Xuất phát từ những cơ sở trên, người viết đã chọn đề tài “Vai trò của tình thái từ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan” với mong muốn khảo sát, bình giá vai trò của tình thái từ trong m
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Từ loại là kết quả nghiên cứu vốn từ trên bình diện ngữ pháp Đó là
những lớp từ có chung bản chất ngữ pháp, được biểu hiện trong các đặc trưng thống nhất dùng làm tiêu chuẩn tập hợp và quy loại Ngôn ngữ học truyền thống đã phân loại từ dựa trên hai tiêu chí cơ bản: ý nghĩa phạm trù và khả năng hoạt động ngữ pháp của từ Theo kết quả phân loại đó, chúng ta có hai lớp từ cơ bản là thực từ và hư từ
Tình thái từ là từ loại thuộc lớp hư từ, vừa có chức năng tạo dạng thức cho các câu theo mục đích phát ngôn, vừa có chức năng biểu thị ý nghĩa tình thái trong quan hệ của chủ thể phát ngôn với người nghe hay với nội dung phản ánh Vấn đề tình thái từ đã được chú ý từ lâu và thu hút rất nhiều sự quan tâm, nghiên cứu Nhưng trên thực tế, việc nghiên cứu từ loại này mới chỉ được đề cập đến một cách khái quát trong các công trình của các nhà ngôn ngữ học
1.2 Ngày nay, ngành ngữ pháp học hiện đại ngày càng đi sâu vào
nghiên cứu từ trong các hành vi ngôn ngữ được đặt trong các mối quan hệ chặt chẽ với tình huống sử dụng Điều đó có nghĩa là người ta đưa ngôn ngữ vào trong đời sống cụ thể và khẳng định vai trò của nó trong giao tiếp ở các ngữ cảnh cụ thể để nắm được những quy luật của chúng một cánh chính xác, khách quan, khoa học Tác phẩm văn chương chính là một môi trường giao tiếp đặc biệt, ở đó một mặt luôn diễn ra hoạt động giao tiếp trong thế giới nhân vật do nhà văn hư cấu nên; mặt khác mỗi tác phẩm lại được xem là một sản phẩm giao tiếp giữa hai nhân vật đặc thù là nhà văn và bạn đọc Chính vì vậy, nghiên cứu vai trò của mỗi loại từ trong các sáng tác văn chương luôn hứa hẹn những biểu hiện độc đáo riêng, không chỉ đóng góp thêm cho lý
Trang 2thuyết ngôn ngữ học mà còn đem đến một hướng tiếp cận văn học nghệ thuật giàu sức thuyết phục
Với xu hướng đó, các công trình nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại đã
đi sâu vào tìm hiểu vai trò của các thực từ trong sáng tác văn chương nghệ thuật Còn đối với hư từ, đặc biệt là vai trò của các tình thái từ trong các sáng tác văn chương của những tác giả cụ thể mới chỉ được xem xét một cách khái quát, ít ỏi Thực chất, đây là vấn đề rất quan trọng cần được quan tâm một cách kỹ lưỡng hơn, nhằm góp phần nâng cao nhận thức về đặc điểm, vai trò, chức năng của từ loại này đối với việc biểu đạt nội dung tư tưởng cũng như giá trị nghệ thuật trong sáng tạo văn chương của người nghệ sĩ
1.3 Nguyễn Công Hoan là một nhà văn lớn trong lịch sử văn học Việt
Nam Các sáng tác thành công nhất của ông tập trung trong mảng truyện ngắn, đa phần là truyện ngắn trào phúng trong giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945 Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan có đặc trưng nổi bật là sử dụng nhiều đối thoại, lời thoại ngắn gọn, giàu kịch tính, lột tả sắc nét cá tính nhân vật Đặc biệt, ông đã rất tài tình trong việc vận dụng các tình thái từ thể hiện nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm, góp phần to lớn vào việc xác lập một phong cách văn xuôi độc đáo trong lịch sử văn học
Xuất phát từ những cơ sở trên, người viết đã chọn đề tài “Vai trò của
tình thái từ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan” với mong muốn khảo sát,
bình giá vai trò của tình thái từ trong một số truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Công Hoan, từ đó nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của từ loại này trong tiếng Việt, đồng thời hiểu sâu sắc hơn giá trị các sáng tác của nhà văn
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu về tình thái từ
Trong hệ thống từ loại tiếng Việt, tình thái từ cũng đã được các nhà ngôn ngữ học đề cập đến nhiều, nhưng chủ yếu vẫn là những nhận xét, kết luận khái quát, chung chung Còn việc nghiên cứu, đánh giá vai trò, tác dụng
Trang 3cụ thể của tình thái từ trong một tác phẩm văn học, một sản phẩm giao tiếp còn khá hiếm hoi, ít ỏi Dưới góc độ nghiên cứu bản chất, chức năng của các
từ loại tiếng Việt, tình thái từ được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ lâu Có thể kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả tiêu biểu: Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung, Lê Biên, Đinh Văn Đức, Nguyễn Anh Quế,…
Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung quan niệm: “Tình thái từ là tiểu
từ chuyên dùng biểu thị ý nghĩa tình thái trong quan hệ của chủ thể phát ngôn với người nghe hay nội dung phản ánh, hoặc ý nghĩa tình thái với mục đích phát ngôn”
Theo Lê Biên: “Tình thái từ là một tập hợp riêng biệt, có một số lượng
từ không lớn, có tác dụng nhất định về mặt ngữ pháp tiếng Việt”
Đinh Văn Đức cho rằng: “Tình thái từ vốn là một khái niệm về ngữ nghĩa của câu, nghĩa là thuộc địa hạt cú pháp … Đó là một tập hợp từ không lớn nhưng cái tập hợp ấy lại có một đặc trưng riêng về ngữ pháp”
Ngoài những công trình nghiên cứu trên đây, có nhiều bài viết về tình thái từ như:
Đái Xuân Ninh: “Tình thái ngôn ngữ” (Tạp chí Ngôn ngữ số 2 – 1986) Hoàng Phê: “Những toán tử lôgíc tình thái” (Tạp chí Ngôn ngữ số 4 – 1984)
Phạm Thị Ly: “Tiểu từ tình thái cuối câu, một trong những phương tiện chủ yếu diễn đạt nghĩa tình thái trong tiếng Việt” (Tạp chí Ngôn ngữ số 13 – 2002)
Lê Thị Thanh Huyền: “Tình thái từ và vai trò của tình thái từ trong các hành vi ngôn ngữ” (Khoá luận tốt nghiệp, ĐHSP Hà Nội 2, 2003)
Trang 42.2 Lịch sử nghiên cứu về ngôn ngữ trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
Có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết xuất sắc về ngôn ngữ của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Có thể kể đến một số công trình, bài viết tiêu biểu như sau:
- Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật Nguyễn Công Hoan, Luận văn thạc sĩ của Lò Thị Duyên, ĐHHSP Hà Nội, 1998
- Hành vi ngôn ngữ đưa đẩy trong tiếng Việt và việc sử dụng hành vi này trong một số truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, Luận văn thạc sĩ của Hoàng Dân, ĐHSP Hà Nội, 1984
- Mạch lạc của đối thoại nghệ thuật trong một số truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, Báo cáo khoa học của Phạm Thị My, Đoàn Thị Việt Nga, 2003
Trên cơ sở tiếp thu những kết quả của các nhà khoa học và các công trình nghiên cứu của các tác giả có bề dày kinh nghiệm, người viết muốn đi sâu nghiên cứu vai trò của tình thái từ trong phạm vi cụ thể là truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, khoá luận nhằm đạt những mục đích sau đây:
- Hệ thống hoá những tri thức về tình thái từ, qua đó để hiểu sâu sắc về bản chất, đặc điểm, chức năng của tình thái từ
- Vận dụng những hiểu biết chung về tình thái từ trong tiếng Việt để tìm hiểu một cách cụ thể, sâu sắc về vai trò, chức năng của tình thái từ trong việc hình thành những giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
- Trên cơ sở những hiểu biết về vai trò, tác dụng của tình thái từ, vận dụng vào việc giảng dạy truyện ngắn Nguyễn Công Hoan cũng như giảng dạy
Trang 5môn tiếng Việt nói riêng và môn Ngữ văn nói chung cho học sinh trong trường phổ thông; đồng thời, vận dụng một cách hiệu quả các tình thái từ trong thực tiễn giao tiếp, tiếp nhận cũng như sáng tạo văn bản
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, người viết đặt ra những nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Dựa trên kết quả nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học, người viết sẽ
hệ thống hoá những kiến thức lý luận về tình thái từ để nắm vững đặc điểm, bản chất, chức năng của chúng trong hệ thống từ loại tiếng Việt
- Trên cơ sở những kiến thức lý luận đã hệ thống hoá, người viết tiến hành khảo sát một số truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Công Hoan để thống
kê và phân loại các tình thái từ trong những truyện ngắn đó
- Tiến hành phân tích các ngữ liệu cụ thể để rút ra những nhận xét, kết luận khái quát về vai trò của tình thái từ trong việc góp phần tạo nên giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
4 Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu, nghiên cứu về vai trò của tình thái từ là một lĩnh vực phong phú, đa dạng Do vậy, người viết chỉ giới hạn sự khảo sát, phân tích, tìm hiểu của mình trong “Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Công Hoan” (gồm 48 truyện ngắn)
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, người viết sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp khảo sát, thống kê
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ
- Phương pháp khái quát hoá - tổng hợp hoá vấn đề
Trang 66 Đóng góp của khoá luận
6.1 Về lí luận
Với khoá luận này, người viết mong muốn làm rõ vai trò của tình thái
từ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Qua đó nâng cao nhận thức về vị trí, chức năng của từ loại này trong tiếng Việt; đồng thời đóng góp một hướng tiếp cận hiệu quả khi tìm hiểu các sáng tác văn chương của Nguyễn Công Hoan
6.2 Về thực tiễn
Khoá luận góp phần nâng cao hiệu quả dạy học tiếng Việt nói riêng và dạy học Ngữ văn nói chung cho học sinh trong trường phổ thông Đồng thời, người đọc có thể vận dụng những kết quả thu được vào thực tiễn giao tiếp, tiếp nhận và sáng tạo văn bản
7 Bố cục của khoá luận
Khoá luận này có 61 trang, được bố cục như sau:
Phần mở đầu: 6 trang
Phần nội dung: - Chương 1 Cơ sở lý luận: 14 trang
- Chương 2 Vai trò của tình thái từ trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan: 39 trang
Phần kết luận: 1 trang
Tài liệu tham khảo: 1 trang
Trang 7NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tình thái từ trong tiếng Việt
Vấn đề tình thái từ trong tiếng Việt đã được các nhà nghiên cứu chú ý đến từ lâu Ở Việt Nam, tình thái từ cũng được đề cập xem xét qua những công trình nghiên cứu, những bài viết của các tác giả vốn có nhiều kinh nghiệm về ngôn ngữ Tuy nhiên cho đến nay, quan niệm về tình thái từ vẫn chưa có được sự thống nhất ở các nhà nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm tình thái từ
Về khái niệm tình thái từ, có thể kể đến một số quan niệm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ như: Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung, Đinh Văn Đức, Lê Biên,…
1.1.1.1 Quan niệm của Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
Hai tác giả trên cho rằng: Tình thái từ là tiểu từ chuyên dùng biểu thị ý nghĩa tình thái trong quan hệ của chủ thể phát ngôn với người nghe hay với nội dung phản ánh; hoặc ý nghĩa tình thái gắn với mục đích phát ngôn.Tình thái từ có vị trí trong câu rất linh hoạt Chúng có thể đặt đầu câu, cuối câu hay
ở trong câu Khi đứng trong câu, tình thái từ thường có tác dụng phân tách ranh giới các thành phần câu, tạo dạng thức các kiểu câu theo mục đích phát ngôn Tình thái từ cũng có thể đứng riêng biệt, làm thành câu đặc biệt
1.1.1.2 Quan niệm của Đinh Văn Đức
Theo Đinh Văn Đức, tình thái từ là một tập hợp từ không lớn về mặt số lượng nhưng tập hợp ấy lại có một đặc trưng riêng về bản chất ngữ pháp Tình thái từ không có ý nghĩa từ vựng và cũng không có ý nghĩa ngữ pháp theo cách hiểu truyền thống Ở trong câu, tuy chúng có bị chi phối bởi các quy tắc
Trang 8kết học nhưng vị trí và sự di chuyển của chúng cho thấy từ loại này thiên về công cụ của nghĩa học nhiều hơn
1.1.1.3 Quan niệm của Lê Biên
Nhà ngôn ngữ học Lê Biên cho rằng: “Tình thái từ là một tập hợp từ riêng biệt, có một số lượng từ không lớn, có tác dụng nhất định về ngữ pháp tiếng Việt” Ông cũng nêu lên tác dụng của nó như sau: “Các tình thái từ xuất hiện và hoạt động ở bậc câu, chúng không làm thành tố của ngữ, một số tình thái từ có chức năng dạng thức hoá một từ, một ngữ hoặc bổ sung cho phát ngôn một sắc thái tình cảm nào đó.”
