1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư duy tự sự lịch sử trong truyện ngắn của nguyễn huy thiệp

50 284 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 468,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, tư duy tự sự lịch sử đã đánh dấu một hướng khám phá mới, cái nhìn độc đáo của nhà văn về mối quan hệ giữa lịch sử với văn học, từ lịch sử đến văn học chính là một bước chuyển t

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Xuất phát từ vị trí của Nguyễn Huy Thiệp đối với sự phát triển của văn học đương đại Việt Nam: Được coi là một hiện tượng độc đáo của văn học Việt Nam thời kì đổi mới, sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp hội tụ rõ nét tính liên tục và tính đứt đoạn của lịch sử văn học dân tộc Có thể nói không quá rằng, một mình Nguyễn Huy Thiệp không làm nên được diện mạo của nền văn học Việt Nam sau 1975 đến nay, nhưng một mình Nguyễn Huy Thiệp lại có thể đào xới lên nhiều vấn đề thuộc về bản chất của văn học, tạo nên sức bật khỏi ảnh hưởng văn học trước 1975, từ đó đưa văn học Việt Nam sau 1975 đi xa hơn, vững vàng hơn trên hành trình đổi mới văn học dân tộc, hoà nhập vào biển cả văn học hiện đại của thế giới

Vào thập niên 80 - 90 của thế kỉ XX, Nguyễn Huy Thiệp nổi lên như một hiện tượng văn học độc đáo gây xôn xao nền văn học nước nhà vốn đang trầm lặng sau chiến tranh Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện ngay lập tức gây không khí tranh luận trên văn đàn Nhất là khi chùm truyện ngắn viết về đề tài lịch sử được đăng trên tuần báo Văn nghệ, lập tức gây một cuộc tranh luận sôi nổi Trong đó, tư duy tự sự lịch sử đã đánh dấu một hướng khám phá mới, cái nhìn độc đáo của nhà văn về mối quan hệ giữa lịch sử với văn học, từ lịch sử đến văn học chính là một bước chuyển thể sáng tạo của Nguyễn Huy Thiệp

1.2 Xuất phát từ tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp, đặc biệt là những truyện ngắn viết về đề tài lịch sử Đó là những tác phẩm có vấn đề Mặc dù viết về đề tài lịch sử đến Nguyễn Huy Thiệp không phải là điều mới mẻ, nó đã được nhiều cây bút trước đó quan tâm với tinh thần cổ vũ kháng chiến, phục vụ kháng chiến Các cây bút ấy thời kì đổi mới tiếp tục đào sâu vào mảng đề tài này nhằm

Trang 2

Thiệp việc mượn đề tài lịch sử để phát biểu cho quan niệm riêng của mình là một vấn đề đáng quan tâm Nhưng ở đây điều cần chú ý là tư duy tự sự lịch sử trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp nhờ đó mà người đọc thấy được sự sáng tạo của nhà văn đối với đề tài không mấy xa lạ này

1.3 Xuất phát từ chính nhu cầu muốn tìm tòi, nghiên cứu sự sáng tạo trong tư duy tự sự lịch sử của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp nên chúng tôi đã lựa chọn đề tài này

Châm ngòi nổ cho cuộc tranh luận là bài viết của nhà sử học Tạ Ngọc Liễn Về truyện ngắn Vàng lửa (Văn nghệ, 26/6/1988) đã chỉ trích Nguyễn Huy

Thiệp hư cấu các nhân vật lịch sử một cách tuỳ tiện và khẳng định: "Viết lịch sử không chỉ sử gia mà cả nhà văn cũng phải phục tùng sự thật, đúng bản chất lịch

sử, không được làm diện mạo lịch sử méo mó đi" [17, 177]

Trong bài Tư duy tiểu thuyết và folklore hiện đại (Đà Lạt, 8/1988), nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến lại ủng hộ lối hư cấu lịch sử của Nguyễn Huy

Trang 3

Thiệp và cho rằng: "Ba truyện ngắn lịch sử Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết đăng trên báo Văn nghệ năm nay bộc lộ một phương diện mới của tài năng Nguyễn Huy Thiệp: tư duy tiểu thuyết" [17, 356]

Diệp Minh Tuyền với bài Nguyễn Huy Thiệp, một tài năng mới (Văn nghệ, số 36, 37 ngày 3/9/1988) cũng cho rằng: "Chỉ với bấy nhiêu truyện ngắn, anh đã mang đến cho văn học chúng ta một diện mạo mới: từ cách chọn đề tài, cách xây dựng nhân vật, cách dựng truyện, lối hành văn đều mới, để cuối cùng diễn đạt những chủ đề tư tưởng mới” [17, 396]

Thái Hoà trong bài Có nghệ thuật Ba-rốc trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp (Tạp chí Văn học, số 2, 3/4/1989) cũng đưa ra nhận xét về cách

xây dựng nhân vật lịch sử trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp: "Dù là một

anh hùng chói lọi, tài năng lỗi lạc như Quang Trung hay một hoàng đế quyền lực

vô hạn như Gia Long thì cũng chỉ là con người, mang những khuyết tật, những chỗ không hoàn hảo của con người" [17, 104]

PGS.TS Nguyễn Thị Bình chứng minh Nguyễn Huy Thiệp là một cây bút

tích cực trong sự đổi mới ngôn ngữ và giọng điệu qua bài Đổi mới ngôn ngữ và giọng điệu là thành công đáng chú ý của văn xuôi sau 1975, nhà nghiên cứu

đã nhận xét: "Đó là lối nói cộc lốc, sắc bén, câu văn ngắn gọn dồn dập, hạn chế tối đa sự miêu tả và bình luận chứa một năng lượng bùng nổ dữ dội và trước hết làm rung chuyển lối văn mực thước, trang trọng hoặc rào đón, đưa đẩy" [23, 353]

Trong bài Một vài nhận xét về quan niệm hiện thực trong văn xuôi nước

ta từ sau 1975 (Tạp chí Văn học, số 4/2003), PGS.TS Nguyễn Thị Bình tiếp tục nhấn mạnh rằng: "Nguyễn Huy Thiệp là người đã mạnh dạn trình bày một thái độ tự do đối với lịch sử: nhào nặn lại chất liệu lịch sử, dùng lịch sử làm vỏ nghệ thuật để truyền những thông điệp về hiện tại” [3, 23]

Trang 4

Nhà phê bình văn học Đông La trong bài Về cái ma lực trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đã nhận xét: “Truyện của anh thường không có cốt truyện, là truyện của nhiều vấn đề Nó chảy như một dòng chảy tự nhiên Sự cuốn hút của chúng không phải ở sự bất ngờ mà ở độ sâu sắc của những ý tưởng, ở tầm triết lí liên quan tới cuộc sống con người” [17, 137]

Cao Kim Lan trong bài Lịch sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và dấu vết của hệ hình thi pháp hậu hiện đại (Nghiên cứu Văn học, số 12/2007)

đã đưa ra nhận xét: "Giá trị văn chương trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp có thể được xác định bắt đầu từ sự thay đổi tư duy sau đó được biểu hiện ở những cách tân trong kĩ thuật viết" [11, 61]

