1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bản sắc văn hoá miền núi trong tiểu thuyết đồng bạc trắng hoa xoè của ma văn kháng

62 703 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 480,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở chặng phát triển thứ ba của bộ phận văn xuôi viết về mảng đề tài này, các sáng tác của Ma Văn Kháng đặc biệt là tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe đã góp một tiếng nói vô cùng quan tr

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

* * *

ĐỖ THỊ YẾN

BẢN SẮC VĂN HÓA MIỀN NÚI TRONG

TIỂU THUYẾT ĐỒNG BẠC TRẮNG HOA XÒE

CỦA MA VĂN KHÁNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

TH.S VŨ VĂN KÝ

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình triển khai đề tài khóa luận: “Bản sắc văn hóa miền núi trong

tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe của Ma Văn Kháng”, tác giả khóa luận đã thường

xuyên nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và chỉ bảo tận tình của

các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ Văn, đặc biệt là các thầy, cô trong tổ Văn học Việt

Nam và Thạc sĩ Vũ Văn Ký – người hướng dẫn trực tiếp

Tác giả khóa luận xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và gửi lời cảm ơn trân

trọng nhất đến các thầy, cô

Do năng lực của người nghiên cứu có hạn, khóa luận chắc chắn không tránh

khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy, cô và các bạn đồng

nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2009

Đỗ Thị Yến

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp Đại học với đề tài: “Bản sắc văn hóa

miền núi trong tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe của Ma Văn Kháng” là công trình

nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Thạc sĩ Vũ Văn Ký – giảng

viên tổ Văn học Việt Nam, khoa Ngữ Văn, trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2009

Người thực hiện

Đỗ Thị Yến

Trang 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu4

5 Đối tượng phạm vi nghiên cứu4

6 Phương pháp nghiên cứu5

7 Đóng góp của khóa luận5

8 Cấu trúc khóa luận5

NỘI DUNG6

Chương 1: Ma Văn Kháng và vấn đề bản sắc văn hóa trong sáng tác văn học6

1.1 Giới thiệu chung về nhà văn Ma Văn Kháng6

1.1.1 Cuộc đời 6

1.1.2 Sự nghiệp sáng tác7

1.1.3 Ma Văn Kháng và mảng sáng tác về đề tài miền núi, dân tộc8

1.2 Bản sắc văn hóa trong sáng tác văn học10

1.2.1 Bản sắc văn hóa 10

1.2.2 Bản sắc văn hóa trong sáng tác văn học11

1.2.3 Bản sắc văn hóa trong sáng tác về đề tài miền núi, dân tộc13

Trang 5

Chương 2 : Bản sắc văn hóa miền núi trong tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe

của Ma Văn Kháng17

2.1 Giới thiệu chung về tác phẩm 17

2.2 Bản sắc văn hóa miền núi trong tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe của Ma

Từ sau cách mạng tháng 8/1945, Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm đến việc

phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội ở miền núi, bởi đây là một địa bàn chiến lược có vị

trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như xây dựng

Trang 6

đất nước Thực hiện đường lối văn nghệ của Đảng, rất nhiều văn nghệ sĩ đã hướng ngòi

bút của mình đến khai phá một vùng thẩm mỹ dẫu mới mẻ nhưng vô cùng hấp dẫn Đó

là mảnh đất miền núi hoang sơ, kỳ vĩ chứa đựng biết bao điều bí ẩn Đó là con người

miền núi với nếp cảm, nếp nghĩ, lối sống chân thật, mãnh liệt và hết sức hồn nhiên Đó

là bức tranh sinh hoạt, phong tục của đồng bào các dân tộc thiểu số với cả những nét

đep truyền thống lẫn những hủ tục còn ấu trĩ lạc hâu “Mỗi tác phẩm (thực sự) là một

góc rừng của Tổ quốc, một hình ảnh thu gọn của một dân cư … giúp ta hình dung được

trong những đặc điểm thống nhất của các dân tộc còn có mặt đa dạng của nó, trong cái

chung của các dân tộc cùng sống trong đại gia đình Việt Nam còn có cái riêng của từng

dân tộc không thể trộn lẫn” (Nguyễn Văn Toại) Đề tài khóa luận tìm hiểu phương

diện: “Bản sắc văn hóa miền núi trong tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe của Ma Văn

Kháng” là tiếp cận một vấn đề có ý nghĩa khoa học, nó vừa diễn tả được cái riêng độc

đáo của mảnh đất, con người vùng cao vừa thể hiện được tài năng, tâm huyết của người

nghệ sĩ

Cùng với Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Vi Hồng… và một số tác giả khác, Ma Văn

Kháng được xem như là nhà văn có sở trường và viết rất thành công về đề tài miền núi,

dân tộc Ở chặng phát triển thứ ba của bộ phận văn xuôi viết về mảng đề tài này, các

sáng tác của Ma Văn Kháng đặc biệt là tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe đã góp một

tiếng nói vô cùng quan trọng, khẳng định vai trò không thể thiếu của bộ phận văn xuôi

viết về đề tài miền núi, dân tộc trong trong nền văn học Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Tuy nhiên cho đến nay do chưa được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông, cũng như

là một vấn đề còn mới mẻ nên việc nghiên cứu, giới thiệu, phê bình,bình luận tác phẩm

chưa được quan tâm một cách thỏa đáng Bởi vậy triển khai đề tài của khóa luận là việc

rất có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu tác phẩm

Là sinh viên cử nhân văn học, đề tài này giúp chúng tôi có dịp tìm hiểu sâu một

mảng sáng tác đặc biệt của văn học Việt Nam sau năm 1945, là bước đầu tập dượt

nghiên cứu một vấn đề khoa học Điều này rất có ích cho chúng tôi - những người sau

Trang 7

này sẽ làm công việc liên quan đế các lĩnh vực: nghiên cứu văn học, báo chí, công tác

xã hội hay một giáo viên dạy văn

Chúng tôi lựa chọn đề tài này còn xuất phát từ sự quan tâm, hứng thú muốn tìm

hiểu vấn đề bản sắc văn hóa miền núi trong tác phẩm văn xuôi, cũng như xuất phát từ

sự ngưỡng mộ văn chương của một nhà văn gốc Hà nội nhưng dành nhiều tình cảm sâu

sắc cho mảnh đất và con người vùng núi cao

Những lý do trên đây là động cơ thúc đẩy chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu của

khóa luận: Bản sắc văn hóa miền núi trong tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe của Ma

Văn Kháng

2 Lịch sử vấn đề

Vùng biên ải xa xôi vốn là một “miền đất dữ” Nơi đây kẻ thù phong kiến thực

dân qua bao thế kỉ đã lợi dụng khác biệt về vấn đề lãnh thổ, tộc người để thực hiện âm

mưu “chia để trị” của chúng Sinh sống ở vùng núi cao, điều kiện địa lý tự nhiên khó

khăn, lại chịu áp bức lâu dài của kẻ thù cả về thế quyền và thần quyền nên sự chênh

lệch về mọi mặt giữa miền núi và miền xuôi là vô cùng to lớn Nhận thức sâu sắc về

vấn đề đó, từ sau cách mạng tháng 8/1945, được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà

nước cũng như của Hội nhà văn, văn chương Việt Nam có thêm một chi lưu đặc biệt

Một số tài năng gắn bó nhiều năm với mảnh đất và con người miền núi, họ đã tạo nên

một bộ phận đẹp đẽ của văn chương, đó là mảng văn xuôi viết về đề tài miền núi, dân

tộc Trong suốt hơn nửa thế kỷ qua, bộ phận văn học này đã có được những thành tựu

đáng kể.Tuy nhiên., nếu nhìn nhận một cách khách quan thì không chỉ các sáng tác này

chưa tương xứng với vị trí, tầm quan trọng của nó mà chính những sáng tác đó cũng

chưa nhận được sự quan tâm, chú ý thực sự của giới nghiên cứu, phê bình văn học

Trong điều kiện khả năng tư liệu của chúng tôi tìm hiểu được thì các bài viết không

nhiều và khá rời rạc, chưa có một công trình nghiên cứu sáng tác văn xuôi về đề tài

miền núi, dân tộc nào một cách quy mô, có hệ thống cũng như chưa thực sự quan tâm

đến vấn đề bản sắc văn hóa miền núi được thể hiện trong các sáng tác

Trang 8

Trong bài viết Cốt truyện trong văn xuôi dân tộc và miền núi (Nghiên cứu văn

học 11.2008), tác giả Phạm Duy Nghĩa mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu đóng góp,

hạn chế của văn xuôi miền núi, dân tộc thể hiện trên phương diện cốt truyện

Trong bài Một vài biểu hiện đặc điểm dân tộc qua một số tiểu thuyết miền núi

(Tạp chí văn học 4.1981), tác giả Nguyễn Văn Toại dù đã đề cập đến vấn đề biểu hiện

