Biểu hiện viêm thực quản trên mô bệnh học được xác nhận thấy ởnhững trẻ mắc GERD đã cải thiện tự nhiên các triệu chứng lâm sàng.GERD có thể có thiên hướng di truyền: tính chất gia đình c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
BỘ MÔN NHI
CHUYÊN ĐỀ
TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN
( Gastroesophageal reflux )
Nhóm thực hiện: Nguyễn Duy Bộ
Nguyễn Thị Thu Huyền Đoàn Thị Ngọc Hoa Nguyễn Văn Long Kiều Ngọc Phú Dương Thị Thành
Lê Trọng Tú
Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Việt Hà
Hà Nội - 2013
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Trào ngược dạ dày thực quản là vấn đề về tiêu hóa thường gặp nhất ở trẻnhỏ với các biểu hiện thường gặp là nôn trớ Triệu chứng lâm sàng không chỉbiểu hiện ở hệ tiêu hóa mà còn ở các hệ cơ quan khác như hô hấp, tai mũi họng
Chẩn đoán trào ngược dạ dày thực quản thường là chẩn đoán lâm sàng.Tuy nhiên, hỏi bệnh và thăm khám bệnh ở trẻ dưới 8 tuổi tương đối khó Sự mô
tả triệu chứng của trẻ nhỏ thường khó khăn Các triệu chứng ở trẻ sơ sinh và trẻnhỏ thường không đặc hiệu Hiện nay không có xét nghiệm nào được coi là tiêuchuẩn vàng của chẩn đoán Mỗi xét nghiệm có tiện ích riêng và không phải cơ
sở y tế nào cũng có thể làm được tất cả các xét nghiệm
Việc chẩn đoán và điều trị trào ngược dạ dày thực quản mấy năm gần đây
có nhiều thay đổi và cập nhật mới
Vì vậy chúng em lựa chọn tìm hiểu và báo cáo chuyên đề “Trào ngược dạdày thực quản” với mục tiêu:
Cập nhật kiến thức trong chẩn đoán và điều trị trào ngược dạ dày thực quản ở trẻ em.
Hi vọng chuyên đề này giúp ích trong thực hành lâm sàng nhi khoa, đặcbiệt là trong thực hành lâm sàng tiêu hóa dinh dưỡng Đồng thời đối với chúng
em đây là những bước đầu tìm hiểu và tổng hợp tài liệu, do vậy rất mong được
sự chỉ bảo và giúp đỡ của thầy cô, anh chị và các bạn đồng nghiệp
Trang 41 ĐẠI CƯƠNG
Trào ngược dạ dày thực quản - Gastroeosophageal Reflux (GER) đượcđịnh nghĩa như là luồng trào ngược những chất chứa trong dạ dày qua cơ thắtthực quản dưới vào thực quản
Trào ngược dạ dày thực quản có thể là sinh lý hoặc bệnh lý Trào ngược
dạ dày thực quản sinh lý (GER) không ảnh hưởng đến sinh hoạt và phát triểnthể chất của trẻ Các cơn trào ngược sinh lý thường kéo dài không quá 3 phút vàxảy ra sau ăn Trào ngược dạ dày thực quản bệnh lý (GERD) khi xuất hiệnthường xuyên hơn và dai dẳng hơn gây ra suy dinh dưỡng, viêm thực quản hoặcmột số biến chứng hô hấp khác
Trào ngược dạ dày thực quản là vấn đề về tiêu hóa thường gặp nhất ở trẻnhỏ đặc biệt là trong mấy tháng đầu đời Ước tính có hơn 50% trẻ khỏe mạnh cótiền sử trào ngược DD - TQ trong 3 tháng đầu đời Con số này tăng lên 67% ởthời điểm 4 tháng tuổi Tuy nhiên, tình trạng này sẽ giảm dần khi trẻ lớn lên nhờ
sự hoàn thiện về cấu trúc của đường tiêu hóa và chế độ ăn cũng đặc dần Ở thờiđiểm 8 tháng tuổi thì có đến 85% trẻ bị trào ngược sẽ hết triệu chứng, và chỉkhoảng 5% trẻ tiếp tục vẫn bị trào ngược sau thời điểm 1 tuổi Nhóm trẻ này sẽ
dễ có nguy cơ xuất hiện các biến chứng của trào ngược, gây ảnh hưởng đến sựphát triển của trẻ và tình trạng trào ngược sinh lý trước kia giờ trở thành bệnhlý
Biểu đồ 1: Tỷ lệ GER ở trẻ em
Trào ngược dạ dày thực quản bệnh lý xuất hiện với tần suất 1/300 –1/1000 trẻ Trẻ nam mắc bệnh nhiều hơn trẻ gái, tỷ lệ trẻ trai mắc bệnh trong
Trang 5các nghiên cứu khoảng 60% 75% các trường hợp trào ngược dạ dày thực quảnlành trước 18 tháng, 20% tồn tại cho đến 4 tuổi, bệnh có tiện lượng tốt Triệuchứng ở trẻ lớn có xu hướng là mãn tính với những tổn thương vi thể niêm mạcthực quản Biểu hiện viêm thực quản trên mô bệnh học được xác nhận thấy ởnhững trẻ mắc GERD đã cải thiện tự nhiên các triệu chứng lâm sàng.
