1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng phương pháp đọc hiểu vào dạy học bài tác gia tố hữu trong SGK ngữ văn 12

72 379 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 7,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực tế trên, là một sinh viên sư phạm chúng tôi lựa chọn đề tài “Vận dụng phương pháp đọc - hiểu vào dạy học bài tác gia Tố Hữu trong SGK Ngữ văn 12”.. Một trong những phư

Trang 1

Có thể thấy nhận định trên của thủ tướng Phạm Văn Đồng đã cho chúng

ta thấy vai trò quan trọng của bộ môn Ngữ văn Môn Ngữ văn không đơn thuần là một môn nghệ thuật, mà nó là một công cụ “để khám phá, để sáng tạo thực tại xã hội”

Trong những năm gần đây “đọc - hiểu” là phương pháp tích cực được sử dụng rộng rãi trong trong chương trình dạy học Ngữ văn ở các cấp học, đặc biệt là ở các trường phổ thông “Đọc - hiểu” là phương pháp giáo dục học sinh tư duy sáng tạo và phát huy năng lực cảm thụ văn chương một cách chủ động

Văn bản Văn học sử là một phần kiến thức của bộ môn Ngữ văn có nội dung mang tính khái quát cao, là một loại bài học khó không dễ gây được hứng thú của học sinh Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn nói chung và đổi mới phương pháp dạy văn bản Văn học sử nói riêng là yêu cầu cần thiết

Trong cuốn phương pháp dạy học văn tập 2 GS Phan Trọng Luận viết:

“Văn chương tồn tại và phát triển như một dòng chảy” [17, 7], thì yếu tố làm

Trang 2

nên dòng chảy, có vai trò thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ đó không gì khác đó

là các nhà thơ, nhà văn

Nếu ta coi văn học hiện đại Việt Nam là một dòng chảy thì Tố Hữu là một nhà thơ có vai trò quan trọng góp mình làm nên sự phát triển cho dòng chảy văn học Việt Nam

“Tố Hữu là một nhà thơ xuất sắc tiêu biểu của nền thơ ca cách mạng, là sản phẩm của cuộc đấu tranh cách mạng, đồng thời lại giữ vai trò tuyên truyền, cổ động người truyền lệnh của cách mạng Thơ Tố Hữu có sức cảm hoá và chinh phục rộng rãi đông đảo quần chúng nhân dân trong một thời kỳ dài mấy mươi năm Với vị trí và sức mạnh của mình, thơ Tố Hữu ảnh hưởng mạnh mẽ đến những đặc điểm và xu hướng vận động của thơ ca cách mạng

1945 - 1975” [15, 71]

Tố Hữu là tác gia lớn trong nền văn học hiện đại, đồng thời là tác gia có nhiều đóng góp về nội dung và nghệ thuật trong tiến trình phát triển văn học dân tộc

Xuất phát từ thực tế trên, là một sinh viên sư phạm chúng tôi lựa chọn đề

tài “Vận dụng phương pháp đọc - hiểu vào dạy học bài tác gia Tố Hữu trong

SGK Ngữ văn 12” với mục đích dạy tốt bài tác gia Tố Hữu trong nhà trường

THPT

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Các công trình nghiên cứu về tác gia Tố Hữu

Tố Hữu là tác gia lớn của văn học Việt Nam hiện đại Trong suốt vài thập kỷ qua cái tên Tố Hữu đã trở thành một hiện tượng, một đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà phê bình, nghiên cứu văn học: Đặng Thai Mai, Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Trần Đình Sử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên

Trang 3

Nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định Tố Hữu đóng góp một phần đáng kể trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc

Thi sĩ Xuân Diệu cho rằng: Thơ Tố Hữu là lẽ sống lớn, tình cảm lớn của đời sống cách mạng, những tình cảm lẽ sống lớn ấy trong con người Tố Hữu

“đã đưa thơ chính trị lên đến trình độ là nhà thơ rất đỗi trữ tình” [15, 90]

“Về ngôn ngữ, Tố Hữu không chú ý sáng tạo từ mới, cách diễn đạt mới mà ông thường sử dụng những từ ngữ những cách nói quen thuộc với dân tộc” [19, 99] Trong cuốn Thi pháp thơ Tố Hữu GS Trần Đình Sử nhận xét: “Tố Hữu

là người đầu tiên kết hợp hài hoà tư tưởng cách mạng cao đẹp nhất sáng rõ nhất của thời đại với hình thức ngôn ngữ thơ tiếng Việt hiện đại và không ngừng đổi mới làm phong phú nó”

GS Trần Đình Sử còn khẳng định vai trò của thơ Tố Hữu:

“Nếu lấy mức độ phổ cập, sức mạnh chinh phục trái tim quần chúng làm thước đo tầm vóc tiếng thơ thì thơ Tố Hữu có thể sánh với bất cứ nhà thơ lớn nào trong lịch sử dân tộc và nhân loại Tố Hữu thực sự trở thành nhà thơ của văn học Việt Nam thế kỉ XX là lá cờ đầu của thơ ca và hiện thực XHCN Việt Nam” Hai tác gia Phong Lan và Mai Hương khi tuyển chọn và giới thiệu Tố Hữu tác gia tác phẩm : “Tố Hữu là nghệ sĩ tài năng trong sự chọn lọc ngôn từ Ông đã đạt tới sự chọn lọc ngôn từ nghệ thuật thơ ca” Còn Pie Manuel, nhà thơ viện sĩ hàn lâm Pháp thì nhận định về thơ Tố Hữu: “Thơ đã tự nhiên là sự diễn đạt, sự giác ngộ của anh về dân tộc mình” (Lời tựa cho tập Máu và Hoa, con đường của nhà thơ Tố Hữu Liên hiệp các nhà xuất bản Pari 1975)

2.2 Về phương pháp đọc - hiểu

Đổi mới phương pháp dạy học vẫn là vấn đề thường xuyên được sự quan tâm của toàn ngành giáo dục Trong tình hình chung đó bộ môn Ngữ văn cũng tích cực đổi mới, trong đó phần Văn học sử cũng được chú ý đổi mới về

Trang 4

phương pháp dạy học Một trong những phương pháp dạy học tích cực được

sử dụng trong dạy Văn học sử là phương pháp “đọc - hiểu” thông qua đọc hiểu học sinh sẽ lĩnh hội tri thức một cách chủ động, tích cực phát huy vai trò trung tâm của người học

Ở Việt Nam, từ những năm 80 đã xuất hiện nhiều cuốn sách bàn về các phương diện của của hoạt động đọc văn Trước kia “đọc - hiểu” chỉ được coi

là một thao tác trong việc dạy và học Ngữ văn Còn bây giờ đối với việc đổi mới nội dung và chương trình sách giáo khoa thì “đọc - hiểu” được coi là phương pháp dạy học tích cực trong dạy học Ngữ văn

Hàng loạt bài viết của GS Nguyễn Thanh Hùng về vấn đề đọc văn được trình bày rõ ràng trong cuốn “Văn học và nhân cách” trong đó tác giả đã chỉ

ra sự phát triển của quá trình đọc trong hoạt động liên tưởng, tưởng tượng và

lý giải nghệ thuật

Vấn đề phát triển năng lực và nhân cách thông qua đọc văn được tác giả Nguyễn Thanh Hùng trình bày qua bài viết “đọc - hiểu là nền tảng văn hoá cho người đọc” Qua cuốn “Đọc và tiếp nhận văn chương” hoạt động đọc được ông trả về vị trí xứng đáng, ông khẳng định: “Tiếp nhận là một quá trình

vì nó chỉ thực sự diễn ra một hoạt động duy nhất là đọc văn” (Nguyễn Thanh

Hùng, 2002, Đọc và tiếp nhận văn chương Nxb Giáo Dục)

Chuyên luận “Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học” GS Phan Trọng Luận đã phân tích tầm quan trọng của hoạt động đọc: “Đọc từ chữ đầu đến chữ cuối, đọc để âm vang, đọc để tri giác đọc để cảm giác được bằng mắt, bằng tai, với tất cả cảm giác và độ nhạy bén”

GS Trần Đình Sử “Đọc văn học văn” cũng quan tâm rõ ràng về việc đọc hiểu và xem đây như là việc đầu tiên cần có trong quá trình học văn “đọc văn

là cuộc đi tìm ý nghĩa của văn bản” Trên báo văn nghệ (14/02/1998) với bài

Trang 5

viết “Môn văn thực trạng và giải pháp” GS cũng nhấn mạnh: “Một trong

những mục tiêu của việc dạy học văn là rèn luyện khả năng đọc hiểu các văn bản nhằm tạo cho học sinh biết đọc văn một cách có văn hoá có phương pháp không suy nghĩ tuỳ tiện”

