Với tư cách là một sinh viên Ngữ văn, một người GV tương lai, tôi luôn mong muốn tích luỹ thêm những kinh nghiệm quý báu để chuẩn bị cho mình những hành trang vững chắc trước khi trở thà
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, giáo dục có vai trò rất quan trọng Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đưa giáo dục trở thành “quốc sách hàng đầu”, một trong những yêu cầu cấp thiết được đặt ra là đổi mới phương pháp dạy học
M Gorki đã từng nói “văn học là nhân học” Văn học có khả năng giáo dục và nuôi dưỡng tâm hồn con người Nó hướng con người đến những giá trị Chân - Thiện - Mĩ để giúp con người ngày càng tốt đẹp hơn Chính vì vậy, văn học ngày càng có vị trí và vai trò quan trọng trong đời sống cũng như trong nhà trường PTTH
Hiện nay, chương trình Ngữ văn mới được biên soạn theo nguyên tắc thể loại Trên cơ sở đó đặt ra yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn
ở trường Phổ thông nhằm đưa ra những định hướng tiếp cận, khám phá giúp học sinh dễ dàng tiếp nhận tác phẩm Một trong những phương pháp được các nhà nghiên cứu đánh giá tích cực là phương pháp đọc - hiểu Theo con đường đọc - hiểu, học sinh sẽ phát huy được khả năng sáng tạo của mình để từ đó phát hiện và cảm thụ được tác phẩm văn học
Qúa trình hiện đại hoá văn học nửa đầu thế kỷ XX đã để lại cho văn học Việt Nam nhiều cá tính, phong cách nghệ sĩ độc đáo Trong đó, Tô Hoài
là một trong những nhà văn lớn, một trong những tác giả tiêu biểu cho thể loại
tự sự được đưa vào giảng dạy ở nhà trường PTTH Các tác phẩm của Tô Hoài
được đưa vào giảng dạy trong chương trình phổ thông như “Dế Mèn phưu lưu
kí” ở THCS và “Vợ chồng A Phủ” ở THPT Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình
đã viết bài về truyện của Tô Hoài, khai thác trên nhiều phương diện cả về nội dung và hình thức Hơn nữa, đã có một số thiết kế bài giảng cho các tác phẩm của ông trong nhà trường Tuy nhiên, tôi nhận thấy các bài viết đó chưa khai
Trang 2thác thấu đáo giá trị của truyện Tô Hoài trên góc độ loại thể theo phương pháp đọc - hiểu
Với tư cách là một sinh viên Ngữ văn, một người GV tương lai, tôi luôn mong muốn tích luỹ thêm những kinh nghiệm quý báu để chuẩn bị cho mình những hành trang vững chắc trước khi trở thành giáo viên đồng thời góp thêm một hướng tiếp cận, một kiểu dạy học tác phẩm tự sự theo đặc trưng thể loại với phương pháp đọc - hiểu
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “Đọc - hiểu tác phẩm tự
sự của Tô Hoài trong nhà trường PTTH theo đặc trưng thể loại” làm đề tài nghiên cứu khoá luận tốt nghiệp cho mình
2 Lịch sử vấn đề
Vấn đề “Đọc - hiểu tác phẩm văn học theo đặc trưng loại thể” đã được
đề cập đến trong một số các công trình sau:
2.1 Những công trình nghiên cứu về đọc - hiểu
- V.A Nhikônxki với “Phương pháp giảng văn học ở trường phổ
thông” do Ngọc Toàn và Bùi Lệ dịch (Nxb GD- 1978)
- Z.Ia.Rez (chủ biên) với “Phương pháp luận dạy văn học” do Phan
Huy Thiều dịch (Nxb GD-1983)
- GS Nguyễn Thanh Hùng với
+ Cuốn “Văn học và nhân cách”
+ Bài viết “ Đọc - hiểu là tạo nền tảng văn hoá cho người đọc”
+ Chuyên đề: “Đọc và tiếp nhận văn chương”
Trang 3+ Cuốn “Phương pháp dạy học văn”
+ Chuyên luận “Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học”
- GS Trần Thanh Đạm có bài “ Dạy văn dạy đọc và viết” (Báo văn nghệ số 30 ra ngày 23/7/2005 )
- Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoàn có bài viết “Một số vấn đề đọc - hiểu
văn bản Ngữ văn” (Tạp chí GD số 56 tháng 4/2003)
2.2.Những công trình nghiên cứu về vấn đề loại thể
- Aristot với “Nghệ thuật thi ca”
- Gulaiep với “Lí luận văn học”
- GS Phương lựu (cb) “ Giáo trình lí luận văn học”
- GS Phan Trọng Luận “Giáo trình Phương pháp dạy học văn”
- GS Trần Thanh Đạm “ Vấn đề giảng dạy tác phẩm theo loại thể”
- Đỗ Đức Hiểu “ Thi pháp hiện đại”
- Nguyễn Thái Hoà “ Mấy vấn đề thi pháp truyện”
- Hoàng Ngọc Hiến “Năm bài giảng về thể loại”
2.3 Những công trình nghiên cứu Tô Hoài
- Phong Lê, Vân Thanh với “ Tô Hoài - về tác giả và tác phẩm”
- Nguyễn Đăng Mạnh, “Những bài giảng về tác gia văn học Việt Nam
hiện đại”
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này chỉ tập trung nghiên cứu một cách khái quát về vấn đề loại thể và đọc - hiểu Song chưa có công trình nào nghiên cứu đọc - hiểu một tác giả, một thể loại cụ thể Do vậy, người viết
đã chọn đề tài “Đọc - hiểu tác phẩm tự sự của Tô Hoài trong nhà trường PTTH theo đặc trưng thể loại”
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài đã cố gắng nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về đọc - hiểu tác phẩm tự sự của Tô Hoài với mục đích
Trang 4- Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong giờ học văn
- Tạo tâm thế tự tin cho giáo viên khi tiếp xúc với phương pháp dạy học theo tinh thần đổi mới của SGK Ngữ văn
- Đồng thời, người viết sẽ nắm vững hơn lý thuyết về đặc trưng thể loại cũng như phương pháp đọc - hiểu để từ đó đưa ra được những phương hướng dạy học phù hợp, giúp học sinh tiếp nhận tác phẩm được hiểu quả
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với vấn đề mà đề tài đặt ra, người viết cần thực hiện được một số nhiệm vụ sau:
1 Tập hợp những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài
2 Nghiên cứu đặc trưng của thể loại tự sự
3 Vận dụng lý thuyết đọc - hiểu vào tìm hiểu tác phẩm tự sự của Tô Hoài
4 Tiến hành thực nghiệm xây dựng một số giáo án hướng dẫn HS đọc -
hiểu tác phẩm tự sự của Tô Hoài trong nhà trường PTTH như “Dế Mèn phiêu
lưu kí” và “ Vợ chồng A Phủ”
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
- Đặc điểm loại hình tự sự qua tác phẩm Tô Hoài được dạy trong nhà
trường PTTH (“Dế Mèn phiêu lưu kí” và “Vợ chồng A Phủ”)
Trang 56 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp:
- Phương pháp khảo sát, thống kê
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp so sánh, hệ thống
- Phương pháp thực nghiệm
7 Đóng góp của khoá luận
- Khoá luận đóng góp một phần nhỏ trong việc hình thành các thao tác, các bước đọc - hiểu trong giảng dạy tác phẩm của tự sự của Tô Hoài trong nhà trường PTTH
- Đồng thời, khoá luận cũng đóng góp tích cực vào việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông hiện nay
8 Bố cục của khoá luận
Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
2 Lịch sử vấn đề
3 Mục đích nghiên cứu
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
6 Phương pháp nghiên cứu
Trang 6Kết luận
Tài liệu tham khảo
NỘI DUNG CHUƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1 Cơ sở lí luận
Văn chương là loại hình nghệ thuật ngôn từ, lấy ngôn ngữ làm chất liệu
để tạo nên những hình tượng nghệ thuật Tác phẩm văn học là sự phản ánh đời sống bằng hình tượng Nó là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” khi người nghệ sỹ đi sâu, khám phá thế giới qua sự hư cấu và trí tưởng tượng phong phú của mình
Mỗi tác phẩm văn học bao giờ cũng tồn tại dưới một hình thức thể loại nhất định Nó là phương thức nhà văn lựa chọn để thể hiện những quan điểm,
tư tưởng và sự sáng tạo nghệ thuật của mình mà nhà văn muốn gửi gắm đến bạn đọc thông qua tác phẩm
Bạn đọc muốn hiểu được tác phẩm, biến tác phẩm của nhà văn thành tác phẩm của mình, phải trải qua một quá trình không đơn giản nhưng cũng
vô cùng thú vị đó là quá trình tiếp nhận văn học (hay còn gọi là cảm thụ văn học) Thông qua tiếp nhận văn học, người đọc sẽ nắm được những nội dung
tư tưởng, những giá trị nghệ thuật đặc sắc cùng những thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm
1.1 Vấn đề tiếp nhận văn học
1.1.1 Khái niệm
Trang 7Tiếp nhận văn học là một vấn đề quan trọng đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Có rất nhiều những quan niệm khác nhau về vấn đề tiếp nhận văn học:
Theo “Từ điển tiếng Việt” “tiếp nhận là đón nhận cái từ người khác, nơi
khác chuyển giao cho”
Trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” “tiếp nhận văn học là hoạt
động chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của tác phẩm văn học Bắt đầu
từ cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác giả Đến sau khi đọc, cách hiểu, ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo bản dịch, chuyển thể” [4;275]
Hay trong cuốn “ Đọc và tiếp nhận tác phẩm văn chương” của Nguyễn
Thanh Hùng lại cho rằng: “tiếp nhận tác phẩm văn học là quá trình đem lại cho người đọc sự hưởng thụ và hứng thú trí tuệ, hướng vào hoạt động để củng
cố và phát triển một cách phong phú những khả năng thuộc thế giới tinh thần
