Trên cơ sở “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy”, phần đọc – hiểu văn bản được đưa vào tha
Trang 1Lời cảm ơn
Trong quá trình thực hiện, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy giáo cô giáo trong khoa Ngữ văn – Trường ĐHSP HN2 Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới các thầy, cô trong khoa, đặc biệt là thầy Vũ Ngọc Doanh đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành khoá luận tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn những đóng góp của các bạn sinh viên khoa Ngữ văn - Trường ĐHSP HN2
Là một sinh viên lần đầu nghiên cứu khoa học chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy, cô và bạn đọc
Em xin chân thành cảm ơn
Xuân Hoà, ngày 09 tháng 05 năm 2007 Sinh viên thực hiện
Lê Thị Thanh Huê
Trang 2Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
* Đọc – hiểu văn chương hiện nay đang trở thành một trong những trọng tâm của chương trình SGK Ngữ văn mới Trên cơ sở “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy”, phần đọc – hiểu văn bản được
đưa vào thay thế cho phần “giảng văn” quen thuộc, và trở thành “đầu mối” của vấn đề tích hợp Ngữ văn cũng như đối với việc đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường chứ không đơn thuần là truyện “đổi tên” như quan niệm của một số người mà thực sự là vấn đề “đổi màu” đang
được thực thi đồng bộ liên thông trong chương trình Ngữ văn ở mọi cấp học
Hạt nhân của vấn đề đọc – hiểu văn chương chính là việc nhấn mạnh,
đề cao hoạt động học văn tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Có thể nói, đây là hoạt động duy nhất mà người đọc có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với thế giới nghệ thuật trong tác phẩm văn chương “sống cùng” với nó để cảm nhận, thưởng thức và lý giải những giá trị sáng tạo thẩm mỹ độc đáo Đó cũng
là cơ may để những tiềm năng nhân văn, tình cảm thẩm mỹ của tác phẩm có thể chuyển vào trong cảm xúc và tâm trí của mỗi học sinh, làm biến đổi chủ thể tạo nên sự phát triển tâm lý, nhận thức, nhân cách Hay nói cách khác, mục đích của việc dạy học văn chính là dạy cách đọc cho người học, đọc để hiểu được văn chương và trưởng thành từng ngày dưới tác động lành mạnh của tác phẩm văn chương
* Theo tinh thần đổi mới, cấu trúc chương trình và nội dung SGK được sắp xếp theo thể loại và các thời kỳ văn học đã làm nổi bật vai trò và đặc trưng của thể loại – “ nhân vật chính” của lịch sử văn học Chính vì vậy, hướng dẫn học sinh đọc – hiểu tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại là một hướng
đi có nhiều ưu thế để rèn luyện kỹ năng đọc, cảm thụ, phân tích, lý giải và
đánh giá tác phẩm một cách hợp lý và sáng tạo Bởi tác phẩm văn chương nào
Trang 3cũng tồn tại trong hình thức một thể loại nhất định, không có tác phẩm “siêu thể loại” Thể loại chính là phạm trù về chỉnh thể tác phẩm Dù thể loại là một phạm trù mang tính lịch sử nhưng trong nó bao giờ cũng chứa đựng những hạt nhân vững bền, đó là một mô hình hình tượng về thế giới, thể hiện cách cảm nhận, giải thích và đánh giá thế giới Đó là cơ sở để chúng ta khái quát lên những đặc trưng của mỗi thể loại, từ đó vạch ra những con đường để tiếp cận, khám phá, định hướng giúp học sinh đọc – hiểu tác phẩm
* Theo phân phối chương trình, tác phẩm tự sự là một kiểu văn bản chính, số lượng lớn, chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng và thuộc loại văn bản
đồ sộ, bề bộn Bởi tự sự là một loại tác phẩm văn học tái hiện trực tiếp mọi mặt đời sống, xã hội, con người nên đây là loại văn bản “khó đọc” khó tổng hợp, nắm bắt Vậy phải hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác phẩm tự sự và cảm thụ nó như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất? Đó là khó khăn cần tháo gỡ trong quá trình tiếp nhận tác phẩm theo đặc trưng thể loại
* Dựa trên quan điểm và nguyên tắc xây dựng chương trình Ngữ văn đã
mở rộng đến sau 1975 với một số tác phẩm và tác giả như: Nguyễn Minh
Châu với “Chiếc thuyền ngoài xa”, Ma Văn Kháng với “Mùa lá rụng trong
vườn”, Nguyễn Khải với “Một người Hà Nội”, Hoàng Phủ Ngọc Tường với
“Ai đặt tên cho dòng sông”, Thanh Thảo với “Cây đàn ghi ta của Loóc – Ca”,
Nguyễn Duy với “Đò lèn” góp phần làm cho chương trình gần với cuộc
sống hơn Chính vì vậy, lựa chọn tác phẩm tự sự hiện đại sau 1975, người viết muốn khoanh vùng giới hạn đề tài thực hiện để tìm hiểu những chuyển biến của tự sự sau 1975
Xuất phát từ những lý do trình bày trên, tôi chọn vấn đề “Đọc – hiểu tác phẩn tự sự Việt Nam hiện đại sau 1975 trong chương trình Ngữ văn thí điểm 12” làm đề tài nghiên cứu cho khoá luận tốt nghiệp của mình
Trang 42 Lịch sử vấn đề
Đọc – hiểu thực ra không phải là vấn đề hoàn toàn mới đối với khoa học
về phương pháp Thực ra nghiên cứu về hoạt động đọc và những khả năng của
nó trong giờ dạy học tác phẩm văn chương là đề tài của không ít những cuốn sách, chuyên luận cũng như các luận án, luận văn Nhưng có thể nói, gần như chúng ta chỉ tập trung bàn về hoạt động đọc diễn cảm trong giờ dạy học văn
Trong những năm gần đây, thuật ngữ đọc-hiểu mới xuất hiện thường
xuyên đều đặn trên các tờ báo, tạp chí chuyên ngành có uy tín như báo Giáo
dục và thời đại, Văn nghệ, Văn học tuổi trẻ, Dạy học ngày nay và đã được
đề xuất và vận dụng một cách chính thức từ cấp THCS để phát huy tính tích cực của học sinh khi làm việc với văn bản
“Năng lực đọc – hiểu tác phẩm văn chương của học sinh THPT”,
một tài liệu bồi dưỡng giáo viên tham gia giảng dạy chương trình Ngữ văn THPT (thí điểm) của GS.TS Nguyễn Thanh Hùng là một bước phát triển
quan niệm về vấn đề đọc – hiểu đã được trình bày trong tham luận “Dạy đọc –
hiểu là tạo nền tảng văn hoá cho người đọc” và chuyên luận “Đọc và tiếp nhận tác phẩm văn chương” Tác giả cho rằng đọc “không phải chỉ là hành
động nhận thức nội dung ý tưởng từ văn bản mà còn là hành động trực quan sinh động giàu cảm xúc, có tính trực giác và khái quát trong nếm trải của con người” để “nắm vững nội dung và ý nghĩa của nội dung văn bản”