đặc điểm dân tộc nhưng mới dừng lại ở góc độ khái quát, tức là chỉ ra các biểu hiện ấy

bằng việc điểm xuyết qua một số tiểu thuyết tiêu biểu: Đất nước đứng lên (Nguyên

Ngọc), Miền Tây (Tô Hoài), Đồng bạc trắng hoa xòe (Ma Văn Kháng)… chứ không

tập trung đi sâu nghiên cứu biểu hiện ấy ở một tác phẩm cụ thể

Vào đầu những năm 60 của thế kỷ XX, bút danh Ma Văn Kháng chính thức xuất

hiện trên văn đàn, nhưng tên tuổi của nhà văn này chỉ thực sự được khẳng định từ sau

năm 1975 Dù là ngòi bút chủ yếu đi về trên hai miền đất chính: cuộc sống, phong tục

của những người dân miền núi và những đa đoan, phức tạp của đời sống thành thị thời

hậu chiến nhưng dường như giới nghiên cứu mới chỉ tập trung chú ý tới mảng thứ hai

của ông.Trong giới hạn tìm hiểu của mình chúng tôi nhận thấy có sự chênh lệch khá

lớn về số lượng các bài viết giữa hai mảng đề tài

Trong khi Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú, Chó Bi đời

lưu lạc, Ngược dòng nước lũ tốn biết bao giấy mực của các nhà phê bình thì số lượng

các bài tìm hiểu, nghiên cứu các tác phẩm của Ma Văn Kháng viết về miền núi, dân tộc

lại rất khiêm tốn, mới chỉ có bài viết của Đào Thủy Nguyên tìm hiểu Truyện ngắn của

Ma Văn Kháng và vấn đề thức tỉnh con người vùng cao (Nghiên cứu văn học 3/2008),

các bài viết về tiểu sử, sự nghiệp sáng tác của tác giả in rải rác trên một số báo: Văn

nghệ, Diễn đàn văn nghệ và trên mạng internet

Thậm chí tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe dù được đánh giá là tác phẩm

thành công nhất của Ma Văn Kháng về đề tài miền núi dân tộc song cũng chỉ mới có

bài giới thiệu của nhà nghiên cứu của Trần Đăng Suyền khi cuốn tiểu thuyết này được

xuất bản

Trang 9

Tuy nhiên khi tìm hiểu nguồn tài liệu ít ỏi trên chúng tôi thấy rằng, dù viết về

vấn đề nào thì tác giả của bài viết vẫn ít nhiều nêu lên được một số nét riêng, độc đáo

trong các sáng tác về miền núi, dân tộc như: Vấn đề cốt truyện trong bài viết của Phạm

Duy Nghĩa, tính cách dân tộc thể hiện qua hệ thống thần tượng nhân vật, qua cảm

hứng của tác phẩm trong bài viết của Nguyễn Văn Toại; "bản năng bán khai kinh thiên

động địa" chỉ có ở con người miền biên ải mà Ma Văn Kháng khai thác và thể hiện

được trong các truyện ngắn của mình trong bài viết của Đào Thuỷ Nguyên; hay thành

công của Ma Văn Kháng trong việc taí hiện cuộc sống có tính đặc thù của đồng bào

Hmông vào giai lịch sử đầy những biến động ở tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xoè

trong bài giới thiệu của Trần Đăng Suyền Đây chính là những gợi ý cho chúng tôi

triển khai thực hiện khóa luận này Hi vọng rằng kết quả nghiên cứu của chúng tôi sẽ

góp phần làm cho độc giả hiểu rõ hơn về nhà văn Ma Văn Kháng và các sáng tác về

miền núi, dân tộc của ông; đặc biệt là giúp cho bạn đọc có thể cảm nhận được những

nét riêng biệt đặc sắc của mảnh đất miền núi Lào Cai xa xôi cũng như của tộc người

thiểu số Hmông ở "vùng biên ải" vốn bị xem là "miền đất dữ" này

3 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện khoá luận này chúng tôi nhằm vào các mục đích chính sau:

- Có cái nhìn khái quát về tác giả Ma Văn Kháng và sự nghiệp sáng tác của ông,

đặc biệt là các sáng tác về đề tài miền núi, dân tộc

- Đóng góp của nhà văn Ma Văn Kháng đối với sự phát triển của mảng văn xuôi

về đề tài miền núi, dân tộc của văn học Việt Nam hiện đại cũng như đối với sự nghiệp

xây dựng và phát triển đời sống văn hoá vùng cao

- Đặc sắc của tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xoè trong việc thể hiện bản sắc

văn hoá miền núi

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Người nghiên cứu khi triển khai đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau:

Trang 10

- Nghiên cứu về tác giả Ma Văn Kháng và vấn đề bản sắc văn hoá trong tác phẩm

văn học

- Xác lập các công việc cụ thể khi đi từ các vấn đề lý thuyết chung đến các biểu

hiện của bản sắc văn hoá miền núi được thể hiện trong tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa

xoè

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Như tên đề tài đã xác định, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của khóa luận sẽ là

tác phẩm Đồng bạc trắng hoa xoè được nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 1979 Tuy

nhiên để có cái nhìn sâu sắc và tổng thể hơn về nội dung của khoá luận, chúng tôi còn

mở rộng tìm hiểu vấn đề qua sự so sánh với một số tác phẩm khác cùng đề tài của

chính tác giả cũng như của một số tác giả khác như Truyện Tây Bắc (Tô Hoài), Đất

nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Rừng động (Mạc Phi)

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp hệ thống

- Phương pháp phân tích tác phẩm

- Phương pháp so sánh đối chiếu

7 Đóng góp của khoá luận

- Góp phần tìm hiểu nhà văn Ma Văn Kháng và sáng tác về đề tài dân tộc, miền

núi của tác giả

- Giúp độc giả có cái nhìn về bản sắc dân tộc trong sáng tác văn học nói chung

và bản sắc văn hoá miền núi trong tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xoè nói riêng

- Bồi dưỡng tình yêu đối với văn hoá dân tộc và văn hoá các dân tộc ít người

trong sáng tác văn học

8 Cấu trúc khoá luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận gồm hai chương:

Chương 1:

Ma Văn Kháng và vấn đề bản sắc văn hoá trong tác phẩm văn học

Trang 11

Chương 2:

Bản sắc văn hoá miền núi trong tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xoè

của Ma Văn Kháng

Trang 12

Ma Văn Kháng sinh ngày 1.12.1936, tên khai sinh là Đinh Trọng Đoàn, quê gốc

ở làng Kim Liên, Kẻ Chợ nay là phường Phương Liên – quận Đống Đa – Hà Nội

Năm 1948 khi vừa tròn 12 tuổi, Ma Văn Kháng vào học trường Thiếu nhi Việt

Nam, rồi chuyển sang Đội thiếu nhi nghệ thuật Ít lâu sau lại được vào trường Thiếu

sinh quân Việt Nam, rồi được cử đi học trung cấp sư phạm tại khu học xá Nam Ninh –

Trung Quốc

Sau khi hòa bình lập lại (1954 – 1956) Ma Văn Kháng được điều động lên dạy

học ở Lào Cai – một tỉnh thuộc miền biên giới Tây Bắc

Đầu năm 1960, Ma Văn Kháng về Hà Nội học Đại học Sư Phạm Sau khi tốt

nghiệp, một lần nữa ông được cử trở lại công tác tại mảnh đất Lào Cai

Trong hơn 20 năm gắn bó với vùng biên ải xa xôi này, Ma Văn Kháng lần lượt

trải qua các cương vị công tác: Giáo viên dạy văn; Hiệu trưởng trường cấp 2, cấp 3 phổ

thông Lào Cai; Làm công tác thuế nông nghiệp ở huyện Bảo Thăng; Làm phóng viên

rồi Phó Tổng biên tập báo Lào Cai và Thư ký cho bí thư tỉnh ủy Lào Cai là đồng chí

Trường Chinh

Trang 13

Sau khi được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam (1974), năm 1976, ở tuổi 40,

Ma Văn Kháng trở về Hà Nội làm ở ngành xuất bản Trong nhiều năm liền, ông làm

Phó giám đốc kiêm Tổng biên tập Nhà xuất bản Lao Động

Từ tháng 3/1995 đến nay, Ma Văn Kháng được bầu vào Ban chấp hành Hội nhà

văn Việt Nam và từng đảm nhiệm qua các cương vị công tác: Trưởng ban sáng tác của

Hội nhà văn Việt Nam, Ủy viên Đảng Đoàn Hội, Tổng biên tập tạp chí “Văn học nước

ngoài” Hiện nay, ông là Trưởng ban tổ chức – Hội viên, chủ nhiệm tạp chí “ Văn học

nước ngoài”

1.1.2 Sự nghiệp sáng tác

Ma Văn Kháng là cây bút tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam nửa sau thế kỷ XX

