗi góc độ khái niệm tự sự được hiểu là khác nhau, nhưng đều có những điểm chung Vì vậy,có thể khái quát khái niệm tự sự như sau: Tự sự là một thể loại văn học phản ánh cụ thể hiện thực đời sống khách quan, bằng cách kể lại sự việc, sự kiện, miêu tả tính cách nhân vật, chi tiết có đầu đuôi thông qua cốt truyện tương đối hoàn chỉnh và được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó

2.1.2 Cách phân chia thể loại tự sự

Khi nói đến tác phẩm tự sự là nói đến tập hợp một khối lượng rất lớn của tác phẩm văn học có đặc điểm là phản ánh đời sống khách quan bằng phương thức kể Nhưng mỗi tác phẩm văn học lại tồn tại dưới một chỉnh thể duy nhất, mỗi một giai đoạn lịch sử phát triển văn học tạo ra một kiểu, một loại và mỗi phương pháp sáng tác nó sẽ ảnh hưởng và chịu tác động trực tiếp với loại hình ấy để tạo nên tác phẩm cụ thể Vì vậy phân loại tác phẩm tự sự

có rất nhiều cách khác nhau:

Theo lịch sử văn học có thể phân chia thành: tự sự dân gian (thần thoại,

sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích…); tự sự trung đại và tự sự hiện đại

Dựa vào dung lượng người ta phân chia tự sự thành: truyện ngắn, truyện vừa và truyện dài (tiểu thuyết)

Theo phương thức sáng tác tự sự có thể phân chia thành: tự sự cổ điển,

tự sự phục Hưng; tự sự hiện thực; tự sự lãng mạn; tự sự hiện thực xã hội chủ nghĩa

Trang 29

Nết xét ở hình thức lời văn thì tự sự tồn tại dưới hai dạng là văn xuôi và văn vần Ngoài ra, cũng có thể phân chia tự sự theo phong cách thời đại và phong cách của người nghệ sĩ

Như vậy, có thể thấy rằng quan niệm về sự phân chia thể loại tự sự có nhiều cách khác nhau, vì vậy cần nắm vững đặc trưng của tác phẩm để xếp tác phẩm đó và thể loại và tiêu chí phù hợp nhất Do phạm vi đề tài nên khoá luận chỉ nghiên cứu thể loại tự sự Việt Nam hiện đại sau 1975 trong nhà trường THPT

2.1.3 Đặc trưng của thể loại tự sự Việt Nam sau 1975

Mỗi thể loại văn học đều mang những đặc trưng riêng, thể loại tự sự không nằm ngoài quy luật đó Nếu như tác phẩm trữ tình mang những đặc trưng: tính hình tượng cảm xúc; nhân vật trữ tình; ngôn ngữ trữ tình thì tác phẩm tự sự bao gồm những đặc điểm riêng; cơ bản nhất của loại hình tự sự,

để từ đó người ta có thể nhận ra bản chất của đối tượng, tác phẩm tự sự gồm 3 đặc trưng: cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ

Nhưng văn học luôn gắn liền với thời đại, gắn liền với hoàn cảnh nên thể loại tự sự Việt Nam hiện đại sau 1975 mang đầy đủ những đặc trưng của thể loại tự sự; kế thừa – những thành tựu của giai đoạn văn học trước, đồng thời có những nét riêng, đổi mới

Từ Đại hội Đảng lần VII (1986) với phương châm “đổi mới toàn diện”

vì vậy văn học cũng phải đổi mới Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật” từ

đó “đánh giá đúng sự thật”, có cái nhìn tổng quát về xã hội, số phận con người trong sự vận động và biến đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của độc giả Văn học sau 1975 hoà trong không khí đổi mới của đất nước đã bước vào thời kì dân chủ hoá trong văn học; tư duy nghệ thuật của người nghệ sĩ có nhiều đổi mới, đã kéo theo sự thay đổi: Cốt truyện nhân vật, ngôn ngữ, nhìn con người, cuộc sống một cách đa chiều, đa diện

Trang 30

2.1.3.1 Cốt truyện

Đã là truyện thì phải có cốt truyện, vì vậy cốt truyện được coi là đặc trưng cơ bản nhất Bởi bẩn chất của tự sự là kể chuyện mà để kể được chuyện thì phải có cốt truyện Vậy cốt truyện được hiểu như thế nào; đặc trưng của cốt truyện trong tác phẩm tự sự Việt Nam sau 1975 ra sao?

