1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của tình thái từ trong truyện ngắn của nguyễn huy thiệp

60 432 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 476,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hệ thống từ loại tiếng Việt, hư từ tuy không có khả năng làm thành tố chính trong tổ chức đoản ngữ và làm thành phần chính trong câu nhưng lại có vai trò, vị trí rất quan trọng tro

Trang 1

trờng đại học s phạm hà nội 2

khoa ngữ văn

*********

Nguyễn thị mai

truyện ngắn nguyễn huy thiệp

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Chuyên ngành: Ngôn ngữ

Hà Nội – 2009

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Tiếng Việt của chúng ta là ngôn ngữ đơn lập Những đặc điểm phức tạp của loại hình ngôn ngữ đơn lập dẫn đến tính phức tạp trong việc nghiên cứu

và nắm bắt đặc điểm bản chất, khả năng hoạt động của các từ loại khác nhau

Do vậy lĩnh vực này luôn luôn thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu

Trong hệ thống từ loại tiếng Việt, hư từ tuy không có khả năng làm thành tố chính trong tổ chức đoản ngữ và làm thành phần chính trong câu nhưng lại có vai trò, vị trí rất quan trọng trong việc thể hiện ý nghĩa tình thái của câu và việc tổ chức câu Nhưng trên thực tế lý luận ngôn ngữ, vấn đề tình thái từ mới chỉ được đề cập hết sức chung chung, khái quát trong các công trình nghiên cứu về từ loại tiếng Việt của các nhà nghiên cứu Bởi vậy, xung quanh từ loại này, còn rất nhiều vấn đề cần được đi sâu, nghiên cứu, tìm hiểu

để từ đó có thể rút ra những hiểu biết rõ ràng, cụ thể hơn về chúng

Từ sau chiến thắng lịch sử 1975, đặc biệt là từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) cùng với đất nước, nền văn học Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới ngày càng sâu sắc, toàn diện Ý thức cá nhân xuất hiện sâu sắc ở người cầm bút đã dẫn đến những tìm tòi mới mẻ về tư tưởng, bút pháp và phong cách Hàng loạt cây bút mới xuất hiện như: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh… Trong số các nhà văn hiện đại đó, Nguyễn Huy Thiệp nổi lên như một hiện tượng đặc sắc, độc đáo Tác phẩm của ông đem lại cho công chúng cái nhìn mới, khai thác những khía cạnh mới của đời sống con người trong cuộc sống hàng ngày

Trang 3

Vì là một hiện tượng văn chương được coi là “hai lần lạ” nên những tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp được đông đảo bạn đọc và các nhà nghiên cứu chú ý

Một trong những nhân tố làm nên sự thành công trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp là khả năng sử dụng “thứ ngôn ngữ Việt Nam chính xác, trong sáng và tinh tế, giàu hình tượng, đầy cá tính” (Diệp Minh Tuyền) Nguyễn Huy Thiệp đã khá sâu sắc trong việc dùng tình thái từ Nhờ việc sử dụng một cách khéo léo các tình thái từ mà truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

đã để lại dấu ấn riêng trong lòng độc giả

Chính vì những lí do trên, người viết đã lựa chọn đề tài “Vai trò của tình thái từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” với mong muốn thông qua việc khám phá về vai trò, chức năng của tình thái từ trong các truyện ngắn của ông để hiểu sâu sắc hơn giá trị của những tác phẩm ấy

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Trong hệ thống các từ loại tiếng Việt, tình thái từ là lớp từ đã được các nhà ngôn ngữ học, các công trình nghiên cứu đề cập đến Tình thái từ được nghiên cứu về các mặt chức năng, vai trò, phân loại… Và đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Ta có thể kể đến công trình nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Anh Quế, Đinh Văn Đức, Lê Biên, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung…

Tác giả Lê Biên quan niệm: “Tình thái từ là một tập hợp riêng biệt, có một số lượng từ không lớn, có tác dụng nhất định về ngữ pháp tiếng Việt”

Đinh Văn Đức cho rằng: “Tình thái từ vốn là một khái niệm về ngữ nghĩa của câu, nghĩa là thuộc địa hạt cú pháp… đó là một tập hợp từ không lớn về mặt số lượng nhưng cái tập hợp ấy lại có một đặc trưng riêng về bản chất ngữ pháp”

Trang 4

Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung cho rằng: “Tình thái từ là tiểu từ chuyên dùng biểu thị ý nghĩa tình thái trong quan hệ của chủ thể phát ngôn với người nghe hay với nội dung phản ánh; hoặc ý nghĩa tình thái với mục đích phát ngôn”

Các quan niệm về tình thái từ như trên đã khẳng định rõ vai trò, vị trí của từ loại này trong hệ thống các từ loại tiếng Việt

Là một hiện tượng văn học, văn chương Nguyễn Huy Thiệp không những đã thu hút sự chú ý của đông đảo bạn đọc “chọc thủng bức màn dửng dưng của công chúng” (Diệp Minh Tuyền) mà còn gây men cho những cuộc tranh luận đầy hứng thú kéo dài từ bấy đến nay Số lượng bài viết về tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp rất nhiều

Theo sự thống kê của Nguyễn Hải Hà - Nguyễn Thị Bình, từ giữa năm

1987 đến năm 1989 đã có trên bảy mươi bài viết về sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp

Năm 1989, Nhà xuất bản trẻ - Tạp chí Sông Hương - TP Hồ Chí Minh đã cho ra đời cuốn “Nguyễn Huy Thiệp, tác phẩm và dư luận”

Hơn 10 năm sau trong một công trình tuyển chọn công phu, nghiêm túc

và có hệ thống mang tên “Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp ” Phạm Xuân Nguyên đã tập hợp được năm mươi tư bài viết khá tiêu biểu nổi bật cho những xu hướng đánh giá về hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp

Mặc dù đây không phải là tác giả được giảng dạy trong nhà trường, song việc tìm hiểu các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp có ý nghĩa rất quan trọng Với việc lựa chọn đề tài này, người làm khoá luận mong muốn đóng góp thêm hiểu biết của mình về tình thái từ trong việc tìm hiểu vai trò của nó trong một phạm vi cụ thể