Trong hơn 20 năm làm việc tại Lào Cai, có lúc chàng thanh niên Hà Nội được cử đi

làm công tác thuế nông nghiệp ở huyện Bảo Thắng, bị sốt rét ác tính nằm liệt giường

trong nhiều ngày Anh được người bạn lớn tuổi là anh Ma Văn Nho – Phó chủ tịch

huyện Bảo Thắng lặn lội tìm thầy thuốc chữa khỏi bệnh Sau đó hai người kết nghĩa

anh em Để thể hiện sự cảm phục và biết ơn sâu sắc với người anh kết nghĩa, Đinh

Trọng Đoàn đã cải tên thành Ma Văn Kháng Từ đó đến nay, Ma Văn Kháng vừa là tên

thường dùng, vừa là bút danh khi làm báo, viết văn của người nghệ sĩ này

Bắt đầu sáng tác từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX với truyện ngắn đầu tay

Phố cụt (Văn học 3/1961), đến nay đời văn của Ma Văn Kháng đã trải dài hơn 40 năm

Là một cây bút cần mẫn và say mê sáng tạo, Ma Văn Kháng đã tạo dựng được một văn

nghiệp khá đồ sộ hơn 8000 trang viết bao gồm 19 tập truyện ngắn, 11 cuốn tiểu thuyết

và 3 tập truyện viết cho thiếu nhi Gần đây, hơn một nửa số tác phẩm này đã được

tuyển chọn vào bộ sách 10 tập do Nhà xuất bản Công an nhân dân ấn hành

Tác phẩm tiêu biểu của Ma Văn Kháng được đông đảo bạn đọc chú ý là: Đồng

bạc trắng hoa xòe (tiểu thuyết – 1979), Mưa mùa hạ (tiểu thuyết – 1982), Vùng biên ải

(tiểu thuyết – 1983), Mùa lá rụng trong vườn (tiểu thuyết – 1985), Đám cưới không có

giấy giá thú (tiểu thuyết – 1989), Chó Bi, đời lưu lạc (tiểu thuyết – 1992), Ngược dòng

Trang 14

nước lũ ( tiểu thuyết – 1999); Các tập truyện ngắn: Ngày đẹp trời (1986), Vệ sĩ của

Quan Châu (1988), Trái chín mùa thu (1988), Heo may gió lộng (1992), Trăng soi sân

nhỏ (1994), Ngoại thành (1996), Vòng quay cổ điển (1997)…

Sở trường với hai thể tài truyện ngắn và tiểu thuyết, chuyên chú vào hai mảng

đề tài dân tộc – miền núi và đời sống thị thành thời hậu chiến, các sáng tác của Ma Văn

Kháng khắc họa sắc nét bức tranh hiện thực sôi động của xã hội Việt Nam qua những

biến thiên dữ dội của lịch sử và cách mạng; làm hiện lên với sức ám ảnh và ấn tượng

khó quên về những số phận chìm nổi, thậm chí nhiều oan khiên của hàng loạt tính cách

mà nổi bật là những người dân lao động chất phác, những người đàn bà xinh đẹp,

những em nhỏ yếu ớt cần sự chở che, những trí thức văn nghệ sĩ tự trọng mà đơn độc

Là một nhà nhân văn chủ nghĩa lập nghiệp từ nghề dạy học, Ma Văn Kháng

miêu thuật đậm đà nét bi tráng trong những xung đột giữa các thế lực xã hội, sắc tộc;

cuộc đấu tranh đầy thử thách, cam go để vượt lên định mệnh; sự khắc nghiệt của hoàn

cảnh thiên nhiên, môi trường; những ràng buộc của thói tục, tập quán từ bao đời; sức

trỗi dậy của những bản năng tiềm ẩn; những mặt còn khuất lấp trong đời sống bên

trong phồn tạp mà đa đoan của con người… Qua đó nhà văn cho thấy triển vọng và

thắng lợi của cái mới, cái tiến bộ, cách mạng; nội lực đáng khâm phục của những nhân

cách hướng thiện, hiền minh, khoan hòa; sự tha hóa và kết cục trớ trêu của các thế lực

phản động, hắc ám, bạo tàn

Với gần 200 truyện ngắn và hàng chục cuốn tiểu thuyết trong đó có những tác

phẩm giá trị được giải thưởng trong nước và quốc tế, được dịch ra nhiều thứ tiếng nước

ngoài, Ma Văn Kháng đã thể hiện một bước tiến trong nghệ thuật tự sự văn xuôi tiếng

Việt Ông đã tạo dựng được phong cách riêng của một cây bút hiện thực – cảm thương,

từng trải, tinh tế mà gan ruột, đằm thắm Văn chương của ông sống động, truyền đạt

xác thực nhân cách là bản sắc dân tộc đa dạng trong cái nhìn, nếp cảm, lối nghĩ vừa cá

biệt, vừa tiêu biểu cho chân dung của nhiều hạng người Việt Nam từ miền núi cao xa

xôi tới cùng thị thành ồn ào, náo nhiệt

Trang 15

Với tất cả những cống hiến to lớn cho nền văn học, nghệ thuật nước nhà, Ma

Văn Kháng đã vinh dự được nhận rất nhiều giải thưởng lớn: Giải thưởng B của Hội

nhà văn 1986 dành cho tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn; Tặng thưởng của Hội đồng

văn xuôi Hội nhà văn (1995); Giải thưởng Văn học Đông Nam Á năm 1998 cho tập

truyện Trăng soi sân nhỏ; Giải thưởng nhà nước về văn học, nghệ thuật năm 2001…

Ông thực sự là một trong những tác gia văn xuôi lực lưỡng nhất của văn học Việt Nam

hiện đại nửa cuối thế kỷ XX

1.1.3 Ma Văn Kháng và mảng sáng tác về đề tài miền núi, dân tộc

Chúng ta biết rằng, giống như một duyên nghiệp, con đường số phận mỗi lúc

một đưa chàng thanh niên đất Hà thành rời xa thủ đô Hà Nội, lên với Tây Bắc xa xôi

trùng điệp núi non hùng vĩ Thời gian đầu những năm 60 của thế kỷ XX, Lào Cai nói

riêng và miền núi nói chung còn giữ được nhiều vẻ hoang sơ với những tập tục sinh

hoạt cổ xưa Với lòng hiếu kỳ của tuổi trẻ, với đầu óc ham hiểu biết, ham khám phá

của một tri thức; với trái tim nồng nhiệt của một người cầm bút, Ma Văn Kháng vồ vập

mảnh đất lạ bằng một tình yêu say đắm Ngoài giờ dạy học trên lớp, anh đến với các

bản mường Vạch lau lách mà đi, xắn quần mà lội suối, chống gậy mà leo vách đá theo

cuộc sống kêu gọi Kia là bản Mèo chót vót trên đỉnh núi mù sương giống như tổ chim

phượng hoàng đá trên vách núi; kia là phiên chợ rực rỡ màu sắc và âm vang tiếng ngựa

hí; những đám cưới, đám ma còn giữ nguyên phong vị cổ sơ; những câu hát, điệu múa

giàu bản sắc… Đi không mệt mỏi, sau mỗi chuyến đi, đầu óc anh lại ngùn ngụt những

ý tưởng mới về lẽ sống, về sáng tạo… Những trang viết đầu đời Phố cụt, Xa phủ toát

lên cái nhanh nhẹn của một cây bút trẻ hăm hở bước vào nghề, trang trải cái tự tin,

mạnh mẽ và thiết tha đối với những gì là tốt đẹp, mới mẻ trong cuộc đời

Chau chuốt, chắt lọc từng mẩu nhỏ của cuộc đời giống như con ong làm mật,

sống chan hòa cùng bà con dân bản, Ma Văn Kháng đã tái hiện được những thời điểm

lịch sử chao chát búa rìu, xây dựng được những nhân vật độc đáo, giàu cá tính, đủ hình

đủ kiểu Đó là những tên chi châu, lang đạo thâm hiểm, hung ác (Đồng bạc trắng hoa

Trang 16

xòe); đó là bọn thổ phỉ, tướng cướp mất hết nhân tính và đầy ranh mãnh (Vùng biên ải);

đó là những người dân miền núi lặng lẽ, hiền lành, đôn hậu, chất phác (Gió rừng, Đồng

bạc trắng hoa xòe, Vùng biên ải); đó là những thiếu nữ nhan sắc được tuyển vào các