2.1.3.1.1 Quan niệm về cốt truyện và đặc trưng chung của cốt truyện

* Quan niệm về cốt truyện:

Theo từ điển tiếng Việt: Hoàng Phê (chủ biên) NXB KHXH Hà Nội

2006 [tr.276].: “Cốt truyện là hệ thống các sự kiện, là nòng cốt cho sự diễn biến các mối quan hệ và sự phát triển tính cách nhân vật trong tác phẩm văn học loại tự sự”

Trong cuốn từ điển thuật ngữ văn học [tr.99]:

Cốt truyện được hiểu là: “một hệ thống các sự kiện, các biến cố, các chi tiết làm nòng cốt để thể hiện diễn biến của cuộc sống, những xung đột xã hội trong đó có sự tham gia của con người với những tính cách hành động ngôn ngữ nội tâm trong các mối quan hệ và tác động lẫn nhau”

Còn ở cuốn giáo trình Lí luận văn học, GS Hà Minh Đức (chủ biên)

[tr.99] thì cốt truyện được hiểu là: một hệ thống các xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua đó các tính cách hình thành và phát triển qua lại trong những mối quan hệ qua lại của chúng nhằm làm sáng tỏ chủ đề và tư tưởng của tác phẩm

Có rất nhiều ý kiến xoay quanh vấn đề cốt truyện, nhưng có thể đi tới một cách hiểu chung nhất như sau: Cốt truyện là một tập hợp các sự kiện, sự việc, các biến cố, các tình tiết diễn ra trong tác phẩm được sắp xếp theo một trình tự lô gíc nhất định nào đó Cốt truyện có vai trò quan trọng đối với tác

Trang 31

* Đặc trưng của cốt truyện:

Trong tác phẩm tự sự thì cốt truyện là yếu tố tiên quyết, nói cách khác

nó là yếu tố không thể thiếu:

Cốt truyện có thể được tổ chức theo trục thời gian tồn tại hai kiểu: Thứ nhất: Tổ chức theo kiểu thời gian tuyến tính một chiều Ở đây các

sự kiện được sắp xếp theo trật tự trước sau, người ta gọi là trật tự khách quan

Thứ hai: Tổ chức theo trục thời gian phi tuyến tính (thời gian đa chiều thời gian tâm lí, là thời gian tương đối: Quá khứ có thể đan xen lẫn hiện tại, tương lai Cách sắp xếp này giúp cho cốt truyện tạo ra những ấn tượng ở những biến cố, sự kiện mà với người kể chuyện là rất quan trọng

Cốt truyện có thể được tổ chức theo trật tự không gian: Các sự kiện liên quan có thể xảy ra đồng thời ở những không gian khác nhau Các không gian phải được tái hiện theo một trật tự nào đó, để phù hợp với ý đồ của người kể chuyện

Cấu trúc của cốt truyện: Lí luận truyền thống cho rằng cốt truyện hoàn chỉnh có cấu trúc 5 phần: Mở đầu -> thắt nút -> phát triển -> cao trào -> mở nút Song không phải bao giờ cốt truyện cũng bao gồm đầy đủ và tách bạch các thành phần trên Vì vậy, một số truyện cốt truyện đơn giản dường như không có cốt truyện Nhưng dù tồn tại ở dạng thức nào phức tạp hay đơn giản thì nó cũng tồn tại dưới hình thức và quá trình gồm 3 bước: bắt đầu -> phát triển -> kết thúc Đây cũng chính là tính hệ thống của tác phẩm tự sự

