1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ám ảnh về nỗi cô đơn trong tiểu thuyết một mình một ngựa của ma văn kháng

56 330 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 482,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rất nhiều nhà văn đến với tiểu thuyết để trải lòng mình, để phản ánh mọi hiện thực khách quan, để được kể lại những gì mình nhìn thấy xung quanh và để thể hiện tấm lòng của mình.Ở mỗi tá

Trang 1

-*** -

NGUYỄN THỊ THUÝ HÀ

ÁM ẢNH VỀ NỖI CÔ ĐƠN TRONG

TIỂU THUYẾT MỘT MÌNH MỘT NGỰA

CỦA MA VĂN KHÁNG

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYỄN THỊ TUYẾT MINH

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo,

TS Nguyễn Thị Tuyết Minh - người đã luôn quan tâm, động viên và tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện khoá luận này

Tôi chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Ngữ văn, đặc biệt

là các thầy, cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khoá luận

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2010

Tác giả khoá luận

Nguyễn Thị Thuý Hà

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Khoá luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của cô giáo – TS Nguyễn Thị Tuyết Minh Tôi xin cam đoan:

Đây là kết quả nghiên cứu tìm tòi của riêng tôi

Đề tài không trùng với kết quả của bất cứ tác giả nào khác

Hà Nội, tháng 5 năm 2010

Tác giả khoá luận

Nguyễn Thị Thuý Hà

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong đời sống của người Việt Nam, văn học có một vài trò rất quan trọng Dĩ nhiên ở đâu văn chương sinh ra cũng là để cho con người và không dân tộc nào lại tồn tại mà không cần đến văn chương Nhưng hình như

ở Việt Nam ý nghĩa của văn chương có cái gì hơi đặc biệt Triều đình chọn người hiền tài làm quan không phải qua các cuộc thi võ mà qua các cuộc thi văn Tài năng văn chương được đồng nhất với kinh bang tế thế, người bình dân rất yêu chuộng văn thơ, không chỉ văn thơ dân gian mà cả những tác phẩm của văn chương bác học Văn chương đối với người Việt Nam ít mang tính chất là một phương tiện, một hoạt động mưu cầu cái đẹp thuần tuý hình thức Sự quan tâm đến cái đẹp hình thức ít khi nào chiếm ưu thế trong tư tưởng thẩm mĩ của người Việt Nam Văn chương đối với người Việt Nam là một hình thức sản phẩm, một cách ứng xử với thế giới và với cuộc đời Tiểu thuyết là một trong những bộ phận hợp thành văn học Việt Nam, nó có khả năng bao quát một mảng hiện thực rộng lớn tạo nên một bức tranh toàn cảnh của một giai đoạn, một thời kỳ lịch sử Nó có sức công phá những nguồn mạch biện chứng của tâm hồn, soi sáng được cái thiện và cái ác, cao cả và thấp hèn [12,20] Rất nhiều nhà văn đến với tiểu thuyết để trải lòng mình, để phản ánh mọi hiện thực khách quan, để được kể lại những gì mình nhìn thấy xung quanh và để thể hiện tấm lòng của mình.Ở mỗi tác phẩm văn học chứa đựng biết bao điều, đó có thể là niềm vui, nỗi buồn, sự chia sẻ hay là nỗi cô đơn Nỗi cô đơn ám ảnh trong nhiều tác phẩm, nó vây quanh nhân vật, nó bao trùm lên toàn bộ tác phẩm là không gian, thời gian, là ngôn ngữ, giọng điệu

Đó là những tác phẩm như Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh); Thời xa vắng (Lê Lựu), Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp), Một mình một ngựa (Ma Văn

Trang 5

Kháng)… Chủ đề cô đơn luôn thường trực trong mỗi tác phẩm đương đại hiện nay mà tiêu biểu là nhà văn lão thành Ma Văn Kháng

1.2 “Sống đã rồi mới viết Viết là hệ quả tất yếu của sự trải nghiệm”

Đó là phương châm sống của Ma Văn Kháng Tiếp tục mạch đề tài Tây Bắc,

mới đây Ma Văn Kháng đã cho ra mắt bạn đọc tiểu thuyết Một mình một

ngựa Bên cạnh những vấn đề tâm huyết được đặt ra như phẩm chất con

người cách mạng, bản lĩnh và ý chí con người trước những thử thách hiểm nghèo, vấn đề tổ chức và quản lý trong thực tiễn vùng cao cũng được xới lên một cách quyết liệt và thấu hiểu Đặc biệt, tác phẩm như một cuốn tự truyện của ông và trong đó ám ảnh nỗi cô đơn như chính ông đã từng chứng kiến và nếm trải về nó Đó là nỗi cô đơn trong con người cách mạng oai hùng hiên ngang của một người ở đỉnh cao của sự nghiệp vẫn luôn mang trong mình mặc cảm cô đơn Cô đơn trong cuộc sống, trong bảo vệ chân lý, trong quan hệ gia đình… Đó vừa là sự oai vũ, vừa là thân phận của tất cả các cá thể có ý thức về giá trị của mình

1.3 Vì những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Ám ảnh về nỗi cô

đơn trong tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng Kết quả nghiên

cứu giúp người viết có cái nhìn toàn diện hơn về tiểu thuyết mang khuynh hướng tự truyện, về chủ đề cô đơn trong văn học đương đại Qua đó, tìm hiểu

tư tưởng cũng như thành công nghệ thuật của tác phẩm

2 Lịch sử vấn đề

Văn học là tấm gương phản ánh đời sống, qua văn học ta nhận ra các mảng hiện thực, có cả ánh sáng xen bóng tối, lòng vị tha, sự ích kỷ, niềm vui

và nỗi buồn Nhà văn Thạch Lam đã từng viết: “Đối với tôi, văn chương

không phải là cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên Trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có để vừa tố

Trang 6

cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người đọc thêm trong sạch và phong phú hơn” Và nhà văn Ma Văn Kháng đã đem đến

văn chương sự hiểu biết, trải nghiệm về cuộc sống của mình: “Thật tình tôi đã

định không viết tiểu thuyết Nhưng trong những ngày nghỉ ngơi, ngẫm lại đời mình, tôi bỗng nhận ra còn một đoạn đời có chút ít ý nghĩa của mình bị chính mình lãng quên Ấy là mấy năm trời tôi sang làm thư ký cho bí thư tỉnh uỷ Ở

đó tôi được sống và công tác với hai lớp người: người cán bộ lãnh đạo trong ban Thường vụ tỉnh uỷ và các cán bộ trợ lý giúp việc Và thế là tôi quyết định phải kể nốt những chuyện mình đã biết ở đoạn đời này” (Ma Văn Kháng –

Một mình một ngựa Trả lời phỏng vấn của phóng viên, đăng trên trang Web:

Vietinfo, 04/2009) Điều đó khiến tiểu thuyết Một mình một ngựa đã được Ma

Văn Kháng cho ra mắt trước công chúng Tác phẩm được trao giải nhất của Hội nhà văn Việt Nam năm 2009 Những trang văn thấm đẫm cảnh sắc núi rừng Tây Bắc, những rung động của tình yêu, tình bạn, tình đồng bào làm cho tác phẩm trở nên dễ đọc và dễ chia sẻ Tác phẩm không phải là sự đột phá, cũng không mới mẻ so với chính nhà văn Ma Văn Kháng Nhưng điều được ghi nhận ở đây là sự vững vàng về tay nghề tiểu thuyết, cả trong kỹ thuật và nghệ thuật, và những vấn đề được đặt ra một cách thẳng thắn, không né tránh

