1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu dạy học bài tập chương dòng điện không đổi lớp 11 THPT theo lý thuyết phát triển bài tập vật lý

101 604 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 13,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHĐỒNG THỊ KIM THUỶ NGHIÊN CỨU DẠY HỌC BÀI TẬP CHƯƠNG “ DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI”LỚP 11 THPT THEO LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN BÀI TẬP VẬT LÝ LUẬN VĂN THẠC SỸ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐỒNG THỊ KIM THUỶ

NGHIÊN CỨU DẠY HỌC BÀI TẬP CHƯƠNG “ DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI”LỚP 11 THPT THEO LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN BÀI TẬP VẬT LÝ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lý

Mã số: 60.14.01.11

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Phạm Thị Phú

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới :

PGS.TS Phạm Thị Phú, người đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôitrong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Ban giám hiệu, Phòng Sau đại học, quý thầy cô giáo khoa Vật lý TrườngĐại học Vinh

Ban Giám hiệu, thầy cô giáo tổ Vật Lí, trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai– TP.Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian tiến hành thựcnghiệm sư phạm

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình, quý bạn hữu

và đồng nghiệp đã hết lòng giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này

Vinh, tháng 8 năm 2013

Tác giả

Đồng Thị Kim Thuỷ

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang 4

MỞ ĐẦU ……… 1

1 Lý do chọn đề tài ……….…… 1

2 Mục đích nghiên cứu ……….…… 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… 2

4 Giả thuyết khoa học ……… 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu ……….… 3

6 Phương pháp nghiên cứu ……… 3

7 Đóng góp mới của luận văn ……….……… 3

8 Cấu trúc của luận văn ……… 3

Chương 1 DẠY HỌC BÀI TẬP THEO LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN BÀI TẬP VẬT LÝ NHẰM PHÁT HUY HIỆU QUẢ CÁC CHỨC NĂNG LÝ LUẬN DẠY HỌC CỦA BÀI TẬP………

5 1.1 Chức năng lý luận dạy học của BTVL ……… ………… 5

1.1.1 Khái niệm BTVL ……….……… 5

1.1.2 Chức năng của BTVL ……….………… 5

1.1.3 Phân loại BTVL ……….……… 7

1.1.4 Các cách hướng dẫn HS giải BTVL ……… 10

1.1.5 Các hình thức dạy học BTVL……….………… 12

1.2 Lý thuyết phát triển BTVL……… 15

1.2.1 Khái niệm phát triển BTVL ……… 15

1.2.2 Nội dung của lý thuyết phát triển BTVL……… 16

1.2.3 Tại sao trong dạy học BTVL cần vận dụng lý thuyết phát triển BTVL? 18 1.2.4 Quy trình dạy học một bài học BTVL theo lý thuyết phát triển DHVL 19

1.2.5 Quy trình thiết kế bài học BTVL theo lý thuyết phát triển DHVL…… 20

1.2.6 Cấu trúc bài học BTVL theo lý thuyết phát triển BTVL……… 21

1.2.7 Các hình thức dạy học BTVL theo lý thuyết phát triển BTVL… …… 22

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1……… 23

Chương 2 DẠY HỌC BÀI TẬP CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” THEO LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN BTVL………

25 2.1 Vị trí, đặc điểm của chương “Dòng điện không đổi”……… 25

2.1.1 Vị trí ……… 25

2.1.2 Đặc điểm của chương “Dòng điện không đổi” Vật lí 11 THPT……… 26

2.2 Mục tiêu theo chuẩn kiến thức, kỹ năng ……… 26

2.3 Nội dung dạy học chương “Dòng điện không đổi” ……… 28

2.3.1 Các đơn vị kiến thức cơ bản của chương “Dòng điện không đổi”…… 28

2.3.2 Cấu trúc lôgic chương “Dòng điện không đổi” chương trình chuẩn…… 29

2.4 Thực trạng dạy học BTVL chương “Dòng điện không đổi” ở các trường THPT hiện nay ………

30 2.5 Xây dựng hệ thống BTVL chương “Dòng điện không đổi” theo lý thuyết phát triển bài tập nhằm phát huy chức năng LLDH của BTVL… 33 2.5.1 Lựa chọn bài tập cơ bản ……… 33

Trang 5

2.6 Sử dụng hệ thống bài tập chương “Dòng điện không đổi” theo lý

thuyết phát triển BTVL ………

49 2.6.1 Bài học luyện tập giải bài tập ……… 50

2.6.2 Giáo án tổng kết chương: “Dòng điện không đổi” ……… 56

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM……… 65

3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm ……… 65

3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm ……… 65

3.3 Đối tượng thực nghiệm sư phạm ……… 65

3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm ……… 65

3.5 Nội dung thực nghiệm sư phạm ……… 66

3.5.1 Lựa chọn lớp đối chứng và lớp thực nghiệm ……… 66

3.5.2 Tiến hành thực nghiệm ……… 66

3.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm ……… 67

3.6.1 Về phương pháp dạy và học ……… 67

3.6.2 Về kết quả kiểm tra đánh giá hai bài sau thực nghiệm sư phạm ……… 67

3.7 Phân tích kết quả thực nghiệm ……… 70

KẾT LUẬN ……… 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 74

CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong dạy học vật lí, bài tập là một phương tiện, phương pháp có hiệu quảthực hiện các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục, phát triển tư duy và nhiệm vụ giáodục kỹ thuật tổng hợp Chính vì vậy trong thực tế, nhiều lúc, nhiều nơi đã tuyệt đốihóa bài tập vật lí, coi DHVL có nhiệm vụ chính là dạy HS giải BTVL (đặc biệt làcác lớp luyện thi tốt nghiệp, tuyển sinh Đại học, bồi dưỡng học sinh giỏi…); Tronghiệu sách, ngoài bộ sách giáo khoa (2 quyển) thì đa số là sách bài tập các loại, cókhi cùng một nội dung vật lí có đến hàng chục cuốn sách bài tập của nhiều tác giả;phụ huynh và HS hoang mang trước thực trạng quá nhiều các bài tập, làm thế nào

để có thể học hết được các bài tập trong khi thời gian thì rất hạn hẹp Thực tế nàyđặt ra cho GV vật lí một câu hỏi: Dạy bài tập như thế nào để phát huy được cácchức năng LLDH, chức năng nhận thức luận của BTVL? Nếu như bài học xâydựng kiến thức mới các mục tiêu, nội dung đã được nêu tường minh trong SGV, thìbài học bài tập vật lí hoàn toàn do GV xác định từ mục tiêu, nội dung đến phươngpháp, phương tiện

Trang 8

Thực tế cho thấy, nhiều giáo viên rất lúng túng không biết nên dạy BTVL nhưthế nào để đạt được hiệu quả cao nhất Cho nên trong các đợt thao giảng, dự giờ,tiết dạy bài tập ít được giáo viên lựa chọn Trong tiết dạy bài tập, thông thường giáoviên chỉ bám sát phân phối chương trình và bài tập sách giáo khoa để ra bài tập chohọc sinh, hướng dẫn học sinh giải bài tập đó sao cho ra kết quả rồi chuyển sang bàitập khác Chính vì vậy mà học sinh học một cách thụ động, không phát huy đượctính sáng tạo trong giải bài tập vật lí và khi áp dụng cũng không linh hoạt, nhất là tacho bài tập khác dạng thì học sinh lúng túng không giải quyết được Bên cạnh đó đa

số học sinh hiện nay cũng còn thụ động trong việc học tập của mình, các em chỉ họcxoay quanh những gì mà giáo viên đã cung cấp chứ ít chủ động tìm tòi học tập điềumới ngoài thông tin từ người thầy Trong quá trình dạy BTVL đòi hỏi người giáoviên phải chọn các bài tập từ đơn giản đến phức tạp, các bài tập phải liên hệ vớinhau một cách có hệ thống làm thế nào để thông qua việc giải một số bài tập cơbản, trang bị cho các em phương pháp giải để các em giải được nhiều dạng bài tậpkhác Qua đó, học sinh nắm được kiến thức vững vàng, sâu sắc, chủ động, màkhông mất nhiều thời gian, phát huy mạnh tính sáng tạo của học sinh

Để giải quyết vấn đề trên, tôi nhận thấy có một lý thuyết đã được xây dựngbởi các nhà nghiên cứu về LLDHVL đó là “Lý thuyết phát triển bài tập vật lí”, tinhthần cơ bản của lý thuyết này là từ một bài tập cơ bản phát triển thành các bài tậptổng hợp khác nhau theo nhiều phương án khác nhau nhằm huy động các kiến thức

cơ bản khác trong việc giải bài tập; GV xây dựng BT và dạy cho HS cũng xây dựngBT; phân tích bài tập tổng hợp thành các bài tập cơ bản; kết quả HS vừa củng cốkiến thức lý thuyết, vừa biết phương pháp giải BT và đặc biệt HS còn biết tự đặt bàitập để giải theo yêu cầu của GV; biến HS từ chỗ thụ động giải BT do GV yêu cầuthành chủ động đặt BT để giải; đó là một cách cụ thể thực hiện chiến lược dạy họctập trung vào người học

Chương “Dòng điện không đổi” là chương rất quan trọng trong chương trìnhVật lí 11 THPT Lượng bài tập ở chương này rất nhiều và khó, nhiều học sinh cảmthấy rất khó khăn không biết giải quyết bài tập như thế nào

Với những lí do trên tôi chọn đề tài: Nghiên cứu dạy học bài tập chương

“Dòng điện không đổi” lớp 11 THPT theo lý thuyết phát triển bài tập Vật lí.

Trang 9

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng hệ thống bài tập chương “Dòng điện không đổi” lớp 11 THPT và

đề xuất các phương án dạy học bài tập vật lí theo lý thuyết phát triển bài tập nhằmphát huy các chức năng lý luận dạy học của bài tập vật lý

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

- Bài tập vật lí, lý thuyết phát triển bài tập vật lí

- Quá trình dạy học vật lí

Phạm vi nghiên cứu

Chương “ Dòng điện không đổi” lớp 11 THPT.