Trong tài liệu “Rèn luyện năng lực đọc – hiểu” (2004), GS nêu lên một
cách khái quát đọc – hiểu như là khái niệm khoa học chỉ mức độ cao nhất của hoạt động đọc Tiếp cận ban đầu, để hiểu nội dung, hình thức phát triển nội dung và đánh giá được trình bày như bốn mức phản ứng và đáp ứng trong quá trình đọc – hiểu Bài viết “ Nghiên cứu và dạy học truyện ngắn hiện đại” được trình bày trong “Văn học sau 1975 – những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy”
do tác giả Nguyễn Văn Long – Lã Nhâm Thìn chủ biên Nxb GD H 2006 đã
Trang 5đi sâu làm rõ vị trí của môn Ngữ văn theo quan điểm dạy học mới cũng như cách đọc – hiểu một thể loại cụ thể
Trong bài viết “Môn văn - thực trạng và giải pháp” (1998) và lời mở
ba của việc đọc cùng với việc đọc sáng tạo trong một hệ thống như sau:
1 Đọc thông - đọc thuộc
2 Đọc kỹ - đọc sâu
3 Đọc hiểu - đọc sáng tạo
4 Đọc đánh giá - đọc ứng dụng
ý thức về sự thiếu hụt cả tri thức lý luận cũng như năng lực đọc của thế
hệ trẻ, hai bộ sách giáo khoa Ngữ văn THPT bên cạnh phần biên soạn hướng dẫn đọc – hiểu cho từng bài học còn chú ý khái quát nên những nội dung mang tính chất tổng kết nhằm bổ sung, nâng cao trình độ đọc cho người học
Giờ đây, cụm từ “đọc – hiểu văn bản” người ta đã thấy nó có vẻ quen thuộc, bởi “đọc” dường như là hoạt động không ai chưa từng sử dụng còn phụ
từ “hiểu” cũng không ai không tường minh nghĩa thực dụng của nó Nhưng chẳng có gì rõ ràng hơn đồng thời cũng chẳng có gì mơ hồ hơn hai chữ “đọc – hiểu” ấy
Trang 6Về lịch sử vấn đề nghiên cứu thể loại đã có nhiều công trình nghiên cứu
và thành tựu của đặc trưng thể loại được áp dụng vào việc tổ chức xây dựng chương trình SGK Ngữ văn
Trên lĩnh vực lý luận, hai giáo trình, một của Đại học Tổng hợp do Hà Minh Đức (chủ biên) và của ĐHSP do Phương Lựu (chủ biên) cũng đưa ra những đặc trưng chung của thể loại tự sự trong đó quan tâm nhiều đến truyện
và ký (Đại học Tổng hợp) anh hùng ca, truyện thơ, thơ trường thiên, ngụ ngôn, truyện vừa, truyện ngắn (ĐHSP) Nói chung những vấn đề được đưa ra luận bàn mới chỉ là lý thuyết, là cơ sở lý luận chung cho nhiều ngành nghiên cứu Hơn nữa hai giáo trình này mới chỉ thành công trên lĩnh vực nghiên cứu mà chưa bàn luận đến phương pháp giảng dạy
Đỗ Đức Hiểu đã tập hợp hai cuốn “Đổi mới phê bình văn học” (1994)
và “ Đổi mới Đọc và Bình văn” (1999) thành cuốn “Thi pháp hiện đại” trong
đó có một nội dung trọng tâm là thi pháp truyện và giảng dạy truyện Tuy nhiên, công trình này mới chỉ thành công trên lĩnh vực nghiên cứu, phê bình, chưa đề cập đến phương pháp giảng dạy
Trên lĩnh vực phương pháp, trong cuốn “Vấn đề giảng dạy tác phẩm
văn học theo thể loại” của GS Trần Thanh Đạm -Nxb GD H 1971 cũng đi
vào đặc trưng của thể loại tác phẩm tự sự (tiêu biểu là truyện ngắn và ký) Từ
đó đưa ra phương pháp giảng dạy song vẫn chỉ mới dừng lại ở mức độ sơ lược,
khái quát Hay trong cuốn “ Những vấn đề thi pháp của truyện” của Nguyễn
Thái Hoà cũng vậy
Như vậy, thể loại tự sự đã được soi tỏ trên các lĩnh vực khác nhau và trên mỗi lĩnh vực đều có những thành công nhất định Là một giáo viên dạy văn, chúng ta hiểu rằng dạy các truyện ngắn sau 1975 thì phải dựa vào các đặc trưng của thể loại tự sự hiện đại Bởi nắm vững đặc trưng thể loại là nắm vững một công cụ, một phương tiện để khám phá tác phẩm Biết vận dụng những lý thuyết đó vào việc hướng dẫn học sinh đọc – hiểu tác phẩm tự sự Việt Nam
Trang 7hiện đại sau 1975 càng khắc sâu, khẳng định hơn nữa thành tựu nghiên cứu về thể loại tự sự và khoa học phương pháp
3 Đối tượng nghiên cứu
Dựa vào lý thuyết tiếp nhận văn học và cơ sở lý luận chung về thể loại
tự sự Việt Nam hiện đại sau 1975 để tập trung xây dựng cách đọc – hiểu tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại và ứng dụng để hướng dẫn học sinh biết cách đọc – hiểu tác phẩm tự sự Việt Nam hiện đại sau 1975 trong chương trình Ngữ văn thí điểm 12
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu các tài liệu liên quan đến vấn đề đọc – hiểu, vấn đề dạy học theo đặc trưng loại thể, vấn đề đặc trưng tự sự Việt nam hiện
đại sau 1975 và các truyện ngắn sau 1975 trong chương trình Ngữ văn thí
điểm 12, khoá luận thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Khảo sát tài liệu, tìm hiểu lý thuyết đọc – hiểu và đặc trưng của thể loại tự sự để làm cơ sở khoa học cho việc ứng dụng trong thực tiễn dạy đọc – hiểu tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại ở THPT
- Xác lập cách đọc – hiểu tác phẩm tự sự Việt Nam hiện đại theo đặc trưng thể loại thông qua một số truyện ngắn hiện đại sau 1975 trong chương trình Ngữ văn phổ thông
- ứng dụng để thiết kế giáo án thực nghiệm
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài quy định giới hạn triển khai nghiên cứu tập trung vào xác định cách đọc – hiểu tác phẩm tự sự Việt Nam hiện đại sau 1975 trong chương trình Ngữ văn thí điểm 12 Khoá luận cũng bước đầu thể hiện tư tưởng của đề tài thông qua việc thiết kế giáo án dạy đọc – hiểu các truyện ngắn hiện đại sau
1975 trong sách Ngữ văn thí điểm 12, Ban Khoa học xã hội và Nhân văn
1 “Chiếc thuyền ngoài xa”- Nguyễn Minh Châu
2 “Một người Hà Nội” - Nguyễn Khải
Trang 9Phần nội dung Chương 1 Những vấn đề chung
1 Tiếp nhận tác phẩm văn học
1.1 Tiếp nhận văn học là gì?
Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên Nxb KHXH H 2002),
“tiếp nhận” là đón nhận cái từ người khác, nơi khác chuyển cho mình
Vậy tiếp nhận văn học được hiểu như thế nào?
Các tác giả của “Từ điển thuật ngữ Văn học” quan niệm tiếp nhận văn
học là “ Hoạt động chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phẩm sau khi
đọc”
Trong “Đọc và tiếp nhận văn chương” GS Nguyễn Thanh Hùng lại cho
rằng “Tiếp nhận tác phẩm văn học là quá trình đem lại cho người đọc sự hưởng thụ và hứng thú trí tuệ hướng vào hoạt động để củng cố và phát triển một cách phong phú những khả năng thuộc thế giới tinh thần và năng lực cảm xúc của con người trước đời sống.”