Tác phẩm thể hiện sức bền của cây bút Ma Văn Kháng Một mình một ngựa là

tiểu thuyết mới được xuất bản nên có rất ít bài nghiên cứu phê bình về nó

Bài viết Khuynh hướng tự truyện trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại (Tạp chí Khoa học trường ĐHSP Hà Nội 2 số 7/2009) cho rằng: Một mình

một ngựa mang tính tự truyện rõ nét, trong nội dung văn bản, kỹ thuật kể

chuyện để thấy sự thâm nhập của thể loại tự truyện trong tác phẩm Ma Văn Kháng đã kể lại những kỷ niệm với vùng đất Lào Cai và những con người nơi đây từ năm 1955 với vai trò là một giáo viên, đến năm 1965 làm thư ký cho bí thư tỉnh uỷ Trường Minh Điều đó làm cho người đọc dễ liên tưởng tác giả

Trang 7

với nhân vật Toàn trong tiểu thuyết “Đi từ các cá thể đến tính phổ quát, với ý

thức tạo thế giới hình ảnh, Ma Văn Kháng đã đem lại cho câu chuyện kể về đời mình những màu sắc của tiểu thuyết trong sự kết hợp hài hoà với tự truyện” và ông đã góp thêm một tiếng nói trong dòng văn học hướng nội hôm

nay

Ngoài ra, còn một số bài phê bình, giới thiệu về tiểu thuyết Một mình

một ngựa của Hội nhà văn, những bài giới thiệu tác phẩm mới đăng trên các

trang Web điện tử

Nhìn chung, đây là một tiểu thuyết còn “mới tinh”, “vừa chào đời” (vừa được Hội nhà văn trao giải nhất về văn xuôi - 9/2009), nêu hầu như chưa có bài nghiên cứu về nó Rải rác trên báo, nó chỉ được giới phê bình giới thiệu ở mục sách mới mà thôi

3 Mục đích nghiên cứu

Hệ thống hoá cảm thức cô đơn trong tiểu thuyết Một mình một ngựa

của Ma Văn Kháng Qua đó, thấy được xu hướng tự truyện “hướng nội” trong tiểu thuyết đương đại - thời đại cái tôi cá nhân được phát huy tận độ

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xuất phát từ việc nắm vững những kiến thức về tiểu thuyết văn học nói chung và chủ đề cô đơn trong tiểu thuyết nói riêng, khoá luận có nhiệm vụ

chỉ ra cảm thức cô đơn trong tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn

Kháng

- Khoá luận đi sâu phát hiện những sáng tạo độc đáo của nhà văn và hiệu quả nghệ thuật của những sáng tạo đó trong khi thể hiện nội dung tác phẩm

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác phẩm Một mình một ngựa của

Ma Văn Kháng

Trang 8

- Phạm vi nghiên cứu

Khoá luận tập trung nghiên cứu một số bình diện cơ bản nhằm làm sáng tỏ

những nét đặc sắc nghệ thuật của tiểu thuyết Một mình một ngựa Cụ thể là

“Ám ảnh về nỗi cô đơn trong tiểu thuyết Một mình một ngựa”, được thể hiện

qua nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu của tác phẩm

6 Phương pháp nghiên cứu

Khoá luận tập trung sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp hệ thống

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học

7 Đóng góp của khoỏ luận

Khoá luận là công trình khoa học đầu tiên tìm hiểu một cách hệ thống

về nỗi cô đơn trong tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng, qua

hai phương diện chính: nhân vật và ngôn ngữ, giọng điệu Thông qua tiểu thuyết này, người viết thấy được những cách tân trong tiểu thuyết đương đại Việt Nam Đồng thời, đây cũng là tài liệu hữu ích đối với việc học tập và giảng dạy môn Ngữ văn sau này

8 Bố cục của khoá luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của khoá luận được chia thành ba chương:

Chương 1: Giới thuyết chung

Chương 2: Một mình một ngựa - chân dung con người kiêu hùng và đầy

mặc cảm cô đơn

Chương 3: Cảm thức cô đơn chi phối các phương thức nghệ thuật trong

tiểu thuyết Một mình một ngựa

Trang 9

CHƯƠNG 1 GIỚI THUYẾT CHUNG

1.1 Cảm thức cô đơn trong văn học Việt Nam đương đại

Như một dòng sông không thể cắt lìa với nguồn mạch, văn học đương đại Việt Nam tiếp tục những giá trị nhân văn, nhân đạo truyền thống mà nó từng theo đuổi, nhưng cũng có những biến đổi và phát triển Đổi mới văn học, trong nhiều thành công của nó, có một thành công quan trọng cần ghi nhận: những giá trị nhân văn - nhân đạo cơ bản mà văn học quá khứ, đặc biệt là văn học trước Cách mạng đã xây dựng được không còn bị cắt lìa với những gì của hôm nay và đang hồi sinh trong văn học đương đại Nhu cầu “đào bới” tìm hiểu và tiếp nhận một cách khao khát những giá trị văn chương trước 1945 minh chứng rõ điều này Đồng thời, sự mở rộng giao lưu và tiếp nhận với một thái độ cởi mở, không định kiến với những giá trị văn chương nhân loại cũng tạo nên những thúc đẩy mới cho văn chương nước nhà Nhà văn Nguyên

Ngọc đã nhận xét: “Người ta chờ nhà văn qua những vận động xã hội phức

tạp đó, đưa đến cho người ta những tổng kết nhân văn sâu sắc và lâu dài”

[8,12 ] Sự xuất hiện cảm hứng sự thật là một tất yếu mà văn học phải vượt qua để tìm đến những chiều sâu mới Chính trong việc phơi bày hiện thực và tiếp theo đó là sự phân tích và suy ngẫm về hiện thực mà văn chương ngày càng thấy lồ lộ chân dung con người: số phận của nó trong lịch sử, trách nhiệm và sự vật lộn của mỗi người trong sự tồn tại của chính nó trước những

Trang 10

thử thách của một đời sống đầy biến động Cảm hứng mới về con người từng bước rõ nét dần trong văn học, thay thế cho cảm hứng về sự phơi bày hiện thực Hiện thực là cái nền cho diễn biến những cuộc đời, những số phận, những trạng thái tinh thần Cũng chính là những thao tác tư duy nghệ thuật mới này mà văn học đạt được giá trị kép: một mặt thông qua việc đi sâu vào cuộc đời và thân phận mỗi cá thể mà làm rõ chân dung của lịch sử, soi chiếu trở lại nhưng vấn đề của lịch sử đồng thời đem lại những thăm dò mới, mở ra những nhận thức mới về con người Theo đó, cảm thức cô đơn đang chiếm dần trong văn học đương đại

Cô đơn là một trạng thái tinh thần tiêu cực của con người Nó xuất hiện

và biểu lộ khi con người không tìm thấy sự đồng cảm, chia sẻ từ phía đồng loại, không tìm thấy tiếng nói chung trong cộng đồng, khi con người cảm thấy lạc thời và lạc loài