và năng lực cảm xúc của con người trước đời sống”
Theo giáo trình “ Lí luận văn học” của Phương Lựu: tiếp nhận văn học
là giai đoạn hoàn tất quá trình sáng tác-giao tế của văn học Người nghệ sỹ sáng tạo tác phẩm văn học là truyền đạt những cảm nhận khái quát về cuộc đời cho người đọc Chỉ khi được bạn đọc tiếp nhận quá trình sáng tác mới được hoàn tất
Như vậy, các quan niệm trên đã thâu tóm tương đối đầy đủ bản chất của quá trình tiếp nhận Vậy có thể hiểu một cách chung nhất, tiếp nhận văn học là hoạt động nhận thức thẩm mỹ của con người về văn học Nó là quá trình chuyển tác phẩm văn học vốn tồn tại khách quan với người đọc vào tâm hồn, tư tưởng của người đọc Đây là một cuộc giao tiếp đối thoại tự do giữa người đọc và tác giả qua tác phẩm Trong cuộc giao tiếp đó đòi hỏi người học phải tham gia với tất cả trái tim và khối óc, hứng thú và nhân cách, tri thức và
Trang 8sức sáng tạo Đây là một hoạt động mang tính sáng tạo Nó có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con người
Việc dạy các tác phẩm văn học trong nhà trường thực chất là tổ chức hoạt động tiếp nhận văn học cho người đọc Nó là hoạt động mang tính tự giác và tính mục đích rõ ràng Mục đích cuối cùng của nó là giúp học sinh hiểu và cảm nhận tác phẩm để các em tự hoàn thiện nhân cách của mình 1.1.2 Cơ sở tiếp nhận tác phẩm văn học
* Con đường nhà văn làm ra tác phẩm
Tác phẩm văn học là sản phẩm tinh thần được tạo ra bởi tài năng và tâm hồn người nghệ sĩ Mỗi nhà văn với những phong cách khác nhau sẽ có những cách thức, con đường sáng tạo ra những tác phẩm riêng biệt không giống nhau Thông thường muốn sáng tác, các nhà văn phải có cảm
hứng Nguyễn Quýnh có nói: “người làm thơ không thể không có hứng, cũng
như tạo hoá không thể không có gió vậy”[9;210] “Hứng” được nói tới ở đây
chính là cảm hứng Cảm hứng là gì? Nó có tác dụng chi phối như thế nào đến quá trình sáng tác của nhà văn? Phải chăng, cảm hứng là trạng thái tâm lí đặc biệt của nhà văn khi đứng trước một sự việc, sự kiện mang ý nghĩa lớn lao trong cuộc sống Họ bất chợt có cảm xúc và sự lôi cuốn mãnh liệt Lúc này, tâm hồn người nghệ sĩ đang thăng hoa, bay bổng với sự tưởng tượng vô cùng dồi dào phong phú Nhà văn đang có nhu cầu bộc bạch giãi bày Đó là lúc
“sản phẩm tinh thần” sắp chào đời
Cảm hứng chỉ có thể là kết quả bất ngờ của việc thai nghén lâu dài những suy tư, tưởng tượng trước đó của người nghệ sĩ Để tạo được tác phẩm
có giá trị, nhà văn phải trải qua nhiều khâu sáng tác: hình thành ý đồ, thu thập
tư liệu, thiết lập sơ đồ, viết và sửa chữa Cảm hứng giống như cái cớ để nhà văn bắt vào nguồn mạch, thể hiện những sáng tạo đã được thai nghén từ lâu của mình
Trang 9Mặc dù, với những cách sáng tác khác nhau nhưng dù viết theo cách nào thì với mỗi nhà văn sáng tạo nghệ thuật vẫn là quá trình lao động hết sức công phu, đầy khó khăn vất vả Nó đòi hỏi người nghệ sĩ phải có bản lĩnh nghề nghiệp, phải có tài năng, tâm huyết và tinh thần trách nhiệm cao trước cuộc đời Chỉ có như vậy, nhà văn mới có thể tạo ra được tác phẩm trường tồn cùng thời gian
* Con đường bạn đọc chiếm lĩnh tác phẩm
Tác phẩm văn học được kết tinh từ những kinh nghiệm, tư tưởng tình cảm của người nghệ sĩ trước cuộc sống nhất định Người nghệ sĩ sáng tạo tác phẩm là để truyền đạt cho người đọc những khái quát, những cảm nhận về cuộc đời Do đó, tác phẩm văn học chỉ có được đời sống khi được bạn đọc chiếm lĩnh một cách toàn vẹn, sâu sắc
Con đường chiếm lĩnh tác phẩm văn học được bắt đầu từ việc: đọc, phân tích, cắt nghĩa và bình giá
a Đọc tác phẩm
Đây là hoạt động khởi đầu, cần phải có của việc tiếp nhận văn học Văn bản là sản phẩm tinh thần do nhà văn sáng tạo ra, đó là một tập hợp các kí hiệu ngôn ngữ vô hồn Vì vậy, để hiểu được văn bản đó nói gì? đề cập đến vấn đề gì? buộc bạn đọc phải đọc tác phẩm Người đọc chỉ có thể tiếp nhận tác phẩm khi hệ thống kí hiệu ngôn ngữ được giải mã Hoạt động đọc không những là hoạt động mở đầu cho việc tiếp nhận mà đọc còn để hiểu tác phẩm, tìm ra ý nghĩa mới xuất hiện trong tác phẩm Tuy nhiên, với mỗi loại văn khác nhau, hoạt động đọc cũng khác nhau Đọc tác phẩm tự sự khác với đọc tác phẩm trữ tình và kịch
b Phân tích tác phẩm
Trang 10Phân tích tác phẩm là hoạt động tiếp theo của việc tiếp nhận văn học
“Phân tích là hoạt động chia nhỏ đối tượng để có cái nhìn cụ thể những yếu
tố làm nên chỉnh thể sâu hơn Đó là sự mổ sẻ chỉnh thể tác phẩm để ghi chép hợp lại những yếu tố đã phân tích theo cách hoàn toàn khác thường sẽ phát hiện ra những khía cạnh bất ngờ của chỉnh thể tác phẩm.” (“Đọc và tiếp nhận văn chương” của Nguyễn Thanh Hùng) Tuy nhiên, trong một tác phẩm văn
học không phải lúc nào cũng chia nhỏ đối tượng mà chúng ta cần phải xác định đâu là trọng tâm để đi sâu vào phân tích Vì vậy, hoạt động phân tích sẽ đem lại sự phong phú và sâu sắc hơn cho tác phẩm văn học
c Cắt nghĩa tác phẩm
Cắt nghĩa là hoạt động quan trọng trong cơ chế tiếp nhận văn học Cắt nghĩa đem lại nhận thức, đem lại cơ sở cho những hiện tượng có giá trị Hoạt động cắt nghĩa tác phẩm đi từ việc lý giải những chi tiết hình ảnh trong tác phẩm để thấy được cái hay cái đẹp cắt nghĩa hình tượng và cắt nghĩa cả tác phẩm văn học Trong cùng một tác phẩm văn học, mỗi cá nhân có cách cảm thụ, cắt nghĩa tác phẩm riêng tùy vào sự hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi người Hoạt động cắt nghĩa sẽ tạo ra cái nhìn đa chiều đối với mỗi tác phẩm Đồng thời, nó cũng là cơ sở để đánh giá mức độ hiểu biết của mỗi người vì có hiểu thì mới có thể cắt nghĩa được tác phẩm
d Bình giá tác phẩm
Đây là hoạt động cuối cùng của quá trình tiếp nhận và lĩnh hội tác phẩm văn chương Nó là hoạt động mang tính chủ quan Người đọc sẽ thể hiện thái độ cách đánh giá của mình với các hiện tượng văn học Hoạt động này dựa trên cơ sở của việc đọc, phân tích và cắt nghĩa Đọc là yêu cầu bắt buộc để tiếp nhận tác phẩm Đồng thời, nó tạo định hướng cho việc phân tích Còn cắt nghĩa là để xác định rõ nội dung của việc phân tích Như vậy, hoạt động bình giá tác phẩm là sự mở mang đi sâu vào nội dung tác phẩm Thông
Trang 11qua hoạt động bình giá, ngoài sự hiểu biết còn thể hiện cá tính của người tiếp nhận văn học
Trên đây là con đường chiếm lĩnh tác phẩm văn học Song trong quá trình tiếp nhận bạn đọc vẫn gặp một số khó khăn như: khoảng cách về không gian, khoảng cách về thời gian, khoảng cách về ngôn ngữ, khoảng cách về tâm lý Những khoảng cách này trong khi tiếp nhận khó có thể xóa được Vậy làm thế nào để khắc phục được khó khăn trong khi tiếp nhận? Có rất nhiều cách, nhiều biện pháp khác nhau để khắc phục, song có một con đường được coi là hữu ích nhất đó là đọc và tiếp nhận tác phẩm trên cơ sở đặc điểm loại thể
1.2 Loại thể và vấn đề tiếp nhận
Mỗi tác phẩm văn học khác nhau bạn đọc sẽ có những cách tiếp nhận không giống nhau Nhưng dù tiếp nhận ở khía cạnh nào thì vấn đề đầu tiên bạn đọc nhận thấy và cần quan tâm là vấn đề loại thể bởi các tác phẩm văn học đều được viết theo một loại thể nhất định Nắm được các đặc điểm của loại thể không chỉ giúp cho người đọc hiểu được tác phẩm mà còn giúp họ có khả năng tạo lập được văn bản ở một số loại thể nhất định
1.2.1 Khái niệm loại thể
Có rất nhiều quan niệm về loại thể văn học :
Theo “Từ điển tiếng Việt” (2007), loại thể “là hình thức sáng tác văn
học, nghệ thuật, phân chia theo phương thức phản ánh hiện thực, vận dụng ngôn ngữ”
Trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” lại cho rằng “thể loại là dạng
thức của tác phẩm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử văn học, thể hiện sự giống nhau về cách thức
tổ chức tác phẩm và đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả
Trang 12về tính chất của mối quan hệ nhà văn đối với các hiện tượng của đời sống ấy”
[4 ;299]
Sách “Lí luận văn học” cho rằng: “loại thể tác phẩm văn học là khái
niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm Trong đó, ứng với một loại nội dung nhất định có một loại hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình
thức tồn tại chỉnh thể” [9 ;339]
Có thể thấy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về loại thể Song thực
chất, loại thể không phải là một khái niệm mà là cách gọi gộp của hai khái
niệm khác nhau “loại” và “thể”
Loại (loại hình) là phương thức mà người nghệ sĩ sử dụng để sáng tạo nên hình tượng nghệ thuật cuả tác phẩm Có ba loại hình tiêu biểu là tự sự, trữ tình và kịch Loại hình mang tính quy luật nên có tính bền vững và phổ biến
