1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch ép củ tỏi (Allium sativum L) và củ gừng (Zinziber officinale Rosc) đối với vi khuẩn aeromonas hydrophyla gây bệnh đốm đỏ trên cá ghé (bagarius rutilus NgKottelat, 2000)

72 493 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 20,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở nước ta, trong những năm gần đây các nhà khoa học cũng đã có cácnghiên cứu về tác dụng của thảo dược như: lá trầu không, hẹ, tỏi, lá xoan, láhúng, gừng… trong phòng và trị bệnh trên cá

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh -

Vũ Thị Thu Hồng

NGHIấN CỨU KHẢ NĂNG KHÁNG KHUẨN CỦA DỊCH ẫP CỦ TỎI

(Allium sativum L) VÀ CỦ GỪNG (Zinziber officinale RoscOSC)" ĐỐI VỚI VI KHUẨN Aeromonas hydrophyla GÂY BỆNH ĐỐM ĐỎ TRấN CÁ GHẫ

(Bagarius rutilus NGg&KottelatOTTELAT, 2000)

Chuyên ngành: S S inh học thực nghiệm

Trang 2

Để hoàn thành tốt khóa luận này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Trần Ngọc Hùng, là người đã định hướng và hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp.

Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn ThS Trương Thị Thành Vinh, ThS Nguyễn Thị Kim Chung và các cán bộ phòng thí nghiệm khoa Nông Lâm Ngư , đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài này.

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo Khoa Sinh học

- Đại học Vinh đã trang bị nền tảng kiến thức và giúp đỡ tôi trong những năm học qua.

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn tới gia đình, bạn bè, tập thể lớp SHTN đã quan tâm, động viên trong suốt quá trình học tập và trong thời gian thực hiện đề tài.

Tác giả

Vũ Thị Thu Hồng

Trang 3

7 NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 4

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Trang 7

7 NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Trang 12

MỞ ĐẦU

Cá Ghé (Bagarius rutilus Ng & Kottelat, 2000) là một trong số các loài

cá quý hiếm, có giá trị kinh tế cao được xếp vào dạng “ngũ quý” cùng với cá

Lăng chấm, cá Bỗng, cá Anh vũ, cá Rầm xanh Loài cá Ghé (Bagarius rutilus Ng&Kottelat, 2000) là loài cá da trơn bản địa thường phân bố tự nhiên ở

sông Mã, lưu vực sông Cả, vùng Điện Biên Đây là loài có triển vọng gia hoá

và cho hiệu quả kinh tế cao, giá cả thương phẩm 300-350 nghìn đồng/kg rấtđược ưa chuộng ở thị trường trong nước và có tiềm năng chế biến côngnghiệp Mặc dầu chưa được liệt vào Sách đỏ Việt Nam, nhưng qua những kết

quả thu thập được từ các nghiên cứu thì loài Bagarius rutilus hiện đang là một

trong những loài có nguy cơ tuyệt chủng cao bởi nạn đánh bắt có tính chấthủy diệt (kích điện, te điện, mìn, ) đang diễn ra khá phổ biến Trong nhữngnăm gần đây, ở một số địa phương, người dân đã thử nghiệm nuôi loài cá này

từ việc sử dụng nguồn giống khai thác từ tự nhiên bằng hình thức nuôi lồngtrên sông (Cẩm Thủy, Thạch Thành, Quan Hóa -Thanh Hóa; Quỳ Châu, AnhSơn -Nghệ An, ), nuôi lồng bè trên hồ chứa (Bãi Thượng - Thanh Hóa, HồThủy điện Hòa Bình - tỉnh Hòa Bình ) Bệnh xuất huyết đốm đỏ gần đâyxuất hiện ở một số địa phương và được mô tả ban đầu bởi nhóm nghiên cứucủa Khoa Nông Lâm ngư Đại học Vinh nhưng hiện vẫn chưa có những biệnpháp phòng và chữa trị hiệu quả

Hiện nay, bệnh xuất huyết đốm đỏ do vi khuẩn Aeromonas hydrophyi la

là một trong những tác nhân gây thiệt hại rất lớn cho nghề nuôi cá nước ngọt

Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng, vi khuẩn Aeromonas hydrophyi la

chủ yếu gây bệnh trên loài cá nước ngọt như cá Chép, cá Trắm ở vùng Đồngbằng Bắc Bộ Để trị nhóm bệnh do vi khuẩn, thông thường người ta sử dụngkháng sinh tổng hợp, tuy vậy, kháng sinh tổng hợp cũng là con dao hai lưỡi,

có thể ảnh hưởng xấu tới sức khỏe động vật sử dụng nó và có những tác độngkhông nhỏ tới môi trường sinh thái, tạo ra các dòng vi khuẩn kháng thuốc vàqua các sản phẩm thực phẩm gây hại lên cả sức khoẻ con người

Trang 13

Trước tình hình đó việc nghiên cứu sử dụng các loại thảo dược trongphòng và điều trị bệnh nhiễm khuẩn cho các đối tượng ĐVTS được coi là mộthướng đi mới, vừa đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, vừa thân thiện vớimôi trường sinh thái Trên thế giới, một số nước như: Trung Quốc, Ấn Độ,Bangladesh, Thái lan, Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã có những nghiên cứu thử nghiệmtác dụng của thảo dược đối với một số tác nhân gây bệnh trên động vật thủysản Ở nước ta, trong những năm gần đây các nhà khoa học cũng đã có cácnghiên cứu về tác dụng của thảo dược như: lá trầu không, hẹ, tỏi, lá xoan, láhúng, gừng… trong phòng và trị bệnh trên cá chép, tôm sú, cá trắm cỏ, cá rôphi vằn, cá bống bớp…Tuy vậy, trên thế giới cũng như ở Việt Nam chưa cómột công bố cụ thể nào đánh giá khả năng kháng khuẩn của dịch ép một sốloại thảo dược đối với vi khuẩn gây bệnh bệnh đốm đỏ trên cá Ghé (Bagarius

rutilus Ng&Kottelat, 2000 ) thương phẩm

Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu khả năng kháng

khuẩn của dịch ép củ Tỏi (Allium sativum LL) và củ Gừng (Zinziber

Officinale Rosc) " đối với vi khuẩn Aeromonas hydrophyi la gây bệnh đốm đỏ trên

cá Ghé (Bagarius rutilus Ng&Kottelat, 2000)

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá khả năng kháng khuẩn của dịch ép của (củ Tỏi, củ Gừng) ởcác nồng độ, nhiệt độ, thời gian sử dụng và bảo quản đối với vi khuẩn

Aeromonas hydroph yi la gây bệnh đốm đỏ trên cá Gghé

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Vi khuẩn Aeromonas hydrophyi l a

1.1 2 1 Vị trí phân loại

Theo hệ thống phân loại của Bergey (1974), loài vi khuẩn A.

hydrophyla thuộc nhóm phân loại như sau:

Loài A hydrophyla là vi khuẩn có khả năng di động nhờ có 1 tiên mao.

Vi khuẩn Gram âm dạng hình que ngắn, hai đầu tròn, kích thước 0,5 x 1,0-1,5

àm Vi khuẩn yếm khí tuỳ tiện, Cytochrom oxidase dương tính, khử nitrate,không mẫn cảm với thuốc thử Vibriostat 0/129 Tỷ lệ Guanin + Cytozintrong ADN là 57 - 63 mol%

A.hydroph yi la có khả năng sinh trưởng tốt ở nhiều môi trường nước

nuôi khác nhau như nước nhiễm phèn, phú dưỡng và môi trường trung tính

Về khả năng chịu mặn, A.hydrophyi la có thể sinh trưởng tốt nhất ở nồng độ

muối 0,5% và có khả năng gây bệnh cho cá ở nồng độ muối từ 0,5-1,5% Về

khả năng kháng kháng sinh, vi khuẩn A.hydrophyi la đều kháng hoặc không

mẫn cảm với kháng với erythromycin và neomycin Vi khuẩn này tương đốimẫn cảm với gentamycin và rất mẫn cảm với norfloxacin, sulfamethidazol.Liều gây nhiễm tối thiểu là 103CFU/ml, các chủng A hydrophyla phân lập

gây chết 50% cá sau khi ngâm từ 6-20 ngày, gây nhiễm cá bằng cách tiêm vikhuẩn vào phúc mạc, cá không chết và không có biểu hiện bệnh [6]

Đã có nhiều nghiên cứu về bệnh do vi khuẩn A hydrophyla gây ra trên

các đối tượng động vật thủy sản, (trắm cỏ, ếch, cá tra, )

Trang 15

Trên thế giới đã có hàng loạt các nghiên cứu khác nhau khẳng định

Aeromonas ssp gây bệnh nghiêm trọng cho động vật thủy sản đặc biệt là cá da

trơn Ở Thổ Nhĩ Kì đã phân lập được vi khuẩn Aeromonas hydrophyla ở cá Tra (Pangasius sutchi) [24], cá Chép (Cyprinus carpio) trên bộ phân tim, gan,

thận của cá bị bệnh [32] Tại Bangladet, Mitchell và Plumb (1990) đã phân

lập được loài A.hydrophyla ở trên cá da trơn bị bệnh lở loét [31] Năm 2001 (từ tháng 7 đến tháng 11) Aeromonas sp làm cá da trơn nuôi ở đây bị xuất

huyết trong suốt quá trình nuôi với tỷ lệ chết lên đến 21,57%, đến năm 2003

Chowdhury đã xác định được vi khuẩn A.hydrophyla, A.sobria là tác nhân chính gây bệnh xuất huyết cho cá Tra (Pangasius sutchi) [25].