Bài Nguyễn Huy Thiệp - hợp lưu giữa nguồn mạch dân gian và tiểu thuyết hiện đại của Tiến sĩ Nguyễn Thị Tuyết Nhung đã nhận xét: "Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên những folkore hiện đại, đã làm một cuộc cách mạng trong

tư duy nghệ thuật so với truyền thống" [19]

Trong bài viết Văn học Việt Nam trong quá trình hội nhập, PGS.TS Bích

Thu cho rằng: "Sự hấp dẫn trở lại của tự sự lịch sử qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp đã chứng tỏ các chủ thể sáng tạo ngoài cảm xúc thẩm mĩ đã hết sức dụng công trong kĩ thuật tự sự" [25] Bài viết đã không đề cập đến các phương

diện cụ thể của tư duy tự sự lịch sử mà chỉ đưa ra nhận xét về lối tư duy này

Như vậy, đã có rất nhiều bài nghiên cứu đề cập đến các khía cạnh có liên quan đến tư duy tự sự lịch sử trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp Ngoài

ra, trên các trang web của báo mạng cũng không ít bài phê bình, giới thiệu về

Nguyễn Huy Thiệp Tuy nhiên vấn đề: “ Tư duy tự sự trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp” đến nay vẫn bỏ ngỏ Chính vì lẽ đó, tác giả khóa luận

mong muốn ở một mức độ nhất định tập trung tìm hiểu “ Tư duy tự sự lịch sử

trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp” để góp phần khẳng định tài năng,

Trang 5

cá tính sáng tạo của Nguyễn Huy Thiệp và những đóng góp của ông vào sự

nghiệp văn học

3 Mục đích nghiên cứu

- Làm rõ vai trò văn học sử của Nguyễn Huy Thiệp đối với công cuộc

đổi mới văn học Việt Nam sau năm 1986

- Thấy được những cách tân độc đáo của nhà văn trong tư duy tự sự lịch

sử ở thể loại truyện ngắn

- Trau dồi thêm kiến thức nghiên cứu cho bản thân tác giả khoá luận về

đề tài lịch sử trong văn xuôi Việt Nam đương đại

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khoá luận “Tư duy tự sự lịch sử trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp”

có nhiệm vụ sau:

- Nêu những nét khái quát về đề tài lịch sử trong văn xuôi việt Nam hiện đại, về cuộc đời, sự nghiệp của tác giả Nguyyễn Huy Thiệp cũng như chùm truyện ngắn viết về đề tài lịch sử của ông

- Chỉ ra những nét độc đáo, mới mẻ của Nguyễn Huy Thiệp khi viết về đề tài lịch sử trên các phương diện: cảm hứng lịch sử, các xử lí tư liệu lịch sử, cách xây dựng nhân vật, nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ, giọng điệu

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là chùm truyện ngắn viết về đề tài lịch sử trong

Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Cụ thể là Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, Mưa Nhã Nam, Nguyễn Thị Lộ

- Phạm vi nghiên cứu: Khoá luận tập trung làm rõ "Tư duy tự sự lịch sử trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp" ở các phương diện: cảm hứng

lịch sử, cách xử lí tư liệu lịch sử, cách xây dựng nhân vật lịch sử, nghệ thuật trần

Trang 6

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp hệ thống

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp lịch sử

7 Đóng góp của khoá luận

- Thực hiện khoá luận này, chúng tôi muốn góp thêm một tiếng nói khẳng định tài năng nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp ở thể loại truyện ngắn Đặc biệt là những truyện ngắn viết về đề tài lịch sử - một đề tài đặt ra không ít khó khăn và thử thách đối với người viết

- Khoá luận cũng góp một phần hình thành và phát triển kĩ năng nghiên cứu khoa học đối với sinh viên Ngữ văn

8 Cấu trúc của khoá luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của khoá luận được chia thành 2 chương:

Chương 1 Những vấn đề chung

Chương 2 Tư duy tự sự lịch sử trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp

Trang 7

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Khái niệm "Tư duy tự sự"

Tư duy tự sự là khái niệm hẹp hơn so với tư duy nghệ thuật Nó nằm trong tư duy nghệ thuật Tư duy tự sự chính là tư duy về thể loại tự sự Vì vậy để hiểu được tư duy tự sự, chúng ta phải hiểu được tư duy nghệ thuật

Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn

Khắc Phi (đồng chủ biên): Tư duy nghệ thuật là “dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật phù hợp với chức năng phi đối xứng của bán cầu đại não và lí thuyết về hai kiểu nhân cách thì tư duy nghệ thuật dựa trên một nền tảng tâm sinh lí khác hẳn với tư duy lí luận” [9, 381] Bản chất của nó do phương thức thực tiễn tinh thần của hoạt động

chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng nghệ thuật quy định Sự chuyên môn hoá lối

tư duy này tạo thành đặc trưng nghệ thuật và tiềm năng nhận thức của nó

Tư duy nghệ thuật là một bộ phận của hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hoá hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mĩ Phương tiện của nó là các biểu tượng, cơ sở của nó là tình cảm Bằng trí tưởng tượng sáng tạo vốn là chất xúc tác của hoạt động tư duy nghệ thuật, nghệ sĩ xác định các giả thiết, làm sáng

tỏ các bộ phận còn bị che khuất của thực tại, lấp đầy các “lỗ hổng chưa biết” [9,

Trang 8

Tư duy nghệ thuật đòi hỏi một ngôn ngữ nghệ thuật làm "hiện thực trực tiếp" cho nó Đặc điểm của tư duy nghệ thuật là tính lựa chọn, tính liên

tưởng, tính ẩn dụ Trên cơ sở tư duy nghệ thuật người ta tạo ra các tư tưởng và quan niệm nghệ thuật, lựa chọn các phương tiện, biện pháp nghệ thuật

Như đã nói ở trên, tư duy tự sự là khái niệm hẹp của tư duy nghệ thuật Vì vậy, tư duy tự sự cũng mang những đặc điểm chung của tư duy nghệ thuật Nhưng tư duy tự sự cũng có những đặc điểm riêng khác biệt so với tư duy trữ tình - cũng là một dạng tư duy khác nằm trong tư duy nghệ thuật

Nếu như ở thể loại trữ tình phản ánh hiện thực trong sự cảm nhận chủ quan của nhân vật trữ tình thì tác phẩm tự sự lại tái hiện đời sống trong toàn bộ tính khách quan của nó Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống trong không gian, thời gian, qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời con người Trong tác phẩm tự sự nhà văn cũng thể hiện tư tưởng

và tình cảm của mình Nhưng ở đây, tư tưởng và tình cảm của nhà văn thâm nhập sâu sắc vào sự kiện và hành động bên ngoài của con người tới mức giữa chúng dường như không có sự phân biệt nào cả Nhà văn kể lại, tả lại những gì xảy ra bên ngoài mình, khiến cho người đọc có cảm giác rằng hiện thực được phản ánh trong tác phẩm tự sự là một thế giới tạo hình xác định đang tự phát triển, tồn tại bên ngoài nhà văn, không phụ thuộc vào tình cảm, ý muốn của nhà văn