4 Giả thuyết khoa học

Có thể xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập chương “Dòng điện không đổi”theo lý thuyết phát triển BTVL trong dạy học nhằm phát huy hiệu quả các chứcnăng LLDH của bài tập, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu LLDH bài tập vật lí ở trường phổ thông

- Nghiên cứu, tìm hiểu lý thuyết phát triển bài tập vật lí

- Tìm hiểu thực trạng dạy học bài tập vật lí ở một số trường THPT thuộcquận 3 thành phố Hồ Chí Minh

- Tìm hiểu mục tiêu dạy học chương “Dòng điện không đổi” lớp 11 THPT,

nội dung dạy học chương - cơ sở Vật lí cho việc xây dựng hệ thống bài tập vật lítheo lý thuyết phát triển bài tập chương “Dòng điện không đổi”

- Xây dựng hệ thống bài tập chương “Dòng điện không đổi” theo lý thuyếtphát triển BTVL

- Đề xuất các phương án dạy học sử dụng hệ thống BTVL theo lý thuyết pháttriển bài tập đã xây dựng, nhằm phát huy hiệu quả các chức năng LLDH của BTVL

- Thực nghiệm sư phạm các phương án dạy học đã thiết kế

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

Trang 10

- Phương pháp thống kê toán học.

- Phương pháp quan sát, điều tra qua test

7 Đóng góp mới của luận văn

-Xây dựng được hệ thống gồm 4 BTCB, 31 bài tập điển hình minh hoạ dùng

cho dạy học chương “Dòng điện không đổi” lớp 11 THPT theo lý thuyết phát triển

bài tập Vật lí

-Xây dựng 5 tiến trình dạy học gồm: một bài học luyện tập giải BTVL; mộtbài học tổng kết chương; một bài học kiểm tra đánh giá; một bài học giải BTVL ởnhà của HS; 1 bài học tự chọn học sinh khá giỏi theo lý thuyết phát triển BT pháthuy chức năng LLDH của BTVL

8 Cấu trúc luận văn

Mở đầu (4 trang)

Nội dung chính: gồm 3 chương

Chương 1 Dạy học bài tập theo lí thuyết phát triển bài tập vật lí nhằm phát huy hiệuquả các chức năng lí luận dạy học của bài tập trong DHVL (20 trang)

Chương 2 Dạy học bài tập chương “Dòng điện không đổi” theo lý thuyết phát triểnBTVL (40 trang)

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm (8 trang)

Tài liệu tham khảo (1 trang)

Phụ lục (18 trang)

Trang 11

Chương 1 DẠY HỌC BÀI TẬP THEO LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN BÀI TẬP VẬT LÍ NHẰM PHÁT HUY HIỆU QUẢ CÁC CHỨC NĂNG

LÝ LUẬN DẠY HỌC CỦA BÀI TẬP

1.1 Chức năng lý luận dạy học của BTVL

1.1.1 Khái niệm bài tập vật lí

“Bài tập vật lí được hiểu là vấn đề được đặt ra đòi hỏi phải giải quyết nhữngsuy luận lôgic, những phép toán và những thí nghiệm dựa trên cơ sở các định luậtcác phương pháp vật lí Hiểu theo nghĩa rộng thì mọi vấn đề xuất hiện do nghiêncứu tài liệu giáo khoa cũng chính là một bài tập đối với học sinh Sự định hướng tưduy một cách tích cực là việc giải BTVL” [9 ; 43]

lí Đề tài này đề cập đến BTVL với sự kết hợp cả hai cách hiểu trên

- Xét theo lí luận dạy học thì BTVL có những chức năng sau:[4]

+ Củng cố trình độ tri thức và kĩ năng xuất phát cho HS:

Để thực hiện chức năng này thì BTVL là một phương tiện rất có hiệu quả.Bằng cách giao cho HS giải những bài tập có nội dung và phương pháp gắn với nộidung và phương pháp của vấn đề sắp được nghiên cứu, GV có thể giúp HS nhớ lại,củng cố kiến thức đã học một cách vững chắc Do đó họ sẽ vững vàng hơn khi bướcvào tiếp thu bài mới Hơn nữa, khi thấy được sự liên quan lôgic giữa tri thức và kỹnăng cũ với vấn đề mới, HS càng hứng thú hơn với việc tham gia xây dựng bài mới.Bởi vì một mặt họ thấy tính hữu ích của tri thức đã học, mặt khác họ vững tin hơnvào khả năng của mình

+ Đặt vấn đề nhận thức:

Trang 12

Nhiều loại bài tập thực hiện chức năng này rất tốt như bài tập nghịch lý, bàitập thí nghiệm, bài tập - câu hỏi thực tế,… trước khi vào bài học, nghiên cứu mộtvấn đề mới, GV có thể đặt ra cho HS các bài tập có dạng trên và liên quan đến hiệntượng, quá trình vật lí sắp được nghiên cứu, vừa tạo cho các em cảm giác hưngphấn, kích thích tính tò mò, ham học, vừa định hướng cho các em cái đích mà các

em cần đạt được sau khi nghiên cứu vấn đề đó Khi đã định hướng được thì sự quansát, chú ý có chủ định sẽ được nâng cao mà không bị “loãng”, khắc phục được tìnhtrạng GV giảng bài, HS không biết thầy cô đang làm gì? Tại sao lại làm như thế?Bài học này có mục đích gì?

+ Hình thành tri thức, kỹ năng mới cho HS:

Một số bài tập thực hiện được chức năng này nhưng không phải nhiều Cólúc trong dạy học một số đề tài mà việc hình thành tri thức mới thực chất là hệthống hóa nhiều vấn đề riêng lẻ đã học để khái quát hóa quy nạp mà có (Ví dụ nhưbài “Định luật bảo toàn cơ năng” vật lí lớp 10 THPT) Kết quả của những bài tậploại này sẽ được khái quát hóa lại thành định luật, hệ quả, tri thức mới cho HS.Cũng có trường hợp ngược lại, có những đề tài, bài học mà nội dung của nó chính là

sự diễn dịch: vận dụng trường hợp tổng quát cho từng trường hợp cụ thể (Ví dụ: khidạy kiến thức “Động cơ phản lực” vật lí lớp 10 THPT)

+ Ôn luyện, củng cố kiến thức, kỹ năng cho HS:

Đây là lĩnh vực mà BTVL phát huy tác dụng tốt nhất Bởi vì BTVL làphương tiện để GV giao cho HS những nhiệm vụ gắn liền với việc củng cố cácđường mòn liên hệ tạm thời của thần kinh trung ương về tri thức và kỹ năng vừahọc ở lớp, để họ tập dượt việc tìm kiếm các mối liên hệ giữa kiến thức đã học vàvận dụng chúng vào các tình huống: từ quen biết, quen biết có biến đổi đến tìnhhuống mới lạ

Qua việc làm bài tập, không những rèn luyện cho HS năng lực ghi nhớ, củng

cố tri thức, kỹ năng đã học mà còn bắt buộc họ phải có những hoạt động sáng tạo,như tìm ra mối liên hệ, những kỹ năng mà trong dạy học vật lí họ chưa có điều kiệnthực hành, thử nghiệm,…

+ Tổng kết, hệ thống hóa kiến thức của từng chương, từng phần và cảchương trình bộ môn

Trang 13

Các bài học có nhiệm vụ củng cố tri thức lý thuyết đơn thuần, nhưng BTVLvẫn có thể được sử dụng rất có hiệu quả trong nhiều trường hợp: Thứ nhất, GV rabài tập theo một chuỗi liên kết với nhau Để giải được loại bài tập đó, HS sẽ phảilần lượt sử dụng đến tất cả các tri thức đã học của chương hoặc phần tri thức lýthuyết định tổng kết và hệ thống hóa Thứ hai, qua từng phần nhỏ tri thức đã tổngkết, GV đưa ra những bài tập điển hình mà phải nhờ vào những tri thức ấy mới giảiquyết được Làm như vậy vừa đỡ nhàm chán vừa giúp các em ghi nhớ được lâuhơn, hiểu rõ bản chất vật lí hơn là việc bắt HS nhắc đi nhắc lại lý thuyết.

+ Kiểm tra, đánh giá chất lượng tri thức, kỹ năng của HS:

BTVL giúp GV kiểm tra được trình độ lĩnh hội tri thức của HS, kỹ năng thựchành, kỹ năng tính toán, kỹ năng vận dụng lý thuyết để giải quyết những tình huống

cụ thể của thực tiễn Ngoài ra khi dùng BTVL dưới dạng tự luận nó còn giúp GVkiểm tra và đánh giá được năng lực tư duy và kỹ năng sử dụng ngôn ngữ của HS

- Xét theo chức năng thực hiện nhiệm vụ bộ môn:

+ Giáo dưỡng: BTVL là một phương tiện không thể thiếu Bởi vì BTVL giúp

HS khắc sâu nội dung kiến thức, giúp họ đào sâu và xây dựng các mối liên hệ giữacác bộ phận kiến thức với nhau Nhờ đó mà kiến thức trở nên sống động, có ý nghĩatrong việc giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra

+ Phát triển: BTVL là phương tiện giúp HS phát triển năng lực nhận thức.Thông qua việc giải BTVL, HS có được khả năng hình thành và phát triển các thaotác tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp và khái quát hóa, biết lập kế hoạch giảiquyết một vấn đề, kể cả những vấn đề có tính kỹ thuật, sáng tạo Điều này đượcthực hiện khi HS quen với bài tập thí nghiệm, các bài tập gắn với giải quyết các vấn

đề thực tiễn sản xuất và đời sống Nhờ đó mà BTVL góp phần đào tạo HS thànhnhững người biết nhận thức thực tiễn và cải tạo thực tiễn

+ Giáo dục tư tưởng, đạo đức và nhân cách cho HS:

BTVL cũng là phương tiện giúp HS rèn luyện được những phẩm chất tâm lýquan trọng như sự kiên trì, nhẫn nại, có tính kế hoạch trong hoạt động nhận thức,rèn luyện tính tự lực, tự giác trong hoạt động học tập

+ Giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp:

Trang 14

Nhiều BTVL có nội dung kỹ thuật, nhiều bài gắn với thực tế và nhiều bài tậpthí nghiệm có tác dụng giúp cho HS củng cố được những kỹ năng thực hành, nhữnghiểu biết cần thiết theo nội dung của giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp.