Về thực chất, tiếp nhận văn học chính là một cuộc giao tiếp, đối thoại tự
do giữa người đọc và tác giả qua tác phẩm Nó đòi hỏi người đọc hoà mình vào tác phẩm văn học, rung động với nó, lắng nghe tiếng nói của tác giả, thưởng thức cái hay, cái đẹp, tài nghệ của người nghệ sĩ sáng tạo, bằng trí tưởng tượng, kinh nghiệm sống, vốn văn hoá bằng cả tâm hồn mình Người
đọc khám phá ý nghĩa của từng câu, từng chữ, cảm nhận sức sống của từng hình ảnh, hình tượng, nhân vật dõi theo diễn biến của câu chuyện, làm cho tác phẩm từ một văn bản khô khan biến thành một thế giới sống động, đầy sức
Trang 10cuốn hút Như vậy, tiếp nhận văn học là hoạt động tích cực của cảm giác tâm trí người đọc, nhằm biến văn bản thành thế giới nghệ thuật trong tâm trí mình
1.2 Những lý thuyết chung về hoạt động tiếp nhận
1.2.1 Con đường làm ra tác phẩm của nhà văn
Trong bốn thành tố tạo nên chu kỳ một quá trình sáng tác và thưởng thức văn học (thời đại, nhà văn, tác phẩm, bạn đọc) thì nhà văn với tư cách là chủ thể sáng tạo, đóng vai trò quan trọng nhất Mục đích hoạt động sáng tạo của nhà văn là biến đổi đối tượng thẩm mỹ khách quan thành đối tượng thẩm
mĩ chủ quan và có khả năng thoả mãn định hướng nhu cầu thẩm mỹ xã hội Quá trình biến đổi đó gọi là quá trình sáng tác Để làm được điều này nhà văn phải có những phẩm chất và năng lực đặc biệt cùng tiến trình làm việc công phu
Phẩm chất và năng lực đòi hỏi một nhà văn phải có là: Một trực giác nhạy bén, tâm hồn giàu cảm xúc Họ biết mở rộng tâm hồn mình để đón nhận những âm vang của cuộc sống bằng khả năng quan sát tinh tế Chính nhờ quan sát nhà văn có thể tìm hiểu bản chất của hiện thực và tích luỹ được vốn sống
Hơn nữa, năng khiếu bẩm sinh cũng là tiền đề không thể thiếu để hình thành một tài năng văn học nhưng năng khiếu có thể phát triển hoặc lụi tàn, cái còn gọi là tài năng đích thực của nhà văn Muốn có tài năng nhà văn phải trau dồi, rèn luyện về mọi mặt tư tưởng, tình cảm, bản lĩnh, nhân cách, vốn sống, vốn văn hoá, nghệ thuật viết văn Khi có đầy đủ hai mặt năng khiếu văn chương và năng lực cảm thụ nhà văn sẽ sáng tạo nên tác phẩm của mình Thực tế cuộc sống được tích luỹ đã được nhà văn phản ánh qua lăng kính chủ quan của tác giả để tạo nên tác phẩm Vì thế, giai đoạn sáng tạo của nhà văn
được khép kín trong chu trình: cuộc sống < > nhà văn < > tác phẩm < >
độc giả
Trang 11Tóm lại đứng trên bình diện tiếp nhận để quan sát thì con đường làm ra tác phẩm của nhà văn là quá trình không kém phần gian khổ: Quan sát – ghi nhận – chọn lọc – phản ánh tạo nên chỉnh thể trung tâm là tác phẩm Và tác phẩm như là một tế bào, là bộ mặt của đời sống văn học, là cơ sở, là chiếc cầu nối giữa tác giả với đời sống và bạn đọc Người đọc chỉ có thể hiện được tư tưởng, tình cảm của tác giả thông qua tác phẩm
1.2.2 Cơ chế của hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn học
Chúng ta biết rằng, hoạt động tiếp cận khám phá tác phẩm được xem là giai đoạn hoàn tất quá trình sáng tạo và giao tiếp của văn học Nó tạo thành vòng đời của tác phẩm, tác phẩm chỉ thực sự trở thành tác phẩm khi có đánh giá Bản chất của quá trình này chính là hoạt động của người đọc - độc giả làm việc tiếp nhận tác phẩm Nó đòi hỏi người đọc quan sát, tri giác, cảm thụ, hiểu
được ngôn ngữ, tình tiết, nội dung, hình tượng, nhận ra mối quan hệ của những phần xa nhau, tác động của chỉnh thể đối với các bộ phận Muốn làm
được điều này, người đọc phải dựa vào cơ chế của hoạt động tiếp nhận
1.2.2.1 Đọc văn bản
Đọc là con đường, là cách thức để tiếp nhận thông tin làm giàu sự hiểu biết của mình Trong dạy học văn, đọc vừa là mục đích, vừa là kỹ năng, vừa là phương pháp nên đọc chính là quá trình truyền tải ngôn ngữ (trong văn bản viết) sang tín hiệu ( âm thanh ) Đó là quá trình khôi phục vỏ âm thanh trong tác phẩm, là con đường duy nhất để tiếp nhận một tác phẩm văn chương
Đọc để tìm hiểu tác phẩm được ghi nhận qua hai mặt: Kỹ thuật đọc và
sự nắm vững ý nghĩa văn bản nghệ thuật Đọc văn bản theo cách nào đi chăng nữa, cuối cùng người đọc cần phải nắm được tác phẩm Hiểu được qua tác phẩm đó nhà văn muốn chuyển tải điều gì? dụng ý nghệ thuật ra sao? cách sử dụng ngôn ngữ của nhà văn có độc đáo, hấp dẫn hay không? Tuy nhiên trong khi đọc văn bản, người đọc có thể hiểu, cảm nhận không hoàn toàn giống với
Trang 12điều nhà văn nói, mỗi một kiểu, một loại văn bản có một cách đọc khác nhau Chính vì vậy, họ là người đồng sáng tạo
1 2.2.2 Hoạt động phân tích
Tác phẩm văn học là một chỉnh thể thống nhất, phân tích văn học là thao tác chia nhỏ, tháo gỡ tất cả những tương quan vốn không thể tách rời nhau trong một chỉnh thể nghệ thuật, để rồi ghép hợp lại Người tiếp nhận sẽ
có một cách nhìn phong phú và sâu sắc đối với một tác phẩm văn học Không nên phân tích tất cả các yếu tố trong tác phẩm “ phải lựa chọn ra những yếu tố cơ bản, sâu sắc của tác phẩm biết đi sâu vào cảm xúc mãnh liệt, trung thực nhất trong thế giới nội tâm., vượt qua sự đầy đủ vốn quen thuộc và sáo mòn, kiếm tìm sự súc tích của ngôn ngữ nghệ thuật” (Nguyễn Thanh Hùng)
1.2.2.3 Hoạt động cắt nghĩa
Cắt nghĩa là hoạt động quan trọng trong cơ chế tiếp nhận văn chương Cắt nghĩa là để làm rõ nghĩa tác phẩm ấy, không chỉ làm tường minh ngôn ngữ của tác phẩm mà còn phải cắt nghĩa hình tượng của tác phẩm để từ cái
được phản ánh nhận thức được biểu hiện trong tác phẩm
Cắt nghĩa đem lại nhận thức chắc chắn, có cơ sở về tác phẩm văn học
Có hiểu được tác phẩm văn chương thì mới có thể cắt nghĩa được Cắt nghĩa
được một cách thuyết phục nội dung phân tích là bằng chứng về sức cảm, hiểu thấu được giá trị nội dung trong hình thức tác phẩm
1.2.2.4 Hoạt động bình giá
Trong cơ chế tiếp nhận tác phẩm thì hoạt động bình giá là hoạt động cuối cùng của qúa trình tiếp nhận tác phẩm Toàn bộ việc bình giá ấy được dựa trên các căn cứ hoạt động đọc, phân tích, cắt nghĩa Điều đó phản ánh trong cơ chế tiếp nhận văn chương bao giờ cùng kèm theo sự đánh giá, bình phẩm về tác phẩm với những quan niệm, tư tưởng và tiêu chuẩn thẩm mỹ đậm màu sắc cá nhân chủ nghĩa Nó mở ra giai đoạn khách quan hoá chủ thể thẩm
mỹ của cá nhân người đọc Trọng tâm của hoạt động bình giá là cái mới về
Trang 13nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Cần tránh sự bình giá phiến diện, chủ quan, bảo thủ và càng tránh sự “nhại lại” ý kiến đánh giá của người đi trước một cách thiếu bản sắc