Tư duy tự sự khác tư duy trữ tình còn ở chỗ trong tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện Gắn với cốt truyện là một hệ thống nhân vật được khắc họa đầy đủ, nhiều mặt hơn hẳn nhân vật trữ tình và kịch Trong tác phẩm tự sự, cốt truyện được khắc hoạ nhờ một hệ thống chi tiết nghệ thuật phong phú, đa dạng bao gồm sự kiện, xung đột, nội tâm, ngoại hình của nhân vật, chi tiết tính cách, ngoại cảnh, phong tục, đời sống văn hoá, lịch sử lại còn cả những chi tiết liên tưởng, tưởng tượng, hoang đường mà không nghệ thuật nào tái hiện được

Trang 9

Một đặc điểm nữa làm cho tư duy tự sự khác tư duy trữ tình là trong tư duy tự sự nhà văn đã sáng tạo ra hình tượng người trần thuật Người trần thuật trong tác phẩm tự sự là một nhân vật trong tác phẩm, nó có thể là tác giả, có thể

là nhân vật Đây chính là một đặc điểm quan trọng giúp chúng ta nhận biết được

sự khác nhau giữa tư duy tự sự so với tư duy trữ tình

Nói tóm lại, tư duy tự sự là một khái niệm hẹp hơn so với tư duy nghệ thuật Nó mang những đặc điểm chung của tư duy nghệ thuật nhưng cũng mang những đặc điểm riêng khác với tư duy trữ tình

1.2 Khái quát về đề tài lịch sử trong văn xuôi Việt Nam hiện đại

Đề tài lịch sử luôn là miền đất hứa để các nghệ sĩ mọi thời đại thâm canh

ý nghĩa mới của sự kiện lịch sử bắt đầu từ những vấn đề mới mà thời đại đặt ra

Đề tài lịch sử cũng chính là đề tài được nhiều nhà văn quan tâm Nó có mặt, xuyên suốt từ văn học trung đại cho đến văn học đương đại

Người đọc nếu như đã từng say mê với đề tài này thì chắc sẽ không thể

quên cuốn tiểu thuyết lịch sử đặc sắc của văn học trung đại - Hoàng Lê nhất thống chí Bối cảnh của tác phẩm là lịch sử xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỉ

XVIII đầu thế kỉ XIX cụ thể là khi chúa Trịnh Sâm say mê Tuyên Phi họ Đặng (1776) đến khi vua Gia Long đánh bại phong trào Tây Sơn (1802)

Đến văn học hiện đại, đề tài lịch sử vẫn liên tục xuất hiện và thu được những thành công Có thể kể đến những tác phẩm ở nửa đầu thế kỉ XX như:

Đêm hội Long trì, An Tư công chúa (Nguyễn Huy Tưởng), Lịch sử Đề Thám (Ngô Tất Tố) và hàng loạt tiểu thuyết của Khái Hưng, Lan Khai, Nguyễn

Triệu Luật Trong các tác phẩm viết về lịch sử giai đoạn này chủ yếu nhà văn dùng lịch sử để khơi gợi, liên hệ với những vấn đề hiện tại để ca ngợi cuộc kháng chiến chống xâm lược và những người anh hùng cứu quốc Từ đó đánh thức tinh thần dân tộc của thanh niên Việt Nam hoặc cảnh cáo bè lũ bán nước và

Trang 10

Từ sau cách mạng tháng Tám, do sự phát triển gấp rút của đời sống đòi hỏi người viết phải bám sát thời sự để phục vụ cho các yêu cầu của cuộc chiến đấu hiện tại nên thành tựu của văn xuôi viết về đề tài lịch sử tạm thời vắng bóng Phải từ sau 1960, khi miền Bắc bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ 1 - xây dựng chủ nghĩa xã hội, có cơ hội nhìn lại quá khứ, các sáng tác viết về đề tài lịch sử

lại xuất hiện như Quận He khởi nghĩa (1963), Tổ quốc kêu gọi (1972), Người Thăng Long (1981) của Hà Ân, Núi rừng Yên Thế (Nguyên Hồng), Bóng nước

Hồ Gươm của Chu Thiên Bên cạnh đó là những tác phẩm viết cho thiếu nhi

như Lá cờ thêu sáu chữ vàng (1960), Kể chuyện Quang Trung (1962) của Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Trung Trực (1964), Bên bờ Thiên Mạc (1967) của

Hà Ân Từ những năm 80 của thế kỉ XX, xu hướng dân chủ hoá bao trùm đời sống tinh thần của người Việt Nam và cũng là xu hướng vận động chung của nền văn học.ý thức nghệ thuật thay đổi, quan niệm về vai trò, vị trí, chức năng văn học, về nhà văn và hiện thực cũng có biến đổi Cùng với nó là quan niệm về hiện thực như đối tượng khám phá của văn học được mở rộng và mang tính toàn diện Hiện thực không chỉ là các biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng mà còn

là hiện thực hằng ngày với các quan hệ thế sự riêng tư, đa đoan, phức tạp Văn học ngày càng đi tới những quan niệm toàn vẹn và sâu sắc hơn về con người mà nền tảng của nó là triết học và hạt nhân cơ bản của nó là tư tưởng nhân bản

Đối với loại hình tự sự lịch sử, giai đoạn sau 1986 có những biến đổi mới đặc biệt quan trọng Năm 1988, chùm truyện ngắn viết về đề tài lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp (Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết) được đăng trên báo Văn nghệ đã thực sự gây "sốc" đối với độc giả đương thời Chính Nguyễn Huy Thiệp

đã mở đầu cho một cách viết khác trước về đề tài lịch sử mà cách viết này sẽ ảnh hưởng tích cực đến các cây bút tiểu thuyết lịch sử sau đó như tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ (2 tập, 1998) của Nguyễn Mộng Giác, Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh Các tác giả này không chỉ dụng công ở cảm

Trang 11

xúc thẩm mĩ mà còn dụng công trong kĩ thuật tự sự Ngòi bút sáng tạo của họ đã góp phần làm phục sinh văn xuôi viết về đề tài lịch sử khiến mảng văn học này

có một vị trí xứng đáng trong đời sống văn học đương đại Việt Nam

Như vậy, có thể nói đề tài lịch sử là một đề tài có bề dày truyền thống trong văn học Việt Nam Viết về lịch sử, người nghệ sĩ vừa có cái thuận lợi là khai thác một đề tài không phải là mới mẻ mà quen thuộc trong nền văn học Việt Nam, cùng với một khối lượng lớn những tư liệu của chính sử, những sách viết về lịch sử, về những người anh hùng dân tộc, lại vừa khó khăn bởi quay về với những thời kì xa xôi của quá khứ trong khi không có chứng nhân, cũng không là người tham gia kiến tạo trực tiếp, nhà văn chỉ có cho mình ít mảnh vụn của thế giới đã qua: những ghi chép lịch sử, những tư liệu khảo cổ, những câu chuyện lưu truyền trong dân gian mà trong số đó không phải mảnh nào cũng khả kiểm, khả tín Chính vì vậy tạo điều kiện cho nhà văn có thể tự do dẫn dắt người đọc đến những vùng đất bao la của trí tưởng tượng Thuận lợi cùng với những khó khăn, thử thách ấy lại đầy sức quyến rũ đối với người nghệ sĩ Nó phụ thuộc rất nhiều vào tài năng và bản lĩnh của mỗi nhà văn