Trong cốt truyện của tác phẩm tự sự được chia thành các cốt truyện đơn tuyến và đa tuyến Có nghĩa là trong tác phẩm ấy có hàng loạt các xung đột,

nó có thể tạo ra nhiều tuyến nhân vật khác nhau

Văn học gắn với lịch sử nên cốt truyện cũng có tính lịch sử, tuỳ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể mà cốt truyện mang những đặc trưng riêng của thời đại đó

Trang 32

Việc tổ chức cốt truyện nhằm thực hiện nhiệm vụ tạo ra những chiều hướng đường đời khác nhau cho các nhân vật, sự vận động của nhân vật trong môi trường, hoàn cảnh, từ đó bộc lộ bản chất của nhân vật và bản chất của chế

độ xã hội mà nhân vật đang sống

2.1.3.1.2 Đặc trưng của cốt truyện trong tác phẩm tự sự Việt Nam sau

1975

Đã là truyện thì phải có cốt truyện, dù là tác phẩm ở thời đại nào Vì vậy khi sáng tác, nghiên cứu, tìm hiểu cốt truyện cả nhà văn và bạn đọc đều phải quan tâm tới cốt truyện Xã hội trải qua những thăng trầm lịch sử khác nhau, cốt truyện không nằm ngoài sự biến đổi đó Từ truyện dân gian -> cổ điển -> cận đại -> hiện đại Tuy nhiên mỗi thời đại khác nhau lại có sự chi phối tới cốt truyện, điều đó phản ánh sự kế thừa và đổi mới của văn học giai đoạn sau 1975 Văn học hiện đại nói chung và tác phẩm tự sự hiện đại sau

1975 một mặt tiếp thu các thành tựu của các trào lưu, phương pháp sáng tác trước đó, một mặt mang trong mình những đặc trưng riêng

Nếu như văn học Việt Nam trước 1975 cốt truyện chủ yếu dựa vào những hành động bên ngoài, trong đó xung đột được thể hiện trọn vẹn và biến mất trong quá trình các sự kiện được miêu tả Nó xuất hiện quyết liệt và được

giải quyết ngay trước mắt người đọc: Chẳng hạn “Tắt đèn” (Ngô Tất Tố)

xoay quanh xung đột giữa người nông dân và địa chủ, phong kiến thông qua chính sách thuế khoá nặng nề; đặc biệt là trong văn học trung đại cốt truyện trải qua 5 bước Nhưng từ sau đổi mới 1975, đặc biệt sau những năm đổi mới dưới tác động của hoàn cảnh lịch sử mới, văn học đã chịu sự chi phối của quy luật thời bình, tư duy nghệ thuật của nhà văn thay đổi vì vậy cốt truyện đã có nhiều đổi mới

Trang 33

những thăng trầm trong tư tưởng, tâm lí nhân vật, cảm xúc… hoặc cốt truyện

là những câu chuyện bình thường, nhỏ bé Được viết một cách tự nhiên, không theo trật tự thời gian theo ý của tác giả Có thể nói cốt truyện của tác phẩm tự sự sau 1975 rất đa dạng nhưng nổi bật bao gồm những cốt truyện tiêu biểu sau:

Cốt truyện dựa vào những số phận đời tư: Khi những vấn đề nhân sinh

và số phận con người được quan tâm và đặt lên hàng đầu, thì cốt truyện về số phận đời tư là một trong những cốt truyện phổ biến Đó là dạng cốt truyện chủ yếu tái hiện những bước thăng trầm, uẩn khúc trong số phận cá nhân Cốt truyện không dừng lại ở một thời điểm và thường trải dài theo lịch sử của một

số phận, một cuộc đời với những xung đột chồng chéo Câu chuyện mở ra trên cái nền của “tình huống xung đột” hầu như không có cao trào, thắt nút,

mở nút theo kiểu cốt truyện truyền thống

Nguyễn Minh Châu có lần nhận xét: “Cuộc đời thì đa sự, con người thì

đa đoan” – nhận xét này có ý nghĩa thâu tóm cả bản chất phong phú, phức tạp của cuộc đời và con người Nên sau 1975 ông đi sâu vào cái lõi của hiện thực, tiếp cận với những vấn đề của đời thường