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trang 5

Thực hiện đề tài này, khoá luận nhằm đạt được những mục đích sau đây:

- Nắm chắc khái niệm về tình thái từ, sự phân loại tình thái từ và vai trò của tình thái từ trong hoạt động ngôn ngữ

- Trên cơ sở đó tìm hiểu, nghiên cứu sự xuất hiện của tình thái từ trong một số truyện ngắn để thấy được vai trò của chúng

- Vận dụng đúng, có hiệu quả các tình thái từ vào quá trình tiếp nhận và sản sinh văn bản nói cũng như văn bản viết

- Vận dụng những hiểu biết về tình thái từ vào việc giảng dạy tiếng Việt nói riêng cũng như môn Ngữ văn nói chung cho học sinh Trung học phổ thông

4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

4.1 Nhiệm vụ của đề tài

Thực hiện đề tài này, người viết xác định cho khoá luận những nhiệm

vụ cụ thể sau đây:

- Hệ thống hoá những kiến thức lí luận, các quan niệm khác nhau về tình thái từ, xem xét vai trò của chúng Qua đó người viết nắm vững hơn về đặc điểm, bản chất, chức năng của tình thái từ

- Trên cơ sở những kiến thức lí luận đã được khái quát tác giả khoá luận tiến hành khảo sát, thống kê, phân loại sự xuất hiện của tình thái từ trong một số truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

- Phân tích ngữ liệu cụ thể để rút ra những nhận xét, kết luận về vai trò tác dụng của tình thái từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp đã được tuyển chọn in trong cuốn

“Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội 2005

Vì vậy đề tài khoá luận này giới hạn nghiên cứu về tình thái từ trong các tác

Trang 6

phẩm của Nguyễn Huy Thiệp lấy từ “Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” gồm

37 truyện

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu đề tài, khoá luận đã sử dụng một số phương pháp sau đây:

- Phương pháp khái quát hoá - hệ thống hoá vấn đề

- Phương pháp khảo sát thống kê, phân loại

- Phương pháp phân tích ngôn ngữ

6 ĐÓNG GÓP CỦA KHOÁ LUẬN

6.1 Về mặt lí luận

Khoá luận chỉ ra vai trò, tác dụng của tình thái từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, từ đó nhận thấy tài năng trong việc sử dụng ngôn ngữ của tác giả Đồng thời qua việc nghiên cứu này có thể rút ra được những đóng góp nhất định trong việc tìm hiểu vai trò của tình thái từ trong sáng tác văn chương

6.2 Về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của khoá luận sẽ đóng góp một hướng mới trong việc tiếp cận các sáng tác văn chương Nguyễn Huy Thiệp Từ đó giúp cho bạn đọc hiểu sâu sắc hơn về giá trị nội dung cũng như giá trị nghệ thuật trong truyện ngắn của ông

7 BỐ CỤC

Khoá luận này được bố cục như sau:

Phần mở đầu: 5 trang

Phần nội dung: - Chương 1.Cơ sở lý luận: 14 trang

- Chương 2 Vai trò của tình thái từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp: 37 trang

Phần kết luận: 1 trang

Tài liệu tham khảo: 1 trang

Trang 8

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 TỪ LOẠI VÀ SỰ PHÂN ĐỊNH TỪ LOẠI TRONG TIẾNG VIỆT

1.1.1 Khái niệm từ loại

Trong lịch sử ngôn ngữ học, ngay từ thời Hi lạp cổ đại, gắn liền với sự

ra đời của ngữ pháp học, từ loại đã được nghiên cứu rất sớm Nó là một vấn

đề cổ truyền bậc nhất của ngữ pháp học truyền thống Ở tiếng Việt cũng như

ở nhiều ngôn ngữ khác, từ loại được xem là một bộ phận không thể thiếu được trong cơ cấu ngữ pháp học

Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về từ loại:

Theo Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung: “Từ loại là kết quả nghiên cứu vốn từ trên bình diện ngữ pháp Đó là những lớp từ có chung bản chất ngữ pháp được thể hiện trong các đặc trưng thống nhất dùng làm tiêu chuẩn tập hợp và quy loại”

Lê Biên cho rằng: “Từ loại – đó là một sự phân loại vốn từ của một ngôn ngữ cụ thể thành những loại, những dạng dựa vào những đặc trưng ngữ pháp”

Đinh Văn Đức định nghĩa: “Từ loại là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp được phân chia theo ý nghĩa, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác trong ngữ lưu và thực hiện chức năng ngữ pháp nhất định ở trong câu”

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ thì từ loại là phạm trù ngữ pháp bao gồm các từ có chung đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa khái quát như danh từ, động từ, tính từ… (tr1073)

Như vậy từ loại là những lớp từ được phân chia theo những đặc điểm ngữ pháp giống nhau

Trang 9

1.1.2 Sự phân định từ loại trong tiếng Việt

1.1.2.1 Mục đích

Việc phân định từ loại là nhằm phát hiện bản chất ngữ pháp, tính quy tắc trong hoạt động ngữ pháp và sự hành chức của các lớp từ loại trong quá trình thực hiện những chức năng cơ bản của ngôn ngữ: làm công cụ để giao tiếp, để tư duy trừu tượng Từ đó có thể sử dụng các lớp từ cho đúng quy tắc, hợp với phong cách và chuẩn của tiếng Việt hiện đại

1.1.2.2 Một số cách phân định từ loại

Về vấn đề này trong ngữ pháp học có nhiều cách phân định khác nhau Trần Trọng Kim phân tiếng Việt thành 13 loại: danh từ, mạo từ, loại từ, chỉ định từ, đại danh từ, tính từ, động từ, trạng từ, giới từ, liên từ, tán thán từ, trợ ngữ từ, từ đệm