Cô đơn không phải chủ đề xa lạ trong văn học Nhiều tác phẩm đã trở thành kiệt tác văn chương thế giới nhờ khai thác chủ đề này Ngay bản thân công việc lao động sáng tạo nghệ thuật của các nhà văn cũng là một hành trình đầy đơn độc để kiếm tìm những chân lý đời sống và giải mã những bí ẩn

trong nội tâm sâu thẳm của con người Bởi “những nghệ sỹ trác tuyệt là

những con người cô đơn khủng khiếp” Cảm nhận sâu sắc điều đó, G.macket -

tác giả của cuốn tiểu thuyết được giải Nobel văn chương Trăm năm cô đơn từng tuyên bố “Cuốn sách mà ông dành cả đời người để sáng tạo là cuốn

sách viết về cái cô đơn” Sorenkienkegaard - Triết gia của chủ nghĩa hiện sinh

sống ở thế kỷ XIX cũng cho rằng: “Mỗi con người là một hiện sinh độc đáo

[…] mỗi con người là một vũ trụ đóng kín không ai hiểu nổi và cũng không thể tự thông báo cái nội tâm phức tạp của mình cho bất cứ một ai” Như thế

có nghĩa theo Kierkegaard, cô đơn là bản chất của con người, là trạng thái tồn tại tất yếu của một hữu thể con người

Trang 11

Trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975, con người chủ yếu là con người xã hội, thuộc về cộng đồng, tìm thấy ý nghĩa cuộc sống, ý nghĩa tồn tại trong những hành động, việc làm vì tập thể, vì cộng đồng Đó là những con người được xã hội nâng đỡ, ủng hộ, không bao giờ cảm thấy cô đơn trên hành trình đến với lý tưởng và thực thi nghĩa vụ Cái tôi cá nhân hoà tan vào cái ta cộng đồng, hành trình đi từ cái tôi cá nhân đến cái ta chung rộng lớn là

cuộc hành trình đi “từ thung lũng đau thương đến cánh đồng vui” (Chế Lan

Viên) Trong hoàn cảnh bất thường của lịch sử, con người cá nhân không có điều kiện để nhìn ngắm, quan sát tâm hồn mình, do đó trong tâm lý con người dường như không xuất hiện trạng thái cô đơn Con người chỉ thực sự cảm thấy cô đơn thấm thía khi bị tách ra khỏi cộng đồng, khỏi tập thể, khỏi sự nghiệp đấu tranh chung

Trong văn học sau 1975, cô đơn trở thành “điểm xoáy” thu hút sự chú ý của các cây bút văn xuôi Việt Nam đương đại Có thể kể đến Tướng về hưu,

Thương nhớ đồng quê, Chút thoáng Xuân Hương, Trương Chi… của Nguyễn

Huy Thiệp, Thiên sứ của Phạm Thị Hoài; Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh;

Thời xa vắng của Lê Lựu; Người sót lại của rừng cười của Võ Thị Hảo…; và

gần đây nhất là tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng Các tác

phẩm đều thể hiện cô đơn như một trạng thái tâm lý thường trực của con người, ngay cả khi sống giữa đồng loại con người vẫn cảm thấy cô đơn Xã

hội như một “sa mạc” đầy người, đông đúc mà vẫn hoang vắng trống trải, rời

rạc không liên kết Nỗi cô đơn không chỉ ở một con người mà nó là cả một thế

hệ cán bộ cách mạng khi đương đầu với khó khăn, với cuộc kháng chiến và

nó len lỏi ở mọi khía cạnh cuộc sống Đó là khi bảo vệ chân lý, trong xây dựng cuộc sống mới, trong cuộc sống hiện tại và trong cả quan hệ gia đình Các nhà văn đi sâu vào khía cạnh tâm hồn con người với cuộc đời thực của họ hơn là những hư cấu lãng mạn, những ảo vọng của một thời oanh liệt Nỗi cô

Trang 12

đơn ám ảnh trong nhiều tác phẩm văn học nhưng trong tiểu thuyết Một mình

một ngựa của Ma Văn Kháng, nỗi cô đơn càng được bộc lộ một cách sâu sắc,

từ chân dung con người đến thiên nhiên cảnh vật, tất cả đều mang một nỗi cô đơn Chủ đề cô đơn là điểm giao ứng trong cách cảm nhận về con người của các nhà văn đương đại Thể hiện con người cô đơn chính là một biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học, giúp con người hiểu về bản thân mình và đồng loại của mình một cách sâu sắc hơn, thấu triệt hơn

Văn học Việt Nam đương đại đang hoà nhập và hội nhập cùng ý thức nhà văn toàn cầu trên nhiều chủ đề chung và chính trên những vấn đề này, nó đóng góp màu sắc riêng qua những kinh nghiệm lịch sử - văn hoá của chính mình Việc khám phá con người cá nhân và những quan hệ nhiều chiều đi đối với chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc trong văn học đương đại cùng những sáng tạo mới mẻ về hình thức là hướng đi tích cực - dù chưa phải đã có nhiều thành tựu của nền văn học Việt Nam, trước hết là vì mình, của mình nhưng cũng là sự đóng góp, hoà đồng vào những giá trị nhân văn của nhân loại

1.2 Về tác giả Ma Văn Kháng

1.2.1 Tiểu sử

Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, người Kinh, sinh ngày 01/12/1936 Quê gốc ở phường Kim Liên - quận Đống Đa - Hà Nội, nay là quận Ba Đình - Hà Nội Ông là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, Hội viên Hội nhà văn Việt Nam (từ năm 1974)

Từ tuổi thiếu niên Ma Văn Kháng đã tham gia quân đội và được đi học

ở khu học xá Trung Quốc Năm 1960, vào học tại trường ĐHSP Hà Nội, tốt nghiệp, ông xung phong lên dạy học ở Lào Cai, từng là hiệu trưởng trường trung học Về sau được tỉnh uỷ điều về làm thư ký cho đồng chí Bí thư tỉnh uỷ

Trang 13

Trường Minh, rồi làm phóng viên, phó tổng biên tập báo của Đảng bộ Tỉnh

Bí danh Ma Văn Kháng được dùng làm bút danh để nói lên sự gắn bó sâu sắc

và tình yêu của tác giả đối với miền đất mà ông từng hoạt động hơn 20 năm, nơi quê hương thứ hai của mình Sau khi đất nước thống nhất, từ năm 1976 đến nay ông về công tác tại Hà Nội, từng làm Tổng biên tập, Phó Giám đốc Nhà xuất bản Lao động Từ tháng 3/1995 là Uỷ viên ban chấp hành, uỷ viên Đảng đoàn Hội nhà văn Việt Nam khoá V, Tổng biên tập Tạp chí Văn học nước ngoài

Đinh Trọng Đoàn khi mới ngoài hai mươi tuổi với lý tưởng của thời đại giục giã, cộng với lòng say mê văn học đã hăm hở đi vào vùng đất hoàn toàn mới lạ - Tỉnh Lào Cai Phải có ý chí mạnh mẽ, con người mới tự nguyện rời khỏi tổ ấm quen thuộc, có ánh đèn điện, có nước máy để đến sinh sống ở nơi heo hút, hoang vắng Ông cùng với nhóm bạn đầy nhiệt huyết đã dâng hiến tuổi thanh xuân của mình hoà vào với lứa thanh niên vùng cao Lào Cai làm bất cứ việc gì Đó là một Pave Coocxaghin đích thực Tất cả những việc làm ở mảnh đất hoang vu ấy đã để lại trong ông bao kỉ niệm về quãng đời tuổi trẻ của mình, đó cũng là kinh nghiệm để ông cho ra đời bao tác phẩm hay và độc đáo Ông đã quan sát cuộc sống rất kỹ, từ dưới lên, từ trên xuống, từ ngoài vào, từ trong ra Công việc không mệt mỏi Đi không mệt mỏi Sau mỗi chuyến đi đầu óc ông lại chi chút chắt lọc từng mẩu nhỏ của cuộc đời Ông sống chan hoà với học sinh, bà con dân bản để tái hiện những thời điểm lịch

sử chao chát búa rìu, dựng những nhân vật độc đáo, giàu cá tính

Cuộc đời Ma Văn Kháng gắn liền với bà con dân bản, với miền đất Lào Cai Ông từng giữ nhiều chức vụ, cống hiến toàn bộ sức lực của mình cho sự nghiệp chung của đất nước, không từ chối bất cứ việc gì Có thể nói, nhà văn