Nó xuất hiện trong hầu hết các sáng tác của các nhà văn, các trào lưu, xu hướng văn học, nền văn học…
Thể (thể tài) là hình thức tổ chức ngôn ngữ và quy mô của tác phẩm Nếu như “loại” có tính bền vững thì “thể” lại luôn biến đổi Bên cạnh những thể đã có sẽ xuất hiện những thể mới Ví như từ “thể truyện ngắn” sẽ xuất hiện “thể truyện cực ngắn”… từ “thể lục bát” sẽ xuất hiện thể “ song thất lục bát” Giữa “loại” và “thể” có mối quan hệ bao chứa, bao hàm lẫn nhau Trong
đó, loại là khái niệm lớn còn thể nhỏ hơn Tức là trong một loại sẽ có nhiều thể
Như vậy, có thể hiểu thể loại văn học là hình thức cụ thể của tác phẩm văn học Với những đặc điểm lặp lại tương đối ổn định trong tiến trình lịch sử
về các mặt hình tượng ngôn ngữ, bố cục, thể thức, dung lượng… Bất kì một tác phẩm văn học nào cũng thuộc một thể loại nhất định Nó là yếu tố không thể thiếu đối với tác phẩm văn chương Loại tự sự có các thể: tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa… Các thể chịu sự quy định bởi đặc trưng chung của
Trang 13loại tự sự Thể loại sẽ quy định phương thức giao tiếp, nhận thức của bạn đọc
để giúp bạn đọc chiếm lĩnh được tác phẩm Do vậy, nói tới thể loại là nói tới cách tổ chức tác phẩm, một kiểu tái hiện đời sống và một kiểu giao tiếp nghệ thuật
1.2.2 Phân loại
Có rất nhiều cách phân chia loại thể khác nhau Song cách phân chia được nhiều người đồng thuận hơn cả là cách chia của Arixtot Trong cuốn
“Nghệ thuật thi ca”, Arixtot đã chia tác phẩm văn học thành ba loại: tự sự, trữ
tình và kịch Đây là cách chia dựa vào quy luật xây dựng hình tượng và phương thức phản ánh đời sống Cách chia này được đông đảo mọi người thừa nhận và đến nay chúng ta vẫn chủ yếu sử dụng cách phân chia này
Việc chia loại thể thành ba loại cũng được GS Trần Thanh Đạm khẳng định là phù hợp với bản chất, chức năng và quy luật của văn học là: phản ánh hiện thực
Theo cách phân chia trên thì mỗi loại lại được chia thành các thể nhỏ: Loại tự sự bao gồm: tự sự dân gian (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười…) và tự sự trung, hiện đại (truyền kì, tiểu thuyết, truyện, kí…)
Loại trữ tình gồm: trữ tình dân gian (tục ngữ, ca dao dân ca, câu đố…)
và trữ tình trung, hiện đại (thơ cổ thể truyền thống, thơ tự do)
Loại kịch gồm : kịch dân gian (chèo, tuồng, múa rối…) và kịch hiện đại (bi, hài, chính kịch…)
Mỗi một thể loại khác nhau sẽ có những phương thức giao tiếp khác nhau Nên trong quá trình tiếp nhận, chúng ta cũng phải căn cứ vào từng thể loại để có thể dễ dàng chiếm lĩnh tác phẩm Tuy nhiên, bạn đọc nên hiểu cách phân chia trên một cách mềm dẻo hơn Chúng ta không nên đi xác định ranh
Trang 14giới rõ ràng, dứt khoát giữa các loại thể văn học Bởi trong quá trình phát triển văn học, các thể loại luôn có sự tác động qua lại bổ sung cho nhau 1.2.3 Tiếp nhận văn học theo loại thể
Nhà văn sử dụng một phương thức chủ đạo sáng tạo nên hình tượng thẩm mỹ để bạn đọc khám phá và chiếm lĩnh Phương thức đó chính là sáng tác theo thể loại Chính vì vậy, người đọc cũng phải cảm thụ tác phẩm trên cơ
sở thể loại Mỗi tác phẩm văn học đều tồn tại dưới một thể loại nhất định Lí thuyết về thể loại ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động dạy và học tác phẩm văn học trong nhà trường Nó không phải là công cụ vạn năng nhưng là công cụ quan trọng để chiếm lĩnh tác phẩm văn học
Có nhiều con đường, cách thức để tiếp nhận tác phẩm văn học Nhưng tiếp nhận văn học dựa trên cơ sở đặc điểm thể loại có nhiều lợi thế vì: thể loại
là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm Trong đó, mỗi nội dung nhất định sẽ có một loại hình thức nhất định Nó góp phần tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể Thể loại chính là cách thức tổ chức tác phẩm, kiểu tái hiện đời sống, một kiểu giao tiếp… Nó tương đối ổn định và bền vững trong cấu trúc tác phẩm Chính vì lẽ đó, thể loại đã được quan tâm và trở thành cách tiếp nhận văn chương hiệu quả
1.2.4 Thể loại tự sự
1.2.4.1 Khái niệm
Tự sự là một từ Hán - Việt nghĩa là “kể chuyện” Thuật ngữ “tự sự” đã
ra đời rất lâu và có rất nhiều quan niệm khác nhau về thể loại tự sự
Trong“Từ điển tiếng Việt” (2007) “tự sự là thể loại văn học phản ánh
hiện thực bằng cách kể lại sự việc, miêu tả tính cách thông qua cốt truyện tương đối hoàn chỉnh”
Trang 15“Từ điển thuật ngữ văn học ” quan niệm “tự sự là phương thức tái hiện
đời sống bên cạnh hai phương thức khác là trữ tình và kịch được dùng làm cơ
sở để phân loại tác phẩm văn học” [4 ; 328]
Trong sách “Lí luận văn học”,“tự sự là tác phẩm phản ánh đời sống
trong tính khách quan của nó qua con người, hành vi, sự kiện được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó ”
Giáo sư Trần Thanh Đạm trong “Mấy vấn đề giảng dạy tác phẩm văn
học theo loại thể” quan niệm “tự sự là loại tác phẩm văn học tái hiện trực tiếp
hiện thực khách quan như một cái gì tách biệt, ở bên ngoài đối với tác giả thành một câu chuyện có sự phát triển tâm trạng, tính cách, hành động của con người”
Như vậy, có rất nhiều cách quan niệm khác nhau về thể loại tự sự Song về cơ bản, tự sự là một khái niệm rộng là thể loại văn học phản ánh hiện thực đời sống một cách khách quan mà ở đó nhà văn dùng phương thức kể là phương thức chủ yếu để tái hiện đời sống và biểu hiện những tư tưởng tình cảm của mình
1.2.4.2 Sự phân chia thể loại tự sự
Ta có thể chia thể loại tự sự dựa trên những căn cứ sau:
Căn cứ vào tiến trình lịch sử văn học có thể chia tự sự thành: tự sự dân gian, tự sự trung đại, tự sự hiện đại
Căn cứ vào phương thức sáng tác có thể chia tự sự thành: tự sự chủ nghĩa cổ điển, tự sự chủ nghĩa lãng mạn, tự sự chủ nghĩa hiện thực
Căn cứ vào dung lượng có thể chia tự sự thành: truyện ngắn, truyện dài, truyện vừa
Trên đây là những căn cứ cơ bản để phân chia thể loại tự sự Hiện nay, khi phân chia thể loại tự sự, chúng ta vẫn dựa vào những căn cứ này
1.2.4.3 Đặc điểm thể loại tự sự
Trang 16Đặc điểm của thể loại văn học là các dấu hiệu cơ bản nhất để nhận ra loại hình văn học này so với loại hình văn học khác Ở thể loại tự sự, những dấu hiệu đó thể hiện ở ba yếu tố: cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ
* Cốt truyện
Cốt truyện là thành phần không thể thiếu trong tác phẩm tự sự Nó là yếu tố đầu tiên để xây dựng lên một tác phẩm văn học Một số quan niệm về cốt truyện được hiểu như sau:
“Từ điển tiếng Việt” (2007) cho rằng “cốt truyện là một hệ thống sự
kiện làm nòng cốt cho sự diễn biến các mối quan hệ và sự phát triển của tính cách nhân vật trong tác phẩm văn học loại tự sự”
Trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học”, “cốt truyện là hệ thống sự
kiện cụ thể, được tổ chức theo yêu cầu tư tư tưởng nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học ”[4;88]
Hoặc trong cuốn “Lí luận văn học ”(GS Hà Minh Đức chủ biên)“ cốt
truyện là hệ thống các sự kiện phản ánh những diễn biến của cuộc sống và nhất là các xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua đó các cách hình thành
và phát triển trong mối quan hệ qua lại của chúng làm sáng tỏ chủ để và tư tưởng tác phẩm”
Có nhiều quan niệm khác nhau về cốt truyện nhưng về cơ bản cốt truyện được hiểu là tập hợp các sự kiện, sự việc, biến cố trong đời sống được nhà văn tập hợp lại tạo thành một hệ thống Hệ thống đó đầy đủ chặt chẽ các thành phần (trình bầy, khai đoạn, phát triển, cao trào, kết thúc) Trong quá trình vận động phát triển, khái niệm cốt truyện có sự biến đổi Nó trở nên linh hoạt hơn, có thể không đầy đủ các thành phần nhưng vẫn phải có các yếu tố: (quá trình hình thành, phát triển, kết thúc)
Như vậy, nói tới cốt truyện là nói tới các biến cố, các sự kiện có ý nghĩa quyết định đến cuộc đời nhân vật Qua cốt truyện, chúng ta sẽ có cái
Trang 17nhìn bao quát tác phẩm và có thể giúp bạn đọc hình dung về sự vận động chiều hướng con đường đời nhân vật cũng như ý đồ nghệ thuật của tác giả
*Nhân vật
Bất kì một tác phẩm văn học nào cũng có nhân vật Nhân vật chính là phương tiện hình thức để nhà văn phản ánh, tái hiện đời sống, gửi gắm những quan điểm, tư tưởng tình cảm của mình
Hiểu một cách cụ thể nhân vật văn học là “con người cụ thể được miêu
tả trong tác phẩm văn học” [4 ;202]
Theo G.S Trần Thanh Đạm: “nhân vật là hình tượng những con người đang sống, suy nghĩ, cảm xúc, hành động trong những môi trường, hoàn cảnh, tình huống, những con người có quá trình, vận mệnh, có khi có bản sắc và có tính cách”