Bùi Đức Tịnh phân các “Tự ngữ” làm 8 từ loại: danh từ, đại từ, trạng

từ, động từ, phó từ, liên từ, giới từ, giới ngữ, hiện từ

Ở giai đoạn này tuy các tác giả không đưa ra những cơ sở để phân định

từ loại nhưng có thể thấy mặt nghĩa của từ đã được sử dụng để làm cơ sở phân chia từ loại Ở các công trình sau, vấn đề phân chia từ loại đã được xem xét một cách kỹ lưỡng hơn Các tác giả căn cứ cả vào mặt ý nghĩa lẫn chức năng ngữ pháp của từ để phân định từ loại Nhìn chung các tác giả đều phân tiếng Việt thành hai loại lớn: thực từ và hư từ Theo một cách hiểu chung thực từ là

từ có nghĩa thực (hoặc nghĩa từ vựng) về sự vật, hiện tượng nhất định; còn hư

từ là những từ có nghĩa hư, loại nghĩa mà không thể nhờ nó làm sự liên hệ với

sự vật, hiện tượng; cho nên khi nói đến nghĩa hư là nói đến vai trò của hư từ

Bên cạnh việc phân chia như vậy, một số tác giả còn phân ra một lớp từ khác độc lập so với thực từ và hư từ Đó là lớp từ biểu thị mối quan hệ của người nói với nội dung phát ngôn và quan hệ của phát ngôn với thực tại Nguyễn Kim Thản gọi đó là ngữ thái từ, Đinh Văn Đức gọi là tình thái từ

Trang 10

Nguyễn Tài Cẩn lại có cách phân định khác dùng đoản ngữ để phân định từ loại Theo ông trước đây khi dựa vào khả năng kết hợp để phân định

từ loại, tiểu loại, thực chất chúng ta cũng đã dựa một phần vào đoản ngữ Nhưng dựa một cách còn thiếu triệt để, thiếu bao quát và có tính tùy tiện, võ đoán Vì vậy có những đặc điểm cần phải cải biên Dựa vào đoản ngữ để vạch

sự đối lập giữa những từ có khả năng làm thành tố đoản ngữ và những từ không có khả năng làm thành tố đoản ngữ

1.1.2.3 Tiêu chí phân định từ loại

Dù theo một quan niệm nào, một xu hướng nào, dù áp dụng những tiêu chí nào đó để phân định cũng phải nhằm phát hiện ra bản chất ngữ pháp của lớp từ

Đinh Văn Đức là người đã đưa ra những tiêu chí để phân định từ loại theo người viết khoá luận rõ ràng hơn cả Theo tác giả, từ tiếng Việt được phân chia thành các từ loại là căn cứ vào một tập hợp tiêu chuẩn sau:

a Dựa vào ý nghĩa khái quát của từ

Trong cách xem xét bản chất ý nghĩa các từ loại, Đinh Văn Đức cho rằng ý nghĩa từ loại là ý nghĩa khái quát, trong đó có sự thống nhất giữa các yếu tố từ vựng và ngữ pháp, nói một cách khác, là ý nghĩa từ vựng - ngữ pháp Tác giả giải thích rõ thêm: “Yếu tố từ vựng có mặt trong ý nghĩa từ loại

là do chức năng phản ánh thực tại của các khái niệm Ý nghĩa sự vật của danh

từ, ý nghĩa vận động của động từ, ý nghĩa tính chất của tính từ…là những ý nghĩa phạm trù vì có tính chất khái quát hoá cao, nhưng đó lại là kết quả của một quá trình trừu tượng hoá hàng loạt cái cụ thể (sự vật cụ thể, hành động cụ thể, tính chất cụ thể) có mặt trong thực tại được người bản ngữ nhận thức, phản ánh qua các khái niệm và đồng thời là những thực từ cụ thể (nhà, sách, chạy, học, xanh, cao…) Do đó giữa ý nghĩa khái quát của từ loại và ý nghĩa

Trang 11

từ vựng của các thực từ có mối quan hệ tất yếu, và cũng do cái tất yếu này, ý nghĩa khái quát trở thành nòng cốt của ý nghĩa từ loại ”

b Dựa vào khả năng kết hợp của từ

Tiêu chí này xét đến mối quan hệ của từ với từ trong ngữ lưu Đinh Văn Đức nói rõ: “Đối với tiếng Việt bản chất khả năng kết hợp là sự phân bố các vị trí trong những bối cảnh” Trong khi áp dụng tiêu chí này, Đinh Văn Đức sử dụng khái niệm đoản ngữ do Nguyễn Tài Cẩn đề xuất (1960) để mô tả nhận xét

Xét khả năng kết hợp của từ là xem xét:

- Từ đó có khả năng làm thành tố chính hay phụ của một cụm chính phụ

- Từ đó có khả năng kết hợp với những từ nào (đặc biệt là hư từ được coi là những từ chứng)

c Dựa vào chức vụ cú pháp của từ

Theo Đinh Văn Đức đây là một tiêu chí đã được nhiều tác giả sử dụng đồng thời với khả năng kết hợp của từ để tạo thành một cơ sở chung cho sự phân loại dưới tên gọi “đặc trưng phân bố”

1.1.2.4 Hệ thống từ loại tiếng Việt

Từ loại tiếng Việt được chia làm hai phạm trù chính: thực từ và hư từ

Trang 12

- Các thực từ có khả năng làm thành tố chính trong cấu trúc ngữ

- Chúng có thể độc lập tạo câu và có thể đảm nhận các chức vụ cú pháp chính trong câu Ở tiếng Việt danh từ, động từ, tính từ là những lớp thực từ

Đại từ có đặc tính của thực từ, có quan hệ chặt chẽ với thực từ nhưng

nó không phải là thực từ đích thực mà chỉ có tính chất thực từ

b Các hư từ

- Chiếm số lượng từ không lớn, khác với thực từ, hư từ không có ý nghĩa định danh; ý nghĩa của các hư từ có tính chất ngữ pháp và là phương tiện diễn đạt quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy theo cách thức phản ánh bằng ngôn ngữ của người Việt

- Hư từ không thể làm thành tố chính; một số hư từ có thể làm thành tố phụ trong cấu trúc ngữ để thể hiện các ý nghĩa ngữ pháp, ý nghĩa tình thái

- Các hư từ không có khả năng dùng độc lập và không thể đảm nhiệm những chức vụ cú pháp chính của câu Trong những tình huống giao tiếp nhất định, một vài hư từ có thể dùng độc lập (đã, chưa, rồi …) Ở tiếng Việt, phụ

từ, quan hệ từ, tình thái từ … là những lớp hư từ Có những lớp hư từ chỉ xuất hiện ở bậc câu – phát ngôn và có những nét đặc trưng đáng chú ý như tình thái từ