đội hát xòe phục vụ sự hưởng lạc của bọn quan lại ăn trên ngồi trốc (Gặp gỡ ở

Lapántẩn); đó là những người phụ nữ vùng cao chịu bao nỗi đăng cay, cơ cực (Đồng

bạc trắng hoa xòe)…

Thi hào người Pháp Paul Eluard tuyên bố rằng: “ Tất cả các nhà văn có trách

nhiệm khẳng định cuộc đời mình phải bắt rễ vào đời sống” Thật vậy, cuộc bắt rễ vào

cuộc sống Lào Cai Tây Bắc suốt mấy chục năm trời đã giúp Ma Văn Kháng có những

thành công thực sự đóng góp cho nền văn học đương thời đặc biệt là mảng văn xuôi

viết về đề tài miền núi, dân tộc

Đi sau Tô Hoài, Nguyên Ngọc là hai đỉnh cao của văn xuôi viết về miền núi,

dân tộc ở hai chặng phát triển đầu tiên: 1945 – 1954, 1955 – 1975, Ma Văn Kháng có

điều kiện được chuẩn bị chu đáo hơn về kiến văn và có tầm nhìn của thời đại mới hơn

Bắt đầu không chỉ bằng những câu chuyện có tính hấp dẫn về sắc tộc, Ma Văn Kháng

sáng tạo nên những tác phẩm mang đến tầm vóc sử thi, xứng đáng với số phận lịch sử

của miền Tây Bắc cũng như số phận của con người nơi đây Cùng với tiểu thuyết Gió

rừng (1977), Vùng biên ải (1985) và hàng trăm truyện ngắn khác: Người con trai họ

Hạng, Mùa mận hậu, Mã Đại Câu, Người quét chợ mường Cang, Giàng Cả, Kẻ lang

thang… Tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe đã đưa Ma Văn Kháng trở thành cây bút

tiêu biểu, đi đầu trong chặng phát triển thứ ba của bộ phận văn học đặc biệt này

Tóm lại, mảng văn xuôi viết về đề tài miền núi, dân tộc được khởi lên từ sau

Cách mạng Tháng Tám 1945 và đạt được thành tựu rực rỡ vào những năm gần cuối thế

kỷ XX là một thành công đáng kể của văn hóa Việt Nam hiện đại Trong thành công đó

có sự đóng góp, nỗ lực không nhỏ của Ma Văn Kháng Bằng tất cả tài năng và tình yêu

thương, gắn bó sâu nặng với mảnh đất Lào Cai cũng như đồng bào các dân tộc thiểu số,

Ma Văn Kháng đã viết nên những trang văn khẳng định được bản sắc độc đáo của

Trang 17

mảnh đất và con người nơi đây Đọc các tác phẩm của anh, đồng bào nhận ra anh đang

viết về mình, viết cho chính mình và viết cho riêng mình Chính bởi vậy cho nên anh

được gọi bằng cái tên trìu mến : Nhà văn của núi rừng Tây Bắc, cây bút của vùng biên

ải Lào Cai

1.2 Bản sắc văn hóa trong sáng tác văn học

Văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức

sống mãnh liệt giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao sóng gió và thác

ghềnh tưởng chừng không thể vượt qua nổi, để không ngừng lớn mạnh và phát triển

Nhận thức sâu sắc về vai trò và giá trị đích thực của văn hóa, Hội nghị lần thứ 4 của

Ban chấp hành trung ương khóa VII đã khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của

xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triển của một dân tộc, là sự kết

tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với tự

nhiên Nó vừa là một động lực thúc đẩy, vừa là một mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

của chúng ta

Cũng vì thế, việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc được đặt ra một

cách cấp bách, đòi hỏi sự tham gia của nhiều giới, nhiều ngành Là một loại hình nghệ

thuật thuộc kiến trúc thượng tầng, văn học tham gia tích cực và có những đóng góp

không nhỏ vào quá trình đó

1.2.1 Bản sắc văn hóa

Trong thời đại ngày nay, khi kinh tế càng phát triển và các quốc gia trên thế giới

càng xích lại gần nhau thì văn hóa dân tộc ngày càng trở thành trung tâm của sự chú ý

Những năm gần đây, các văn kiện của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhiều lần khẳng

định vai trò quan trọng của văn hóa trong việc bồi dưỡng và phát huy nhân tố con

người, đồng thời đặt mục tiêu “ Xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc

dân tộc” Do vậy vấn đề bản sắc văn hóa của dân tộc được các nhà nghiên cứu văn hóa

đặc biệt quan tâm, chú ý

Trang 18

Để hiểu được thế nào là bản sắc văn hóa, chúng ta cần phải tìm hiểu hai khái

niệm: “Bản sắc” và “Văn hóa”

Theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2006: “Bản sắc là màu sắc, tính

chất riêng tạo thành đặc điểm chính”

“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người

sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con

người với môi trường tự nhiên xã hội.” [10; 10]

Từ hai khái niệm trên, một cách khái quát có thể hiểu rằng bản sắc văn hóa là

nét riêng, độc đáo cả về vật chất và tinh thần của một dân tộc, của văn hóa của một dân

tộc khiến người ta có thể nhận diện được một dân tộc hay văn hóa của dân tộc ấy

Là khái niệm mang nội hàm rộng bao gồm cả giá trị vật chất và tinh thần nên

biểu hiện bản sắc văn hóa của dân tộc vừa có tính cụ thể, lại vừa có tính trừu tượng

Trên phương diện cụ thể, bản sắc văn hóa dân tộc biểu hiện ở cách đi đứng, ăn

mặc, nói năng, phong tục tập quán bao gồm cả những phong tục truyền thống tốt đẹp

lẫn những thủ tục còn ấu trĩ lạc hậu…

Trên phương diện trừu tượng, biểu hiện bản sắc văn hóa của dân tộc chính là

chiều sâu tâm hồn, cách tư duy, lối ứng xử… của con người trong dân tộc ấy

Như ở trên đã đề cập, do có sự tham gia của nhiều giới, nhiều ngành trong việc

giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nên vấn đề này được thể hiện rất đa dạng,

phong phú trong mọi hoạt động, mọi lĩnh vực của đời sống cả trong sản xuất vật chất

lẫn sinh hoạt tinh thần Các sáng tác văn chương nghệ thuật không nằm ngoài quy luật

đó

1.2.2 Bản sắc văn hóa trong sáng tác văn học

Văn học là một thành tố của văn hóa Vì vậy khi nói đến bản sắc văn hóa của

dân tộc thì cũng đồng thời nói đến bản sắc văn hóa trong sáng tác văn chương

Trang 19

Bản sắc văn hóa trong văn học sẽ góp phần tô đậm và làm phong phú thêm cho

bản sắc văn hóa của dân tộc, đồng thời “đặc thù đời sống của mỗi dân tộc sẽ mang lại

cho văn nghệ dân tộc ấy một bản sắc độc đáo gọi là tính dân tộc” [5; 102]

Theo các nhà lí luận văn học: “ Tính dân tộc của văn nghệ là tổng hòa mọi đặc

điểm độc đáo chung cho các sáng tác của một dân tộc và phân biệt với các sáng tác của

các dân tộc khác” [5; 102]

Như vậy, khái niệm về tính dân tộc trong tác phẩm mà các nhà lí luận văn học

đưa ra có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề bản sắc văn hóa của dân tộc trong sáng tác

văn chương Khi thể hiện được tính dân tộc thì cũng có nghĩa là, tác phẩm văn học ấy

đã thể hiện được bản sắc văn hóa của dân tộc mình

Tác phẩm văn chương là một sinh thể nghệ thuật hoàn chỉnh Nó là sự thống

nhất, gắn bó không thể tách rời giữa hai mặt nội dung và hình thức Đối với mỗi tác

phẩm, hai mặt này là phạm vi chủ yếu để thể hiện toàn bộ giá trị tư tưởng và nghệ thuật

của nó Do vậy chỉ có thể khẳng định tác phẩm văn học đã phản ánh được bản sắc văn

hóa của dân tộc một khi bản sắc ấy được thể hiện trên cả hai phương diện nội dung và

hình thức

Xét về mặt nội dung, bản sắc văn hóa của dân tộc thể hiện rõ nhất khi tác phẩm

văn học đã đề cập và phản ánh được những vấn đề trung tâm của đời sống dân tộc và

quần chúng nhân dân, phản ánh ước mơ, khát vọng của quần chúng, giải quyết các vấn

đề đặt ra trong đời sống tinh thần dân tộc nhằm góp phần khẳng định dân tộc ấy

Truyện Kiều của Nguyễn Du dù có rất nhiều yếu tố vay mượn từ văn hóa Trung Hoa

song đây là tác phẩm mẫu mực trong việc biểu hiện bản sắc văn hóa dân tộc Vấn đề

trung tâm đặt ra trong tác phẩm là nỗi đớn đau của người hồng nhan bạc mệnh trong xã

hội phong kiến đầy rẫy những bất công, ngang trái, bất chấp mọi thủ đoạn chà đạp lên

những phẩm chất tốt đẹp của con người; thể hiện khát vọng về một xã hội giàu tình yêu

thương và lòng nhân ái, nơi đó cái đẹp được trân trọng, nâng niu Hơn thế, toàn bộ tác

phẩm còn thấm đẫm tinh thần dân tộc bởi chính thế giới quan, nhân sinh quan của

Trang 20

người Việt: nhà thơ đau nỗi đau của con người, viết từ những điều trông thấy, vì những

điều trông thấy, viết để cho con người chứ không phải vì bất cứ lý do nào khác, đến

chết vẫn canh cánh trong lòng nỗi đau: liệu có ai hiểu cho mà cũng rơi lệ với mình?