Tuy nhiên, trong các tác phẩm ngụ ngôn, thậm chí cả truyện hiện đại thì nhân vật trong tác phẩm không chỉ là con người Nó còn có thể là các con vật Ví như, trong tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu kí” của Tô Hoài, các nhân vật
là các loài vật: Dế Mèn, Dế Trũi, Cào Cào, Gọng Vó, Xén Tóc… Vì vậy, nhân vật phải được hiểu theo nghĩa rộng Nó có mối quan hệ chặt chẽ với
“con người” trong đời sống nhưng nó không đồng nhất… Theo cách hiểu này, nhân vật văn học không chỉ là con người mà còn có thể là những sự vật, loài vật ít nhiều mang bóng dáng, tính cách của con người được dùng như những phương thức để biểu hiện con người
Nhân vật là một đặc điểm nổi bật của tác phẩm tự sự Ở mỗi một phương pháp sáng tác, mỗi trào lưu văn học và mỗi nhà văn khác nhau lại có những kiểu xây dựng nhân vật khác nhau Tuy nhiên, các nhân vật trong tác phẩm tự sự vẫn luôn phải tuân thủ theo một số qui ước: nhân vật phải có lai lịch, xuất thân, tính cách và luôn được đặt trong các mối quan hệ khác nhau của nhân vật Những qui ước ấy không chỉ là căn cứ để nhà văn xây dựng
Trang 18nhân vật mà còn là cơ sở để người đọc có thể tiếp nhận, tìm hiểu các nhân vật trong tác phẩm
* Ngôn ngữ
Đặc trưng thứ ba của thể loại tự sự là ngôn ngữ Cùng với cốt truyện và nhân vật thì ngôn ngữ là đặc trưng quan trọng vì nó vừa là công cụ vừa là chất liệu cơ bản của văn học
Ngôn ngữ là yếu tố mang tính phi vật thể được dùng để xây dựng tác
phẩm văn học Vì vậy, M.Gorki đã khẳng định “yếu tố đầu tiên của văn học
là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó và cùng với các sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống-là chất liệu của văn học”
Căn cứ vào thể loại văn học, người ta chia ngôn ngữ văn chương thành
ba loại: ngôn ngữ tự sự, ngôn ngữ trữ tình và ngôn ngữ kịch Cả ba loại ngôn ngữ này đều mang tính chính xác, tính hàm xúc, tính đa nghĩa và tính biểu cảm cao Tuy nhiên, những thuộc tính chung đó thể hiện qua các loại thể văn học khác nhau là khác nhau
Cụ thể, trong tác phẩm tự sự, ngôn ngữ chủ yếu là dùng lối kể chuyện
để phản ánh hiện thực và biểu hiện tâm tư con người Trong ngôn ngữ tự sự lại được chia thành: ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ người kể chuyện Hai loại ngôn ngữ này luôn đan xen, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện xuyên suốt từ đầu đến cuối tác phẩm Qua hệ thống tín hiệu ngôn ngữ ấy, chúng ta
sẽ hiểu được nội dung tư tưởng cũng như giá trị nghệ thuật mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm của mình
Cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ là ba yếu tố có mối quan hệ khăng khít với nhau Nó chính là cơ sở để tạo nên một chỉnh thể văn học
1.3 Vấn đề đọc - hiểu
1.3.1 Quan niệm đọc - hiểu
Trang 19Đọc - hiểu là vấn đề đã được đặt ra từ rất lâu trong lịch sử loài người Những năm gần đây, vấn đề này đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Có rất nhiều những quan niệm khác nhau về vấn đề đọc - hiểu
Theo GS.TS Nguyễn Thanh Hùng trong “Đọc - hiểu văn chương”
(Tạp chí GD số 92, [tr26]) quan niệm “đọc - hiểu là một hoạt động của con người Nó không chỉ là hình thức nhận biết nội dung ý tưởng từ văn bản mà còn là hoạt động tâm lí giàu cảm xúc có tính trực giác và khái quát trong sự nếm trải của con người”…
Hoặc theo PGS.TS Nguyễn Thái Hoà cho rằng: “đọc hiểu là hành vi ngôn ngữ sử dụng một loạt thủ pháp và thao tác bằng cơ quan thị giác, thính giác để tiếp nhận, phân tích, giải mã và ghi nhớ nội dung thông tin, cấu trúc
văn bản ” (cuốn “Vấn đề đọc hiểu và dạy đọc hiểu”-Viện nghiên cứu sư phạm
trường ĐHSP Hà Nội [tr4])
Một nhóm tác giả SGK Ngữ văn THCS như Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử… lại cho rằng “đọc - hiểu là một phương pháp và phương pháp này tập trung nhiều vào văn bản” Với quan niệm này, đọc - hiểu tồn tại là một phương pháp với tư cách ngang bằng các phương pháp khác như phương pháp so sánh, phân tích, giảng giải… Đây là một quan niệm mới và hết sức tiến bộ Bởi trước đây, đọc - hiểu chỉ được coi là một cấp độ của giảng dạy, một trong bốn kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết) của học sinh Nhưng trong thời đại công nghệ thông tin phát triển thì đọc - hiểu đã trở thành một phương pháp, một con đường tiếp nhận tác phẩm văn học
Quan niệm của nhóm những người làm phương pháp trường ĐHSP Hà Nội mà GS Phan Trọng Luận (chủ biên) lại cho rằng “đọc - hiểu là một kiểu dạy học văn bản Ngữ văn” Do quan niệm đọc - hiểu là một kiểu dạy học nên trong quá trình dạy người dạy có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau trong kiểu dạy học mới này như: phương pháp so sánh, phân tích, giảng
Trang 20bình…Tuỳ thuộc vào những loại văn bản cụ thể mà người dạy có thể chọn cho mình những phương pháp phù hợp với kiểu dạy học tích cực: đọc - hiểu như hiện nay
Trên đây là một số quan niệm khác nhau về đọc - hiểu Tuy có những quan niệm khác nhau nhưng tất cả những quan niệm trên đều đặc biệt quan tâm đến một hoạt động khi dạy các văn bản Ngữ văn đó là hoạt động đọc Đọc là một hoạt động của con người để hướng tới một mục đích nhất định Trong quá trình nghiên cứu đề tài, người viết sẽ vận dụng đọc - hiểu với tư cách là một kiểu dạy học, một quá trình lao động sáng tạo mang tính thẩm mỹ nhằm phát hiện ra những giá trị của tác phẩm trên cơ sở phân tích đặc trưng thể loại văn bản
1.3.2 Đọc - hiểu là con đường tiếp nhận tác phẩm văn học
Văn chương là loại hình nghệ thuật ngôn từ lấy ngôn ngữ làm chất liệu
để xây dựng nên những hình tượng nghệ thuật Thông qua hình tượng nghệ thuật, nội dung tư tưởng của tác phẩm sẽ được thể hiện Do vậy, bạn đọc muốn giải mã được những kí tự ngôn ngữ để chiếm lĩnh, xử lý những thông tin trong tác phẩm thì không có cách nào khác là phải tiến hành quá trình đọc
- hiểu
Tác phẩm văn chương là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”
Nó là cái thuộc về tinh thần, là cái vô hình, vô ảnh Không chỉ vậy, nó còn là sản phẩm cuả sự hư cấu và tưởng tượng của nhà văn Bạn đọc muốn tiếp nhận được tác phẩm văn học cần phải có tầm đón nhận nhất định Nó phụ thuộc vào vốn hiểu biết, kinh nghiệm sống và các điều kiện cụ thể của mỗi người
Để làm được điều đó, bạn đọc không có cách nào khác là phải đọc Đọc - hiểu tác phẩm văn học không chỉ là một hoạt động nhận thức nội dung tư tưởng văn bản mà còn là một hoạt động trực quan sinh động, giàu cảm xúc, có tính trực giác và khái quát trong sự nếm trải của con người
Trang 21Trong dạy học hiện nay, với quan điểm dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm nhằm hướng tới quá trình tự vận động bên trong của học sinh thì vấn đề đọc - hiểu được đặt ra có tính cấp bách và ngày càng có vai trò quan trọng Đọc - hiểu không chỉ giúp bạn đọc tìm ra những tầng ý nghĩa ẩn sâu trong từng câu chữ, nhận thấy tư tưởng, tình cảm mà nhà văn muốn gửi gắm trong tác phẩm mà thông qua đọc - hiểu chúng ta sẽ có nhu cầu nhận được thêm kinh nghiệm, hiểu biết về đời sống xã hội Từ đó dần tích luỹ kiến thức để hiểu văn, hiểu đời, hiểu người và tự hoàn thiện nhân cách của mình
Hơn nữa, khi diễn ra quá trình đọc - hiểu giữa bạn đọc và tác giả luôn diễn ra một cuộc giao tiếp ngầm thông qua văn bản Văn bản nào cũng có những khoảng trống để cho bạn đọc thoả sức liên tưởng, tưởng tượng và sáng tạo Khi lấp đầy những khoảng trống đó cũng là lúc người đọc đã hiểu và tiếp nhận được thông tin mà tác giả cần truyền tải qua văn bản Qua quá trình tiếp nhận ấy, khoảng cách giữa bạn đọc và nhà văn rút ngắn lại, bạn đọc được coi
là người đồng sáng tạo cùng nhà văn
Như vậy, có thể nói, con đường ngắn nhất để bạn đọc tiếp xúc với các giá trị của tác phẩm văn học là thông qua đọc - hiểu Đọc - hiểu chính là con đường đặc thù để tiếp nhận tác phẩm văn học
1.3.3 Các bước đọc - hiểu tác phẩm văn học
Đọc là một hoạt động văn hóa mà con người sử dụng để lĩnh hội tri thức và hoàn thiện nhân cách của mình Đọc - hiểu tác phẩm văn học là dựa vào các đặc điểm của tác phẩm văn học để tiến hành hoạt động dạy và học theo các bước đọc - hiểu
Đọc - hiểu tác phẩm văn học được tiến hành qua 4 bước:
* Đọc thông - đọc thuộc
Trang 22Bước khởi đầu quan trọng không thể thiếu cho toàn bộ quá trình tiếp nhận và khám phá tác phẩm văn học là đọc thông - đọc thuộc
Đọc thông được hiểu là đọc một cách rõ ràng, mạch lạc, đúng chính