Trang 13

Ngoài hai nhóm thực từ và hư từ, tiếng Việt còn có nhóm từ trung gian

gồm đại từ và số từ

Sơ đồ hệ thống từ loại tiếng Việt

1.2 TÌNH THÁI TỪ TRONG TIẾNG VIỆT

1.2.1 Khái niệm

Theo Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung “Tình thái từ là tiểu từ

chuyên dùng biểu thị ý nghĩa tình thái trong quan hệ của chủ thể phát ngôn

với người nghe hay với nội dung phản ánh; hoặc ý nghĩa tình thái gắn với

mục đích phát ngôn”

Lê Biên cho rằng: Bên cạnh lớp thực từ và hư từ, tình thái từ là một tập

hợp riêng biệt, có một số lượng từ không lớn, có tác dụng nhất định về ngữ

pháp tiếng Việt

Đinh Văn Đức quan niệm: Tình thái từ đó là một tập hợp từ không lớn

về mặt số lượng nhưng cái tập hợp ấy lại có một đặc trưng riêng về bản chất

ngữ pháp Tình thái từ không có ý nghĩa từ vựng và cũng không có ý nghĩa

ngữ pháp theo cách hiểu truyền thống Ở trong câu tuy chúng có bị chi phối

bởi các quy tắc triết học nhưng vị trí và sự di chuyển của chúng cho thấy từ

loại này thiên về công cụ của nghĩa học nhiều hơn

Vốn từ tiếng Việt

Danh từ Động từ Tính từ Đại từ Số từ Phó từ Quan hệ từ Tình thái từ

Trang 14

1.2.2 Phân loại tình thái từ

Căn cứ vào vị trí, chức năng có thể chia phạm trù tình thái từ thành hai loại: trợ từ và thán từ

1.2.2.1 Trợ từ

a Khái niệm

Trợ từ là từ thuộc vào lớp tình thái từ, không đảm nhận chức vụ cú pháp trong câu, được sử dụng trong phát ngôn để biểu thị một số ý nghĩa như: thái độ, tình cảm, sự đánh giá … của người nói đối với nội dung phát ngôn, đối với hiện thực và đối với người đối thoại, hoặc để tham gia biểu thị các mục đích của phát ngôn

b Vai trò của trợ từ

Ý nghĩa chung của trợ từ là gia tăng một sắc thái ý nghĩa (ý nghĩa phụ trợ) cho từ, ngữ hoặc một câu, một cấu trúc trên câu (đoạn văn) nhằm nhấn mạnh vào một nội dung cụ thể, một quan hệ cụ thể trong phát ngôn

Trợ từ diễn đạt các mối quan hệ có tính chất bộ phận giữa người nói với nội dung phát ngôn

Ở tiếng Việt, ngôn ngữ giàu thanh điệu, vai trò ngôn điệu bị hạn chế,

hư từ (trong đó có trợ từ) được sử dụng như một phương thức ngữ pháp để diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp Vì vậy mà bất kì câu tường thuật nào, nếu thêm trợ từ đi kèm đều có thể trở thành câu nghi vấn hoặc câu cầu khiến, mệnh lệnh

Ở cấp độ câu của tiếng Việt, việc sử dụng trợ từ có tính quy tắc chứ không phải là tùy tiện Việc sử dụng trợ từ hay không phải có điều kiện, tình huống, ngữ cảnh cụ thể của phát ngôn chi phối Trong câu, có những trợ từ có thể thay thế cho nhau được nhưng có trường hợp chỉ dùng được một từ nhất định, không thể thay thế bằng các trợ từ khác

Trang 15

c Phân loại trợ từ

Dựa vào chức năng ngữ nghĩa, vị trí của các trợ từ trong phát ngôn đã

có nhiều cách phân loại trợ từ khác nhau

Trước năm 1960 các tác giả chỉ xem xét một nhóm trợ từ: Nhóm trợ từ phụ cho câu (trợ từ tình thái)

Từ năm 1960 trở lại đây, nhiều tác giả đã chú ý đến cả nhóm trợ từ phụ cho từ và cụm từ Trong công trình của họ, trợ từ tiếng Việt thường được phân thành hai loại lớn:

5 Để khoe cái gì mình có là nhiều, là tốt, là đẹp: kia

6 Để tỏ ý hoài nghi: ru

7 Để tỏ ý kính trọng khi đáp lại người trên nói: ạ

8 Để tỏ ý quyết chắc: vay

9 Để làm cho tròn câu: vậy

Nguyễn Kim Thản và I.I.Glebova có ý kiến gần nhau về cách phân loại nhóm trợ từ tiếng Việt

Nguyễn Kim Thản dựa vào tác dụng của trợ từ (mà tác giả gọi là ngữ khí từ) trong câu phân nhóm trợ từ này thành hai loại chính:

1 Những ngữ khí từ phục vụ sự cấu tạo loại hình câu

2 Những ngữ khí từ biểu thị thái độ của người nói

Trang 16

I.I.Glebova về cơ bản cũng có sự phân loại giống với Nguyễn Kim Thản, nhưng thay vì gọi loại 1 là “Những ngữ khí từ phục vụ sự cấu tạo loại hình câu” như Nguyễn Kim Thản, tác giả gọi loại này là “Các tiểu từ được sử dụng chủ yếu trong những kiểu câu có kiểu chức năng xác định”

Bên cạnh sự phân loại trợ từ theo chức năng ngữ nghĩa là sự phân loại theo vị trí của chúng ở trong câu Dựa vào đặc điểm thường xuất hiện ở vị trí cuối trong câu của các trợ từ, một số tác giả đã gọi chúng bằng những tên gọi như: phụ từ tận cùng (Lê Văn Lý), tiểu từ kết thúc (C.Thomson), tiểu từ hậu trí (Hoàng Tuệ), hư từ ở cuối câu (M.B Emeneau)…