Tại Philippin, năm 2001 khi cá Trê nuôi ở đây bị mắc phải bệnh lở loét

do vi khuẩn Aeromonas sp, Bonda và et al đã phân lập vi khuẩn ở mô bị

nhiễm bệnh, da lở loét, vây và đuôi bị mòn, hốc mắt, thận và lá lách thì xác

định được vi khuẩn Aeromonas sp với tỷ lệ nhiễm 52% A.hydrophyla, 19% A sobria, 29% A.caviae [33].

Tại New zealand, theo Diggles và et.al (2002) khi cá Tra xuất hiệnnhững vết loét, da xuất huyết, bóng hơi phình to, gan xuất huyết tiến hành

phân lập vi khuẩn và xác định được tác nhân gây bệnh là A hydrophyla,

A.sobria [24].

Năm 2008, Wahli và ctv nghiên cứu về bệnh vi khuẩn trên cá nuôi ở các

trang trại của Mỹ cho thấy bệnh vi khuẩn chủ yếu trên cá Tra là A hydrophyla,

A.sobria, Edwardsiella ictaluri [39].

Ở Việt Nam, cũng đã có rất nhiều nghiên cứu về vi khuẩn A hydrophyla Bùi Quang Tề và cộng sự đã phân lập được A hydrophyla từ cá trắm cỏ bị

bệnh đốm đỏ Lê Thanh Hùng và ctv (1998) đã phân lập được vi khuẩn

A.hydrophyla từ mẫu cá bị bệnh và kết luận rằng nó là tác nhân gây bệnh

chính làm cho cá Tra giống chết hàng loạt [18] Bùi Quang Tề cũng đã phân

lập được vi khuẩn A.hydrophyla, A sobria gây bệnh cho cá tra [18,20] Trần Thị Thanh Tâm (2003) cũng đã phân lập được vi khuẩn Aeromonas

Trang 16

hydrophyla trong ao nuôi cá tra công nghiệp bị bệnh đốm trắng với tần số bắt

gặp là 16% [20] Lý Thị Thanh Loan (2006) đã phân lập được vi khuẩn

Aeromonas sp trên cá Tra bị bệnh xuất huyết với tần số bắt gặp như sau:

A hydrophyla là 51,61%, A caviea là 6,45%, A sobria là 6,45%, Aeromonas

sp là 22,58% và kết luận rằng vi khuẩn A hydrophyla, A sobria là một trong

những tác nhân chủ yếu gây ra bệnh nhiễm khuẩn trên cá Tra [11]

Khi gây bệnh trên động vật thủy sản chúng thường có các dấu hiệu điểnhình như: Cá có hiện tượng kém ăn hoặc bỏ ăn, nổi lờ đờ trên mặt Da cáthường đổi màu tối không có ánh bạc, cá mất nhớt, khô ráp Cá xuất hiện cácđốm xuất huyết màu đỏ trên thân, các gốc vây, xung quanh miệng, râu xuấthuyết hoặc bạc trắng Xuất hiện các vết loét ăn sâu vào cơ, có mùi hôi thối.Mắt lồi đục, hậu môn viêm xuất huyết bụng có thể chướng to, các vây xơrách, tia vây cụt dần Khi giải phẫu bên trong: xoang bụng xuất huyết, Gan táinhợt, mật sưng to, thận sưng, ruột, dạ dày, tuyến sinh dục, bóng hơi đều xuấthuyết, chứa nhiều dịch nhờn mùi hôi thối [16]

Bảng 1.1 Một số đặc điểm và dấu hiệu nhận biết của vi khuẩn A.

Trang 17

Kết quả Chỉ tiêu A.hydrophyl

1.2 Cá Gghé (Bagarius rutilus Ng&Kottelat, 2000)

Trang 18

Phân họ:Sisorinae

Chi: Bagarius

Loài: Bagarius rutilus Ng&Kottelat, 2000

1.2.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo

Cá Ghé có đặc điểm là da trần, không vảy, đầu dẹp bằng và thô lớn;thân hơi tròn, đuôi tròn, thon nhỏ Mé lưng tới mút mõn hướng về phía saudần nhô lên, đến khởi điểm vây lưng là cao nhất, chạy về phía sau cong từ từxuống phía dưới [28] Cán đuôi hình côn tròn Đầu phẳng và to rộng và cógiáp cứng, mút trước hình lưỡi cày Mặt dưới của bụng và đầu phẳng Miệngdưới rộng, hình bán nguyệt, nằm trên mặt phẳng nghiêng Hàm dưới hơi nhô

ra Răng hàm nhỏ sắc Mắt nhỏ, hình bầu dục, có nếp da che phủ, nằm lệch vềmặt lưng của đầu và gần cách đều mõm và điểm cuối nắp mang Khoảng cách

2 mắt hẹp vào khoảng 2 lần đường kính mắt Có 4 đôi râu, râu mũi rất ngắn.Râu hàm trên phát triển thành phiến rộng và cứng Râu hàm dưới mảnh vàngắn Phần cuối của xương sọ tạo thành mẫu nhỏ gắn vào thân Khe mang rấtrộng và kéo dài xuống mặt bụng [28] Vây lưng có khởi điểm phía dưới saugốc vây lưng, có gai cứng, phần ngọn mềm và phía sau có răng cưa Vây mỡngắn, có khởi điểm trước hoặc đối xứng với khởi điểm vây hậu môn Vâyngực rất phát triển có gai cứng ngọn mềm và phía sau có gai răng cưa Vâyđuôi hai thùy nhọn, thùy trên dài hơn thùy dưới Mút cuối các vây kéo dàithành sợi

Trang 19

Hình 1.1 Cá Ghé (Bagarius rutilus Ng&Kottelat, 2000)

Cá Ghé có thân phủ da, không có vẩy nhưng nhiều nốt sần sùi Đườngbên hoàn toàn, bắt đầu từ một mấu nhọn phía sau sọ, chạy đến điểm gốc vâyđuôi Mặt lưng của thân và đầu có màu nâu đỏ và nhạt dần xuống bụng Mặtbụng của thân và đầu có màu trắng Lưng, hông và các vây có vân hoặc dảinâu thẫm hoặc các chấm đen Các nốt sừng màu nâu vàng [28],[27], [34]

Loài Bagarius rutilus phân biệt với một số loài khác trong giống

Bagarius thể hiện qua sau:

1.2.3 Đặc điểm phân bố và sinh trưởng

Bagarius rutilus thường sống thành đàn trung và thượng lưu các con sông,

suối, nơi có nhiều ghềnh thác, nước chảy xiết [28],[27], [34] Cá sống ở tầngđáy, thích trú ẩn trong các bụi cây, hốc đá và chủ yếu bắt mồi về ban đêm[22] Cá ghé thường sống ở vùng nước ngọt và lợ nhẹ (độ mặn < 7ppt) Chúngsống và phát triển tốt ở vùng có độ pH dao động từ 6,5 ÷ 8, hàm lượng DO từ3mg/l trở lên [28]

Theo Nguyễn Văn Hảo (2005), loài Bagarius rutilus tăng trọng nhanh

trong những năm đầu Có thể dùng lát cắt của vây ngực và đốt sống để xácđịnh tuổi cá

Còn theo Phạm Báu và ctv (2000), loài cùng giống với B.yarrelli có tốc độ

tăng trưởng khá nhanh Cá đực và cá cái tăng trưởng chênh lệch nhau không nhiều,

Trang 20

có xu hướng 3 năm đầu cá đực tăng trưởng nhanh hơn sau đó cá cái lớn nhanh hơn.