“Cỏ lau” được xây dựng trên những cơ sở, diễn biến tâm lí đầy mâu

thuẫn không thể giải quyết được, hầu hết các nhân vật đều chứa đựng đầy mâu thuẫn, dằn vặt Tất cả những mâu thuẫn để cuối cùng cốt đạt được tư tưởng: chiến tranh thật khủng khiếp, chiến tranh không chỉ chết chóc mà còn gây bao nhiêu nỗi đau tinh thần nhức nhối trong đời sống hậu chiến

Cũng nói về cái ác như một mầm bệnh ấp ủ trong người nếu ở “một lần đối chứng” đặt ra chỉ là vấn đề cảnh báo thôi thì sang “mùa trái cóc ở miền Nam” Nguyễn Minh Châu đã tổ chức một cách chặt chẽ yếu tố nghệ thuật để

xây dựng cốt truyện về sự hiện hình của cái ác trong mỗi con người cụ thể: Cuộc hội hộ sau hai mươi năm xa cách lẽ ra là một cuộc đoàn viên nhưng vì

Trang 34

xung đột nhân cách, niềm hi vọng, mong muốn đợi chờ của người mẹ và bi kịch xảy ra như một điều không thể tránh khỏi Người đàn bà ấy đã không theo chồng sang Mĩ, không ở lại với con gái trong ngôi biệt thự sang trọng, cũng không trụ trì bình thường ngôi chùa Thiện Linh Sau cuộc gặp gỡ với đứa con bà đã làm một người hành khất có thể với ý đồ tự hành xác vì đẻ ra đứa con bạc ác mà cũng có thể đó là một cách may ra đỡ tội cho con mình Toàn không những gây nên cái chết đối với Phác, nỗi nhục cho đồng đội mà anh còn làm tổn thương tình cảm của người mẹ đẻ ra mình Với cốt truyện này, khả năng phản ánh hiện thực được mở rộng

Cốt truyện sinh hoạt thể sự: Đây là những truyện được coi như không

có cốt truyện, thực chất đó là một loại truyện kể về “những việc đơn gian, bình thường” được xây dựng như một bức tranh đời sống: Không có mở đầu, kết thúc, không có những thắt nút hồi hộp Nó chỉ tái hiện những dòng đời đang trôi nổi tự nhiên

Trong “Hương và Phai” (Nguyễn Minh Châu) từ những câu chuyện

vụn vặt, ông đã cho người đọc thấy được ở đời những câu chuyện lớn có khi lại bắt đầu từ những chuyện tưởng đùa mà thật ra vẫn theo quy luật vĩnh hằng của đời sống và con người sinh ra đã có khả năng thích ứng với hoàn cảnh

Qua đó “đứa ăn cắp”, “sắm vai”, “lũ trẻ K” dường như chẳng có cốt truyện

gì vì đó là tiếng kêu; xót thương… nhưng xuất phát từ “cách nhìn động” đời sống từ một lòng tin mạnh mẽ vào con người và một thái độ quyết liệt chống thói vô cảm có nguy cơ huỷ hoại tâm hồn con người, làm nó cạn khô khả năng cảm thông với đồng loại Đó là thái độ phê phán của tác giả với hành vi

vô trách nhiệm với số phận và danh dự con người

Cốt truyện sinh hoạt thế sự cũng được thể hiện đậm nét trong sáng tác

Trang 35

nhà; Sư chùa Thắm và ông đại tá về hưu cũng đều hướng tới sự chiêm

nghiệm lẽ đời hay nếp sống hàng ngày

Bên cạnh cốt truyện số phận đời tư, cốt truyện thế sự sinh hoạt thì cốt truyện xây dựng trên nguyên tắc luận đề luận điểm về đạo đức, nhân văn, tâm

lí xã hội là một trong những cốt truyện phổ biến của văn học Việt Nam hiện đại sau 1975