Tóm lại, tiếp nhận tác phẩm văn học bao gồm một hệ thống có quan hệ chặt chẽ với nhau: Đọc, phân tích, cắt nghĩa, bình giá Trình tự hệ thống này là một lập trình ổn định.Đọc là yêu cầu bắt buộc để tiếp cận tác phẩm văn học và
định hướng cho sự phân tích Hoạt động cắt nghĩa xác định tính chính xác của nội dung phân tích Hoạt động bình giá mở rộng đi sâu hơn vào giá trị tác phẩm bằng sự phong phú và đầy cá tính của người tiếp nhận tác phẩm
1.3 Những khó khăn trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn chương
Tiếp nhận văn chương thực chất là một quá trình giao tiếp, sự giao tiếp giữa tác giả với người tiếp nhận, là mối quan hệ giữa người nói và người nghe, người viết và người đọc, người bày tỏ và người chia sẻ cảm thông Bao giờ người viết cũng mong muốn người đọc hiểu mình, cảm nhận được những điều mình muốn gửi gắm, kí thác Cao Bá Quát đã từng nói: “ Xưa nay nỗi khổ của người ta không gì bằng chữ tình, mà cái khó ở đời không gì bằng sự gặp gỡ” Trong cuộc giao tiếp giữa tác phẩm với độc giả bên cạnh tính khách quan cần
đảm bảo thì người đọc còn gặp muôn ngàn khó khăn, cản trở khi tiếp nhận Trong muôn ngàn khó khăn đó có một khó khăn luôn cần người đọc có những phương hướng xử lý kịp thời khi tiếp nhận, đó là “ sự chuyên chế của những khoảng cách” – như một quy luật buộc người đọc luôn phải vận động, liên tưởng, khắc phục để lấp đầy khoảng cách đó mới hy vọng tiếp nhận được thông tin văn bản
Khái niệm “ Sự chuyên chế của những khoảng cách” được một nhà sử học Ôxtrâylia dùng, để nói về đặc thù không gian của thiên nhiên trên “ một
đất nước đồng thời là cả một lục địa - Ôxtrâylia” Và Đặng Thanh Lê đã từng
Trang 14dùng khái niệm này để biểu đạt tính chất khó khăn của việc đưa tác phẩm văn học đến với thế hệ trẻ trong mái trường phổ thông
Trong quá trình tiếp nhận, trước tiên người đọc phải vượt qua hàng rào khoảng cách về không gian và thời gian lịch sử Không riêng gì học sinh, người đọc hiện đại ở tất cả các lứa tuổi khi trở về với cội nguồn đã bị chia cắt với tác phẩm quá khứ bởi chiều dài năm tháng (kể cả tác phẩm sau 1975)
và cũng không phải chỉ là câu chuyện của thời gian mà là sự khác biệt của những loại hình xã hội xưa – nay, là sự khác biệt trong cuộc sống mỗi thời đại
…Tương tự vậy lịch sử tác phẩm phản ánh và lịch sử ra đời của tác phẩm cũng vậy
Khó khăn tiếp theo là khoảng cách về tâm lý Có lẽ nhịp sống “ tên lửa” dồn dập của thời đại công nghệ thời đại thông tin, văn hoá mạng… đã kiến đại
đa số độc giả không có thì giờ, tâm trí và hứng thú đối với việc vùi đầu hàng giờ, hàng ngày vào một cuốn tiểu thuyết hiện đại, nói gì đến tác phẩm cổ điển
ở đây năng lực thị hiếu của cá nhân – người đọc đóng vai trò quan trọng nhất Tính khuynh hướng trong tư tưởng, tình cảm, tâm lý thị hiếu càng làm cho sự tiếp nhận mang đậm nét cá nhân và chính sự chủ động, tích cực của người đọc
đã làm tăng thêm sức sống của tác phẩm và ngược lại
Một khó khăn cơ bản làm nữa cần được nêu lên Đó là sự khác biệt trong phong cách nghệ thuật, nhất là sự khác biệt trong phong cách ngôn ngữ văn học giữa hiện đại và quá khứ ( kể cả tác phẩm sau 1975 mặc dù nó không
xa lạ gì với chúng ta) Đây chính là vấn đề cần xử lý trước tiên khi tiếp cận văn bản văn học Đọc tác phẩm văn học, trước hết người đọc vấp phải hàng rào của những từ ngữ , địa danh, nhân danh, điển cố, thi liệu … xa lạ, khó hiểu ở đây cần “khâu trung gian phiên dịch” của những lời chú thích “ khô khan”trong sách hoặc những lời giải thích của những thầy cô giáo
Trang 15Như vậy, có biết bao nhiêu khoảng cách phải vượt qua để đưa tác phẩm văn học đến với tâm hồn bạn đọc nhất là tâm hồn niên thiếu Những khó khăn
đặt ra nói trên đòi hỏi người tiếp nhận phải rút ngắn khoảng cách
Trong nghiên cứu khoa học, người ta đặt ra rất nhiều giải pháp Trong phạm đề tài này người viết chọn con đường đọc và tiếp nhận tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại với mong muốn vượt qua hàng rào ngăn cách, chống chọi lại với “ uy quyền của những khoảng cách”
2 Thể loại với vấn đề tiếp nhận tác phẩm văn chương
2.1 Khái niệm loại thể
Thực chất khái niệm loại thể là cách nói gộp của hai khái niệm riêng biệt: loại và thể (hoặc loại hình văn học và thể tài văn học)
Loại ( loại hình) là phương thức nhà văn sử dụng để tạo ra hình tượng nghệ thuật của tác phẩm Nó bao gồm 3 loại cơ bản: tự sự, trữ tình và tịch theo quan niệm truyền thống quan niệm của những nhà lý luận văn học – khi căn cứ vào phương thức phản ánh hiện thực và biểu hiện tư tưởng của hình tượng
Còn thể (thể tài) là phương thức tổ chức hình thức thiên về ngôn ngữ của tác phẩm Thể tài không chỉ có ba mà nó vô cùng phong phú, ví dụ như trong thể loại tự sự có nhiều thể như: truyện ngắn, truyền vừa, tiểu thuyết, ký, phóng sự…
“Kiến trúc của tác phẩm, cấu tạo của hình tượng như thế nào là do phương thức phản ánh và biểu hiện đó quy định Nếu hìng tượng thiên về mặt biểu hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả, ta sẽ có tác phẩm trữ tình; nếu hình tượng thiên về phản ánh con người, sự việc trong cuộc sống, ta có tác phẩm tự
sự Tác phẩm tự sự tập trung cô đọng đến mức bản thân nhân vật, sự việc, câu chuyện có thể tự mình bộc lộ một cách độc lập trên trang sách hoặc trên sân khấu, không cần sự dẫn chuyện của tác giả, như thế ta sẽ có tác phẩm kịch (Trần Thanh Đạm – Vấn đề giảng dạy tác phẩm theo thể loại – Nxb Giáo dục
Trang 16– H 1971 tr 160) Trữ tình, tự sự, kịch là ba phương thức cơ bản nhất của sự cấu tạo hình tượng, kiến trúc tác phẩm văn học, đồng thời đó cũng là ba loại cơ bản nhất trong lòng mỗi loại và trên biên giới các loại sẽ nảy sinh rất nhiều thể khác nhau của sáng tác văn học
Như vậy loại thể chính là hệ thống chỉnh thể của tác phẩm, nó chỉ quy luật loại hình của tác phẩm, trong đó, một nội dung nhất định tương ứng với một hình thức nhất định Trong mỗi loại thể bao giờ cũng có sự thống nhất về
đề tài, chủ đề, cảm hứng, hệ thống nhân vật, hệ thống kết cấu, lời văn Sự thống nhất giữa các phương diện trên được quy định bởi phương thức chiếm lĩnh đời sống Nó ứng với hoạt động nhận thức của con người và tạo ra một kênh giao tiếp với bạn đọc Như vậy, nói tới thể loại là nói tới cách thức tổ chức tác phẩm – một kiểu tái hiện đời sống theo lối gián tiếp