1.1.3 Phân loại BTVL [9 ; 44]

Có nhiều cách phân loại bài tập vật lí Nếu dựa vào các phương tiện giải có thểchia bài tập thành bài tập định tính, bài tập tính toán, bài tập thí nghiệm, bài tập đồthị Nếu dựa vào mức độ khó khăn của bài tập đối với học sinh, có thể chia bài tậpvật lí thành bài tập tập dượt, bài tập tổng hợp, bài tập sáng tạo

1.1.3.1 Bài tập định tính

- “Bài tập định tính là những bài tập mà khi giải, HS không cần phải thực

hiện các phép tính phức tạp hay chỉ phải làm các phép tính đơn giản, có thể tínhnhẩm được Muốn giải những bài tập định tính, HS phải thực hiện những phép suyluận lôgic, do đó phải hiểu rõ bản chất (Nội hàm) của các khái niệm, định luật vật lí

và nhận biết về những biểu hiện của chúng trong các trường hợp cụ thể Đa số cácbài tập định tính yêu cầu HS giải thích hoặc dự đoán một hiện tượng xảy ra trongnhững điều kiện xác định” [9 ; 45]

- Bài tập định tính có rất nhiều ưu điểm về phương pháp học Nhờ đưa được

lý thuyết vừa học lại gần với đời sống xung quanh, các bài tập này làm tăng thêm ở

HS hứng thú với môn học, tạo điều kiện phát triển khả năng quan sát của HS Vìphương pháp giải bài tập này bao gồm việc xây dựng những suy lý lôgic dựa trêncác định luật vật lí nên chúng là phương tiện rất tốt để phát triển tư duy của HS.Việc giải bài tập đó rèn luyện cho HS hiểu rõ được bản chất của các hiện tượng vật

lí và những quy luật của chúng, dạy cho HS biết áp dụng kiến thức vào thực tiễn.Việc giải các bài tập định tính này rèn luyện cho HS chú ý đến việc phân tích nộidung vật lí của các bài tập tính toán

- Do tác dụng về nhiều mặt như trên nên bài tập định tính được ưu tiên hàngđầu sau khi học xong lý thuyết và trong khi luyện tập, ôn tập về vật lí

- Bài tập định tính có thể là bài tập đơn giản, trong đó chỉ áp dụng một địnhluật, một quy tắc, một phép suy luận lôgic

1.1.3.2 Bài tập tính toán

Trang 15

- “Bài tập tính toán là những bài tập mà muốn giải chúng, ta phải thực hiệnmột loạt phép tính và kết quả là thu được một đáp số định lượng, tìm giá trị một sốđại lượng vật lí Có thể chia bài tập tính toán ra làm hai loại: bài tập tập dượt và bàitập tổng hợp” [9; 46]

Trang 16

- Bài tập tính toán tập dượt là những bài tập cơ bản, đơn giản, trong đó chỉ đềcập đến một hiện tượng, một định luật và sử dụng một vài phép tính đơn giản.Những bài tập này có tác dụng củng cố kiến thức cơ bản vừa học, làm cho HS hiểu

rõ ý nghĩa định luật và các công thức biểu diễn chúng, sử dụng các đơn vị vật lí vàthói quen cần thiết để giải những bài tập phức tạp hơn

- Bài tập tính toán tổng hợp là bài tập mà muốn giải nó thì phải vận dụngnhiều khái niệm, định luật, dùng nhiều công thức Những kiến thức cần sử dụngtrong việc giải bài tập tổng hợp có thể là những kiến thức đã học trong nhiều bàitrước Loại bài tập này có tác dụng đặc biệt giúp HS đào sâu, mở rộng kiến thức,thấy rõ những mối liên hệ khác nhau giữa các phần của chương trình vật lí, tập cho

HS biết phân tích những hiện tượng thực tế phức tạp ra thành những phần đơn giảntuân theo một định luật xác định

1.1.3.3 Bài tập thí nghiệm

- “Bài tập thí nghiệm là bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để kiểm chứng

lời giải giả thuyết hoặc tìm những số liệu cần thiết cho việc giải bài tập Những thínghiệm này thường là những thí nghiệm đơn giản, có thể làm ở nhà, với nhữngdụng cụ đơn giản dễ tìm hoặc tự làm được Để giải các bài tập thí nghiệm, đôi khicũng cần đến những thí nghiệm đơn giản Bài tập thí nhiệm cũng có thể có dạngđịnh tính hoặc định lượng” [9 ; 46]

- Bài tập thí nghiệm có nhiều tác dụng tốt về cả ba mặt giáo dưỡng, giáo dục

và giáo dục kỹ thuật tổng hợp, đặc biệt giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa lý thuyết

và thực tiễn

- Cần chú ý rằng: trong các bài tập thí nghiệm thì thí nghiệm chỉ cho các sốliệu để giải bài tập, chứ không cho biết tại sao hiện tượng xảy ra như thế Cho nênphần vận dụng các định luật vật lí để lý giải các hiện tượng mới là nội dung chínhcủa bài tập thí nghiệm

1.1.3.4 Bài tập đồ thị [9 ; 47]

- “Bài tập đồ thị là bài tập trong đó các số liệu được dùng làm dữ kiện để giảiphải tìm trong các đồ thị cho trước hoặc ngược lại, đòi hỏi HS phải biểu diễn quátrình diễn biến của hiện tượng nêu trong bài tập bằng đồ thị”

Trang 17

- Ta đã biết: Đồ thị là một hình thức để biểu đạt mối quan hệ giữa hai đạilượng vật lí, tương đương với cách biểu đạt bằng lời hay công thức Nhiều khi nhờ

vẽ được chính xác đồ thị biểu diễn các số liệu thực nghiệm mà ta có thể tìm đượcđịnh luật vật lí mới Bởi vậy, các bài tập luyện tập sử dụng đồ thị có vị trí ngày càngquan trọng trong dạy học vật lí

1.1.4 Các cách hướng dẫn HS giải BTVL [9 ; 36]

1.1.4.1 Hướng dẫn giải theo mẫu (hướng dẫn Algorit) [9 ; 36]

- Sự hướng dẫn hành động theo mẫu thường được gọi là hướng dẫn algorit

Ở đây hướng dẫn algorit được dùng với ý nghĩa là một quy tắc hành động hay mộtchương trình hành động được xác định một cách rõ ràng, chính xác và chặt chẽ, chỉcần thực hiện theo trình tự mà quy tắc đã chỉ ra thì chắc chắn sẽ đến kết quả

- Hướng dẫn Algôrit là hướng dẫn chỉ rõ cho học sinh hành động cụ thể cầnthực hiện và trình tự thực hiện các hành động đó để đạt kết quả mong muốn Nhữnghành động này được coi là hành động sơ cấp phải được học sinh hiểu một cách đơngiản và học sinh là nắm vững

- Kiểu hướng dẫn algorit không đòi hỏi học sinh tự mình tìm tòi xác định cáchành động cần thực hiện để giải quyết vấn đề đặt ra mà chỉ đòi hỏi học sinh chấphành các hành động mà giáo viên chỉ ra, cứ theo đó học sinh sẽ giải được các bàitập đã cho Kiểu hướng dẫn này đòi hỏi giáo viên phải phân tích một cách khoa họcviệc giải bài toán để xác định một trình tự chính xác, chặt chẽ của các hành độngcần thực hiện để giải các bài toán Cần đảm bảo cho các hành động đó là hành động

sơ cấp đối với học sinh, nghĩa là kiểu hướng dẫn này đòi hỏi phải xây dựng đượcalgorit bài toán

- Kiểu hướng dẫn algorit thường được áp dụng khi cần dạy cho học sinhphương pháp giải một bài tập điển hình nào đó, nhằm luyện tập cho học sinh kỹnăng giải một bài toán xác định Người ta xây dựng các algorit giải cho từng loạibài toán cơ bản, điển hình và luyện tập cho học sinh kỹ năng giải các bài toán đódựa trên việc làm cho học sinh được các algorit giải

Trang 18

- Kiểu hướng dẫn algorit có ưu điểm là bảo đảm cho học sinh giải bài toán

đã cho một cách chắc chắn, nó giúp cho việc rèn luyện kỹ năng giải bài toán củahọc sinh có hiệu quả Tuy nhiên, nếu chỉ hướng dẫn học sinh luôn luôn áp dụngkiểu algorit để giải bài toán thì học sinh chỉ quen chấp hành những hành động đãđược chỉ dẫn theo mẫu đã có sẵn, do vậy ít có tác dụng rèn luyện cho học sinh khảnăng tìm tòi, sáng tạo và sự phát triển tư duy bị hạn chế

1.1.4.2 Hướng dẫn tìm tòi (ơrixtic) [9; 37]

- Hướng dẫn tìm tòi là kiểu hướng dẫn mang tính chất gợi ý cho học sinh suynghĩ, tìm tòi, phát hiện cách giải quyết vấn đề Ở đây không phải là giáo viên chỉdẫn cho học sinh chấp hành các hành động theo hướng đã có để đi đến kết quả, màgiáo viên gợi mở để học sinh tự tìm cách giải quyết, tự xác định các hành động cầnthực hiện để đạt kết quả

- Kiểu hướng dẫn tìm tòi được áp dụng khi cần giúp đỡ học sinh vượt quakhó khăn để giải quyết được bài toán, đồng thời vẫn đảm bảo được yêu cầu pháttriển tư duy cho học sinh, tạo điều kiện để học sinh tự lực tìm tòi cách giải quyết

- Ưu điểm của kiểu hướng dẫn này là tránh được tính trạng giáo viên làmthay cho học sinh trong việc giải bài tập Nhưng vì kiểu hướng dẫn này đòi hỏi họcsinh phải tự lực tìm cách giải quyết chứ không chỉ chấp hành theo mẫu nhất định đãđược chỉ ra nên không phải bao giờ cũng bảo đảm cho học sinh giải được bài toánmột cách chắc chắn Khó khăn của kiểu hướng dẫn này chính là ở chỗ hướng dẫncủa giáo viên phải làm sao không đưa học sinh đến chỗ thừa Sự hướng dẫn như vậynhằm giúp học sinh trong việc định hướng suy nghĩ vào phạm vi cần tìm tòi, chứkhông thể ghi nhận tái tạo cái có sẵn

1.1.4.3 Định hướng khái quát chương trình hóa [9 ; 37]