Ma Văn Kháng đã gồng mình toàn thân vắt trong cái gian khó ra những dòng văn cho những trang tiểu thuyết của ông

1.2.2 Sự nghiệp văn học

Trang 14

Sáng tác của Ma Văn Kháng tập trung vào hai đề tài chính là cuộc sống của đồng bào miền núi cao phía Bắc Tổ quốc và đời sống thành thị đầy phức tạp trong cuộc chuyển mình mạnh mẽ của đất nước sau chiến thắng năm

1975 Các tác phẩm chính của ông bao gồm:

Đồng bạc trắng hoa xoè (Tiểu thuyết - 1979)

Vùng biên ải (Tiểu thuyết - 1983)

Trăng non (Tiểu thuyết - 1984)

Mưa mùa hạ (Tiểu thuyết - 1982)

Mùa lá rụng trong vườn (Tiểu thuyết - 1985)

Võ sĩ lên đài (Tiểu thuyết - 1986)

Côi cút giữa cảnh đời (Tiểu thuyết - 1989)

Chó Bi - đời lưu lạc (Tiểu thuyết - 1992)

Ngày đẹp trời (Truyện ngắn - 1986)

Đám cưới không có giấy giá thú (Tiểu thuyết-1989)

Trái chín mùa thu (Truyện ngắn - 1988)

Heo may gió lộng (Truyện ngắn - 1992)

Trăng soi sân nhỏ (Truyện ngắn - 1994)

Ngoại thành (Truyện ngắn - 1996)

Truyện ngắn Ma Văn Kháng, Tuyển tập 1996

Một chiều gió lộng (Tiểu thuyết - 1998)

Ngược dòng nước lũ (Tiểu thuyết - 1999)

Một mình một ngựa (Tiểu thuyết - 2009)

Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương (Hồi ký - 2009)

Ông được trao nhiều giải thưởng, trong đó có giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam (1985); Giải thưởng văn học Đông Nam á - Asean (1998); Tặng thưởng của Hội đồng văn xuôi Hội nhà văn Việt Nam (1995); Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (2001) Năm 2009, Ma Văn Kháng

cho xuất bản tiểu thuyết Một mình một ngựa và được Hội nhà văn Việt Nam

trao giải nhất

Trang 15

Ma Văn Kháng - nhà văn lão làng của làng văn học Việt Nam, đã cống hiến cho nền văn học một khối lượng tác phẩm khá lớn, góp phần quan trọng vào dòng chảy văn chương của nước nhà cả về nội dung và nghệ thuật, làm cho văn học trở nên phong phú và đa dạng hơn cả hôm qua và hôm nay, quá khứ và hiện tại

1.3 Vị trí tiểu thuyết Một mình một ngựa trong đời sống văn học đương

đại Việt Nam

Nhà văn Ma Văn Kháng từng làm thầy giáo nhiều năm ở Lào Cai, sau lại có thời gian ngắn ông được điều sang làm thư ký cho Bí thư tỉnh uỷ Lào Cai Hai chi tiết thuộc về tiểu sử tác giả này đã được ông gắn vào tiểu sử nhân

vật Toàn, nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết Một mình một ngựa của ông

Nó là ánh hào quang của quá khứ và hiện tại Quá khứ ấy là những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, thu hẹp lại trong không gian của một tỉnh miền núi phía Bắc Hẹp nữa, nó là văn phòng tỉnh uỷ với ông bí thư, các ông thường

vụ, các ông trợ lý của thường vụ, rồi nhân viên văn phòng… Không nhiều nhưng cũng đủ để thấy được sự đa dạng và tính phức tạp của một tiểu xã hội Tất cả hiện lên qua cái nhìn khám phá của Toàn - một thầy giáo dạy văn được điều về văn phòng làm thư ký cho bí thư tỉnh uỷ Quyết Định Hình như ở đây

ai nấy đề bị đặt nhầm chỗ Họ phải làm những công việc không phù hợp khả năng của mình Họ phải sắm những vai không vừa với phẩm chất vốn có Ví như năm ông trong ban thường vụ tỉnh uỷ Những con người giữ cương vị ấy không phải bằng tài năng mà nhờ những ngoắt ngoéo ngẫu nhiên của phong trào Hàng loạt chuyện bi hài, dở khóc, dở cười đã xảy ra từ những con người

bị đặt nhầm chỗ này Đó là những chuyện mà nếu không phải là người trong cuộc, tác giả sẽ không biết và không thể kể lại một cách hoạt kê, lý thú đến thế Bị đặt nhầm chỗ còn là những người mà Toàn yêu mến thật lòng: Ông trợ

lý Đồng - một hảo hán và nhất là ông Bí thư tỉnh uỷ Quyết Định “Một mình

một ngựa xông lên” là câu để nói về một hành động anh hùng của ông Quyết

Định Hai mươi tuổi ông thay mặt Tổng bộ Việt Minh, “một mình một ngựa”

Trang 16

từ Yên Bái vượt sông Chảy vào hang ổ của các thổ ty, chúa đất vùng núi Hoàng Liên thuyết phục họ theo cách mạng Ông Quyết Định có quá khứ đủ sức thuyết phục quần chúng, ông có nhiệt tình cách mạng, có tinh thần cống hiến bất tư lợi nhưng như thế chưa đủ đối với một người phải chịu trách nhiệm về cuộc sống của toàn bộ người dân một tỉnh Đằng sau việc nhắc lại

nhiều lần cụm từ “một mình một ngựa” chừng như là một tiếng thở dài nuối tiếc và bất lực của quá khứ chiến đấu trước hiện tại sản xuất Một mình một

ngựa có cái nét ngậm ngùi rất khó lẫn Cái ngậm ngùi của người đã kinh qua

sóng gió cuộc đời, cái ngậm ngùi của người biết quá rõ sự bất toàn của quá khứ và cũng là người hiểu thấu rằng đó chính là một phần không thể tách rời

ký ức của mình Một mình một ngựa - ánh hào quang của quá khứ hắt trên con đường hiện tại Tác phẩm “không phải là sự đột phá, cũng không mới mẻ so

với chính nhà văn Ma Văn Kháng nhưng điều được ghi nhận ở đây là sự vững vàng về tay nghề tiểu thuyết cả trong kỹ thuật và nghệ thuật, và những vấn đề được đặt ra một cách thẳng thắn, không né tránh” (Hội nhà văn Hà Nội)

Cùng với chất tự truyện, tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn

Kháng đã bộc lộ được cái tôi, ý thức nhận thức lại thực tại của dòng văn học

tự vấn và góp thêm một tiếng nói cho dòng văn học đương đại nước nhà

Trang 18

CHƯƠNG 2

MỘT MÌNH MỘT NGỰA CHÂN DUNG CON NGƯỜI KIÊU HÙNG

VÀ ĐẦY MẶC CẢM CÔ ĐƠN

2.1 Chủ đề “một mình một ngựa”

Tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng viết về lớp cán bộ lãnh đạo nơi miền núi phía Bắc “Đây là đoạn đời mà bây giờ tôi mới viết ra