âm, đúng ngữ điệu Mục đích của bước đọc này là tái hiện lớp vỏ âm thanh ngôn ngữ của tác phẩm để từ đó giúp người đọc có thể tưởng tượng ra lớp hình ảnh của tác phẩm Đồng thời, nó kích thích mọi giác quan và trí tưởng tượng giúp bạn đọc ý thức được các biến cố của cốt truyện
Đọc thông có thể tiến hành trước hoặc trong tiết học tuỳ theo dung lượng của các tác phẩm Qua việc đọc này, giáo viên hướng dẫn học sinh đọc
và tìm hiểu xuất xứ, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm Ví như khi dạy “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam, giáo viên yêu cầu học sinh đọc tiểu dẫn và khái quát những nét cơ bản về tác giả ở các phương diện: cuộc đời, đặc điểm sáng tác
và xuất xứ của tác phẩm
Đọc thuộc được hiểu là ghi nhớ trong óc đến mức có thể đọc lại văn bản ấy mà không cần có văn bản Với cách này, bạn đọc có thể tóm tắt được văn bản văn học tương đối hoàn chỉnh với quy mô và dung lượng lớn Ví dụ, khi đọc thuộc tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao, GV hướng dẫn học sinh nắm được cốt truyện tác phẩm với các tình tiết biến cố: Thời thơ ấu của Chí Phèo, quá trình tha hoá của Chí Phèo sau khi bị Bá Kiến đẩy vào tù Ra tù, Chí Phèo gặp Thị Nở Anh ước muốn làm người lương thiện nhưng bị từ chối Chí Phèo giết Bá Kiến rồi tự sát
Như vậy, vấn đề thiết yếu của bước đọc này là người đọc phải tóm tắt được tác phẩm, kể lại được cốt truyện Thông qua đó, người đọc sẽ có cái nhìn bao quát toàn bộ tác phẩm về dung lượng, hình thức tổ chức, các nội dung thông báo chủ yếu Đây chính là bước chuẩn bị về tâm thế, tâm lí cho các bước tiếp theo của quá trình tiếp nhận văn học
Trang 23
* Đọc kĩ - đọc sâu
Đọc kĩ là đọc nhiều lần, đọc để biết được bố cục, kết cấu và những nội dung chủ yếu của tác phẩm Một tác phẩm văn học luôn có nhiều sự kiện, biến cố, hình tượng nên người đọc buộc phải có một thao tác lựa chọn để tìm
ra các chi tiết tiêu biểu, hình ảnh đặc sắc, biến cố quan trọng và các nhân vật chính, nhân vật trung tâm Để thực hiện được thao tác lựa chọn ấy, người đọc cần phải đọc kĩ Như vậy, có thể hiểu, đọc kĩ là đọc để lựa chọn ra các yếu tố đặc sắc có hàm lượng tư tưởng cao của tác phẩm
Khi dạy “Vợ chồng A Phủ”của Tô Hoài, GV hướng dẫn HS đọc kĩ tác
phẩm cần thấy được tác phẩm có hai nhân vật chính là Mị và A Phủ Trong
đó, Mị chính là nhân vật trung tâm nắm mọi tư tưởng của tác phẩm Ở Mị, chúng ta cần thấy được sức sống tiềm tàng mãnh liệt của cô dù bị bắt làm con dâu gạt nợ Đặc biệt sức sống mãnh liệt ấy được biểu hiện trong những đêm tình mùa xuân và trong đêm cứu A Phủ
Đọc sâu là đọc để phát hiện ra cấu trúc nội tại của tác phẩm.Trong tác phẩm văn học, cấu trúc nội tại chính là sự vận động và phát triển tư tưởng
cảm xúc của hình tượng nghệ thuật Như trong “Mùa Lạc” của Nguyễn Khải,
học sinh đọc sâu là để thấy được sự vận động phát triển tính cách của nhân vật Đào từ trước khi lên nông trường Điện Biên đến sau khi lên nông trường với những thay đổi mới lạ trong tính cách, con người chị
* Đọc hiểu - đọc sáng tạo
Đọc - hiểu là yêu cầu quan trọng nhất trong quá trình đọc - hiểu một tác phẩm văn học Tác phẩm văn học nói chung cũng như tác phẩm tự sự nói riêng luôn hàm chứa nhiều tầng ý nghĩa Do đó, đọc - hiểu là đọc để hiểu được đúng ngôn ngữ, hiểu đúng thông tin và giải mã được những hình ảnh, hình tượng của toàn bộ tác phẩm
Muốn làm được điều đó, người đọc phải sử dụng một số các phương pháp như so sánh, phân tích, giảng giải… để có thể lí giải một cách hợp lí, phù hợp những thông tin trong tác phẩm
Trang 24Đọc sáng tạo Sau khi đã tìm ra ý nghĩa của tác phẩm văn học, bạn đọc tiếp tục tiến hành hoạt động đọc sáng tạo Mỗi tác phẩm văn học đều có những khoảng trống do nhà văn tạo ra và bạn đọc phải bằng tưởng tượng, liên tưởng kết hợp với vống sống, vốn hiểu biết của mình để lấp đầy những khoảng trống đó Như vậy, đọc sáng tạo nhằm giúp bạn đọc tìm ra những giá trị mới về tư tưởng, nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm Ví dụ, khi
đọc sáng tạo tác phẩm “Truyện Kiều” của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, giáo
viên cần hướng dẫn học sinh tìm hiểu những giá trị tư tưởng của tác phẩm như thuyết “tài mệnh tương đố”, thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến, hay tình yêu thuỷ chung son sắt giữa Thuý Kiều và Kim Trọng… Đặc biệt là nội dung tố cáo xã hội phong kiến và tấm lòng nhân đạo sâu sắc cảm thương thân phận cô Kiều Đồng thời, giáo viên cần hướng dẫn học sinh nắm được tài năng nghệ thuật cuả Nguyễn Du thông qua thể thơ dân tộc (lục bát)
và biện pháp ước lệ tượng trưng…
*Đọc đánh giá - Đọc ứng dụng
Đọc đánh giá là đọc để bày tỏ thái độ của người đọc với nội dung các thông tin và hình thức tổ chức tác phẩm Trong đọc đánh giá có đánh giá chủ quan và đánh giá khách quan Nếu đánh giá khách quan phải khoa học chính xác thì đánh giá chủ quan là bày tỏ thái độ của mình (khen, chê, bình luận ) với nhân vật nhà văn đặt ra trong tác phẩm Bạn đọc xuất phát từ tình yêu mến, đồng tình hay không đồng tình để có thể đưa ra những đánh giá riêng của mình Chẳng hạn, khi đánh giá nhân vật Thuý Kiều trong tác phẩm
“Truyện Kiều” của Nguyễn Du, bạn đọc bên cạnh cách đánh giá với thái độ
cảm thông, thương xót cho thân phận nàng Kiều thì cũng có những đánh giá chủ quan, phiến diện tỏ ý chê trách nàng Kiều Có thể thấy, để đưa ra được những đánh giá phù hợp, xác thực, bạn đọc cần có một tầm đón nhận nhất định Nó phụ thuộc vào kinh nghiệm sống, vốn hiểu biết của mỗi người
Trang 25Đọc ứng dụng Mỗi tác phẩm văn chương đếu chứa đựng trong nó những bài học cuộc đời Bạn đọc cần phải có kiến thức và kĩ năng để vận dụng những bài học cụ thể đó vào việc học tập trước mắt cũng như trong cuộc sống lâu dài Qua đó, bạn đọc có thể hiểu mình hơn và sẽ có cách sống tốt đẹp
hơn Ví dụ, sau khi học xong “Dế Mèn phiêu lưu kí” của Tô Hoài, bạn đọc sẽ
thấy được những cuộc phiêu lưu lí thú, đầy sóng gió của Dế Mèn - một chàng
dế cường tráng, quen sống độc lập từ bé Buổi đầu, tuy kiêu ngạo hung hăng nhưng sau vài lần vấp váp Mèn đã rút ra được những bài học bổ ích và tỉnh ngộ dần Nhà văn Tô Hoài đã mượn thế giới loài vật để nói về cuộc sống con người Dế Mèn là một hình ảnh đẹp cuả tuổi trẻ say mê lí tưởng, dũng cảm, trung thực và cũng rất đáng yêu
Qua trên, chúng ta đã thấy được quá trình đọc - hiểu một tác phẩm văn học Đây là những bước căn bản, hữu ích giúp bạn đọc khám phá được tác phẩm văn học Các bước này không tồn tại một cách biệt lập mà luôn vận động trong sự tương tác lẫn nhau, chi phối lẫn nhau góp phần định hướng cho hoạt động tiếp nhận văn học diễn ra trong nhà trường đạt hiệu quả
1.3.4 Các hoạt động cơ bản của quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học
Khi chuyển hoá các bước đọc - hiểu tác phẩm tự sự vào hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn học, một giờ văn sẽ có một số hoạt động sau: tạo tâm thế, tri giác ngôn ngữ, tái tạo hình tượng nghệ thuật, phân tích và khái quát nghệ thuật, đánh giá và tự biểu hiện
* Hoạt động 1: Tạo tâm thế tiếp nhận
Đây là hoạt động khởi đầu cho toàn bộ quá trình tiếp nhận Nó có vai trò như một sự khởi động để chuẩn bị tâm lý cho học sinh khi bắt đầu một giờ học văn Hoạt động này có thể thực hiện bằng lời giới thiệu bài mới một cách ngắn gọn, hàm xúc, có khả năng tạo ấn tượng cao Hoặc thông qua việc kiểm tra những kiến thức mà học sinh đã được trang bị trước đó để tạo cơ sở, làm
Trang 26công cụ cho việc tiếp nhận kiến thức mới Hay cũng có thể nêu tình huống có vấn đề, tổ chức một trò chơi phù hợp với nội dung bài sắp tới Tuỳ vào trình
độ năng lực và lứa tuổi học sinh, giáo viên có thể đưa ra những cách làm phù hợp
Chẳng hạn, để tạo tâm thế tiếp nhận đoạn trích “Bài học đường đời đầu
tiên” (trích Dế Mèn phiêu lưu kí), giáo viên đưa ra lời giới thiệu ngắn gọn ấn
tượng bằng cách cho học sinh xem chân dung Tô Hoài, xem cuốn “Dế Mèn
phiêu lưu kí” (1941) và đặt câu hỏi Dế Mèn là ai? Chân dung và tính cách
nhân vật độc đáo như thế nào? Bài học đường đời đầu tiên mà anh ta nếm trải
ra sao? Bài học hôm nay chúng ta sẽ cùng tìm hiểu
* Hoạt động 2: Tri giác ngôn ngữ
Tri giác ngôn ngữ là hoạt động bạn đọc đọc và cắt nghĩa các kí hiệu ngôn ngữ để có thể hiểu được ngôn ngữ, hình dung ra bức tranh đời sống mà tác giả muốn gửi gắm vào tác phẩm Muốn vậy, giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc văn bản, đọc tiểu dẫn, đọc chú thích để thông qua đó học sinh có thể khám phá và tiếp nhận được các thông tin trong tác phẩm
Ví dụ, khi giáo viên hướng dẫn học sinh đọc tiểu dẫn và văn bản “Vợ