Trong cuốn sách gần đây viết về cơ cấu ngữ pháp tiếng Việt V.J.Panfilov cũng phân tiểu từ tiếng Việt thành hai loại: tiểu từ đứng đầu câu

và các tiểu từ đứng cuối câu

Trên cơ sở vị trí, vai trò của trợ từ, chúng ta có thể phân trợ từ ra làm hai loại:

c.1 Các trợ từ có tác dụng nhấn mạnh (tiểu từ nhấn mạnh)

Có thể bao gồm các từ như: Ngay, cả, ngay cả, đến, những, các, chỉ, chính, chính ngay, đích, đích thị …

Ví dụ: - Tức mình hắn chửi ngay cả làng Vũ Đại

(“Chí Phèo” – Nam Cao )

- Tôi đoán không sai, chính là một cái xe hiệu “con lợn”- cái tên hiệu cũng xứng đáng - một hạng xe tàng ở ngoại ô mà tôi vẫn phải đi

(“Một cơn giận” – Thạch Lam)

- Bác thường bế nó lên lòng, hôn hít, rồi khoe với hàng xóm: nội cả nhà chỉ có nó là giống thầy cháu như đúc

(“Nhà mẹ Lê” - Thạch Lam)

Trang 17

- Bỏ bố mày Đích là ghẻ rồi

(“Từ ngày mẹ chết” – Nam Cao)

- Đó là lần đầu trong đời cả hai người

(“Người tù được tha” –Vũ Trọng Phụng)

- Nhất là lại được ông cụ già đạo mạo tiếp đãi ân cần, tự đem thân ra đóng cái vai con chim mòng đậu vừa đúng tầm súng cho kẻ đi săn

(“Cạm bẫy người” – Vũ Trọng Phụng) Các trợ từ nhấn mạnh thường đứng ở vị trí trước bộ phận cần nhấn mạnh, chúng không có vị trí cố định trong câu Nói khác đi vị trí của trợ từ nhấn mạnh phụ thuộc vào vị trí của từng từ mà nó quan hệ

Về tác dụng: Trợ từ nhấn mạnh chủ yếu nhấn mạnh bộ phận nội dung của phát ngôn

Về chức năng: Trợ từ nhấn mạnh được xem như một phụ ngữ của câu c.2 Các trợ từ tình thái (tiểu từ tình thái)

- Các trợ từ tình thái bao gồm một lớp từ không thuần nhất, có thể có vị trí rất linh hoạt ở trong câu

+ Những trợ từ tình thái đứng ở đầu các phát ngôn: A, à, thế, đấy, ấy đấy, đấy nhé, này nhé…

Ví dụ: - À quên, tiên sinh xem số tử vi cho đệ đi

(“Giông tố” – Vũ Trọng Phụng)

- A à !

(“Kỹ nghệ lấy Tây” – Vũ Trọng Phụng)

- Thế đã chết chưa

(“Tối ba mươi” - Thạch Lam)

- Đấy nhé, tao nói rồi mà ! + Những trợ từ tình thái đứng ở cuối phát ngôn như: Ư, nhỉ, nhé, ấy, cả, kia, cả mà, cả đấy, hử, hả, cơ mà, đấy chứ …

Trang 18

Ví dụ: - Rẽ lối này cơ mà !

(“Vợ nhặt” – Kim Lân)

- Mai anh đi rồi ư ?

- Mấy giờ rồi đấy nhỉ ?

(“Sợi tóc” - Thạch Lam)

- Mai nhé !

- Kìa, anh ăn đi chứ !

(“Đói” - Thạch Lam) + Những trợ từ tình thái xuất hiện cả ở đầu, cuối và giữa phát ngôn: Đâu, đấy, ấy, kia, vậy …

Ví dụ: - Ấy người ta kể cho tôi nghe câu chuyện như thế

(“Những biển hàng” - Thạch Lam)

- Nó đứng ở phía sau ấy

- Vậy thôi, tôi đi đây

- Tôi làm vậy !

- Trợ từ tình thái diễn đạt ý nghĩa tình thái trong mối quan hệ với mục đích phát ngôn, biểu thị thái độ, cảm xúc của người nói Ý nghĩa tình thái ở đây có quan hệ chặt chẽ với mục đích phát ngôn (nghi vấn, cầu khiến, cảm thán, tường thuật, ….) Với ý nghĩa tình thái, một số trợ từ tình thái có khả năng dạng thức hoá một từ, một ngữ thành một phát ngôn Một từ, một ngữ tự

do có thể trở thành một câu khi có thêm một trợ từ đi kèm

Ví dụ: - Hay nhỉ !

- Hoa hả ? Không

- Trợ từ tình thái có chức năng biểu thị thái độ hoài nghi, cũng có thể biểu thị thái độ ngạc nhiên (nhỉ, ư, ấy, không …), thái độ cầu mong (đi, nào,

Trang 19

thôi, thì, với, chứ …), có thể biểu thị thái độ khẳng định hay phủ định rõ ràng, dứt khoát (mà, chứ, đâu, đấy …) hoặc có thể biểu thị thái độ, cảm xúc gần gũi thân mật (nhé, nhỉ, mà …)

Ví dụ: - Mày đấy ư Lan ?

- Đi thôi nào !

- Tôi đã nói rồi đấy

- Yêu anh em nhé ! 1.2.2.2 Thán từ

a Khái niệm

Thán từ là từ biểu thị tiếng gọi, tiếng đáp, tiếng reo vui, tiếng than vãn, tiếng nguyền rủa…cũng như trợ từ, nó là yếu tố được tham gia thêm vào nòng cốt câu Nhưng nó khác trợ từ ở chỗ không gắn bó chặt chẽ với nòng cốt câu

b Vai trò của thán từ

- Thán từ là những từ không mang ý nghĩ phạm trù đầy đủ, rõ rệt, mà chuyên dùng để biểu thị những tình cảm, thái độ trực tiếp đối với sự kiện được nói tới trong câu và đối với người nghe

- Thán từ đứng tách khỏi nòng cốt câu, không có quan hệ với thành phần trong nòng cốt câu để bổ sung cho nòng cốt câu những ý nghĩa tình thái Thán từ là những từ bày tỏ trực tiếp thái độ, tình cảm, cảm xúc của người nói,

nó luôn gắn với một ngữ điệu nhất định và gắn với các yếu tố phi ngôn ngữ

- Thán từ vừa có vai trò như một từ, vừa có vai trò tương đương như một câu, và có thể đứng độc lập tạo thành một khối riêng biệt Cho nên thán

từ còn được gọi là từ - câu

c Phân loại thán từ

Có thể căn cứ vào sắc thái cảm xúc để phân thán từ ra một số loại sau:

Trang 20

c.1 Thán từ dùng để gọi đáp: Ơi, hỡi, à, vâng, dạ, ừ, ạ …

Ví dụ: - Bác đã đi rồi sao, Bác ơi!