* Nhận xét: Có thể thấy trong những quan niệm về tình thái từ đã nêu ở trên, hai tác giả Diệp Quang Ban và Nguyễn Hữu Thung đã đưa ra định nghĩa tiếp cận được nhiều mặt của tình thái từ Định nghĩa đó tuy chưa thật đầy đủ nhưng đã cho thấy các đặc điểm và chức năng của tình thái từ một cách cơ bản và khái quát nhất
1.1.2 Phân loại tình thái từ
Từ những quan niệm khác nhau về tình thái từ, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ cũng có những cách phân chia khác nhau đối với tập hợp từ này
1.1.2.1 Cách phân loại của Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
Theo Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung, tình thái từ bao gồm một số nhóm sau đây:
a Tình thái từ góp phần thể hiện mục đích phát ngôn
- Tình thái từ để hỏi: à, ư, chứ, chăng, hử, hả, không, phỏng,…
Ví dụ: + Hôm nay ở rạp có phim mới à?
Ừ Cậu có đi xem không?
+ Sao giờ này mà nó vẫn chưa đến nhỉ?
- Tình thái từ mệnh lệnh hoặc cầu khiến: đi, với, nhé, mà, nào, thôi,…
Ví dụ: + Anh ghé qua bưu điện gửi giúp tôi lá thư nhé!
+ Học bài đi!
Trang 9b Tình thái từ biểu thị cảm xúc chủ quan hoặc khách quan
Thuộc về nhóm này có các từ:
- À, á, vậy, kia, mà, cơ mà, hứ, hé, thật,…
- Ôi, ối, ái, ồ, ái dà, ôi dào, ối giời ơi, chết, chết thật, bỏ mẹ,…(thường được gọi là các thán từ hoặc cảm thán từ)
Ví dụ: + Hôm nay chúng ta học chiều cơ mà
+ Chết thật, con bé đi đâu mà giờ vẫn chưa về
c Tình thái từ dùng để gọi đáp (hoặc để cấu tạo thành phần gọi đáp): ơi, hỡi,
ạ, này, ừ, vâng, dạ, đây,…
Ví dụ: + Lan ơi!
Dạ, mẹ bảo con việc gì thế ạ?
+ Bác ạ, chúng cháu có câu chuyện muốn nói với bác
1.1.2.2 Cách phân loại của Đinh Văn Đức
Tình thái từ tuy ít về số lượng nhưng có một bản chất ngữ pháp độc lập Căn cứ vào đặc điểm ngữ pháp có thể chia tình thái từ thành hai loại: tiểu từ tình thái và trợ từ Ngữ pháp truyền thống, theo một tiên nghiệm, thường chia các từ tình thái thành hai loại như trên Đây là một tập hợp khá thuần nhất về những đặc trưng chung
1.1.2.3 Cách phân loại của Lê Biên
Căn cứ vào vị trí và tác dụng, có thể chia phạm trù tình thái thành hai loại: trợ từ và thán từ
Trang 10a.2 Chức năng của trợ từ
Chức năng cơ bản của trợ từ là nhấn mạnh vào một nội dung cụ thể, một quan hệ cụ thể trong phát ngôn Nó diễn đạt những mối quan hệ có tính chất bộ phận giữa người nói với nội dung phát ngôn, đưa lại cho phát ngôn một sắc thái tình cảm nào đấy
a.3 Phân loại trợ từ
Trên cơ sở vị trí, vai trò của trợ từ, có thể phân trợ từ thành hai loại: các trợ từ nhấn mạnh và các trợ từ tình thái
* Các trợ từ nhấn mạnh
- Tiểu loại này bao gồm các từ như: ngay, cả, ngay cả, ngay đến, chính, chính ngay, đích, đích thị, những, các,…
Ví dụ:
“Lấy cái cớ giản dị này: kẻ lấy cắp hai đồng bạc ấy, chính là tôi!”
(Mua danh – Nam Cao )
“Nhà những sáu miệng ăn: hai vợ chồng với bốn đứa con, bốn đứa con lau chau, cung chưa làm được gì cả.”
(Nhỏ nhen – Nam Cao)
“… Tôi chỉ là một con chim bé nhỏ
Vứt trong lồng con giữa một lồng to
Chuyển đời quay theo tiếng gọi tự do
Tôi chỉ một giữa muôn người chiến đấu…”
(Tâm tư trong tù – Tố Hữu)
- Về vị trí: Các trợ từ nhấn mạnh thường đứng ở vị trí trước bộ phận cần nhấn mạnh, chúng không có vị trí cố định ở trong câu, vị trí của trợ từ nhấn mạnh phụ thuộc vào vị trí của từng từ mà nó có quan hệ
- Về tác dụng: Trợ từ nhấn mạnh chủ yếu nhấn mạnh một bộ phận nội dung của phát ngôn
- Về chức năng: Trợ từ nhấn mạnh được xem như một phụ ngữ của câu
Trang 11“…Nhung kêu lên: À thôi em nghĩ ra được rồi Em về làm đây.”
(Cái mặt không chơi được – Nam Cao)
“Đấy! Mày đã biết cái dại nhà mày chưa? Bây giờ mày mới trơ mắt ếch mày ra.”
(Thôi, đi về – Nam Cao)
“Ồ, có chăng thì thế chứ! Vậy mời quan viên nào.”
(Trẻ con không được ăn thịt chó – Nam Cao)
“Này hãy nghe cả lâu đài xã hội
Chuyển rung trong biển máu tràn trề
Này hãy nghe một thời đang hấp hối
Trong mồ hôi dĩ vãng sắp lui về.”
(Tháp đổ – Tố Hữu)
“À, ra là một chuyện khác.”
(Mùa lạc – Nguyễn Khải)
+ Trợ từ tình thái đứng ở cuối các phát ngôn: ư, nhỉ, nhé, ấy, cả, cả mà, kia, kia mà, cả đấy, hử, hả,…
Ví dụ:
“Khuya rồi đấy, ngủ đi.”
(Vợ nhặt – Kim Lân)
“Sáng hôm sau, ở nhà hát ra Thư hỏi:
- Bây giờ chúng ta đi về nhà anh chứ?”
(Quên điều độ - Nam Cao)
Trang 12“Hắn bảo thị:
Giá cứ mãi thế này thì thích nhỉ?”
(Chí Phèo – Nam Cao)
“Bà nhìn cháu, giục:
- Con rửa mặt đi, rồi đi nghỉ không mệt Trời nắng thế này mà con không đi xe ư?”
(Dưới bóng hoàng lan - Thạch Lam)
+ Trợ từ tình thái có thể xuất hiện ở cả đầu và cuối các phát ngôn: đâu,
ấy, vậy, kia, đấy,…
Ví dụ:
“Trông anh chàng như con giun chết, không thương được Cu cậu hỏi năm, sáu đám, có đứa nào chịu lấy nó đâu.”
(Điếu văn – Nam Cao)
“Mẹ Sơn ngửng lên nhìn rồi nghiêm nghị bảo?