Cá tăng chiều dài chủ yếu từ năm thứ nhất đến năm thứ tư từ 14,2 ÷ 17,6 cm, sau

đó chậm dần đều, năm thứ 8 đến năm thứ 13 từ 75 đến 82 cm

Cá tăng khối lượng từ sau năm thứ 3, từ 3 ÷ 7 tuổi trung bình đạt

700 ÷ 1200g/năm, trong giới hạn 13 tuổi, cá càng lớn tăng trọng càngnhanh, 13 tuổi cá đạt 30kg [24] Cá thụ động trong bắt mồi, ít di chuyển nên chỗnào thức ăn dồi dào thì cá lớn càng nhanh còn nơi nào thức ăn nghèo nàn thì cálớn chậm [28]

1.2.4.Một số nghiên cứu về bệnh vi khuẩn trên cá Gghé

Bệnh do vi khuẩn A hydrophyi la

Cá bệnh xuất hiện đốm đỏ trên da cá, tập trung nhiều ở gốc vây, xungquanh miệng Hoại tử đuôi, xuất hiện các vết thương trên lưng, các khối u trên

bề mặt cơ thể, hậu môn xuất huyết Mắt lồi, mờ đục và phù ra Bụng trướng to

có chứa dịch màu vàng, các nội tạng như ruột, bóng hơi, tuyến sinh dục cũngxuất huyết Gan tái nhạt, thận, tỳ tạng sưng to, mềm nhũng, màu đỏ sậm [8]

Hình 1.2 Biểu hiện bệnh lý của cá

Trang 21

+ Bệnh do vi khuẩn Shewanella gelidimarina Bowman et al 1997

Cá bị bệnh có biểu hiện kém ăn, bơi lờ đờ trên tầng mặt, da mất nhớt,khô ráp Cá xuất hiện các vết loét tròn kiểu đồng xu ở các gốc vây ngực, vâybụng, các vết loét có thể ăn sâu vào cơ, hậu môn viêm, xuất huyết, bụng cóthể chướng to Giải phẫu cơ quan nội tạng, ruột không có thức ăn, gan sưng,xuất huyết cục bộ [8]

Hình 1.3 Biểu hiện bệnh lí của cá

+ Bệnh do vi khuẩn Streptococcus spp

Dấu hiệu chung khi quan sát dấu hiện bên ngoài cá nhiễm bệnh là sựkém ăn hoặc bỏ ăn, cá nổi lờ đờ trên tầng mặt, thân mất nhớt và khô ráp, xuấthiện các đốm xuất huyết màu đỏ trên thân, các gốc vây, quanh miệng, cóđường kính từ 2 - 3 mm và những vết loét này nhanh chóng vỡ ra tạo thànhnhững vết lở loét xuất huyết không lành Ở cá bị bệnh có thể xuất hiện nhữngvết loét lớn hơn ở vây ngực và phần đuôi, các tia vây có thể có hiện tượng xơrách Một số cá thể bị bệnh có hiện tượng trướng bụng, khi giải phẫu nội tạngthường quan sát thấy các hiện tượng như xuất huyết, xoang bụng có chứanhiều dịch có mùi hôi thối [7]

Hình 1.4 Biểu hiện bệnh lí của cá

Trang 22

Hai loại vi khuẩn Streptococcus spp và Staphylococcus spp đều cùng có

hình dạng tế bào giống nhau, phát triển trên môi trường Nutrien Agar, cùng là

vi khuẩn gram dương, bắt màu xanh tím với thuốc nhuộm, liên kết các tế bàovới nhau để thành chuỗi Song điểm khác nhau cơ bản giữa chúng là

Staphylococcus spp phản ứng dương tính với Catalase, còn Streptococcus spp

phản ứng âm tính Kết quả thử cho thấy vi khuẩn thu được âm tính vớiCatalase, điều này giúp khẳng định vi khuẩn mà chúng tôi phân lập được là

Streptococcus spp.

Streptococcus spp là nguyên nhân gây bệnh phổ biến trên cá nước ngọt, đặc

biệt là trên cá Rô phi, làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của ngành nuôitrồng thủy sản thế giới Ước tính thiệt hại hằng năm khoảng 150 triệu USD(dẫn theo Đinh Thị Thủy, 2007)

Tại Việt Nam, mặc dù chưa có những thống kê cụ thể về thiệt hại do vikhuẩn này gây ra trên các đối tượng nuôi nhưng sức tàn phá nghiêm trọng của

nó có thể thấy rõ trong những năm gần đây tại nhiều địa phương như HảiDương, Nam Định, Bắc Ninh, Hà Nội, dịch bệnh gây chết cá với số lượnglớn, ở mọi cỡ cá đặc biệt nhiều ở cá có kích cỡ lớn đặc biệt nghiêm trọng trên

cá rô phi [16]

- Bệnh ký sinh trùng

So với một số đối tượng cá da trơn khác như nghiên cứu năm 2005 trên

cá Lăng chấm (Hemibagrus guttatus) cho kết quả tỷ lệ nhiễm (33,3% - 50%) với Trichodinas sp và Silurodiscoides sp ký sinh trên mang và da [17] Hay kết quả khảo sát mức độ nhiễm ký sinh trùng trên cá Tra (Pangasianodon

hypophthalmus) nuôi thâm canh trong lồng bè ở An Giang cho kết quả tỷ lệ

nhiễm 73,6% với 13 loài ký sinh trùng ngoại ký sinh [8] Đối với cá Ghé giaiđoạn nuôi thương phẩm trong lồng bè và nuôi thuần dưỡng, chưa phát hiệnthấy loài ký sinh trùng nào [7]

Trang 23

1.2.5 Tình hình nghiên cứu tính mẫn cảm kháng sinh

Để xác định được loài kháng sinh chữa bệnh do 1 vi khuẩn gây ra tathường thử kháng sinh đồ Qua trình thử kháng sinh đồ được tiến hành thườngxuyên để xác định loại kháng sinh tốt nhất Thực tế cho thấy sự mẫn cảm của

vi khuẩn đối với các loại kháng sinh ngày càng hẹp dần do nhu cầu sử dụngkháng sinh trong nuôi trồng thủy sản ngày một cao cho nên vi khuẩn đã khángđược thuốc Trong vài năm gần đây các nhà nghiên cứu đã liên tục tìm ra cácloại thuốc mới để thay thế cho những loại kháng sinh cũ bị vi khuẩn kháng lại

và đồng thời cũng để thay thế các loại thuốc đã cấm sử dụng

Một số thí nghiệm chứng minh sự mẫn cảm của vi khuẩn đối với khángsinh Một số thí nghiệm chứng minh sự mẫn cảm của vi khuẩn đối với kháng

sinh Theo Waltman và Shotts (1986), tỷ lệ chủng Edwardsiealla ictaluri

phân lập được cá Nheo Mỹ bị bệnh thì 100% nhạy cảm với sufamethoxazol/Trimethoprim [50]

MiZon (1987) đã thử nghiệm tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn

phân lập được từ cá bị bệnh và ông thấy rằng vi khuẩn Aeromonas

hydrophyla mẫn cảm với Tetracylin và Kanamycin [36].

Ở Ấn Độ, D Saha và et.al (2002) đã thử nghiệm tính mẫn cảm của vi

khuẩn Pseudomonas sp và Aeromonas sp đối với một số loài kháng sinh thì

thấy tất cả vi khuẩn phân lập được đều mẫn cảm với Oxytetracyclin 75%,Kanamycin 62,5%, Chloramphenicol 68,75%, Norfloxacin 75%, steptomycin56,25%, Penicilin12,5%, Gentamycin 62,5%, Erothomycin 6,25%, Co-Trimoxazole 43,75%, Amoxycylin 50%, Ampicillin 6,25% Đồng thời Saha

và Pal cũng đã chứng minh tất cả các mầm bệnh do Pseudomonas sp và

Aeromonas sp đều đều dễ mẫn cảm với Chloramphenicol, Nalidixic axid và

Oxytetracyclin [36]

Theo Anissa và et al (2003) đã thử nghiệm tính mẫn cảm kháng sinh đốivới vi khuẩn gây bệnh trên cá Nheo Mỹ thì thấy vi khuẩn nhạy cảm hoàn toànvới kháng sinh Florfenicol và Amoxycylin Nhưng một thời gian phát triển

Trang 24

nghề nuôi và dịch bệnh xảy ra thường xuyên, người nuôi đã sử dụng nhiềuloại kháng sinh để phòng trị bệnh Cho nên tính mẫn cảm của kháng sinh đã

có những thay đổi từ 100% xuống 57,5% đối với Florfenicol và còn 51,6%đối với Amicycillin

Ở Ba Lan (2004), Leszek Gus và Alicja Kozinska đã phân lập được 2

loài Aeromonas hydrophyla và Aeromonas sobria trên cá Trê bị bệnh và sau

đó đã tiến hành thử nghiệm tính mẫn cảm của 2 vi khuẩn này đối với kháng

sinh Kết quả cho thấy Aeromonas hydrophyla và Aeromonas sobria mẫn cảm

với Trimethoprim- Sulphamides, Oxalinic axid, Flumequie, Chloramphenicol,Norfloxacin, Linkomycin, Pefloxacin và 100% kháng khuẩn lại Ampicillin,pencillin

Truong Thy Ho đã tiến hành nghiên cứu tính mẫn cảm kháng sinh của vikhuẩn phân lập từ cá Tra nuôi trong ao của Việt Nam thì thấy 58 loài vi khuẩn

Edwardsiella ictaluri phân lập được đều mẫn cảm với 10 loại kháng sinh.