Ở dạng cốt truyện này thì hạt nhân cốt lõi để tạo nên cốt truyện thường

là một xung đột đầy nghịch lí, mang tính chất bi kịch, giúp người đọc tới sự phản tỉnh trong nhận thức về một quan niệm tư tưởng vốn có Nó không có biến cố, không có những xung đột và đột biến khép kín, sự việc mà tác gỉa đề cập trong truyện chỉ là “sự bổ sung cho các mâu thuẫn đã có sẵn bất chấp có

sự việc đó hay không” (Pôxpôlôp)

Sau khi đất nước thống nhất, hoà bình lặp lại, con người trở về với cuộc sống thường nhật, những vấn đề to lớn về vận mệnh dân tộc nhường chỗ cho những chuyện đời thường, nhỏ nhặt gần gũi với con người nhưng mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc; trong thời kì đổi mới nhiều vấn đề đạo đức, nhân sinh được nhiều nhà văn đề cập đến

Từ những chuyện diễn ra xung quanh cuộc sống, tưởng như không có

gì đáng nói, đang quan tâm nhưng Nguyễn Minh Châu đã thể hiện trong mỗi sáng tác với đầy băn khoăn và trăn trở khi đi sâu vào cái lõi của hiện thực

Truyện ngắn “Bức Tranh” mà lần đầu tiên con người được coi như một

đối tượng để khám phá nội tâm Những cuộc đối thoại ráo riết, ngày càng căng thẳng diễn ra trong tâm hồn người hoạ sĩ khi anh ta nhận ra lỗilầm không thể biện minh được của mình, buộc anh ta phải tự nhận thức lại chính bản thân mình “Cuộc tự nhận thức” đó diễn ra hoàn toàn trong im lặng vì người cắt tóc và những khán giả yêu mĩ thuật đều không hay biết Chỉ có chiếc gương mang “chân dung tự hoạ” với cái mặt có hai nửa khác nhau của

Trang 36

người hoạ sĩ mỗi lần ông đến cắt tóc là một nhân chứng về những cuộc đối thoại thể hiện tính chất quyết liệt trong việc buộc bản thân người hoạ sĩ phải nhìn thẳng vào con người thật của mình

Nhân vật Nhĩ trong “Bến quê” người “từng đi không sót một xó xỉnh

nào trên trái đất” cho đến lúc ốm liệt giường mới phát hiện ra được mình “để quên” cái bên sông tuyệt đẹp ở cạnh nhà và ước ao được đặt chân lên bờ bên kia, dù chỉ “để đi chơi loanh quanh rồi ngồi xuống nghỉ chân ở đâu đó một lát lại quay về” Nhưng “lực bất tòng tâm”, Nhĩ đành phải nhò đứa con mình sang cái bên sông ấy với ý nghĩa chí ít cũng vơi đi được nỗi ân hận trong lòng Và lịch sử đã lặp lại: đứa con hết sà vào chỗ này lại sà vào chỗ khác chứ nào nó có để ý đến cái bến sông kia Cái ước mơ cuối đời của Nhĩ dù đơn giản

đến vậy cũng không thể thực hiện được Thông qua “Bến quê” Nguyễn Minh

Châu muốn nhằn gửi thông điệp mới mẻ về cuộc đời, con người và số phận con người chứa đựng những nghịch lí bất thường nhưng khả năng của con người thì có hạn