1.3 Tác giả Nguyễn Huy Thiệp

Trang 12

Ông thân sinh Nguyễn Huy Thiệp là một cán bộ ngành giao thông công chính, Nguyễn Huy Thiệp chịu ảnh hưởng giáo dục chủ yếu của ông ngoại, vốn

là người am hiểu Nho học và mẹ vốn là người sùng đạo Phật

Năm 1970, ông tốt nghiệp khoa Sử trường Đại học Sư phạm Hà Nội và được điều đi dạy ở tỉnh Sơn La trong 10 năm Năm 1980, ông chuyển về Hà Nội công tác tại Bộ Giáo dục và Đào tạo, sau đó làm việc tại Công ty Kỹ thuật Trắc Địa Bản đồ, Cục Bản đồ cho đến khi về hưu Ngoài công tác Nhà nước, ông còn làm nhiều nghề lao động khác để kiếm sống

Có thể nói, cả cuộc đời Nguyễn Huy Thiệp là cuộc đời với nhiều khó khăn, vất vả, nhưng bằng nỗ lực của bản thân, ông đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách trở thành một nhà văn chân chính, đóng góp vào việc phát triển nền văn học Việt Nam giai đoạn sau công cuộc đổi mới (1986) và điều đó được thể hiện cụ thể qua sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp

1.3.2 Sự nghiệp sáng tác

Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện muộn trên văn đàn Năm 1986, ông mới bắt đầu có tác phẩm đăng báo Từ đây, ông nổi tiếng với một loạt truyện ngắn có nhiều sáng tạo mới lạ, mở đầu là truyện Tướng về hưu đến khi mấy truyện gọi là

"giả lịch sử" của ông ra đời (Phẩm tiết, Kiếm sắc, Vàng lửa) thì nhiều cuộc tranh luận đã nổ ra gay gắt xung quanh nhà văn này

Tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp tính cho đến nay gồm hai thể loại truyện và kịch

Truyện gồm khoảng 30 tác phẩm, có thể chia thành 4 loại: "giả cổ tích",

"giả huyền thoại", truyện thế sự, truyện lịch sử Tất cả đều là những tác

phẩm tự sự ngắn gọi chung là truyện ngắn Tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp in dấu ấn khá đậm nét về nông thôn và những người lao động Sở trường của ông

là truyện ngắn, mảng đề tài đa dạng gồm lịch sử và văn học, hơi hướng huyền

Trang 13

thoại, cổ tích, xã hội Việt Nam đương đại, xã hội làng quê và những người lao động Có thể tạm được phân loại như sau:

+ Truyện về lịch sử và văn học: Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, Nguyễn Thị Lộ, Mưa Nhã Nam, Chút thoáng Xuân Hương

+ Truyện mang hơi hướng huyền thoại, cổ tích: Những ngọn gió Hua Tát, Con gái Thuỷ Thần, Giọt máu, Muối của Rừng, Chảy đi sông ơi, Trương Chi

+ Truyện về xã hội Việt Nam đương đại: Không có vua, Tướng về hưu, Cún, Sang sông, Tội ác và trừng phạt

+ Truyện về đồng quê và những người dân lao động: Thương nhớ đồng quê, Những bài học nông thôn, Những người thợ xẻ

Ngoài truyện ngắn, Nguyễn Huy Thiệp còn viết nhiều kịch, tiêu biểu là

Xuân Hồng, Còn lại là tình yêu, Gia đình (hay Quỷ ở với người dựa theo

truyện ngắn Không có vua) Nhà tiên tri, Hoa Sen nở và nhiều thơ (chưa xuất bản tập thơ nào, song thơ xuất hiện khá nhiều trong các truyện ngắn của ông)

Năm 1996, Tiểu Long Nữ được coi là "tiểu thuyết đầu tay" - cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông được chính thức xuất bản bởi Nhà xuất bản Công an Nhân dân

Cùng với truyện ngắn, kịch, thơ, tiểu thuyết, Nguyễn Huy Thiệp còn viết tiểu luận phê bình đăng trên nhiều báo, tạp chí trong nước

Năm 2004, bài viết Trò chuyện với hoa thuỷ tiên và những nhầm lẫn của nhà văn của Nguyễn Huy Thiệp đăng trên Tạp chí Ngày nay đã tạo ra những

tranh luận sôi nổi trong giới văn chương một thời gian đầu trên Báo Văn nghệ và một số trang báo mạng tại Việt Nam

Sự nghiệp văn học với nhiều thể loại khác nhau, có thể khẳng định Nguyễn Huy Thiệp là một tài năng nghệ thuật Ông đã góp vào sự nghiệp văn

Trang 14

học nước nhà nói chung và vào sự nghiệp đổi mới văn học giai đoạn sau 1986 nói riêng

1.4 Chùm truyện ngắn viết về đề tài lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp Nguyễn Huy Thiệp thành công ở nhiều thể loại nhưng thành công hơn cả

ở thể loại truyện ngắn Trong đó chùm truyện ngắn viết về đề tài lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp được nhiều nhà nghiên cứu tranh luận và bạn đọc quan tâm

Năm 1988, khi ba truyện gọi là "giả lịch sử" của ông ra đời (Phẩm tiết, Vàng lửa, Kiếm sắc) tiếp đó là các truyện khác Mưa Nhã Nam, Nguyễn Thị Lộ thì nhiều cuộc tranh luận đã nổ ra gay gắt xung quanh nhà văn này

Người ta tập trung tranh cãi về ý nghĩa tiêu cực hay tích cực, về cái tâm và cái tài của cây bút trẻ Điều đáng lưu ý là qua các cuộc tranh luận, người ta còn đặt

ra vấn đề đổi mới cách đọc, vấn đề trang bị một "văn hoá đọc" như thế nào đó để hiểu đúng văn phẩm của Nguyễn Huy Thiệp Nhưng nhìn chung tất cả đều công nhận một tài năng độc đáo của Nguyễn Huy Thiệp Ông chính là người có nhiều đổi mới về tư duy nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam, khác hẳn so với lối tư duy ở giai đoạn trước đó Nếu như văn học giai đoạn trước, con người là phương tiện để biểu đạt lịch sử thì bây giờ lịch sử lại trở thành phương tiện để biểu đạt con người Mối quan hệ giữa nhà văn với hiện thực như vậy đã thay đổi căn bản Hiện thực không bị đóng cứng bởi tiêu chí lịch sử theo tinh thần sử thi mà mang nội dung sinh động, dân chủ hơn nhiều với hứng thú kiếm tìm "lịch sử trong mỗi con người" [3, 23] Lịch sử theo kinh nghiệm cộng đồng chuyển thành lịch sử theo kinh nghiệm cá nhân Kinh nghiệm cộng đồng dù phong phú đến đâu cũng không sánh được với kinh nghiệm cá nhân về tính cụ thể, sinh động và đa dạng Thoát khỏi sự lệ thuộc vào hiện thực sử thi, Nguyễn Huy Thiệp là người đã mạnh dạn trình bày một thái độ tự do đối với lịch sử: Nhào nặn lại chất liệu lịch

sử dùng lịch sử làm cái vỏ nghệ thuật để truyền những thông điệp về hiện tại

Trang 15

Bao nhiêu ý kiến khen chê trái ngược xung quanh của nhà văn này cốt lại đều xoay quanh hiện thực về con người