- Kìa, hai cô cậu đã về kia Thế áo bông của tôi đâu mà tự tiện đem cho đấy?”
(Gió lạnh đầu mùa - Thạch Lam)
“Ấy là nói cho văn vẻ Thật ra tôi chỉ thương tôi.”
(Mua nhà – Nam Cao)
- Tác dụng của trợ từ tình thái:
Trợ từ tình thái diễn đạt ý nghĩa tình thái trong mối quan hệ với mục đích phát ngôn, biểu thị thái độ, cảm xúc của người nói (ý nghĩa tình thái có quan hệ chặt chẽ với mục đích phát ngôn) Với ý nghĩa tình thái, một số trợ từ tình thái có khả năng dạng thức hoá một từ, một ngữ thành một phát ngôn Một từ, một ngữ tự do có thể trở thành một câu
Ví dụ:- Đi nhé!
Ừ
- Sáng nay bạn đi chơi phải không?
Trang 13Đâu
Trợ từ tình thái có chức năng biểu thị thái độ hoài nghi (à, chăng, hử, hả,…) hoặc biểu thị thái độ ngạc nhiên (nhỉ, ư, ấy, không,…), thái độ cầu mong (đi, nào, thôi, thì, với, chứ,…) hoặc thái độ khẳng định hay phủ định rõ ràng dứt khoát (mà, chứ, đâu, đấy,…), cũng có thể biểu thị thái độ, cảm xúc gần gũi, thân mật (nhé, nhỉ, mà,…)
- Do đặc điểm về ngữ nghĩa, về tác dụng tình thái, có những trợ từ tình thái được xuất hiện nhiều ở phong cách này hay phong cách khác Chẳng hạn, trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, ở các lời thoại, trợ từ tình thái được sử dụng với tần số cao
Ở tiếng Việt, ngôn ngữ giàu thanh điệu, vai trò ngôn điệu bị hạn chế,
hư từ (trong đó có trợ từ) được sử dụng như một phương thức ngữ pháp để diễn đạt ý nghĩa ngữ pháp Vì vậy mà bất kì câu tường thuật nào nếu thêm trợ
từ đi kèm đều có thể trở thành câu nghi vấn hoặc câu cầu khiến, mệnh lệnh
Ở cấp độ câu của tiếng Việt, việc sử dụng trợ từ có tính quy tắc chứ không phải tuỳ tiện Sử dụng trợ từ hay không phải có điều kiện, tình huống, ngữ cảnh cụ thể của phát ngôn chi phối Trong câu, có những trợ từ có thể thay thế cho nhau được nhưng có trường hợp chỉ dùng được một từ nhất định, không thể thay thế bằng các trợ từ khác
b Về thán từ
b.1 Thế nào là thán từ?
Thán từ là lớp từ có chức năng dẫn xuất biểu hiện cảm xúc, biểu lộ trực tiếp thái độ tình cảm khách quan của chủ thể phát ngôn do tác động khách quan từ bên ngoài vào hoặc từ nội tâm của chủ thể
Ví dụ:
Thán từ “ồ” biểu thị thái độ ngạc nhiên, bất ngờ của chủ thể phát ngôn trước một sự kiện, một hiện tượng nào đó Chẳng hạn: Ồ, nó đã tới kìa!
Trang 14Thán từ “ái” biểu thị thái độ, trạng thái cảm xúc khó chịu, đau đớn đột ngột do tác động của sự vật hiện tượng từ bên ngoài vào Chẳng hạn: Ái, sao lại đánh tôi!
b.2 Chức năng của thán từ
- Thán từ không có mối liên hệ hình thức với những từ đứng trước và đứng sau chúng.Thán từ không tham gia vào cấu trúc ngữ, không làm thành tố của một ngữ và không làm thành phần của câu Thán từ là những từ không mang ý nghĩa phạm trù đầy đủ, rõ rệt mà chuyên dùng để biểu thị những tình cảm, thái độ trực tiếp đối với sự kiện được nói tới trong câu và đối với người nghe
- Thán từ vừa có vai trò như một từ, vừa có vai trò tương đương với một câu và có thể đứng độc lập tạo thành một khối riêng biệt Cho nên thán từ còn được gọi là từ - câu Thán từ có thể hoạt động “như những cái tương đương với câu hoặc được chen vào trong câu như những cái chêm từ bên ngoài” (Maxlôp) Ở những phát ngôn cụ thể, thán từ được xem như một thông điệp bổ sung về một điều gì đó Do vậy, ngôn điệu có vai trò quan trọng đối với việc sử dụng thán từ (thường gọi là giọng điệu cảm thán)
“Vâng, mời bà cứ ngồi chơi thư thả xơi nước, xơi trầu đã.”
(Đợi chờ - Nam Cao)
“Trời ơi, anh Du rất sáng suốt của tôi ơi!”
(Nhỏ nhen – Nam Cao)
“Ta nhớ lắm, hỡi bạn đời yêu dấu
Cháy lòng ta nỗi nhớ bạn đời ơi.”
Trang 15(Nhớ người - Tố Hữu)
“Hỡi quốc dân! Hỡi đồng bào!
Có gươm, có súng, có dao hãy dùng!”
(Ba mươi năm đời ta có Đảng - Tố Hữu)
- Thán từ dùng để bày tỏ tình cảm, thái độ, cảm xúc trực tiếp:
+ Biểu thị sự ngạc nhiên: ồ, ô, ơ, ơ hay, ô hay, ô kìa, ơ kìa, ấy kìa,…
Ví dụ:
“- Ấy kìa, anh đi đâu đấy?”
(Sợi tóc - Thạch Lam)
“Ô tiếng hót vui say con chim chiền chiện
Trên đồng lúa xuân chao mình bay liệng”
( Bài ca xuân 1961 - Tố Hữu)
+ Biểu thị sự sợ hãi, đau đớn, than thở: ái, ối, trời ơi, than ôi, eo ơi, than
ôi, hỡi ôi,…
Ví dụ:
“ Trời ơi! Sao tôi khổ thế này?”
(Nhà mẹ Lê - Thạch Lam)
“ Hỡi ôi việc chửa thành công
Hôm nay máu chảy đỏ đồng Hậu Giang.”
( Bà má Hậu Giang - Tố Hữu)
+ Biểu thị sự than phiền, tiếc thương: ôi, than ôi, hỡi ôi,…
Ví dụ:
“ Hỡi ơi lão Hạc! Thì ra đến lúc cùng lão cũng có thể làm liều như ai hết.”
( Lão Hạc – Nam Cao)
“ Vẩn vơ theo mãi dòng trong đục
Muốn thoát, than ôi, bước chẳng rời.”