Hay trong “Chiếc thuyền ngoài xa” từ mâu thuẫn giữa phát hiện thứ

nhất của nghệ sĩ Phùng “cảnh đắt trở cho” đầy thơ mộng với phát hiện thứ hai đầu trớ trêu của gia đình làng chài Đã giúp người đọc nhận ra được bản chất của cuộc sống đa chiều, nhiều dạng Từ đó đưa ra bài học con người ta không

ai hoàn hảo nhưng biết được những khiếm khuyết của mình để sửa sai

Không chỉ Nguyễn Minh Châu mà trong hàng loạt tác phẩm của Ma

Văn Kháng: “Mưa mùa hạ”; “Mùa lá rụng trong vườn”… cũng tiêu biểu

cho cốt truyện này

“Mùa lá rụng trong vườn” viết về những mâu thuẫn, xung đột lúc âm

thầm, khi công khai giữa các thành viên trong gia đình ông Bằng, một gia

Trang 37

cảm quan hiện tực tác giả bày tỏ niềm lo âu sâu sắc cho các giá trị truyền thống trước sự thay đổi của thời cuộc

Như vậy có thể thấy rằng cốt truyện tự sự Việt Nam hiện đại sau 1975 khá phong phú, đa dạng với nhiều kiểu khác nhau, thể hiện tài năng, phong cách sáng tạo của người nghệ sĩ Giúp người đọc nhận thức, khám phá nhiều giá trị mới mẻ về hiện thực cuộc sống, về dụng ý sáng tạo mới của nhà văn Qua đó giúp người đọc khi tiếp nhận tác phẩm hiện đại sau 1975 vừa phải nắm được nét ổn định của cốt truyện vừa nắm được nét riêng biến động của

nó để có cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn

2.1.3.2 Nhân vật

2.1.3.2.1 Quan niệm và đặc trưng chung về nhân vật

* Quan niệm về nhân vật

Trong một tác phẩm văn học nhân vật là sự biểu hiện khả năng chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật cùng với tư tưởng nghệ thuật, lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người Vì vậy việc xây dựng nhân vật là vấn đề trung tâm cốt lõi của tác phẩm văn học Có rất nhiều ý kiến xoay quanh khái niệm nhân vật:

Theo SGK Ngữ Văn 10 tập 1 [tr.120]: Nhân vật văn học là hình tượng

con người (có thể là loài vật hay cây, cỏ – được nhân cách hoá) được miêu tả trong văn bản văn học

Trong cuốn Từ điển thuật ngữ Văn học [tr.235] : Nhân vật văn học là

những con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học

Trong giáo trình lí luận văn học, Hà Minh Đức (chủ biên): Nhân vật

văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ Đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách…

Trang 38

Theo từ điển văn học thì: Nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong tác

phẩm văn học, là tiêu điểm để bộc lộ chủ đề và đến lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc hoạ Nhân vật do đó

là nơi tập trung giá trị tư tưởng của nghệ thuật văn học

Như vậy, mỗi quan niệm đều thể hiện những nét tiêu biểu của nhân vật Nhưng có thể khái quát lại như sau: Nhân vật là đặc điểm cốt lõi của tác phẩm văn học, nhân vật là hình thức của tự sự, là phương tiện để nhà văn sử dụng, phản ánh cuộc sống khách quan, qua đó thể hiện tính cách nhân vật

* Đặc trưng chung về nhân vật tự sự

Nhân vật có vai trò rất quan trọng trong tác phẩm văn học Trong văn học nhân vật là hình thức của tác phẩm văn học Không chỉ có tác phẩm tự sự mới có nhân vật mà tất cả các loại hình đều có nhân vật nhưng mỗi loại hình đều có phương pháp xây dựng nhân vật và tạo ra một kiểu nhân vật: Nhân vật trữ tình là nhân vật cảm xúc; nhân vật kịch là nhân vật hành động; nhân vật tự

sự là nhân vật tính cách

So với các loại hình khác nhân vật tự sự có nhiều nét nổi bật, lợi thế hơn: Nhân vật tự sự không chỉ là hình thức mà còn là nội dung Bởi nhân vật

tự sự là nhân vật duy nhất trong tác phẩm văn học có số phận Tức là có lịch

sử cá nhân, có tên gọi, có hoàn cảnh tồn tại, có những hành động riêng, có ngoại hình, có những mối quan hệ với xã hội và các nhân vật khác trong môi trường sống (môi trường tự nhiên và môi trường xã hội)