GERD có thể có thiên hướng di truyền: tính chất gia đình của triệu chứngcủa GERD, viêm thực quản nội soi, thoát vị khe, Barrett thực quản, và ung thưtuyến đã được xác định Trào ngược dạ dày thực quản được xem là như một rốiloạn liên tục có thừa kế phức tạp liên quan đến nhiều gen và các yếu tố môitrường Tính chất di truyền của GERD được khẳng định trong nghiên cứu vớicặp song sinh cùng trứng Một gen chi phối biểu hiện của GERD có triệu chứngtai mũi họng và hô hấp đã được xác định nằm ở nhiễm sắc thể 13q14, và cáclocus này được gọi là GERD1
2 SINH LÝ BỆNH
2.1 Cơ chế gây trào ngược
Hình 1: Cơ chế gây trào ngược
Bình thường dịch từ dạ dày không trào ngược lên thực quản được nhờmột hàng rào chống trào ngược gồm: cơ thắt thực quản dưới, chiều dài đoạnthực quản bụng, khe thực quản và dây chằng hoành - thực quản, góc Hiss, vanniêm mạc… Trong đó, cơ thắt thực quản dưới đóng vai trò quan trọng nhất.Dãn cơ thắt thực quản dưới thoáng qua đóng vai trò quan trọng nhất trong cơchế gây ra luồng trào ngược ở trẻ em
Trang 6Trào ngược xẩy ra khi hàng rào trên hoạt động không hiệu quả trước cácyếu tố thuận lợi gây ra trào ngược mà đặc biệt là sự tăng áp tực trong dạ dày.
2.1.1 Dãn cơ thắt thực quản dưới thoáng qua
Cơ thắt thực quản dưới là một đơn vị cơ thắt có ý nghĩa về sinh lý hơn làgiải phẫu Đó là phần tận cùng của thực quản có áp lực cao hơn các vùng khác.Vùng này có chiều dài từ 0,75 – 2 cm ở trẻ dưới 3 tháng và từ 0,75 – 3 cm ở trẻtrên 1 tuổi Ở người lớn, cơ thắt thực quản dưới dài từ 3 – 4 cm Áp lực của cơthắt thực quản dưới vào khoảng từ 15 – 25 mmHg và luôn luôn cao hơn áp lựctrong lòng dạ dày khi nghỉ Áp lực này tăng dần từ khi mới sinh cho đến 45ngày, thời điểm mà cơ thắt thực quản dưới đã phát triển hoàn thiện
Những yếu tố liên quan đến khả năng của cơ thắt thực quản dưới là vị trícủa nó trong ổ bụng, góc nối của thực quản vào trong dạ dày và áp lực của cơthắt Bình thường cơ thắt này đóng lại, chỉ mở ra khi có động tác nuốt cho phépthức ăn xuống dạ dày Cơ thắt thực quản dưới thường đóng lại khi ngủ, nhưngcũng có thể mở ra khi thức giấc Ở trẻ em có những giai đoạn dãn cơ thắt thựcquản dưới khi ngủ không sâu Trương lực của cơ thắt thực quản dưới chịu tácdụng của nhiều yếu tố như trẻ đẻ non, thuốc, hormon (ức chế Ca,Anticholinergic, Theophylline, Dopamin…) và một số thức ăn (mỡ, chocolate,rượu, kẹo bạc hà, Nicotin, cafe, nước chanh…)
2.1.2 Tăng áp lực ổ bụng
Áp lực ổ bụng khác với áp lực trong dạ dày Áp lực trong dạ dày là tổnghợp của áp lực ổ bụng và áp lực gây nên do trương lực của cơ thành dạ dày Áplực trong ổ bụng là từ 6 – 8 cm nước, cần thiết để duy trì cơ chế chống tràongược
Áp lực ổ bụng tác động lên thực quản bụng làm cho đoạn thực quản này
bị xẹp xuống và đóng lại Áp lực trong ổ bụng thấp trong các trường hợp thoát