để mọi người có thể hình dung đầy đủ về bản thân tôi” Nhà văn Ma Văn

Kháng đã tự thú nhận điều này, đó là quãng đời mà ông ở Lào Cai làm thầy giáo rồi làm thư ký cho bí thư tỉnh uỷ Trường Minh “Một mình một ngựa”

mà đồng bào miền núi gọi “khắc điêu khuý tu ma xổng khẩn” được đưa ra làm

tên của tiểu thuyết này đã bao quát được toàn bộ nội dung của tác phẩm Ở đó

là sự oai hùng, hiên ngang của người chiến sỹ cách mạng, nhưng trong chính bản thân nó cũng mang một sự cô đơn, cái cô đơn ấy hiện diện trong mọi phương diện: khi đương đầu với khó khăn trong công việc, khi bảo vệ công

lý, khi xây dựng cuộc sống mới và cô đơn trong quan hệ gia đình; cô đơn trong cuộc sống hiện tại và quá khứ Tất cả điều đó gom nhặt vào cụm từ

“một mình một ngựa”

Một mình một ngựa là cuốn tiểu thuyết thứ 13 của Ma Văn Kháng Nó

có cấu trúc chặt chẽ, các tuyến nhân vật và các chi tiết được đan cài vào nhau một cách tài tình xuyên suốt Tác phẩm đã tái hiện cái đẹp và hạn chế của một thời đã đi vào quá vãng Truyện được kể lại qua con mắt của thầy giáo Toàn - như là hiện thân của nhà giáo Đinh Trọng Đoàn, khi đang làm giáo viên cấp

ba được điều sang làm thư ký cho bí thư tỉnh uỷ Qua nhãn quan ấy tất cả những con người, những tính cách, những số phận, những công việc ở cơ quan lãnh đạo cao nhất trong một tỉnh miền núi lần lượt được hiện ra Đứng đầu là ông bí thư tỉnh uỷ Quyết Định - một con người kiêu hùng nhưng đầy

Trang 19

mặc cảm cô đơn Những con người đó đều chất phác, trung thành, nhiệt tình cách mạng, yêu quý đồng bào, sẵn sàng hi sinh trước gian khó… Đây là những hình ảnh đẹp đẽ của một thời đã qua, cho dù họ có mang trong mình những hạn chế, nhược điểm và cả mặc cảm cô đơn trước cuộc sống Sở dĩ có được sự chân thực, sinh động này là vì tác giả đã dùng chính những quan sát, trải nghiệm của mình trong thời gian làm cho bí thư tỉnh uỷ Lào Cai, với những chuyện mắt thấy tai nghe để đưa vào tác phẩm thông qua nhân vật Toàn Trong khi làm việc, Toàn đã đem hết hiểu biết và năng lực của mình để thực hiện nhiệm vụ và để có thể đưa ra nhiều đề xuất, ý tưởng mới Nhân vật Toàn vừa thể hiện cái nhìn cảm thông thương mến với mọi người, đồng thời cũng cảm thấy mình khó có thể hoà hợp được với cuộc sống nơi đây Trong anh tình yêu nghề giáo và những kỷ niệm xưa còn quá sâu đậm khiến anh luôn day dứt và không yên lòng Ở đó, anh được sống giữa cộng đồng mà không thể hoà hợp, không khỏi thấy lòng trống vắng, cô đơn Nỗi cô đơn trong ông Quyết Định, trong thầy giáo Toàn và có thể là ở những con người xung quanh họ… Tất cả được nhấn vào trong hai chữ “một mình” Chủ đề

“một mình một ngựa” ấy đã gieo vào trong tác phẩm sự đơn côi của cả một

lớp người, dù họ có một quá khứ oai hùng, hiên ngang đến thế nào thì họ cũng có lúc cô đơn và cô đơn ngay cả trong lúc kiêu hùng đó Đó còn là sự cô đơn khi không thể hoà nhập với những người xung quanh, với cuộc sống mới, con người mới khiến họ luôn day dứt và cảm giác cô đơn luôn thường trực

Ma Văn Kháng đã phác thảo thành công chân dung của cuộc sống cũng như

thiên nhiên hùng vĩ nơi vùng núi cao của Tổ quốc Một mình một ngựa gợi ra

nhiều tầng ý nghĩa, đằng sau hình tượng vừa kiêu hùng lại vừa cô liêu ấy dường như tác phẩm là tự thuật, là do chính ông hiện thân lại một quãng đời

mà trong sự nghiệp sáng tác ông còn bỏ sót

Trang 20

Bao quát toàn bộ tác phẩm là sự cô đơn, là hình ảnh con người chỉ “một

mình một ngựa xông lên” kiêu hãnh hùng dũng nhưng đơn lẻ, chỉ một mình

chiến đấu: “Cô đơn lắm! Cô đơn với tất cả các đồng chí cấp uỷ xung quanh

mình” [3, 341], và cùng với nỗi cô đơn ấy là một sự thật đau lòng, khi phát

hiện ra mình cô đơn, không thể hoà hợp Chủ đề cô đơn dường như muôn thuở Nó hiện diện ở nhiều tác phẩm Với Ma Văn Kháng, ám ảnh cô đơn chi phối toàn bộ tác phẩm, là cảm hứng kiêu hùng của con người trước cuộc đời đầy gian truân, đầy khuyết tật nhưng dạt dào sức sống mãnh liệt Từ đó, tác phẩm nối liền hiện tại với quá khứ giúp người đọc hiểu thêm về con người trong quá khứ một thời oanh liệt đã xa

2.2 Kiểu nhân vật tự ý thức về giá trị cá nhân

2.2.1 Nhân vật Quyết Định - hình ảnh một thế hệ cán bộ cách mạng vừa hiên ngang, oai hùng, vừa cô đơn

Cô đơn khi đường đầu với khó khăn của cách mạng

Sáng tác của Ma Văn Kháng thường có hình hài, diện mạo rất riêng Vì ngay từ những sáng tác đầu tay người cầm bút đã đến với người đọc trong tư cách là nhà văn có ý thức về chỗ đứng trong vương quốc văn chương nghệ thuật Các nhà nghiên cứu thường nhận xét rằng: cho đến nay, tiểu thuyết và truyện ngắn Ma Văn Kháng vẫn tập trung vào hai đề tài chính là cuộc sống đồng bào miền núi cao phía Bắc Tổ quốc và đời sống thành thị đầy phức tạp trong cuộc chuyển mình mạnh mẽ của đất nước sau năm 1975 Đọc Ma Văn Kháng, ta thấy xuyên suốt những trang văn một triết luận đời sống hết sức nhất quán Triết luận ấy là tình người và sự hồn nhiên làm mẫu số chung để nhà văn trò chuyện về con người và cuộc đời Các nhà văn thường miêu tả ngoại hình để nói chuyện tính cách Nhà văn Ma Văn Kháng thường miêu tả tướng hình để thể hiện tính người, tình người Bởi vì cái tính thường lộ ra ở

Trang 21

cái tướng, nhất là ở những kẻ ác tính, ác tâm Những truyện ngắn, tiểu thuyết hay nhất của Ma Văn Kháng là những chuyện nói về “dòng đời”, “mạch sống” Khi viết về “dòng đời”, Ma Văn Kháng thường đào sâu tìm hiểu mọi khía cạnh của cuộc sống con người dưới cái nhìn cảm thông, khách quan và trong những khía cạnh đó có nỗi cô đơn của con người