(Nhớ người - Tố Hữu )
Trang 16+ Biểu thị sự bực tức, mỉa mai, coi thường: hử, hở, hứ, hừ, ôi dào, úi chào, úi giời,…
Ví dụ:
“Ông cười khểnh:
- Hứ! Tưởng tức người ta thì làm được cái thá gì?”
( Rửa hờn – Nam Cao)
“- Úi chào! Có phải mả tổ nhà người ta đâu mà người ta phải giữ.”
(Một bữa no – Nam Cao)
* Nhận xét: Trên đây là các cách phân loại tình thái từ của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ theo những tiêu chí khác nhau, nhưng đều thể hiện cách nhìn nhận đúng đắn về đặc điểm, vai trò của các tình thái từ Trong khoá luận này, người viết sẽ theo cách phân loại của nhà nghiên cứu Lê Biên Đây được xem là cách phân loại hợp lí, khoa học và dễ hiểu hơn cả
1.2 Những nét chính về sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
Nguyễn Công Hoan là một trong những đại biểu ưu tú trong trào lưu văn học hiện thực Việt Nam trước Cách mạng Ông sáng tác hầu như song song cả truyện ngắn và truyện dài, song có thể nói chính ở truyện ngắn, vị trí
vẻ vang trong văn học sử của Nguyễn Công Hoan mới thực sự được khẳng định Ông được đánh giá là một hiện tượng “vô tiền khoáng hậu” trong văn xuôi hiện đại về truyện ngắn mà đặc biệt là truyện ngắn trào phúng
1.2.1 Quá trình sáng tác truyện ngắn
Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Công Hoan trải rộng trước và sau Cách mạng với khá nhiều thể loại, nhưng riêng truyện ngắn trào phúng hầu như đều được sáng tác trước Cách mạng Quá trình sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng có thể chia thành ba thời kì khá phù hợp với ba thời kì vận động phát triển của văn học dân tộc và của tình hình xã hội: thời kì
1929 – 1935, thời kì 1935 – 1939 , thời kì 1939 – 1945
Trang 171.2.1.1 Thời kì 1929 – 1935
Với tập truyện “Kép Tư Bền” xuất bản năm 1935, Nguyễn Công Hoan
đã cắm ngọn cờ chiến thắng cho khuynh hướng văn học hiện thực trên khu
vực văn học hợp pháp đương thời Tập “Kép Tư Bền ” gồm 15 truyện ngắn, tiêu biểu như: Kép Tư Bền, Răng con chó của nhà tư sản, Thật là phúc, Cái
nạn ô tô, Đàn bà là giống yếu, Báo hiếu: trả nghĩa cha, Báo hiếu: trả nghĩa mẹ,… Khuynh hướng hiện thực, ý thức phê phán xã hội đã được thể hiện rõ
rệt trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan thời kì này Tiếng cười trào phúng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan làm nổi bật lên mâu thuẫn có tính chất giai cấp của xã hội, sự xung đột giữa kẻ giàu người nghèo, sự “đụng chạm” của cái giàu và cái nghèo trên đường đời Đằng sau tiếng cười trào phúng đó
là thái độ đả kích đanh thép đối với xã hội đương thời, hành động vạch trần
bộ mặt tàn ác và nham hiểm của hạng nhà giàu bất nhân, vô đạo và niềm thương cảm chân thành của nhà văn đối với số phận kẻ nghèo
1.2.1.2 Thời kì 1936 – 1939
Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan thời kì này có sự chuyển biến tiến bộ
rõ rệt: Nội dung phản ánh phong phú, sâu sắc hơn; chất lượng tư tưởng và tính chiến đấu cao hơn Cao trào cách mạng thời kì Mặt trận dân chủ đã có ảnh hưởng tích cực đến Nguyễn Công Hoan, phát huy mạnh mẽ những nhân
tố tiến bộ trong tư tưởng và tài năng của nhà văn Các truyện ngắn tiêu biểu
như: Thằng ăn cắp, Chính sách thân dân, Ngượng mồm, Gánh khoai lang,
Sáu mạng người, Được chuyến khách,…Những quan điểm xã hội của nhà văn
thời kì này đã tiếp cận với quan điểm giai cấp; nhiều truyện ngắn mang màu sắc chính trị, tính chiến đấu rõ rệt Ngòi bút Nguyễn Công Hoan khi viết về người nghèo cũng sâu sắc, thấm thía hơn trước; cách nhìn của nhà văn đối với
họ cũng tri âm, trân trọng hơn
Trang 18thực sâu sắc như: Công dụng của cái miệng, Người thứ ba, Con ve Những
truyện khác có chăng ý nghĩa hiện thực chỉ là châm biếm tâm lí và sinh hoạt
tư sản, tiểu tư sản thành thị Mặt khác, do sự kiểm duyệt gắt gao của thực dân,
sự nghiệp truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan dừng lại, chuẩn bị cho giai đoạn sáng tác dồi dào mới của ông với những thể loại khác
1.2.2 Nghệ thuật truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan
Khối lượng truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan khá lớn Tuy chất lượng tư tưởng và nghệ thuật không đều, song khá nhiều truyện hay, có những truyện được xếp vào những sáng tác hay nhất, “cổ điển” trong văn xuôi quốc ngữ Việt Nam hiện đại Nếu Nguyễn Công Hoan xứng đáng được đánh giá là một tài năng lớn thì tài năng đó chủ yếu thể hiện ở thể loại truyện ngắn
1.2.2.1 Nghệ thuật xây dựng tình huống trào phúng
Nguyễn Công Hoan rất nhạy bén phát hiện ra những tình huống gây cười, những mâu thuẫn hài hước trong các sự vật, hiện tượng xung quanh Có thể nói, sự nhạy bén đặc biệt trước những mâu thuẫn trào phúng là đặc điểm quan trọng nhất trong tư duy Nguyễn Công Hoan Mỗi truyện ngắn của ông thường là một cảnh tượng, một tình thế mâu thuẫn đầy tính hài hước phản ánh hiện thực xã hội đương thời như “tấn trò đời” đầy nhố nhăng đồi bại ấy
1.2.2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật
Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan hiện lên đông đảo với đủ mọi loại người trong xã hội Mỗi nhân vật được xây dựng đều gây
ấn tượng mạnh về diện mạo, tính cách và bản chất xã hội Nhà văn không đi sâu thăm dò thế giới nội tâm phong phú, phức tạp của con người; ngược lại
Trang 19ông rất tài tình trong việc thể hiện bản chất nhân vật qua khoảnh khắc tâm lí Khi khắc hoạ chân dung nhân vật, Nguyễn Công Hoan có khuynh hướng vật hoá, đồ vật hoá nhân vật và dùng biện pháp so sánh hết sức táo bạo Hành động của nhân vật được xây dựng rất giàu kịch tính, sau mỗi hành động là tiếng cười trào phúng bật ra với nhiều cung bậc
1.2.2.3 Ngôn ngữ
Ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là ngôn ngữ mang giọng điệu trào phúng Đó là ngôn ngữ giàu kịch tính, linh hoạt, phong phú, gần với đời sống sinh hoạt và cũng rất độc đáo Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan nhận xét: “ Những truyện ngắn của ông tiêu biểu cho một thứ văn rất vui, thứ văn mà có lẽ từ ngày Việt Nam có tiểu thuyết theo lối mới người ta chỉ thấy ở ngòi bút ông thôi.”(Nhà văn hiện đại) Nguyễn Công Hoan đã sử dụng nhiều biện pháp ngôn ngữ linh hoạt phục vụ cho việc gây cười Ông thường dùng lối chơi chữ, dùng từ ngữ hai nghĩa,…qua đó thể hiện giọng mỉa mai, châm biếm sắc sảo Đặc biệt, ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn của ông rất đặc sắc với những từ ngữ, tiếng lóng phù hợp với mỗi hạng người, qua đó bản chất tính cách nhân vật tự bộc lộ một cách sinh động
* Kết luận chương 1:
Như vậy, tình thái từ là bộ phận không nằm trong cấu trúc cú pháp để làm nên một phát ngôn hay một hành vi ngôn ngữ Nhưng nó lại là một bộ phận quan trọng tạo ra những sắc thái ý nghĩa vô cùng tinh tế thể hiện những mối quan hệ của người nói với nội dung được nói tới và đối với người nghe Trong các sáng tác truyện ngắn, sở trường của Nguyễn Công Hoan là miêu tả hành động, kể sự việc, xây dựng mâu thuẫn, tình huống mà ít khi dừng lại soi chiếu nội tâm nhân vật Ngôn ngữ trong văn của ông giản dị, không cầu kì hoa mĩ, chĩa thẳng vào vấn đề quan tâm với lối nói trực diện, đả kích mạnh
mẽ sâu cay Chính vì vậy, thành phần ý nghĩa tình thái của các phát ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan được thể hiện rất phong phú và độc
Trang 20đáo; việc nghiên cứu tình thái từ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan sẽ là một hướng tiếp cận đúng đắn và hứa hẹn nhiều điều thú vị khi tìm hiểu văn chương của ông
Trang 21CHƯƠNG 2
VAI TRÒ CỦA TÌNH THÁI TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG HOAN
2.1 Tình hình khảo sát, thống kê ngữ liệu
2.1.1 Đối tượng khảo sát
Tình thái từ có tác dụng to lớn trong việc thể hiện tư tưởng tình cảm của người phát ngôn đối với người tiếp nhận và đối với nội dung thông báo được thể hiện trong phát ngôn Vì vậy mà nó có vai trò quan trọng trong việc biểu đạt giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật của các tác phẩm văn chương
Ở mỗi văn bản tác phẩm, sự xuất hiện và vai trò của tình thái từ đều được thể
hiện ở những mức độ khác nhau Với đề tài “Vai trò của tình thái từ trong
truyện ngắn Nguyễn Công Hoan”, do mục đích cũng như phạm vi, nội dung
đề tài, người viết chỉ xin lựa chọn những truyện ngắn tiêu biểu trong tuyển tập
“Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan” (Nhà xuất bản Văn học, 2007) để làm đối
tượng khảo sát Từ việc khảo sát, thống kê ngữ liệu đó, người viết sẽ tìm hiểu
về tần số sử dụng tình thái từ, phân tích nhận xét về vai trò, tác dụng của chúng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
2.1.2 Kết quả khảo sát
Qua việc đọc và khảo sát 48 truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, người viết đã thống kê các tình thái từ được sử dụng với tần số xuất hiện như sau:
Trang 22+ Thán từ dùng để bày tỏ tình cảm, thái độ, cảm xúc trực tiếp: 102/212 phiếu
Kết quả thu được như trên chưa phải là sự khảo sát, thống kê tuyệt đối, nhưng đó cũng là một tỷ lệ đáng kể để người viết phân tích, tìm hiểu và kết luận về khả năng đóng góp của tình thái từ trong việc thể hiện tư tưởng và nghệ thuật của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
2.1.3 Nhận xét
Qua khảo sát, thống kê, các ngữ liệu thu được cho thấy trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, các tình thái từ xuất hiện với tần số cao và rất phong phú, đa dạng Cùng với sự xuất hiện đó, các tình thái từ đã thể hiện được vai trò, tác dụng quan trọng trong việc biểu hiện nội dung tư tưởng cũng như hình thức nghệ thuật của tác phẩm
Nguyễn Công Hoan đã sử dụng linh hoạt các tình thái từ trong ngôn ngữ văn chương của mình Cả hai loại tình thái từ (trợ từ và thán từ) đều phát huy được vai trò từ loại của chúng, nhưng mỗi nhóm lại thể hiện vai trò ý nghĩa đó một cách khác nhau Vị trí xuất hiện của các tình thái từ cũng hết sức linh hoạt tạo giá trị biểu đạt phong phú cho những tình thái từ cụ thể
Như vậy có thể khẳng định tình thái từ có vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống từ loại tiếng Việt Đặc biệt là vai trò tích cực của nó trong việc thể hiện thái độ, tư tưởng, tình cảm của người phát ngôn ở các sắc thái ý nghĩa vô cùng phong phú, tinh tế mang nét riêng, cá biệt của từng phát ngôn Qua đó thể hiện tâm thế, tình cảm, con người của chủ thể Nguyễn Công Hoan đã rất khéo léo, tài tình trong việc phát huy vai trò đó của tình thái từ, làm nên thành công cho tác phẩm của mình
2.2 Vai trò của tình thái từ trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
Để đánh giá về vai trò của tình thái từ trong các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, người viết sẽ đưa ra những trường hợp sử dụng tình thái
từ tiêu biểu nhất, phân tích, tìm hiểu, làm sáng tỏ các khía cạnh biểu hiện vai
Trang 23trò của tình thái từ trong các tác phẩm cụ thể, từ đó đưa ra kết luận chung về vai trò của chúng
2.2.1 Vai trò của trợ từ
2.2.1.1 Vai trò của trợ từ nhấn mạnh
Trong các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, các trợ từ nhấn mạnh xuất hiện với tần số cao và rất phong phú, đa dạng, có thể kể đến những trợ từ được sử dụng nhiều hơn cả như: chính, ngay, đích, những, quả, chỉ, mới, ngay đến, ngay như, toàn, …
a Trợ từ “chỉ”
a.1 Khảo sát các ví dụ:
Ví dụ 1:
“Bà Tham trố mắt nhìn chồng:
- Rõ khéo khỉ, thế có phải ông giận không?