Loại mẫn cảm cao nhất là Ciprofloxacin là 74,1%, Doxycyclin là 68,9% và

Oxytetracyclin 63,7%, và tất cả loài Edwardsiella ictaluri kháng với

Erythromycin, Sulphamethoxazole/Trimethoprim Hai loài Aeromonas

hydrophyla phân lập được đều mẫn cảm với Sulphamethoxazole, Trimethoprim,

Doxycyclin, Florfenicol, kháng lại Amoxycillin và Ampicillin [36]

Ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu tính mẫn cảm

kháng sinh đối với vi khuẩn trên cá da trơn Theo Từ Thanh Dung và ctv(2003) đã thử nghiệm tính mẫn cảm của kháng sinh đối với vi khuẩn cá Tra

cho thấy vi khuẩn Edwardsiella ictaluri mẫn cảm hoàn toàn với Amoxycylin

và Florfenicol, 100% kháng thuốc Oxytetracycline, Oxolinic acid vàSulphonamid [24]

Năm 2003, Lý Thị Thanh Loan nghiên cứu tính mẫn cảm của vi khuẩn A.

hydrophyla, A sobria, A caviea, Pseudomonas fluorescens và Edwardsiella tarda với kháng sinh Kết quả vi khuẩn A caviea mẫn cảm cao nhất đối với

Kanamycin nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) là 30(µg), đường kính trung bình

Trang 25

26,06mm Tiếp sau đó là vi khuẩn A sobria mẫn cảm kháng sinh với đường kính vòng vô khuẩn là 21,90mm, Mic là 20 (µg) Vi khuẩn Edwardsiella

tarda với đường kính vòng vô khuẩn là 29,13mm, MIC là 30(µg) Vi khuẩn Pseudomonas fluorescens với đường kính vòng vô khuẩn là 21,20mm, MIC là

9 (µg) Đối với kháng sinh Erythromycin thì vi khuẩn Edwardsiella tarda có

mẫn cảm cao với đường kính vòng vô khuẩn là 29,13mm, MIC là (µg), 4 loại

vi khuẩn còn lại có mẫn cảm trung bình với kháng sinh, vi khuẩn có tính mẫn

cảm thấp nhất là vi khuẩn Pseudomonas fluorescens với đường kính vòng vô

khuẩn là 15,42mm [10]

Trần Thị Thanh Tâm (2003) đã kiểm tra tính mẫn cảm kháng sinh đối

với vi khuẩn gây bệnh đốm trắng cho cá Tra thì thấy vi khuẩn Hafnia alvei và

Plesiomonas shigelloides mẫn cảm với kháng sinh Enrofloxacin, Kanamycin,

Gentamycin, Amoxycylin, Cephlexin, Neomycin và Norfloxacin

Nguyễn Hữu Thịnh (2007) đã tiến hành thử nghiệm tính mẫn cảm của vi

khuẩn Edwardsiella ictaluri gây bệnh trên cá Tra ở Cần Thơ, Vĩnh Long, An

Giang, Bến Tre Kết quả cho thấy vi khuẩn mẫn cảm với Doxycyclin là72,3%, Florfenicol là 57,5%, Oxytetracycline là 68,1%, Sulphamethoxazole/Trimethoprim là 0% Ông thấy Florfenicol là loại kháng sinh cho kết quảkháng sinh đồ tốt nhất vì vậy nó được lựa chọn là loại kháng sinh có khảnnăng điều trị được bệnh đốm trắng ở cá Tra [16]

Theo Nguyễn Đức Hiền (2008), tiến hành so sánh tính nhạy cảm củakháng sinh đối với vi khuẩn gây bệnh cho cá Tra kết quả như sau:

Bảng 1 13 : So sánh độ nhạy cảm của các loại kháng sinh đồ đối với vi

khuẩn Pseudomonas sp và Aeromonas sp phân lập được trên cá Tra bị

bệnh xuất huyết

Năm Độ nhạy (%) các loại kháng sinh khảo sát

Doxy Flor Flum Norf Enro AmoxNăm 2006(n=104) 78,22 81,1 65,3 65,12 72,22 22,5

Trang 26

Năm 2007(n=194) 69,23 57,7 52,9 38,5 42,3 10Tháng 1 – 3/2008 (n=87) 54,2 32,8 43,9 46,1 32,8 4,2

1.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng thảo dược trong phòng trị bệnh ở động vật thuỷ sản

1.3.1 Trên thế giới

Hiện nay việc phòng, trị bệnh cho tôm, cá bằng thảo dược đang trởthành xu hướng của các nhà NTTS, khắc phục tình trạng lệ thuộc vào hoáchất, kháng sinh, nhằm tạo ra sản phẩm đảm bảo an toàn thực phẩm, tiết kiệmkinh tế, góp phần bảo vệ môi trường bền vững đồng thời nâng cao sản lượngxuất khẩu đảm bảo đáp ứng nhu cầu thị trường Thế giới Trong đông y, mộtphương thuốc có thể sử dụng kết hợp rất nhiều vị thuốc khác nhau Chính sựkết hợp tài tình đó đã tạo nên hiệu quả lớn trong việc sử dụng các bài thuốcđông y để phòng và trị bệnh cứu người Vậy thì con người có thể xem như mộtloài động vật tiến hóa cao nhất Nếu thảo dược có thể chữa bệnh cứu người,vậy tại sao lại không phòng và chữa được bệnh cho những động vật khác?

Trong khi đó vấn đề dư lượng thuốc kháng sinh và các hóa chất độc hại

đã và đang làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của con người, vật nuôi, môitrường xung quanh, mặt khác nó còn làm ảnh hưởng đến ngành xuất khẩuthủy sản của các nước Hơn thế nữa việc sử dụng kháng sinh từ thảo dược cónhững lợi ích thiết thực như: chi phí thấp, dễ kiếm, dễ sử dụng, an toàn vớivật nuôi, không gây hại cho con người và thân thiện với môi trường [20]

Trang 27

Chính vì những lợi ích như vậy, hiện nay có rất nhiều nước trên thế giới quantâm nghiên cứu ứng dụng thảo mộc vào trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản.Trong đó phải kể đến những nước có ngành nuôi trồng thủy sản tương đốiphát triển như các nước thuộc châu Á như: Ấn Độ, Trung Quốc, Banglades,Thổ Nhĩ Kỳ, Malaysia,… [34].