Một hệ thống các phương pháp biện pháp dạy học được trình bày trong cuốn “Phương pháp luận dạy học văn” do Z.I.A REX chủ biên

(Phan Thiều dịch, 1983, Nxb Giáo Dục) trong đó đọc sáng tạo được coi là

phương pháp đặc thù nhằm phát triển năng lực cảm thụ văn của học sinh, cảm thụ nghệ thuật bằng các phương diện nghệ thuật thông qua các con đường “đọc - hiểu”

Như vậy, các bài viết các công trình nói trên đều đã chỉ ra vai trò quan trọng của “đọc” trong tiếp nhận văn chương và coi như một hoạt động không thể thiếu trong dạy học Ngữ văn

Xuất phát từ vai trò của phương pháp đọc - hiểu trong dạy và học Ngữ văn, cũng như vai trò của tác gia Tố Hữu trong nền văn học Việt Nam hiện đại, các công trình nói trên, những bài viết của những người đi trước là những

gợi ý quan trọng cho chúng tôi lựa chọn đề tài: “Vận dụng phương pháp đọc -

hiểu vào dạy học bài tác gia Tố Hữu trong SGK Ngữ văn 12” Với hi vọng

tìm hiểu khám phá thực nghiệm một phương pháp dạy học mới chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào việc đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng dạy bài Văn học sử ở trường THPT

Trang 6

- Sử dụng linh hoạt phương pháp đọc hiểu kết hợp với một số phương pháp chung khi dạy phần một tác gia Tố Hữu trong bài Việt Bắc

- Đây cũng là cơ sở lý thuyết chung để dạy các bài tác gia văn học trong chương trình THPT

4 Đối tượng nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu phương pháp chung trong dạy Văn học sử và phương pháp

“đọc - hiểu”

- Những tri thức về lí luận văn học và thể loại

- Những hiểu biết về nhà thơ Tố Hữu: Tiểu sử, sự nghiệp sáng tác, phong cách nghệ thuật, đóng góp với văn học dân tộc

- Vận dụng và thiết kế giáo án bài học “đọc - hiểu” về phần một tác gia

Tố Hữu trong bài Việt Bắc

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tra cứu

- Phương pháp lịch đại và đồng đại

- Phương pháp khảo sát phân tích tổng hợp

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp thực nghiệm

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Nội dung khoa học

Dạy “đọc - hiểu” là một phương pháp quan trọng trong dạy học Ngữ văn nói chung và phần Văn học sử nói riêng Ngày nay, phương pháp đọc - hiểu được ứng dụng phổ biến để dạy bài tác gia văn học ở trường THPT trong đó

có bài tác gia Tố Hữu

Do điều kiện thời gian và năng lực khoá luận chỉ tập trung vào tìm hiểu một tác gia văn học Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn lớp 12 THPT Các tác gia khác cũng có những đóng góp có giá trị, song chúng tôi sẽ tìm hiểu ở các chuyên luận khác

Trang 7

6.2 Tư liệu

Phục vụ khoá luận này chúng tôi sử dụng các công trình nghiên cứu bằng tiếng Việt và các công trình nói trên bằng tiếng nước ngoài đã được dịch sang tiếng Việt có liên quan

7 Bố cục khoá luận

Khoá luận của chúng tôi gồm 3 phần

+ MỞ ĐẦU

+ NỘI DUNG

Chương 1 Phương pháp dạy Văn học sử theo hướng đọc - hiểu

Chương 2 Vận dụng phương pháp đọc - hiểu trong dạy bài tác gia Tố Hữu Chương 3 Thiết kế giáo án thử nghiệm dạy bài tác gia Tố Hữu

+ KẾT LUẬN

Trang 8

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 PHƯƠNG PHÁP DẠY VĂN HỌC SỬ

THEO HƯỚNG ĐỌC - HIỂU 1.1 Một số phương pháp chung trong dạy Văn học sử

Văn học sử là một phần của bộ môn Ngữ văn trong nhà trường THPT

Từ thực tiễn đất nước phải trải qua các giai đoạn lịch sử, tri thức Văn học sử được các nhà nghiên cứu khái quát, biên soạn và học sinh được tiếp nhận thông qua từng bậc học phù hợp với trình độ và đặc điểm lứa tuổi

Văn học sử vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật, xem xét

nó phải đặt trong hệ thống ở phương diện lịch đại và đồng đại… Với dung lượng kiến thức lớn, mang tính khái quát cao, văn học sử cũng là phần được quy định chặt chẽ về mặt thời gian Do vậy, cần lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp để tri thức Văn học sử trở nên hấp dẫn nhưng vẫn đạt tính chính xác

Trong một thời gian dài khi dạy Văn học sử thường sử dụng một số phương pháp dưới đây:

+ Phương pháp đặt câu hỏi

+ Phương pháp trần thuật và kể chuyện có nghệ thuật

+ Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp diễn giảng

Trang 9

Văn học sử và bắt học sinh phân tích, so sánh các hiện tượng, các nhận định, trên cơ sở đó dẫn dắt học sinh đến các nhận định các kết luận và khái quát cần định hướng” [16, 248]

Phương pháp đặt câu hỏi có thể vận dụng cho cả bài họăc một phần của bài học Các câu hỏi thảo luận cần được học sinh chuẩn bị trước, câu hỏi Văn học sử có thể có các dạng sau đây:

Câu hỏi phân tích khái quát Văn học sử

Câu hỏi phân tích minh hoạ Văn học sử

Câu hỏi so sánh - khái quát đồng đại

Câu hỏi liên kết - khái quát lịch đại

Câu hỏi tranh luận về mặt nhận định, mặt tư liệu

Tuỳ thuộc vào nội dung bài học và trình độ nhận thức của từng đối tượng học sinh mà giáo viên lựa chọn câu hỏi cho phù hợp

1.1.1.2 Ưu điểm

Phương pháp đặt câu hỏi là phương pháp phát huy đầy đủ năng lực, trí tuệ của học sinh trong giờ Văn học sử nhất là khi sử dụng những câu hỏi mang tính phát hiện khái quát

Ví dụ: Khi dạy bài tác gia Tố Hữu từ câu hỏi gợi mở phát hiện như:

Tố Hữu sinh ra trong một gia đình như thế nào?

Sau đó giáo viên sử dụng câu hỏi: Yếu tố gia đình có ảnh hưởng gì đến

Trang 10

tác phẩm để đi đến kết luận cần thiết cho bài giảng” [16, 250]

Đây là phương pháp được sử dụng nhiều trong giờ Văn học sử

Ví dụ: Trong bài dạy của tác gia Tố Hữu khi kể về tiểu sử của tác gia có thể sử dụng phương pháp trần thuật kể chuyện có nghệ thuật Nếu giáo viên biết sử dụng phương pháp này hiệu quả giờ học Văn học sử sẽ trở nên hấp dẫn, sinh động, không khô khan và đảm bảo đặc trưng phân môn: vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật

Khi nói về tiểu sử của Tố Hữu giáo viên có thể kể về vùng đất ông sinh

ra đó là xứ Huế mộng mơ thiên nhiên đẹp,có nền văn hoá kinh đô xưa với sông Hương, núi Ngự, với chùa Thiên Mụ, văn hoá cung đình, đặc biệt là những câu hò Huế ngọt ngào, đằm thắm…Có thể khẳng định quê hương xứ Huế thơ mộng, trữ tình, giàu truyền thống văn hoá đã góp phần hình thành nên hồn thơ Tố Hữu với giọng thơ mang tính chất tâm tình tự nhiên đằm thắm, chân thành chứa chan tình thương mến

Trang 11

Từ những lời trần thuật và kể chuyện có nghệ thuật đó của giáo viên mà học sinh hiểu hơn về tác gia Tố Hữu và cảm thấy bài học hấp dẫn, hứng thú hơn, bài Văn học sử không phải là chuỗi những mốc lịch sử, sự kiện khô khan

1.1.2.2 Ưu điểm

Khi sử dụng phương pháp trần thuật và kể chuyện có nghệ thuật sẽ làm lượng kiến thức mang tính khái quát, trừu tượng trở nên sinh động, hấp dẫn lôi cuốn Học sinh sẽ tiếp thu bài học một cách dễ dàng và ghi nhớ một cách sâu sắc

1.1.2.3 Nhược điểm

Trong bài học Văn học sử việc sử dụng phương pháp này chúng ta phải lưu ý: không được trần thuật, kể chuyện lan man, dài dòng, như vậy dễ làm cho học sinh phân tán tư tưởng, thiếu tập trung trong việc lĩnh hội tri thức bài giảng