Đây chính là truyền thống nhân đạo đáng quý ngàn đời của dân tộc Việt và nó cũng là

một yếu tố quan trọng tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc cho tác phẩm

Xét về mặt hình thức, bản sắc văn hóa của dân tộc trong sáng tác văn học được

thể hiện ở ngôn ngữ, ở hình tượng cuộc sống và con người, ở hình thức diễn đạt từ thể

loại, cách cảm, cách nghĩ đến sự vận dụng lời ăn, tiếng nói của nhân dân Quay trở lại

với ví dụ về Truyện Kiều, đây không chỉ là tác phẩm im đậm bản sắc văn hóa dân tộc

Việt ở phương diện nội dung mà còn thể hiện đạt đến mức chuẩn mực về mặt hình thức

với việc sử dụng xuất sắc thể thơ lục bát truyền thống, vận dụng tài tình thành ngữ, tục

ngữ, ca dao dân gian, kế thừa khéo léo môtip truyện tài tử giai nhân trong các truyện

thơ Nôm của đại thi hào Nguyễn Du

Một tác phẩm văn học mang bản sắc văn hóa của dân tộc là một hiện tượng tinh

hoa kết tinh những gì độc đáo nhất của dân tộc đã sản sinh ra nó Khi mang trong mình

bản sắc văn hóa của dân tộc, tác phẩm ấy sẽ trở thành sản phẩm tinh thần, món ăn tinh

thần không thể thiếu trong đời sống của quần chúng nhân dân, góp phần bồi dưỡng họ

hướng tới các giá trị cao đẹp nhất của cuộc sống đó là: Chân, Thiện, Mỹ

Nền văn nghệ mà Đảng và nhà nước ta đang chủ trương phấn đấu xây dựng là

một nền văn nghệ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Bản sắc ấy thấm nhuần trong tất cả

các bộ phận của văn học Việt Nam hiện đại trong đó có các sáng tác về đề tài miền núi,

dân tộc

1.2.3 Bản sắc văn hóa trong sáng tác về đề tài miền núi, dân tộc

Các nhà nghiên cứu văn hóa khẳng định, trong những nhân tố thúc đẩy sự phát

triển của văn hóa, không thể không thừa nhận sự tác động của điều kiện tự nhiên và xã

hội Điều kiện tự nhiên, lịch sử và xã hội của mỗi vùng không giống nhau Những nét

không giống nhau của các vùng đất về các phương diện ấy sẽ tạo ra sự phát triển và

Trang 21

những điểm khác biệt về văn hóa giữa các vùng Căn cứ vào đó, các nhà nghiên cứu đã

phân chia không gian văn hóa Việt Nam thành các vùng văn hóa

Theo nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng, văn hóa Việt Nam chia thành 6 vùng:

1 Vùng văn hóa Tây Bắc

2 Vùng văn hóa Việt Bắc

3 Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ

4 Vùng văn hóa Trung Bộ

5 Vùng văn hóa Trường Sơn – Tây Nguyên

6 Vùng văn hóa Nam Bộ

Như vậy, trong các vùng văn hóa của dân tộc Việt Nam thì có một số vùng văn

hóa gắn với không gian miền núi và là địa bàn cư trú của đồng bào các dân tộc ít người

như:

Vùng văn hóa Tây Bắc: Khu vực này bao gồm hệ thống núi non trùng điệp bên

hữu ngạn sông Hồng kéo dài tới bắc Thanh Nghệ Ở đây có trên 20 tộc người cư trú

trong đó các dân tộc Thái, Mường, Hmông có thể xem là đại diện

Vùng văn hóa Việt Bắc: Khu vực này bao gồm hệ thống núi non hiểm trở tả

ngạn sông Hồng Cư dân trong vùng chủ yếu là đồng bào Tày, Nùng

Vùng văn hóa Trường Sơn – Tây Nguyên: Nằm trên sườn đông của dải Trường

Sơn bắt đầu tù vùng núi Bình - Trị - Thiên với trung tâm là 4 tỉnh Gia Lai, Kon Tum,

Đắc Lắc, Lâm Đồng Êđê, Bana, Giarai là những tộc người chiếm số lượng chủ yếu ở

khu vực này

Sự thống nhất, hòa hợp cùng chung sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của 54 dân

tộc anh em trên mọi miền đất nước đã tạo ra những bản sắc chung cho văn hóa Việt

Nam, đồng thời chính sự đa dạng của các tộc người ở trong mỗi địa bàn cư trú sẽ tạo

nên những đặc trưng bản sắc riêng của từng vùng văn hóa trong đó có các vùng văn

hóa gắn với địa bàn miền núi Điều này có nghĩa là, từ góc nhìn văn hóa mà hẹp hơn là

Trang 22

góc nhìn văn học thì bản sắc văn hóa miền núi, dân tộc là vấn đề thực sự tồn tại và luôn

có ý nghĩa

Khi xem xét các sáng tác về đề tài miền núi, dân tộc phải thừa nhận rằng bên

cạnh việc thể hiện bản sắc văn hóa Việt Nam tức là nằm trong quỹ đạo của tính dân tộc

thì vấn đề bản sắc văn hóa mìền núi được đặc biệt quan tâm chú ý Vì về phương diện

hiện thực phản ánh, về phương diện tái hiện chân dung con người… miền núi và dân

tộc sẽ có những đặc thù, sắc thái riêng biệt Chỉ có thể hiện được những bản sắc, sắc

thái riêng biệt, độc đáo ấy thì tác phẩm mới trở thành sản phẩm tinh thần của người dân

miền núi cao Trên cơ sở đó, tác phẩm sẽ làm đa dạng và phong phú thêm cho nền văn

hóa Việt Nam vốn có nhiều vùng miền với nhiều dân tộc khác nhau cùng sinh sống

Trong sáng tác văn học nói chung trong đó có các sáng tác về đề tài miền núi,

dân tộc, biểu hiện của bản sắc văn hóa miền núi rất đa dạng

Trước hết, không gian hiện thực phản ánh trong tác phẩm phải là hiện thực cuộc

sống và con người miền núi, tức là tác phẩm phải phản ánh cùng đất, địa bàn mà ở đó

chủ yếu là các dân tộc ít người cư trú Họ chính là chủ thể văn hóa của chính vùng đất

ấy Không gian hiện thực phản ánh này bao gồm cả bức tranh thiên nhiên và bức tranh

sinh hoạt đời sống

Thứ hai, thế giới nhân vật trong tác phẩm chính là chân dung tinh thần, lối cảm,

lối nghĩ, lối tư duy chân thật, hồn nhiên, chất phác… của đồng bào các dân tộc thiểu số

Việt Nam

Thứ ba, ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm phải mang sắc thái riêng và là sản

phẩm đi ra từ không gian hiện thực, từ bức tranh sinh hoạt tiêu biểu cho đồng bào các

dân tộc

Lý thuyết là như vậy, song việc tái hiện ba biểu hiện trên trong một sáng tác văn

học để cho sáng tác ấy mang bản sắc văn hóa miền núi là việc làm vô cùng khó khăn

Nó đòi hỏi tài năng, sự tâm huyết và nhất là vốn hiểu biết thực sự phong phú của người

nghệ sĩ về chính đối tượng mà họ hướng tới phản ánh

Trang 23

Dường như dòng chảy văn chương của một nước mỗi khi có thêm một tài năng

có tầm cỡ nhập vào thì nó được mở mang thêm và chảy mạnh hơn Có thể nói Ma Văn

Kháng hòa mình vào dòng chảy văn chương nước ta nửa sau thế kỷ XX với tác động

như thế Hơn 40 năm miệt mài bên trang viết, ông đã nỗ lực cống hiến hết mình cho

nền văn học nghệ thuật nước nhà Không phủ nhận những đóng góp to lớn của Ma Văn

Kháng trong mảng đề tài thế sự khi ông dám đi sâu vào những mặt trái của xã hội, lên

án thói ích kỷ, vô đạo đức đang có nguy cơ xói mòn vẻ đẹp của những giá trị tinh thần

truyền thống ở nước ta thời kỳ hậu chiến Đồng thời, chúng ta cũng phải khẳng định vị

trí đặc biệt của nhà văn này trong mảng văn xuôi viết về đề tài miền núi, dân tộc Với

hàng nghìn trang viết xuất sắc dành cho vùng biên giới Lào Cai và đồng bào dân tộc

thiểu số nơi đây, tên tuổi của nhà văn Ma Văn Kháng đã trở thành một trong đỉnh cao

của bộ phận văn học này khi nó bước vào giai đoạn phát triển thứ ba – giai đoạn từ