Một số tác giả T Rahman, MMR Akanda, MM Rahman, MBRChowdhury đã nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của thuốc kháng sinh và cácloại thảo dược đối với một số loại vi khuẩn gây bệnh phổ biến trên cá Thínghiệm được tiến hành với 4 loại thuốc kháng sinh là: CFCIN (Ciprofloxacin), Renamycin (Oxytetracycline), Dt – 10 (Doxycycline) và Sulfatrim(Sufadiazin + Trimethoprim) với các liều lượng 100, 75, 50 và 25 ppm; 4 loại

thảo dược là: Tỏi, Nghệ, Akand (C.gigentia) và hỗn hợp Akand + Neem (A.

indica) với các nồng độ là 2, 4, 6, 8 mg/ml Thí nghiệm tiến hành lần lượt đối

với cá bị nhiễm 1 trong 3 chủng vi khuẩn gây bệnh phổ biến là: Aeromonas

hydrophyla, Pseudomonas fluorescens và Edwardsiella tarda [23]

*Ở Trung Quốc: Khuê Lập Trung (1985) đã đưa ra 22 loài thảo dược,

chủ yếu phòng trị bệnh nhiễm khuẩn, ngoại ký sinh và bệnh đường ruột chotôm, cá, nhuyễn thể Các loài thảo dược bao gồm: Xuyên tâm liên, Địa niênthảo, Lưu Xổ tử, Quản trọng, Ngũ Bội tử, Tiền thảo…… Nghiên cứu về tínhmiễn dịch đặc hiệu trên cá Rô phi đã được thử nghiệm đối với 2 loại thảo

dược cây Hoàng kỳ (Astralagus radix) và rễ cây Hoàng cầm (Scutellavia

radiis) Kết quả: Astralagus radix cho ăn với nồng độ 0,1% và 0,5% trong

thời gian 3 tuần cho hiệu quả tối ưu nhất; còn đối với Scutellavia radiis cần có

thêm thí nghiệm để tìm ra nồng độ và thời gian cho ăn thích hợp [30]

Cũng một nghiên cứu khác tại Trung Quốc về tính miễn dịch trên cáChép được thử nghiệm đối với một số loại thảo mộc: rễ và thân cây Hoàng kỳ

(Astragalus mempranaceus), rễ cây Hà thủ ô (Poligonum multiflorum), rễ cây

Bọ mẩy (Isatis tinctoria) và thân cây Cam thảo (Glycyrrhida grabra) được trộn

Trang 28

lẫn với nhau, cho cá Chép ăn 0,5% và 1% trong thời gian 30 ngày, kết quả chothấy hỗn hợp thảo dược giúp tính miễn dịch của cá tăng lên đáng kể [30].

Một nghiên cứu khác của các nhà nghiên cứu người Trung Quốc kếthợp với người Ấn Độ về khả năng kháng lại bệnh vi rút Đốm trắng trên tôm

Sú (Penaeus monodon) của dịch chiết 5 loại thảo dược (Cyanodon dactylon,

Aegle marmelos, Tinospora cordifolia, Picrorhiza kurooa và Eclipta alb) đã

cho thấy: lô thí nghiệm tôm cho ăn thức ăn có trộn dịch chiết 5 loại thảo dược

với nồng độ 800 mg/kg thức ăn, sau 25 ngày có tỷ lệ sống đạt trên 74%

(P<0,0001), trong khi đó lô đối chứng sau 7 ngày tôm đã chết hết [36]

Ở Thổ Nhĩ Kỳ, các tác giả Hakar Turker, Arzu Birinci Yildirim vàFatma Pehlivan Karakas đã tiến hành thử nghiệm khả năng kháng khuẩn của

22 loại thảo dược có ở địa phương đối với một số chủng vi khuẩn phổ biến

gây bệnh trên cá như: Aeromonas hydrophyla, Yersinia ruckeri, Lactococcus

garvieae, Streptococcus agalactiae và Enterococcus faecalis Các loại thảo

dược được chiết xuất với 2 loại dung môi là cồn và nước Kết quả dịch chiếtcác loại thảo dược cho khả năng kháng khuẩn cao nhất bao gồm: Nupharlutea, Nymphaea alba, Stachys annua, cây kim tước chỉ Lydia, Vinca nhỏ,Fragaria Kết quả này cho thấy có thể tiếp tục nghiên cứu các loại thảo dượctrên để cho ra sản phẩm thay thế dần thuốc kháng sinh hiện nay [29], [37]

Ở Ấn Độ, một số tác giả Subramanian Velmurugan, ThavassimuthuCitarasu đã nghiên cứu ảnh hưởng của các chiết xuất từ một số thảo dượcMurraya koenigii, Psoralea corylifolia và Quercus infectoria đối với một số

chủng vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa, Staphylococcus aureus và các vi khuẩn Vibrio harveyi được phân lập từ tôm trắng Ấn Độ (Fenneropenaeus

indicus) bị bệnh Biện pháp áp dụng là nghiên cứu nồng độ ức chế tổi thiểu

của chiết xuất từ các thảo dược trên đĩa thạch nghiêng có cấy vi khuẩn sau24h Sau đó thử nghiệm bằng cách trộn chiết xuất từ các thảo dược vào thức

ăn và cho tôm ăn liên tục trong 30 ngày và cứ 10 ngày một lần cho tôm tắm

trong dung dịch có pha vi khuẩn gây bệnh Vibrio harveyi để theo dõi tỉ lệ mắc

Trang 29

bệnh và tỷ lệ sống sót giữa nhóm kiểm soát và nhóm đối chứng Ngoài ra thựcnghiệm cũng tiến hành kiểm tra hệ vi sinh vật đường ruột của tôm sau khi cho

ăn thức ăn có trộn thảo dược và so sánh với nhóm đối chứng Bởi vì vi sinhvật đường ruột cũng là những tác nhân cơ hội gây bệnh khi sức đề kháng củavật chủ bị suy giảm Kết quả cho thấy có sự thay đổi đáng kể trong các thửnghiệm nói trên giữa các loại thảo dược và giữa nhóm kiểm soát với nhóm đốichứng (P < 0,05) [24]

Ngoài ra một số nước khác như Thái Lan, Malaysia cũng có nhữngnghiên cứu về các loại thảo dược trong nước trong phòng và trị bệnh trên thủysản nhằm mục đích hướng tới một ngành thủy sản xanh, với mục tiêu hạn chế dưlượng thuốc kháng sinh và các hóa chất độc hại trong các sản phẩm thủy sản

1.3.2 Ở Việt Nam

Việc sử dụng các loài cây quen thuộc trong vườn để trị các bệnh thôngthường như đường ruột, bệnh đường hô hấp, mụn nhọt, vết thương… chongười đã có từ xa xưa Nó đã khẳng định các loại cây có thể sử dụng trongphòng và trị bệnh nuôi trồng thủy sản

Theo y học cổ truyền, phần lớn những cây thuốc có tác dụng chữa bệnhnhiễm khuẩn đã được xếp trong nhóm thuốc thanh nhiệt giải độc, táo thấp,thuốc khử hàn, như alicin trong tỏi, odorin trong hẹ, [14]

Từ thế kỷ XIV, Đại y thiền sư Tuệ Tĩnh đã sử dụng nhiều thảo mộc nhưtỏi, hẹ, tô mộc, hạt cải, trầu không để trị một số bệnh viêm nhiễm

Từ giữa thế kỉ XX, theo kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Ngữ (1956)trên 500 loài cây thuốc, đã khẳng định rằng nhiều cây có tác dụng khángkhuẩn rất lớn Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hưởng và cộng sự(1959), trên 1000 cây thuốc, chỉ ra rằng kháng sinh thực vật sử dụng rất antoàn, có tác dụng mạnh, nhóm nghiên cứu đã đưa ra chế phẩm cây tô mộc trịbệnh tiêu chảy

Trang 30

Trong công trình nghiên cứu của Bùi Quang Tề và Vũ Thị Tám có đềcập đến ý kiến của Nguyễn Ngọc Hạnh và cộng sự về nghiên cứu thử nghiệmthành công các hợp chất chiết xuất từ thảo dược, như Hepato và Alixin có tácdụng hỗ trợ tiêu hoá tốt, giúp tôm khoẻ mạnh, sinh trưởng bình thường, cókhả năng chống nhiễm bệnh đặc biệt các bệnh về gan Trong đó Hepato cócông dụng hỗ trợ và bảo vệ gan phòng và trị bệnh về gan như MBV và teogan [19].