Học sinh lĩnh hội và ghi nhớ tri thức một cách thụ động từ giáo viên

1.1.3 Phương pháp nghiên cứu sách giáo khoa

So với phương pháp đặt câu hỏi thì mối quan hệ tương tác giữa thầy và trò ở phương pháp này không được rõ và không được diễn ra cùng một lúc Giáo viên chỉ có thể hướng dẫn các em tự đọc và tự kiểm tra kết quả

đó trên lớp

Trang 12

Ví dụ: Khi học bài tác gia Tố Hữu khi nghiên cứu sách giáo khoa

Học sinh sẽ phát hiện bài học có các phần, các mục lớn bao gồm các mục nhỏ như sau:

I Vài nét về tiểu sử

II Đường cách mạng, đường thơ

III Phong cách thơ Tố Hữu

IV Kết luận

Trong phần III Phong cách thơ Tố Hữu lại có các mục nhỏ hơn như:

1 Thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình chính trị sâu sắc

2 Thơ Tố Hữu thiên về khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn

3 Thơ Tố Hữu có giọng tâm tình, ngọt ngào, tha thiết giọng của tình thương mến

4 Về nghệ thuật biểu hiện trong thơ Tố Hữu mang tính dân tộc đậm đà

1.1.3.3 Nhược điểm

Ghi nhớ một lượng kiến thức như vậy không dễ thành công với tất cả học sinh vì không phải học sinh nào cũng có năng lực tự đọc, tự nghiên cứu đạt kết quả Việc tự học, tự đọc, tự nghiên cứu sách giáo khoa là một việc khó, có thể áp dụng nhiều hơn với các lớp học phân ban, còn đối với các lớp học sách giáo khoa ban cơ bản cần vận dụng từ thấp đến cao, bắt đầu một sự chuẩn bị

Trang 13

cho bài dạy (làm dàn ý, trả lời câu hỏi) sau đó có thể thay cho bài dạy trên lớp Một bài Văn học sử trên cơ sở đã tự học, tự nghiên cứu là kiểu bài cần được thực nghiệm và khuyến khích trong thời gian tới, học sinh làm việc trên sách giáo khoa chủ yếu, song cũng không loại trừ việc giáo viên giới thiệu cho học sinh nghiên cứu bài viết có liên quan tới bài Văn học sử để hiểu đúng hơn, hiểu sâu hơn vấn đề đặt ra trong sách giáo khoa

1.1.4 Phương pháp diễn giảng

1.1.4.1 Khái niệm

Phương pháp diễn giảng là phương pháp dùng lời để thuyết trình, thuyết giảng trong đó: “Giáo viên phân tích, trình bày các tri thức, kết hợp với việc ghi bảng Còn học sinh thì nghe, hiểu và ghi chép vào vở riêng” [16, 247] Trong dạy học truyền thống đây là phương pháp được nhiều bộ môn sử dụng, giáo viên coi phương pháp này là phương tiện chủ yếu để truyền thụ tri thức Giáo viên sử dụng sách giáo khoa để trình bày lại các tri thức và làm phong phú lời giảng của mình bằng dẫn chứng minh hoạ Học sinh lắng nghe

và thụ động thu nạp kiến thức một cách thụ động bắt buộc

Nhờ vậy mà phương pháp diễn giảng có thể tiến hành theo hình thức quy nạp, tức là đi từ các hiện tượng Văn học sử đến nhận định Văn học sử hoặc

là theo hình thức diễn dịch tức là đi từ nhận định Văn học sử đến hiện tượng Văn học sử, hoặc kết hợp cả hai hình thức trên để giảng giải, minh hoạ, giúp học sinh hiểu sách giáo khoa, hiểu khái niệm, nhận định, dẫn chứng

Ví dụ: Trong bài học về tác gia Tố Hữu, có thể giảng theo hình thức diễn dịch ở phần III Phong cách thơ Tố Hữu

Trước hết giáo viên nêu phong cách thơ Tố Hữu bao gồm những phần kiến thức sau:

Thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình chính trị sâu sắc

Trang 14

Thơ Tố Hữu mang đậm tớnh sử thi

Thơ Tố Hữu có giọng tâm tình, ngọt ngào,tha thiết, giọng của tình thương mến

Thơ Tố Hữu mang tính dân tộc đậm đà về nghệ thuật biểu hiện

Để chứng minh cho đặc điểm: “Thơ Tố Hữu mang tính dân tộc đậm đà

về nghệ thuật, biểu hiện” giáo viên đưa ra các luận điểm sau:

+ Về thể thơ: Tố Hữu đặc biệt thành công khi vận dụng những thể thơ

truyền thống của dân tộc: thơ lục bát, thơ thất ngôn… và có những sáng tạo làm phong phú cho những hình thức thơ ca này

+ Về ngôn ngữ: Ông thường sử dụng những từ ngữ và cách nói quen

thuộc với dân tộc; phát huy cao độ tính nhạc phong phú của tiếng Việt

Ví dụ minh hoạ, trong bài thơ Việt Bắc:

“Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn…”

[19, 109]

Trong 4 câu thơ trên Tố Hữu đã sử dụng từ ngữ diễn tả trong tình yêu đôi lứa, vợ chồng: “mình - ta” một cách độc đáo, kết hợp với âm điệu ngọt ngào như lời ru trong thể thơ lục bát đã đưa người đọc vào thế giới tâm tình đầy ân nghĩa, trải dài trong không gian thời gian tâm tưởng

Đó là cách giáo viên diễn giảng theo hướng diễn dịch giúp cho học sinh hiểu phần kiến thức trình bày trong sách giáo khoa

1.1.4.2 Ưu điểm

Là phương pháp tiết kiệm thời gian, có khả năng trình bày tri thức một cách hệ thống, kết hợp được lôgic và tính truyền cảm nếu biết chọn những

Trang 15

dẫn chứng tiêu biểu, chân thực, sinh động, có cử chỉ giọng nói phù hợp với nội dung diễn đạt

1.1.4.3 Nhược điểm

Phương pháp diễn giảng phụ thuộc rất nhiều vào giáo viên, nếu giáo viên

là người có kiến thức so với phương pháp thì bài học sẽ hấp dẫn, học sinh sẽ hứng thú nghe giảng Ngược lại, giáo viên là người không có năng lực thì bài học sẽ nhàm chán không gây được hứng thú cho học sinh, khiến học sinh mệt mỏi khi bắt buộc phải thu nhận kiến thức

Phương pháp này có khả năng hỗ trợ rất lớn các phương pháp khác trong quá trình dạy học Ngày nay, với các phương tiện kĩ thuật hiện đại, những băng hình, băng ghi âm đặc biệt là chương trình power point là công cụ cần thiết cho việc minh hoạ không khí xã hội, tâm lý, văn hoá, thẩm mỹ cho những giờ dạy Văn học sử

Ví dụ: Khi nói về quê hương của Tố Hữu trong phần tiểu sử giáo viên

chiếu hình ảnh sông Hương, cầu Tràng Tiền, chùa Thiên Mụ… khiến cho học

Trang 16

sinh thấy được sự thơ mộng của xứ Huế đó là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hồn thơ Tố Hữu

1.1.5.2 Ưu điểm

Với phương pháp trực quan, tri thức của học sinh được tác động một cách mạnh mẽ, trực tiếp, cụ thể và sinh động Học sinh sẽ lưu lại trong trí nhớ của mình rất lâu những hình ảnh, đồng thời sự tiếp nhận kiến thức của các em cũng trở nên sinh động hơn và hứng thú với bài học hơn

1.1.5.3 Nhược điểm

Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan không thể thay thế người thầy trên bục giảng Khi sử dụng phương pháp này có thể hạn chế khả năng diễn đạt đối với những học sinh mà khả năng liên tưởng và tiếp thu bài chậm thì phương pháp này áp dụng sẽ không thành công

Trên đây là các phương pháp chung để dạy Văn học sử

Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng nên không

có một phương pháp độc tôn vạn năng nào cho một bài Văn học sử Trong dạy Văn học sử người giáo viên cần kết hợp các phương pháp một cách sinh động để có thể thay đổi hoạt động của học sinh, gây hứng thú đối với bài học vốn bị coi là khó và khô khan Để làm được điều đó người giáo viên phải luôn

có sự tìm tòi sáng tạo và không ngừng học hỏi Làm được điều đó thì giờ dạy Văn học sử mới đạt hiệu quả cao