1975 đến nay

Kể từ khi ra đời cho đến nay, nền văn học XHCN đặc biệt quan tâm đến vấn đề

bản sắc văn hóa trong sáng tác văn học nói chung, trong đó có vấn đề bản sắc văn hóa

miền núi trong sáng tác về đề tài miền núi, dân tộc bởi đây là nhân tố góp phần khẳng

định: Văn hóa Việt Nam là bông hoa đa sắc màu, được điểm tô từ 54 dân tộc anh em

cùng chung sống Bông hoa ấy có những sắc thái riêng, không thể trộn lẫn với bất cứ

nền văn hóa nào trong cộng đồng thế giới

Là con đẻ của nền văn học xã hội chủ nghĩa, là người chiến sĩ tham gia tích cực

trên mặt trận văn hóa vùng cao, Ma Văn Kháng đã cố gắng khai thác vốn sống quý báu

tích lũy được trong suốt hơn 20 năm gắn bó với Lào Cai của mình để thể hiện bản sắc

văn hóa miền núi trong các trang viết, và ông đã có được những thành công đáng ghi

nhận Trong phần tiếp theo của khóa luận, chúng tôi sẽ hướng tới tìm hiểu những biểu

hiện của bản sắc văn hóa miền núi về không gian hiện thực phản ánh, về thế giới nhân

vật và về ngôn ngữ nghệ thuật được thể hiện trong tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe

của nhà văn

Trang 24

CHƯƠNG 2

BẢN SẮC VĂN HÓA MIỀN NÚI TRONG TIỂU THUYẾT

ĐỒNG BẠC TRẮNG HOA XÒE CỦA MA VĂN KHÁNG

2.1 Giới thiệu chung về tác phẩm

Trong hơn 20 năm làm việc tại Lào Cai, có một bước quan trọng trong đường

đời của Ma Văn Kháng đó là sự điều động lên làm thư ký cho đồng chí Trường Chinh,

Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai Ở cương vị công tác mới này, Ma Văn Kháng có cơ hội tìm

hiểu kho lưu trữ của Tỉnh ủy và được tiếp nhận những tài liệu vừa có phần bí ẩn, vừa

rất sống động về cuộc tiểu phỉ trừ gian của Lào Cai nói riêng và của miền Tây Bắc nói

chung Sau nhiều năm sống ở đây, Ma Văn Kháng đã coi Lào Cai là quê hương thứ hai

của mình với biết bao buồn vui sướng khổ của mảnh đất này Giờ được sục vào nguồn

tài liệu chất chứa những biến động ghê người, Ma Văn Kháng hiểu thấm thía một hiện

tượng cuộc sống đặc biệt đến quái dị là chế độ thổ ty phong kiến thế tập phiên thần đã

tồn tại hàng trăm năm ở đây Bằng sức cảm và sức nghĩ của một nhà văn lớn, Ma Văn

Kháng vô cùng hứng thú với cuộc độc hành kì đạo, độc thiện kỳ thân đầy kiêu hãnh

của chế độ Việt Minh Anh thấy dần hiện lên vóc dáng một tiểu thuyết sử thi đó là

Đồng bạc trắng hoa xòe

Một mạch trong sáu tháng liên tục kể từ khi khởi thảo năm 1972, Ma Văn

Kháng viết xong Đồng bạc trắng hoa xòe, nhưng mãi đến năm 1979, Nhà xuất bản

Văn học mới xuất bản pho tiểu thuyết sử thi dày gần 600 trang này

Đồng bạc trắng hoa xòe đã tái hiện một giai đoạn lịch sử ngắn ngủi nhưng rắc

rối vào bậc nhất của cách mạng Việt Nam được tiến hành trên một vùng núi phong

kiến thế tập phiên thần nghèo nàn và lạc hậu, bọc trong bối cảnh lịch sử ngàn cân treo

sợi tóc của dân tộc Gần 600 trang sách được bắt đầu với khung cảnh thị xã biên giới

Lào Cai “từng nổi tiếng một thời là hòn ngọc, là viên kim cương của miền biên cương

Trang 25

xa xôi” [3] đang trong những ngày tháng “nhộn nhạo” khi “Nhật kéo vào, rồi Nhật đầu

hàng Hoa quân nhập Việt Bọn Việt gian Quốc dân đảng dựa thế quan thầy, nhẩy lên

chiếm đoạt quyền hành” [6] Bầu không khí của loạn lạc, bất ổn lan tràn khắp nơi với

sự đổ vỡ của một loạt các chính quyền: “Đất này đã quen với bao sắc cờ Cờ tam tài

Cờ mặt trời Cờ trắng, cờ vàng, cờ đen…” [512] tác động sâu sắc đến số phận của mỗi

thành viên trong cộng đồng Một trường đoạn lịch sử vốn đã rối ren lại càng thêm rối

ren bởi mối mâu thuẫn ngấm ngầm giữa các phe cánh nhằm tranh giành quyền lực:

Phía tàn quân Quốc dân đảng đứng đầu là Đảng trưởng Vũ Khanh; phía thổ ty là

Hoàng Văn Chao, La Văn Đờ, Nông Vĩnh Yêng mỗi người cát cứ một vùng, phía thực

dân Pháp đứng đầu là Quan hai Phơ-rô-pông – một viên quan cáo già rất am hiểu người

Hmông và đặc biệt là mâu thuẫn, xung đột giữa các lực lượng đó với lực lượng cách

mạng non trẻ từng được thành lập trong một thời gian ngắn ngủi sau 1945 Bao quát

những sự kiện, biến cố trọng đại đó, tác phẩm như được đặt trong một bầu không khí

nặng nề, căng thẳng, nhức nhối, “đỏ ửng như cái nhọt mủng Cái nhọt mủng Tất cả chỉ

là cái nhọt mủng căng mủ” [18] bao bọc lên cả một khối mâu thuẫn xung đột đang lên

đến đỉnh điểm chỉ chờ thời cơ thuận lợi là bung vỡ Cuộc sống được tái hiện trong tác

phẩm là những chuỗi ngày chìm trong loạn lạc, rối ren, trong mưa bom, bão đạn Đó là

cuộc sống bất bình thường bởi chiến tranh không phải là thời điểm để con người ta

được bình yên để sống, để lao động, để yêu thương hay xây dựng Song thật kỳ lạ, trên

chính mảnh đất mà bọn Quốc dân đảng ngày đêm giày xéo, bọn thổ ty ra sức hoành

hành, bọn Thực dân Pháp ngấp nghé rình mò này, ngọn lửa cách mạng vẫn bùng lên

mạnh mẽ Cả một tập thể cán bộ mà đại biểu là Chính, Kiến, Tâm, Đắc, Châu bằng mọi

cách đã nhen nhóm, nuôi dưỡng ngọn lửa cách mạng và dẫn dắt người nông dân miền

núi đến với ánh sáng l ý tưởng Gần 600 trang sách ngồn ngộn những sự kiện, những tư

liệu lịch sử thể hiện công sức tìm tòi của nhà văn, và cũng chính gần 600 trang sách

này đã làm toát lên bản sắc văn hóa miền núi Tây Bắc mà chúng tôi sẽ tìm hiểu những

biểu hiện cụ thể của nó trong tác phẩm ở phần sau của khóa luận

Trang 26

2.2 Bản sắc văn hóa miền núi trong tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe của Ma

Văn Kháng

2.2.1 Không gian hiện thực phản ánh

Hiện thực là nguồn gốc của nhận thức và ý thức của con người Văn nghệ là một

hình thức của nhận thức, do đó đời sống chính là mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng nghệ

thuật Nhà dân chủ Nga Secnưsepxki đã khẳng định: “Phạm vi của nghệ thuật gồm tất

cả những gì có trong hiện thực” Điều này có nghĩa là phạm vi phản ánh của văn

chương nghệ thuật rất rộng lớn, nó bao gồm cả môi trường tự nhiên và đời sống xã hội

của con người “Qua bàn tay tài năng của người nghệ sĩ, các phương diện trên của hiện

thực sẽ được chuyển hóa vào tác phẩm, tạo nên không gian hiện thực phản ánh cho

chính tác phẩm ấy”