Cô đơn là sản phẩm của tạo hoá, mang sự hoà trộn hữu cơ giữa vẻ đẹp anh hùng cao cả phi thường với thói đời nhỏ nhặt, tầm thường Chủ đề ấy của tiểu thuyết được thể hiện bằng một nghệ thuật trần thuật có dụng ý phác thảo loạt chân dung của một lớp người - một thế hệ cán bộ ở một thời điểm nhất định của đất nước Những tính cách giàu tính chân thực sinh động như một đính chính những ngộ nhận về họ ở hai phía cực đoan Bí thư tỉnh uỷ Quyết Định là một người có quá khứ oanh liệt, có bản lĩnh chính trị vững vàng Ông tâm huyết, tận tuỵ, sống gương mẫu và trung hậu Nhưng cảm giác cô đơn,

một mình một ngựa vừa hào hùng vừa cô độc đã chế ngự ông Một mình một ngựa đã khắc hoạ nhân vật bằng một cảm hứng kiêu hùng Hình tượng nhân

vật là con người bình thường nhưng đủ sức làm nên một sức mạnh phi thường Ông bí thư tỉnh uỷ Quyết Định xuất thân dân tộc Tày, tên thật là Nông Đình Khoan Quyết Định là tên bí danh ông được anh cán bộ Việt Minh đặt cho khi gặp ông còn rụt rè, không dám quyết định cái gì và mong ông rèn luyện theo và từ đó ông mang tên này đến nay đã hơn 30 năm Ông là một chiến sỹ cách mạng đã giữ nhiều chức vụ từ thấp đến cao và khi ở tuổi 50

là người đứng đầu tổ chức Đảng ở một tỉnh miền núi với một lòng nhiệt tình cách mạng, đức tính cần cù, nhẫn nại phúc hậu trước sau không phôi phai Ông đã có một quá khứ đầy oai hùng, quá khứ ấy là ánh hào quang của cuộc

đời ông Đó là khoảng thời gian “tháng giêng năm bốn sáu khi mình trên lưng

ngựa, tiến vào châu lỵ Pha Linh, đi giữa hai hàng lính dân binh đông đến cả trăm nhằm mục đích diễu võ dương oai, đe doạ mình của thổ ty họ La, chỉ

Trang 22

một mình một ngựa mà mình lại thấy oai phong lẫm liệt thế cơ chứ” [3, 51],

ông Quyết Định khi được giao trọng trách lên tỉnh Hoàng Liên thuyết phục các thổ ty họ La, họ Hoàng, họ Nông… tuân theo mệnh lệnh của chính phủ trung ương, giải phóng tỉnh nhà Thế là ông khi đó mới hai mươi tuổi chỉ

“một mình một ngựa” dấn thân vào hang ổ của từng thổ ty, chúa đất, đối mặt với họ mà không thấy run sợ chút nào Điều đó cho thấy sự anh hùng, vượt mọi khó khăn, gian khổ và nhất là ý chí sắt đá của ông và lúc đó là khoảnh khắc oai hùng đẹp đẽ nhất của đời ông Tuy chỉ có một mình nhưng ông không hề cảm thấy sợ hãi trước sự doạ dẫm, ra oai, lừa lọc, trí trá của bọn thổ

ty, chúa đất, quyết đương đầu với mọi khó khăn Quả là một hình tượng đẹp, hào hùng và đầy thi vị Tác giả đã dùng nhiều từ “một” để nói lên sự anh dũng

và có cả mặc cảm cô đơn trong nội dung đó “Chao ôi! Một tuổi trẻ! Một chiến

mã! Một tâm hồn lãng mạn! Một lý tưởng cao cả! Những khoảng khắc phiêu bồng! Uy hùng và tráng lệ còn hơn cả các trang hiệp sỹ anh hùng thời cổ điển Vì một thân một mình thế mà bọn thổ phỉ lục lâm cướp đường chuyên nghiệp cũng không dám ho he gây sự [ ] Một mình một ngựa” [3, 53] Một

đoạn văn ngắn mà tác giả sử dụng 8 từ “một” khắc sâu cảm giác đơn độc, lẻ loi của nhân vật nhưng đồng thời chúng ta cũng có thể hình dung ra một hình tượng con người đầy anh dũng hiên ngang đã để lại dấu son không thể phai

mờ trong cuộc chiến đấu này Cuộc kháng chiến của dân tộc ta thắng lợi là nhờ vào sự đoàn kết một lòng của toàn thể dân tộc Và trong cuộc chiến ấy có rất nhiều người đã quên đi bản thân mình vì lợi ích của đất nước Một bộ phận không thể thiếu trong lực lượng cách mạng ta là đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc, điển hình là chàng thanh niên dân tộc Tày - Nông Đình Khoan Với sự giác ngộ cách mạng, tinh thần quả cảm, vượt lên mọi khó khăn ông đã

để lại một quá khứ oai hùng và tráng lệ - “Một mình một ngựa” đương đầu với khó khăn của cách mạng Cảm giác này không hề xuất hiện trong lòng

Trang 23

ông khi ấy, bởi sau ông là cả một đoàn thể, một lòng nhiệt huyết cách mạng, một cuộc cách mạng long trời lở đất Người chiến sỹ cộng sản mới hai mươi tuổi có một sức mạnh ghê gớm Oai hùng và quả cảm, hoàn thành được nhiệm

vụ mà cách mạng giao cho, để khi nhìn lại cuộc đời mình ông không khỏi ngỡ ngàng, đời người có khi trải qua khoảnh khắc chói lọi, lạ lẫm, một tuổi trẻ hào hùng và lãng mạn như thế ánh hào quang của quá khứ hắt chiếu vào thực tại

là ông bí thư tỉnh uỷ quyền uy nhưng bất lực trong chính bản thân mình Ông

là biểu tượng kiêu hùng của một thời một mình một ngựa, giờ lại lẻ loi, cô độc

giữa đám đông, giữa những người đồng chí của mình

Cô đơn trong thời kỳ xây dựng cuộc sống mới

Với một quá khứ đầy kiêu hùng khi một mình một ngựa vào tận hang ổ

của thổ ty, chúa đất, giờ đây người thanh niên cộng sản ấy đã trở thành bí thư tỉnh uỷ, đang dốc sức mình để xây dựng cuộc sống tốt đẹp cho bà con đồng bào dân tộc miền núi hoang sơ này Sau những năm kháng chiến, giờ đây ông Quyết Định làm bí thư tỉnh uỷ uy quyền nhưng ông bị lẻ loi, cô đơn giữa bao người, giữa tập thể cán bộ văn phòng tỉnh uỷ mỗi người một kiểu Để đến khi

ý thức về chính mình ông đã tự hỏi mình: “Có còn cùng lý tưởng với nhau

không? hay mỗi người đều có mưu cầu lợi ích riêng?” Một văn phòng tỉnh

uỷ với những người trong ban thường vụ chỉ theo những đường ngoắt ngoéo

mà lên, mà như các anh em nói thì quả thật ông Quyết Định rất cô đơn khi làm người đứng đầu một tổ chức đoàn thể như vậy Những con người trong

một bộ máy chính quyền mà chỉ là những người như vậy sao? “Ông Ké Lanh

chỉ đáng làm chủ nhiệm công ty ong Ông Đình chỉ vừa với chức chủ nhiệm hợp tác xã Ông Văn Hiến là anh cố nông láu cá, cơ hội” [3, 343] thế thì sao

mà cùng ông xây dựng cuộc sống tốt đẹp cho đồng bào được Một bí thư tỉnh

uỷ bận rộn với công việc, mọi việc như dồn hết lên vai ông, bởi ông là người đứng đầu cỗ xe, năm con ngựa kéo Ông tự mình đến các bản xa xôi của