1.2 Phương pháp đọc - hiểu trong dạy Văn học sử ở nhà trường phổ thông hiện nay

1.2.1 Khái niệm

Trong dạy học Ngữ văn nói chung và trong dạy học Văn học sử nói riêng

có rất nhiều phương pháp khác nhau Ngoài những phương pháp chung dạy văn bản Văn học sử như đã trình bày ở trên đã được sử dụng nhiều thì trong

Trang 17

những năm gần đây một trong những phương pháp được sử dụng có hiệu quả trong dạy Văn học sử đó là “phương pháp đọc - hiểu”

Có nhiều cách hiểu khác nhau về phương pháp “đọc - hiểu”

Theo GS Nguyễn Thái Hoà: “đọc - hiểu” là phương pháp: “nói một cách khái quát, dù đơn giản hay phức tạp đều là hành vi ngôn ngữ, sử dụng linh hoạt một thủ pháp, thao tác bằng cơ quan thị giác và thính giác để tiếp nhận, phân tích, giải mã và ghi nhớ nội dung thông tin, cấu trúc văn bản [6, 4]

GS Nguyễn Thái Hoà đã chỉ ra “đọc - hiểu” là hành vi ngôn ngữ GS coi

đó là một thao tác dùng các cơ thị giác và thính giác Người đọc đi tìm hiểu yếu tố nội dung và nghệ thuật của văn bản, không chỉ vậy đọc - hiểu còn là quá trình ghi nhớ nội dung thông tin và cấu trúc văn bản

GS Nguyễn Thanh Hùng: “Đọc - hiểu không phải là tái hiện âm thanh từ chữ viết mà còn là quá trình thức tỉnh cảm xúc, quá trình thấm nhuần tín hiệu nghệ thuật chứa mã văn hóa Đồng thời với việc huy động vốn sống vốn kinh nghiệm cá nhân người đọc để lựa chọn giá trị tư tưởng thẩm mĩ và ý nghĩa

vốn có của tác phẩm văn chương [10, 22]

Như vậy, GS Nguyễn Thanh Hùng đã khẳng định đọc - hiểu không những là hình thức tiếp nhận nội dung, vẻ đẹp thẩm mĩ của văn bản mà đó còn là hoạt động tâm sinh lý, có tính trực giác khái quát, nó hàm chứa trong

đó kinh nghiệm cá nhân của bạn đọc Đây là mối quan hệ giữa chủ thể sáng tác và chủ thể tiếp nhận, tạo ra quá trình giao tiếp ngầm giữa nhà văn và độc giả, người đọc chính là người đồng sáng tạo văn chương

Sách giáo khoa Ngữ văn 10 đưa ra khái niệm đọc hiểu như sau: “Đọc hiểu là phương thức học văn nhằm mục đích hiểu biết chính xác, cặn kẽ tác phẩm văn chương, khám phá những giá trị của văn chương (văn hóa, xã hội) mới mẻ, lớn lao, hữu ích” [18, 195]

Trang 18

-Nếu GS Nguyễn Thanh Hùng cho rằng đọc - hiểu hoạt động tâm sinh lý thì ở đây được hiểu lại đọc hiểu là một phương thức, một quá trình đọc hiểu khám phá, sáng tạo các giá trị văn chương Trong mỗi bài học phần đọc hiểu

có một vị trí quan trọng được thể hiện dưới dạng câu hỏi, những câu hỏi này giúp cho học sinh có hướng đi đúng trong quá trình tiếp nhận văn bản trước khi được nghe bài giảng của giáo viên trên lớp Đây cũng là cách phát huy vai trò chủ thể và tính tích cực, sáng tạo của học sinh khi tìm hiểu văn bản

Như đã thấy, có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về phương pháp đọc

- hiểu nhưng nhìn chung thì các cách định nghĩa trên đều có một số điểm chung đều chỉ ra đó là quá trình, cách thức tiếp nhận phát hiện ra những giá trị của văn bản Bằng hoạt động đọc trong đó có sử dụng các thao tác tư duy (phân tích tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hóa) để hiểu nội dung của văn bản từ ngữ âm đến ngữ nghĩa

Văn học sử cung cấp cho học sinh tri thức phong phú về lịch sử văn chương trong nhà trường, vun đắp tâm hồn dân tộc và nhân văn cho học sinh Văn học sử còn có tác dụng trong việc rèn luyện tư duy lôgic và tư duy hình tượng cho học sinh, đặc biệt là cách học văn có tính chất nghiên cứu Vì vậy trong những năm gần đây phương pháp đọc hiểu được nhiều giáo viên sử dụng có hiệu quả và gây được nhiều hứng thú trong việc học tập của học sinh khi học bài Văn học sử

Trang 19

Văn bản Văn học sử có đặc điểm là dung lượng tương đối dài nên việc đọc thông này giáo viên có thể giao cho đọc ở nhà và kiểm tra lại bằng việc yêu cầu học sinh chỉ ra bố cục, ý khái quát và một số đoạn trong văn bản

* Đọc thuộc

Đọc thuộc là không cần nhìn vào văn bản mẫu có thể đọc được văn bản hay nói cách khác có thể tái hiện lại nội dung văn bản bằng trí nhớ Đối với văn bản Văn học sử, đọc thuộc văn bản có nghĩa là có thể tóm tắt được văn bản một cách dễ dàng nắm được nội dung chính của văn bản Nó giúp cho người đọc chủ động trong quá trình tìm hiểu, cắt nghĩa, lý giải văn bản Đọc thuộc cũng là một cách tích luỹ kiến thức có thể sử dụng linh hoạt trong cuộc sống Nó là yêu cầu cần thiết đối với dạy và học Ngữ văn

Đối với văn bản Văn học sử yêu cầu của khâu đọc thuộc chính là việc yêu cầu học sinh nắm được những nét khái quát về văn bản, có thể tóm tắt văn bản đó theo các mục lớn mà không cần nhìn vào văn bản Yêu cầu này cần được thực hiện trong quá trình học sinh chuẩn bị bài, đồng thời Giáo viên có thể giúp học sinh tiếp cận khái quát văn bản bằng hệ thống sơ đồ trước khi bước vào nội dung chính

1.2.2.2 Đọc kĩ , đọc sâu

* Đọc kĩ

Là đọc nhiều lần, nắm bắt được kết cấu văn bản, biết được lôgic của các thông tin trong văn bản Đọc kĩ không chỉ là đọc để phát hiện ra bố cục văn bản mà còn phát hiện ra cấu trúc bên trong của văn bản, để từ đó hiểu một cách sâu sắc và toàn diện về văn bản từ nội dung đến hình thức

Đối với văn bản Văn học sử, đọc kĩ văn bản cũng đồng nghĩa với việc quan tâm tới một số chi tiết chính quyết định diện mạo của một giai đoạn văn

Trang 20

học, trong bài học khái quát lịch sử xã hội và đặc điểm chính trong cuộc đời sáng tác, của tác gia trong bài học tác giả

* Đọc sâu

Đọc sâu là đọc để cắt nghĩa, để khám phá ý nghĩa bên trong của văn bản Văn học sử ở đây bắt buộc phải sử dụng một số phương pháp, một số thao tác như: phân tích, so sánh, giảng giải, tìm kiếm, phát hiện và các thao tác tư duy như: khái quát hoá, tổng hợp hoá, trừu tượng hoá Đọc sâu có yêu cầu cao hơn đọc kĩ về chất, ở đây đọc sâu có nghĩa là đọc mở rộng, đọc liên tưởng

Với văn bản Văn học sử hiểu đúng, hiểu đủ, hiểu chính xác chưa đủ mà cần phải có lý, có căn cứ Xét cho cùng việc đọc tất cả các văn bản Ngữ văn nói chung và văn bản Văn học sử nói riêng đọc - hiểu và vận dụng những hiểu biết ấy đó mới là ý nghĩa to lớn của việc học

* Đọc sáng tạo

Đọc sáng tạo là đọc kết hợp với liên tưởng, tưởng tượng, suy đoán để hiểu sâu sắc những nội dung chứa đựng trong một văn bản Ngữ văn Với văn

Trang 21

bản Văn học sử thì đọc sáng tạo có ý nghĩa vô cùng quan trọng nếu không đọc sáng tạo thì không bao giờ hiểu được văn bản vì: Văn bản là văn bản nghị luận văn học Trong bài dạy tác gia văn học, ý nghĩa quan trọng nhất là đưa ra những nhận định, đánh giá về vị trí, vai trò của nhà văn trong lịch sử văn học