Khi đưa ra nhận định: “Bất kỳ một nền văn nghệ nào cũng hình thành trên một

cơ sở hiện thực nhất định Bất kỳ nghệ sĩ nào cũng thoát thai từ một môi trường sống

nào đó Bất kỳ một tác phẩm văn học nào cũng là sự khúc xạ từ những vấn đề trong

cuộc sống” [5, 63 - 64], các nhà lí luận văn học hiểu sâu sắc rằng, văn học nảy sinh, bắt

rễ từ hiện thực, nó sẽ mang theo bản chất đặc trưng của chính hiện thực mà nó đang

phản ánh Chính bởi điều này cho nên khi tiếp xúc với các sáng tác về đề tài miền núi,

dân tộc, bạn đọc nhận ra ở đó có một không gian hiện thực mang những nét đặc trưng

riêng biệt của vùng núi cao Tuy nhiên nếu đặt trong tương quan so sánh sẽ thấy có độ

chênh lệch trong việc biểu hiện những sắc thái đặc trưng về hiện thực ấy giữa các tác

phẩm Là sản phẩm tinh thần đặc sắc kết tinh vốn sống qu ý báu được tích lũy gần một

phần tư thế kỷ cùng với tình yêu sâu sắc mà Ma Văn Kháng dành cho vùng đất biên

cương của Tổ quốc, tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe là một trong số ít các tác phẩm

thành công trong việc tái hiện bản sắc văn hóa miền núi về không gian hiện thực phản

ánh với một bức tranh thiên nhiên miền núi kỳ vĩ, hoang sơ, bí ẩn mà thơ mộng, và một

bức tranh sinh hoạt đời sống độc đáo, ấn tượng của đồng bào dân tộc nơi đây

Trang 27

2.2.1.1 Bức tranh thiên nhiên

Cuối những năm 40, đầu những năm 50 của thế kỷ XX, độc giả đã được biết đến

không gian thiên nhiên nơi núi rừng Tây Bắc được phản ánh trong nhiều tác phẩm như:

Vàng và máu của Thế Lữ, tập truyện Truyện Tây Bắc của Tô Hoài… nhưng đến cuối

thập kỷ 70, khi Đồng bạc trắng hoa xòe của Ma Văn Kháng ra mắt bạn đọc, người ta

vẫn nhận ra ở đó cái chất riêng, cái linh hồn riêng của thiên nhiên miền biên ải trong

cái hoang sợ dường như mới ở thuở khai thiên lập địa Và đây chính là một nét độc đáo

tạo nên sức hấp dẫn cho cuốn tiểu thuyết này So với các tác phẩm cùng viết về đề tài

miền núi, dân tộc, có lẽ với ưu thế về mặt dung lượng (gần 600 trang), Đồng bạc trắng

hoa xòe có thế mạnh riêng trong việc tái hiện không gian vô cùng rộng lớn của miền

biên ải Theo bước chân của các nhân vật, khung cảnh thiên nhiên được mở rộng và

dường như ngòi bút của nhà văn đã len lỏi, khai phá những nét riêng, độc đáo của hầu

hết các địa danh ở tỉnh miền núi Lào Cai xa xôi, nơi địa đầu của Tổ quốc

Làng Can Chư Sủ của Pao là một ngôi làng nằm cách xa châu lị: “từ châu về

Can Chư Sủ đường như đường lên trời, gió núi thổi ào ào như thác cuốn… Can Chư Sủ

ở trong một cái hẻm giữa 3 ngọn núi Nắng trong ba ngọn núi như ba ngọn giáo đâm

lên trời Trên đỉnh núi xanh um rừng chè tuyết Dưới đó, đỏ ửng màu chân hương

những nương sèo Thấp hơn ngô tháng bảy vàng ngà những ô nương vuông vức Thuốc

phiện ở lẩn trong rừng già, lấm chấm sắc hoa giữa những khoang rừng trống Pao leo

qua quả đồi gianh Gianh già vàng xuộm quấn qu ýt dải lá Những cây tông-qua-mu

than đen sì như cháy, có gió lồng, rung lá ào ào như gà mẹ rũ long” [201, 202] Có thể

nói, địa hình của làng Can Chư Sủ chính là điển hình cho tập quán sinh sống chỉ ưa

những vùng núi cao của đồng bào dân tộc Hmông

Còn đây là làng Nhuần, làng của những người Mán trốn thuế, li khai chính

quyền cũ của dòng họ Tẩn: “Từ quốc lộ 4 nhìn vào, dãy đá vôi Con Voi phủ phục như

một bức tường thành Dân sơn tràng mê cây trai, cây đinh trên núi ấy, cũng ngại chẳng

dám vào nơi thâm sơn cùng cố Mây tỏa suốt ngày Rãnh khe gập ghềnh Suối sâu xanh

Trang 28

rêu Và rừng thì dày đặc, ngờm ngợp sắc lá xanh đen Rừng chắn tầm mắt Rừng vây

bủa Âm u mà dồi dào sức sống hoang dại… Làng Nhuần ở trong rừng Vườn nương

cũng lẩn trong rừng Những xóm ở rất thưa thớt, rải rác, lấp kín trong một vòm cây

lớn… Con sông Chảy ồn ào tuôn nước ở phía sau làng Bên kia sông, vệt rừng chân

cao nguyên Pakha đen thẫm” [302, 303]

Không có cây đa, giếng nước, sân đình, không có lũy tre xanh rì rào tỏa mát như

các ngôi làng của vùng đồng bằng Bắc Bộ Đây là hai bức tranh thiên nhiên về hai ngôi

làng của người Mông và người Mán ở miền núi Lào Cai Ở đó chỉ có núi cao, mây tỏa,

rừng xanh, gió ngàn, suối sâu, có sắc xanh của những rừng chè tuyết trên đỉnh sơn

nguyên, có màu đỏ của những nương sèo, có sắc vàng ngà của những nương ngô, có

những nương thuốc phiện đang lấm chấm hoa giữa các khoảng rừng, có sắc lá xanh

đen ngờm ngợp của những cánh rừng hoang dại đang ôm ấp, bao bọc làng… Đây

giống như những bức tranh có sự phối màu hài hòa của một người họa sĩ tài ba khi ông

đã thâu tóm được cảnh sắc thiên nhiên đặc thù của miền sơn cước

Nhân vật trung tâm trong tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe là Chính, người

cán bộ cách mạng từ niềm xuôi lên công tác tại Lào Cai Trong quá trình cùng Pao đi

đến các vùng thổ ty, khung cảnh núi rừng hoang sơ, hùng vĩ của núi rừng khiến anh đi

hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác: “Đường ngược dốc, hun hút Mây bụi phả

vào mặt Chính Chính bay trong mây, tầm mắt ngang những chóp núi đang óng ánh sắc

cầu vồng Nắng sớm chứa chan cảm hứng Sương uyển chuyển Lúc êm chảy từng

dòng, khi đứng lặng hình cái vòng cổ bạc ôm ngọn núi Lúc dải tơ mỏng manh sắc màu

bắc cầu vắt qua thung hẹp, khi cuộn mình trắng phơ như bông trong thung lũng Núi

tiếp núi, không một mảng rừng Lơ thơ bóng cây chè già phấp phới, búp nõn trên đỉnh

tán cao Loáng thoáng hình cây tông-qua-mu rũ rượi lá cành xanh thẫm và trải ra trong

mênh mông, những sườn núi ố vàng rừng gianh tiếp núi trập trùng Hết đời chỉ đi cũng

chẳng bao giờ hết núi” [208] Rồi Chính đi đến một địa danh đặc biệt của Lào Cai, đó

là Cổng trời: “Cổng trời quả là cái cửa đá đã chia đôi không gian Trời xanh nhức lên,

Trang 29

như dát bằng một thứ đá quý Cây thông xòe cánh bay trên vách đá dựng Giữa các khe

núi, hiện ra những khoảng sâu thẳm màu hoa cà Trong cái im lặng từ trời cao và các

triền núi; tỏa xuống nặng nề, kỳ lạ, trên ngững sườn núi xanh tươi, những làng Mèo

biên giới xúm xít mái cỏ rung rinh trong không khí mờ ảo” [209] Đắm mình trong

không gian ấy, Chính cảm giác như “đang đi vào một xứ sở lạ Khác hẳn cái không khí

ngầu ngầu bụi than ở các hầm mỏ Khác hẳn những vùng đồng chiêm trũng, những

vùng núi đá vôi lô xô từng ngọn biệt lập Ninh Bình Khác hẳn những đồng lúa ngọt

ngào tiếng hát quan họ vùng Bắc Ninh Hà Nội ồn ào Nhà pha Hỏa Lò nóng sôi Chiến

khu Vần thênh thang… Những nơi Chính đã sống, đã qua, đều không có một nét nào

giống với cảnh anh đang tới” [209] Chỉ cần đọc đến dòng suy nghĩ của Chính khi anh

so sánh không gian núi rừng mênh mông, nên thơ, hùng vĩ miền biên ải với các vùng

đất, địa danh dấu chân anh đã đi qua cũng đủ cho độc giả có thể thấy được những nét