Nghiên cứu khác của Phan Xuân Thanh và cộng tác viên (2002) đã xácđịnh được chất: 2-hydroxy-6-pentandecatrienilbenzoat có nguồn gốc từ thảodược, có tác dụng phòng trừ các bệnh do vi khuẩn và nấm gây ra Nhằm mụcđích sử dụng các hoạt chất sinh học thay thế các hoá chất độc và kháng sinhtrong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản

Trong báo cáo “Sử dụng kháng sinh thảo mộc phòng và chữa trị một

số bệnh nhiễm khuẩn trong nuôi động vật thuỷ sản”, Nguyễn Thị Vân Thái vàctv đã trình bày về khả năng sử dụng y dược y học cổ truyền trong phòng vàchữa trị một số bệnh nhiễm khuẩn cho tôm cá, động vật thân mềm… thay thếcác thuốc kháng sinh hiện đang phổ biến trên thị trường Các tác giả đã đưa raphương pháp phòng bệnh bằng thức ăn bổ trợ có tác dụng tăng cường sức đềkháng của động vật thuỷ sản

Trong một nghiên cứu vào năm 2006, Nguyễn Viết Khuê và ctv chothấy trong số những người được phỏng vấn có 41,33% người nuôi sử dụngthảo dược, phổ biến là tỏi và lá xoan, 15% dùng không hiệu quả, 85% đạt hiệuquả từ ít đến nhiều Việc nghiên cứu thành phần các hợp chất có trong thảomộc là cơ sở nghiên cứu cho ra các sản phẩm thuốc ứng dụng phòng trị bệnhđộng vật thuỷ sản nói riêng

Từ những nghiên cứu thử nghiệm trên, đã có một số loại thảo dược ứngdụng vào sản xuất và tiêu thụ trên thị trường, phục vụ nhu cầu phòng trị bệnhcho các đối tượng thủy sản điển hình như: Thuốc KN-04-12 là sản phẩm phốichế của đề tài cấp nhà nước mã số KN-04-12 năm 1990-1995 Thành phần

Trang 31

thuốc bao gồm các cây thuốc có kháng sinh thực vật (tỏi, sài đất, nhọ nội, cỏsữa, chó đẻ răng cưa….), vitamin và một số vi lượng khác Thuốc có tác dụngphòng và trị bệnh nhiễm khuẩn như đốm đỏ, thối mang, viêm ruột của cá nuôilồng hoặc nuôi ao Khi cá có dấu hiệu ban đầu của bệnh nhiễm khuẩn có thểtrị bằng cách cho tỏi (0,5 kg tỏi/100 kg cá) và bổ sung 0,3% muối ăn trongthức ăn viên cho cá ăn, hiệu quả đạt được rất tốt [3]

Năm 2005, Bùi Quang Tề, Lê Xuân Thành và cộng tác viên đã nghiêncứu thành công hai loại chế phẩm thảo dược VTS1-C, VTS1-T phối chế từ

các hoạt chất chiết tách từ tỏi (Allium sativum L ), sài đất (Weledia

calendulacea) sử dụng phòng bệnh cho tôm cá, kết quả cho thấy tỏi, sài đất

đều có tác dụng với cả 6 loài vi khuẩn: Vibrio parahaemolyticus, V.harveyi,

V.alginolyticus, Aeromonas hydrophyla, Edwardsiella tarda và Hafnia alvei

gây bệnh ở nước ngọt, nước lợ mặn[2]

Năm 2006, Thuốc BecaNor 1 và BecaNor 2 là 2 sản phẩm với thànhphân chính là tỏi và gừng bước đầu đã có hiệu quả rất tốt trong việc phòng vàtrị bệnh đốm đỏ ở qui mô phòng thí nghiệm và thử nghiệm ngoài thực địa tại

3 tỉnh Quảng Ninh, Nam Định, Hà Giang phòng bệnh cho cá trắm cỏ bướcđầu cho kết quả tốt Ở Quảng Ninh và Nam Định, cá trắm cỏ cho ăn thuốcphòng đã không nhiễm bệnh trong khi đó ở các lô đối chứng vẫn có hiệntượng cá chết do nhiễm bệnh vi khuẩn Tại tỉnh Hà Giang, tỷ lệ chết giảm từ100% xuống còn 40% khi cho cá ăn thuốc phòng Tuy nhiên, việc thử nghiệmchưa được thực hiện trên diện rộng nên chưa khẳng định được hiệu quả củacác dược thảo này đồng thời chưa được áp dụng rộng rãi [19]

Năm 2007, Nguyễn Ngọc Phước và ctv đã tiến hành nghiên cứu sửdụng lá trầu không để trị bệnh do nấm gây ra trên đối tượng nuôi động vậtthuỷ sản Bước đầu đã có kết quả tốt ở quy mô phòng thí nghiệm Nồng độ ứcchế tối thiểu của dịch chiết lá trầu với cả hai loại dung môi là nước cất và

ethanol đối với họ nấm Saproleginaceae và nấm Achlya spp là 2.500ppm; 1.250ppm đối với chủng Aphanomyces piscicida Ở nồng độ cao nhất

Trang 32

10.000ppm, dịch chiết lá trầu có thể tiêu diệt được 5 chủng nấm thí nghiệm

Saprolegnia dicilina; Saprolegnia diclina; Saprolenia parasitica; Achlya spp; và Aphanomyces piscicida (Phước; Lan; Linh; Hatai.K, 2006) Cũng tại

đại học Huế mọt nhóm tác giả khác có nghiên cứu và cho kết luận rằng tỏi và

lá trầu không là hai loại thảo dược có khả năng diệt khuẩn rất tốt đối với

A.hydrophyla gây bệnh lở loét cho cá trắm cỏ (Linh, 2006)

Năm 2008, Trương Thị Mỹ Hạnh và ctv đã nghiên cứu khả năng khángkhuẩn của dịch ép từ lá hẹ, trầu không và đinh lăng Kết quả cho thấy Hẹ có

tính kháng vi khuẩn Aeromonas hydrophyi la và Streptococcus spp gây bệnhtrướng bụng, xuất huyết trên cá rô phi nuôi với đường kính vòng vô khuẩn đạt

>25mm với lượng sử dụng 100µl/khoanh Hiệu quả tính kháng khuẩn của hẹgiảm mạnh khi có tác động của nhiệt độ ở 1500C, đường kính vòng vô khuẩn

chỉ đạt 5mm Kết quả phòng và trị bệnh cá rô phi nhiễm khuẩn Aeromonas

hydroph yi la và Streptococcus sp trong quy mô phòng thí nghiệm ướt khi sử

dụng nước ép lá hẹ trộn vào thức ăn viên đạt được tỷ lệ sống 50% so với lô thínghiệm đối chứng Ngoài ra, hẹ còn có tính diệt nấm ở nồng độ 15.000ppmtrong 6h và ở 13.000ppm ở 24h Riêng đối với đinh lăng, chè xanh kết quả

cho thấy chúng không có tính kháng vi khuẩn Aeromonas hydrophyi la và Streptococcus sp gây bệnh trướng bụng, xuất huyết trên cá rô phi nuôi với

lượng sử dụng 250µl/khoanh, trầu không có tính kháng vi khuẩn Aeromonas

hydroph yi la và Streptococcus sp nhưng ở mức độ kém với đường kính vòng

vô khuẩn đạt 10mm ở lượng sử dụng 250µl/khoanh

Nghiên cứu của Huỳnh Kim Diệu, Đại học Cần Thơ về khả năng khángkhuẩn của 30 cây thuốc thuộc các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, thườngđược dân gian sử dụng trị viêm nhiễm, được thử hoạt tính kháng khuẩn, xácđịnh nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) bằng phương pháp khuếch tán trên thạch

và pha loãng trong thạch trên các chủng vi khuẩn gây bệnh trên cá:Edwardsiella ictaluri, Edwardsiella tarda và Aeromonas hydrophila Kết quảcho thấy các cây thuốc này đều có khả năng kháng khuẩn (MIC=16-

Trang 33

2048μg/ml) Hoạt phổ mạnh trên cả 3 loại vi khuẩn thử nghiệm là Bàng, Ổi,Trầu không, Tràm (MIC=64-512 μg/ml) Tác động mạnh nhất trênAeromonas hydrophila là Bàng (MIC=128 μg/ml); trên Edwardsiella ictaluri

là Sâm đại hành (MIC=16 μg/ml); trên Edwardsiella tarda là Rau mương(MIC=32 μg/ml) Trong các cây có khả năng kháng khuẩn mạnh, cây Ổi cóhiệu suất chiết xuất cao nhất (5,37%) và kế đến là cây Tràm (3,37%) Kết quảnghiên cứu cho thấy tiềm năng của cây thuốc nam có thể thay thế kháng sinhphòng trị bệnh cho cá trong tương lai

Nghiên cứu thực nghiệm về dịch ép lá ổi (Psidium guajava) có tính

kháng khuẩn đối với vi khuẩn Streptococcus spp và giảm dần ở các mức pha

loãng, trong đó kháng khuẩn tốt là lá ổi với đường kính vòng vô khuẩn đạt20,63 mm còn cỏ mực đạt mức trung bình với đường kính vòng vô khuẩn là12,44mm Bên cạnh đó, nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến khả năng kháng khuẩncủa các loại thảo dược, lá ổi đạt tốt ở 20oC và 35 oC, trung bình ở 25oC và