Để lấy được thông tin từ trong văn bản Văn học sử người đọc bắt buộc phải sử dụng các thao tác tư duy: Phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát toàn

bộ những hoạt động ấy của người đọc là đọc sáng tạo

Thông tin trong các văn bản Văn học sử là các thông tin khoa học, mang tính thẩm mĩ Quá trình tiếp nhận ấy là trực cảm, vai trò của chủ thể tiếp nhận lại hết sức quan trọng, người tiếp nhận được những thông tin mà người gửi gắm vào văn bản, qua việc đọc sáng tạo họ cũng trở thành người đồng sáng tạo

1.2.2.4 Đọc đánh giá, đọc ứng dụng

* Đọc đánh giá

Đọc đánh giá yêu cầu hai mức độ khác nhau

- Đánh giá khách quan: Đòi hỏi người đọc phải đánh giá văn bản, những thông tin trong văn bản một cách khách quan để đảm bảo những đánh giá ấy

là công bằng khoa học Vì vậy, những đánh giá đưa ra phải có căn cứ, người đọc phải huy động những hiểu biết của mình về khoa học (ngôn ngữ, lý thuyết lịch sử văn học, vốn sống, những tri thức đã tích luỹ được trong quá trình học tập và đời sống) thái độ phải vô tư

- Đánh giá chủ quan: Bày tỏ thái độ, tình cảm của mình, văn bản Ngữ văn nói chung, văn bản Văn học sử nói riêng, quá trình tiếp nhận mang tính trực cảm và chủ quan sâu sắc Vì vậy, khi đọc văn bản Văn học sử người đọc bao giờ cũng phải bày tỏ thái độ của mình, họ có thể đồng tình với tác giả với

đa số công chúng độc giả, nhưng họ có thể phản đối vì một người dù có tài năng đến mấy cũng không thể nói hay hơn tất cả mọi người Đọc văn bản mà

Trang 22

cụ thể là tác gia Tố Hữu thực chất là quá trình tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp của một nhà văn có đóng góp với nền văn học dân tộc Chính vì vậy, cần phải thu thập thông tin một cách đầy đủ chính xác, tránh đánh giá tuỳ tiện

Trong thực tế khi đánh giá văn bản Văn học sử thì yêu cầu khách quan

và chủ quan không phải bao giờ cũng tách bạch mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng cần tránh khuynh hướng đã tồn tại lâu nay trong đánh giá văn học “yêu khen, ghét chê”

* Đọc ứng dụng

Ứng dụng “đọc - hiểu” văn bản Ngữ văn không chỉ nhằm mục đích củng

cố, luyện tập giúp học sinh nắm vững kiến thức để vận dụng vào quá trình học tập, ứng dụng cần được hiểu theo nghĩa rộng: phải làm và phải sống

Những bài học có kĩ năng rút ra từ văn bản cần phải vận dụng vào đời sống lâu dài Trong bài học về tác gia văn học là một bài nghị luận văn học, thông qua tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp nhà văn hình thành cho học sinh một lối sống có lí tưởng, có ước mơ, hoài bão

“ Đọc - hiểu” văn bản Ngữ văn nói chung, văn bản Văn học sử nói riêng không chỉ nhằm một mục đích giúp học sinh hiểu văn đó mà điều quan trọng

là mang đến cho học sinh hành trang văn học để các em vững bước vào đời 1.3 Ứng dụng công nghệ thông tin vào bài đọc - hiểu tác gia Tố Hữu 1.3.1 Công nghệ thông tin

1.3.1.1 Công nghệ thông tin - những tiện ích phục vụ dạy học

Công nghệ thông tin đã có mặt và phát huy vai trò trong lĩnh vực sản xuất, kinh tế, xã hội Mọi nhà trường nhất là ở những nước phát triển và đang phát triển nhiều hay ít đều chịu ảnh hưởng của thành tựu về công nghệ thông tin Đây là một thực tế thời đại Bất kỳ nhà giáo dục nào cũng không thể

Trang 23

không nhận biết để có đối sách thích ứng Vậy công nghệ thông tin có vai trò như thế nào trong việc dạy học?

Công nghệ thông tin có thể thay cho phấn trắng, bảng đen bằng các bản chữ vừa đẹp về cấu trúc, về mầu sắc, lại vừa có thể di chuyển, điều chỉnh vô cùng nhanh chóng và thuận tiện

Công nghệ thông tin còn minh hoạ, thay thế cho tất cả các đồ dùng dạy học như bản đồ, biểu đồ, tranh vẽ hình ảnh, các mô hình: Máy hơi nước, minh hoạ cho các vật thật

Công nghệ thông tin tạo lập từ điểm phục vụ cho dạy học, bởi nó là kho

dữ liệu khổng lồ vì bộ nhớ của nó vô cùng lớn, mặt khác nó lại được kết nối toàn cầu

Công nghệ thông tin còn có khả năng tạo âm thanh giúp cho giờ dạy học trở nên sinh động

Có thể nói công nghệ thông tin có khả năng đáp ứng vượt trội tất cả mọi nhu cầu trong dạy học ở nhà trường Dạy học phải nhanh chóng khai thác những tiện ích của công nghệ thông tin, coi công nghệ thông tin là phương tiện dạy học phổ biến tất yếu ở nhà trường Việt Nam Kĩ thuật dạy học ở Việt Nam đã có quy trình dạy học cho mỗi kiểu loại bài, tức là đã thực hiện dạy học theo chương trình mang tính công nghệ thì việc sử dụng máy tính và máy chiếu để hỗ trợ chỉ là bước đi mang tính kĩ thuật mà thôi

Với việc sử dụng những tiện ích của công nghệ thông tin trong dạy học chắc chắn hiệu quả dạy học sẽ tăng lên, không khí học tập của học sinh sẽ sôi nổi hơn và điều quan trọng công nghệ thông tin có khả năng thu hút hấp dẫn học sinh

Trang 24

1.3.1.2 Phần Power Point hỗ trợ cho dạy học

Power Point 2000 là phần mềm nằm trong bộ phần mềm văn phòng office 2000 nổi tiếng do hãng Microsoft sản xuất Người sử dụng Power Point

để soạn thảo ra các bài trình diễn nhằm truyền đạt thông tin tới người xem một cách sinh động, hấp dẫn và hiệu quả nhất Sở dĩ đạt được hiệu quả như vậy là do Power Point đưa ra rất nhiều hỗ trợ đa phương tiện (Multinmedia), tức là người dùng có thể thông qua Power Point đưa vài bản trình diễn của mình, các hình ảnh, âm thanh, các đoạn phim, các dòng chữ chuyển động theo nhiều kiểu

Một vài trình diễn tạo ra bởi Power Point bao gồm nhiều Slide tạm dịch

là các trang trình diễn Để soạn thảo một bài trình diễn, người dùng phải đi soạn thảo từ các trang trình diễn - Slide Quá trình soạn thảo một bài trình diễn như sau: Người dùng sẽ nhập vào các Slide trống nội dung cần trình diễn, sau đó sử dụng các công cụ phong phú của Power Point để bài trí trình diễn sao cho đẹp mắt và hấp dẫn người xem

Power Point chỉ cung cấp các công cụ, còn việc sử dụng các công cụ đó như thế nào cho hợp lý lại phụ thuộc vào khả năng thẩm mĩ của từng người Sau khi soạn thảo xong, bản trình diễn sẽ được lưu lại trên đĩa của máy tính dưới dạng các File có đuôi ppt hoặc pps gọi là các File trình diễn và có thể được in ra giấy phát cho mọi người Để trình diễn các File này cho nhiều người cùng xem cần phải có thêm một máy Projector nối với máy tính chứa File trình diễn, hoặc một máy Overhead làm nhiệm vụ chiếu các bản in trên giấy của File trình diễn cho nhiều người cùng xem Có một số cách để trình diễn Power Point nhưng cách thông dụng hơn cả là chiếu nội dung của File trình diễn lên bảng theo từng Slide, với sự điều khiển của một thuyết minh viên

Trang 25

1.3.1.4 Khái niệm giáo án điện tử

Giáo án điện tử là giáo án được công nghệ thông tin hỗ trợ để trình diễn trên những bảng chữ, hình vẽ phóng to, thay cho bảng đen phấn trắng

Hiện nay có nhiều tỉnh thành phố tổ chức thi dạy học bằng giáo án điện

tử Sử dụng giáo án điện tử hiệu quả giờ học có nhiều thay đổi Học sinh học tập hào hứng hơn, tác động đến học sinh nhiều hơn, lượng thông tin truyền tải trong giờ học nhiều hơn Ấn tượng của học sinh về giờ học sâu sắc hơn, số lượng bài tập để học sinh thực hành, luyện tập nhiều và đa dạng hơn Nếu khai thác tiếp khả năng công nghệ thông tin cho giáo án điện tử về phương tiện minh hoạ hình ảnh, Video, tạo từ điển giải thích đến tích điển cố, tìm nghĩa hàm ẩn, kết nối internet để lấy thông tin, so sánh đối chiếu để mở rộng, thực hiện thống kê nhanh, tính toán nhanh thì hiệu quả dạy học còn cao hơn nhiều