2.2 Vai trò của thể loại trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học
Thể loại là một hiện tượng loại hình sáng tác và giao tiếp, nó mang tính qui luật ổn định, bền vững trong cấu trúc tác phẩm Đó là sự phối hợp giữ nội dung và hình thức để tạo thành một chỉnh thể Nó chỉ ra một giới hạn tiếp xúc với đời sống, một cách tiếp cận, một góc nhìn, một trường quan sát, một quan niệm về đời sống Điều này mang vừa tính qui luật, vừa có ý nghĩa như một nguyên tắc để xây dựng thể giới nghệ thuật Chính vì vậy, việc nghiên cứu thể loại sẽ giúp cho người ta nhận ra được những vấn đề có tính chất kế thừa trong tiến trình phát triển của văn học nên nó có vai trò to lớn trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học
Hoạt động tiếp nhận là một vấn đề có liên quan đến hoạt động dạy và học Nó là cơ sở và những căn cứ lý thuyết của phương pháp dạy học và thuộc
về khoa học giáo dục Còn thể loại văn học thuộc phạm trù lý luận văn học nó thuộc về khoa học cơ bản của văn chương Lý luận văn học nói chung và vấn
đề thể loại nói riêng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động dạy và học tác phẩm
Trang 17trong nhà trường Bởi lẽ, nhà văn sáng tác theo loại thể thì người đọc cũng có thể cảm thụ tác phẩm theo loại thể và người dạy cũng phải dạy theo loại thể Nói cách khác, phương thức nhà văn sử dụng để sáng tạo hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm sẽ quy định phương thức cảm thụ hình tượng đó của người đọc và cũng từ đó qui định phương hướng giảng dạy tác phẩm văn học trong nhà trường
Muốn làm được điều này, ngoài việc biết được tác phẩm nói cái gì,
được làm như thế nào và bằng cách nào? Người đọc muốn khám phá, giải mã thành công thì buộc phải đi lại con đường mà nhà văn đã đi, nhưng để đi được trên con đường ấy, người đọc phải được hướng dẫn bởi những lý thuyết được rút ra từ việc nghiên cứu tác phẩm trong đó có những lý thuyết về thể loại Vì vậy nắm vững đặc điểm thể loại là nắm vững một công cụ, một phương tiện khám phá tác phẩm
3 Đọc hiểu theo đặc trưng thể loại – một con đường tiếp nhận tác phẩm văn học
Đọc là một dạng khám phá sáng tạo Đọc cũng là sự chối bỏ sự trì trệ của lối mòn và hướng tới thiết lập những quan hệ tư duy mới Nói “ đọc – hiểu” hay “ đọc để hiểu”- không chỉ là thói quen phát ngôn có tính “ thuận miệng” và đó là vấn đề có tính nguyên lý Giữa đọc và hiểu vừa có mối quan
hệ nhân quả (đọc để hiểu) đồng thời cũng có mối quan hệ biện chứng: hiểu đề
đọc tốt hơn
Nhằm tiếp nhận và xử lý thông tin, hoạt động đọc – hiểu xảy ra theo cơ chế tác động hữu cơ giữa hai thành tố chính: chủ thể (người đọc) và đối tượng ( tác phẩm ) Người đọc tác động vào văn bản bằng cảm xúc và khả năng tri giác thông qua quá trình chuyển hoá kí hiệu ngôn ngữ thành những đơn vị thông tin thẩm mỹ mà dạng thức biểu hiện đầy đủ nhất là tính sinh động của hình tượng nghệ thuật Ngược lại, văn bản từ một hệ thống ký hiệu im lặng, sau khi được trở thành đối tượng của người đọc sẽ có một đời sống riêng, có ý
Trang 18nghĩa xác định một nội dung xã hội cụ thể Nhờ thế, người đọc có thể lĩnh hội
và đồng cảm cùng nỗi cô đơn rợn ngợp của chủ thể trữ tình qua âm điệu trầm buồn tiết tấu đều đều dìu dặt của niêm luật thể thơ thất ngôn trong tác phẩm Tràng Giang của Huy Cận; cảm nhận chất tráng ca bi thiết của hình ảnh đoàn quân Tây Tiến kiêu hùng qua sức gợi của nhạc điệu khi gân guốc, khoẻ khoắn, lúc lãng mạn bâng khuâng… trong bài thơ cùng tên của Quang Dũng; cũng như nhận diện được nỗi lo âu đầy khắc khoải về khát vọng thức tỉnh lương tâm con người thông qua mạch văn trần thuật điềm tĩnh và sắc lạnh trong truyện ngắn Bức Tranh của Nguyễn Minh Châu
Nhờ đọc, người đọc phát hiện ra những “mâu thuẫn” biến chúng thành những đối tượng có tính chất “đầu mối” để tiếp cận và cắt nghĩa nghệ thuật Tiếp nhận văn học là quá trình người đọc thể nghiệm chính mình, đồng thời tìm tòi phát hiện “năng lượng của sự có mặt” của nhà văn biểu hiện vừa hữu hình, vừa tồn tại ở dạng “ tiềm năng” trong văn bản Bởi vì “ mọi tác phẩm văn học đều dang dở, luôn đòi hỏi sự bổ sung mà không bao giờ người ta đạt tới giới hạn cuối cùng bằng văn bản” (Tạp chí văn học nước ngoài số 3 – 2001)
Có rất nhiều con đường đến với tác phẩm văn chương nhưng cách đọc – hiểu theo đặc trưng thể loại được xem như một phương án phản ánh mức độ khả năng tiếp nhận mà lịch sử tiếp nhận là quá trình không ngừng khám phá những ý nghĩa mới mẻ của tác phẩm trên cơ sở khả năng hấp dẫn không cùng
từ văn bản Chính vì vậy, đọc – hiểu theo đặc trưng thể loại là một quá trình xác định một kiểu quan hệ giao tiếp Đọc – hiểu theo đặc trưng thể loại còn là một phương thức tiếp nhận nghệ thuật ngôn từ tối ưu, qua đó người đọc biểu hiện nhu cầu giao cảm, hưởng thụ văn hoá và phát triển nhân cách, đồng thời bộc lộ chính mình Nó cũng phù hợp với cách tổ chức và xây dựng chương trình môn Ngữ văn ở THPT hiện nay
Trang 19Chương 2: Đọc – hiểu tác phẩm tự sự Việt Nam
hiện đại sau năm 1975
1 Thể loại tự sự hiện đại
1.1 Thể loại tự sự
1.1.1 Khái niệm về tác phẩm tự sự
Khác với các chuyên ngành khoa học tự nhiên, văn học là một loại hình khoa học xã hội, cho nên tất cả các khái niệm đưa ra không thể “ nhất thành bất biến” mà hết sức phong phú và đa dạng Khái niệm về tự sự và tác phẩm tự
sự cũng không phải là duy nhất
Theo “ Từ điển tiếng Việt” thì “ Tự sự là thể loại văn học phản ánh hiện
thực bằng cách kể lại sự việc, miêu tả tính cách qua cốt truyện tương đối hoàn chỉnh”
Xét dưới góc độ thuật ngữ, theo tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi trong cuốn “ Từ điển thuật ngữ Văn học” , Nxb văn học -
ĐHQGHN ,khái niệm tự sự được hiểu “ là phương thức tái hiện đời sống bên cạnh hai phương diện khác là trữ tình và kịch, được dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học”
Theo GS.Nguyễn Văn Hạnh, TS Huỳnh Như Phương thì “ tự sự là kể chuyện, trình bày sự việc, sự vật một cách cụ thể, chi tiết có đầu có đuôi, tự sự tập trung chủ yếu vào việc miêu tả thế giớ bên ngoài”
Xét dưới góc độ Lý luận văn học thì “ Tác phẩm tự sự là loại tác phẩm phản ánh đời sống trong quá trình khách quan của nó, qua con người, hành vi,
sự kiện được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó”