Trang 24

người Hà Nhì, người Mông để cho họ có một cuộc sống ổn định và ấm no Đến với công cuộc xây dựng chính quyền tạo lập một cuộc sống no đủ, hạnh phúc cho con người không phải là một việc dễ dàng Ông đến với những bà con dân tộc không chỉ là một người đứng đầu tổ chức chính trị tỉnh mà kiêm

thêm nhiều vai nữa, đó là “nhà kinh tế học, nhà nông học, lâm học… nhăm

nhăm kiếm tìm, phát hiện những nguồn lực còn ẩn náu trong thiên nhiên” [3,

132] Bởi ông quan niệm “giải phóng cho con người khỏi áp bức bóc lột là cả

một sự nghiệp vĩ đại Nhưng giải phóng cho con người thoát khỏi tăm tối; nghèo đói lạc hậu đâu có phải là một công cuộc kém lớn lao Vấn đề bây giờ

là cho người ta thấy cái khát và chỉ cho con người ta đi đến cái giếng? Và như vậy là sẽ phải xoá bỏ hoàn toàn các hình ảnh thảm thương, cái bóng ma đói khổ Sùng A Mang để nó thôi không còn hiện hình và khảm khắc vào tâm não mọi người như ở Hội nghị Mường Thông Sẽ không còn thấy cái thảm cảnh vợ chồng con cái ông bà lôi thôi lếch thếch bồng bế nhau đi trong cuộc thiên di vô định” [3, 132] Ông luôn luôn suy nghĩ xem làm thế nào để bà con

miền núi bớt khổ, để họ yên ổn làm ăn mà không phải đi di cư nữa Trong ban thường vụ của tỉnh thì mỗi người một phách không ai chịu nhường nhịn ai bao giờ, như khi đưa chiếc máy cày MTZ 50 mã lực lên cày năm ha ruộng để gieo lúa mì là một ví dụ Họ cũng thường tập trung ăn uống rồi bàn luận và những người trong ban thường vụ, theo đó mà suy ra thì cả một cấp chính quyền chỉ có mình ông Quyết Định đảm đương một cách tốt thôi Đó là những kế hoạch triển khai cho nhân dân trong bản trồng những loại cây phù hợp với đất đai, cho thu hoạch cao, như ở cao nguyên Bản San với việc trồng đậu tương để thay thế cho cây thuốc phiện đã được ngự trị ở đây hàng chục thế kỷ Và khi nỗi khát vọng vàng của ông, của toàn đảng bộ đã thành thì ông sung sướng đến nghẹt thở, bởi đó là sự thay đổi cho toàn bộ vùng rẻo cao hoang hoá này Một mình ông trực tiếp chỉ huy, lao tâm khổ tứ bao nhiêu năm

Trang 25

nay và bây giờ là thắng lợi sẽ giúp ích cho ông trong công cuộc xây dựng cuộc sống nơi đây Thế nhưng việc này chỉ một mình ông làm và những ông trong thường vụ không tham gia vì họ có kế hoạch riêng của mình: ông Văn Hiến thì chỉ chăm chăm với việc xới đất ở vùng Na ảng để gieo lúa mì, ông

Ké Lanh chỉ giỏi với việc bắt và nuôi ong, ông Đồng mải mê với việc bắt cóc nấu cháo ăn đêm… Còn những người trợ lý, người làm trong tỉnh uỷ đều có việc riêng của mình, mỗi người một kiểu Để xây dựng được một cuộc sống tốt đẹp không chỉ dựa vào một người mà phải có sự góp sức của tất cả mọi người, phải cùng chung hướng, chung mục đích, đồng lòng đồng sức mà làm Văn phòng tỉnh uỷ có như vậy, không? Mỗi người ở đây đều bảo vệ ý kiến của mình, dù đúng dù sai cũng vẫn vậy bởi ý kiến của mình bao giờ cũng là nhất Họ luôn tham gia vào việc nhận xét người khác mà ít nghĩ đến bản thân mình Mỗi người đều là một cá thể riêng nhưng phải biết về cái chung, phải

có ý thức trách nhiệm để hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc để không cô đơn giữa bao người Nhiều nhà văn đương đại viết về nỗi cô đơn của những người lính trong thời bình Đó là sự cô đơn lạc lõng của họ khi trở về với cuộc

sống đời thường Ông tướng một thời oanh liệt trong Tướng về hưu của

Nguyễn Huy Thiệp dù có một quá khứ xuất sắc đến đâu thì khi về tới hiện tại vẫn cô đơn Cô đơn, lạc lõng bởi không thể hoà vào với cuộc sống với thời

buổi hiện tại Trong Thời xa vắng của Lê Lựu, cảm thức cô đơn cũng luôn

thường trực trong mỗi nhân vật của tác phẩm Đó là nỗi cô đơn khi họ không còn chung lý tưởng và lý tưởng ấy không còn phù hợp với xã hội bấy giờ và

họ trở nên lạc lõng, cô đơn Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng là chiêm

nghiệm từ chính bản thân tác giả để cảm thông, chia sẻ Xuyên suốt tác phẩm

là hình tượng Một mình một ngựa hàm chứa cái “mặc cảm cô đơn của mỗi đời

người” mà nhân vật bí thư tỉnh uỷ Quyết Định và thầy giáo Toàn là những

nhân vật đại diện tiêu biểu Có một nhà văn đã viết: Cô đơn thực sự chỉ diễn

Trang 26

ra khi người ta có ý thức về chính mình Vì thế mà con người có thể cô đơn ngay cả khi nó không chạy trốn các mối quan hệ Cô đơn đưa cá nhân trở về

với chính bản thân mình Nhưng cô đơn không phải là “quay về với chính

mình để tự giam hãm trong một cái mình cá biệt, người ta không thể sống mãi trong nỗi cô đơn, người ta không thể không quan tâm đến người khác” Mặc

dù, luôn cô đơn nhưng ông Quyết Định vẫn thực hiện đúng vai trò của mình, ông quan tâm tới mọi khía cạnh đời sống của đồng bào miền núi, ông quan niệm muốn xây dựng cuộc sống mới thì trước hết dân phải ổn định và no đủ Ông bí thư tỉnh uỷ - một nhà chính trị cấp cao, nhưng vẫn luôn giải dị và có thể lặn lội đến tận những vùng núi cao, hoang sơ như Pha Linh để tìm hiểu và mong muốn mang lại sự tốt đẹp cho bà con dân bản để họ không còn lạc hậu, đói nghèo nữa Thời kỳ xây dựng cuộc sống này, một mình ông đảm nhiệm và ông vẫn luôn mang trong mình nhiệt huyết vượt qua mọi gian khổ để mang lại một cuộc sống tốt đẹp hơn Điều đó chẳng đáng trọng sao?

Cô đơn trong khi bảo vệ chân lí

Một mình một ngựa ngay nhan đề đã thể hiện một mặc cảm cô đơn Và

trong nội dung của tác phẩm cái cô đơn ấy lại ám ảnh vào từng nhân vật, đặc biệt ở đó là hình tượng ông Quyết Định - nhân vật trung tâm của tác phẩm Nhân vật này luôn cảm nhận được nỗi cô đơn, cô đơn ngay trong đám đông,

cô đơn cả khi ở cùng với những người đồng chí của mình Nỗi cô đơn ấy của ông được thể hiện qua cái nhìn của Toàn - một thư ký, với ông vừa có sự kích phục, vừa cảm thông sâu sắc Thử thách với một con người có một quá khứ oanh liệt, đầu tiên khi Toàn đến làm thư ký cho bí thư tỉnh uỷ là ở Hội nghị Mường Thông - Hội nghị tổng kết 10 năm nông nghiệp ở một tỉnh miền núi với hơn trăm đại biểu, các hợp tác xã, các xã tiêu biểu Hội nghị do Ban thường vụ tỉnh uỷ chỉ đạo trực tiếp Hội nghị Mường Thông diễn ra một cách căng thẳng, nhiều sự cố đã gây xôn xao dư luận Ban thường vụ tỉnh uỷ chỉ