- Mợ không hiểu Tôi chỉ cốt làm thế để bận sau ông đừng ra chơi nữa Tốn kém lắm! ”
(Mất cái ví – T107)
Trợ từ “chỉ” trong phát ngôn trên có tác dụng nhấn mạnh với sắc thái khẳng định giới hạn việc làm của chủ ngôn, đó là nhân vật ông Tham Nhân vật ông Tham đã khẳng định ý định việc làm của mình: Vì ông cậu ruột ở quê
ra chơi, ông Tham sợ cậu ở chơi lâu tốn kém nên nghĩ ra kế giả vờ bị mất ví
để ông cậu tự ái mà bỏ về rồi từ sau không ra chơi nữa Tác giả đã sử dụng trợ
từ “chỉ” ngay trong phát ngôn của ông Tham, tức để cho nhân vật tự khẳng định nguyên nhân và mục đích việc làm của mình Từ đó bản chất của một tên quan vô đạo, mưu mô và nham hiểm được bộc lộ cùng tiếng cười mỉa mai, châm biếm của tác giả
Ví dụ 2:
“Cứ thời giá, thì chỗ ấy thu được đến hơn nghìn rưỡi, nhưng tôi chỉ lấy trong nghìn rưỡi mà thôi, còn bà chị có bán hơn thì mặc ý.”
Trang 24(Hé!Hé!Hé – T278)
Ví dụ trên là lời của nhân vật cụ Tuần viết trong thư gửi cho nhân vật
bà chánh Tiền Cụ Tuần cậy thế là bà lớn nên tìm mọi cách vơ vét của kẻ dưới quyền nhưng lại luôn tỏ ra tốt bụng, sống có tình có nghĩa Trợ từ “chỉ” được dùng ở đây có tác dụng nhấn mạnh việc làm của bà cụ Tuần, bà ta khẳng định cái việc “lấy” của mình là có giới hạn trong sự ít ỏi, nhỏ bé Nhưng với việc
sử dụng ngôn ngữ mang giọng điệu trào phúng của Nguyễn Công Hoan, nhân vật này đã tự bộc lộ bản chất tham lam, quỷ quyệt của mình Trợ từ “chỉ” đã góp phần lớn trong việc bộc lộ và nhấn mạnh bản chất nhân vật
Ví dụ 3:
“- Tao không lo sợ, tao chỉ thương dân thôi Mày cho tao mượn cái thắt lưng, tao treo cổ lên xà đình này, để tạ tội cùng bao nhiêu mạng sinh linh chết oan uổng.”
(Tôi tự tử - T305)
Trợ từ “chỉ” trong ví dụ trên có tác dụng nhấn mạnh và khẳng định tấm lòng “thương dân” của nhân vật “tôi” Nhưng thực ra thì ngược lại, hắn là một công sứ mà không hề lo lắng cho dân, để xảy ra nạn vỡ đê, dân thiệt mạng, hắn ta giả vờ tự tử để khỏi bị quan trên trách phạt Vậy mà hắn lại dám khẳng định rằng mình hết lòng vì dân, muốn “tự tử” vì thương dân Như vậy, trợ từ
“chỉ” được dùng ở đây có vai trò rất lớn trong việc tạo tiếng cười trào phúng, giễu nhại bản chất bịp bợm của tên quan tham
a.2 Nhận xét: Trợ từ “chỉ” có vai trò nhấn mạnh, khẳng định tính chất chắc chắn, duy nhất của nội dung mệnh đề được nói tới và mang sắc thái chỉ giới hạn xác định rõ ràng Đồng thời, tác giả thể hiện thái độ đánh giá đối với nội dung nói tới trong phát ngôn Trợ từ “chỉ” góp phần quan trọng vào sự thành công trong sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan, thường tạo ra cách nói ngược về bản chất nhân vật, khẳng định tính chất này nhưng thực ra
Trang 25ngược lại Cách nói như vậy thể hiện thái độ mỉa mai, châm biếm của tác giả, làm bật ra tiếng cười trào phúng trong những trang văn của ông
b Trợ từ “đích”
b.1 Khảo sát các ví dụ
Ví dụ 1:
“ Rồi ngài vừa đi vừa bảo ông lục sự:
- Đích là một án mạng, chứ không đúng như những lời trình trong giấy đâu.”
(Thịt người chết – T292)
Trợ từ “đích” được dùng ở ví dụ trên có tác dụng khẳng định với sắc thái nhấn mạnh, xác nhận một cách chắc chắn Chủ ngôn ở đây là một ông quan huyện tư pháp Một người bị chết đuối nhưng ông ta lại khẳng định là bị bức tử, cho rằng đó là một án mạng, phải chờ điều tra khám xét mới được chôn Mục đích là bắt gia đình người chết phải “tạ ơn quan lớn” để được chôn cất người thân ngay Trợ từ “đích” thể hiện sự khẳng định, xác nhận chắc chắn nội dung được nói tới trong câu Nó vừa có tác dụng bộc lộ bản chất tham lam của tên quan huyện đồng thời hàm chứa một thái độ mỉa mai, châm biếm của tác giả trước lời phán xét ngô nghê, nực cười và đầy mưu mô của lão ta
Trang 26người dân lương thiện nhưng không thấy cắn rứt lương tâm mà nghĩ ngay đến cách đối phó để tránh tội với quan trên Như vậy, trợ từ “đích” đã góp phần nhấn mạnh hành động tội ác của tên quan tri châu bất nhân
Ví dụ 3:
“Ông cụ nằm yên, hơi tức đầy đến ngực, không chịu được, lại trở mình lượt nữa Thôi, đích lắm rồi Chỉ còn nó không dám nói đến nơi mà thôi.”
(Mất cái ví – T103)
Trợ từ “đích” có tác dụng khẳng định chắc chắn suy nghĩ của nhân vật
là đúng Ông cụ nghĩ rằng cháu nghi ngờ mình lấy trộm cái ví nhưng không dám nói thẳng mà chỉ bóng gió tra khảo người làm trong nhà Trợ từ “đích” vừa có ý nghĩa xác định chắc chắn sự việc mình bị nghi ngờ đồng thời thể hiện sự giận dữ, chua xót trước hành động, suy nghĩ của đứa cháu bất hiếu
b.2 Nhận xét: Trợ từ nhấn mạnh “đích” có ý nghĩa khẳng định một cách chắc chắn sự việc, đối tượng, sự kiện được nêu trong phát ngôn Nó có tác dụng thể hiện sự nhấn mạnh ngữ điệu câu nói, bộc lộ rõ hành vi khẳng định của người nói trước hiện thực được nói tới trong câu Bởi vậy, trợ từ
“đích” vừa góp phần tái hiện hành vi ngôn ngữ của nhân vật, từ đó tạo dựng tính cách nhân vật, vừa có tác dụng gián tiếp thể hiện thái độ, tình cảm cũng như ý đồ nghệ thuật của tác giả
Trang 27một cách nhanh chóng Như vậy, trợ từ “ngay” ở đây vừa nhấn mạnh tính chất của hành động, sự việc vừa thể hiện niềm tin tưởng, hy vọng của nhân vật
Ví dụ 3:
“Bà lão mừng rỡ, híp mắt, nhăn nhó cái mặt để mà cười và nói to tướng:
- Thành ra tôi ngồi ngay ở cửa nhà mà không biết!”