Theo GS Trần Thanh Đạm – Vấn đề giảng dạy tác phẩm theo thể loại
Nxb GD H 1971 cho rằng “ Tự sự là loại tác phẩm văn học tái hiện trực tiếp hiện thực khách quan “ như một cái gì tách biệt”, “ ở bên ngoài” đối với tác
Trang 20giả, thành một câu chuyện có sự diễn biến của sự việc, của hoàn cảnh, có sự phát triển tâm trạng, tính cách, hành động của con người”
Từ các ý kiến, các hướng nghiên cứu của các tác giả khác nhau, trên các góc độ ở các lĩnh vực khác nhau, chúng ta có thể đi đến một cách hiểu chung
về thể loại tự sự như sau: Tự sự là thể loại văn học phản ánh cụ thể hiện thực
đời sống một cách khách quan, bằng cách kể lại sự việc, sự kiện, miêu tả tính cách nhân vật, chi tiết… có đầu có đuôi thông qua cốt truyện tương đối hoàn chỉnh và được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó
1.1.2 Cách phân chia thể loại tự sự
Như trên đã định nghĩa thì hiểu một cách đơn giản nhất tự sự là kể chuyện Nếu xét về hình thức lời văn, tự sự tồn tại dưới hai dạng là văn xuôi và văn vần Xét theo tiến trình lịch sử, người ta chia thành tự sự dân gian, tự sự trung đại và tự sự hiện đại Nếu xét về mặt dung lượng (thể hình) thì tự sự lại phân thành truyện ngắn, truyện vừa và truyện dài (còn gọi là tiểu thuyết) và nếu phân loại theo phương pháp sáng tác thì thể loại tự sự bao gồm: tự sự cổ
điển, tự sự lãng mạn, tự sự hiện thực và tự sự hiện thực XHCN
Như vậy, ngay cả cách phân chia thể loại tự sự đã bao gồm rất nhiều thể loại khác nhau, mỗi thể loại đều có những đặc trưng riêng ở đây, trong phạm
vi của đề tài, tôi chỉ quan tâm nghiên cứu thể loại tự sự Việt Nam hiện đại qua một số truyện ngắn sau 1975 ở lớp 12 trong chương trình SGK Ngữ văn thí
điểm
1.2 Đặc trưng của thể loại tự sự Việt Nam hiện đại sau 1975
Thể loại tự sự bao gồm 3 đặc trưng cơ bản: cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ Đây có thể là cơ sở lý luận, là lý thuyết chung để soi chiếu vào các tác phẩm tự sự Căn cứ vào những đặc trưng của thể loại nói chung được các nhà
lý luận đúc kết, thể loai tự sự Việt Nam hiện đại sau 1975 cũng mang đầy đủ những đặc trưng của tự sự và tự sự hiện đại nhưng nó đã có những nét đổi mới, khác biệt
Trang 21Với quan niệm “ nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật”bao quát
được những vấn đề cơ bản của đời sống xã hội và số phận con người trong sự vận động và phát triển đáp ứng sự đòi hỏi bức xúc của công chúng thời đại Văn học sau 1975 đã bước vào thời kỳ đổi mới trong không khí dân chủ của
đời sống văn học Sự đổi mới ở tư duy nghệ thuật trong sáng tạo thể loại tự sự nói riêng và văn học nói chung đã dẫn đến một hệ quả tất yếu là thay đổi các yếu tố: cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ Vì tự sự thời kỳ đổi mới đã chuyển dần
từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết Cảm hứng sáng tạo chuyển từ ca ngợi, khẳng định đến chiêm nghiệm suy tư thay vì cách nhìn rạch ròi thiện - ác, bạn – thù là cách nhìn đa chiều, phức hợp về hiện thực và số phận con người Đề tài chiến tranh và cách mạng, lịch sử và nhân tộc dần dần nhường chỗ cho đề tài thế sự và đời tư Cảm hứng thực sự về hiện thực và con người trở thành cảm hứng bao trùm trong cảm hứng sáng tạo của nhà văn Tự sự khai thác vấn đề thế sự đời tư không chỉ bộc lộ những nếm trải suy tư, nghiền ngẫm mà còn phơi bày, phanh phui các sự vật, hiện tượng để đi đến tận cùng cốt lõi của nó Vấn đề con người, vấn đề cái riêng trở thành mối quan tâm hàng đầu của người viết Phạm vi, đối tượng sáng tạo được mở rộng, khai thác đến các tầng vỉa của hiện thực đời sống và con người Nhưng nhà văn không coi việc miêu tả hiện thực đời sống là mục đích của nghệ thuật mà coi trọng hơn đến hiện thực con người với thân phận,đời sống của nó: Bến quê, Chiếc thuyền ngoài
xa, Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Mùa lá rụng trong vườn, Thời gian của người, Gặp gỡ cuối năm, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp v.v
Nói tóm lại, tự sự Việt Nam thời kỳ đổi mới đã triển khai và đi sâu vào cái hiện thực hàng ngày, cái đời thường của cuộc sống cá nhân Nhà văn dám nhìn vào những “mảnh vỡ”, những bi kịch nhân sinh, mổ xẻ, phơ bày nó bằng cái nhìn trung thực, táo bạo Các đề tài truyền thống quen thuộc hay hiện đại
Trang 22mới mẻ đều đưa vào trường nhìn mới hướng tới hệ quy chiếu: sốphận cá nhân,
sự nhập cuộc của con người, thấm đẫm cảm hứng nhân văn
1.2.1 Cốt truyện
1.2.1.1 Quan niệm chung về cốt truyện
“ Sự tồn tại của tình tiết (hay còn gọi là cốt truyện) là đặc trưng cơ bản của truyện” (Trần Thanh Đạm – Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo thể loại – Nxb GD H 1971) Như vậy, cốt truyện là đặc trưng đầu tiên, là dấu hiệu của tác phẩm tự sự
Theo “ Từ điển tiếng Việt” (Hoàng Phê Chủ biên, Nxb KHXH H
2002) thì “cốt truyện là hệ thống sự kiện, là nòng cốt cho sự diễn biến các mối quan hệ và sự phát triển tính cách nhân vật trong tác phẩm văn học loại tự sự”
Theo GS Hà Minh Đức, chủ biên cuốn giáo trình Lý luận văn học thì “ cốt truyện chính là một hệ thống các xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua
đó các tính cách hình thành và phát triển trong những mối quan hệ qua lại của chúng nhằm làm sáng tỏ chủ đề và tư tưởng của tác phẩm”
Còn trong “ 150 thuật ngữ văn học” thì cốt truyện lại là “sự phát triển
hành động, tiến trình các sự việc, các biến cố trong tác phẩm tự sự và kịch, đôi khi cả trong tác phẩm trữ tình”
Từ những định nghĩa trên, ta có thể đi đến một cách hiểu chung nhất: cốt truyện là một tập hợp các sự kiện, sự việc, các biến cố các tình tiết diễn ra trong tác phẩm được sắp xếp theo một trình tự logic nhất định nào đó Trong từng tác phẩm cụ thể nó có tác dụng, ý nghĩa quyết định đến cuộc đời nhân vật
1.2.1.2 Đặc trưng cốt truyện trong tác phẩm tự sự Việt Nam hiện đại sau 1975
Khi nghiên cứu một tác phẩm tự sự buộc phải quan tâm đến cốt truyện vì nắm được cốt truyện là có điều kiện để hiểu tác phẩm Về phương diện này việc làm của người sáng tác và người tiếp nhận là giống nhau Người sáng tác
Trang 23phải xây dựng cốt truyện trước khi làm ra tác phẩm, có nghĩa là phải hình dung đứa con tinh thần của mình trong tương lai, còn đối với người tiếp nhận thì việc nắm cốt truyện cũng sẽ giúp anh ta hình dung ra thế giới của tác phẩm