Trang 19

- Định hướng khái quát chương trình hoá cũng là sự hướng dẫn cho học sinh

tự tìm tòi cách giải quyết vấn đề Nét đặc trưng của kiểu hướng dẫn này là giáo viênhướng dẫn hoạt động tư duy của học sinh theo đường lối khái quát của việc giảiquyết vấn đề Sự định hướng ban đầu đòi hỏi sự tự lực tìm tòi giải quyết vấn đề củahọc sinh Nếu học sinh không đáp ứng được thì giúp đỡ tiếp theo của giáo viên là sựđịnh hướng khái quát ban đầu, cụ thể hoá thêm một bước bằng cách gợi ý thêm chohọc sinh để thu hẹp phạm vi tìm tòi, giải quyết cho vừa sức với học sinh Nếu họcsinh vẫn không đủ khả năng tự lực tìm tòi giải quyết thì sự hướng dẫn của giáo viêntrở thành hướng dẫn theo mẫu để đảm bảo cho học sinh hoàn thành được yêu cầumột bước, sau đó yêu cầu học sinh tự lực tìm tòi giải quyết bước tiếp theo Nếu cầngiáo viên giúp đỡ thêm cho đến khi giải quyết xong vấn đề đặt ra Kiểu hướng dẫnnày được áp dụng khi có điều kiện hướng dẫn tiến trình hoạt động giải bài toán củahọc sinh, nhằm giúp học sinh tự giải được bài toán đã cho, đồng thời dạy cho họcsinh cách suy nghĩ trong quá trình giải bài toán

- Kiểu hướng dẫn này có ưu điểm kết hợp được việc thực hiện các yêu cầu:

+ Rèn luyện tư duy của học sinh trong quá trình giải toán

+ Đảm bảo để học sinh giải được bài toán đã cho

- Để làm tốt thì yêu cầu giáo viên phải theo sát tiến trình hoạt động giải toán

và có sự điều chỉnh thích hợp với từng đối tượng học sinh

1.1.5 Các hình thức dạy học bài tập vật lí

1.1.5.1 Dạy học bài tập vật lí trong tiết học tài liệu mới

Vào đầu tiết học, các bài tập được đưa ra cho học sinh nhằm mục đích kiểm trakiến thức, hoặc để củng cố tài liệu đã học Giáo viên thường sử dụng các biện phápsau:

- Cho học sinh lên bảng và yêu cầu học sinh giải bài tập do giáo viên đưa ra Tuỳthuộc vào mức độ nội dung của bài tập mà có thể cho học sinh lên bảng lần lượt từng

em hoặc đồng thời vài ba em

- Cho học sinh giải bài tập mà giáo viên đưa ra vào giấy nháp, sau đó trình bày

Trang 20

- Sử dụng các bài tập nhằm mục đích khái quát hóa kiến thức đã cho, nêu đượcvấn đề sắp được nghiên cứu trong tiết học Khi nghiên cứu tài liệu mới, tuỳ theo nộidung của tài liệu và phương pháp giảng dạy, các bài tập có thể là một phương tiệnđóng vai trò minh hoạ cho kiến thức mới hoặc là một phương tiện để rút ra kiến thứcmới Ở giai đoạn củng cố tài liệu mới, các bài tập được được đưa ra yêu cầu học sinhphải vận dụng kiến thức mới để giải quyết với thời lượng khoảng 10 phút Ở đây, tốthơn cả là giáo viên phân tích bài tập tạo cho được không khí hứng khởi đối với họcsinh để giải quyết vấn đề bài tập đặt ra

1.1.5.2 Dạy học bài tập trong tiết thực hành giải bài tập vật lí

Cấu trúc tiết học giải bài tập trong tiết thực hành giải bài tập vật lí được bố trínhư sau:

1 HS giải bài tập trắc nghiệm khách quan (10 phút) để học sinh tập dượt kiếnthức lí thuyết, giáo viên phải giúp học sinh nhớ lại, hệ thống lại các kiến thức líthuyết đã được học trước đó liên quan đến tiết học

2 Học sinh giải bài tập cơ bản (10 phút) để học sinh rèn luyện kĩ năng giảiBTCB Giáo viên tường minh đề bài qua sơ đồ, hướng dẫn học sinh tự làm bài tậptrên bảng vào vở

3 Giải bài tập tổng hợp (20 phút)

Giáo viên đưa ra bài tập mẫu, hướng dẫn cách giải để các em có phươngpháp giải Sau đó học sinh giải bài tập tương tự Khi trình bày phương pháp giảinhững bài tập loại mới, giáo viên phải giải thích cho học sinh nguyên tắc giải, sau đóphân tích một bài tập mẫu làm cho học sinh hiểu rõ lôgic giải để từ đó vận dụng vàolàm bài thực hành

Có thể vận dụng các biện pháp như:

- Nêu ý nghĩa, mục đích của việc giải bài tập làm cho học sinh thấy được tầmquan trọng của việc luyện tập

- Tổ chức đàm thoại giữa giáo viên và học sinh, hoặc giữa các học sinh với nhau

về nội dung bài tập để đưa ra một giả thuyết hoặc một vài giả định có thể mâu thuẫnnhau làm cho học sinh xem xét, nghiên cứu hiện tượng từ nhiều góc độ khác nhau,chống thói quen suy nghĩ rập khuôn, máy móc

- Sử dụng các bài tập vui, các bài tập nghịch lí và ngụy biện

Trang 21

- Sử dụng các tài liệu trực quan (tranh ảnh, mô hình, các video clip…) và các thínghiệm vật lí.

- Kết hợp làm việc tập thể và cá nhân một cách có hiệu quả

Trước khi giải một bài tập nào đó phải hướng dẫn cho học sinh dự kiến các cáchgiải theo khả năng tư duy của các em và để cho các em suy nghĩ vài phút Trong quátrình giải bài tập, giáo viên phải luôn lưu ý tới những học sinh còn yếu, nhắc nhở,động viên, khích lệ và đặt ra những câu hỏi nhằm giúp các em gỡ bỏ được nhữngkhúc mắc mà do tâm lí e ngại không dám thể hiện ra

4 Tổng kết ra bài tập về nhà (5 phút)

1.1.5.3 Dạy học bài tập trong tiết ôn tập tổng kết hệ thống hoá kiến thức

Trong tiết ôn tập, loại bài tập thường sử dụng là các bài tập có tính phát triển,cho phép khái quát hoá nội dung các bài tập tạo điều kiện đi sâu vào giải thích cáchiện tượng vật lí Đặc biệt là các bài tập có tính chất tổng hợp giúp học sinh liên hệrộng tới các đơn vị kiến thức đã học, khắc sâu thêm kiến thức, hệ thống hoá các kháiniệm, các định luật, các công thức cần nắm để vận dụng chúng

Cấu trúc của tiết học theo qui trình:

1 HS giải bài tập trắc nghiệm khách quan (10 phút)

2 Học sinh giải bài tập cơ bản (10 phút)

3 Giải bài tập tổng hợp (20 phút)

4 Tổng kết ra bài tập về nhà (5 phút)

1.1.5.4 Bài tập trong kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng của học sinh

Bài tập kiểm tra là một phương tiện để đánh giá mức độ nắm vững kiến thức, khảnăng vận dụng kiến thức của học sinh Khi giải bài tập, học sinh phải làm việc hoàntoàn độc lập Tuỳ theo việc đánh giá mà giáo viên có thể vận dụng một trong haihình thức sau đây:

Trang 22

- Kiểm tra nhanh: Hình thức này thường dùng để tìm hiểu trình độ, khả năng xuấtphát của học sinh để làm cơ sở cho việc nghiên cứu, chọn lựa nội dung cũng nhưphương pháp giảng dạy cho phù hợp, sát đúng với đối tượng học sinh Hoặc cũngnhằm để đánh giá khả năng nhận thức của học sinh về một khía cạnh của một đề tàinào đó Các bài tập được chọn là những bài để học sinh làm trong thời gian ngắn (từ

10 - 15 phút) Ở đây nên lựa chọn các câu hỏi và các bài tập có nhiều đáp án, buộchọc sinh phải tư duy nhiều hơn để phân tích chọn lựa được phương án đúng (câu hỏi

có nhiều lựa chọn)

- Kiểm tra tổng kết: Hình thức này cho phép giáo viên đánh giá nhận thức củahọc sinh không phải chỉ một vài khía cạnh mà là cả một đề tài nào đó, hoặc cả mộtphần bài nào đó của tài liệu Các bài tập được chọn là những bài kiểm tra tổng kếtphức tạp hơn, đòi hỏi học sinh phải hiểu và vận dụng kiến thức ở phạm vi rộng,hoặc phải phân tích bài tập để nhận ra được những đặc điểm tinh tế ở trong bài.Tuy nhiên, để có tác dụng tốt hơn các bài tập kiểm tra tổng kết phải chọn lựa saocho vừa sức với học sinh Loại bài tập được sử dụng phải là bài tập tổng hợp và bàitập sáng tạo

1.1.5.5 Bài tập để phát hiện học sinh năng khiếu về vật lí

Hình thức này nhằm mục đích đích để phát hiện và tuyển chọn được những họcsinh khá giỏi về vật lí Các bài tập lựa chọn cho mục đích này phải là những bài tậpkhó đòi hỏi tư duy mức độ cao, buộc học sinh phải đề xuất ra được phương án giảihay hoặc có nhiều phương án trả lời và phải thực hiện các phương án đó

1.1.5.6 Dạy học bài tập trong bài học ngoại khoá

Trang 23

Giải bài tập vật lí theo nhóm là một hình thức phổ biến của công tác ngoạikhoá về vật lí, nhóm giải bài tập thường là những học sinh có năng lực và rất yêuthích môn vật lí Bằng kinh nghiệm và sự sáng tạo của mình, giáo viên có thể tổchức được việc giải bài tập theo nhóm với nội dung phong phú một cách hào hứng.Đây là một môi trường học tập hết sức thuận lợi cho cá nhân học sinh, trong cácbuổi ngoại khoá học sinh được rèn luyện các kĩ năng giải quyết các bài tập khó,được cung cấp những thông tin hấp dẫn về bộ môn từ phía giáo viên hoặc từ nhữngthành viên khác của nhóm như các bản tổng kết, các báo cáo nêu lên ý nghĩa của cáchiện tượng vật lí đã được nghiên cứu, được thực hành về vật lí nhiều hơn… Nhưvậy, giải bài tập vật lí theo nhóm có tác dụng tích cực và trực tiếp đến kết quả họctập của học sinh, phát triển thế giới quan, bồi dưỡng được phương pháp nhận thứckhoa học vật lí, trang bị các kĩ năng cả về tính toán cho các em.