Có thể nói, sự thành công của chùm truyện ngắn viết về đề tài lịch sử của

Nguyễn Huy Thiệp là ở chỗ các tác phẩm đã đi sâu khám phá "con người bên trong con người" [3, 23] Chứng tỏ tính sáng suốt của tư tưởng coi trọng con

- Nhân vật đầy góc cạnh, dường như sống đến tận cùng cá tính của mình

- Khuynh hướng khái quát triết lí

Qua các thiên truyện, Nguyễn Huy Thiệp không hề có ý muốn che giấu cái tôi của mình Một cái tôi lưỡng phân, một mặt coi đời là vô nghĩa, là trò đùa, luôn có giọng ỡm ờ, bỡn cợt, khinh bạc, mặt khác là một cái tôi nghiêm chỉnh muốn đi tìm khuôn mẫu của con người chân chính, cao cả, con người của nền văn hoá tương lai

Chùm truyện ngắn viết về đề tài lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp cho đến nay còn nhiều mặt chưa được sự đánh giá, nhất trí trong giới văn học Tuy nhiên, dư luận chung thừa nhận đây là một tài năng văn học độc đáo, một sự kiện rất đáng kể trong đời sống văn học nước ta thời kì đổi mới

Trang 16

CHƯƠNG 2

TƯ DUY TỰ SỰ LỊCH SỬ TRONG TRUYỆN NGẮN

CỦA NGUYỄN HUY THIỆP

2.1 Cảm hứng lịch sử

Trong nền văn học mới của hơn sáu chục năm qua, chủ yếu là văn học thời gian 1945 - 1975 những nhóm thể tài thế sự và đời tư rất ít phát triển Chiếm vị trí chủ đạo là nhóm thể tài lịch sử dân tộc Do vậy tính chất sử thi là đặc điểm nổi bật quy định nền văn học này Tư duy sử thi với một khoảng cách khó vượt qua giữa nhà văn và đối tượng mà nhà nghiên cứu nổi tiếng Bakhtin gọi là "khoảng cách sử thi", văn học chuyển sang kiểu tư duy mới: suy ngẫm về

hiện thực, về cái đương đại đang diễn ra, "cái đương đại chưa hoàn thành" Cùng với kiểu tư duy văn học mới, hiện đại này, đã xuất hiện một thế hệ nhà

văn mới Họ vừa là sản phẩm của thời đại văn học đổi mới, vừa góp phần đáng

kể tạo nên sự đổi mới tư duy và thành tựu của văn học đổi mới, tạo ra sự "đột biến" của đời sống văn học

Sự xuất hiện của Nguyễn Huy Thiệp (1987) đã thật sự gây chấn động đời sống văn học và rất nhanh chóng trở thành một hiện tượng văn học Ngay từ những sáng tác đầu tay, Nguyễn Huy Thiệp đã khiến công chúng phải sửng sốt Đặc biệt là 3 truyện ngắn viết về đề tài lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp (Kiếm

sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết) tiếp đó là Mưa Nhã Nam, Nguyễn Thị Lộ Đối tượng

kể chuyện ở đây là lịch sử cách đây trên dưới năm trăm năm, là hiện thực khép

kín trọn vẹn ở mảng truyện này, người đọc không được tiếp xúc với một cảm hứng sáng tạo văn chương truyền thống Việt Nam vốn quen thuộc lâu nay Đó là cảm hứng sử thi với khí chất hào hùng, chủ yếu đi vào những khía cạnh tích cực của hiện thực Giống như ở nhiều truyện khác, cảm hứng chủ yếu trong truyện ngắn viết về đề tài lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp là cảm hứng đời thường, có

Trang 17

tính chất phê phán, chĩa vào mặt thứ hai của hiện thực mà ở đó những yếu tố tiêu cực bộc lộ nhiều hơn, hiện diện rõ hơn, phức tạp hơn Trước đối tượng lịch sử, Nguyễn Huy Thiệp không có ý đối lập lại hoàn toàn những gì công chúng đã biết, đã thừa nhận, nhưng điều đáng nói là Nguyễn Huy Thiệp đã xoá nhoà

"khoảng cách lịch sử" của văn học trước đây để đem đến những cái nhìn mới mẻ

về các nhân vật lịch sử - con người với đầy đủ tính cách, cung bậc tình cảm của con người bình thường trong cuộc sống hằng ngày Điều này được thể hiện rõ hơn cả ở quan điểm tiếp cận nhân vật anh hùng trong các sáng tác viết về đề tài lịch sử của ông: Vua Gia Long - người mở đầu triều đại gần 100 năm nô lệ của dân tộc cũng là con người nham hiểm, tàn bạo, độc ác - mang những nét tính cách của con người bình thường; một Nguyễn Huệ - vị anh hùng dân tộc được kính trọng, quý mến vào bậc nhất của nước ta nhưng ngoài những nét hào hoa, lịch thiệp, tác giả còn làm nổi bật một điểm yếu đó là tính hiếu sắc, tính mê gái,

âu cũng là một thói “nam nhi thường tình"; rồi Đề Thám "khác người ở thần thái, ở tinh thần tự chủ cao, nhãn quan bao quát rộng" nhưng lại có cái giống người bình thường "Đề thám là một anh hùng, cũng là một người nhu nhược" [24, 184]; một Nguyễn Du văn chương như in, như tạc vào cuộc đời, là đỉnh cao chói lọi của văn học dân tộc bỗng chốc hoá thành "đứa con hoang của cô gái đồng trinh” [24, 151] bị "tên đàn ông khốn nạn" [24, 151] là nền văn minh Trung Hoa "cưỡng hiếp" [24, 151] khiến văn của Nguyễn Du "chứa đầy điển tích" [24, 151] của tên đàn ông khốn nạn kia; một Nguyễn Trãi văn chương kinh

bang tế thế, đủ sức sửa sang việc đời bỗng chốc hoá thành "nhà duy mĩ khổng lồ" [24, 302] chỉ có ru với gió, mơ theo trăng và "vơ vẩn cùng mây" [24, 302]; một Nguyễn Thị Lộ chỉ đủ tầm cỡ cho "một trái tim" [24, 299] của Nguyễn Trãi bỗng nhiên sừng sững trở thành một điểm tựa cho tinh thần suy sụp và cô đơn của ức Trai

Trang 18

Nói tóm lại, trong truyện ngắn viết về đề tài lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp, nhà văn đã “kéo xuống” với đời thường những đỉnh cao của lịch sử dân tộc, trần tục hoá vua Gia Long, Quang Trung và các nhân vật lịch sử như Nguyễn Du, Nguyễn Trãi làm cho họ mang những tính cách gần gũi với con người đời thường