vị qua vùng rốn hoặc khe hở thành bụng có thể gây ra trào ngược Áp lực trong
ổ bụng tăng quá cao trong các trường hợp ho, táo bón nặng, ép chặt bụng từphía ngoài làm cho áp lực trong dạ dày tăng và làm cho trào ngược dễ xuất hiện
2.1.3 Rối loạn dung hợp và chậm làm trống dạ dày
Trang 7Sự chậm tống đẩy ở dạ dày hay thời gian làm rỗng dạ dày bị kéo dài làmthức ăn tồn đọng ở dạ dày lâu, dạ dày phải co bóp nhiều gây tăng áp lực của dạdày dẫn đến sự chênh lệch áp lực giữa dạ dày và thực quản Mặt khác các xungđộng thần kinh đến từ các thụ thể cơ- hoá học ở dạ dày làm thư giãn cơ thắt dẫnđến sự trào ngược, nhất là giai đoạn sau khi ăn và ở người thường ăn quá no
Dung tích dạ dày tăng nhất là sau bữa ăn là một trong các yếu tố làm chotrào ngược dễ xuất hiện Dung tích dạ dày phụ thuộc vào khối lượng và thànhphần thức ăn, vào mức độ tháo thoát qua môn vị, khối lượng dịch vị được bàitiết, tần suất và khối lượng của dịch trào ngược từ tá tràng
Ngoài hai yếu tố trên, mức độ co bóp của dạ dày, sự mất điều hòa của cácsóng nhu động giữa thực quản, dạ dày và môn vị cũng là một yếu tố thuận lợigây trào ngược
2.1.4 Các cơ chế khác
Hình 2: Đặc điểm giải phẫu sinh lý liên quan GER ở trẻ em
Trẻ em có dạ dày nhỏ hơn so với người lớn Sức chứa của dạ dày nhỏ dẫnđến dễ bị tăng áp lực trong dạ dày khi ăn quá no Do vậy dễ gây ra trào ngược.Hơn nữa trẻ thường xuyên ở tư thế nằm Tư thế này làm tăng áp lực của thức ănlên cơ thắt thực quản dưới và làm tăng nguy cơ trào ngược
Trẻ nhỏ có chiều dài thực quản ngắn hơn so với người lớn Do vậy trẻ dễtrớ hơn Chất chứa trong dạ dày dễ dàng và nhanh chóng trào ra miệng vàđường hô hấp hơn so với trẻ lớn và người trưởng thành
2.2 Cơ chế gây triệu chứng và biến chứng tại thực quản
Trang 8Các chất chế tiết và chứa đựng trong dạ dày có pH thấp hơn trong thựcquản Khi có sự trào ngược, lượng dịch dạ dày trào lên thực quản phải đượcnhanh chóng tống đẩy ra khỏi thực quản và lượng acid ở trong thực quản phảiđược trung hoà Nếu dịch dạ dày đọng lâu trong thực quản sẽ tấn công phá huỷniêm mạc và gây viêm
Sự làm sạch các chất trong lòng thực quản phụ thuộc vào tư thế của cơthể (thuận lợi ở tư thế đứng, rất hạn chế ở tư thế nằm) và nhu động của thựcquản để tống đẩy dịch trào ngược, tuy nhiên, các chất này còn đọng lại tronglòng thực quản ít nhiều, sự nuốt nước bọt chứa chất kiềm sẽ trung hoà nốt lượngacid này Ở những bệnh nhân GERD và viêm thực quản thường có rối loạn cobóp thực quản dẫn đến việc chậm làm sạch thực quản, thúc đẩy sự phá huỷ niêmmạc thực quản
Ở trẻ đẻ non, nhu động thực quản yếu so với trẻ đủ tháng Do vậy trẻ đẻnon dễ bị GERD và dễ bị tổn thương thực quản hơn so với trẻ đủ tháng
2.3 Cơ chế gây triệu chứng và biến chứng tại đường hô hấp