Các cuộc thi học sinh giỏi vật lí của chúng ta hiện tại là một dạng của ngoạikhoá vật lí Vì đề thi chưa thể hiện được phần thực hành của học sinh, nên tác dụnggiáo dục bộ môn này còn hạn chế

Vì vậy, để công tác ngoại khoá vật lí đúng nghĩa của nó, giáo viên nên lậpnhóm học sinh yêu thích môn vật lí, tổ chức cho các em làm việc với bài tập hay vàkhó tuyển chọn từ nhiều nguồn, trong đó phải lưu ý tới các bài tập hay thì mới có thểthực hiện được mục đích của công tác ngoại khoá vật lí

BTVL rất đa dạng và phong phú, mang đầy đủ ý nghĩa giáo dục, phát triển tưduy, giáo dưỡng và giáo dục kĩ thuật tổng hợp Giải BTVL đòi hỏi ở học sinh hoạtđộng trí tuệ tích cực, tự lập và sáng tạo

Dạy học bài tập vật lí phát huy được các chức năng lí luận dạy học của bài tập

và khai thác ở các hình thức dạy học khác nhau như đã trình bày ở mục 1.1 đòi hỏi

tự nghiên cứu và trải nghiệm Có nhiều con đường xây dựng BT dùng cho dạy họcsong việc tổng kết thành lí thuyết thì còn chưa được công bố nhiều

Trang 24

Tác giả Phạm Thị Phú sau nhiều năm nghiên cứu, tổng kết, thực nghiệm quamột số đề tài luận văn cao học đã công bố lý thuyết phát triển BTVL Lý thuyết nàycho phép vận dụng dạy học BTVL khá thành công trong nhiều chương của giáo trìnhvật lí phổ thông Trong khuôn khổ đề tài luận văn, chúng tôi sẽ vận dụng lý thuyếtnày thực nghiệm dạy học BTVL ở khía cạnh mới: Lý thuyết phát triển bài tập vớiviệc thực hiện các chức năng LLDH của BTVL Sau đây giới thiệu lý thuyết pháttriển BTVL làm cơ sở lí luận cho đề tài.

1.2 Lý thuyết phát triển bài tập vật lí [6] ; [38-40]

Các nội dung dưới đây, chúng tôi sử dụng các kết quả nghiên cứu của tác giảPhạm Thị Phú trình bày [6]

1.2.1 Khái niệm phát triển bài tập vật lí

- BTCB: là bài tập mà khi giải chỉ cần sử dụng một đơn vị kiến thức cơ bản(Một khái niệm hoặc một định luật vật lí), có sơ đồ cấu trúc như sau:

- BTTH: là bài tập mà khi giải cần sử dụng từ hai đơn vị kiến thức trở lên.Như vậy, BTTH là tổ hợp các bài tập cơ bản Thực chất của việc giải BTTH là việcnhận ra các BTCB trong các bài tập cơ bản đó

- Phát triển bài tập là biến đổi một BTCB thành các BTTH theo các phương

án khác nhau

1.2.2 Nội dung của lý thuyết phát triển bài tập vật lí

- Việc phát triển BTVL cần phải trải qua các hoạt động: Chọn BTCB, phântích cấu trúc của BTCB, mô hình hoá BTCB theo các phương án khác nhau

- Việc chọn BTCB là hành động có tính quyết định cho việc củng cố kiếnthức, kỹ năng nào? Hành động này bao gồm việc:

+ Xác định mục tiêu: Cần củng cố kiến thức cơ bản nào? Nội dungcủa kiến thức đó, phương trình liên hệ các đại lượng, công thức biểu diễn,

1 KTCB

Trang 25

+ Mô hình hoá đề bài và hướng giải.

- Từ BTCB, có thể phát triển thành những BTTH muôn hình, muôn vẻ Vềmặt lý luận có thể khái quát thành năm hướng phát triển bài tập như sau:

Phương án 1: Hoán vị giả thiết và kết luận của BTCB để được BTCB khác có độ

khó tương đương

Phương án 2: Phát triển giả thiết BTCB

- Dữ kiện bài toán không liên hệ trực tiếp với ẩn số bằng phương trình biểudiễn kiến thức cơ bản mà kiên hệ gián tiếp thông qua cái chưa biết trung gian a,

b, nhờ phương trình biểu diễn kiến thức cơ bản khác Phát triển giả thiết BTCB làthay giả thiết của bài tập đó bằng một số BTCB khác buộc tìm các đại lượng trunggian là cái chưa biết liên hệ dữ kiện với ẩn số

- Mức độ phức tạp phụ thuộc vào số bài toán trung gian (số cái chưa biết).Tuỳ thuộc vào đối tượng học sinh mà tăng hoặc giảm số bài toán trung gian

Phương án 3: Phát triển kết luận BTCB

f (a, b, c, x)

Giả thiết a, b, c

Cho a, b, x

Cho a, c, x Cho b, c, x

Tìm c

Tìm a Tìm b

KTCB a

KTCB b

Dữ kiện a1, a2

Dữ kiện b1, b2

Cái chưa biết a

Cái chưa biết b

Trang 26

- Cái cần tìm (ẩn số) không liên hệ trực tiếp với dữ kiện bằng một kiến thức

cơ bản mà thông qua các ẩn số trung gian Phát triển kết luận là thay kết luận của

BTCB bằng một số BTCB trung gian để tìm ẩn số trung gian X, Y, liên kết dữ liệu a, b, c và các ẩn số x 1 , y 1

- Mức độ phức tạp phụ thuộc số bài toán trung gian (số ẩn số trong bài toántrung gian

Phương án 4: Đồng thời phát triển giả thiết và kết luận của BTCB (kết hợp PA2 và

KTCB y

Dữ kiện

a, b, c

ẩn sốtrung gian x

ẩn sốtrung gian y

Cái chưa biết c

Cái chưa

biết bx

Cái chưa biết ax

ax1, ax2

cx1, cx2

bx1, bx2

Trang 27

1.2.3 Tại sao trong dạy học BTVL cần vận dụng lý thuyết phát triển BTVL?

- Vai trò của BTVL trong dạy học vật lí là hết sức quan trọng, việc sử dụngchúng trong giờ học lại càng quan trọng trong việc phát triển tính tích cực nhận thứccủa học sinh

- Để nâng cao hiệu quả của một giờ dạy BTVL và đặc điểm nâng cao hiệuquả của BTVL vừa chữa, chúng ta không nên thỏa mãn với việc tìm ra lời giải vàđáp số mà hãy nhìn nhận bài tập vừa chữa dưới góc độ khác nhau, với những lờigiải khác nhau (nếu có), hãy xem xét ý nghĩa các số liệu, đối chiếu chúng với thực

tế, rút ra những nhận xét bổ ích, chỉ ra được mấu chốt của từng lời giải, đâu là cáimới, cái cũ, Nói cách khác, chúng ta phải mổ xẻ bài tập vừa chữa cũng như lờigiải bài tập đó để tìm ra cái mới trong đó

- Mặt khác, trong thực tế dạy học học sinh thường gặp nhiều bài tập cùngdạng tuy chúng có thể khác nhau về cách diễn đạt nhưng lại dùng những công thức,kiến thức giống nhau để lập luận và tìm ra lời giải Nếu như vậy thì sẽ không hiệuquả khi chúng ta yêu cầu học sinh cứ giải hết bài tập này đến bài tập khác trongcùng một dạng, nó vừa mất thời gian dễ dẫn đến nhàm chán và không phát huyđược các đối tượng học sinh khá giỏi Chính vì vậy mà đối với bài tập điển hình đểchữa, sau đó thông qua bài tập điển hình nhận xét, đánh giá chỉ ra lời giải cho cácbài tập khác

- Trong tài liệu tham khảo học sinh thường gặp các bài toán phức tạp mà khigiải chúng buộc các em phải chia thành các bài tập nhỏ để giải, đó là các BTCB.Việc chuyển BTTH thành các BTCB là công việc khó khăn nhất của học sinh vì các

em khó phát hiện mình gặp bao gồm những BTCB nào Thế thì chúng ta hãy xuấtphát từ BTCB và biến nó thành BTTH (mở rộng bài tập) Nếu làm được điều nàythì khi gặp những BTTH, các bài tập cùng dạng với bài tập vừa chữa học sinh dễdàng tìm ra lời giải Nói như vậy có nghĩa là thông qua BTCB học sinh nắm đượcBTTH thông qua lời giải BTCB học sinh có lời giải BTTH

Trang 28

- Phát triển BTCB thành BTTH làm cho học sinh không chỉ nắm được mộtbài tập mà thông qua đó nắm được nhiều bài tập nữa, học sinh không những nắmkiến thức một cách chắc chắn và sâu sắc mà còn làm tăng sự hứng thú, năng lực làmviệc độc lập, tích cực nhận thức của học sinh Vì ở đây học sinh vừa cố gắng hoànthành nhiệm vụ cho mình bằng cách tự đặt ra các đề bài tập Lúc này giáo viên chỉđóng vai trò làm trọng tài và cố vấn là chủ yếu.

- Tuy nhiên, trong các giờ dạy bài tập không nên phức tạp bài toán quá nhiều

và mất thời gian cho công việc này Chúng ta nên phân bố thời gian một cách hợp lý

để hoàn thành nhiệm vụ chữa bài tập, đó là củng cố kiến thức cũ, giúp học sinh nắmkiến thức mới, phát triển năng lực làm việc độc lập, tích cực nhận thức đồng thờigiúp học sinh nắm bắt thêm những dạng toán tương tự, những BTTH trên cơ sởnhững BTCB vừa chữa

1.2.4 Quy trình dạy học một bài học BTVL theo lý thuyết phát triển DHVL

Dạy học một bài học BTVL theo lý thuyết phát triển DHVL thực hiện theo quytrình sau:

- Giáo viên xác định hệ thống BTCB của chương

+ Xác định nội dung kiến thức cơ bản của chương

+ Các phương trình biểu diễn

+ Lựa chọn BTCB

+ Mô hình hoá bài tập

- Học sinh giải BTCB (tập dượt để hiểu rõ và ghi nhớ kiến thức cơ bản)

- Giáo viên khái quát hoá phương pháp giải BTCB và phân tích bài tập các

dữ kiện a,b,c liên hệ với x bằng những phương trình, kiến thức cơ bản là

f(a,b,c) = f Nắm được phương trình này sẽ giải quyết được hàng loạt bài tập khác

- Giáo viên phát triển bài tập bằng cách hoán vị giả thiết, kết luận để đượcBTCB có độ khó tương đương