(“Người lái đò Sông Đà” - Nguyễn Tuân)

- Các ông sắp phải đi tuần à?

Dạ … Vâng

(“Một huyện ăn tết” – Vũ Trọng Phụng) c.2 Thán từ dùng để bày tỏ tình cảm, thái độ, cảm xúc trực tiếp

Ở mảng này các thán từ được dùng vô cùng phong phú nhưng tiêu biểu

có một số loại sau đây:

- Loại biểu thị sự ngạc nhiên: Ồ, ơ, ơ hay, ô hay, ơ kìa …

Ví dụ: - Ô hay! Không biết đứa nào nói với tôi rằng sáng sớm hôm nay, thằng phó tổng Hưởng đã vào lễ tết quan rồi mà ?

(“Một huyện ăn tết” – Vũ Trọng Phụng)

- Ồ, ông còn định xuất bản quyển này nữa hay sao?

(“Cuốn sách bỏ quên” - Thạch Lam)

- Ơ kìa, đâu mất rồi!

(“Chiều sương” – Bùi Hiển)

- Loại biểu thị sự sợ hãi, đau đớn, than thở: Eo ôi, ái, ối, than ôi, than

ơi, hỡi ôi …

Ví dụ: - Ối trời ơi! Tôi bán cả con lẫn chó và hai gánh khoai mới được hai đồng bảy bạc

(“Tắt đèn” - Ngô Tất Tố)

- Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa …

(“Vội vàng” – Xuân Diệu)

Trang 21

- Than ôi! Có thể như thế được không?

(“Một huyện ăn tết” – Vũ Trọng Phụng)

- Biểu thị sự bực tức: Hử, hở, hừ…

Ví dụ: - Hừ! Mày đợi đấy ông cho mày biết tay!

- Hở? Thằng kia mày nói gì?

Trang 22

CHƯƠNG 2 VAI TRÒ CỦA TÌNH THÁI TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN

NGUYỄN HUY THIỆP

2.1 TÌNH HÌNH KHẢO SÁT, THỐNG KÊ NGỮ LIỆU

2.1.1 Đối tượng khảo sát

Trên thực tế giao tiếp và trong văn học, ta thấy phạm vi hoạt động của tình thái từ khá phong phú và đa dạng Vì thời gian có hạn và phạm vi nghiên cứu đề tài chỉ dừng lại ở mức độ khoá luận, cho nên chúng tôi chỉ lựa chọn những truyện ngắn tiêu biểu trong “truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” làm đối tượng khảo sát, thống kê sự xuất hiện của tình thái từ để xem xét vai trò, tác dụng của chúng

2.1.2 Kết quả khảo sát thống kê

2.1.2.1 Kết quả khảo sát

Đọc và khảo sát 37 tác phẩm của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp chúng tôi

đã thống kê kết quả sử dụng tình thái từ với tần số xuất hiện như sau:

Với 37 tác phẩm đã khảo sát tuy chưa phải là lớn và cũng không thể khảo sát một cách tuyệt đối nhưng với kết quả sơ bộ này chúng tôi mong rằng

Trang 23

đó có thể là những minh chứng đáng kể khẳng định vai trò to lớn của tình thái

từ trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp

2.1.2.2 Nhận xét về tình hình khảo sát, thống kê

Qua khảo sát 37 truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp chúng tôi thấy tình thái từ được sử dụng rất nhiều Dựa vào số liệu thống kê thì sự xuất hiện của trợ từ phong phú, đa dạng hơn so với tần số xuất hiện của thán từ Tần số xuất hiện của tình thái từ trong mỗi truyện ngắn cũng khác nhau, có truyện trợ từ được sử dụng nhiều hơn, có truyện thán từ được sử dụng nhiều hơn Chính nhờ sự sử dụng linh hoạt ấy đã tạo nên tính đa dạng trong hoạt động của tình thái từ

2.2 VAI TRÒ CỦA TÌNH THÁI TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP

Trang 24

nhanh chóng Đồng thời, trợ từ này còn cho thấy sự khốc liệt của hoàn cảnh, nguy hiểm, bệnh tật của tự nhiên luôn rình rập và có thể ập xuống bất ngờ

“nghĩ” của “nó” Đồng thời thể hiện tính chất so sánh trong hành động nghĩ

ấy Nhân vật “nó” đã so sánh và khẳng định suy nghĩ của mình Từ “ngay” còn có dụng ý bộc lộ thái độ của tác giả với nhân vật được nói tới trong câu,

đó là thái độ thương xót

a.2 Nhận xét:

Trợ từ “Ngay” trong các ví dụ trên dùng để miêu tả cụ thể sinh động những sự việc, tình huống đã xảy ra, tái tạo được thời gian diễn ra sự kiện Nhờ vậy sự việc trở nên rõ ràng hơn Hơn nữa từ “Ngay” còn có tác dụng khẳng định tính chất dứt khoát trong hành động của nhân vật Đồng thời thể hiện được nội dung sự việc và thái độ của người viết Khi sử dụng trợ từ này, Nguyễn Huy Thiệp đã đạt được hiệu quả như mong muốn, nghĩa là vừa miêu

tả được sự việc diễn ra, vừa thể hiện được một cách rõ ràng, cụ thể tình cảm, thái độ của mình đối với các chi tiết sự việc đó

b Trợ từ “Đến”

b.1 Khảo sát các ví dụ:

Ví dụ 1:

“Mẹ kiếp… Hạnh nghĩ - Bọn người này họ coi đồng tiền như rác Mỗi

kì sóc vọng tiêu pha đến mấy chục nghìn”