1.3.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong bài day tác gia Tố Hữu

Vị trí của bài học tác gia Tố Hữu trong chương trình Ngữ văn 12 tập 1 Bài học tác gia Tố Hữu là tiết học thứ 22 tìm hiểu, nghiên cứu sau: Tiết thứ 21: “Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học” và trước Tiết thứ 23 “Luật thơ”

Bài học này nhằm trình bày những kiến thức cơ bản về tác gia Tố Hữu như: Cuộc đời, đường cách mạng, đường thơ, phong cách thơ, để minh hoạ cho những nhận định trong bài khái quát đồng thời cũng là những kiến thức phục vụ tìm hiểu những sáng tác của Tố Hữu

Cấu trúc bài học tác gia Tố Hữu:

I Vài nét về tiểu sử

II Đường cách mạng, đường thơ

- Tập thơ Từ Ấy (1937-1946)

Trang 26

- Tập thơ Việt Bắc (1946-1954)

- Tập thơ Gió Lộng (1955-1961)

- Tập thơ Ra Trận (1962-1971), Máu và Hoa (1972-1977)

- Tập thơ Một tiếng đờn (1992) và Ta với ta (1999)

III Phong cách thơ Tố Hữu

- Thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình chính trị rất sâu sắc

- Thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi

- Thơ Tố Hữu có giọng tâm tình, ngọt ngào, tha thiết, giọng của tình thương mến

- Về nghệ thuật biểu hiện thơ Tố Hữu mang tính dân tộc rất đậm đà

Trang 27

CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC - HIỂU VÀO

DẠY BÀI TÁC GIA TỐ HỮU 2.1 Đặc trưng của văn bản Văn học sử

Theo GS Phan Trọng Luận: “Kiến thức Văn học sử là kiến thức giao thao

giữa khoa học và nghệ thuật”[17, 11]

Nguyễn Thị Thanh Hương khi nói về đặc trưng của tri thức văn học đã khẳng định: “Bộ môn văn học trong nhà trường phổ thông có hai đặc trưng kết hợp chặt chẽ với nhau và được quán triệt qua nội dung phương pháp giảng

dạy các phân môn: “Đặc trưng khoa học và đặc trưng nghệ thuật”[12, 221]

Văn học sử là một phần của bộ môn Ngữ văn cũng mang hai đặc trưng ấy

2.1.1 Đặc trưng khoa học

Tri thức Văn học sử được các nhà nghiên cứu khái quát từ thực tiễn văn học của một đất nước qua các giai đoạn lịch sử, theo một quan điểm học thuật nhất định Nên các tri thức đó mang tính khoa học

Các tri thức Văn học sử trong chương trình Ngữ văn phổ thông là các tri thức mang tính khoa học, được thể hiện ở hệ thống khái niệm và nhận định Văn học sử về giai đoạn, về thể loại, về tác giả, về tác phẩm có khi bao gồm các tri thức về lịch sử, địa lý, nghệ thuật, xã hội, văn hóa từ đó giúp cho học sinh có một cái nhìn tổng quát có thể suy luận khoa học lôgic về những người tri thức được cung cấp một cách hệ thống

Trong bài tác gia Tố Hữu sẽ đọc hiểu một số nhận định mang tính khái quát

sau đây: “Tố Hữu là một trong những lá cờ đầu của nền văn nghệ cách mạng

Việt Nam Các chặng đường thơ của Tố Hữu luôn gắn bó và phản ánh chân thật những chặng đường cách mạng đầy gian khổ hi sinh nhưng cũng nhiều thắng lợi vinh quang của dân tộc đồng thời cũng là những chặng đường vận động trong quan điểm tư tưởng và bản lĩnh nghệ thuật của chính nhà thơ”[19, 95]

Trang 28

Những khái niệm, nhận định Văn học sử được lựa chọn một cách kĩ lưỡng và được trình bày sắp xếp theo một trình tự có hệ thống chặt chẽ, tính

hệ thống không chỉ trình bày có tính hiện đại mà còn được xác lập chặt chẽ trong mối quan hệ giữa tri thức khái quát với tri thức cụ thể trong từng chương, từng bài, từng mục

Đọc - hiểu bài tác gia Tố Hữu SGK Ngữ văn 12 tập 1

Phần đầu tiên chúng ta tìm hiểu là:

I Vài nét về tiểu sử để có cái nhìn khái quát nhất về cuộc đời và con người Tố Hữu có ảnh hưởng đến các giai đoạn sáng tác của ông sau này

Tiếp đó phần:

II Đường cách mạng, đường thơ Mỗi chặng đường hoạt động cách mạng của Tố Hữu lại gắn liền với các chặng đường thơ dẫn đến ra đời các tập thơ tương ứng

Từ các chặng đường thơ đó cho thấy:

III Phong cách nghệ thuật độc đáo của ông đó “Sự hoà quyện giữa nội dung trữ tình chính trị và nghệ thuật biểu hiện đậm đà dân tộc”

IV Kết luận nói đến những đóng góp của Tố Hữu với nền thơ ca cách mạng nói riêng và thơ ca dân tộc nói chung Qua cấu trúc bài học như vậy học sinh

sẽ có cái nhìn toàn diện về tác giả Tố Hữu

Đặc trưng khoa học còn được thể hiện ở chỗ, ở THCS các em được làm

quen với tác gia Tố Hữu qua các bài Lượm (lớp 6), Khi con Tu Hú (lớp 8) ở THPT các em tiếp tục học Từ ấy và Nhớ đồng (lớp 11) Đến lớp 12 các em sẽ tiếp tục được học tiếp một đoạn trích từ bài Việt Bắc và bài đọc thêm Bác ơi

Đặc biệt là các em được học bài về tác gia Tố Hữu từ đó học sinh sẽ hiểu sâu sắc hơn về tác gia Tố Hữu từ quan điểm đến thực tiễn sáng tác

Trang 29

Đặc trưng khoa học còn được thể hiện ở tính hiện đại của tri thức Văn học sử, ở sự lựa chọn của tác giả, tác phẩm ở sự mạnh dạn khai thác các yếu

tố mới về nội dung và nghệ thuật Từ đó mà tư duy lôgic và năng lực cảm thụ văn của học sinh ngày càng được rèn luyện và nâng cao

2.1.2 Đặc trưng nghệ thuật

Trong chương trình THPT hiện nay, môn Ngữ văn là sự tiếp nối và nâng cao chương trình Ngữ văn THCS Với yêu cầu cao hơn về chất lượng và số lượng, phần Văn học sử góp phần tạo điều kiện bồi dưỡng sâu hơn cho học sinh quan điểm thẩm mĩ và nhân cách

Khi giới thiệu các khái niệm, phân tích diễn giảng, lí giải các nhận định

có thể sử dụng các cách diễn đạt mang tính hình tượng trên tư duy hình tượng Điều này thể hiện thông qua các từ ngữ mang tính khái quát cao, hàm súc, gợi hình, gợi cảm

Ví dụ: Nói về vị trí của Tố Hữu trong dòng văn học Việt Nam mục II

Đường cách mạng, đường thơ có đoạn: “Tố Hữu là một trong những lá cờ

đầu của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam” [19, 95]

Những cách diễn đạt như vậy trong Văn học sử đã gây ấn tượng sâu đậm, lâu bền trong kí ức của học sinh Điều đó giúp cho học sinh có thể phát huy khả năng liên tưởng, tưởng tượng cần thiết trong giờ học

Ngay cả ở việc minh hoạ kiến thức Văn học sử, tính nghệ thuật cũng được biểu hiện một cách đậm nét

Ví dụ: Đáng chú ý là những tư tưởng lớn, tình cảm lớn của con người,

những vấn đề lớn lao của đời sống đã được Tố Hữu thể hiện qua giọng thơ mang tính chất tâm tình rất tự nhiên, đằm thắm, chân thành Nhà thơ đặc biệt rung động với đời sống cách mạng, với nghĩa tình cách mạng cho nên thường hướng về đồng bào, đồng chí mà trò chuyện, nhắn nhủ tâm sự

Trang 30

Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Như vậy, có thể nói trong bài tác gia văn học nói chung, trong bài học tác gia Tố Hữu nói riêng luôn tồn tại tri thức giao thoa giữa khoa học và nghệ thuật Đó là đặc trưng chung của phần Văn học sử, hay đó cũng là ưu điểm, sức hấp dẫn riêng của văn bản nghị luận văn học