- Giáo viên yêu cầu học sinh phát triển bài tập theo hướng 1 (làm theo mẫu)bằng ngôn ngữ nói Điều này có tác dụng tốt trong việc học sinh nắm vững kiếnthức cơ bản và bồi dưỡng năng lực diễn đạt bằng ngôn ngữ nói cho học sinh

Trang 29

- Giáo viên phát triển BTCB theo hướng phát triển giả thiết hoặc phát triển

kết luận, giáo viên có thể phân tích: nếu trong BTCB không cho a mà cho a 1 , a 2 , a 3

(a liên hệ với a 1 , a 2 , a 3 bằng kiến thức cơ bản mà học sinh đã học) thì các em cógiải được không ? Từ đó em hãy đặt lại vấn đề bài tập đã cho, các em học sinh khá

có thể tham gia xây dựng bài mới

1.2.5 Quy trình thiết kế bài học BTVL theo lý thuyết phát triển DHVL

Thiết kế BTVL theo lý thuyết phát triển DHVL thực hiện theo các quy trình sau:

+ Hoạt động 1: Yêu cầu học sinh giải các bài tập cơ bản; phân tích các bàitập cơ bản Sau đó mô hình hoá bài tập cơ bản để xác định dự kiện, ẩn số phát triểnbài tập theo phướng án 1(hoán vị BT) Học sinh tự đặt BT theo phương án 1và giảicác BT theo phương án 1

+ Hoạt động 2: GV phát triển BT theo phương án 2 và tường minh quá trìnhgiải BT Học sinh đặt BT và HS phát triển đề bài tập theo phương án 2 và giải BTmới GV cho HS làm tương tự đối với đối với BTCB khác theo phương án 2

+ Hoạt động 3: Giáo viên phát triển BT theo phương án 3 và tường minh quátrình giải và yêu cầu HS phát triển BT theo phương án 3 và giải BT Cho HS làmtương tự thêm một số bài tập khác

Với một số HS khá có thể phát triển BT theo phương án 3 (hoạt động 3),phương án 4 (hoạt động 4) Với mỗi hoạt động giáo viên phát triển BT, tường minhquá trình giải HS đặt bài tập và phát triển BT theo phương án tương ứng và giải BT

1.2.6 Cấu trúc bài học BTVL theo lý thuyết phát triển BTVL

Bài học BTVL theo lý thuyết phát triển BTVL với mục tiêu:

Trang 30

Ngoài việc củng cố lí thuyết có liên quan; hình thành kỹ năng giải BT thì họcsinh còn có kỹ năng tự đặt BT và tự giải BT theo các phương án khác nhau tuỳthuộc vào đối tượng HS Đối cới HS trung bình phát triển BT theo phương án 1,phương án 2, đến phương án 3 Đối với HS khá giỏi phát triển BT đến phương án 4,phương án 5.

Vì vậy giải BT gồm các giai đoạn như sau:

* Hoạt động 1: Giải BT cơ bản

- GV: Giới thiệu BTCB

- HS: Giải BTCB

* Hoạt động 2: Phát triển BT theo phương án 1

- GV: Mô hình hoá BTCB nêu câu hỏi định hướng để HS phát triển BTCBtheo phương án 1

- HS: giải BT đó

* Hoạt động 3: Chứng kiến quá trình phát triển BT theo phương án 2 và giải

BT mới

- GV: Tường minh quá trình suy nghĩ để giải BT theo phương án 2

- HS: Phát triển BT mới theo phương án 2 và giải BT

* Hoạt động 4: Chứng kiến quá trình phát triển BT theo phương án 3(phương án 4) và giải BT mới

- GV: Tường minh quá trình suy nghỉ để giải BT theo phương án đó

- HS: Xây dựng BT mới theo phương án và giải BT

Tuỳ thuộc vào đối tượng cụ thể mà có thể phát triển BT đến phương án 3, hay pháttriển BT đến phương án 4, 5

* Hoạt động 5: Tổng kết bài học

Bài học BTVL theo lý thuyết phát triển BTVL cần chú ý:

- Nội dung kiến thức cơ bản

- Kỹ năng giải BT

- Kĩ năng xây dựng BT mới từ BT đã cho

1.2.7 Các hình thức dạy học BTVL theo lý thuyết phát triển BTVL

1.2.7.1 Bài học luyện tập giải bài tập

Trang 31

GV đưa ra BTCB, yêu cầu học sinh giải các bài tập cơ GV phân tích, môhình hoá BTCB cơ bản để xác định dự kiện, ẩn số và phát triển bài tập theophướng án 1 (hoán vị BT) Học sinh tự đặt BT theo phương án 1 và giải các BTtheo phương án 1.

Sau đó GV phát triển BT theo phương án 2 và tường minh quá trình giải BT.Học sinh đặt BT và HS phát triển đề bài tập theo phương án 2 và giải BT mới GVcho HS làm tương tự đối với đối với BTCB khác theo phương án 2

1.2.7.2 Bài học ôn tập tổng kết

Trong tiết ôn tập tổng kết giải bài tập cần sử dụng các bài tập cho phép kháiquát hoá nội dung các bài tập giúp học sinh nắm vững kiến thức đã học, khắc sâuthêm kiến thức, hệ thống hoá các khái niệm, các công thức, các định luật để từ đó

áp dụng chúng

Các bước tiến hành tương tự như hình thức luyện tập giải bài tập nhưng ở đâykhông chỉ dừng lại ở việc phát triển BT đến phương án 2 mà có thể phát triển BTtheo phương án 3, phương án 4, phương án 5 Đặc biệt lưu ý từ BTCB sau khi pháttriển BT thì tổng hợp được một chuỗi các BTCB khác trong chương

1.2.7.3 Bài học kiểm tra, đánh giá

Bài học kiểm tra đánh giá là hình thức để đánh giá mức độ nắm vững kiếnthức, khả năng vận dụng kiến thức của học sinh Thông qua các bài tập cơ bản vàphát triển BTCB theo lý thuyết phát triển DHVL có thể kiểm tra được: mức độ nắmvững kiến thức; kiểm tra được kĩ năng phát triển BT; kĩ năng thiết kế BT

1.2.7.4 Tự học ở nhà

Thông các bài tập luyện tập ở lớp, học sinh có thể tự học ở nhà để củng cốthêm kiến thức đã học Các em về nhà có thể giải BT tương tự như mà giáo viên đãhướng dẫn Đồng thời về nhà các em tự đặt bài tập tự đặt BTCB, sau đó đặt các BTtheo hướng phát triển bài tập lần lượt theo các phương án 1, phương án 2, phương

án 3, phương án 4, phương án 5 và tự giải BT

1.2.7.5 Bài học tự chọn (bồi dưỡng HS khá giỏi, phụ đạo HS yếu)

Trang 32

Dạy học BTVL theo lý thuyết phát triển BTVL là hình thức hữu hiệu để pháthiện và tuyển chọn các học sinh khá giỏi về Vật lí để bồi dưỡng học sinh khá giỏi.Thông qua giải BTCB và phát triển bài tập theo các phương án của lý thuyết pháttriển bài tập có thể phụ đạo thêm cho học sinh yếu kém thông qua PA1, phát triểnbài tập theo PA3, PA4, PA5 có mức độ khó tăng dần lên, bồi dưỡng học sinh khágiỏi Để giải bài tập đòi hỏi học sinh phải đề xuất các phương án giải hay, hoặcnhiều cách giải và thực hiện các phương án đó Bồi dưỡng học sinh giỏi theo quytrình sau:

GV đưa ra mô hình BTCB, yêu cầu học sinh đặt đề bài tập cho BTCB và giảibài tập đó

GV phân tích, mô hình hoá BTCB để xác định dữ kiện, ẩn số và phát triển bàitập theo phương án 3, tường minh quá trình giải BT Học sinh đặt BT và HS pháttriển đề bài tập theo phương án 3 để được BT mới ở mức độ khó và giải BT mới Sau đó, GV phát triển BT theo phương án 4 và tường minh quá trình giải BT.Học sinh đặt BT và HS phát triển đề bài tập theo phương án 4 và giải BT mới Cuối cùng GV phát triển BT theo phương án 5 và tường minh quá trình giải

BT Học sinh đặt BT và HS phát triển đề bài tập theo phương án 5 và giải BT mới

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong quá trình DHVL, các BTVL có tầm quan trọng đặc biệt Chúng được

sử dụng theo các mục đích khác nhau BTVL được hiểu là một vấn để đặt ra đòi hỏiphải giải quyết nhờ những suy nghĩ lôgic, những phép toán và thí nghiệm trên cơ sởđịnh luật và các phương pháp vật lí BTVL có vai trò quan trọng trong DHVL: làphương tiện nghiên cứu tài liệu mới khi trang bị kiến thức mới cho học sinh ở nhữnglớp trên của bậc trung học phổ thông với trình độ toán học đã khá phát triển; là mộtphương tiện ôn tập, đào sâu, củng cố và mở rộng kiến thức; là một phương tiện giúphọc sinh rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng lí thuyết vào thực tiễn, rèn luyện thóiquen vận dụng kiến thức khái quát; là một phương tiện có tầm quan trọng đặc biệttrong rèn luyện tư duy, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho học sinhgiải bài tập; là một hình thức làm việc tự lực căn bản của học sinh; là một phương

Trang 33

tiện có hiệu quả để giáo dục tình yêu lao động, tinh thần tự lập, ý chí kiên trì vượtkhó cho học sinh; là một phương tiện để kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh.

BTVL rất phong phú và đa dạng, có thể là bài tập định tính, có thể là bài tập

tính toán, có thể là bài tập thí nghiệm, có thể là bài tập đồ thị.