Nhân vật tự sự có đặc điểm giống con người nhưng nó không phải là con người thật, nó là sản phẩm của sự sáng tạo Trong tác phẩm tự sự nhân vật theo nghĩa hẹp là hình thức; tính cách là nội dung: tính cách là những nét tâm lí tương đối ổn định, nó quy định nhân vật ấy là nó, được hình thành

Trang 39

Nhân vật trong tác phẩm tự sự số lượng nhân vật không bị hạn chế Nhân vật không bình đẳng với nhau về tư tưởng cũng như nghệ thuật vì có rất nhiều loại nhân vật: Nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm Đó là những con người hàng ngày với tất cả vẻ tự nhiên của nó gắn bó toàn diện hơn với thời đại của mình với nhiều số phận riêng biệt độc đáo, nhiều sắc thái thẩm mĩ hơn Bởi vậy, nhân vật tự sự được coi là trung tâm để thể hiện chủ

đề, tư tưởng của tác phẩm

Bởi vậy, khi nghiên cứu và giảng dạy một tác phẩm tự sự cần tìm hiểu, quan tâm tới nhân vật, vì thực chất tìm hiểu tác phẩm tự sự là tìm hiểu nhân vật nên cần nhận diện và phân loại các nhân vật trong tác phẩm để thấy được

tư tưởng nhà văn muốn gửi gắm

2.1.3.2.2 Đặc trưng nhân vật trong tác phẩm tự sự sau 1975

Do những đặc trưng tiêu biểu của nhân vật tự sự, vai trò quan trọng của nhân vật nên các nhà văn rất coi trọng nhân vật trong quá trình sáng tạo của mình: Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, về một loại người nào đó, về một vấn đề nào đó của hiện thực Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời

sống trong một thời kì lịch sử nhất định” (Lí luận Văn học NXB GD Hà

Minh Đức (chủ biên) [tr.102]

Vì vậy, nhân vật ở mỗi giai đoạn lịch sử có những đặc trưng riêng Nếu như văn học trước 1975 nhân vật đứng trên lập trường dân tộc, cách mạng, con người được đặt trong mối quan hệ với cộng đồng, với giai cấp, dân tộc

Vì vậy, có thể dễ dàng xếp nhân vật vào từng loại với các kiểu nhân vật cố định như: Nhân vật tư tưởng, nhân vật tính cách, nhân vật chức năng, nhân vật chính diện – phản diện… gắn với địa vị xã hội nhất định Chẳng hạn văn học 1945 – 1975 hình tượng nhân vật là những người lính, những anh chị du kích, những bà mẹ… gánh trên vai trọng trách cao cả của dân tộc, ở họ hội tụ

Trang 40

tất cả vẻ đẹp, phẩm chất cao quý, kết tinh vẻ đẹp lí tưởng hoá, sử thi hoá và

con người Như trong tác phẩm “Rừng xà nu” gắn với cảm hứng sử thi, “Mảnh trăng cuối rừng” gắn với cảm hứng lãng mạn đã không tránh khỏi những hạn chế,