(“Huyền thoại phố phường” – T236)

Trang 25

Trong ví dụ trên trợ từ “đến” đứng trước một kết hợp số từ kiêm tư cách danh từ chỉ số lượng nhằm nhấn mạnh sự đánh giá chủ quan của nhân vật Hạnh Đó là sự phê phán mức độ chi tiêu tiền bạc phung phí của những người giàu có Đối với Hạnh số tiền mà họ chi ra cho mỗi kỳ sóc vọng là quá nhiều Ở đây trong việc sử dụng trợ từ nhấn mạnh “đến” còn bao hàm thái độ phê phán đối với tầng lớp con buôn, trưởng giả đó là tầng lớp mới giầu lên nhờ buôn bán và nhanh chóng bị tha hoá bởi đồng tiền

Ví dụ 2:

“Anh thấy đắng ngắt trong lòng và cảm thương đến ứa nước mắt”

(“Không khóc ở Califorlia” – T393) Trợ từ “đến” được dùng để nhấn mạnh vào một trạng thái bất thường được biểu thị bằng động từ “ứa” Trạng thái này là một hậu quả, kết quả của một hành động trước đó đưa lại đó là hành động “cảm thương” của nhân vật

“Anh” đối với người phụ nữ anh yêu Các cung bậc tình cảm cứ đầy lên trong lòng: lúc đầu “anh lo lắng” rồi “Anh thấy đắng ngắt trong lòng” và cuối cùng

nó được đẩy lên mức đỉnh điểm là “cảm thương”

b.2 Nhận xét:

Trợ từ “đến” có tác dụng nhấn mạnh thái độ, sự đánh giá chủ quan của người nói về mức độ của số lượng được nói đến trong câu Với người nói, số lượng được nhắc tới đó, là ở một mức độ cao, nhiều Nó còn được dùng để nhấn mạnh vào một trạng thái bất thường của nhân vật Nhờ có trợ từ này mà

sự bộc lộ thái độ cảm xúc của nhân vật được thể hiện một cách tự nhiên, đồng thời nó cũng thể hiện rõ thái độ, cảm xúc của chính tác giả

c Trợ từ “Những”

c.1 Khảo sát các ví dụ:

Ví dụ 1:

Trang 26

“Bố Lâm bảo: “Trẻ nhỏ như giếng nước trong, bà cứ thả toàn những

ba ba với thuồng luồng vào, kinh cả người”

(“Những bài học nông thôn” – T128)

Từ “những” có tác dụng liệt kê, nhấn mạnh sự đánh giá của người nói (Bố Lâm) với đối tượng được nói đến trong câu.Với nhân vật thì những câu nói của người bà sẽ làm ảnh hưởng đến tâm hồn trẻ thơ Trợ từ “những” còn cho ta thấy quan niệm, thái độ sống của nhân vật “bà” đối với hiện thực đương thời Với ý nghĩa nhấn mạnh này, trợ từ “những” còn bao hàm thái độ bình giá, nhận xét của tác giả đối với sự tác động của xã hội đến con người

Ví dụ 2:

“An hỏi: “Có bao nhiêu muối ?” Phong bảo: “Tám tấn” Ông Tân Dân giãy nảy: “chết ta thoả thuận với nhau những hai mươi tấn cơ mà ? ”

(“Giọt máu” – T259) Trợ từ “những” được dùng để thể hiện sự đánh giá chủ quan của người nói về số lượng được nhắc tới trong phát ngôn Đó là sự đánh giá “nhiều” về đối tượng được đề cập tới trong quan hệ đối chiếu “tám tấn” và “hai mươi tấn” Việc sử dụng trợ từ “những” còn nhấn mạnh thái độ ngạc nhiên của người nói (ông Tân Dân) với sự không đúng hẹn của nhân vật Phong

c.2 Nhận xét:

Qua việc sử dụng từ “những” người đọc nhận thấy vai trò của nó là biểu thị ý nghĩa liệt kê, nhấn mạnh sự đánh giá chủ quan của người nói về đối tượng được nhắc tới trong phát ngôn Người nói cho rằng, số lượng được nói tới ấy là nhiều Đồng thời, việc sử dụng trợ từ “những” còn thể hiện thái độ của nhân vật cũng như của tác giả đối với hiện thực được nói tới trong phát ngôn

Trang 27

sự bao hàm Tác dụng chủ yếu của nó là nhấn mạnh vấn đề được đề cập (“hai cách ấy”) Qua đây còn cho thấy tài năng của Nguyễn Huy Thiệp trong việc miêu tả thế giới nội tâm của nhân vật, ông đã đi sâu vào những ngóc ngách sâu kín của tâm hồn nhân vật và phân tích nó một cách rõ ràng

Trợ từ “Cả” có tác dụng to lớn trong việc thể hiện dụng ý nhấn mạnh

Nó vừa có tác dụng nhấn mạnh vào vấn đề được đề cập tới trong câu làm cho vấn đề đó hiện lên rõ ràng hơn vừa chứa đựng thể hiện thái độ trực tiếp của tác giả với vấn đề được nói đến trong phát ngôn Nhờ thế mà vấn đề được tái hiện trong tác phẩm trở nên cụ thể sinh động Qua đó ta còn nhận thấy tài năng của Nguyễn Huy Thiệp trong việc miêu tả tâm lý nhân vật đồng thời người đọc còn nhận thấy quan niệm sống của nhà văn

Trang 28

e Trợ từ “Cái”

e.1 Khảo sát các ví dụ:

Ví dụ 1:

“Người đàn ông nhăn nhó, lẩm bẩm:

- Mẹ cha nó! Cái thằng điên quá! ”

(“ Đưa sáo sang sông” – T417) Việc dùng từ “cái” trong câu văn có tác dụng nhấn mạnh ngữ điệu nói của nhân vật “người đàn ông” Nó thể hiện hành vi chửi bới của nhân vật Cách nói này cho thấy tâm trạng, thái độ của nhân vật với đối tượng được nói tới trong câu đó là thái độ bực tức Qua đây ta thấy được sự am hiểu vốn ngôn ngữ và cách sử dụng chọn lọc từ ngữ một cách chính xác, sinh động trong việc thể hiện thái độ, tâm trạng của nhân vật Nhờ có trợ từ này mà sự nhấn mạnh ngữ điệu nói của người nói được thể hiện rõ