mà anh ta sẽ khám phá nó như thế nào ở đây có sự giống nhau, gần nhau nhưng không đồng nhất bởi nó có một sự khác biệt, đó là; nhà văn trong quá trình tạo ra cốt truyện có thể thay đổi được, điều chỉnh theo ý muốn của mình, nhưng người tiếp nhận tác phẩm thì không thể thay đổi được cốt truyện mà nhà văn sáng tạo ra, hơn chăng là sự đồng sáng tạo mà thôi
Nói cách khác đã là truyện thì phải có truyện tức là phải có cốt truyện
Đây là đặc trưng đầu tiên của truyện Dù biến hoá trăm màu nghìn vẻ thì cốt truyện vẫn phải luôn tồn tại trong truyện dù là truyện dân gian, cổ điển, cận
đại hay hiện đại
Trong cơ cấu nghệ thuật của tác phẩm cũng như các yếu tố khác, cốt truyện đã phải trải qua những chặng đường khác nhau trong tiến trình lịch sử văn học Nghiên cứu sự vận động của cốt truyện sẽ góp phần lý giải sự chuyển
đổi của tự sự trong thời kỳ đổi mới Tuy nhiên trong mỗi giai đoạn lịch sử, trong mỗi trào lưu, khuynh hướng, hoặc trong thi pháp sáng tạo của nhà văn
và vai trò của cốt truyện trong thể tự sự cũng có những cách thể hiện khác nhau
Nếu văn học trước 1975 cốt truyện chủ yếu dựa vào những hành động bên ngoài trong đó “xung đột được thể hiện trọn vẹn và biến mất trong quá trình các sự kiện được miêu tả Nó xuất hiện trở nên gay gắt và được giải quyết dường như ngay trước mắt người đọc Đó là những xung đột cục bộ,khép kín, diễn ra trên một cái nền của tình huống xung đột” Chẳng hạn
như: “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành xoay quanh xung đột giữa ta và
địch, giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa thiện và ác Trong “Vợ chồng A
Phủ” của Tô Hoài, “Người mẹ cầm súng” của Nguyễn Đình Thi cũng vậy
Trang 24Nhưng từ sau 1975, nhất là trong những năm đổi mới, thực tiễn văn học
đã theo sự chi phối chung của quy luật thời bình, nghiêng về thể tài thế sự đời tư, nên bên cạnh nhưng cốt truyện tuân thủ theo cốt truyện truyền thống bắt
đầu từ xung đột đến thắt nút cuối cùng là cởi nút (giống kịch) thì có nhiều tác phẩm có cốt truyện dựa trên thi pháp hiện đại Tức là, cốt truyện trong tác phẩm tự sự từ những năm đổi mới đến nay, một mặt vẫn kế thừa và phát triển những đặc trưng của cốt truyện truyền thống, mặt khác đã tiếp cận với tự sự hiện đại thế giới ở những nét tinh tuý Đó là loại cốt truyện không có biến cố ,chủ yếu dựa vào những hành động bên trong, những thăng trầm trong tư tưởng, tâm lý nhân vật, cảm xúc, suy nghĩ của con người Hay nói cách khác, cốt truyện là những câu chuyện bình thường, nhỏ nhặt, gây cảm giác như không có chuyện Và chính những bước ngoặt của trạng thái tâm linh, những xung đột cá nhân đã trở thành yếu tố thúc đẩy sự hình thành cốt truyện Tự sự
từ sau đổi mới đa dạng hơn trong nội dung phản ánh, phong phú hơn trong hình thức diễn đạt, tự do hơn ở trong cách thức dựng truyện Bên cạnh những cốt truyện giàu kịch tính là những cốt truyện giàu tâm trạng được viết một cách tự nhiên, không theo trật tự thời gian, có thể đảo ngược theo ý của tác giả tạo ra “truyện trong truyện” Vì vậy, cấu trúc sự kiện lỏng lẻo, lắp ghép, mơ
hồ, co giãn, khó tóm tắt, khó kể lại, kết thúc mở -bỏ ngỏ, đặc biệt không hoàn kết mà tất cả nhằm phân tích, lý giải những vấn đề phức tạp và bí ẩn của con người, cuộc sống đương đại
Với loại cốt truyện này, “ những mâu thuẫn, xung đột mà nhà văn nêu
ra tồn tại cả khi khởi đầu các sự kiện được miểu tả, cả trong quá trình chúng diễn biến và cả sau khi chúng đã kết thúc Sự việc xảy ra trong đời nhân vật xuất hiện như là một sự bổ sung cho các mâu thuẫn đã có sẵn, bất chấp sự việc ấy có hay không”
Trang 25Trong loại cốt truyện này lại có thể phân ra nhiều kiểu cốt truyện Trong phạm vi của đề tài tôi đi sâu tìm hiểu một số cốt truyện chủ yếu ở một
số sáng tác của các tác giả tiêu biểu
* Cốt truyện xây dựng trên những nguyên tắc luận đề – những luận
đề về đạo đức, nhân văn, về tâm lý xã hội
Hạt nhân cốt lõi để tạo nên những cốt truyện luận đề thường là một xung đột đầy nghịch lý, mang tính chất bi kịch, dẫn người đọc tới sự phản tỉnh trong nhận thức về một quan niệm tư tưởng vốn có
Trong kiểu cốt truyện không biến cố này, không có những xung đột và
đột biến khép kín, sự việc mà tác giả đề cập trong truyện chỉ là “sự bổ sung cho các mâu thuẫn đã có sẵn, bất chấp có sự việc đó hay không” (Pôxpêlôp.Sđd) Nguyễn Minh Châu qua những xung đột tâm lý trong truyện
mà nêu ra những vấn đề vốn đang tồn tại trong cuộc sống hàng ngày để nhân vật và người đọc cùng bàn luận và suy ngẫm
Trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”, từ những mâu thuẫn xung
đột đầy nghịch lý Nguyễn Minh Châu đã nêu ra một vấn đề nhận thức cần suy nghĩ Cốt truyện dựa trên hai phát hiện của nhân vật nghệ sĩ nhiếp ảnh Phát hiện thứ nhất đầy mơ mộng,nên thơ, huyền ảo, trong “khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tràn tâm hồn do cái đẹp ngoại cảnh vừa mang lại” Đôi mắt nhà nghề của người nghệ sĩ đã phát hiện ra một vẻ đẹp “trời cho” trên mặt biển mù sương – vẻ đẹp mà cả đời cầm máy có lẽ anh chỉ diễm phúc bắt gặp một lần: “Trước mắt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh sáng mặt trời chiếu vào Toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp, một vẻ đẹp thật đơn giản
và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối,trong trái tim có cái gì bóp thắt vào Chẳng biết ai đó lần đầu tiên phát hiện ra bản thân cái đẹp chính là
đạo đức? Trong giây phút bối rối, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái
Trang 26chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn” Niềm hạnh phúc của anh chính là cái hạnh phúc của sáng tạo, của sự cảm nhận cái đẹp tuyệt diệu, đến mức thánh thiện Dường như trong cánh buồm ngư phủ huyền ảo giữa biển trời mênh mông ấy, anh đã bắt gặp cái tận Thiện, tận Mỹ, thấy tâm hồn mình như được gột rửa, trong trẻo tinh khôi bởi cái đẹp hài hoà, lãng mạn của cuộc đời
Sự phát hiện thứ hai bất ngờ và trớ trêu như một trò đùa quái ác của cuộc sống Hoá ra bên trong cái đẹp “ toàn bích toàn thiện” mà nghệ sĩ vừa bắt gặp trên mặt biển xa lạ chẳng phải là “đạo đức”, là “chân lý của sự toàn thiện” Hình ảnh người đàn bà xấu xí, mệt mỏi, nhẫn nhục; người đàn ông