Trang 27

đạo gồm năm người nhưng đến lúc quan trọng nhất thì không còn một ai, ngoài ông Quyết Định Tất cả các ông trong ban thường vụ đều lấy cớ để

“chuồn” đi hết, để lại một mình ông chống trả lại cả một khối đông đảo đại

biểu nhân dõn quần chúng đang đòi hỏi thay đổi thực tại Trước tình hình hội nghị đầy biến động ông Gia nhảy lên chiếc môtô jawa về làm việc với thiếu tướng Tư lệnh quân khu II Rồi ông Nông Văn Đình lấy cớ chuẩn bị đi họp hội nghị về công tác tổ chức ở Trung ương cũng về, cuối cùng ông Ké Lanh vin lý do phải đi dự một cuộc họp của ngành văn hoá tổ chức ở gần đó, vắng mặt Chỉ còn lại một mình ông Quyết Định ở nơi đầu sóng, ngọn gió Một mình ông bảo vệ chân lý của đường lối nguyên tắc của tổ chức và cũng là đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đời sống quần chúng Một quá khứ kiêu hùng khi

“một mình một ngựa” ông đi vào hang ổ của bọn thổ ty, chúa đất mà không

ngại ngùng nói gì đến run sợ, thì ở đây tại hội nghị này chỉ một mình ông đứng ra bảo vệ chân lý cũng thật cô độc và lẻ loi, nhưng cũng thật vững chãi

mà không gì có thể lay chuyển nổi Một mình ông bằng trí tuệ, kinh nghiệm của bản thân đã thuyết phục được tất cả hội nghị, những bức bối, căng thẳng giờ đã căn bản được giải toả Một cách tự nhiên ông nói để cho những người trong hội nghị hiểu được chính sách của Đảng và ông đã khẳng định hợp tác

hoá là phù hợp với thực tại bây giờ: “cần phải hiểu rằng hiện thời là lúc cả

nước đang dồn sức vào mục tiêu chiến lược là đánh thắng giặc Mỹ, giành độc lập thống nhất thì hợp tác hoá là con đường duy nhất đúng” [3, 45] Cùng với

những lý luận và sự khẳng định một tương lai tốt đẹp vào hợp tác xã, ông Quyết định đã gieo vào lòng mọi người, niềm tin vào công cuộc xây dựng cuộc sống khi làm trong hợp tác xã và làm cho họ bớt căng thẳng không còn xôn xao, hoang mang nữa Cả một tập thể ban thường vụ Tỉnh uỷ không còn một ai bên cạnh ông khi cần bảo vệ chân lý, bảo vệ đường lối của Đảng Một mình ông cô độc, lẻ loi giữa đám đông Hình ảnh ông cô độc trong Hội nghị

Trang 28

Mường Thông làm cho người đọc cảm nhận thấm thía nỗi cô đơn của một con người Điều kỳ lạ là ông cô đơn khi mà ở trong tập thể, bên cạnh những người đồng chí của mình Cảm giác cô đơn của nhân vật còn hiện hữu khi ông Quyết Định không thể làm được gì bênh vực cho ông Đồng - người bạn chí cốt của ông Đáng ra có công đầu trong việc dẹp loạn thì cuối cùng Đồng bị cách chức và Quyết Định cảm thấy chính mình là người có lỗi Ông luôn day dứt ân hận Việc của Nguyễn Chí Hưng, mặc dù Quyết Định không muốn kỷ luật nhưng chỉ một mình ông thì khó mà quyết định được, bởi Ban thường vụ

đã bị Văn Hiến làm cho thay đổi quan điểm, vì Văn Hiến có mối hận đối với ông Chí Hưng - người đã ngăn cản công việc đưa máy cày lên Na Ảng Mặc

dù ai cũng biết việc máy cày đưa lên đó là không thể Biết vậy nhưng một mình ông thì không thể bênh vực được, bởi ông Văn Hiến với những lập luận chặt chẽ của mình cứ khăng khăng đòi phải kỷ luật Từ hình ảnh “một mình một ngựa” đi vào chốn nguy hiểm đến hình ảnh cô độc mà vững chãi như tượng đài khi đứng trên diễn đàn ở Hội nghị tổng kết nông nghiệp ở Mường Thông đến việc day dứt ân hận trước việc kỷ luật ông Đồng, ông Hưng, cho ta thấy mặc cảm cô đơn luôn thường trực trong con người Quyết Định Một mình ông phải đương đầu với tất cả, ông cô độc giữa tập thể đồng chí của mình, cô độc trong khi bảo vệ chân lý, nỗi ám ảnh luôn bủa vây ông trong mọi lĩnh vực của cuộc sống

Cô đơn trong cuộc sống hiện tại - quá khứ

Cuộc sống hiện tại của một ông Bí thư Tỉnh uỷ thật bề bộn Là nhà chính trị có quyền lực cao nhất ở tỉnh miền núi này, Quyết Định bận rộn nhiều việc lớn Ông cần có một thư ký giỏi giúp ông lo liệu nhiều việc và ngay cả việc lặt vặt trong sinh hoạt hàng ngày, như thanh toán tem gạo, lĩnh lương, đóng đảng phí, công đoàn phí Cuộc sống thực tại bận rộn, khác xa với cái thời ông “một mình một ngựa” dấn thân vào nơi nguy hiểm hoàn thành nhiệm

Ngày đăng: 31/10/2015, 09:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Anh Chi (2007), Ma Văn Kháng và dòng chảy văn chương, Văn nghệ số 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ma Văn Kháng và dòng chảy văn chương
Tác giả: Anh Chi
Năm: 2007
2. Nguyễn Thị Huệ (1999), Đổi mới tư duy nghệ huật trong sáng tác của Ma Văn Kháng những năm 80, Tạp chí Văn học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tư duy nghệ huật trong sáng tác của Ma Văn Kháng những năm 80
Tác giả: Nguyễn Thị Huệ
Năm: 1999
3. Ma Văn Kháng (2009), Một mình một ngựa, Nxb Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một mình một ngựa
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2009
4. Ma Văn Kháng, Lào Cai miền đất vàng, Nguồn: www.baolaocai.vn 5. Phong Lê (2005), Trữ lượng Ma Văn Kháng, Báo Văn nghệ, (20) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lào Cai miền đất vàng
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: www.baolaocai.vn
6. Lã Nguyên (1999), Khi nhà văn đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn, Tạp chí Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khi nhà văn đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn
Tác giả: Lã Nguyên
Năm: 1999
7. Đỗ Hải Ninh (2009), Khuynh hướng tự truyện trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP Hà Nội 2 số 7/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuynh hướng tự truyện trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Tác giả: Đỗ Hải Ninh
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP Hà Nội
Năm: 2009
8. Nguyên Ngọc (2005), Một giai đoạn sôi động của văn xuôi thời kỳ đổi mới, Tạp chí Xưa và Nay, 1/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một giai đoạn sôi động của văn xuôi thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyên Ngọc
Năm: 2005
9. Nhiều tác giả (2006), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
10. Hoàng Phê (2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2006
11. Trần Đăng Suyền (2002), Nhà văn hiện thực đời sống và cá tính sáng tạo, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn hiện thực đời sống và cá tính sáng tạo
Tác giả: Trần Đăng Suyền
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
12. Nguyễn Minh Tấn (2007), Tiểu thuyết và thực tại hiện nay, Tạp chí nghiên cứu văn học số 10/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết và thực tại hiện nay
Tác giả: Nguyễn Minh Tấn
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w