2.2 Những tri thức cơ bản trong bài dạy tác gia Tố Hữu

Tác gia văn học là những người có đóng góp quan trọng cho nền văn học dân tộc Vị trí, vai trò của tác gia đã được khẳng định qua sự nghiệp văn học của tác gia đó Trong bài học về tác gia là những tri thức mang tính đánh giá, nhận định về nhà văn tri thức khái quát Và một phần tri thức là chứng minh, giải thích có nhận định đó tri thức cụ thể Hai thành phần tri thức có mối quan

hệ gắn bó mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau, bổ sung và làm rõ nhau hơn Bài học tác gia Tố Hữu là một bài thuộc phần Văn học sử nên cũng mang hai loại tri thức cơ bản của Văn học sử đó là: Tri thức khái quát và tri thức cụ thể Khoá luận này sẽ đi tìm hiểu hai thành phần tri thức đó để giúp cho việc dạy bài tác gia Tố Hữu có hiệu quả

Trang 31

2.2.1 Tri thức khái quát trong bài dạy tác gia Tố Hữu

Theo cuốn từ điển tiếng Việt của NXB Đà Nẵng năm 2009 do Hoàng Phê chủ biên thì khái quát là “có tính chất chung cho một loại sự vật hiện

tượng” (đặc điểm khái quát, cái nhìn khái quát) [23, 609]

“Tri thức là những hiểu biết có hệ thống về sự vật hiện tượng trong tự

nhiên hoặc xã hội”[23, 1280]

Vậy có thể hiểu tri thức khái quát là những tri thức có tính chung có tính

hệ thống tiêu biểu cho một loại sự vật hiện tượng, các sự vật hiện tượng đó phải có mối liên hệ trên một cơ sở chung nào đó

TS Nguyễn Trọng Hoàn viết: “Trong Văn học sử tri thức khái quát là những nhận định, nhận xét, đánh giá, kết luận, là kết quả khái quát nhất, những

giá trị văn học Nó nói lên nghiên cứu cuả các vấn đề văn học”[7, 10]

Theo GS Phan Trọng Luận tri thức khái quát được hiểu như sau: Tính khái quát của Văn học sử thể hiện trong các nhận định Văn học sử, các phạm

trù khái niệm quy luật Văn học sử [16, 32]

Có thể thấy quan điểm chung của các nhận định đều chỉ ra rằng tri thức khái quát trong bài Văn học sử chính là những nhận định, nhận xét đánh giá

về các sự vật hiện tượng, về tác gia văn học Đó là kết quả nghiên cứu xem xét, phân tích tổng hợp một cách có hệ thống các tư liệu có thể để các nhà văn đưa ra được điều này Đây là quá trình tổng hợp hoá cao cho nên tri thức khái quát bao hàm một lượng thông tin cô đọng và hàm súc Nó chính là yếu tố giúp chúng ta hiểu bản chất các sự kiện được đánh giá

Thông qua những tri thức khái quát ấy vấn đề được trình bày sẽ rõ ràng, lôgic, có hệ thống Tri thức khái quát như chiếc xương sống trên cơ thể con người, nó là linh hồn của bài học, nó góp phần định hướng tri thức quan trọng trong bài Văn học sử

Trang 32

Trong bài Văn học sử tri thức khái quát nhất là những nhận định về vị trí, vai trò của tác gia đó trong giai đoạn tác gia sinh sống và sáng tác cũng như tiến trình văn học dân tộc Tri thức khái quát ở cấp độ tác phẩm minh hoạ

cụ thể tri thức khái quát về sự nghiệp sáng tác của tác giả

Trong bài học tác gia Tố Hữu, có thể xem tri thức sau đây là tri thức khái quát: Trong mục II có đoạn: “Tố Hữu là một trong những lá cờ đầu của nền văn học cách mạng Việt Nam” [19, 95] Tri thức được đưa ra đánh giá vai trò

to lớn của nhà thơ Tố Hữu trong giai đoạn cách mạng Việt Nam Ông chính là một trong những lá cờ đầu, người có nhiều đóng góp cho nền văn học cách mạng Nhận định trên đã đánh giá vai trò không thể thay thế của Tố Hữu trong lịch sử văn học nước nhà

Trong bài Văn học sử nói chung và bài tác gia văn học nói riêng thì dung lượng tri thức khái quát là rất lớn, bao gồm một khối lượng kiến thức đồ sộ, khái quát nhiều tầng loại về những vấn đề lớn lao của nền văn học dân tộc Cụ thể trong bài tác gia văn học bao gồm các đánh giá, các nhận định về cuộc đời, con người quan điểm sáng tác, phong cách nghệ thuật của nhà văn sự đánh giá ấy có thể bao gồm cả cuộc đời sáng tác, cũng có thể được chia nhỏ thành các thời kỳ sáng tác trong bài học về tác giả Tố Hữu sự nghiệp sáng tác của Tố Hữu được đánh giá: đường cách mạng gắn với đường thơ và được chia làm các thời ký khác nhau: “Các chặng đường thơ Tố Hữu luôn gắn bó và phản ánh chân thật những chặng đường cách mạng đầy gian khổ hi sinh nhưng cũng nhiều thắng lợi vẻ vang của dân tộc đồng thời cũng là những chặng đường vận động trong quan điểm, tư tưởng và bản lĩnh nghệ thuật của nhà thơ” [19, 95]

Nhận định trên chứa đựng các khái niệm mang tính lý luận như chặng đường thơ, quan điểm nghệ thuật, bản lĩnh nghệ thuật… bởi vì nhiệm vụ quan

Trang 33

trọng trong khi dạy bài tác giả văn học là phải giúp học sinh hình thành và hiểu các khái niệm các kiến thức lý luận văn học hay những nhận định văn học

Từ việc xem xét và phân tích một số ví dụ trên ta thấy trong một bài Văn học sử, cụ thể trong bài tác giả văn học Tố Hữu, lượng tri thức khái quát là tương đối lớn Vì vậy tri thức khái quát có ý nghĩa vô cùng quan trọng nó nói lên bản chất của sự kiện văn học

Chính vì trong một bài Văn học sử lượng tri thức khái quát rất lớn nên rất khó có thể ghi nhớ nếu chúng chỉ tồn tại ở dạng nhỏ lẻ và vụn vặt Do vậy, mục đích của tri thức khái quát là giúp cho học sinh có cái nhìn tổng quát, khái quát nhất về bản chất, giúp cho học sinh nhanh chóng nắm bắt kiến thức

và ghi nhớ những kiến thức cơ bản

Đối với giáo viên, tri thức khái quát giúp cho người dạy xác định được trọng tâm bài dạy, giúp giáo viên có thể chủ động, linh hoạt trong giảng dạy, trong việc huy động các kiến thức có liên quan phục vụ cho bài giảng Giúp giáo viên lựa chọn và vận dụng phương pháp phù hợp, truyền đạt cho học sinh kiến thức một cách có hiệu quả nhất

Tóm lại, trong bài Văn học sử nói chung bài tác gia Tố Hữu nói riêng tri thức khái quát có một vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng.Vì thế khi đi tìm hiểu bài tác gia văn học cần phải đặc biệt quan tâm đến tri thức khái quát

2.2.2 Tri thức cụ thể

Thế nào là tri thức cụ thể? Theo cuốn Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì “cụ thể” được hiểu là “được xác định riêng và rõ ràng, không chung không khái quát [23, 285]

Tri thức cụ thể trong bài Văn học sử được hiểu là: “ những tri thức ở dạng

tư liệu dẫn chứng minh hoạ cho kiến thức khái quát” [12, 11] hoặc được định nghĩa một cách rõ ràng hơn là: “các tri thức minh hoạ cho các nhận định Văn

Trang 34

học sử, hoặc tri thức về tác giả, tác phẩm có khi là câu thơ, đoạn trích [17, 33] Tuỳ thuộc vào mức độ tri thức được minh hoạ mà nó được coi là khái quát hay cụ thể, cũng có khi tri thức ấy được coi là khái quát (đối với việc minh hoạ cho một tác phẩm) nhưng nó lại là tri thức cụ thể (khi nó minh hoạ cho một tác giả) Chính vì vậy mà khái niệm tri thức cụ thể cũng nên xem xét một cách linh hoạt