(Báo hiếu: trả nghĩa cha – T81)
Trợ từ “ngay” trong phát ngôn này có tác dụng nhấn mạnh địa điểm
“cửa nhà” từ đó làm nổi bật một nghịch lý: Mẹ ở quê ra thăm con, ngồi ở cửa nhà con mình nhưng lại không biết Đặt trong hoàn cảnh câu chuyện, ta thấy trợ từ “ngay” góp phần miêu tả tình cảnh đáng thương của người mẹ có con trai làm quan to nhưng bất hiếu
c.2 Nhận xét: Như vậy, trợ từ “ngay” có tác dụng nhấn mạnh nội dung được nói tới trong phát ngôn, với sắc thái khẳng định diễn biến nhanh chóng, bất ngờ hoặc có gì đó không bình thường của sự kiện, sự việc, tình huống trong nội dung mệnh đề Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan có đặc điểm là xây dựng những tình huống giàu kịch tính, mâu thuẫn được giải quyết bất ngờ, nhanh chóng cho nên việc sử dụng trợ từ “ngay” có vai trò đặc biệt quan trọng trong miêu tả diễn biến sự việc, thúc đẩy diễn tiến câu chuyện đồng thời thể hiện thái độ của tác giả đối với những hiện tượng, sự việc được nói tới
Trang 28(Răng con chó của nhà tư sản – T25)
Trợ từ “những” trong phát ngôn trên có tác dụng nhấn mạnh nội dung được nói tới với số lượng nhiều, người nói nhấn mạnh giá của một con chó Tây là rất đắt: “hơn bốn trăm”, “hơn năm trăm” Từ đó cho thấy anh ta rất coi trọng giá trị của con chó cảnh và tự hào mình có một con chó đắt tiền Sử dụng trợ từ “những” đồng thời góp phần làm nổi bật bản chất lối sống sinh hoạt trưởng giả của tầng lớp tư sản thị thành
Ví dụ 3:
“Đi đường, gặp người quen, bác khoe cái việc may mắn này, và nói:
- Nếu quan không thương tình, thì tôi bị cái nạn ấy những hơn sáu chục bạc.”
(Cái nạn ô tô – T120)
Trang 29Trợ từ “những” được dùng trong phát ngôn của một bác phó lý bất đắc
dĩ phải mua xổ số và trúng ô tô Nhưng cái sự kiện tưởng như may mắn ấy lại mang đến cho bác biết bao phiền toái mà bác gọi đó là “cái nạn” Trợ từ
“những” ở đây có tác dụng nhấn mạnh đối tượng “hơn sáu chục bạc” với sắc thái khẳng định một khoản tiền lớn mà nhân vật phó lý suýt bị mất Đặt trong câu văn, trợ từ “những” góp phần thể hiện thái độ vui mừng của một kẻ vừa thoát nạn, từ đó người đọc thấy được cái nhìn cảm thông, thương xót của tác giả đối với những kẻ có chức sắc nhỏ bé trong xã hội đương thời
d.2 Nhận xét: Trợ từ “những” được sử dụng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan có tác dụng nhấn mạnh đối tượng, sự việc được nói đến với số lượng nhiều, đồng thời bao hàm cả thái độ bình giá, nhận xét của tác giả đối với hiện thực được nói tới trong câu, trong nhiều trường hợp sự nhấn mạnh đó
là dụng ý của nhà văn trong cách dùng lối nói ngược, từ đó tạo ra tiếng cười trào phúng sâu sắc
(Răng con chó của nhà tư sản – T28)
Đây là câu văn tường thuật, miêu tả tâm trạng và hành động của một tên ăn xin cùng quẫn, định bụng giành lấy đĩa cơm của con chó nhà giàu Trợ
từ “quả” có tác dụng khẳng định sự chính xác, đúng đắn của sự việc nêu ra trong câu, đó là sự xác nhận với những điều mà trong đầu nhân vật đang suy nghĩ, được nói ở những câu văn trước đó: “Hắn tưởng con chó chê cơm nhạt, không thèm ăn, thì hắn muốn đánh đổi số phận hắn cho con chó nhà giàu” Trợ từ “quả” góp phần miêu tả hành động, suy nghĩ của nhân vật, giúp nhân vật hiện lên đầy thương cảm trước người đọc
Trang 30Ví dụ 2:
“Tôi lễ phép, gãi tai đáp:
- Lạy quan lớn, quả con oan Từ ngày quan lớn về trọng nhậm hạt này, con vẫn sợ phép quan lớn mà làm ăn lương thiện.”
(Thằng ăn cướp – T267)
Trợ từ “quả” trong phát ngôn trên có tác dụng nhấn mạnh nội dung được nói tới với sắc thái khẳng định chắc chắn, thể hiện hành động quả quyết với mục đích làm cho người nghe tin vào điều mình nói là thực Nhân vật
“tôi” là một tên trộm đã khẳng định chắc chắn mình bị oan Trợ từ “quả” được dùng ở đây còn có giá trị thể hiện thái độ sợ sệt, khúm núm của nhân vật
Trợ từ “quả” có tác dụng nhấn mạnh nội dung được nói tới trong câu,
đó là kết luận chẩn đoán của bà đỡ với nhân vật Nguyệt khi ở nhà hộ sinh Bà
đỡ sau khi nêu cơ sở để khẳng định Nguyệt “đẻ con rạ” đã đưa ra lời kết luận chắc chắn Trợ từ “quả” thể hiện sự xác nhận một cách dứt khoát, thái độ quả quyết và niềm tin vào điều mình xác nhận
e.2 Nhận xét: Trợ từ “quả” xuất hiện với tần số khá cao trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Nó có tác dụng thể hiện sự nhấn mạnh với sắc thái khẳng định và xác nhận dứt khoát nội dung mệnh đề của người phát ngôn Bên cạnh đó, trợ từ này còn có vai trò thể hiện những sắc thái tình cảm phong phú gắn với mục đích của người phát ngôn, của từng chủ ngôn trong những ngữ cảnh cụ thể, trong đó tác giả luôn chú ý sử dụng trợ từ “quả” góp phần tạo ra giọng điệu trào phúng cho câu chuyện