đặc sắc, độc đáo riêng có ở vùng núi Lào Cai Tây Bắc Dường như những cảm xúc, suy

nghĩ của nhân vật về miền đất mà anh đang bước qua chính là những cảm nhận, suy

nghĩ đồng thời cũng là sự khẳng định của nhà văn về vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên

miền biên giới Nó đưa bạn đọc đến khám phá một vùng không gian mới mẻ với núi

non trùng điệp và mây phủ gió ngàn, làm cho tâm hồn họ trở nên rộng mở và thoáng

đãng hơn

Nếu sinh sống ở vùng đồng bằng hay ven biển, dòng sông mênh mông, hiền hòa

trong buổi hừng đông rực rỡ hay lúc hoàng hôn yên ả, vì quen thuộc quá chưa chắc đã

xúc động nhiều bởi cái vẻ đẹp kỳ diệu của nó Ngược lại, sinh sống ở vùng núi non xa

xôi, dòng sông đôi khi cũng là một hình ảnh nằm trong trí tưởng tượng của đồng bào

thiểu số Trong một truyện ngắn của mình, Ma Văn Kháng viết: “Người Mèo đến ở đất

Ngải Thầu xa xôi, chót vót trên đỉnh núi này đã hàng chục đời Đường di cư cứ nằm

theo núi mà đi Định cư lại thì chỉ thấy xung quanh mình rặt núi là núi… Thế sông là

cái gì? Pao Chi cố hình dung mà không nổi” [3, 40] và do đó, những ấn tượng về dòng

sông là rất sâu sắc Lẽ đương nhiên nhà văn là người thanh niên chốn phồn hoa Thăng

Trang 30

Long – Hà Nội, dòng sông không phải là hình ảnh xa lạ với ông, song tình yêu, sự gắn

bó thật sự với cuộc sống cùng sự thấu hiểu tâm hồn người miền núi đã khiến ông vẽ lên

cho văn chương đề tài biên ải của mình những bức tranh đặc biệt về dòng sông Đọc

gần 600 trang sách trong Đồng bạc trắng hoa xòe, bạn đọc bắt gặp những vẻ đẹp khác

nhau của dòng sông Chẩy:

- “Pao nhìn thấy con sông Chẩy một vệt sáng vàng như ánh thép” [1, 135]

- “Sông Chẩy! Giữa hai vách đá dựng thẳng đứng như hai vệt chém phăng phăng chảy

một dòng nước xanh đen Vắt từ bờ này sang bờ kia – hơn hai chục mét – một cây cầu

đan bằng mây treo trên hai sợi song lớn bằng cổ tay, đang rung rinh nhịp võng đưa…”

[210]

- “Gió sông Chẩy hắt lên tê tê… Nước sông xanh màu đá, nhìn rõ những viên cuội

trắng phau dưới đáy Đàn mương quẩn, bơi vun vút như những mũi tên” [332]

- “Mặc tất cả những gì đã xảy ra, chiều vẫn xuống êm ả và trăng rằm vẫn khoan thai

lên, bát ngát bờ sông Chẩy Mặt trăng tròn hồng nhẹ như chiếc đèn lồng lơ lửng giữa

hai hẻm núi xanh mơ

Sông Chẩy lặng lẽ buông thả dòng nước mềm mại xanh màu xanh rừng nhuốm

ánh trăng vàng, lấp lánh như xa tanh Hàng cơi nghiêng nghìn con mắt lá khép mở lim

dim trong gió nhẹ” [359]

Dòng sông Chẩy được miêu tả trong tác phẩm này không chỉ là một nét phác êm

ả, trong bức tranh biên ải mịt mùng, xa xôi là chất thơ dịu dàng êm ái trong những

trang văn xuôi của Ma Văn Kháng, mà còn là một dáng nét thiên nhiên đáng chú ý,

một đóng góp riêng của nhà văn đã có hơn 20 năm cuộc đời gắn bó với mảnh đất Lào

Cai

Không chỉ dừng lại ở đó, nét đặc sắc trong những mảng màu thiên nhiên vùng

rẻo cao biên giới trong Đồng bạc trắng hoa xòe đã bất chấp biên độ thời gian giữ được

vẻ đẹp riêng của nó dù là xuân sang cây cối đâm chồi nảy lộc hay đông tới lạnh giá thì

thiên nhiên bao giờ cũng tràn đầy hơi thở của sự sống với sắc màu, hình ảnh, âm thanh

Trang 31

Đó là bức tranh đậm đà cảnh sắc riêng biệt của núi rừng mà dưới ngòi bút tài hoa của

nhà văn, nó vụt trở nên gần gũi, thân quen như bao vùng quê mà ta đã từng đi qua hay

mong được tới

Trước hết là mùa xuân Mùa xuân vốn đã trở nên rực rỡ hơn bao giờ hết trong

của Tô Hoài nhất là trong Vợ chồng A Phủ khi cô Mỵ hãy còn thanh xuân, khi Mỵ

mong mỏi được trở về ngày tuổi trẻ hạnh phúc Với Ma Văn Kháng, mùa xuân của

người Hmông đầy những sắc màu, hình ảnh tươi tắn hòa trong tiếng khèn êm ái mời

gọi của những mối tình: “mặc tất cả những biến động từng giờ, từng phút diễn ra với

con người, mùa xuân theo những tuần hoàn của trời đất với tất cả sức mạnh màu nhiệm

và kỳ lạ của nó, vẫn êm đềm trở về làng Hmông Can Chư Sủ trên núi cao Trời thoáng

ấm… Gió đã rộ nhưng đã bớt sương giá và trong không gian một phút nào đó đất trời

đang bâng khuâng bỗng rộn lên tiếng chim én tránh rét trở về, cho cánh vun vút, phô

cái ức trắng nõn Én lại về tha rác luyện với nước dãi làm những cái tổ xinh xinh trên

những hốc vầu đầu hồi mỗi căn nhà Ở những đám cỏ bị sương muối đốt cháy hoen

hoen màu gỉ sắt, mầm cỏ non bằng cái đầu tăm đã lấm chấm nảy, xanh rượi trẻ trung

Mặt ruộng trống hơ trống hoải sau này chỉ còn âm ẩm và những chồi cây khúc xanh

xanh đã bật dậy khỏe mạnh như những cái mầm đá Can Chư Sủ qua mùa mưa ướt

Mái nhà đầy rêu phong dưới trời ẩm bốc hơi nghi ngút Cây soán sử thôi không rắc

sương, khói bếp đã nhìn thấy từng vệt mỏng manh Đàn chó rời bếp, đi đi lại lại ngoài

sân… Mùa xuân làm háo hức từng ngọn cây Lá xanh chưa mở con mắt nhưng những

cành đào khẳng kheo xám mốc suốt cả mùa đông, nhạy cảm với tiết xuân… lại đã bật

lên những nụ hoa, thoạt đầu như cái chấm nhỏ rồi bụ dần, mòng mọng, hồng hồng”

[470,471] Có thể nói đoạn văn đã vẽ lên một khung cảnh bình dị, ngọt ngào Mùa xuân

ở vùng biên ải qua ánh mắt nhìn tinh tế của nhà văn đẹp như một bài thơ trữ tình chứa

chan cảm xúc

Và đây là cảnh đông về: “Tháng 11, heo may đã về Bàng đang đỏ cháy mỗi

phiến lá Trên những mái nhà, lá dạ hương khô, mỗi bận có gió lại cuốn chạy rào rào

Ngày đăng: 31/10/2015, 09:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Anh Chi (2007), Ma Văn Kháng và dòng chảy văn chương, Văn nghệ số 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ma Văn Kháng và dòng chảy văn chương
Tác giả: Anh Chi
Năm: 2007
2. Ma Văn Kháng (1974), Bài ca trăng sáng, NXB. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài ca trăng sáng
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: NXB. Văn học
Năm: 1974
3. Ma Văn Kháng (1972), Người con trai họ Hạng, NXB. Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người con trai họ Hạng
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: NXB. Thanh Niên
Năm: 1972
4. Ma Văn Kháng (1983), Vùng biên ải, NXB. Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vùng biên ải
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: NXB. Quân đội nhân dân
Năm: 1983
5. Nhiều tác giả (2006), Lí luận văn học, NXB. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 2006
6. Nhiều tác giả (2007), Lịch sử Văn Học Việt Nam tập III, NXB. Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Văn Học Việt Nam tập III
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB. Đại học Sư phạm
Năm: 2007
7. Nhiều tác giả (2006), Từ điển thuật ngữ Văn học, NXB. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 2006
8. Hoàng Phê (2006), Từ điển tiếng Việt, NXB. Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB. Đà Nẵng
Năm: 2006
9. Trần Đăng Suyền (2002), Nhà văn hiện thực đời sống và cá tính sáng tạo, NXB. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn hiện thực đời sống và cá tính sáng tạo
Tác giả: Trần Đăng Suyền
Nhà XB: NXB. Văn học
Năm: 2002
10. Trần Ngọc Thêm (2000), Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hoá Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 2000
11. Trần Quốc Vượng (1998), Cơ sở Văn hoá Việt Nam, NXB. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Văn hoá Việt Nam
Tác giả: Trần Quốc Vượng
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w