30oC còn cỏ mực kháng khuẩn chỉ đạt mức trung bình ở 25oC và 30 oC, yếu ở

20oC và 35oC Dịch ép lá ổi với liều lượng 300ml và 400 ml/kg thức ăn có khả

năng phòng bệnh tốt đối với cá trê lai bị bệnh do vi khuẩn Streptococcus spp,

tỷ lệ sống đạt lần lượt là 83,33% và 86,67% Dùng liều lượng 300ml/kg thức

ăn có thể trị khỏi bệnh sau 7 ngày nuôi, tỷ lệ sống đạt 50% [Trần Ngọc Hùng

và ctv, 2012]

1.3.4 Tỏi (Allium sativum L.)

Từ lâu đời, tỏi được nhân dân xem là một loại dược liệu có vị cay, hôi,tính ấm, có tác dụng sát khuẩn, giải độc, tiêu đờm, trừ giun Củ tỏi có kíchthước trung bình từ 2 ÷6 cm, có màu trắng, mỗi củ có từ 12÷20 tép

- Thành phần hóa học

Trong củ tỏi có chứa 0,1-0,36% tinh dầu,

trong đó hơn 90% chứa các hợp chất lưu huỳnh

(S) Thành phần kháng thuốc chủ yếu là chất

Hình.1.5 Củ tỏi ta

Trang 34

alicin (C6H10OS2) có khả năng diệt khuẩn mạnh, ở động vật thủy sản nó có tácdụng rất tốt với các vi khuẩn gam (-) Trong tỏi tươi không có chất alicin nóchỉ được hình thành khi tỏi đã được phơi khô Ngoài ra củ tỏi còn chứa nhiềuvitamin và chất khoáng [14].

H×nh 1.5 Cñ tái ta

- Tác dụng

Thành phần kháng khuẩn chủ yếu của tỏi là chất alicin (C6H10OS2), đây

là một chất sulfur có tác dụng diệt khuẩn mạnh, phổ diệt khuẩn rộng với nhiềuloài vi khuẩn như: thương hàn, phó thương hàn, lỵ, tả, trực khuẩn, bạch hầu,

vi khuẩn gây thối rữa [14]

Data (1948) đã phân lập từ Tỏi một chất gọi là allistalin, có tính chấtgiống như allicin; Machado (1948) cũng phân lập từ Tỏi chất garcin, nó làmột chất kháng khuẩn màu vàng, không có mùi lưu huỳnh, không độc, có tácdụng đến cả vi khuẩn Gram (-) và Gram (+) Garcin có thể dễ dàng hấp thuqua thành ruột và có thể đi tới dịch não tủy, đã ứng dụng có kết quả trong

nhiễm khuẩn Shigella hoặc do các bệnh ký sinh trùng như giun kim, giun đũa

và giun tóc Các nhà khoa học Mỹ đã tìm thấy chất prostagladin A trong nướcTỏi, có khả năng hạn chế bệnh nhồi máu cơ tim, hạ huyết áp, phòng bệnh xơvữa động mạch Các bác sĩ Nhật Bản lại nhận xét rằng do Tỏi chứa chấtallixotine nên Tỏi có tác dụng chữa đau lưng, viêm khớp Ngoài ra các nghiêncứu lâm sàng cũng cho thấy Tỏi có tác dụng chữa trị được nhiều căn bệnhnhư: các bệnh về tai, mũi, họng, bỏng nhiễm khuẩn và vết thương có mủ,dùng Tỏi để trị các loại giun, dùng nước ép Tỏi để trị viêm âm đạo trùng roi,chữa các bệnh về tim mạch [14] Theo kinh nghiệm của người dân, có thểdùng tỏi trộn vào thức ăn cho cá để trị bệnh viêm ruột ở cá Trắm cỏ

Đã có nhiều nghiên cứu về sử dụng tỏi trong phòng trị bệnh trên độngvật thủy sản Điển hình như sản phẩm KN-04-12, BecaNor 1, BecaNor 2 có tác

dụng phòng và trị bệnh đốm đỏ ở cá do Aeromonas hydrophyla [1] Sản phẩm VTS1-C, VTS1-T phòng trị bệnh do vi khuẩn Aeromonas hydrophyla,

Edwardsiella tarda, Hafnia alvei, Vibrio harveyi, V Alginolyticus ở cá và tôm

Trang 35

1.3.5 Củ Gừng (Zingiber Officinale Rose)

Là một loại cây nhỏ 5cm – 1m , thân rễ phình to thành củ Lá mọc so le,không cuống, có bẹ hình mác dài khoảng 15cm - 20cm, rộng 2cm, bẹ nhẵn,lưỡi bẹ nhỏ dạng màng Bộ phận dùng là củ Gừng có khắp nơi ở nước ta,được trồng làm gia vị nấu ăn, làm thuốc chữa bệnh hoặc xuất khẩu [14]

- Thành phần hóa học: Trong củ

gừng có trên 400 chất khác nhau, bao gồm2-3% tinh dầu (Zingiberen, D-camphen), 3-5% chất nhựa cay như zingeron, zingerol,shogaola(trong quá trình làm khô, chấtgingerol biến thành shogaol), chất béo, cácvitamin và chất khoáng như Kali, Canci,Sắt, Mangan, Kẽm [14]

- Tác dụng:

Gừng đã được dùng làm thuốc chữa bệnh từ cách đây hơn 5000 nămtrước vì các dược tính quý giá của nó Ở Miến Điện, gừng và nước ép cây cọđược dùng để chống bệnh cúm Người Trung Quốc sử dụng trà gừng đểphòng và chữa các chứng thông thường, làm kẹo gừng để chữa ho NgườiCônggô nghiền gừng với nhựa cây xoài thành nước uống có thể chữa báchbệnh Tại Ấn Đđộ, gừng được dùng để điều trị bệnh cảm cúm thông thường

và dùng để chống nôn Ở Nepan, gừng được trồng rộng rãi và sử dùng phổbiến như một gia vị, hoặc dùng để tạo hương cho các loại trà Theo FDA (cơquan quản lý dược phẩm và thực phẩm Hoa Kỳ) gừng được dùng cho phụ nữmang thai để điều trị chứng ốm nghén rất hiệu quả và an toàn Trà gừng đượcdùng để phòng chống tình trạng chuột rút do lạnh Ở Việt Nam, gừng đượcdùng để phòng chống cảm lạnh, nôn, say tàu xe và chữa ho rất hiệu quả Gừng

có tính chất chống viêm và có thể dùng để trị viêm khớp dạng thấp, viêmHình 1.6 Củ gừng

Trang 36

xương khớp và các rối loạn khác về cơ bắp Uống trà gừng, đắp bã, ngâm tay,chân trong nước gừng loãng mỗi tối 15-20 phút có thể chữa được các chứngviêm khớp Liệu pháp này có tác dụng giảm triệu chứng đau, sưng rất rõ rệt.Các thành phẩn hoá học trong gừng giúp ức chế sự sinh tổng hợp các chấtprostaglandin gây viêm Nhờ chứa chất Cineole nên gừng có thể giúp giải tỏastress, trị bệnh nhức nửa đầu, giúp cho giấc ngủ ngon và sảng khoái Gừngcòn làm dịu cơn đau răng và sự khó chịu gây ra bởi nhiễm khuẩn phần trêncủa đường hô hấp, nhờ vào tính chất kháng khuẩn và chống nấm của nó [37].