BTVL trong DHVL có vai trò hết sức quan trọng, việc sử dụng chúng lạicàng quan trọng hơn Cần phải nâng cao hiệu quả một giờ dạy vật lí và đặc biệtnâng cao hiệu quả của BTVL vừa chữa thì chúng ta cần phải làm sao trong giờ dạyBTVL học sinh không nhàm chán, phát hiện được đối tượng học sinh khá giỏi Điều

đó cho thấy cần vận dụng lý thuyết phát triển BTVL trong DHVL

Phát triển BTCB thành BTTH làm cho học sinh không chỉ nắm được một bàitập mà thông qua đó nắm được nhiều bài tập nữa, học sinh không những nắm kiếnthức một cách chắc chắn và sâu sắc mà còn làm tăng sự hứng thú, năng lực làm việcđộc lập, tích cực nhận thức của học sinh Vì ở đây học sinh vừa cố gắng hoàn thànhnhiệm vụ cho mình bằng cách tự đặt ra các đề bài tập Lúc này giáo viên chỉ đóngvai trò làm trọng tài và cố vấn là chủ yếu

Phát triển BTVL vừa thực hiện tốt chức năng vai trò của BTVL, vừa góp phầnphát triển năng lực tư duy, tư duy lôgic, tư duy biện chứng, tư duy sáng tạo của họcsinh, vừa phát triển năng lực diễn đạt ngôn ngữ của HS Việc học sinh tự đặt các đềbài tập để phát triển BTVL (sáng tạo các bài tập trên cơ sở BTCB) là biện pháp biếnhọc sinh từ thụ động giải bài tập thành chủ động giải BT và hệ thống hoá BT, biếnhọc thành tự học, hạn chế việc học sinh đến các lớp học thêm, lò luyện thi vừa tốncông sức tiền của vừa không phát huy năng lực tự học của học sinh

Vậy thông qua việc phát triển BTVL kiến thức của học sinh không nhữngđược nâng cao mà học sinh chủ động đề xuất các vấn đề giải quyết, phát huy tính tựhọc, khơi dậy được tính tích cực, tư duy sáng tạo, góp phần nâng cao chất lượng dạyhọc bộ môn vật lý nói riêng và trong dạy học nói chung

Trang 34

Chương 2 DẠY HỌC BÀI TẬP CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI”

THEO LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN BÀI TẬP VẬT LÝ

2.1 Vị trí, đặc điểm của chương “Dòng điện không đổi”

2.1.1 Vị trí

Chương “Dòng điện không đổi” có vai trò rất quan trọng trong chương trìnhVật lí phổ thông Các ứng dụng của dòng điện không đổi trong cuộc sống rất phongphú, khi nắm vững các kiến thức về dòng điện không đổi thì HS mới giải thích đượcmột số hiện tượng, quá trình vật lí diễn ra xung quanh ta Ngoài ra các em còn cóthể vận dụng kiến thức của dòng điện không đổi phục vụ cuộc sống

Chương trình Vật lí 11 chương trình Chuẩn lần lượt gồm: Điện tích, điệntrường, dòng điện không đổi, dòng điện trong các môi trường, từ trường, cảm ứngđiện từ, khúc xạ ánh sáng, mắt và các dụng cụ quang Trong đó lý thuyết chiếm 42tiết, thực hành chiếm 5 tiết, bài tập chiếm 16 tiết, kiểm tra chiếm 6 tiết

Chương “Dòng điện không đổi” thuộc chương 2 của chương trình vật lí 11THPT, được đặt sau chương “Điện tích-Điện trường” và sau khi học xong cácđịnh luật bảo toàn lớp 10, Chương 1 “Điện học” ở lớp 9 Việc sắp xếp này là hợp

lý, thuận tiện cho giáo viên và đảm bảo được việc tận dụng tối đa những tri thức

để khảo sát dòng điện trong các môi trường Đó là những kiến thức nền tảng để

HS có thể học chương “Dòng điện không đổi”

Mặt khác so với các phần kiến thức còn lại thì số tiết phân bố cho chương

“Dòng điện không đổi” trong chương trình là khá nhiều, chiếm 10 tiết Điều đó chothấy rằng kiến thức về “Dòng điện không đổi” là hết sức quan trọng, là một trongnhững phần kiến thức trọng tâm trong chương trình Vật lí 11

Những kiến thức cơ bản của chương “Dòng điện không đổi” có ứng dụng rấtlớn trong kỹ thuật và đời sống Trong kỹ thuật dựa vào nguyên lý hoạt động củamáy điện mà ngành kỹ thuật chế tạo ra nhiều loại máy để phục vụ cho khoa học vàđời sống

Vì thế khi giảng dạy chương này cần phải tổ chức cho học sinh biết liên hệ tớinội dung liên quan ở các bài học khác, không nên độc lập tách rời nội dung của các

Trang 35

ứng dụng của nó trong đời sống Điều này góp phần giáo dục kỹ thuật tổng hợp chohọc sinh.

2.1.2 Đặc điểm của chương “Dòng điện không đổi” lớp 11 THPT

Chương “Dòng điện không đổi” là một trong những chương trọng tâm củachương trình Vật lí 11 THPT Kiến thức của chương này là sự kế thừa và kếthợp những kiến thức cơ bản của chương “Điện học” (lớp 9) và chương “Điệntích Điện trường”.Vì vậy, nội dung kiến thức của chương rất trừu tượng Đểtiếp thu tốt những kiến thức chương “Dòng điện không đổi” đòi hỏi HS phải cónhững hiểu biết cơ bản của chương điện học, đặc biệt là đoạn mạch nối tiếp, đoạnmạch song song, bên cạnh đó HS cần ôn tập lại một số kiến thức liên quan đến dòngđiện không đổi mà điển hình là cường độ dòng điện, điện áp và công suất

Trong chương trình Vật lí 11 THPT, phần “Dòng điện không đổi” được

mở đầu bằng việc trình bày Dòng điện không đổi, nguồn điện (khái niệmdòng điện, cường độ dòng điện, dòng điện không đổi, nguồn điện, suất điệnđộng của nguồn điện, pin và acquy) Sau đó đến điện năng, công suất điện,định luật Ôm đối với đoạn mạch, được trình bày như là một phần bổ sunghoàn chỉnh cho những lý thuyết cơ bản về dòng điện không đổi Những kiếnthức cơ bản ghép các nguồn điện thành bộ, phương pháp giải một số bài toán

về toàn mạch được trình bày sau cùng

Tuy kiến thức chương “Dòng điện không đổi” có tính trừu tượng caonhưng nó lại hết sức gần gủi, sát với thực tế đời sống, có nhiều ứng dụng

trong khoa học - kỹ thuật và mang lại những hỗ trợ tích cực cho cuộc sống.

Khi dạy chương này, bên cạnh việc hướng dẫn các em tiếp thu kiến thức thậttốt thì mặt khác luôn có biện pháp kích thích hứng thú học tập, luôn gắn bàihọc với thực tiễn cuộc sống xung quanh Từ đó hình thành cho các em kĩ năng

tư duy, năng lực sáng tạo, phương pháp và kĩ thuật khoa học đáp ứng đượcnhững yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai

2.2 Mục tiêu theo chuẩn kiến thức, kỹ năng [46 ; 12]

Mục tiêu dạy học chương “Dòng điện không đổi” lớp 11 THPT là:

Về kiến thức

- Phát biểu được định nghĩa và viết được công thức cường độ dòng điện

Trang 36

- Phát biểu được định nghĩa và viết được công thức suất điện động của nguồnđiện

- Nêu được công của dòng điện là số đo điện năng mà đoạn mạch tiêu thụ khi

có dòng điện chạy qua Chỉ ra được lực nào thực hiện công ấy

-Chỉ ra được mối liên hệ giữa công của lực lạ thực hiện bên trong nguồn điện

và điện năng tiêu thụ trong mạch kín

-Phát biểu được nội dung định luật Ôm đối với toàn mạch

-Nắm được mối quan hệ giữa suất điện động của nguồn và tổng độ giảm thếtrong và ngoài nguồn

-Tự suy ra được định luật Ôm đối với toàn mạch từ định luật bảo toàn nănglượng

-Trình bày được khái niệm hiệu suất của nguồn điện

-Nêu được chiều dòng điện chạy qua đoạn mạch chứa nguồn điện

Trang 37

2.3 Nội dung dạy học chương “Dòng điện không đổi”

2.3.1 Các đơn vị kiến thức cơ bản của chương “Dòng điện không đổi”

1) Nguồn điện

-Các đại lượng đặc trưng cho nguồn điện:

• Suất điện động: E = A/q

• Điện trở trong: r

-Công của nguồn điện: Ang = q E = EIt

-Công suất: P = EI

2) Điện năng Công suất điện

- Điện năng tiêu thụ của mạch điện: A =qU = UIt

-Công suất điện: P =

t

A

= UI-Định luật Jun-Len xơ: Q=RI2 t

-Công suất toả nhiệt của vật dẫn : P =

t

Q

= RI2

-Công của nguồn điện Ang = q E = EIt

-Công suất của nguồn điện: Png =

t

A ng

= EI-Công của nguồn điện sản ra trong thời gian t: A = EIt

-Nhiệt lượng toả ra trên toàn mạch: Q = (RN + r)I2t

-Hiệu suất nguồn điện: H = UN/ E

3) Định luật Ôm

-Đoạn mạch chỉ chứa R : I = U/R

-Công thức tổng quát của định luật Ôm đối với các loại đoạn mạch:

Trang 38

-Bộ nguồn ghép nối tiếp:

Eb = E1 + E2 + … + En

rb = r1 + r2 + … + rn

Trường hợp có n nguồn giống nhau, mỗi nguồn có suất điện động E và điện

trở trong r ghép nối tiếp thì: Eb = n E ; rb = nr

-Bộ nguồn song song : Nếu có m nguồn giống nhau mỗi cái có suất điệnđộng E và điện trở trong r ghép song song thì:

Eb = E ; rb =

m r

-Bộ nguồn hỗn hợp đối xứng: Eb=m E ; rb= m.r/n Với n dãy ghép song songvới nhau, mỗi dãy gồm m nguồn điện giống nhau ghép nối tiếp

2.3.2 Cấu trúc lôgic chương “Dòng điện không đổi” chương trình chuẩn

Căn cứ vào sự sắp xếp các đơn vị nội dung chương “Dòng điện không đổi”

ở sách giáo khoa, ta có thể đưa ra được sơ đồ cấu trúc lôgic nội dung của chươngnhư sau:

Mắc nguồn thành bộ

Bộ nguồn nối tiếp

Bộ nguồn song song

Định luật Ohm

Đoạn mạch chỉ chứa R

Toàn mạch

Điện năng Công suất điện

- Điện năng tiêu thụ của mạch điện:

A=qU=UIt.