độc ác, vũ phu, đau đớn vào bi kịch của cuộc đời họ như là một thứ thuốc rửa quái đản làm những thước phim huyền diệu bỗng hiện lên một sắc màu khủng khiếp Giữa lão ngư dân hung ác trên mặt biển với lão Khúng của núi rừng hình như có sự bắt gặp trong những giả thuyết về số phận Những con người u tối và đau khổ ấy vừa là nạn nhân của cuộc sống đói nghèo, lam lũ, nhưng trong một lúc nào đó, họ cũng có thể trở thành quỷ dữ đầy đoạ trước hết những người thân khốn khổ của mình Những điều mới dừng lại trong tiềm thức mụ mị của lão Khúng đã trở thành hiện thực thường ngày của lão già trên biển cả
Đúng là, Nguyễn Minh Châu luôn “đào xới” bề sâu hiện thức ẩn kín,
ông đã khiến người đọc nhận ra trong những mảnh đời thường gặp trong truyện ngắn của ông “cái không bình thường hiện ra như một cái gì bình thường và cái gì bình thường hiện ra như một cái không bình thường” (Pauxtôpxki)
Cốt truyện trong “Sắm vai” cũng dựa trên một triết lý nhân sinh sâu sắc
đã từng khiến Nguyễn Minh Châu phải đau đớn trong nhiều năm trời-đó là vấn đề lựa chọn cuộc sống – sống cho đúng cái bản ngã của mình dẫu có phải
Trang 27thua thiệt hay khổ sở Cốt truyện đơn giản, bình dị xoay quanh những câu chuyện hàng ngày dường như rất vặt vãnh, nhỏ nhặt của một cặp vợ chồng Để chiều lòng cô vợ xinh đẹp, nhà văn T đã phải từ bỏ những thói quen hàng ngày
đến với phong cách, nếp sống luôn phải làm ra vẻ “trẻ trung” giả vờ “hoảng hốt”, “vội vã cười ngặt nghẽo như một cái máy” Tóm lại là phải sắm vai một cái “thằng tôi” khác, biến thành một con rối ngoan ngoãn để người khác
điều khiển từ lời ăn tiếng nói đến nụ cười, cái bắt tay và chính anh cũng nhận ra cái “lố bịch” đáng thương của mình - Nhà văn T đã tỏ vẻ dứt khoát với cái bản ngã của mình, xung đột giữa bản ngã và những vai diễn mãi vẫn là xung đột vĩnh cửu của cuộc sống - bởi cuộc sống trong vai diễn bao giờ cũng
là địa ngục
Phải thấu hiểu bản chất thật của con người để khắc phục cái bóng tối
phi nhân cách trong mỗi chúng ta, đó là vấn đề có ý nghĩa triết học của Một
lần đối chứng Cốt truyện xây dựng trên cơ sở những luận thuyết về con người,
xoay quanh những “biến cố” nhỏ nhoi của những con vật Tính chất luận đề hầu như không dấu diếm, ngay giữa dòng sự kiện, nhà văn đã điềm tĩnh và nghiêm túc đề nghị với bạn đọc “một cuộc đối chứng” sự thực giữa “thiện và
ác, giữa lý trí, trí tuệ và bản năng mùa quáng giữa hai mặt nhân cách và phi nhân cách, giữa cái hoàn thiện và cái chưa hoàn thiện, giữa ánh sáng và những khoảng bóng tối vẫn còn rơi rớt bên trong tâm hồn của mỗi người – miếng đất nương náu và gieo mầm của lỗi lầm và tội ác” Nguyễn Minh Châu đã xây dựng cốt truyện trên cơ sở một luận thuyết vĩnh hằng để từ đó khái quát bản chất con người
Trong Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới… của Ma Văn
Kháng cũng là những tác phẩm tiêu biểu cho kiểu kết cấu cốt truyện này Mỗi tác phẩm là một cuộc tranh luận về một vấn đề thế sự – nhân sinh mà nhân vật
đặt ra bắt nguồn từ chính những bức xúc tồn tại trong thực tế cuộc sống xã hội
đương thời
Trang 28* Cốt truyện sinh hoạt thế sự
Đây là những truyện được coi như là “không có cốt truyện” Thật ra đó
là loại truyện kể về những “sự việc đơn giản, bình thường” được xây dựng như những bức tranh đời sống, những cốt truyện không có mở đầu, hay kết thúc, vắng bóng những thắt mở nút hồi hộp, chỉ là sự tái hiện những dòng đời đang
tự nhiên trôi nổi
Trong truyện ngắn “Đứa ăn cắp” Nguyễn Minh Châu đã vẽ ra một bức
tranh đời sống sinh động đến đau lòng Dường như chẳng có cốt truyện gì trong cái dòng đời quen thuộc ở một khu tập thể nọ, chỉ là những tiếng kêu, tiếng thét, sự hả hê, căm phẫn, chút bịn rịn, xót thương “những truyện có thật nhàm chán, vô trách nhiệm xung quanh mấy người đàn bà Cốt truyện không hề có một biến cố gì nổi bật ngay cả trong cái chết của một con người –
sự kiện có thể là điểm nút trong một cao trào bi kịch nào đó – trong truyện ngắn này cũng chỉ là một đề tài trong muôn ngàn đề tài bàn luận của những người đàn bà thóc mách Đằng sau bức tranh thế sự ấy là thái độ phê phán nghiêm khắc của tác giả đối với những lời nói, hành vi vô trách nhiệm, sự thờ
ơ, dửng dưng với số phận và danh dự con người
Cốt truyện trong “Hương và Phai” cũng vậy Từ những dòng đời bình dị
vụn vặt, Nguyễn Minh Châu đã giúp người đọc khái quát những triết lý nhân sinh, chiêm nghiệm lẽ đời và cảnh tỉnh những tình trạng đạo đức của xã hội
Cốt truyện sinh hoạt thế sự còn đậm nét trong sáng tác của Nguyễn Khải sau 1975 Với “ Một người Hà Nội, Nếp nhà , Gặp gỡ cuối năm, Sư chùa Thắm và ông đại tá về hưu” cũng đều hướng tới sự chiêm nghiệm lẽ đời, hai nếp sống thông tục hàng ngày
Trang 29* Cốt truyện dựa vào những số phận đời tư
Đó là dạng cốt truyện chủ yếu tái hiện những bước thăng trầm, uẩn khúc trong số phận cá nhân Cốt truyện không dừng lại ở một thời điểm mà thường trải dài theo lịch sử của cả một số phận, một cuộc đời với những xung
đột chồng chéo Câu chuyện mở ra trên cái nền của “Tình huống xung đột cố hữu” hầu như không có cao trào, thắt mở nút theo kiểu cốt truyện truyền thống
Cốt truyện “Cỏ lau” của Nguyễn Minh Châu được xây dựng trên những
cơ sở những diễn biến tâm lý đầy mâu thuẫn, không thể giải quyết được Hầu hết các nhân vật đều mang chiều sâu của sự nếm trải, dằn vặt và đau đớn Cuộc sống mang “chất văn xuôi” của một thực tại đang diễn biến với những con người, chứa chất đầy mâu thuẫn, vừa cao cả, vừa thấp hèn, vừa xấc xược trơ tráo, vừa son sắt, thiết tha Với kiểu cốt truyện này, khả năng phản ánh hiện thực “sức vang hưởng xã hội” của tác phẩm đã được mở rộng
Trong truyện ngắn “Mùa trái cóc ở Miền Nam” cũng vậy đến Phiên
chợ Giát cốt truyện lại càng rõ nét trong những số phận đời tư Cốt truyện
được triển khai ở nhiều tầng bậc trùng điệp, trong khoảng thời gian, không gian rộng lớn, xa xôi, phản ánh những chi tiết nhỏ nhoi nhất của tính cách, lão Khúng xuất hiện như một con người nhiều chiều, vừa cá biệt, vừa tiêu biểu, vừa là sản phẩm của quá khứ lịch sử tối tăm, vừa toả sáng của nhân cách vĩnh hằng, của những giá trị đạo đức muôn đời, một người nông dân chân lấm tay bùn nhưng đồng thời lại là một “nhà tư tưởng” có thế giới riêng, có tiếng nói riêng, tiếng nói ấy lan xã khắp nơi trong tác phẩm, hoà điệu và nghịch điệu phức tạp của tiếng nói tác giả Lão Khúng được miêu tả trong mối quan hệ với cộng đồng, với vợ con, với người tình địch chưa biết mặt, với con bò khoang khốn khổ hiện thân của cuộc đời lão