chồng A Phủ,” học sinh sẽ nắm được những nét cơ bản về tác giả Tô Hoài, về
tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”, nắm được diễn biến các sự kiện xoay quanh
cuộc đời Mị và A Phủ, đặc biệt là Mị Từ đó, học sinh có thể hiểu được cuộc sống cực nhục, tối tăm và quá trình đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc vùng lên tự giải phóng khỏi bọn thực dân và chúa đất thống trị
* Hoạt động 3: Tái tạo hình tượng nghệ thuật
Tái tạo hình tượng nghệ thuật là hoạt động người đọc sau khi đọc văn bản bằng sự tưởng tượng và liên tưởng của mình có thể kể lại, thuật lại, mô tả lại toàn bộ bức tranh thiên nhiên, vạn vật, những mối quan hệ, những xung
Trang 27đột trong xã hội chứa đựng trong văn bản Hoạt động này làm cho khoảng cách giữa bạn đọc và tác phẩm văn chương được rút ngắn lại
Chẳng hạn, sau khi đã đọc đoạn trích “ Bài học đường đời đầu tiên”,
mỗi học sinh sẽ hình dung, tưởng tượng về chàng Dế Mèn là một thanh niên cường tráng, khoẻ mạnh nhưng kiêu căng tự phụ về vẻ đẹp và sức mạnh của mình Mèn hay xem thường và bắt nạt mọi người Một lần, Mèn bày trò trêu chị Cốc để khoe khoang trước anh hàng xóm Dế Choắt Kết quả đã dẫn đến cái chết thảm thương của người bạn xấu số Dế Choắt Cái chết của Choắt làm Mèn vô cùng hối hận về thói hung hăng bậy bạ của mình
*Hoạt động 4: Phân tích và khái quát nghệ thuật
Mỗi tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật chứa đựng trong đó những tư tưởng khái quát, sâu sắc về con người, về vấn đề xã hội Những điều này luôn ẩn dấu đằng sau bề mặt của văn bản ngôn từ Bạn đọc muốn hiểu được cần thực hiện hoạt động phân tích và khái quát nghệ thuật Để thực hiện quá trình phân tích và khái quát nghệ thuật, đầu tiên, chúng ta phải chia tách chỉnh thể tác phẩm văn học thành nhiều bộ phận dựa vào kết cấu, bố cục, cấu trúc của nó để thấy được ý nghĩa, vai trò của nó trong chỉnh thể Sau đó, bạn đọc tiếp tục gộp các bộ phận đã chia tách lại để có cái nhìn khái quát sâu sắc về chỉnh thể nghệ thuật
Khi tìm hiểu đoạn trích “Bài học đường đời đầu tiên”, giáo viên nên
hướng dẫn học sinh phân chia bố cục Đoạn trích được chia làm 2 phần: phần
1 từ đầu đến “đứng đầu thiên hạ rồi” phần này miêu tả hình dáng, tính cách của Dế Mèn Phần 2 là phần còn lại Nó nói về bài học đường đời đầu tiên của
Dế Mèn Sau khi đã phân tích các phần, giáo viên hướng dẫn học sinh khái quát tác phẩm với ý nghĩa: Bài học về sự ích kỉ, tính kiêu ngạo dẫn đến tội ác của Dế Mèn
*Hoạt động 5: Đánh giá và tự biểu hiện
Trang 28Đánh giá là cách nhận định vấn đề dựa vào những căn cứ khoa học xác thực, chuẩn mực đạt được sự công bằng hợp lí Tự biểu hiện là đánh giá vấn
đề một cách chủ quan Người đọc có thể bày tỏ thái độ của mình trước vấn đề được nêu ra tuỳ thuộc vào tầm hiểu biết và cách lí giải của mỗi người mà có những đánh giá khen, chê khác nhau của cùng một vấn đề
Như vậy, khi chuyển hoá các bước đọc - hiểu tác phẩm văn học vào hoạt động tiếp nhận tác phẩm sẽ có sự tương ứng: bước đọc - thông đọc - thuộc sẽ ứng với hoạt động tạo tâm thế và tri giác ngôn ngữ Đọc kĩ - đọc sâu, đọc hiểu - đọc sáng tạo sẽ tương ứng với hoạt động tái tạo hình tượng nghệ thuật và phân tích và khái quát nghệ thuật Sau cùng, bước đọc đánh giá và ứng dụng sẽ ứng với hoạt động đánh giá và tự biểu hiện Sự chuyển hoá phối hợp hài hoà giữa các bước và hoạt động sẽ giúp học sinh dễ dàng hơn trong quá trình tiếp nhận một tác phẩm văn học nói chung và tác phẩm tự sự của Tô Hoài nói riêng
2 Cơ sở thực tiễn
2.1 Đọc - hiểu tác phẩm tự sự trong nhà trường phổ thông
Đọc - hiểu tác phẩm văn học theo thể loại là vấn đề đã được đặt ra từ lâu Song việc áp dụng đọc - hiểu vào giảng dạy các tác phẩm trong nhà trường phổ thông vẫn còn dè dặt và thưa thớt bởi lẽ:
Lâu nay, trong nhà trường phổ thông, việc dạy các tác phẩm văn học nói chung, tác phẩm tự sự nói riêng thường theo tiến trình lich sử, theo chủ
đề Vấn đề thể loại ít được quan tâm nên trong hoạt động dạy của giáo viên còn nhiều phiến diện Dẫn đến tình trạng học sinh không thể hiểu kĩ, sâu sắc
về tác phẩm văn học
Hơn nữa, ở trường phổ thông, một số giáo viên vẫn coi trọng phương pháp dạy học truyền thống theo lối mòn cũ của lí thuyết “giảng văn” Họ chưa cập nhật được phương pháp dạy học theo hướng đổi mới là đọc - hiểu Trong
Trang 29các tiết dạy Ngữ văn, giáo viên vẫn đóng vai trò chủ đạo trong việc tìm hiểu tác phẩm, sau đó truyền đạt lại cho học sinh tiếp nhận những vấn đề mà mình khai thác được Học sinh luôn bị động tiếp nhận những vấn đề mà thầy cô truyền đạt sau đó ghi vào trong vở Việc này dẫn đến thực trạng học sinh luôn thụ động trong giờ học văn Nó làm mất đi sự chủ động sáng tạo trong việc tìm tòi tác phẩm văn học cuả học sinh
Một vấn đề nữa là thực trạng một số giáo viên còn mơ hồ, chưa hiểu hết đặc trưng của từng thể loại, đặc biệt là thể loại tự sự Kết quả đã dẫn đến tình trạng giáo viên non yếu về mặt năng lực cũng như kĩ năng đọc - hiểu tác phẩm theo thể loại
Thực trạng giảng dạy tác phẩm tự sự trong nhà trường phổ thông như trên đã làm giảm chất lượng dạy, học của cả thầy và trò Để dạy tác phẩm tự
sự có hiệu quả thì phương pháp đọc - hiểu tác phẩm theo đặc trưng thể loại sẽ
là công cụ đắc lực để giúp học sinh có thể khám phá, tìm tòi những tác phẩm văn học trong và ngoài nhà trường Điều đó sẽ giúp học sinh có hứng thú, say
mê, sự sáng tạo với việc học môn Ngữ văn ở nhà trường phổ thông
2.2 Những hạn chế và hướng khắc phục trong việc tổ chức học sinh đọc-hiểu tác phẩm tự sự trong nhà trường PTTH
Từ thực trạng dạy và học đọc - hiểu tác phẩm tự sự trong nhà trường phổ thông, có thể rút ra một số những hạn chế cơ bản sau:
Trước tiên, về phía người dạy (GV) có một số hạn chế đó là:
Một số giáo viên chưa nắm vững những đặc trưng riêng cuả từng thể trong loại tự sự: (vì loại tự sự có nhiều thể truyện, kí, tuỳ bút ) dẫn đến tình trạng đánh đồng chúng trong quá trình giảng dạy Điều này khiến học sinh trong quá trình tiếp nhận tác phẩm sẽ bị mơ hồ, phiến diện
Từ tâm lí ngại đổi thay của giáo viên, ngại theo cái mới, vẫn quen lối dạy học cũ đã dẫn đến tình trạng một số giáo viên chưa thực sự nhiệt tình
Trang 30trong việc nghiên cứu, tìm tòi, đào sâu phương pháp dạy học đổi mới Có chăng, một số giáo viên chỉ làm để cho xong nhiệm vụ Điều này cũng là một trong những hạn chế trong công tác giảng dạy của người giáo viên Ngữ văn trong trường phổ thông
Về phía học sinh, khi đọc - hiểu tác phẩm tự sự cũng có một số hạn chế sau: Phần lớn, trước khi đến lớp, học sinh hiện nay chưa đọc kĩ văn bản ở nhà, thậm chí có em đến lớp mà văn bản vẫn chưa đọc, bài chưa soạn Nếu các em
có đọc thì cũng chỉ qua loa, cái gì cũng mơ hồ tưởng biết mà thực tình không biết gì Với cách học không nghiêm túc của học sinh như vậy thì việc tiếp nhận tác phẩm tự sự với các em quả thật là khó
Để khắc phục những hạn chế trên, trong phạm vi đề tài, người viết mạnh dạn đưa ra một số giải pháp định hướng góp phần giúp cho việc tiếp nhận tác phẩm tự sự của các em hiệu quả hơn
Về phía giáo viên, mỗi giáo viên cần nắm vững các đặc trưng của từng thể trong loại tự sự Từ đó, giáo viên tìm ra được những yếu tố khác biệt để có cách lí giải, lĩnh hội tác phẩm sâu sắc, đúng đắn Bên cạnh đó, giáo viên cần
có những định hướng hữu ích với việc đọc - hiểu tác phẩm của học sinh Đồng thời, các thầy cô cần có tinh thần học hỏi, nghiên cứu phương pháp dạy học đổi mới một cách tích cực, hạn chế lối dạy học theo phương pháp truyền thống
Về phía học sinh, các em cần có thái độ học tập nghiêm túc Các em phải đọc bài, soạn bài, chuẩn bị bài kĩ ở nhà và đến lớp phải hăng say tìm hiểu, phát biểu xây dựng bài Có như vậy việc đọc - hiểu tác phẩm Ngữ văn của các em mới có hiệu quả
Như vậy, có thể thấy, giải pháp hữu hiệu để khắc phục những hạn chế của phương pháp đọc - hiểu tác phẩm tự sự trong trường phổ thông chính là
sự kết hợp chặt chẽ giữa GV và HS Trong đó, HS đóng vai trò là trung tâm,
Trang 31chủ động trong mọi hoạt động còn GV chỉ là người tổ chức, định hướng, hướng dẫn học sinh Có như vậy, giờ đọc - hiểu Ngữ văn nói chung cũng như đọc-hiểu tác phẩm tự sự nói riêng mới đạt kết quả tốt hơn
CHƯƠNG 2 ĐỌC - HIỂU TÁC PHẨM TỰ SỰ CỦA TÔ HOÀI TRONG NHÀ TRƯỜNG PTTH THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI
1 Vị trí của nhà văn Tô Hoài trong trường PTTH