Chất chứa trong dạ dày trào ngược lên thực quản vào đường hô hấp, taimũi họng và ra miệng Acid và pepsin trong dịch dạ dày có thể dẫn đến viêm vàtổn thương các cơ quan này
Cơ chế bảo vệ đường thở khỏi các tổn thương trên bao gồm cơ thế thôngqua phản xạ vagal và các cơ chế khác (hình 3)
Hình 3: Cơ chế bảo vệ đường thở trong GER
Trang 9Nhiễm trùng đường hô hấp và luồng trào ngược dạ dày - thực quản cóliên quan mật thiết với nhau Hít phải chất trào ngược được coi là cơ chế duynhất của các biểu hiện đường hô hấp trong nhiều năm trước đây Ngày nayngười ta cho rằng các biểu hiện của đường hô hấp có thể còn do phản xạ co thắtthanh quản hoặc phế quản vì dịch vị đã kích thích vào các thụ cảm thần kinh ởthực quản, thanh quản hoặc kích thích trực tiếp vào dây X.
Đau hoặc chướng bụng Gan lách to
Sốt, ly bì hoặc co giật
Dị dạng đầu Biểu hiện bệnh lý gen, chuyển hóa
Bảng 1: Triệu chứng cảnh báo nguyên nhân khác ngoài GERD ở trẻ nôn
Hỏi bệnh kỹ lượng và khám bệnh cẩn thận đóng vai trò quan trọng trongtiếp cận bệnh nhân trào ngược dạ dày thực quản mà quan trọng hơn là để loạitrừ các bệnh khác đáng lo ngại hơn mà cùng biểu hiện là nôn trớ đồng thời đểxác định các biến chứng của GERD (bảng 1)
Triệu chứng của GERD thay đổi theo tuổi và tình trạng sức khỏe của trẻ(bảng 2) Các nghiên cứu chỉ ra rằng, nôn, đau bụng kèm theo ho nhưng không
ợ nóng là triệu chứng thường gặp nhất ở trẻ lớn và thanh thiếu niên bị GERD
Ho và chán ăn hoặc từ chối ăn phổ biến hơn ở trẻ em 1-5 tuổi so với trẻ lớn hơn
Trang 10Chú thích: + + + rất hay gặp + + thường gặp ? không biết
+ có thể gặp (+) hiếm gặp - không gặp
Bảng 2: Triệu chứng GERD theo lứa tuổi
Triệu chứng và dấu hiệu liên quan đến trào ngược là không đặc hiệu Ví
dụ, không phải tất cả các trẻ em với GER bị ợ nóng hoặc khó chịu Ngược lại,chứng ợ nóng và khó chịu có thể được gây ra bởi các điều kiện khác hơn GER.Nôn trớ và quấy thường gặp ở trẻ nhỏ có GER sinh lý hoặc GERD nhưng khôngthể phân biệt với dị ứng thức ăn và các rối loạn khác Không có sự tương xứnggiữa mức độ nặng của trào ngược trên lâm sàng với xét nghiệm
GERD thường được chẩn đoán lâm sàng ở người lớn dựa vào triệu chứng
ợ nóng có hoặc không có nôn Dựa trên ý kiến chuyên gia, việc chẩn đoánGERD ở trẻ vị thành niên có thể đặt ra với triệu chứng ợ nóng điển hình như ởngười lớn Tuy nhiên, không thể dựa vào triệu chứng ợ để chẩn đoán GERD ởtrẻ sơ sinh và trẻ nhỏ bởi vì sự mô tả về chất lượng và số lượng các triệu chứng
ở trẻ nhỏ là không đáng tin cậy
Trang 113.2 Cận lâm sàng
3.2.1 Đo pH thực quản