Như vậy, văn học Việt Nam sau 1986 có sự chuyển biến từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch sử dân tộc sang cảm hứng đời thường

và đặc điểm này kết tinh chủ yếu trong những truyện ngắn viết về đề tài lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp Quá khứ lịch sử lúc này đã trở thành đối tượng trung tâm để nghệ sĩ khám phá, nghiền ngẫm và đưa ra những kiến giải mới về đời sống con người Nguyễn Huy Thiệp đã không nhìn lịch sử bằng cảm hứng ngợi

ca, sùng kính, một chiều như trước nữa mà thay vào đó là thái độ khách quan và

cả sự "phán xét" công bằng đối với nó

2.2 Cách xử lí tư liệu lịch sử

Sau năm 1975, hoàn cảnh đất nước thay đổi, văn học cũng phải có sự chuyển đổi để đáp ứng nhu cầu mới của đời sống, của công chúng Theo dõi văn học từ 1975 đến nay, có thể nhận thấy sự chuyển đổi này theo hai giai đoạn: giai đoạn đầu, văn học chủ yếu chuyển đổi về chất liệu, về hướng tiếp cận hiện thực đời sống; giai đoạn sau, là những chuyển đổi trong chiều sâu, trong ý thức của nhà văn

Đặc biệt là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI, Nghị quyết 05 của Bộ Chính

trị và chủ trương "cởi trói" cho văn học nghệ thuật, cuộc gặp gỡ "lịch sử" của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với đông đảo văn nghệ sĩ trong hai ngày của

tháng 10/1987 đó là bối cảnh thuận lợi đã thúc đẩy, tạo nên sự chuyển đổi mạnh mẽ và sâu sắc của đời sống văn học Sau sự chuyển đổi về hướng tiếp cận, lựa chọn chất liệu hiện thực, ở giai đoạn này vấn đề đặt ra đối với văn học là xử

Trang 19

lí chất liệu hiện thực như thế nào? Và trong chùm truyện ngắn viết về đề tài lịch

sử của Nguyễn Huy Thiệp, nhà văn đã có cách xử lí tư liệu lịch sử ra sao?

Như chúng ta đã biết, bản chất của môn sử học là một khoa học đòi hỏi sự chính xác còn bản chất của môn sáng tác văn học với tư cách là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo lại khơi gợi ở con người sự xúc cảm có tính thẩm mĩ

Sử học là ngành khoa học đòi hỏi tính chính xác và sự uyên bác cao Nhà

sử học là người làm công việc tìm kiếm tài liệu, giám định sử liệu, tái hiện sự kiện một cách chắc chắn, trên kết quả ấy, tiến hành các bước nhận xét, khái quát,

mô hình hoá, trừu tượng hoá để nhận thức đúng bản chất lịch sử, quy luật lịch

sử Còn nhà văn khi viết về đề tài lịch sử có quyền hư cấu, nhằm khắc hoạ thêm chiều sâu tính cách nhân vật, làm cho nhân vật lịch sử sống động hơn, đi sâu vào tâm trí người đọc dễ hơn so với lối văn của sử bút quá chặt chẽ Yếu tố sáng tạo nghệ thuật - trở thành một đặc trưng của văn học

Lại Nguyên Ân trong bài Đọc văn phải khác đọc sử nhắc lại: "Các phát ngôn trong văn xuôi nghệ thuật không bao giờ cũng đồng nhất với tư tưởng tác giả" [17, 180]

Châu Hồng Thuỷ trong bài Làm quen với cây bút trẻ trong ngành giáo dục (Người GVND 27/6/1988) cũng cho rằng: "Với con mắt của thầy giáo sử học, anh (tức Nguyễn Huy Thiệp ) không có ý dựng lại chân dung các nhân vật lịch sử Lịch sử chỉ là cái cớ để anh suy ngẫm về quan hệ ứng xử giữa người với người, suy ngẫm về số phận, tâm linh dân tộc" [17, 527-528]

Chính nhà văn Nguyễn Huy Thiệp cũng quan niệm: "Lịch sử cũng chỉ là ước lệ, có tính tương đối, có tính hạn chế chủ quan và khách quan do thời đại lịch sử quy định” [17, 338]

Để thấy được sự sáng tạo của Nguyễn Huy Thiệp về cách xử lí tư liệu lịch

sử, chúng tôi tiến hành so sánh với các tài liệu chính sử

Trang 20

Cuốn Lịch sử Việt Nam giản yếu cũng từng viết: "Cuối 1779, Nguyễn ánh trở lại chiếm Gia Định, xưng Vương, phong cho Đỗ Thành Nhơn, thủ lĩnh quân Đông Sơn làm Phụ chính thượng tướng quân Chẳng được bao lâu (1782), Đỗ Thành Nhơn lộng quyền bị Nguyễn ánh giết Từ đó, quân Đông Sơn tan rã, thế lực của Nguyễn ánh lại suy yếu Sau lần thất bại thảm hại này, Nguyễn ánh thấy khó lòng địch nổi quân Tây Sơn đã sai Chu Văn sang cầu cứu quân xiêm” [20, 282-283]

Trong Đại cương lịch sử Việt Nam (toàn tập):“Chính quyền chúa Nguyễn

bị đánh đổ nhưng Nguyễn ánh vẫn không chịu từ bỏ mong muốn khôi phục cơ đồ của dòng họ Sang Xiêm, ánh xin vua Xiêm đem quân đánh Tây Sơn, cứu giúp mình Cuối tháng 7 năm 1784, hai tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương được lệnh đem 2 vạn thuỷ quân, 300 chiếc thuyền và tướng Chiêu Thuỳ Biên đem 3 vạn bộ binh cùng Nguễn ánh, Chu Văn Tiếp đánh về Gia Định Cho đến cuối năm đó, gần một nửa đất Gia Định đã thuộc về quân Xiêm - Nguyễn ánh” [21, 415] Cũng trong cuốn này nhấn mạnh: Năm 1802, trước khi hành hình Nguyễn Quang Toản, Gia Long đã bắt ông phải đem quân lính đào mộ Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ cùng vợ chính, lấy hài cốt giã nhỏ bỏ vào một cái bồ lớn , xương đầu thì bỏ vào ngục tối Các em của Quang Trung đều bị voi giày” [21, 415]

Qua một số tài liệu lịch sử như vậy, ta có cái nhìn về bản chất của Nguyễn ánh là người thiết lập vương triều, sát hại công thần, trả thù Tây Sơn vì quyền lợi của dòng họ mà mở đường cho người nước ngoài vào Việt Nam Chính vì thế khi đi vào tác phẩm, những hành động, suy nghĩ nhận xét của nhân vật đều hướng vào thể hiện bản chất đó Đồng thời, tác giả đã sáng tạo, hư cấu ra những nhân vật không sử sách nào nhắc đến để khám phá tính cách của chính các nhân

vật đó như Đặng Phú Lân trong Kiếm sắc, Ngô Thị Vinh Hoa trong Phẩm tiết

Về nhân vật Quang Trung - Nguyễn Huệ, cuốn Lịch sử Việt Nam giản yếu có ghi: “ Ngày 24 tháng 11, nhận được tin quân Thanh kéo vào xâm lược,