Xưa nay, Tô Hoài được biết đến trong dư luận xã hội như một nhà văn thân thuộc của nhiều thế hệ bạn đọc Kể từ khi cho ra đời tác phẩm đầu tay đến nay, ông đã có quá trình hơn 60 năm cầm bút Tuổi viết hiếm có, nhà văn lão thành Tô Hoài có một vị trí đặc biệt quan trọng trong nền văn học hiện đại Việt Nam nói chung và trong trường PTTH nói riêng
Đối với nền văn học Việt Nam, Tô Hoài được coi là một cây bút văn xuôi lực lưỡng bậc nhất Ông có nhiều đóng góp quan trọng vào tiến trình văn học mới Ông là nhà văn có bản lĩnh nghệ thuật vững vàng, luôn nêu cao tấm gương lao động cần mẫn, bền bỉ và giàu sáng tạo Tô Hoài để lại khối lượng sáng tác vô cùng đồ sộ trên 170 tác phẩm gồm đủ thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, kí sự, phóng sự, hồi kí, bút kí Trong đó, ông có đóng góp đặc sắc trên các mảng đề tài lớn như: vùng quê ngoại thành Hà Nội, đề tài miền núi Tây Bắc, các sáng tác cho thiếu nhi, chân dung và hồi ức Ngoài ra, ông còn viết tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác
Như vậy, với số lượng sáng tác đồ sộ, ta thấy tài năng và sức sáng tạo mãnh liệt, không mệt mỏi, suốt đời phấn đấu, suốt đời cống hiến hi sinh cho nghệ thuật của Tô Hoài Không chỉ như vậy, suốt một đời văn, Tô Hoài còn tạo dựng cho mình một phong cách nghệ thuật rất riêng và độc đáo Nó đã
Trang 32khiến ông thực sự chiếm được tình cảm của bạn đọc Đặc biệt, với giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 1(1996), Tô Hoài đã khẳng định được vị trí quan trọng của mình trong nền văn học Việt Nam
Trong nhà trường phổ thông, nhà văn Tô Hoài cũng có một vị trí xứng đáng với một số tác phẩm được tuyển chọn và đưa vào giảng dạy ở hai bậc THCS và THPT
Ở THCS, các em HS được làm quen với nhà văn Tô Hoài qua đoạn
trích “Bài học đường đời đầu tiên” được trích từ chương 1 của truyện “Dế
Mèn phiêu lưu kí” (1941) Đoạn trích sẽ được giảng dạy ở phần đầu của
chương trình SGK Ngữ văn 6 tập 2
Lên THPT, SGK Ngữ Văn 12 tập 2 tiếp tục giới thiệu bài giảng văn
“Vợ chồng A Phủ” được trích trong tập “Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài
(1953) Đây là tác phẩm từng đoạt giải nhất của hội văn nghệ Việt Nam (1954)
Như vậy, có thể thấy, người biên soạn đã chú trọng việc chọn lựa một
số tác phẩm tiêu biểu cho cá tính sáng tạo trong sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài để đưa vào giảng dạy cho học sinh trong nhà trường PTTH
Tóm lại, với tài năng và sức sáng tạo bền bỉ của mình, Tô Hoài đã sớm có được vị trí quan trọng không thể thiếu trong nhà trường PT cũng như trên thi đàn văn học trong và ngoài nước Sức viết và sự sáng tạo của nhà văn
Tô Hoài cho đến nay có thể khẳng định chưa một nhà văn Việt Nam hiện đại nào có thể vượt qua Ông xứng đáng là cây đại thụ của nền văn học nước nhà
2 Đặc điểm tác phẩm tự sự của Tô Hoài
Mỗi tác phẩm tự sự bao gồm 3 đặc trưng cơ bản là: cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ Đây chính là cơ sở lí luận, là lí thuyết chung để áp dụng vào các tác phẩm tự sự cụ thể Soi chiếu vào các sáng tác của Tô Hoài, ta thấy mặc dù các tác phẩm của ông được viết ở nhiều thể khác nhau (tiểu thuyết,
Trang 33truyện ngắn, bút kí ) nhưng ở thể nào những đặc trưng tiêu biểu của loại tự
sự cũng được hiện lên rất tiêu biểu và rõ nét
“người dân quê tôi cứ nói thế nào thì tôi theo đó mà xào xáo lại” Vậy tại sao
cảnh “đời thường” lại có sức hấp dẫn mạnh với Tô Hoài đến vậy? Phải chăng, xuất phát từ cảnh túng quẫn, khó khăn của làng Nghĩa Đô quê ông đang mất dần nghề vải hay hoàn cảnh gia đình nhọc nhằn của bản thân ông, cộng với
chính quan niệm văn chương của mình Tô Hoài đã cho rằng “văn chương có
khả năng nói được những điều gần gũi quanh mình ” Vậy là với những
chuyện viển vông giang hồ kì điệp không phải là sở trường của nhà văn mà chính cuộc sống bình dị xung quanh mới là mảnh đất để Tô Hoài khai phá
Nhãn quan hiện thực đời thường đã chi phối và biểu hiện rất nhất quán trong các sáng tác của Tô Hoài Không giống như Nam Cao, Ngô Tất Tố hay Nguyễn Công Hoan chủ yếu viết về những mâu thuẫn đối kháng, mâu thuẫn giai cấp trong xã hội thì Tô Hoài lại viết những chuyện tự nhiên trong dòng đời muôn thủa như chuyện: đói khát, thiếu ăn, đông con, cãi vã, cảnh sống dưới một mái nhà, trong từng gia đình, với những vui - buồn tạo nên cuộc sống hàng ngày
Trang 34Chẳng hạn, trong truyện ngắn “Buổi chiều ở trong nhà” là một buổi
chiều như bất cứ buổi chiều nào của gia đình anh Hối Ba bố con đang vui Người bố đang hát cho con nghe Bỗng cuộc chơi mất vui vì chị vợ phát hiện một cái chai bị mất vì ông chồng đã bán đi để mua kẹo Thế là diễn ra ngay cảnh xô xát và một cái chén ông chồng quẳng ra sân Sau đó, cơn ngủ kéo dài đến cho cả nhà Rồi sáng hôm sau, khi vợ đi làm, ông chồng tẩn mẩn ngồi gắn lại cái chén vỡ với hai đứa con bâu quanh xem ông bố chắp chắp, gắn gắn
Cũng có khi niềm vui lại được đưa lại sau một trận mưa rào như trong
truyện “Nhà nghèo” Gia đình anh Duyện đang trong một trận xô xát vì những
nguyên cớ chẳng đâu vào đâu Người bố đe giết cả vợ con, rồi đe đốt nhà Gã đang đi tìm lửa để đốt thì cơn mưa rào đổ xuống Mưa làm dịu cơn xô xát và
cả nhà Duyện xách giỏ ra đồng bắt nhái Những cơn mưa làm tan một cuộc cãi cọ và hứa hẹn một bữa nhái cho những bữa cơm nhà nghèo thường không
có thức ăn Nhưng không may niềm hăm hở để chuẩn bị cho bữa cơm chiều của anh Duyện ngay lập tức nhường chỗ cho nỗi đau vì cái chết của đứa con gái Nó chết cạnh giỏ nhái bên bờ ao có một vệt rắn trườn qua Cái chết thật là thảm thiết đến với một gia đình nghèo thế mà cứ nhẹ như không, cũng như nguồn vui bất chợt đến rất nhanh từ một trận mưa rào
Hồi kí “Cỏ dại” kể một chuyến hành hương ra thành phố của chính tác
giả trong vai cu Bưởi Cu phải rời quê, xa ông bà ngoại, xa mẹ và các dì để ra tỉnh Bao nhiêu bồi hồi và ngơ ngác trong tâm trạng cậu bé bắt đầu được ra thành phố trọ học Nhưng mọi tấp nập, nhộn nhịp của phường phố không sao khiến cậu nguôi khuây được nỗi nhớ nhà Việc học tập chả thấy đâu, chỉ thấy cậu hàng ngày phải lo mỗi việc: đánh đi đánh lại mấy đôi giầy, cọ mãi mấy cái chai và vần ra vần vào một cái lốp ôtô Cuối năm, cậu được trở về nhà với cái đầu mốc trắng vì hắc lào Tác phẩm mang đến cái nhìn vừa ngộ nghĩnh vừa sắc nét nhưng đượm buồn qua cặp mắt trẻ thơ Cuộc sống vĩnh hằng là
Trang 35vậy, đi giữa hai bờ buồn-vui cái vui thường đơn sơ thì buồn cũng không quá nặng nề
Tô Hoài cũng là một trong số ít những nhà văn viết nhiều cho thiếu nhi Ông viết các tác phẩm thuộc nhiều đề tài và rất được các em nhỏ yêu thích say mê như: Vừ A Dính, Kim Đồng đặc biệt là những truyện ngắn viết về thế giới loài vật rất đặc sắc như (Dế Mèn phiêu lưu kí, mụ Ngan, O Chuột, Đôi Gi Đá, tuổi trẻ, con mèo lười )
Chẳng hạn truyện “Vừ A Dính” kể về một thiếu niên dân tộc Mèo ở
vùng cao Châu Tuần Giáo đã chiến đấu và hi sinh rất dũng cảm trong cuộc kháng chiến chống Pháp Em đã nêu cao tinh thần bất khuất và lòng trung thành với cách mạng Đây là tác phẩm viết về một người thật, việc thật mà tác giả có dịp nghe kể và ghi lại
Hấp dẫn hơn nữa là những truyện viết về loài vật rất gần gũi với các
em thiếu nhi “O chuột” kể về một gã mèo Mướp cùng lũ chuột tá túc, kiếm
sống trong nhà Đối với mèo, chuột nhắt là giống gây khó chịu nhất vì chúng thường lăng quăng, bắng nhắng làm ngứa mắt Gã mèo Mướp bắt chúng chẳng phải để chén mà để vờn cho thoả cái thú nhìn con mồi trước cái chết Thế mà cũng lắm lúc bọn nhóc chuột thoát được Thành ra Mướp là nỗi lo sợ của toàn bộ họ nhà chuột Nhưng xem chừng Mướp cũng thất bại trong việc
đi lùng chuột nhắt để vờn đùa: “Cơ chừng gã mèo Mướp phải dành tất cả cái hoa niên của mình để mà chỉ luẩn quẩn đi “O chuột”(vờn chuột)
“Dế Mèn phiêu lưu kí” lại kể về những cuộc phiêu lưu lí thú, đầy sóng
gió của chàng Dế Mèn Dế Mèn là một chàng dế cường tráng, quen sống độc lập từ bé Buổi đầu, Dế Mèn có tính kiêu ngạo, hung hăng nhưng sau vài lần vấp váp, Mèn đã rút ra được những bài học bổ ích và tỉnh ngộ dần Chán cảnh sống quẩn quanh tầm thường bên bờ ruộng, Dế Mèn cất bước ra đi phiêu lưu
để mở rộng tầm mắt “đi một ngày đàng học một sàng khôn” và để tìm ý nghĩa
Trang 36cuộc đời Trên đường phiêu lưu, Dế Mèn đã thấy nhiều cảnh lạ, gặp nhiều chuyện rủi, chuyện may Dù trải qua nhiều khó khăn, nguy hiểm nhưng Dế Mèn không nản lòng, lùi bước Dế Mèn cùng Dế Trũi và các bạn đường chống lại những điều ngang trái, bất công ở đời, để tìm sự công bằng bình đẳng, đoàn kết, yêu thương của mọi loài