Ví dụ 2:

“Trong phòng trọ, ông khách lạ đang ngồi với một cô gái mặc áo hoa

đỏ, dáng vẻ nhà quê Gớm, cái lão ma bùn này, cũng giai gái ra trò! ”

(“Đưa sáo sang sông” – T421) Trợ từ “cái” nhấn mạnh thêm cho tính cách nhân vật Đối với người nói thì đối tượng được nhắc đến mang tính cách không tốt Sử dụng trợ từ “cái” còn nhấn mạnh thêm những suy nghĩ, nhận xét của người nói về đối tượng đồng thời biểu thị thái độ coi thường của tác giả với nhân vật

e.2 Nhận xét:

Như vậy trợ từ “cái” có chức năng nhấn mạnh vào đối tượng, vào ngữ điệu nói của nhân vật Nhờ có trợ từ này, giọng điệu cũng như lời nói, tâm trạng, thái độ của nhân vật được thể hiện rõ ràng hơn Nó còn cho thấy tính cách của nhân vật và thái độ chủ quan của tác giả với các nhân vật

Trang 29

(“Những ngọn gió Hua Tát” – T197) Trợ từ “chính” được dùng để nhấn mạnh với sắc thái khẳng định nội dung của phát ngôn Đồng thời còn cho thấy một quan niệm, một khám phá của tác giả về lẽ sống trong cuộc đời mỗi con người Như vậy Nguyễn Huy Thiệp đã rất thành công trong việc bày tỏ suy nghĩ quan niệm của mình thông qua hệ thống ngôn từ phong phú

Ví dụ 2:

“Thoa mặc quần bò, áo phông đỏ, trông lộng lẫy và khá đài các Vẻ đẹp của cô, theo ý bà mẹ, là do “sức sống tinh thần” mang lại Điều này đáng ngờ (….) Tuy nhiên, chính vẻ trẻ trung, cách đánh hông và cử chỉ tuyệt khéo khi nhăn mũi của cô quả rất ưa nhìn”

(“Huyền thoại phố phường” – T 231) Trợ từ “chính” nhằm khẳng định, nhấn mạnh những điều mà tác giả nhìn thấy, chứng kiến mới là đúng Sự khẳng định ấy là có cơ sở (“Thoa mặc quần bò … khá đài các”) Nó còn góp phần bộc lộ thái độ phủ định, bác bỏ của người viết với ý kiến mà người mẹ đưa ra để nhận xét về vẻ đẹp của cô con gái Đồng thời trợ từ “chính” còn có tác dụng nhấn mạnh vào những đặc điểm được tác giả liệt kê để miêu tả vẻ đẹp của cô gái góp phần nhấn mạnh thêm tính chất khẳng định của phát ngôn

f.2 Nhận xét:

Trợ từ nhấn mạnh “Chính” có ý nghĩa nhấn mạnh với sắc thái khẳng

Trang 30

định nội dung thông báo của phát ngôn Đồng thời còn có tác dụng nhấn mạnh vào chi tiết được tác giả liệt kê Nhờ thế nó vừa góp phần vào nhấn mạnh nội dung của phát ngôn vừa gián tiếp thể hiện được tình cảm, thái độ, thể hiện rõ ý đồ thông tin, thông báo cũng như dụng ý nghệ thuật của tác giả

Ngoài những trợ từ nhấn mạnh xuất hiện với tần số lớn như trên nhà văn Nguyễn Huy Thiệp còn sử dụng một số trợ từ nhấn mạnh khác: Đích, thật, chỉ, mới, toàn, thì…

- Trợ từ “Đích thị”: Người nói khẳng định, nhấn mạnh việc nhìn nhận của mình là hoàn toàn chính xác

Ví dụ:

“Ông khách cười:

- Thế mới khổ! Thế mới đích thị đàn bà !”

(“Đời thế mà vui” - T325)

- Trợ từ “Thì”: Người nói dùng để nhấn mạnh ý nghĩa khẳng định chủ

đề hoặc khẳng định quan hệ giữa các sự vật hay sự kiện được nêu trong câu

(“Những bài học nông thôn” – T125)

- Trợ từ “Thật là”: Nhấn mạnh với sắc thái khẳng định bản chất của vấn

đề, sự việc, hiện tượng…

Ngày đăng: 31/10/2015, 09:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (chủ biên) - Hoàng Văn Thung (1996), Ngữ pháp tiếng Việt (tập 1), NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban (chủ biên) - Hoàng Văn Thung
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1996
2. Lê Biên (1998), Từ loại tiếng Việt hiện đại, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Lê Biên
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1998
3. Nguyễn Hồng Cổn (2003), “Về vấn đề phân định từ loại trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ, (2), tr 37 – 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề phân định từ loại trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 2003
4. Đinh Văn Đức (2001), Ngữ pháp tiếng Việt từ loại, NXBĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt từ loại
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: NXBĐHQG Hà Nội
Năm: 2001
5. Nguyễn Thị Ngọc Hân (2001), “Tiểu từ tình thái cuối câu nhé: hàm ý của người nói”, Ngôn ngữ (16), tr 6 – 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tiểu từ tình thái cuối câu nhé: hàm ý của người nói”
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Hân
Năm: 2001
6. Hoàng Phê (2008), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2008
7. Nguyễn Anh Quế (1996), Ngữ pháp tiếng Việt, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Anh Quế
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1996
8. Nguyễn Hữu Quỳnh (2001), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Từ điển Bách Khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Hữu Quỳnh
Nhà XB: NXB Từ điển Bách Khoa
Năm: 2001
9. Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (2005), NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Tác giả: Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2005
10. Phạm Hùng Việt (2004), Trợ từ trong tiếng Việt hiện đại, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trợ từ trong tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Phạm Hùng Việt
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ hệ thống từ loại tiếng Việt - Vai trò của tình thái từ trong truyện ngắn của nguyễn huy thiệp
Sơ đồ h ệ thống từ loại tiếng Việt (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w