Ngày đăng: 31/10/2015, 09:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đức Quỳnh Anh, Lê Văn Bảo Duy, “Thử nghiệm hiệu quả phòng trừ vi khuẩn gây bệnh của bokashi trầu trên ao nuôi tôm ở xã Quảng Công, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế”, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 12/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm hiệu quả phòngtrừ vi khuẩn gây bệnh của bokashi trầu trên ao nuôi tôm ở xã Quảng Công,huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế”, "Tạp chí Nông nghiệp và phát triểnnông thôn
2. Đinh Thị Vân Chung (2012), Đánh giá khả năng kháng khuẩn của dịch ép một số loại thảo dược đối với vi khuẩn Pseudomonas spp gây bệnh lở loét trên cá Bống Bớp (Bostrichthys sinensis, Luận văn thạc sỹ sinh học, Trường đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng kháng khuẩn của dịch épmột số loại thảo dược đối với vi khuẩn Pseudomonas spp gây bệnh lở loéttrên cá Bống Bớp (Bostrichthys sinensis
Tác giả: Đinh Thị Vân Chung
Năm: 2012
3. Trần Thị Dung (2011), Đánh giá khả năng kháng khuẩn của dịch ép một số loại thảo dược đối với vi khuẩn Steptococcus Sp. gây bệnh xuất huyết trên cá rô phi vằn, luận văn thạc sỹ sinh học, Trường Đại Học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng kháng khuẩn của dịch ép một sốloại thảo dược đối với vi khuẩn Steptococcus Sp. gây bệnh xuất huyết trêncá rô phi vằn
Tác giả: Trần Thị Dung
Năm: 2011
4. Nguyễn Lân Dũng, Phạm Văn Ty, Dương Đức Tiến (1979), vi sinh vật học- tập 1, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: vi sinh vậthọc- tập 1
Tác giả: Nguyễn Lân Dũng, Phạm Văn Ty, Dương Đức Tiến
Nhà XB: NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1979
5. Nguyễn Lân Dũng (1987), Các phương pháp nghiên cứu vi sinh vật - Tập 1, tập 2, tập 3, Đại học tổng hợp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nghiên cứu vi sinh vật - Tập1, tập 2, tập 3
Tác giả: Nguyễn Lân Dũng
Năm: 1987
6. Trương Thị Mỹ Hạnh (2008), Nghiên cứu tính kháng khuẩn và kháng nấm của một số loại thảo mộc, Trang 25, Báo cáo đề tài khoa học (Thông tin KHCN Viện NCNTTS I, tháng 12/2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tính kháng khuẩn và kháng nấmcủa một số loại thảo mộc
Tác giả: Trương Thị Mỹ Hạnh
Năm: 2008
6. Phạm Công Hoạt (2012), Xác định đặc tính của vi khuẩn Aeromonas hydrophola phân lập từ mộ số loài cá nước ngọt bị bệnh xuất huyết đốm đỏ ở một số tỉnh Đồng Bằng Bắc Bộ, Tạp chí NN &amp;PTNN, Tháng 5/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định đặc tính của vi khuẩn Aeromonashydrophola phân lập từ mộ số loài cá nước ngọt bị bệnh xuất huyết đốm đỏở một số tỉnh Đồng Bằng Bắc B
Tác giả: Phạm Công Hoạt
Năm: 2012

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Cá Ghé (Bagarius rutilus Ng&amp;Kottelat, 2000) - Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch ép củ tỏi (Allium sativum L) và củ gừng (Zinziber officinale Rosc) đối với vi khuẩn aeromonas hydrophyla gây bệnh đốm đỏ trên cá ghé (bagarius rutilus NgKottelat, 2000)
Hình 1.1. Cá Ghé (Bagarius rutilus Ng&amp;Kottelat, 2000) (Trang 19)
Hình 1.2 Biểu hiện bệnh lý của cá - Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch ép củ tỏi (Allium sativum L) và củ gừng (Zinziber officinale Rosc) đối với vi khuẩn aeromonas hydrophyla gây bệnh đốm đỏ trên cá ghé (bagarius rutilus NgKottelat, 2000)
Hình 1.2 Biểu hiện bệnh lý của cá (Trang 20)
Hình 1.3. Biểu hiện bệnh lí của cá + Bệnh do vi khuẩn Streptococcus spp - Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch ép củ tỏi (Allium sativum L) và củ gừng (Zinziber officinale Rosc) đối với vi khuẩn aeromonas hydrophyla gây bệnh đốm đỏ trên cá ghé (bagarius rutilus NgKottelat, 2000)
Hình 1.3. Biểu hiện bệnh lí của cá + Bệnh do vi khuẩn Streptococcus spp (Trang 21)
Hình 1.4  Biểu hiện bệnh lí của cá - Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch ép củ tỏi (Allium sativum L) và củ gừng (Zinziber officinale Rosc) đối với vi khuẩn aeromonas hydrophyla gây bệnh đốm đỏ trên cá ghé (bagarius rutilus NgKottelat, 2000)
Hình 1.4 Biểu hiện bệnh lí của cá (Trang 21)
Hình 2.15 Các bước pha loãng nồng độ vi khuẩn - Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch ép củ tỏi (Allium sativum L) và củ gừng (Zinziber officinale Rosc) đối với vi khuẩn aeromonas hydrophyla gây bệnh đốm đỏ trên cá ghé (bagarius rutilus NgKottelat, 2000)
Hình 2.15 Các bước pha loãng nồng độ vi khuẩn (Trang 39)
Bảng 3.1 Một số đặc điểm và dấu hiệu nhận biết của vi khuẩn - Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch ép củ tỏi (Allium sativum L) và củ gừng (Zinziber officinale Rosc) đối với vi khuẩn aeromonas hydrophyla gây bệnh đốm đỏ trên cá ghé (bagarius rutilus NgKottelat, 2000)
Bảng 3.1 Một số đặc điểm và dấu hiệu nhận biết của vi khuẩn (Trang 46)
Bảng 3.2. Đặc điểm  sinh hóa của vi khuẩn Aeromonas hydrophyla gây - Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch ép củ tỏi (Allium sativum L) và củ gừng (Zinziber officinale Rosc) đối với vi khuẩn aeromonas hydrophyla gây bệnh đốm đỏ trên cá ghé (bagarius rutilus NgKottelat, 2000)
Bảng 3.2. Đặc điểm sinh hóa của vi khuẩn Aeromonas hydrophyla gây (Trang 47)
Bảng 3.3. Kết quả thử kháng sinh đồ của một số loại kháng sinh đối với vi - Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch ép củ tỏi (Allium sativum L) và củ gừng (Zinziber officinale Rosc) đối với vi khuẩn aeromonas hydrophyla gây bệnh đốm đỏ trên cá ghé (bagarius rutilus NgKottelat, 2000)
Bảng 3.3. Kết quả thử kháng sinh đồ của một số loại kháng sinh đối với vi (Trang 48)
Bảng 3.4.2. Đường kính vòng kháng khuẩn của dịch ép các loại thảo dược. - Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch ép củ tỏi (Allium sativum L) và củ gừng (Zinziber officinale Rosc) đối với vi khuẩn aeromonas hydrophyla gây bệnh đốm đỏ trên cá ghé (bagarius rutilus NgKottelat, 2000)
Bảng 3.4.2. Đường kính vòng kháng khuẩn của dịch ép các loại thảo dược (Trang 49)
Hình 3.1. . Vòng vô khuẩn của củ Ttỏi  và thuốc kháng sinh - Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch ép củ tỏi (Allium sativum L) và củ gừng (Zinziber officinale Rosc) đối với vi khuẩn aeromonas hydrophyla gây bệnh đốm đỏ trên cá ghé (bagarius rutilus NgKottelat, 2000)
Hình 3.1. Vòng vô khuẩn của củ Ttỏi và thuốc kháng sinh (Trang 51)
Hình 3.2.. Đường kính vòng kháng khuẩn của dịp ép củ tỏi ở các nồng độ khác nhau đối với chủng A - Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch ép củ tỏi (Allium sativum L) và củ gừng (Zinziber officinale Rosc) đối với vi khuẩn aeromonas hydrophyla gây bệnh đốm đỏ trên cá ghé (bagarius rutilus NgKottelat, 2000)
Hình 3.2.. Đường kính vòng kháng khuẩn của dịp ép củ tỏi ở các nồng độ khác nhau đối với chủng A (Trang 52)
Bảng 3.5.3 .  Khả năng kháng khuẩn của dịch ép từ củ Ttỏi   đối với - Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch ép củ tỏi (Allium sativum L) và củ gừng (Zinziber officinale Rosc) đối với vi khuẩn aeromonas hydrophyla gây bệnh đốm đỏ trên cá ghé (bagarius rutilus NgKottelat, 2000)
Bảng 3.5.3 Khả năng kháng khuẩn của dịch ép từ củ Ttỏi đối với (Trang 52)
Hình 3.84. Đường kính vòng vô khuẩn của dịch ép củ Ggừng đối với - Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch ép củ tỏi (Allium sativum L) và củ gừng (Zinziber officinale Rosc) đối với vi khuẩn aeromonas hydrophyla gây bệnh đốm đỏ trên cá ghé (bagarius rutilus NgKottelat, 2000)
Hình 3.84. Đường kính vòng vô khuẩn của dịch ép củ Ggừng đối với (Trang 55)
Hình  3.5.9.: Vòng kháng khuẩn của dịch ép củ Ggừng - Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch ép củ tỏi (Allium sativum L) và củ gừng (Zinziber officinale Rosc) đối với vi khuẩn aeromonas hydrophyla gây bệnh đốm đỏ trên cá ghé (bagarius rutilus NgKottelat, 2000)
nh 3.5.9.: Vòng kháng khuẩn của dịch ép củ Ggừng (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w