Như vậy, các tác phẩm viết cho thiếu nhi cũng được Tô Hoài đặt trong nhãn quan hiện thực đời thường Nó làm cho thế giới trong tác phẩm trở nên gần gũi, quen thuộc như cuộc sống hàng ngày xung quanh ta vậy
Ngoài ra, Tô Hoài còn viết nhiều đề tài về cách mạng, kháng chiến Tất
cả các tác phẩm ấy cũng mang đậm những yếu tố đời thường
Tóm lại, với cái nhìn của Tô Hoài, mọi chuyện vui-buồn, hay-dở trong cuộc sống sinh hoạt đều được nhà văn nhào lặn, đưa lên trang viết Qua đó, người đọc sẽ cảm nhận được tác phẩm với vẻ tự nhiên, suồng sã, đáng yêu của nó Muôn chuyện đời thường từ chuyện người đến chuyện vật đều được ông cảm nhận từ nhãn quan hiện thực đời thường là thế
2.1.2.Cốt truyện của Tô Hoài in đậm cảm quan sinh hoạt phong tục Văn học luôn phản ánh hiện thực mà phong tục là một trong những phạm vi hiện thực được văn học đề cập đến Vì thế, dù ít dù nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp thì phong tục luôn hiện hữu trong các sáng tác văn học Hơn nữa, sinh hoạt phong tục từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người Việt Nam Phong tục được hiểu là cái đời thường
cứ lặp đi lặp lại đan dệt thành phong tục Phong tục chính là sự kết lắng của tâm lý, văn hoá, lịch sử Ý thức về phong tục cũng là ý thức về bản sắc văn hoá dân tộc
Mỗi nhà văn khi viết về phong tục đều có những cảm quan hiện thực của riêng mình Nguyễn Tuân cảm nhận phong tục trên một giá trị thẩm mỹ đặc sắc gắn với truyền thống văn hoá dân tộc, gắn với lớp nghệ sĩ tài hoà, tài
Trang 37tử Kim Lân đến với phong tục với thú chơi tao nhã của đồng quê còn Tô Hoài lại cảm nhận phong tục trên mọi phương diện tồn tại tự nhiên của nó: từ phong tục đến hủ tục, từ nét đẹp văn hoá đến những sinh hoạt lạc hậu, ấu trĩ Tất cả những phong tục, hủ tục từ cuộc sống cứ tự nhiên đi vào trang văn của ông đến với bạn đọc trên tầm khái quát mới về cuộc đời, về con người
Đọc văn xuôi Tô Hoài trước cách mạng, chúng ta sẽ gặp rất nhiều các trang văn miêu tả phong tục của nhà văn Với ông, phong tục chính là công
cụ, phương tiện để nhận thức, thể hiện khám phá đời sống xã hội và con người
Trong “Quê người” ta thấy Tô Hoài thể hiện rất nhiều màu sắc dí dỏm
và đầy phong vị “có tính chất đặc thôn quê”: nào là đám hội, đám cưới, đám
ma, đám lên đồng, nào là những cảnh nuôi trẻ, nuôi người ốm, cách dậy con, chữa bệnh, đuổi tà ma, đòi nợ, đánh nhau tất cả đều hiện lên rất sinh động
Phong tục cảnh đám hội đông vui nhộn nhịp, cảnh mọi người được “thả cửa vui chơi, xem leo cột mỡ, đi cầu nổi, xem hát xẩm, đánh xúc xắc và xem tất cả mọi người” Cảnh lên đồng: “mỗi khi bà lên đồng thường gầm thét inh
ỏi Bà nhai đĩa, nhai bát ròn căng cắc Bà uống tiết gà, bà uống dầu ta ”
Hủ tục nuôi trẻ ở nhà quê dưới nét bút Tô Hoài người ta thấy cách nuôi
ấy ghê sợ vô cùng Cha mẹ đi làm vắng, giao con cho bà trông cháu nhưng bà lại mù và “bà lão bỏ bát cơm xuống, vỗ hai tay, làm hiệu cho thằng bé chạy lại Bà vội quờ tay ra thì mò thấy nó vẫn ngồi chồm chỗm ở bên cạnh Bà xốc
nó lên móc ngón tay vào trong miệng nó Miệng nó đầy ứ những cơm nhẽo
Nó không nuốt mà đầy phè cả sang hai bên mép Bà lão lẩm bẩm: “ngậm bung búng thế này No rồi đây Bà nuốt ực miếng cơm đương nhai trong miệng Song, bà cúi xuống chúm nheo mồm lại hút đánh chụt một cái thực mạnh vào mũi thằng bé Bao nhiêu dớt dãi nhoe nhoét ở mũi thằng Kê tuột cả vào mồm bà Vạng: bà nhổ toẹt xuống đất Con Mực chạy đến liếm ngồm
Trang 38ngồm Thằng bé bị bà nó liếm rát cả mũi, khóc tru lên Nhưng chỉ tru lên một tiếng như tiếng còi, rồi laị nín ngay” [tr274]
Những cảnh đám cưới, người đi ăn cưới, người phù rể, người phù dâu,
cỗ cưới, rồi những cảnh làng vào hội đều là những cảnh rất nhiều màu sắc, ồn
ào như một cuốn phim màu
Điều thú vị của Tô Hoài ở chỗ ông không chỉ miêu tả phong tục tập quán cuả con người mà còn khám phá cả thế giới phong tục của loài vật Thế giới loài vật tuy bé nhỏ nhưng cũng có đời sống phong tục phong phú, có đời sống tình cảm đa dạng Đó chính là cái nhìn ẩn dụ về người nông dân lao động Việt Nam
Trong “Dế Mèn phiêu lưu kí”, chú Dế Mèn đáng yêu được sống trong
vòng tay của mẹ được có hai hôm, rồi đến hôm thứ ba đã phải đi ra ở riêng
Vì “sống độc lập, ấy là tục lệ lâu đời của họ Dế” Tục lệ ấy khiến chúng phải sớm tự “bươn trải” với cuộc đời Cuộc phiêu lưu đưa Mèn đến vùng hoa cỏ may trở thành chánh phó thủ lĩnh tổng Châu Chấu Dế Mèn và Dế Trũi trưởng thành nhanh chóng, ngày càng làm được những việc hữu ích Hình ảnh chú
Dế Mèn kiêu ngạo, hống hách ngày đầu đã lùi vào quá khứ, giờ đây Dế Mèn
đã nhân hậu thuỷ chung và biết lo lằng giúp đỡ người khác
Đặc biệt, trong gia đình, cái nề nếp trước sau được anh em nhà Mèn coi trọng Sau bao ngày tháng xa gia đình, Mèn trở về quê hương Mẹ và anh hai
đã mất Mèn đã đau xót đến “viếng mộ người bên đầm nước” và thăm anh cả, thăm bà con Đây cũng là một nét phong tục của họ nhà Dế hay của chính những người Việt Nam chúng ta
Trong truyện “Trê và Cóc”, họ nhà Cóc lại có phong tục riêng không
giống với bất kì một giống nào Theo lệ của họ Cóc, đến ngày “sinh nở,” Cóc
vợ phải từ biệt Cóc chồng ra cái ao ngoài đầu xóm Tục lệ này đã khiến vợ chồng Cóc lao đao theo kiện để đòi lại đàn con với lão Trê Cuối cùng, vợ
Trang 39chồng Trê phải chịu thua vì khi nòng nọc đứt đuôi lại trở thành những chú Cóc con chững chạc
Hay truyện “Đôi Gi Đá”, vợ chồng Gi Đá lại có những tập tục giống
con người Đôi Gi Đá là vợ chồng, rồi cũng sinh con đẻ cái Trong mái ấm gia đình, người chồng cũng là trụ cột gánh vác mọi công việc nặng nhọc còn người vợ đảm đang trách nhiệm và bổn phận duy trì nòi giống Vợ chồng Gi
Đá rất yêu thương nhau Nhưng tai nạn bất ngờ ập đến, vợ chồng Gi Đá cùng bốn con thơ dại tan tác bay đi không bao giờ còn trở lại nữa Phải chăng, khi xây dựng hình ảnh vợ chồng Gi Đá, Tô Hoài đã nghĩ đến hình ảnh những người thợ thủ công, những người nông dân nghèo làng Nghĩa Đô - quê hương ông
Sau cách mạng, Tô Hoài đến với đồng bào Tây Bắc và đắm mình trong cuộc sống các dân tộc miền núi Cuộc sống gần gũi thân thiết trên mảnh đất này đã khơi nguồn cảm hứng cho nhà văn thể hiện đậm nét cảm quan phong tục trong sự hiện diện đa chiều trên những trang viết về đề tài miền núi Một
trong những tác phẩm tiêu biểu về đề tài miền núi là tập “truyện Tây Bắc” Tập truyện gồm ba tác phẩm: “Cứu đất cứu Mường, Mường Giơn và Vợ
bị nhấn chìm trong kiếp sống tôi đòi, khổ nhục với tục cho vay nặng lãi và tục cúng trình ma Trong phút chốc, Mị đã trở thành con dâu gạt nợ cho nhà
thống lí Pá Tra “Chao ôi: thế là cha mẹ ăn bạc của nhà giàu từ kiếp trước,
bây giờ người ta bắt bán con trừ nợ” “Họ nhốt Mị vào buồng Ngoài vách
Trang 40kia, tiếng nhạc sanh tiền cúng ma đương rập rờn nhảy múa” Thế là từ đó, Mị
sống là kéo dài những ngày chưa chết Mị ngày càng không nói “cứ lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”
Không chỉ với Mị, tục phạt vạ, xử kiện, trình ma người vay nợ đã khiến
A Phủ từ một chàng trai tự do trở thành nô lệ cho nhà Pá Tra Nguyên nhân là bởi: ngày Tết A Phủ rủ bạn đi chơi đánh pao A Sử đến phá đám và đã bị A Phủ đánh Thống lý Pá Tra bắt A Phủ đánh đập, hành hạ và phạt một trăm đồng bạc trắng Thống lí Pá Tra cho A Phủ vay Từ đó, A Phủ trở thành “con trâu con ngựa” cho nhà thống lí Pá Tra
Qua cuộc đời của Mị và A Phủ, chúng ta thấy được những tập tục dã man và tàn bạo của chế độ phong kiến miền núi Trong xã hội cũ, sức mạnh của thần quyền đã quy phục hoàn toàn sự phản kháng của mỗi con người Sống dưới bàn tay tàn bạo của chúa đất chúa rừng, người dân lương thiện mãi mãi chỉ là con sâu cái kiến Tuy nhiên, cuộc đời của họ đâu chỉ bị trói chặt trong những thủ tục lạc hậu Nhà văn Tô Hoài đã cảm nhận nó ở thế cân bằng vốn có Từ hủ tục lạc hậu, nhà văn đưa người đọc đắm mình trong những phong tục đậm chất thơ ở mảnh đất xa xôi này
Những ngày Tết vùng cao “trong các làng Mèo đỏ những chiếc váy hoa
đã đem ra phơi trên mỏm đá xoè như con bướm sặc sỡ” “Tết thì vui chơi, trai gái đánh pao, đánh quay, thổi khèn, thổi sáo ” Những đêm tình mùa xuân
của trai gái Mèo được nói đến như một phong tục chứa chan tình nhân đạo, giàu bản sắc văn hoá dân tộc Nhà văn Tô Hoài còn sử dụng các câu dân ca Mèo tạo nên phong vị miền núi đậm đà Tất cả những vẻ đẹp phong tục vùng cao ấy đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của đồng bào các dân tộc nơi đây
Có thể thấy, dấu chân Tô Hoài đi đến đâu, phong tục tập quán mọi miền đi vào trường nhìn của nhà văn đến đó Từ miền ngược đến miền xuôi,