Đo pH thực quản của thực quản xa, không còn được coi là tiêu chuẩnvàng trong chẩn đoán GERD Đo pH thực quản cung cấp thông tin về các cơntrào ngược axit, loại quan trọng nhất của trào ngược cho trào ngược bệnh lý.Loại máy đo pH thực quản thông dụng nhất trên thị trường hiện nay có một ốngthông từ mũi xuống thực quản chứa một hoặc nhiều điện cực dọc suốt chiều dàithực quản Tuy nhiên kích thước của ống thông này cũng là một vấn đề gây trởngại và khó chịu khi tiến hành đo pH thực quản ở trẻ em Gần đây có xuất hiệnmáy đo pH thực quản không dây Việc đặt điện cực của máy đo không dây nàyđòi hỏi phải gây mê Lợi ích và tính an toàn của máy đo pH thực quản khôngdây còn chưa được nghiên cứu đầy đủ ở trẻ em
Hình 4: Đo pH thực quản ở trẻ em
Ưu điểm của phương pháp này là phát hiện được cơn trào ngược và cóthể đánh giá sự liên quan giữa cơn trào ngược và triệu chứng lâm sàng, đánh giáđược chức năng làm sạch của thực quản đồng thời giúp chọn liều thuốc ức chếthụ thể H2 cũng như thuốc ức chế bơm proton ở trẻ chưa đáp ứng Nhược điểmcủa phương pháp này là không phát hiện được các cơn trào ngược không acidcũng như không phát hiện được các biến chứng của GERD
Theo quy ước, khi pH thực quản < 4,0 được coi là một cơn trào ngược (vì
ở người lớn ợ nóng thường xảy ra khi pH < 4,0) Thông số phổ biến thu được từgiám sát pH bao gồm: tổng số cơn trào ngược, số lượng cơn trào ngược >5 phút,
Trang 12thời gian của cơn trào ngược dài nhất và hệ số trào ngược – reflux index (RI)
-tỷ lệ phần trăm của tổng số thời gian mà pH thực quản < 4.0
Còn có sự khác nhau giữa các nghiên cứu về giá trị RI bình thường trongcách chọn mẫu và cách định nghĩa trên trẻ bình thường Thông thường khi RI >7% được xem là bất thường, RI <3% được coi là bình thường và khi RI từ 3%đến 7% là nghi ngờ
Hình 5: Minh họa kết quả đo pH thực quản
Một nghiên cứu chỉ ra rằng một RI > 10% có liên quan đến tình trạngviêm phổi, cơn ngưng thở, táo bón và tình trạng viêm thực quản
3.2.2 Đo điện trở kháng thực quản
Là phương pháp cho phép đánh giá sự chuyển động của chất lỏng, chấtrắn và chất khí trong lòng thực quản Đo điện trở kháng thực quản cho phép ghilại những thay đổi điện trở kháng ở các điện cực trên một ống thông được đặtdọc chiều dài thực quản gây ra bởi sự chuyển động của các chất trong lòng thựcquản Bình thường sự thay đổi điện trở kháng bắt đầu ở thực quản phía trên tiếndần xuống cơ thắt thực quản dưới Khi sự thay đổi điện trở kháng đi theo chiềungược lại đó là biểu hiện của luồng trào ngược
Khi phân tích điện trở kháng cho phép ta đánh giá tốc độ, độ cao của cơntrào ngược Đo điện trở kháng thực quản cho phép phát hiện cả những cơn trào
Trang 13ngược rất nhỏ Phương pháp này đặc biệt hữu hiệu để đánh giá giai đoạn sau ănkhi mà các cơn trào ngược thường không acid
Điện cực điện trở kháng và điện cực pH có thể kết hợp trên cùng một ốngthông cho phép đánh giá cả điện trở kháng và pH thực quản Phương pháp nàycho phép đánh giá mối tương quan giữa các cơn trào ngược với triệu chứng lâmsàng như cơn ngừng thở, ho, sự thay đổi hành vi của trẻ cũng như các triệuchứng khác
Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là chỉ số bình thường vềđiện trở kháng thực quản ở trẻ em chưa được xác định
3.2.4 Xạ hình hạt nhân
Trong xạ hình dạ dày, thức ăn đánh dấu technetium-99 được đưa vào dạdày và các vị trí xạ hình quan tâm gồm: dạ dày, thực quản và phổi Xạ hình hạtnhân chỉ đánh giá trào ngược sau ăn bao gồm cả cơn trào ngược acid và khôngacid Phương pháp này cũng có thể cung cấp thông tin về tình trạng làm trống
dạ dày Xạ hình 1 giờ có độ nhạy 15% đến 59% và độ đặc hiệu 83% đến 100%trong chẩn đoán GERD khi so sánh với theo dõi pH thực quản 24 giờ Quét xạhình dạ dày trào ngược có thể phát hiện các cơn trào ngược xảy ra trong hoặc
Trang 14ngay sau bữa ăn, nhưng độ nhạy của nó trong việc phát hiện hiện tượng hít dịchtrào ngược vào đường hô hấp tương đối thấp Bằng chứng của hít dịch tràongược vào phổi có thể được phát hiện trong ghi hình 1 giờ và hình ảnh thu được
có thể lên đến 24 giờ sau khi uống hạt nhân phóng xạ Tuy nhiên, khi xétnghiệm âm tính vẫn không loại trừ khả năng hít dịch trào ngược vào phổi Mộtnghiên cứu của trẻ em có các triệu chứng hô hấp do trào ngược thấy rằng mộtnửa có hình ảnh dịch trào ngược vào phổi Tuy nhiên không loại trừ chất phóng
xạ trên là từ nước bọt Xạ hình hạt nhân không được khuyến cáo trong chẩnđoán và quản lý của GERD ở trẻ sơ sinh và trẻ em
3.2.5 Siêu âm dạ dày – thực quản
Siêu âm không được khuyến cáo như là một xét nghiệm để chẩn đoánGERD nhưng có thể cung cấp thông tin khi không có các xét nghiệm khác Khi
so sánh với đo pH thực quản 24 giờ để chẩn đoán cho GERD, độ nhạy của siêu
âm Doppler màu thực hiện trong 15 phút là khoảng 95% nhưng độ đặc hiệu chỉ
có 11 % và không có sự tương quan giữa số lần phát hiện trào ngược trên siêu
âm vời chỉ số trào ngược phát hiện bằng đo pH thực quản
Siêu âm cho phép quan sát hình thể và động học của thực quản bụng tâm vị Đồng thời, nó còn giúp phát hiện những cơn trào ngược xảy ra bất chợtsau ăn mà thường không được nhận biết bởi đo pH kế nó còn có lợi ích lànhanh, rẻ tiền, ít chấn thương và không ăn tia X Với thời gian quan sát ngắn 10phút
-Trẻ được nằm ngửa và thăm khám ngay sau bữa ăn, thường kèm theobình sữa Việc sử dụng bình nước cam cho bú dễ dàng quan sát cơn trào ngượcnhưng dạng bữa ăn test này không phải bữa ăn sinh lý của trẻ nhũ nhi Đầu dòđược đặt ngay hỏm thượng vị, mặt cắt cạnh ức dọc, hơi nghiêng nhẹ theo trụcthực quản đoạn bụng, cho phép nhìn thấy thực quản bụng, cơ hoành cắt ngang
và dạ dày Trên mặt cắt dọc, thực quản liên hệ với thùy trái gan ở phía trước,động mạch chủ và các nhánh của nó ở phía sau, tâm nhĩ phải ở phía trên còn dạdày ở phía dưới Trên mặt cắt ngang, thực quản bụng có hình bia, cũng như tất
Trang 15cả những phần khác của ống tiêu hóa, với phần trung tâm Echo dày (lớp niêmmạc), vùng trung gian Echo kém (lớp cơ), bao quanh bởi lớp Echo dày (lớpthanh mạc).