Trang 21

Nguyễn Huệ lập tức làm lễ đăng quang, lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung, đồng thời làm lễ tiến quân ra Bắc diệt quân Thanh Ngày 29 tháng 11 ra đến Nghệ An, Quang Trung tuyển thêm quân, tổ chức duyệt binh ở Vĩnh Doanh và truyền hịch cứu nước Triệt để lợi dụng tư tưởng chủ quan khinh địch và những sơ hở của quân Thanh trong những ngày ăn Tết, Quang Trung đã mở cuộc tấn công nhanh chóng Đêm mồng 3 tết, Quang Trung bí mật cho quân bao vây đồn Hạ Hồi và cho loa kêu gọi quân giặc đầu hàng Bị bao vây bất ngờ, quân Thanh mất hết tinh thần, đã đầu hàng" [20, 288]

Cuốn Đại cương lịch sử Việt Nam (toàn tập) cũng viết: "Sau lễ "thệ sự" được tổ chức trong không khí hồ hởi, quyết chiến của toàn quân, giữa đêm giao thừa thanh vắng, Quang trung đã đọc vang lời hịch:

Đánh cho để tóc tài

Đánh cho để răng đen

Đánh cho nó chính luân bất phản

Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn

Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi liễu chử

Khi Huệ dứt lời, chủ quân dạ ran như sấm, rung động cả hang núi, trời đất đổi màu Rồi chiêng trống đồng thời khua vang, quân lính gấp rút lên đường

ra Bắc" [21, 421]

Cuốn Việt sử kỷ yếu cũng viết: “Nhận rõ tầm quan trọng của đồn, Quang Trung tập trung lực lượng to lớn, quyết tấn công giết giặc Hứa Tế Hanh hay tin Hạ Hồi thất thủ và quân Tây Sơn đang tiến, cho kị binh đi đón đánh Ngựa của giặc thấy voi của ta hoảng sợ chạy về Giặc trong đồn bắn súng ra dữ dội Quang Trung sai lấy những mảnh ván, ghép lại ba mảnh làm một, phủ rơm cỏ xấp nước ở ngoài, thành những lá chắn, sai quân khiêng 20 người một mảnh, mỗi người giắt một dao nhọn, lại có 20 người cầm khí giới theo sau Giặc bắn

Trang 22

đến đồn giặc, bỏ ván xuống đất, rút dao ra, xông vào chém giết giặc Quân Thanh địch lại không nổi, hoảng sợ bỏ chạy toán loạn, nhảy cả lên nhau Số quân sống sót bỏ chạy, đồn Ngọc Hồi hạ xong” [22, 402]

Như vậy, sử sách nói đến Nguyễn Huệ - người anh hùng áo vải gần như

đã trở thành một vị thánh trong tâm thức của hậu thế Bốn mươi năm làm vua, con người hào kiệt này đã hai lần đại thắng quân xâm lược Xiêm La và Mãn Thanh, đã dẹp yên thù trong giặc ngoài, thống nhất giang sơn về một mối nhưng khi đi vào trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Quang Trung lại được xây dựng lên với những chi tiết về cái chết và trong mối quan hệ với Ngô Thị Vinh Hoa, Ngô Khải hoàn toàn khác Từ đó, thể hiện tính cách nhân vật Quang Trung

- một con người bình thường

Về nhân vật Đề Thám Đại cương lịch sử Việt Nam (toàn tập) chỉ ghi chú

sơ lược: "Nghĩa quân Yên Thế tất cả đều có can đảm, thiện chiến, tuyệt đối phục tùng người chỉ huy, xuất sắc trong cách đánh phục kích và đánh trong rừng hiểu biết một cách kỳ lạ về thuận lợi của địa hình để vận dụng trong chiến đấu" [21, 556] thì trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Đề Thám là một anh hùng

cũng là một người nhu nhược, không quyết đoán trong tình yêu - Đề Thám yêu Xoan mà không dám thổ lộ tình yêu của mình

Về nhân vật Nguyễn Trãi, theo chính sử là người có vị trí quan trọng trong lịch sử lại vừa có vị trí đáng tự hào trong nền văn học trung đại Việt Nam

Đã có nhiều tài liệu nghiên cứu về nhân vật này, bởi bên cạnh công lao to lớn với dân tộc, ông còn hứng chịu một nỗi oan khiên thảm khốc trong lịch sử Tuy nhiên, xuất phát từ truyện Nguyễn Thị Lộ của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi chỉ xem xét những sự kiện có liên quan đến cuộc đời hai nhân vật Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ Về mối quan hệ này, sử sách cũng có ghi lại nhưng khá vắn tắt

Trong cuốn Đại việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên viết: "Trước đây, vua thích vợ của Thừa chỉ Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ Người rất đẹp, văn

Trang 23

chương rất hay, gọi vào cung phòng làm Lễ nghi học sỹ, ngày đêm hầu bên cạnh Ngày 16, giết hành khiển Nguyễn Trãi cùng vợ là Nguyễn Thị Lộ, bắt tội đến ba họ Trước là Nguyễn Thị Lộ ra vào cung cấm, Thái Tông thấy rất ưa liền cợt nhả với thị Đến đây, vua đi tuần miền Đông, đến chơi nhà Trãi rồi bị bệnh

ác mà chết, cho nên Trãi bị tội ấy" [15, 170 - 171]

Qua một số tài liệu lịch sử như vậy, ta có cái nhìn chính xác về mối quan

hệ Nguyễn Trãi - Nguyễn Thị Lộ Nguyễn Thị Lộ là vợ yêu của Nguyễn Trãi, và

là nguyên nhân gây ra vụ thảm án trong lịch sử dân tộc Lệ Chi Viên Chính vì thế, khi đi vào truyện, Nguyễn Trãi có ít hành động mà chủ yếu là dòng suy nghĩ

về cuộc đời, về thế sự, về nhân sinh và sự tương thông tương cảm giữa hai tâm hồn - địa hạt không sử sách nào ghi chép

Như vậy, có thể nói rằng Nguyễn Huy Thiệp đã mang đến một khả năng sáng tạo mới trong cách xử lí tư liệu lịch sử Lịch sử không còn là sự kiện biên niên mà đã được sáng tạo và mang những vấn đề mà con người hiện tại quan tâm Lịch sử chỉ được xem như một chất liệu để phản chiếu những vấn đề của con người ở tầm phổ quát nhất và lịch sử thực sự là một dòng chảy liên tục khiến đời sống tinh thần của con người không ngừng được làm giàu thêm nhờ quá khứ Nguyễn Huy Thiệp đã có cách xử lí chất liệu lịch sử của riêng mình Nhà văn đã "thiết kế" lại lịch sử và hình dung lịch sử như những giả định Lịch

sử chỉ là phương tiện để nhà văn gửi gắm những triết lí nhân sinh, những băn khoăn, trăn trở về thân phận con người Đây chính là nét sáng tạo của Nguyễn Huy Thiệp đối với đề tài lịch sử trong văn học Việt Nam nói chung và trong văn xuôi từ sau năm 1986 nói riêng

2.3 Cách xây dựng nhân vật lịch sử

Đây là cách thức nhà văn xây dựng những nhân vật lịch sử và qua đó gửi gắm tư tưởng của mình, những khám phá mới mẻ của mình về xã hội, về con