Trong bài học tác gia văn học tri thức cụ thể chiếm một lượng lớn và có một vị trí quan trọng để làm sáng tỏ sự nghiệp văn học của tác giả Bởi vì “cắt nghĩa đánh giá một tác gia phải căn cứ vào tác phẩm của họ để làm sáng tỏ sự thành bại của nhà văn, chúng ta cần tìm hiểu mối quan hệ giữa tư tưởng lí

luận và thực tiễn sáng tác của tác giả

Ví dụ “Thơ Tố Hữu mang tính dân tộc rất đậm đà” [19, 98] Đó là nhận xét khái quát về nghệ thuật thơ Tố Hữu để minh hoạ cho tri thức khái quát thì sách giáo khoa đã dùng tri thức cụ thể như: Về thơ Tố Hữu có tiếp thu những tinh hoa của phong trào thơ mới, của thơ ca, thế giới cổ điển và hiện tại, đặc biệt ông đã thành công khi vận dụng những thể thơ truyền thống của dân tộc

Về ngôn ngữ, ông không chú ý sáng tạo những từ mới, cách diễn đạt mới

mà ông sử dụng những từ ngữ và cách nói quen thuộc với dân tộc

Để minh hoạ cho tri thức về ngôn ngữ, sách giáo khoa lấy hai ví dụ

Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan Đường bạch dương sương trắng nắng tràn

(Em ơi-Ba Lan) Thác bao nhiêu thác, cũng qua

Thênh thang là chiếc thuyền ta trên đời (Nước non ngàn dặm)

Trang 35

Thông qua việc lựa chọn những tri thức cụ thể đó chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn, toàn diện hơn để làm sáng tỏ nét đặc sắc trong nghệ thuật thơ Tố Hữu, nét đặc sắc trong nghệ thuật đó được thể hiện cụ thể qua nhiều sáng tác của ông, mà còn hai bài thơ trên là ví dụ cụ thể Đó là những khả năng phát huy cao độ tính nhạc phong phú của tiếng Việt, nhà thơ sử dụng tài tình các từ láy, các thanh điệu, các vần thơ

Ngay cả khi trình bày tiểu sử của nhà thơ Tố Hữu những tri thức cụ thể

về cuộc đời của tác giả cũng có ý nghĩa và ấn tượng đặc biệt cho bài giảng

Ví dụ: Trong đoạn trình bày về tiểu sử của Tố Hữu, cuối tháng 4/1939

Tố Hữu bị thực dân pháp bắt giam vào nhà lao Thừa Thiên rồi lần lượt bị giam giữ trong nhiều nhà tù ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên Đây là tri thức giúp cho người đọc cắt nghĩa lý giải được tại sao trong sự nghiệp sáng tác thơ của Tố Hữu lại có những bài thơ thể hiện tâm trạng tù ngục: Tâm tư trong tù, Khi con Tu Hú

Hay kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Tố Hữu công tác ở Thanh Hoá rồi lên Việt Bắc đặc trách về văn hoá, văn nghệ ở cơ quan Trung ương Đảng Đây là cơ sở cho sự ra đời tập thơ Việt Bắc tiêu biểu là bài thơ Việt Bắc Tập thơ thể hiện một thời cách mạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng, nhất

là nghĩa tình gắn bó thắm thiết của những người kháng chiến với Việt Bắc, với nhân dân, đất nước

Như vậy, mục đích của tri thức cụ thể trong bài Văn học sử nói chung và bài tác gia văn học nói riêng là gì?

Tri thức cụ thể được đưa vào bài Văn học sử làm nền tảng, làm cơ sở chứng minh cho tri thức khái quát Vì tri thức khái quát chỉ có thể được hiểu

và làm sáng tỏ thông qua hệ thống tri thức cụ thể Nếu không có tri thức cụ thể thì tri thức khái quát chỉ là mơ hồ, trừu tượng, khô khan, vô hồn Khi có

Trang 36

tri thức cụ thể thì học sinh sẽ hình dung ra được, tái hiện một cách cụ thể đời sống văn học và giờ văn sẽ thêm sống động, có hồn, hấp dẫn

Vì vậy, người giáo viên không phải là người “bê nguyên xi” kiến thức trong sách giáo khoa mà phải tổ chức lại cho sinh động, hấp dẫn, cụ thể hoá giúp học sinh có cảm giác dễ chịu, hứng thú khi tiếp nhận bài học

Theo TS Nguyễn Trọng Hoàn: “Có thể khắc sâu bằng kiến thức bổ sung dẫn chứng, phân tích dẫn chứng làm sáng tỏ nhận định khái quát trong sách giáo khoa về tác giả” [7, 33]

Như đã nói, tri thức cụ thể chủ yếu là các phần văn chương nhằm minh hoạ cho tác gia văn học, minh hoạ cho một giai đoạn văn học thậm chí minh hoạ bằng một tác phẩm, mà có khi là một đoạn, một câu tiêu biểu nhất Trong hoạt động tiếp nhận văn chương có lúc đi từ tri thức khái quát rồi học sinh sẽ làm sáng tỏ bằng những tri thức cụ thể, cũng có thể thông qua hàng loạt các tri thức cụ thể nào rồi mới bước vào quá trình khái quát hoá Thông qua tác phẩm học sinh hiểu sâu hơn, hiểu rõ hơn bản chất kì diệu của văn chương và tài năng sáng tác của tác gia văn học, từ đó rèn luyện tư duy lôgic và năng lực cảm thu văn học cho học sinh

Nói tóm lại, tri thức khái quát và tri thức cụ thể có mối quan hệ tác động qua lại, hỗ trợ nhau Nhà nghiên cứu I.A.REX khẳng định: “Không nghiên cứu một cách có cơ sở các tác phẩm cụ thể thì không thể rút ra được một kết luận nào về mặt lý luận hoặc lịch sử văn học” [28, 49,50]

Còn GS Phan Trọng Luận lại cho rằng: “Tri thức văn học luôn được lĩnh hội như một sự kết hợp giữa nhận định khái quát và tư liệu minh hoạ khả năng khái quát phải được rèn luyện đồng thời với khả năng minh hoạ, người giáo viên biết cách kết hợp linh hoạt hai loại tri thức này thì bài Văn học sử sẽ thành công [17, 234]

Ngày đăng: 31/10/2015, 09:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Viết Chữ, ( 2001), Phương pháp dạy văn theo loại thể, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy văn theo loại thể
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2001
3. Trần Thanh Đạm, (1970), Vấn đề dạy văn theo loại thể, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dạy văn theo loại thể
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1970
4. Phạm Văn Đồng, (1983), Tổ Quốc ta nhân dân ta và người nghệ sĩ, Nxb VH HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ Quốc ta nhân dân ta và người nghệ sĩ
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb VH HN
Năm: 1983
5. Lê Bá Hán, (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2007
6. Nguyễn Thái Hoà, (2004), Vấn đề đọc hiểu và dạy đọc hiểu, Nxb ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đọc hiểu và dạy đọc hiểu
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 2004
7. Nguyễn Trọng Hoàn, (2001), Tập bài giảng phương pháp dạy lịch sử văn học, Nxb ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng phương pháp dạy lịch sử văn học
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 2001
8. Nguyễn Trọng Hoàn, (2003), Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2003
9. Lê Văn Hồng, (2001), Tâm lý lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2001
10. Nguyễn Thanh Hùng, (1998), Hiểu văn, dạy văn, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểu văn, dạy văn
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1998
11. Nguyễn Thị Mai Hương, (2001), Dạy văn ở trường phổ thông, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy văn ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Hương
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2001
12. Nguyễn Thị Thanh Hương, (2001), Dạy học văn ở trường phổ thông, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học văn ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2001
13. Nguyễn Thị Thanh Hương, (2001), Phương pháp tiếp nhận văn ở nhà trường phổ thông, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tiếp nhận văn ở nhà trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2001
14. Phong Lan và Mai Hương, (2005), Tố Hữu tác gia và tác phẩm, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tố Hữu tác gia và tác phẩm
Tác giả: Phong Lan, Mai Hương
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2005
16. Phan Trọng Luận, (2003), Phương pháp dạy học văn, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2003
17. Phan Trọng Luận, (2004), Phương pháp dạy học văn tập2, Nxb ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn tập2
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 2004
18. Phan Trọng Luận, (2005), Ngữ văn 10 - Tập 1 + 2 Bộ 2 (SGK thí điểm), Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 10 - Tập 1 + 2 Bộ 2 (SGK thí điểm)
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2005
19. Phan Trọng Luận, (2009), Ngữ văn 12 tập 1, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 12 tập 1
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2009
20. Phan Trọng Luận, (2009), Sách giáo viên Ngữ văn 12 tập1, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Ngữ văn 12 tập1
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2009
21. Phan Trọng Luận, (2009), Thiết kế bài học Ngữ văn 12 tập 1, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài học Ngữ văn 12 tập 1
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2009
22. Phương Lựu, (2004), Lí luận văn học, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2004

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w