- Công suất điện:

Trang 39

2.4 Thực trạng dạy học bài tậpVật lí chương “Dòng điện không đổi” ở một số trường THPT TP.Hồ Chí Minh

Trong năm học qua tôi tiến hành tìm hiểu việc giảng dạy Vật lí chương “Dòngđiện không đổi” ở một số trường THPT thuộc thành phố Hồ Chí Minh (THPT MarieCurie, Lê Quý Đôn, Trưng Vương, Phú Nhuận) bằng cách:

- Trao đổi với các giáo viên dạy Vật lí

- Dự giờ thăm lớp các tiết dạy lý thuyết và tiết dạy BTVL trong chương này

- Trao đổi với học sinh tìm hiểu về cách học, xem vở của các học sinhkhác nhau

- Dùng phiếu điều tra lấy ý kiến của giáo viên

Qua việc tìm hiểu đó, tôi rút ra được một số nhận xét như sau:

a) Về tài liệu dạy học tập

Trang 40

Nhìn chung trong quá trình dạy học Vật lí trong trường phổ thông giáo viênchủ yếu dạy nội dung trong sách giáo khoa và sách BTVL 11, trong chương trìnhnâng cao, một số giáo viên kết hợp giữa sách giáo khoa trong chương trình nâng cao

và sách giáo khoa chương trình cơ bản Tuy nhiên theo ý kiến của giáo viên thì nộidung dạy lý thuyết trong sách giáo khoa là tương đối đủ, nhưng số lượng bài tập ởchương này trong sách giáo khoa và sách bài tập BTVL còn ít so với yêu cầu mụctiêu dạy học của chương Do đó giáo viên thường lấy thêm các bài tập ở các sáchtham khảo

b) Về số lượng bài tập

Trong các tiết dạy BTVL ở trường phổ thông, tổng số bài tập tự luận đượccác giáo viên vận dụng trong phần này là 20 - 30 bài, tổng số bài tập trắc nghiệm là4-10 bài

- Bài tập định tính: Rất ít, chủ yếu giáo viên đưa ra khi củng cố bài tập (Mỗitiết bài mới dùng 1 - 2 bài)

- Bài tập định lượng: Chiếm đại đa số

+ Đưa khoảng 3 - 4 bài ra tại lớp (sau khi học bài mới)

+ Đưa khoảng 6 - 8 bài tập sửa tại lớp trong tiết bài tập (chương này có 03tiết bài tập, 07 tiết lý thuyết)

+ Cho khoảng 8 -12 bài tập về nhà

c) Về nhận thức và phương pháp giảng dạy của giáo viên

- Hầu hết các giáo viên đều cho rằng chương “Dòng điện khôngđổi” có vai

trò rất quan trọng trong chương trình Vật lí 11 nói riêng và Vật lí phổ thông nóichung Bài tập phần này có rất nhiều bài khó và hay

- Đa số các giáo viên sử dụng phương pháp thông báo các kiến thức theonội dung bài học, cố gắng trình bày đầy đủ, rõ ràng, nhấn mạnh nội dung kiếnthức cơ bản Rất ít giáo viên áp dụng phương pháp dạy cho học sinh cách học,phát triển bài tập

- Trong giờ học giáo viên có đặt câu hỏi cho học sinh, nhưng các câu hỏi chủyếu ở mức độ tái hiện

- Đa số các giáo viên ưu tiên bài tập định lượng xem nhẹ bài tập định tính

- Số lượng giáo viên tự soạn bài tập, hướng dẫn các em tự ra đề bài tập, phát

Ngày đăng: 31/10/2015, 09:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lương Duyên Bình, Nguyễn Quang Hậu (2003). Giải bài tập và bài toán Cơ sở Vật lý, tập 1 NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải bài tập và bài toánCơ sở Vật lý
Tác giả: Lương Duyên Bình, Nguyễn Quang Hậu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
2. Bùi Quang Hân, Đào Văn Cư… (1999). Giải toán Vật lý 11 tập 1 Điện và điện từ NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải toán Vật lý 11 tập 1 Điệnvà điện từ
Tác giả: Bùi Quang Hân, Đào Văn Cư…
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
3. Nguyễn Quang Lạc, Nguyễn Thị Nhị (2011), Đo lường và đánh giá trong dạy học vật lý, bài giảng dành cho học viên cao học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường và đánh giá trongdạy học vật lý
Tác giả: Nguyễn Quang Lạc, Nguyễn Thị Nhị
Năm: 2011
4. Nguyễn Quang Lạc (1995), Lý luận dạy học hiện đại ở trường phổ thông, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học hiện đại ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Quang Lạc
Năm: 1995
5. Phạm Thị Phú (2007), Chuyển hóa phương pháp nhận thức Vật lý thành phương pháp dạy học Vật lý, bài giảng dành cho học viên cao học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển hóa phương pháp nhận thức Vật lý thànhphương pháp dạy học Vật lý
Tác giả: Phạm Thị Phú
Năm: 2007
6. Phạm Thị Phú, Phát triển bài tập vật lý nhằm củng cố kiến thức và bồi dưỡng tư duy linh hoạt, sáng tạo cho học sinh. Tạp chí giáo dục, số 138, kỳ 2, 5/2006, trang 38-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bài tập vật lý nhằm củng cố kiến thức và bồidưỡng tư duy linh hoạt, sáng tạo cho học sinh
7. Phạm Thị Phú, Nguyễn Đình Thước (2001), Lôgic học trong dạy học vật lý, bài giảng dành cho học viên cao học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lôgic học trong dạy học vậtlý
Tác giả: Phạm Thị Phú, Nguyễn Đình Thước
Năm: 2001
8. Nguyễn Đức Thâm (2002), Phương pháp dạy học vật lý ở trường phổ thông, Đại Học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học vật lý ở trường phổthông
Tác giả: Nguyễn Đức Thâm
Năm: 2002
9. Nguyễn Đình Thước (2010), Phát triển tư duy học sinh trong dạy học bài tập vật lý, bài giảng dành cho học viên cao học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tư duy học sinh trong dạy họcbài tập vật lý
Tác giả: Nguyễn Đình Thước
Năm: 2010
10. Nguyễn Đình Thước (2011), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học dạy học vật lý, bài giảng dành cho học viên cao học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học dạyhọc vật lý
Tác giả: Nguyễn Đình Thước
Năm: 2011
11. Phạm Hữu Tòng (2004), Dạy học vật lý ở trường phổ thông theo định hướng phát triển hoạt động tích cực, tự chủ, sáng tạo và tư duy khoa học, NXB Đại Học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học vật lý ở trường phổ thông theo địnhhướng phát triển hoạt động tích cực, tự chủ, sáng tạo và tư duy khoa học
Tác giả: Phạm Hữu Tòng
Nhà XB: NXB Đại Học Sư Phạm
Năm: 2004
1. Vị trí bài tập chương: “Dòng điện không đổi” trong chương trình chuẩn vật lý 11Rất quan trọng Quan trọngKhông quan trọng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dòng điện không đổi
3. Trong dạy học, thầy, cô thường sử dụng loại BT nào?Bài tập định tính Bài tập định lượng Bài tập thí nghiệm Bài tập khác Khác
4. Trong khi dạy học thầy, cô có tự soạn BT để giảng dạy không?Không Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1a và 1b,  R 1 = 10 Ω, R 2  = 15 Ω,  R 3  = 5 Ω, U AB  = 6V. Xác định - Nghiên cứu dạy học bài tập chương dòng điện không đổi lớp 11 THPT theo lý thuyết phát triển bài tập vật lý
Hình 1a và 1b, R 1 = 10 Ω, R 2 = 15 Ω, R 3 = 5 Ω, U AB = 6V. Xác định (Trang 42)
Hình 14U = I. RNCho R - Nghiên cứu dạy học bài tập chương dòng điện không đổi lớp 11 THPT theo lý thuyết phát triển bài tập vật lý
Hình 14 U = I. RNCho R (Trang 48)
Sơ đồ mạch điện tương đương  (Hình 20b) - Nghiên cứu dạy học bài tập chương dòng điện không đổi lớp 11 THPT theo lý thuyết phát triển bài tập vật lý
Sơ đồ m ạch điện tương đương (Hình 20b) (Trang 53)
Hình 26Bài tập 23: Từ BTCB 1, thay R1  bằng đèn 6V-3W (phát triển giả thiết) và thay R 2 - Nghiên cứu dạy học bài tập chương dòng điện không đổi lớp 11 THPT theo lý thuyết phát triển bài tập vật lý
Hình 26 Bài tập 23: Từ BTCB 1, thay R1 bằng đèn 6V-3W (phát triển giả thiết) và thay R 2 (Trang 56)
Hình 28Cho 2 nguồn - Nghiên cứu dạy học bài tập chương dòng điện không đổi lớp 11 THPT theo lý thuyết phát triển bài tập vật lý
Hình 28 Cho 2 nguồn (Trang 57)
Bảng 1: Kết quả thực nghiệm - Nghiên cứu dạy học bài tập chương dòng điện không đổi lớp 11 THPT theo lý thuyết phát triển bài tập vật lý
Bảng 1 Kết quả thực nghiệm (Trang 76)
Bảng 2:  Bảng phân phối tần suất - Nghiên cứu dạy học bài tập chương dòng điện không đổi lớp 11 THPT theo lý thuyết phát triển bài tập vật lý
Bảng 2 Bảng phân phối tần suất (Trang 77)
Bảng 4:   Bảng phân loại theo học lực - Nghiên cứu dạy học bài tập chương dòng điện không đổi lớp 11 THPT theo lý thuyết phát triển bài tập vật lý
Bảng 4 Bảng phân loại theo học lực (Trang 77)
Bảng 6:  Bảng phân phối để tính phương sai (ĐC) - Nghiên cứu dạy học bài tập chương dòng điện không đổi lớp 11 THPT theo lý thuyết phát triển bài tập vật lý
Bảng 6 Bảng phân phối để tính phương sai (ĐC) (Trang 78)
Hình 3.1. Đồ thị biểu diễn phân phối tần suất điểm số - Nghiên cứu dạy học bài tập chương dòng điện không đổi lớp 11 THPT theo lý thuyết phát triển bài tập vật lý
Hình 3.1. Đồ thị biểu diễn phân phối tần suất điểm số (Trang 79)
Sơ đồ e: Phát triển cả giả thiết và kết luận đồng thời hoán vị chúng. - Nghiên cứu dạy học bài tập chương dòng điện không đổi lớp 11 THPT theo lý thuyết phát triển bài tập vật lý
Sơ đồ e Phát triển cả giả thiết và kết luận đồng thời hoán vị chúng (Trang 95)
HÌNH ẢNH THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM - Nghiên cứu dạy học bài tập chương dòng điện không đổi lớp 11 THPT theo lý thuyết phát triển bài tập vật lý
HÌNH ẢNH THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w