thiếu sót

Sau 1975 xã hội đổi mới, văn học cũng đổi mới, cho phép nhà văn bộc

lộ và phát huy sở trường thoát khỏi khuôn khổ gò bó chật hẹp Văn học sau

1975 đã đóng góp cho nền văn học một hệ thống nhân vật đa dạng, mới mẻ, vốn ít xuất hiện hoặc chưa có mặt trên văn đàn văn học trước 1975 như: Nhân vật bi kịch, nhân vật cô đơn, con người lạc thời… Nhà văn được quyền lựa chọn và phát triển cá tính sáng tạo của mình Trong đó số phận cá nhân, số phận con người trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhà văn Song con người cá thể trong văn học hiện đại không phảI là con người của chủ nghĩa cá nhân, của cái tôi cực đoan, phủ nhận mọi nền tảng đạo đức được thiết lập, không chịu sự tác động của xã hội Mà ở đây số phận cá nhân được đặt trong mối quan hệ với cộng đồng, xã hội Đằng sau mỗi số phận là vấn đề mang tính nhân sinh, mang tính triết lí của thời đại

Xuất phát từ tư tưởng không chấp nhận văn học chỉ là sự mô phỏng một cách công thức, giản đơn về cuộc sống và con người Nguyễn Minh Châu biết lánh xa lối văn chương chỉ ca ngợi một chiều và dần dần lấy số phận con người không những làm “miếng đất khám phá những quy luật vĩnh hằng của nhân bản” mà coi đó là điểm xuất phát, là chuẩn mực để nhà văn soi ngắm và định giá thế giới Điểm nhìn nghệ thuật đó bước qua cách nhận diện con người chỉ trong mối quan hệ với giai cấp, với cộng đồng mà chú ý hơn đến con người ở những quan hệ riêng tư: “Con người trong quan niệm của Nguyễn Minh Châu đặt trong cái nhìn đa chiều đa diện” Con người được soi

Ngày đăng: 31/10/2015, 09:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hà Minh Đức (2003), Lí luận văn học, NXBGD; Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXBGD; Hà Nội
Năm: 2003
2. Lê Bá Hán; Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2005), từ điển thuật ngữ văn học, NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán; Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2005
3. Phương Lựu (1987), Lí luận văn học, NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1987
4. Phan Trọng Luận (chủ biên) (1999), Phương pháp dạy học văn, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 1999
5. Trần Thanh Đạm (1971); Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn chương theo loại thể; NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn chương theo loại thể
Nhà XB: NXB GD
6. Hoàng Phê (chủ biên) – Từ điển Tiếng Việt (2006). NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2006
7. Nguyễn Kim Phong (chủ biên)(2006).Kĩ năng đọc-hiểu văn bản ngữ văn. NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng đọc-hiểu văn bản ngữ văn
Tác giả: Nguyễn Kim Phong (chủ biên)
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2006
8. Đỗ Đức Hiển (1994), Thi pháp hiện đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiển
Năm: 1994
9. Nguyễn Trọng Hoàn (2006), Tìm hiểu tác giả, tác phẩm văn học, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tác giả, tác phẩm văn học
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2006
10. Trần Đình Sử (2001), Đọc văn và học văn, NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc văn và học văn
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2001
11. Sách giáo khoa, sách giáo viên, Bài tập Ngữ văn 12 (2009), NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa, sách giáo viên, Bài tập Ngữ văn 12
Tác giả: Sách giáo khoa, sách giáo viên, Bài tập Ngữ văn 12
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2009
12. Nguyễn Minh Châu; Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: NXB Văn học
13. Nguyễn Khải, Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Khải, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Khải
Tác giả: Nguyễn Khải
Nhà XB: NXB Văn học
14. Nguyễn Thái Hoà, (2004), Vấn đề đọc - hiểu và dạy đọc – hiểu; ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đọc - hiểu và dạy đọc – hiểu
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà
Năm: 2004
15. Nguyễn Thanh Hùng (2004), Đọc hiểu văn chương, tạp chí giáo dục số 92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc hiểu văn chương
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: tạp chí giáo dục
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình tượng nhân vật. - Đọc   hiểu tác phẩm tự sự việt nam hiện đại sau năm 1975 trong nhà trường THPT theo đặc trưng thể loại
Hình t ượng nhân vật (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w