Trang 24

Nhân vật lịch sử trong chùm truyện ngắn lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp vừa là nhân vật tính cách, vừa là nhân vật tư tưởng Mỗi nhân vật mang một tính

cách, một nỗi cô đơn riêng nhưng đều chứng minh cho tư tưởng "chỉ muốn là con người bình thường" của tác giả

Trong Tạp chí Sông Hương, số 5/1989, Hoàng Ngọc Hiến cho rằng: "Con người trút bỏ bộ cánh xã hội, con người thật với những ham mê và dục vọng thường tình, nhưng nỗi khắc khoải về số phận và những tình cảm yêu ghét, tức giận thông thường" [17, 364]

Nhà văn Bùi Hiển cũng cho rằng: "Tôi cảm thấy Nguyễn Huy Thiệp còn muốn nói về bản chất của con người" [17, 451]

Có lẽ vì vậy mà mỗi chi tiết Nguyễn Huy Thiệp tạo dựng lên đều trở thành một "ô cửa sổ" soi chiếu tính cách, tâm lí nhân vật

Cách xây dựng nhân vật lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp được thể hiện ở những khía cạnh sau:

Thứ nhất: Nguyễn Huy Thiệp đã sáng tạo ra những nhân vật hư cấu, đặt nhân vật trong mối quan hệ với nhau Đồng thời gắn nhân vật với hoàn cảnh cụ thể, đặt nhân vật vào tình huống đầy kịch tính để nhân vật bộc lộ phẩm chất, nhân cách, cá tính riêng cũng như chiều hướng con đường đời của từng loại nhân vật

ở truyện Kiếm sắc, Nguyễn ánh là nhân vật chính được đặt trong mối quan hệ phức tạp với nhân vật mà Nguyễn Huy Thiệp đã hư cấu - Đặng Phú Lân Một mặt đây là hai nhân vật có quan hệ hậu thuẫn - cùng chiến tuyến, cùng trận địa Mặt khác, nhân vật Nguyễn ánh cũng có quan hệ đối chọi ngấm ngầm với Đặng Phú Lân Bắt đầu là lòng ghen ghét đố kị tài năng Ngay trong buổi chia lộc thánh sáng mồng một, Đặng Phú Lân khiến Nguyễn ánh khó chịu "ánh

cau mày đáp: ta chỉ vẻn vẹn có ba thước đất chôn thây thôi" Khi Nguyễn Huệ chết, Nguyễn ánh sai mở tiệc mừng bị ngăn cản, ông nói: "Nó chết, ta cũng

Trang 25

không được cười ư?” [24, 142] Đặng Phú Lân thì lại có cái nhìn công bằng với Nguyễn Huệ - kẻ tử thù của Nguyễn ánh : "Huệ không có tội gì, là một người

tài, bị trời hành, cũng như chúa công vậy, Huệ là một lực lượng" [24, 142] "ánh nghe Lân nói vậy nghiến răng" [24, 142], rắp tâm trả thù Việc thứ ba khi Đặng Phú Lân khuyên Nguyễn ánh "ham vui ít thôi", ông công nhận đúng nhưng rất

buồn rầu: "Người cứ ép ta, đến nay đã chín năm rồi" - chúa công mà có cảm giác

bị thuộc hạ ép buộc, mối quan hệ ấy khó lâu bền Đỉnh điểm của sự lo sợ trước thuộc hạ là khi Nguyễn ánh gọi Đặng Phú Lân vào múa kiếm Thanh bảo kiếm gia truyền và những đường kiếm khiến ông toát cả mồ hôi Nguyễn ánh nảy ra ý

định chiếm đoạt: "Ta giữ thanh kiếm này, để khi ngươi quay về, có tin hay, ta có

cớ mà khen thêm, còn không được việc ta có linh khí mà trừng phạt" [24, 145]

Rõ ràng, tư tưởng, "trừng phạt" đã được phát ngôn thành lời Quả thật, Nguyễn ánh đã giết chết Đặng Phú Lân vì: "Người theo hầu ta chín năm một trăm ngày, chín năm không hỏng việc gì, còn một trăm ngày thì hỏng việc, vô tích sự Thế là trèo cây mà không hái được quả, đáng tội chết" [24, 146] Đây là cách ứng xử

tàn nhẫn với bề tôi, biểu hiện tất yếu của mâu thuẫn ngầm ở trên

Trong quan hệ với Ngô Thị Vinh Hoa - chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, nhưng là một góc soi chiếu mới nhìn vào con người Nguyễn ánh Nhà vua

yêu thích Vinh Hoa nhưng bị cận thần can ngăn "vui ít thôi" Biết vậy nhưng Nguyễn ánh vô cùng buồn "Ta chỉ thích như người thường thôi" [24, 144] - con người thường với những ham muốn thoả mãn rất con người Đây là mâu thuẫn

trong chính con người Gia Long - giữa nghĩa vụ giữ gìn của đấng quân vương và khát khao được sống như một con người bình thường

Qua một chuỗi hành động, chi tiết nêu trên, nhân vật Nguyễn ánh hiện lên là một con người với bản chất nham hiểm, độc ác, tàn bạo nhưng cũng chứa đựng trong đó bi kịch giữa trách nhiệm của bậc đế vương và khát vọng được

Ngày đăng: 31/10/2015, 09:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. Phạm Xuân Nguyên (2001), Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp
Tác giả: Phạm Xuân Nguyên
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2001
18. Trần Thị Mai Nhi (1994), Văn học hiện đại - Văn học Việt Nam giao lưu gặp gỡ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hiện đại - Văn học Việt Nam giao lưu gặp gỡ
Tác giả: Trần Thị Mai Nhi
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1994
19. Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Nguyễn Huy Thiệp – hợp lưu giữa nguồn mạch dân gian và tiểu thuyết folkloer hiện đại, Nguồn evan.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: hợp lưu giữa nguồn mạch dân gian và tiểu thuyết folkloer hiện đại
Tác giả: Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Nguyễn Huy Thiệp
Nhà XB: Nguồn evan.com
20. GS. Lương Thị Ninh (chủ biên) (2000), Lịch sử Việt Nam giản yếu, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam giản yếu
Tác giả: Lương Thị Ninh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
22. Trần Xuân Sinh (2004), Việt sử kỷ yếu, Nxb Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt sử kỷ yếu
Tác giả: Trần Xuân Sinh
Nhà XB: Nxb Hải Phòng
Năm: 2004
23. Trần Đình Sử (chủ biên) ( 2003), Tự sự học, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự sự học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2003
24. Nguyễn Huy Thiệp (2001), Truyện ngắn, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn
Tác giả: Nguyễn Huy Thiệp
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2001
25. Bích Thu, Văn học Việt Nam trong quá trình hội nhập, Nguồn vienvanhoc.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam trong quá trình hội nhập
Tác giả: Bích Thu
Nhà XB: nguồn vienvanhoc.org.vn
16. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) (2004), Từ điển tác gia, tác phẩm văn học Việt Nam dùng trong nhà trường, Nxb Đại học Sư phạm Khác
21. GS. Trương Hữu Quýnh (chủ biên) ( 2003), Đại cương lịch sử Việt Nam (toàn tập), Nxb Giáo dục Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w