Hình 6: Hình ảnh luồng trào ngược trên siêu âm
Đo chiều dài thực quản bụng (từ cơ hoành đến tâm vị) Bình thường chiềudài thực quản bụng lơn hơn 16mm ở trẻ từ 0 đến 2 tháng, lớn hơn 17mm ở trẻ từ
2 tháng đến 2 tuổi, lớn hơn18mm từ 2 đến 5 tuổi, lớn hơn 19mm ở trẻ trên 5tuổi Khi chiều dài này bị rút ngắn lại, trẻ dễ có nguy cơ bị GERD Khi có sự rútngắn đáng kể và hằng định, gợi ý bệnh lạc chỗ tâm phình vị, còn rút ngắn từnglúc cách hồi, gợi ý tâm vị di động (cardia mobile)
Đo bề dày thực quản bụng Theo Pracros, chiều dày thực quản bụng bìnhthường 8-10mm, khi lớp niêm mạc vượt quá 4mm gợi ý viêm thực quản TheoDosseur, chiều dày thực quản bụng được coi là bệnh lý khi lớn hơn 7mm ở trẻ
từ 0 đến 2 tháng, lớn hơn 8mm ở trẻ từ 2 tháng đến 2 tuổi, lớn hơn 9mm ở trẻtrên 2 tuổi Việc khảo sát hình thể còn cho phép loại trừ một số bệnh lý ngoạikhoa gây nôn ói kéo dài như hẹp phì đại cơ môn vị, thoát vị khe, thực quản to,thực quản đôi, ruột xoay bất toàn, khối u gây chèn ép (u nội tại như Leimyoma,
u bên ngoài chèn ép như u nguyên bào thần kinh, u quái trung thất, sự bấtthường mạch máu (bất thường hồi lưu tĩnh mạch phổi về tim, tăng áp lực tĩnh
Trang 16mạch cửa, dãn tĩnh mạch thực quản) Hoặc khi tồn tại rối loạn nhu động tiềnmôn vị, chậm tống xuất dạ dày thường dễ gây GERD
Khảo sát động, quan sát trong 10 phút, cho phép đánh giá nhu động TQ
và sự mở của tâm vị cũng như cho phép nhìn thấy được dòng trào ngược Đầu
dò được đặt ở vị trí giống như khảo sát hình thể, giữ vị trí cố định, quan sát vàđếm số lần trào ngược và đánh giá mức quan trọng của trào ngược dựa trên thểtích dịch dạ dày trào lên thực quản và sự kéo dài của dòng trào ngược Chỉnhững dòng trào ngược rõ ràng và mạnh vượt quá thực quản bụng mới đượctính Số lần trào ngược quan sát trong 10 phút, thay đổi theo tuổi Theo Dosseur,
số cơn trào ngược trong 10 phút được coi là bất thường khi lớn hơn 4 lần ởtrẻ từ 0 đến 2 tháng, lớn hơn 3 lần ở trẻ từ 2 tháng đến 2 tuổi, lớn hơn 2 lần ởtrẻ từ 2 đến 5 tuổi, lớn hơn 1 lần ở trẻ trên 5 tuổi Theo Gommes, số cơn tràongược quan sát thấy trong 10 phút ở trẻ dưới 1 tuổi là sinh lý khi dưới 3 cơn, từ
2 đến 6 cơn là rối loạn chức năng vừa phải, trên 6 cơn là rối loạn nặng
3.2.6 Chụp lưu thông đường tiêu hóa có cản quang
Chụp lưu thông đường tiêu hóa có cản quang, Transit Duodenal (TOGD), là phương pháp không đặc hiệu và độ nhạy thấp Ưu điểmcủa phương pháp này là cho phép xác định các tổn thương về mặt giải phẫu của
Oeso-Gastro-dạ dày và thực quản, phát hiện được thoát vị hoành, ruột xoay bất toàn, tìnhtrạng góc Hiss và mức độ thoát thuốc qua môn vị và loại trừ được các nguyênnhân gây nôn khác